Để nâng cao chất lượng toàn diện của các TCCS Đảng ở thành phố Đông Hà chúng ta cần phải nhận thức và quán triệt sâu sắc các quan điểm của triết họcMác - Lênin, đặc biệt là nguyên lý về
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Tổ chức cơ sở (TCCS) Đảng là đơn vị chiến đấu cơ bản của Đảng, là hạtnhân lãnh đạo của hệ thống chính trị ở cơ sở, là cầu nối trực tiếp giữa Đảng vớinhân dân Đảng bộ cơ sở có trách nhiệm lãnh đạo thực hiện thắng lợi đường lối,chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và nhiệm vụ chính trịcủa địa phương, đơn vị; xây dựng tổ chức Đảng và phát triển đảng viên; làmcông tác vận động quần chúng TCCS Đảng có mạnh thì nền tảng của Đảng mớivững chắc
Trong công cuộc đổi mới đất nước hiện nay, hầu hết các TCCS Đảng đã
và đang thể hiện tốt vai trò lãnh đạo, vững vàng trước những khó khăn, thửthách, có những đóng góp quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội, ổn địnhchính trị, củng cố quốc phòng an ninh Nhiều nhân tố mới, tích cực đã xuất hiệnthông qua sự lãnh đạo của các TCCS Đảng và tác động tích cực đến sự lãnh đạocủa Đảng và xã hội
Tuy nhiên, năng lực lãnh đạo và tổ chức thực hiện các chủ trương, đườnglối của Đảng, chính sách, luật pháp của Nhà nước của nhiều TCCS Đảng vẫn cònyếu, chưa đủ sức phát hiện, giải quyết những vấn đề phức tạp xảy ra ở cơ sở Cónơi Đảng bao biện làm thay, có nơi Đảng và Chính quyền chồng chéo trong lãnhđạo và chỉ đạo, có nơi Đảng bị Chính quyền lấn át dẫn đến vai trò hạt nhân lãnhđạo chính trị ở các TCCS Đảng vẫn còn nhiều bất cập, yếu kém, chưa thể hiện rõvai trò hạt nhân lãnh đạo, buông lỏng quản lý, chưa tạo được sự chuyển biến cơbản để ngăn chặn và đẩy lùi tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí Nhiều TCCSĐảng và đảng viên còn sinh hoạt lỏng lẻo, ý thức phê bình và tự phê bình chưacao…, làm giảm sút uy tín của Đảng và ảnh hưởng đến sự phát triển chung củađịa phương
Trang 2Các TCCS Đảng ở thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị là đơn vị cấuthành hệ thống 4 cấp của tổ chức Đảng, đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Thành
ủy Đông Hà Trong thời gian qua, các TCCS Đảng đã tích cực tổ chức thực hiệncác nhiệm vụ chính trị, chăm lo công tác xây dựng Đảng gắn với các phong tràocủa địa phương, góp phần quan trọng trong việc đưa thành phố Đông Hà từngbước phát triển toàn diện trên tất cả các lĩnh vực Song nhìn nhận thực chất vàđánh giá một cách khách quan thì các TCCS Đảng ở thành phố Đông Hà vẫnkhông tránh khỏi những hạn chế, yếu kém; chất lượng vẫn chưa đáp ứng đượccác yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới
Để nâng cao chất lượng toàn diện của các TCCS Đảng ở thành phố Đông
Hà chúng ta cần phải nhận thức và quán triệt sâu sắc các quan điểm của triết họcMác - Lênin, đặc biệt là nguyên lý về sự phát triển, bởi vì:Nguyên lý về sự pháttriển là một trong hai nguyên lý quan trọng của phép biện chứng duy vật,nguyên lý đã chỉ ra sự phát triển đi lên, sự đổi mới không ngừng của những đặctrưng vốn có của giới tự nhiên, xã hội và nhận thức của con người Phát triển là
sự vận động tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoànthiện đến hoàn thiện hơn Việc nắm vững nguyên lý về sự phát triển của phépbiện chứng duy vật giúp chúng ta nhận thức được rằng: Muốn nắm được bảnchất sự vật hiện tượng chúng ta không chỉ nắm được những cái đang hiện tồn màcòn phải nắm bắt được khuynh hướng, nguồn gốc của sự vật, phải có quan điểmphát triển, tránh cách nhìn nhận bảo thủ, trì trệ
Đối với việc nâng cao chất lượng TCCS Đảng ở thành phố Đông Hà cũngphải gắn với quan điểm phát triển Điều đó có nghĩa là khi xem xét chất lượngcủa các TCCS Đảng cũng phải đặt trong sự vận động, phát triển, vạch ra xuhướng biến đổi, chuyển hoá của chúng Song điều cơ bản là phải khái quátnhững biến đổi để vạch ra khuynh hướng biến đổi chính, có tính đi lên trong chấtlượng các TCCS Đảng ở thành phố
Trang 3Phải tranh thủ điều kiện thuận lợi, những yếu tố tích cực để khắc phục tưtưởng bảo thủ, trì trệ, định kiến trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễncủa các cấp ủy Đảng; từng bước hoàn thiện và nâng cao chất lượng các TCCSĐảng ở thành phố hiện nay, làm nền tảng cho sự phát triển vững chắc trong tươnglai nhằm phục vụ nhu cầu, lợi ích của Đảng và của thành phố.
Là cán bộ làm công tác Đảng chuyên trách ở tỉnh Quảng Trị, từ thực tiễncông tác trong thời gian qua và quán triệt quan điểm phát triển của triết học
Mác - Lênin, nên tôi chọn đề tài: “Vấn đề nâng cao chất lượng tổ chức cơ sở Đảng ở thành phố Đông Hà, Quảng Trị hiện nay từ góc nhìn của nguyên lý
về sự phát triển” để nghiên cứu và làm luận văn Thạc sĩ Khoa học chuyên
ngành Triết học Đồng thời, thông qua việc nghiên cứu nhằm giúp cho các cấp
ủy ở thành phố Đông Hà có cái nhìn tương đối toàn diện, có hệ thống về nhữngvấn đề lý luận và thực tiễn trong công tác xây dựng các TCCS Đảng trong sạch,vững mạnh, phát huy được vai trò, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổchức Đảng
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài
“Phát triển” là vấn đề đã được nhiều nhà triết học từ trước đến nay quan
tâm nghiên cứu Tuy vậy, chỉ đến khi triết học Mác ra đời, nguyên lý về sự pháttriển mới được trình bày một cách khoa học Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác
đã đưa ra những lý luận khoa học đầy đủ nhất về sự phát triển, kể cả nguồn gốc,phương thức và khuynh hướng của sự phát triển Vì thế, nguyên lý về sự phát triển
đã trở thành cơ sở lý luận và được nhiều tác giả nghiên cứu vận dụng vào vấn đề
tổ chức xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam nói chung, về xây dựng các TCCSĐảng nói riêng và đã có nhiều công trình đề cập đến Cho đến nay đã có một số đềtài, công trình nghiên cứu, các luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ và nhiều bài viết đềcập trực tiếp hoặc gián tiếp đến chất lượng của TCCS Đảng, như:
- “Nâng cao chất lượng tổ chức cơ sở Đảng và đảng viên”, tập 1, 2, Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm 2004
Trang 4- “Vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thời kỳ đổi mới đất nước”, PGS.TS.Nguyễn Trọng Phúc, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm 1999.
- “Mấy vấn đề về xây dựng Đảng vững mạnh đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mới”, Vũ Oanh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm 1999.
- “Một số quy định chức năng, nhiệm vụ của Đảng bộ, chi bộ cơ sở”,
Ban Tổ chức Trung ương, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm 2004
Những đề tài này đã tập trung nghiên cứu về vai trò, vị trí lãnh đạo củaĐảng Cộng sản Việt Nam trong hệ thống chính trị của nước ta với tư cách là mộtĐảng chính trị cầm quyền và đưa ra một số giải pháp để thực hiện nhiệm vụ xâydựng Đảng
- “Đảng cầm quyền trong thời đại ngày nay và những vấn đề rút ra cho công cuộc đổi mới và chỉnh đốn Đảng ta” Đề tài khoa học cấp bộ, cơ quan chủ
trì: Viện nghiên cứu khoa học - Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Chủnhiệm đề tài: PGS.Đậu Thế Biểu, Hà Nội, năm 1993
- “Nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ trong các đơn vị cơ sở hành chính, sự nghiệp của thành phố Hà Nội” Đề tài khoa học cấp bộ, cơ quan chủ
trì: Học viện Báo chí và Tuyên truyền, Chủ nhiệm đề tài: TS.Trương Ngọc Nam,
Hà Nội, năm 2009
- “Nâng cao năng lực cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp xã vùng đồng bằng Bắc bộ nước ta hiện nay”, Luận văn thạc sĩ của Mai Đức Ngọc, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, năm 2002
- “Vị trí, vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong hệ thống
chính trị Việt Nam”, Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Văn Giang, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, năm 2000
Trong nghiên cứu khoa học, nhiều tác giả đã lựa chọn vấn đề về công tácxây dựng Đảng nói chung và đi vào nghiên cứu một số vấn đề cụ thể nhằm đưa
ra các giải pháp để nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ, năng lực lãnh đạo của
Trang 5cấp uỷ, cán bộ chủ chốt ở một số địa phương, một số ngành cụ thể để nghiêncứu, làm đề tài khoa học
- “Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của chính quyền cơ sở”, GS.TS Lê Hữu Nghĩa, tạp chí Cộng sản, (19), năm 2001.
- “Vận dụng tư tưởng của Lênin về Đảng cầm quyền vào công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng ta trong thời kỳ đổi mới”, GS.TS.Dương Xuân Ngọc, tạp
chí Lý luận chính trị, (6), năm 2006
- “Để nâng cao năng lực và sức chiến đấu của Đảng trong thời kỳ mới”,
Trương Thị Mỹ Trang, tạp chí Xây dựng Đảng, (2, 3), năm 2007
Bên cạnh đó, các bài viết trên các Tạp chí chuyên ngành cũng được nhiều tácgiả cũng đề cập đến một số khía cạnh, vấn đề của ccông tác xây dựng Đảng cũngnhư việc vận dụng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin vào công tác xây dựng Đảng
Có thể nói, những công trình nghiên cứu khoa học trên đã đề cập tới nhiềugóc độ, trên nhiều phạm vi, nhiều địa phương và có những cách tiếp cận khácnhau trong việc vận dụng lý luận của triết học Mác - Lênin vào lĩnh vực xâydựng tổ chức Đảng Cộng sản Việt Nam nói chung và TCCS Đảng nói riêng Tuynhiên, việc vận dụng quan điểm phát triển của chủ nghĩa Mác - Lênin vào việcnâng cao chất lượng TCCS Đảng ở thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị hiện naychưa có tác giả nào đề cập tới một cách trực tiếp Vì vậy, tôi chọn đề tài này đểnghiên cứu đồng thời kết quả nghiên cứu cũng được sử dụng để làm luận vănThạc sĩ Khoa học, chuyên ngành Triết học, qua đó nhằm làm rõ những vấn đề lýluận và thực tiễn mà thành phố Đông Hà đã và đang vận dụng vào việc nâng caochất lượng các TCCS Đảng của thành phố hiện nay
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
3.1 Mục đích
Làm rõ những nội dung của nguyên lý về sự phát triển của triết học Mác Lênin, từ đó rút ra quan điểm phát triển và vận dụng quan điểm này vào việc nângcao chất luợng TCCS Đảng ở thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị hiện nay
Trang 6-3.2 Nhiệm vụ
Để thực hiện mục đích trên luận văn cần thực hiện những nhiệm vụ sau:
- Phân tích và làm rõ những nội dung chủ yếu của nguyên lý về sự pháttriển trên cơ sở của quan điểm toàn diện, quan điểm lịch sử cụ thể
- Chỉ ra thực trạng chất lượng của TCCS Đảng ở thành phố Đông Hà, tỉnhQuảng Trị trong những năm gần đây (2005 - 2011)
- Đề xuất một số giải pháp mang tính căn bản nhằm nâng cao chất lượngTCCS Đảng ở thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị hiện nay
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài
- Đối tượng: Đề tài tập trung nghiên cứu nguyên lý về sự phát triển vàTCCS Đảng ở các phường thuộc các thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị (có thể
có những liên hệ, so sánh, chứng minh cần thiết với các cơ sở, địa phương khác)
- Phạm vi nghiên cứu: Các TCCS Đảng cấp phường của thành phố Đông
Hà, tỉnh Quảng Trị từ năm 2005 đến năm 2011
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Cơ sở lý luận: Dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng vàduy vật lịch sử, các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam và tư tưởng của Chủtịch Hồ Chí Minh về công tác xây dựng Đảng
- Phương pháp nghiên cứu: Sử dụng các phương pháp của phép biệnchúng duy vật, đặc biệt là các phương pháp logic - lịch sử, phân tích - tổnghợp, so sánh - đối chiều và khi cần thiết có thể sử dụng các phương pháp của xãhội học, thống kê…
6 Đóng góp của luận văn
- Trình bày vấn đề nâng cao chất lượng TCCS Đảng các phường ở thànhphố Đông Hà hiện nay một cách có hệ thống ở trình độ luận văn thạc sĩ
- Là tài liệu tham khảo cho việc giảng dạy các môn: Xây dựng Đảng; Chủnghĩa xã hội khoa học và Duy vật lịch sử ở trường chính trị Lê Duẩn tỉnh Quảng Trị.Góp phần vào việc tổng kết thực tiễn của các TCCS Đảng ở thành phố Đông Hà
Trang 77 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,khóa luận được kết cấu 2 chương, 6 tiết
Chương 1: Nguyên lý về sự phát triển và vấn đề nâng cao chất lượng
tổ chức cơ sở Đảng
1.1 Quan điểm của các nhà triết học trước Mác về sự phát triển
1.2 Quan niệm của triết học Mác - Lênin về sự phát triển
1.3 Quan điểm phát triển với vấn đề nâng cao chất lượng tổ chức cơ sở Đảng
Chương 2: Vận dụng quan điểm phát triển vào việc nâng cao chất
lượng tổ chức cơ sở Đảng ở thành phố Đông Hà hiện nay
2.1 Tổng quan về lịch sử và hình thành các tổ chức cơ sở Đảng ở thànhphố Đông Hà
2.2 Thực trạng của các tổ chức cơ sở Đảng ở thành phố Đông Hà trong
những năm gần đây (2005 - 2011)
2.3 Một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao chất lượng tổ chức cơ sởĐảng ở thành phố Đông Hà hiện nay
Trang 8CHƯƠNG 1 NGUYÊN LÝ VỀ SỰ PHÁT TRIỂN VÀ VẤN ĐỀ NÂNG CAO
CHẤT LƯỢNG TỔ CHỨC CƠ SỞ ĐẢNG
1.1 Quan điểm của các nhà triết học trước Mác về sự phát triển
Trong suốt chiều dài lịch sử triết học, quan điểm về sự phát triển luônđược các triết gia, các trường phái triết học quan tâm, nghiên cứu Vì vậy, khixem xét về sự phát triển cũng có những quan điểm khác nhau, thậm chí đối lậpvới nhau
- Những người theo quan điểm duy tâm hoặc quan điểm tôn giáo thườngtìm nguồn gốc của sự phát triển ở thần linh, Thượng đế, các lực lượng siêu nhiênhay ở ý thức của con người
- Quan điểm siêu hình xem xét sự phát triển đơn giản chỉ là sự tăng lên haygiảm đi đơn thuần về mặt lượng, không có sự thay đổi về chất của sự vật Nhữngngười theo quan điểm siêu hình coi tất cả chất của sự vật không có sự thay đổi gìtrong quá trình tồn tại của chúng Sự vật ra đời với những chất như thế nào thìtoàn bộ quá trình tồn tại của nó vẫn được giữ nguyên, hoặc nếu có sự thay đổi nhấtđịnh về chất thì sự thay đổi ấy cũng chỉ diễn ra trong một vòng khép kín, coi sựphát triển chỉ là sự thay đổi về mặt lượng của từng loại mà sự vật đang có chứkhông có sự sinh thành ra cái mới với những chất mới Những người theo quanđiểm siêu hình còn xem sự phát triển là một quá trình tiến lên liên tục không cónhững bước quanh co, thăng trầm, phức tạp
- Quan điểm biện chứng xem xét sự phát triển là một quá trình tiến lên từthấp đến cao Quá trình đó diễn ra vừa dần dần vừa nhảy vọt, đưa tới sự ra đời củacái mới thay thế cái cũ Dù trong hiện thực khách quan hay trong tư duy, sự pháttriển diễn ra không phải lúc nào cũng theo đường thẳng mà rất quanh co, phức tạp,thậm chí có thể có những bước lùi tạm thời Phát triển là một quá trình tự thân củamọi sự vật, hiện tượng Do vậy, phát triển là một quá trình khách quan, độc lập
Trang 9với ý thức con người Quan điểm của duy vật biện chứng về sự phát triển khôngchỉ thừa nhận tính khách quan của sự phát triển, mà còn khẳng định tính phổ biếncủa sự phát triển Sự phát triển là kết quả của quá trình thay đổi dần dần về lượngdẫn đến sự thay đổi về chất, là quá trình diễn ra theo đường “xoáy ốc” Điều đó cónghĩa là trong quá trình phát triển dường như sự vật ấy quay trở về điểm khởi đầusong trên cơ sở mới cao hơn
Quan điểm duy vật biện chứng đối lập với quan điểm duy tâm và tôn giáo
về nguồn gốc của sự phát triển, khẳng định nguồn gốc của sự phát triển nằmtrong bản thân sự vật Đó là do mâu thuẫn trong chính sự vật quy định Nói cáchkhác, đó là quá trình giải quyết liên tục mâu thuẫn trong bản thân sự vật, do đócũng là quá trình tự thân của mọi sự vật
Quan điểm biện chứng khác quan điểm siêu hình là nó xem xét sự pháttriển là một quá trình tiến lên thông qua những bước nhảy vọt, cái cũ mất đi, cáimới ra đời Nó vạch ra nguồn gốc bên trong của sự vận động và phát triển, đó làcuộc đấu tranh giữa các mặt đối lập bên trong của sự vật, hiện tượng Lênin cho
rằng, học thuyết về sự phát triển của phép biện chứng duy vật là “Hoàn bị nhất, sâu sắc nhất, và không phiến diện”
Trong phép biện chứng duy vật, nguyên lý về sự phát triển gắn liền vớinguyên lý về mối liên hệ phổ biến Hai nguyên lý này thống nhất hữu cơ vớinhau, bởi vì liên hệ cũng tức là vận động, mà không có vận động thì sẽ không có
sự phát triển Vì vậy, khi nghiên cứu về nguyên lý phát triển chúng ta cần tìmhiểu một số khái niệm:
- Nguyên lý: “Là cơ sở đầu tiên, là tư tưởng chủ đạo, quy tắc chủ yếu đểhành động Nguyên lý chính là biểu hiện của cái tất yếu hay cái quy luật của cáchiện tượng Về phương diện logic, nguyên lý là khái niệm trung tâm, là cơ sởcủa hệ thống, khái quát và vận dụng một luận điểm nào đó, vào tất cả những hiệntượng của lĩnh vực mà từ đó nguyên lý ấy được trừu tượng hóa” [77, tr.391]
Trang 10- Phạm trù phát triển: “Là phạm trù triết học dùng để chỉ khái quát quátrình vận động có định hướng từ thấp đến cao, từ giản đơn đến phức tạp, từ chưahoàn thiện đến hoàn thiện hơn mà kết quả là cái mới tiến bộ ra đời thay thế cái
cũ lạc hậu” [77, tr.233] Sự phát triển của sự vật mang tính phổ biến vì trong thếgiới khách quan, không có sự vật hiện tượng nào đã đứng im, tĩnh tại mà nó luônvận động, phát triển không ngừng Sự mất đi của một sự vật hiện tượng này làđiều kiện ra đời của sự vật hiện tượng khác
Theo quan điểm đó, phát triển vừa là sự vận động biến đổi nói chung, vừa
là sự biến đổi đặc thù, đây là sự biến đổi gắn với quá trình nảy sinh cái mới, cáitiến bộ, cái cao hơn về chất Do vậy, sự phát triển bao hàm trong nó tính phứctạp, tính khách quan vốn có, tính đa dạng và tính kế thừa
- Khái niệm “Vận động” được các nhà triết học trước Mác tập trungnghiên cứu và đưa ra những hình thức, các dạng vận động của vật chất Nhưngchỉ đến Ăngghen khái niệm vận động mới được trình bày một cách đầy đủ Vậnđộng theo Ăngghen là: “Mọi sự biến đổi nói chung”, “Tức được hiểu là mộtphương thức tồn tại của vật chất, là một thuộc tính cố hữu của vật chất, nó baogồm tất cả mọi sự thay đổi và quá trình diễn ra trong vũ trụ, kể cả sự thay đổi vịtrí đơn giản cho đến tư duy” [57, tr.519]
Nguyên lý về sự phát triển khẳng định sự thống nhất và đấu tranh củacác mặt đối lập trong chính bản thân sự vật hiện tượng chính là nguồn gốc của
sự phát triển, hay nói cách khác đó là do mâu thuẫn nội tại bên trong sự vậthiện tượng, nó vạch ra cách thức của sự phát triển: Vừa có tích lũy dần vềlượng, vừa có sự chuyển hóa về chất và nói đến sự phát triển tức là sự tănggiảm về lượng và chất Nguyên lý về sự phát triển cũng chỉ ra rằng khôngphải chỉ có khuynh hướng đi lên mới được coi là sự phát triển mà quá trìnhphát triển thường được diễn ra quanh co, phức tạp qua những khâu trung gian
và có lúc bao hàm cả sự thụt lùi đi xuống tạm thời: Đó là khuynh hướng tiến
Trang 11lên của đường “xoáy ốc” Trong xu hướng của sự phát triển luôn có tính kếthừa và sự đi lên này là một quá trình có tính lặp lại.
Quan điểm phát triển với tư cách là nguyên tắc phương pháp luận để nhậnthức sự vật hoàn toàn đối lập với quan điểm bảo thủ, trì trệ, định kiến, tuyệt đốihóa một nhận thức nào đó về sự vật có trong hoàn cảnh lịch sử nhất định, ứng vớigiai đoạn nhất định của nó và xem đó là nhận thức duy nhất đúng về toàn bộ sựvật trong quá trình phát triển Sự phát triển của các sự vật, hiện tượng trong thực tế
là quá trình biện chứng đầy mâu thuẫn Do đó, quan điểm phát triển được vậndụng trong quá trình nhận thức cũng đòi hỏi chúng ta phải thấy rõ tính quanh co,phức tạp của quá trình phát triển trong giới tự nhiên, xã hội và tư duy Vì vậy, khiphân tích một sự vật, hiện tượng phải đặt nó trong sự vận động, phải phát hiệnđược xu hướng biến đổi, chuyển hóa của chúng
Từ quá trình phân tích trên chúng ta sẽ tìm hiểu một số quan điểm triếthọc về sự phát triển giai đoạn trước Mác
1.1.1 Quan niệm về sự phát triển trong triết học Phương Đông cổ đại
Trong nền văn minh rực rỡ của phương Đông thì Ấn Độ cổ đại và TrungQuốc là hai trung tâm triết học lớn đại diện cho của nền triết học Phương Đông vàđược xem là những chiếc nôi triết học phong phú, lâu đời, đặc biệt của nhân loại
1.1.1.1 Triết học Ấn Độ cổ đại
Nền triết học Ấn Độ cổ đại với những Kinh Veda và tôn giáo Rig-Vedatối cổ thể hiện những quan điểm nguyên sơ về vũ trụ của người Ấn Độ cổ;những kinh sách bình chú, giải thích tư tưởng triết lý Veda - nổi tiếng là cáctác phẩm có ý nghĩa triết lý cao siêu nhất thời cổ đại, lý giải về lẽ uyênnguyên, tận cùng của đạo, cố gắng tìm thực chất bản tính con người, chỉ racon đường giải thoát cho cuộc đời… Những bộ sử thi Ramayana vàMahãbhãrata đồ sộ vừa có giá trị sử học, văn học, ngôn ngữ học, vừa có ýnghĩa triết lý đạo đức - nhân sinh sâu sắc; những đạo Jaina, đạo Phật với triết
lý “Tứ diệu đế”, “Thập nhị nhân duyên” với tư tưởng cách tân, đòi bình đẳng
Trang 12xã hội; những trào lưu triết học tôn giáo có tính hệ thống chặt chẽ nhưLokayata, Sankhya, Nyada, Vaisesika, Mimansa… nghiên cứu hầu hết các lĩnhvực khác nhau của triết học, vừa đấu tranh với nhau trên quan điểm triết lý,phương pháp tu luyện và địa bàn ảnh hưởng, vừa kế thừa lẫn nhau trong quátrình phát triển.
Triết học Ấn Độ có một hệ thống quan điểm được đặt ra từ thời cổ đại Vìvậy, các quan điểm phát triển của các nhà triết học Ấn Độ cổ đại chỉ trong khuônkhổ theo một hướng đã đặt ra Yếu tố quy định đặc điểm triết học trên là do sựtồn tại dai dẳng của chế độ xã hội nô lệ mang nặng tính chất gia trưởng, bị kìmhãm bởi chế độ công xã nông thôn và chế độ phân biệt đẳng cấp xã hội hết sứcnghiệt ngã ở Ấn Độ
Dưới sự tác động, chi phối, thống trị của triết lý Veda, Upanishad vàgiáo lý Balamon được mệnh danh là tư tưởng truyền thông chính thống, người
Ấn Độ đã gom các hệ thống triết học của họ thành hai loại lớn: Các hệ thốngchính thống (Astika) và hệ thống không chính thống (Nastika)
Các trường phái triết học được gọi là chính thống đều thừa nhận ưu thế tốicao của Veda và triết lý về tinh thần sáng tạo vũ trụ tuyệt đối, tối cao Brahman,trong Upanishad biện hộ cho giáo lý của đạo Balamon, bảo vệ chế độ phân biệtđẳng cấp Hệ thống triết học chính thống gồm 6 trường phái (gọi là 6 darshanas):Samkhya, Nyaya, Vaisesika, Mimansa, Yoga, Vedanta
Các trường phái triết học không chính thống là các trường phái có tưtưởng phủ nhận uy thế tối cao của kinh Veda và Upanishad, phê phán giáo lý củađạo Balamon, đả phá chế độ phân biệt đẳng cấp xã hội Gồm các trường phái:Triết học Jaina, Phật giáo và các trường phái triết học duy vật vô thần trongphong trào mới về tự do tư tưởng ở Đông Ấn, trong đó nổi bật nhất là trườngphái triết học Lokayata hay còn gọi là Charvaka
Để tìm hiểu quan điểm phát triển trong triết học Ấn Độ cổ đại, có thể xemxét tư tưởng của một số trường phái triết học sau:
Trang 13- Triết học Samkhuya - một trường phái triết học thuộc hệ thống chínhthống đã gạt bỏ tinh thần vũ trụ, phủ nhận sự tồn tại của thần Đưa ra thuyết tồn tạicủa kết quả trong nguyên nhân trước khi nó xuất hiện và học thuyết về sự chuyểnhóa thực tế của nguyên nhân trong kết quả Họ cho rằng trồng gì được nấy, từ tínhchất của kết quả ta tìm được chìa khoá để đi vào tính chất của nguyên nhân Nếuthế giới là vật chất thì nguyên nhân của nó cũng phải là vật chất Họ thừa nhận sựtồn tại của hai bản nguyên cấu tạo nên vũ trụ vạn vật
Bản nguyên vật chất hay nguyên lý vật chất, gọi là Prakriti (tự tính) ởdạng tinh tế tiềm ẩn, không thể cảm giác trực tiếp, nó không hành, không giớihạn Những nhà triết học của phái Samkhuya coi thế giới vật chất là bao la, tồntại vĩnh hằng nhưng không đứng yên, biến đi không ngừng từ dạng này sangdạng khác
Bản nguyên tinh thần, hay nguyên lý tinh thần phổ quát, thuần túy, tối caogọi là Purusha (thần ngã) Purusha không phải là thượng đế Nó là một nguyên lýtinh thần thuần túy, độc lập, phổ biến và vĩnh cửu Tự nó không hoạt động đượcnhưng lại là yếu tố cần thiết cho mọi hoạt động Vì khả năng biến hóa củaPrakriti chỉ có tác dụng và vận động trở thành hiện thực nhờ sinh lực, sinh khí,sức sống của Purusha truyền cho
Theo triết học Samkhuya, bất kì vật thể nào của thế giới cũng được tạonên bởi ba guna hay còn gọi là “ba đức” hoặc “ba tính chất”, biểu hiện cho bakhuynh hướng, ba lực lượng căn bản của thế giới:
1 Sattava: Là sự trong sáng - Thuần chất (trí tuệ, trí năng)
2 Rajas: là tính hoạt động, tính tích cực - Kích chất (năng lượng)
3 Tamas: Sự vô minh, tính ỳ - Ế chất (khối lượng, quán tính)Nếu nguyên lý vật chất ở trạng thái vô định hình, chưa biến đổi, chưa biểuhiện thì ba guna cân bằng, ổn định Khi có sự quan chiếu của nguyên lý tinh thầnthì sự cân bằng giữa ba guna sẽ bị phá bỏ và bắt đầu quá trình tiến hóa của thếgiới Nguyên lý vật chất không ngừng biến hóa theo luật nhân quả trong không
Trang 14gian, thời gian làm xuất hiện toàn bộ sự vật, hiện tượng đa dạng của tự nhiên khiđược sự quan chiếu của nguyên lý tinh thần.
Sự tác động của ba yếu tố “Sativa, Rajas, Tamas” đã phá vở sự cân bằngvốn có của thế giới vật chất, tạo nên sự biến đổi và phát triển Triết họcSamkhuya đã gắn kết được các sự vật trong thế giới vật chất với hình thức tồn tạicủa các vật thể là không gian và thời gian Mặc dù quan niệm về vấn đề này cònđơn giản, nhưng đã diễn tả được thế giới của sự vật tồn tại và biến đổi trongkhông gian và thời gian
- Trường phái triết học Jaina xuất hiện cũng là lúc phong trào tự do tưtưởng thịnh hành Cơ sở triết lý căn bản của triết học Jaina là học thuyết vềnhững bản chất, những bản nguyên là chất liệu ban đầu để tạo dựng nên thế giới
và đồng thời chân lý cơ bản đó xây dựng nên tri thức Hai bản chất đó là: Jiva,tức linh hồn hay sinh mệnh và Adjiva, tức là tất cả những gì không phải linh hồn.Mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới dù thiên hình vạn trạng đều do các loạithực thể đó cấu thành Tính thực tại của thực thể được đặc trưng bởi ba yếu tốsau: Tính biến đổi, sự sinh ra và sự tiêu tan Thế giới gồm có các thực thể thườngxuyên xuất hiện, tồn tại và tiêu hủy, còn bản thân thế giới thì không có khởi đầuhay kết thúc
Thực thể có hai loại thuộc tính, thuộc tính căn bản và thuộc tính ngẫunhiên Các thuộc tính căn bản tồn tại trong các thực thể chừng nào thực thể còntồn tại Ngoài ra, thực thể còn có những thuộc tính ngẫu nhiên, các thuộc tínhnày xuất hiện rồi mất đi và chính nó đã giải thích tại sao thực thể luôn có tínhchất thường xuyên biến đổi và luôn biến dạng Tính không biến đổi tồn tại thực
tế chừng nào thực thể còn tồn tại như cũ và sự biến đổi cùng tồn tại thực tế, khixét bề ngoài, thực thể biến đổi theo các điều kiện khác nhau
Vật chất là thực thể vĩnh viễn Các đối tượng tự nhiên như: Đất, nước, lửa,không khí và cả thân thể, trí óc, lời nói, hơi thở của con người… tất cả đều là sảnphẩm của vật chất Vật chất được chia làm hai loại: Vật chất thô sơ, là những cái
Trang 15mà cảm giác chúng ta nhận thức được, nghĩa là các vật thể thông thường đều làvật chất thô sơ; còn những cái mà chúng ta không thể nhận thức được bằng cảmgiác thì đó là loại vật chất tinh tế Các vật thể vật chất xuất hiện do sự kết hợpcủa các nguyên tử - với đặc tính như là cái đầu tiên, vốn có, cực kỳ nhỏ bé, khichúng hấp dẫn lẫn nhau và chỉ có bằng cách kết hợp với nhau theo nhiều dạngkhác nhau, chúng mới tạo ra được các nguyên tố, các vật thể đa dạng, phong phútrong thế giới
Triết học Jaina đã diễn tả được sự biến đổi không ngừng của thế giới vậtchất, đó là sự biến đổi của dạng vật chất này thành dạng vật chất khác, cùng với
sự biến đổi, các nhà triết học của trường phái Jaina còn khẳng định tồn tại cái bấtbiến, đó là “tồn tại đầu tiên” đã sản sinh ra thế giới muôn vật và để duy trì thếgiới đa dạng nó cần tồn tại một cách bất biến, vô thủy, vô chung Triết học Jainathể hiện quan điểm về thế giới vừa siêu hình vừa biện chứng, vừa khuynh hướngduy vật nhưng lại thể hiện tính chất duy tâm
- Trường phái Lokayata là triết học lấy vật chất làm cơ sở, những ngườithuộc trường phái này đã khẳng định thế giới các sự vật, hiện tượng có nguồngốc từ bốn yếu tố vật chất cơ bản đầu tiên hay còn gọi là bốn đại nguyên tố cấuthành: Đất, nước, lửa và không khí Mỗi yếu tố đều có khả năng tự tồn tại, tự vậnđộng và tự hình thành trong không gian, thời gian, chúng có sự tác động qua lạivới nhau để cấu thành nên vạn vật, nó là cơ sở tạo nên sự phong phú, đa dạngcủa vạn vật
Tương ứng với mỗi nguyên tố vật chất đầu tiên là biến thể đặc biệt của nó,
đó là các nguyên tử Các nguyên tử đều có tính chất như: Vô cùng nhỏ bé, khôngbiến đổi, không bị tiêu diệt và tồn tại vĩnh viễn Mọi hình thức và đặc tính của sựvật, hiện tượng trong thế giới đều phụ thuộc vào chổ chúng là sự kết hợp củanhững loại nguyên tử nào và tỉ lệ, số lượng, cách thức kết hợp các nguyên tử đó.Các nguyên tử của bốn đại nguyên tố tụ lại thì tạo thành sự vật và cơ thể chúngsinh Khi cơ thể chết đi, các nguyên tử tan ra để trở về với bốn đại nguyên tố cơ
Trang 16bản của thế giới Sống là do bốn đại nguyên tố tự kết hợp lại thành “thể”, còn chết
là do bốn đại nguyên tố tự phân tán đi, trở thành “vô”
Trong quan điểm về thế giới, triết học Lokayata cũng có tư tưởng về sự tiếnhóa của vật chất Cho rằng trong bốn yếu tố cơ bản của thế giới, những yếu tố nàybắt nguồn và liên hệ với những yếu tố kia và đất là yếu tố xuất phát của sự chuyểnhóa đó Sự tiến hóa cao nhất của sự kết hợp các yếu tố cơ bản của thế giới là khicác yếu tố này liên kết với nhau theo một cách thức và số lượng nhất định sẽ tạo ra
cơ thể sống có cảm giác và ý thức Khi những yếu tố đó phân rã thì chúng trở vềđiểm xuất phát của chúng, đó là cái chết của một cơ thể Như thế, sự biến hóa củacác yếu tố vật chất cơ bản đầu tiên mang tính tuần hoàn, khép kín
Sinh mệnh, linh hồn, ý thức và cảm giác của con người chỉ xuất hiện khicác đại nguyên tố kết hợp hay phân tán ra theo một thể thức đặc biệt Vậy, không
có linh hồn trong các yếu tố riêng rẽ Từ quan điểm trên trường phái này đã chorằng ý thức, linh hồn là một thuộc tính của cơ thể Mặc dù họ đã phản đối thuyếtluân hồi, nghiệp, giải thoát nhưng họ chưa có phương pháp luận đúng đắn vàkhoa học
- Triết học phật giáo quan niệm bản chất của sự tồn tại là sự biến chuyểnliên tục (vô thường), không thể tìm ra nguyên nhân đầu tiên, do vậy không có aitạo ra thế giới và cũng không có cái gọi là vĩnh hằng Thế giới được cấu tạo bởicác yếu tố vật chất (sắc) và tinh thần (danh), nhưng danh và sắc chỉ hội tụ trongmột thời gian ngắn rồi chuyển sang trạng thái khác Sự vật, hiện tượng luôn biếnchuyển theo chu trình nhân - quả, kết quả của quá trình cũ có thể là nguyên nhâncủa quá trình sau và nó tiếp tục theo một chu trình như vậy Tất cả các sự vậttrong vũ trụ luôn biến đổi không ngừng, bị chi phối và tuân theo quy luật nhân -quả Cái nhân nhờ có duyên trợ mà trở thành quả; quả mới lại nhờ duyên mới trợgiúp mà tạo thành quả mới… Cứ như vậy, thế giới sự vật, hiện tượng cứ sinhhóa, biến hiện không ngừng Quá trình đó có thể diễn ra trong nháy mắt haytrong từng giai đoạn có sự biến đổi về chất Từ cái vô cùng nhỏ đến cái vô cùng
Trang 17lớn, từ cái đơn giản đến cái phức tạp đều chịu sự chi phối, tác động của luật nhân
- quả mà tồn tại, biến hiện
Ngay chính bản thân con người cũng do nguyên nhân kết hợp mà thành,
nó được cấu tạo bởi thể xác và tinh thần, con người phát triển theo chu kỳ sinh lão - bệnh - tử, bất cứ ai cũng phải trải qua chu kỳ này, nói tử là kết quả cuốicùng của một quá trình nhưng cũng là nguyên nhân của vòng luân hồi Phật giáocho rằng cuộc đời con người là một bể khổ, cuộc sống hiện tại chỉ là tạm bợ, còncuộc sống kiếp sau mới là vĩnh hằng Vì vậy, để thoát khỏi bể con người phải tudưỡng đạo đức Phật giáo đặt vấn đề tìm kiếm mục tiêu nhân sinh ở cỏi niết bàn,
-đó chính là sự giải thoát khỏi “Vòng luân hồi”, khỏi “Nghiệp báo” Do nghiệpchi phối theo luật nhân quả nên vạn vật, chúng sinh mất đi ở chổ này, thời giannày là để sinh ra ở chổ khác, thời gian khác Đó chính là quá trình tái sinh luânhồi Con người đạt tới cỏi niết bàn là trạng thái tối cao nhất, là sự phát triển Cóthể nói, quan niệm về sự phát triển trong Phật giáo đã có nhiều tiến bộ nhưng sựphát triển đó đã dừng lại một giới hạn nhất định là cỏi niết bàn
Điểm qua một số trường phái triết học của Ấn Độ cổ đại, chúng ta có thểthấy: Triết học Ấn Độ cổ đại đã có đề cập đến sự vận động, biến chuyển của các
sự vật, hiện tượng, của thế giới, sự thay đổi của vạn vật qua không gian và thờigian Tuy nhiên, những quan niệm đó chưa được thể hiện một cách chặt chẽkhoa học, và những lý giải được đưa ra trên góc độ mơ hồ, bí hiểm, chưa tìm rađược nguồn gốc, phương thức, hay khuynh hướng của sự phát triển
1.1.1.2 Triết học Trung Quốc
Nền triết học Trung Quốc cổ đại ra đời vào thời kỳ quá độ từ chiếm hữu nô
lệ lên xã hội phong kiến Trong bối cảnh lịch sử ấy, mối quan tâm hàng đầu củacác nhà tư tưởng Trung Quốc cổ đại là những vấn đề thuộc đời sống thực tiễnchính trị - đạo đức của xã hội Triết học Trung Quốc chủ yếu lấy con người làmđối tượng nghiên cứu, nghiên cứu con người tức là nghiên cứu vũ trụ Do đó, hệ
Trang 18thống những quy luật của vũ trụ được chứa đựng ngay trong chính bản thân conngười và tư tưởng của sự phát triển cũng xuất phát từ đây.
Bên cạnh những suy tư sâu sắc về các vấn đề xã hội, nền triết học TrungQuốc thời kỳ cổ đại đã cống hiến cho lịch sử triết học thế giới những tư tưởngsâu sắc về sự biến dịch của vũ trụ Những tư tưởng về Âm Dương, Ngũ Hành lànhững triết lý đặc sắc mang tính duy vật và biện chứng của người Trung Quốcthời cổ, Âm Dương và Ngũ Hành là hai phạm trù quan trọng trong triết họcTrung Quốc, là những khái niệm trừu tượng đầu tiên của người xưa đối với sựsản sinh, biến hoá của vũ trụ Đó là cội nguồn của quan điểm duy vật và biệnchứng trong tư tưởng triết học của người Trung Quốc và đã có ảnh hưởng to lớnđến thế giới quan triết học sau này của người Trung Quốc nói riêng và đối vớinhững quốc gia chịu ảnh hưởng của nền triết học Trung Quốc nói chung
Khi nói đến quan điểm về sự phát triển trong tư tưởng triết học TrungQuốc, chúng ta có thể xem xét thuyết Âm Dương, Ngũ Hành với tư cách là tưtưởng triết học tiêu biểu bàn về sự phát sinh, phát triển của mọi sự vật, hiệntượng trong vũ trụ
- Tư tưởng triết học về Âm - Dương: “Dương” nguyên nghĩa là ánh sáng mặt trời hay những gì thuộc về ánh sáng mặt trời và ánh sáng; “Âm” có nghĩa là
thiếu ánh sáng mặt trời, tức là bóng râm hay bóng tối Về sau, Âm - Dương đượccoi như hai khí; hai nguyên lý hay hai thế lực vũ trụ Chính do sự tác động qualại giữa chúng mà sinh ra mọi sự vật, hiện tượng trong trời đất Thuyết Âm -Dương cho rằng sự vận động và biến đổi bắt nguồn từ hai thế lực đối lập là Âm
và Dương, chúng đối lập trong sự thống nhất và chuyển hóa lẫn nhau, chúng vừakhẳng định vừa phủ định trong quá trình tồn tại Hai thế lực Âm - Dương khôngtồn tại biệt lập mà thống nhất, chế ước lẫn nhau theo các nguyên lý:
Âm - Dương thống nhất thành Thái cực Nguyên lý này nói lên tính toàn
vẹn, tính chỉnh thể, cân bằng của cái đa và cái duy nhất Chính nó bao hàm tưtưởng về sự thống nhất giữa cái bất biến và cái biến đổi
Trang 19Trong Âm có Dương, trong Dương có Âm Nguyên lý này nói lên khả
năng biến đổi Âm - Dương đã bao hàm trong mỗi mặt đối lập của Thái cực
Hai nguyên lý trên được khái quát bằng vòng tròn khép kín, có hai hìnhđen trắng tượng trưng cho Âm - Dương, hai hình này tuy cách biệt hẳn nhau, đốilập nhau nhưng ôm lấy nhau, xoắn lấy nhau, không tách rời nhau trong chỉnh thểvòng tròn khép kín bao bên ngoài Mặt khác, chổ hình đen phồng ra có điểmtrắng và ngược lại, trong hình trắng lại có một điểm đen
Để giải thích lịch trình biến hoá trong vũ trụ, người Trung Quốc đã kháiquát cái logic tất định: Thái cực sinh Lưỡng nghi (Âm - Dương), Lưỡng nghisinh Tứ tượng (Thái Dương - Thiếu Âm - Thiếu Dương - Thái Âm) và Tứ tượngsinh Bát quái (Càn, Khảm, Cấn, Chấn, Tốn, Ly, Khôn, Đoài), Bát quái sinh ravạn vật (vô cùng vô tận)
Tư tưởng triết học về Âm - Dương đạt tới mức một hệ thống hoànchỉnh trong tác phẩm Kinh dịch Tinh hoa của Kinh dịch được thể hiện qua:
Dịch là sự biến hoá của vạn vật; Tượng chỉ sự biến dịch của vạn vật theo tám quẻ tượng trưng cho ý nghĩa nào đó về sự vật, hiện tượng; Từ là biểu thị về
phương diện lành hay dữ, động hay tĩnh của sự vật, hiện tượng và nguyên lý
Âm - Dương là nguyên nhân căn bản tạo nên sự biến hoá trong vũ trụ thôngqua sự giao cảm, biến hoá của Âm và Dương trong Thái cực
- Tư tưởng triết học về Ngũ Hành: “Ngũ Hành” được dịch là năm yếu tố.Năm yếu tố được coi là năm thế lực động có ảnh hưởng đến nhau, cho nên “NgũHành” có nghĩa là năm hoạt động, năm tác nhân hay còn được gọi là “Ngũ đức”
- có nghĩa là năm thế lực Thứ nhất là Kim tượng trưng cho tính chất trắng, khô, cay, phía Tây; hai là Mộc tượng trưng cho tính chất xanh, chua, phía Đông; ba là Thủy tượng trưng cho tính chất đen, mặn, phía Bắc; bốn là Hoả tượng trưng cho tính chất đỏ, đắng, phía Nam và năm là Thổ tượng trưng cho tính chất vàng,
ngọt, ở giữa Như vậy, tư tưởng triết học về Ngũ Hành có xu hướng phân tích
Trang 20cấu trúc của van vật và quy nó về những yếu tố khởi nguyên với những tính chấtkhác nhau nhưng tương tác với nhau.
Ngũ Hành được dùng để giải thích sự phát sinh, phát triển của vạn vậttrong vũ trụ, những vật giống nhau thì không kết hợp thành vật mới, chỉ cónhững vật có tính chất khác nhau mới có thể sinh thành vật mới
Các yếu tố trong Ngũ Hành không tồn tại biệt lập tuyệt đối mà trong một
hệ thống ảnh hưởng tương sinh, tương khắc với nhau theo hai nguyên tắc:
Tương sinh: Thổ sinh Kim; Kim sinh Thuỷ; Thuỷ sinh Mộc; Mộc sinh Hoả; Hoả sinh Thổ… và Tương khắc: Thổ khắc Thuỷ; Thuỷ khắc Hoả; Hoả khắc
Kim; Kim khắc Mộc; Mộc khắc Thổ…, đó là quá trình sự vật được sinh sôi vàchế ước lẫn nhau
Về sau, thuyết Âm Dương và Ngũ Hành được kết hợp với nhau làm một
Hệ thống lý luận Âm Dương - Ngũ Hành “Tương sinh, tương khắc” đã được vậndụng để giải thích mọi sự biến đổi của vạn vật trong trời đất và trong nhân gian.Như vậy, thuyết Âm Dương - Ngũ Hành đã thừa nhận tính vật chất của thế giới,giải thích quy luật phát triển khách quan của thế giới, mặc dù còn chất phác vàmáy móc nhưng nó đã có tác dụng chống lại chủ nghĩa duy tâm trong quan niệm
về thế giới
Có thể thấy, các nhà triết học Trung Quốc cổ đại đã có quan niệm về sựvận động không ngừng của sự vật, hiện tượng, nhưng đó chỉ là sự vận động biếnđổi theo một vòng tuần hoàn nhất định nào đó Họ chưa chỉ ra được nguồn gốc,phương thức, khuynh hướng của sự phát triển mà chỉ đưa ra những vận động đơnthuần, chưa đầy đủ
1.1.2 Quan niệm về sự phát triển trong triết học Phương Tây:
1.1.2.1 Triết học Hy Lạp cổ đại
Tư tưởng triết học ra đời ở xã hội Hy lạp cổ đại, xã hội chiếm hữu nô lệvới những mâu thuẫn gay gắt giữ tầng lớp chủ nô dân chủ và chủ nô quý tộc
Trang 21Chính điều này đã dẫn đến cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩaduy tâm biểu hiện qua cuộc đấu tranh giữa đường lối triết học của Đêmôcrít vàđường lối triết học của Platôn là đại diện cho hai tầng lớp chủ nô dân chủ vàquý tộc Bên cạnh đó, sự ra đời và phát triển của Triết học Hy Lạp cổ đại cómột số đặc điểm: Là kết quả tất yếu của việc kế thừa những di sản tinh tuý củatruyền thống trong sáng tác dân gian, trong thần thoại, trong các hình thái sinhhoạt tôn giáo; gắn kết hửu cơ với khoa học tự nhiên (điều này giải thích tại saohầu hết các nhà triết học duy vật thời Hy Lạp cổ đại đều là nhà khoa học tựnhiên); sự ra đời rất sớm của chủ nghĩa duy vật mộc mạc, thô sơ và phép biệnchứng tự phát.
Trong triết học Hy Lạp phép biện chứng chỉ mới sơ khai, giải thích sự vật,hiện tượng trong một khối thống nhất nên tư duy về sự phát triển cũng hình thànhmột cách sơ khai Như sau này, Ănghen đã nhận xét: “Cái thế giới quan ban đầu,ngây thơ, những xét về thực chất thì đúng đó là thế giới quan của các nhà triết học
Hy Lạp cổ đại, và lần đầu tiên được Hêraclít trình bày một cách rõ ràng: “Mọi vậtđều tồn tại và cũng không tồn tại, vì mọi vật đang trôi qua, mọi vật không ngừngtiến hoá, mọi vật đều không ngừng phát sinh và tiêu vong” [57, tr.34]
- Nhà triết học Talét (khoảng 625 - 547), là người đầu tiên sáng lập ra kiểutriết học duy vật sơ khai (theo đánh giá của Aritstốt) và sáng lập ra trường pháitriết học Milet Khi giải thích về nguồn gốc của thế giới, ông coi nước là khởinguyên của vạn vật, mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới đều sinh ra từ nước,tồn tại và biến đổi cùng với nước, khi mất đi hay vận động cao hơn chúng lại trở
về với nước Thế giới này không gì khác hơn đó là những trạng thái khác nhaucủa nước, nước là nền tảng của toàn bộ thế giới trong một chỉnh thể thống nhất,tồn tại như một vòng tuần hoàn biến đổi không ngừng Nước là cái quy định sựchuyển biến từ dạng vật chất này sang dạng vật chất khác, là cái tạo nên sự thốngnhất của thế giới Vì vậy, chỉ có nước mới tồn tại mãi mãi và là cơ sở vật chấtcủa sự vật, còn sự vật luôn sinh ra, lớn lên, biến đổi không ngừng
Trang 22Quan niệm của Talét mặc dù còn mộc mạc thô sơ nhưng đã hàm chứanhững yếu tố biện chứng tự phát Nước đã trở thành một khái niệm triết học, làcái quy định sự chuyển biến từ dạng vật chất này sang dạng vật chất khác, là cáitạo nên sự thống nhất của thế giới, là cái gắn kết giữa cái đơn và cái đa, là sựchứa đựng tiềm tàng giữa cái bản chất và cái hiện tượng.
- Nhà triết học Hêraclít (khoảng 540 - 475 TCN), người chiếm giữ vị trítrung tâm trong lịch sử phép biện chứng Hy Lạp cổ đại thì cho rằng lửa là khởinguyên của thế giới, là nguồn gốc sinh ra tất thảy mọi vật “Tất cả đều quy đổilấy lửa, lửa lấy tất cả, giống như vàng trao đổi lấy hàng hóa, còn hàng hóa lấyvàng” [22, tr.27] Theo Hêraclít, bản thân vũ trụ không phải do chúa trời hay mộtlực lượng siêu nhiên thần bí nào tạo ra, mà “Thế giới này chỉ có một đối với mọicái, không phải do thần thánh, hay do con người tạo ra nhưng nó mãi mãi đã,đang và sẽ là ngọn lửa vĩnh cửu, như là độ đo của những cái đang rực cháy vàmức độ đo của những cái đang lụi tàn” [22, tr.26] Lửa không chỉ là hiện thân vàsức mạnh của vũ trụ, của vật lý mà còn là sức mạnh của lý trí Lửa là logos -khái niệm dùng để chỉ sự thống nhất giữa ngôn ngữ và tư tưởng, được hiểu theonhiều nghĩa khác nhau
Logos là cái tồn tại vĩnh viễn, phổ biến và thực chất là quy luật của sự tồntại, là cái tạo nên sự hài hoà, cân đối của thế giới Logos tồn tại dưới cả dạngkhách quan, nhưng về nguyên tắc thì logos chủ quan phải phù hợp với logoskhách quan, sự phù hợp ở đây là logos khách quan đó là những quy luật vậnđộng khách quan của thế giới được coi là tiêu chuẩn đánh giá mọi hoạt động, suynghĩ của con người Theo Hêraclít, sự vận động của sự vật gắn liền với sự thốngnhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập Ông đã khẳng định rằng các mặt đối lậpvừa đấu tranh với nhau, vừa thống nhất với nhau, chúng là tiền đề, chổ dựa chonhau và coi đó là nguồn gốc của sự phát triển vạn vật
Hêraclít đã xây dựng nên học thuyết về sự vận động hay còn được gọi làhọc thuyết về dòng chảy vì người ta thường liên tưởng đến câu nói nổi tiếng của
Trang 23ông: “Chúng ta không thể lội xuống hai lần trên cùng một dòng sông”, đây là sự
triển khai quan điểm về thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập, mà cụ thể làhai mặt đối lập vận động và đứng im, là những mặt đối lập không thể thiếu nhau
để tạo thành một dòng chảy Ông cho rằng, không có gì ổn định và bất biến hơn
là dòng sông luôn chảy, hay nói theo một cách khác là tính biển đổi của dòngsông không loại trừ đứng im, tức là cái mà nhờ đó dòng sông là xác định, ổnđịnh và bất biến Nhờ chảy mới là sông, cái biến đổi biểu hiện cái xác định và vì
là sông nên mới chảy, cái xác định biểu hiện cái biến đổi
Trái với quan điểm xem đấu tranh như một hiện tượng hoàn toàn tiêu cực,như là sự xung đột giữa các lực lượng mù quáng bất động mang tính chất pháhuỷ hay quan điểm hài hoà là bất biến, Hêraclít đã khẳng định đấu tranh sẽ tạo
ra một trật tự hài hoà về thống nhất, ông cho rằng cái vốn có ở trong sự hài hoà
là đấu tranh và đó là điều kiện để hài hoà Ở đâu không có sự khác biệt thì ở đókhông có sự thống nhất Đấu tranh là nguồn gốc của mọi cái đang hiện hữu, làkhởi nguyên sáng tạo của sự sống và tồn tại Vì vậy, ông nhấn mạnh: “Cần biếtrằng đấu tranh là phổ biến, rằng công bằng là đấu tranh, và rằng mọi thứ đềuthông qua đấu tranh và tuân theo tính tất yếu” [22, tr.31]
Có thể nói, đóng góp của Hêraclít chính là cách trình bày đầu tiên về quyluật thống nhất, hài hòa và đấu tranh giữa các mặt đối lập Ông đã thể hiện bảnchất mâu thuẫn của các sự vật, đồng thời chỉ ra sự thống nhất biện chứng củanhận thức và biện chứng của thế giới Với nội dung triết học được diễn đạt bằnghình ảnh là điểm mạnh, đồng thời là hạn chế ở Hêraclít Hình ảnh so với kháiniệm là có thể cùng lúc thu tóm được các mặt đối lập, biểu diễn được cái chung
và cái riêng, tạo được những ấn tượng trực quan sinh động, những mối liêntưởng so sánh nhưng do tính đa nghĩa của nó nên khó có thể diễn tả chính xácbản chất của vấn đề Đó chính là những trở ngại khi phản ánh bản chất mâuthuẫn của các sự vật, kể cả bản chất mâu thuẫn của vận động vào logic của cáckhái niệm
Trang 24- Nhà triết học Đêmôcrít (460 - 370 TCN), là đại biểu xuất sắc nhất củachủ nghĩa duy vật cổ đại, trên cơ sở kế thừa thuyết nguyên tử luận của Lơxip,Đêmôcrít xây dựng thuyết nguyên tử luận của mình ở một trình độ cao hơn vềthế giới Đêmôcrít đã làm phong phú, sâu sắc hơn quan niệm về nguyên tử, vềtồn tại và không tồn tại và về cách vận động của nguyên tử.
Theo Đêmôcrít, khởi nguyên của thế giới không phải là một sự vật cụ thểnào đó như nhiều nhà triết học trước đó quan niệm mà là các nguyên tử Nguyên
tử là các hạt vật chất cực nhỏ, không thể cảm nhận bằng thị giác, không thể phânchia được nữa và giữa các nguyên tử không có sự khác biệt về chất, chúng không
có mùi vị, màu sắc hay âm thanh, chúng chỉ khác nhau về hình dạng, tư thế vàtrật tự kết hợp Vận động của các nguyên tử là vĩnh viễn và chúng vận độngtrong chân không Đối với Đêmôcrít mọi sự vật trong thế giới chúng ta đều đượctái tạo từ nguyên tử, sự xuất hiện hay mất đi của sự vật này hay sự vật khác làkết quả của việc kết hợp hay phân tán của các nguyên tử Khi tích hợp, chúng tạonên các sự vật lớn hơn, khi phân ly các sự vật dường như nhỏ lại, lụi tàn và biếnmất Dựa vào thuyết nguyên tử luận Đêmôcrít đã giải thích được sự vận động vàphát triển của vạn vật có nguồn gốc từ bên trong sự vật và sự vận động khôngphụ thuộc vào quyền lực thần bí bên ngoài
Tuy nhiên, Đêmôcrít vẫn không thoát khỏi những hạn chế khi đã lẫn lộnvật chất và ý thức, coi ý thức và linh hồn không phải là hiện tượng tinh thần vàhiện tượng vật chất, đồng nhất linh hồn của con người như là tổng thể củanguyên tử Đồng thời ông cũng cho rằng linh hồn cũng chết cùng thể xác
Bên cạnh những nhà triết học theo quan điểm duy vật, triết học Hy Lạp cổđại còn có những triết gia theo quan điểm duy tâm cũng bàn về sự tồn tại và pháttriển, trong đó tiêu biểu có học thuyết về ý niệm của nhà triết học Platôn vàthuyết hình dạng của nhà triết học Arixtốt
- Nhà triết học Platôn (khoảng 427 - 347 TCN), là một trong những nhàtriết học, nhà tư tưởng kiệt xuất nhất thời cổ đại Học thuyết ý niệm là vấn đề
Trang 25trung tâm của triết học Platôn, đó không chỉ là nền tảng của thế giới quan mà còn
là cơ sở của lý luận nhận thức Theo Platôn, thế giới hiện thực chỉ là cái bóngcủa thế giới ý niệm, vì thế tự nhiên và con người phụ thuộc vào thế lực huyền bí;các sự vật chỉ là hiện thân của ý niệm, thế giới ý niệm là thế giới bản nguyên tồntại độc lập với thế giới hiện thực và nó chi phối thế giới hiện thực Chính vì vậy,
ý niệm là cái có trước là bản chất của mọi sự vật; mọi sự vật đều là sự mô phỏngcủa ý niệm, luôn hướng tới cái ý niệm như là bản chất chung, là nền tảng nội tạicủa mình
Trong quan niệm về thế giới của Platôn, ông đã theo lập trường duy tâmkhách quan, coi mọi sự vật, hiện tượng là hiện thân của các ý niệm, là cái bóngcủa ý niệm Điều này cũng đã chi phối quan niệm về xã hội và con người củaPlatôn, ông cho rằng: Tương ứng với ba phần của linh hồn con người (lý tính,cảm xúc, tình cảm), mà chia xã hội thành ba hạng người đó là kẻ thống trị, tầnglớp võ sĩ và tầng lớp những người lao động Quan điểm này đã phủ nhận sự vậnđộng sự phát triển của sự vật, bất kỳ sự vật nào cũng chỉ là sự thể hiện đặc thùcác ý niệm tương ứng dưới dạng vật chất
Tóm lại, trong quan niệm về thế giới, Platôn theo lập trường duy tâmkhách quan đã coi mọi sự vật chỉ là hiện thân của các ý niệm, hay nói theongôn ngữ của ông, là cái bóng của ý niệm Bất kỳ sự vật nào cũng chỉ là sựthể hiện đặc thù của các ý niệm tương ứng dưới dạng vật chất mà thôi Tuyvậy, Platôn đã có vai trò, đóng góp to lớn trong việc nghiên cứu bản chất củacác khái niệm Để giải thích một hiện tượng nào đó, theo ông, cần phải tìm ýniệm của nó, hay nói một cách khác là phải hiểu sự vật ở mức độ khái niệm,mức độ tư duy lý luận
- Nhà triết học Arixtốt (384 - 322 TCN), được đánh giá là nhà triết họclớn nhất, là bộ óc bách khoa toàn thư của triết học Hy Lạp cổ đại Là người đầu
tiên sử dụng danh từ phạm trù với tư cách là một thuật ngữ triết học, là người
đầu tiên khám phá những quy luật sở đẳng của tư duy biện chứng…
Trang 26Arixtốt cho rằng, tồn tại nói chung xuất phát từ bốn nguyên nhân cơ bản:Vật chất, hình dạng, vận động và mục đích Bất kỳ sự vật nào cũng phát triểndựa trên bốn nguyên nhân đó và tương tự như vậy, sự vật nào có bốn nguyênnhân trên thì mới có thể tồn tại được Căn cứ vào chức năng của chúng, ông đã
phân thành hai nhóm là: Nhóm 1, là nguyên nhân vật chất; nhóm 2, gồm có
nguyên nhân hình thức, vận động và mục đích
Trong các nguyên nhân để sự vật tồn tại thì nguyên nhân về hình dạng là
cơ bản nhất Nó thực chất là tồn tại, là bản chất của sự vật, bản thân nó đã baohàm cả nguyên nhân vận động và mục đích Theo ông, mọi vật trong thế giớichúng ta đều có thể vận động nhờ hình dạng vốn rất tích cực, đó là bản chất củachúng Vậy, trên thực tế tồn tại chỉ xuất hiện từ hai nguyên nhân: Nguyên nhânvật chất và nguyên nhân hình thức Bởi vì, theo lập luận của Arixtốt, thì trongnguyên nhân hình thức đã dung chứa nguyên nhân vận động và nguyên nhânmục đích
Xem xét và giải quyết vấn đề vận động, Arixtốt đã chia thành bốn dạngvận động cơ bản: Tăng và giảm; biến đổi về chất; xuất hiện và diệt vong;chuyển dịch vị trí Trong bốn dạng vận động này thì dạng vận động chuyểndịch vị trí trong không gian được xem là quan trọng nhất, vì nó là điều kiện của
ba dạng còn lại Mặc dù đã phân chia thành bốn dạng vận động nhưng cũnggiống như bốn nguyên nhân tồn tại của sự vật, cuối cùng ông lại quy các hìnhthức vận động vào dạng vận động cơ học (thay đổi vị trí trong không gian) vàvận động chỉ được hiểu đơn giản chỉ là sự di chuyển vị trí của các vật thể
Có thể nói, ý nghĩa của học thuyết bốn nguyên nhân của Arixtốt còn hạnhẹp và lý giải về sự tồn tại cũng chỉ giới hạn trong lập trường nhị nguyên luận
“Arixtốtđã đúng khi khẳng định vận động là sự biến đổi nói chung nhưng sựbiến đổi đó không thể chỉ dừng lại ở biến đổi về mặt vị trí trong không gian” [22,tr.135] Chính vì vậy, Arixtốt chưa đưa ra được cơ sở khoa học của sự phát triển,theo ông phát triển đơn giản chỉ là sự biến hóa về vị trí
Trang 271.1.2.2 Triết học cổ điển Đức
Triết học cổ điển Đức là đỉnh cao của nền triết học phương Tây, đồng thời
có tầm ảnh hưởng sâu rộng và to lớn đến triết học hiện đại Đây là giai đoạn pháttriển mới về chất trong lịch sử triết học Tây Âu mà cụ thể là ở Đức vào cuối thế
kỷ XVIII đến đầu thế kỷ XIX
Cho đến đầu thế kỷ XIX, nước Đức vẫn là một quốc gia phong kiến lạchậu, Liên bang Đức chỉ tồn tại về hình thức, thực tế đất nước đang còn phânthành nhiều tiểu vương quốc cách biệt nhau Tình trạng đó đã gây nhiều trở ngạiđối với sự phát triển của nước Đức Trong khi đó, từ cuối thế kỷ XVIII chủ nghĩa
tư bản đã được thiết lập ở một số các nước Tây Âu như: Anh, Pháp, Italia… đemlại một nền sản xuất phát triển chưa từng có trong lịch sử nhân loại và tỏ ra ưuviệt hơn hẳn so với các chế độ xã hội trước đó
Tuy lạc hậu về kinh tế và chế độ chính trị, nhưng nước Đức thời kỳ này lạiđạt được sự phát triển chưa từng có về triết học, văn hoá và nghệ thuật Thêm vào
đó, khoa học thời kỳ này đã có những tiến bộ đáng kể, nhất là các ngành khoa học
tự nhiên đã minh chứng cho năng lực vô tận của nhận thức và cải tạo thế giới củacon người, ngày càng cho thấy sự hạn chế của phương pháp tư duy siêu hình Đòihỏi phải có cách lý giải mới về bản chất của thế giới cũng như về con người
Thực tiễn và nhu cầu phát triển tư duy lý luận đòi hỏi và đã tạo tiền đề,điều kiện cho sự xuất hiện của một nền triết học mới - Triết học cổ điển Đức Từđây đã xuất hiện những nhà tư tưởng nổi tiếng thế giới, như: Cantơ, Hêghen,Phoiơbắc… triết học cổ điển Đức đã tiếp thu những tư tưởng biện chứng trongcác di sản triết học truyền thống từ thời cổ đại, xây dựng phép biện chứng trởthành một phương pháp luận triết học trong việc nghiên cứu các hiện tượng tựnhiên và xã hội
- Nhà triết học Cantơ (1724 -1884), là một trong những nhà triết học vĩ
đại nhất của lịch sử tư tưởng phương Tây trước Mác Triết học Cantơ “Là nền tảng và điểm xuất phát của triết học Đức hiện đại” - theo Hêghen.
Trang 28Từ những công trình nghiên cứu về trái đất và đại dương, Cantơ đã khámphá ra ảnh hưởng của lực hấp dẫn giữa trái đất và mặt trăng với các hiện tượngthuỷ triều Ông cho rằng, không chỉ mọi vật trong thế giới chúng ta mà cả toàn
bộ vũ trụ nói chung đều nằm trong quá trình phát sinh, phát triển và diệt vong
Đó là một quy luật
Theo Cantơ, thế giới này được cấu tạo từ vật chất, luôn luôn vận động vàbiến đổi, tất cả các sự vật đều nằm trong mối liên hệ tương tác lẫn nhau thôngqua lực hút và lực đẩy Thế giới hiện nay là kết quả của quá trình lịch sử pháttriển lâu dài theo hướng ngày càng hoàn thiện của tự nhiên Trong tác phẩm
nghiên cứu “Lịch sử tự nhiên đại cương và lý thuyết bầu trời”, Cantơ đã lý giải
về nguồn gốc và sự hình thành vũ trụ, ông cho rằng: Ban đầu thế giới chỉ lànhững đám tinh vân vô định hình với những hạt vật chất rải rác khắp nơi; tất cảcác hành tinh và cả vũ trụ chúng ta không phải ngay từ đầu đã có đã có đượctrạng thái tồn tại như ngày nay Nhờ lực vạn vật hấp dẫn, các hạt vật chất pháttán khắp nơi trong không gian đã dần dần tụ lại thành những đám mây lớn.Chính nhờ vào lực vạn vật hấp dẫn đã tích tụ các hạt vật chất rời rạc thành cáchành tinh độc lập với nhau và vũ trụ tồn tại nhiều hành tinh khác nhau vì chúngquá lớn lực vạn vật hấp dẫn không thể hút tất cả lượng vật chất của vũ trụ làmthành một khối được
Học thuyết về nguồn gốc và sự hình thành vũ trụ của Cantơ đã đi vào lịch
sử với ý nghĩa cách mạng, bởi vì nó tiến bộ hơn hẳn so với các giả thuyết đãđược đưa ra trước đây về nguồn gốc vũ trụ, đồng thời chứa đựng nhiều tư tưởngduy vật, đã đem lại một quan niệm mới trong việc xem xét sự phát triển của thếgiới Ngoài giả thuyết về nguồn gốc hình thành vũ trụ từ những đám tinh vân,ông còn đưa ra giả thuyết khoa học về sự lên xuống của nước thuỷ triều do sứchút của mặt trăng và trái đất có ảnh hưởng đến vòng xoay của trái đất Điều này
đã báo trước sự diệt vong tất yếu của hệ thống, mỗi thiên thể trong vũ trụ ra đờihay kết thúc chỉ là sự biến đổi từ trạng thái này sang trạng thái khác
Trang 29Có thể thấy về cơ bản Cantơ đã thể hiện tinh thần lạc quan của một nhàkhoa học tự nhiên chân chính với luận điểm “Hãy cho tôi vật chất, tôi sẽ xâydựng thế giới từ nó, nghĩa là hãy cho tôi vật chất tôi sẽ chỉ cho các anh thấy thếgiới phải ra đời từ vật chất như thế nào” [57, tr.126].
Tuy nhiên, ở thời kỳ tiền phê phán, Cantơ đã không thừa nhận tồn tạikhách quan tự nó của thế giới các sự vật Ông cho rằng thế giới các sự vật, cảkhông gian và thời gian là sản phẩm sáng tạo của chủ thể nhận thức Ông đã phủnhận lại những dự đoán về nguồn gốc sự vận động và phát triển Trong bản thânCantơ có sự dao động giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm; giữa nhấtnguyên và nhị nguyên, giữa khả tri và bất khả tri Tuy quan niệm về sự phát triểncủa Cantơ còn nhiều điểm chưa hợp lý nhưng nó có những bước tiến đáng kể vàtriết học của ông đã trở thành cơ sở lý luận, tiền đề xuất phát của nhiều trào lưutriết học hiện đại sau này, như: Chủ nghĩa hiện sinh, Chủ nghĩa thực dụng, Hiệntượng học
- Nhà triết học Hêghen (1770 - 1831), là nhà triết học duy tâm khách quan.Ông không chỉ là một thiên tài triết học của nước Đức mà còn là của cả thế giới
Tinh thần tuyệt đối là điểm xuất phát và là nền tảng trong quan niệm vềhiện thực Hêghen coi nền tảng thế giới quan triết học của mình là tinh thần tuyệtđối được hiểu như đấng tối cao sáng tạo ra giới tự nhiên và con người Mọi sựvật hiện tượng xung quanh ta, từ sự vật tự nhiên cho đến những sản phẩm hoạtđộng của con người, chỉ là hiện thân của tinh thần tuyệt đối, như là thực thể sinh
ra mọi cái trên thế giới Con người là sản phẩm và cũng là giai đoạn phát triểncao nhất của tinh thần tuyệt đối Hoạt động nhận thức và cải tạo thế giới của conngười chính là công cụ để tinh thần tuyệt đối nhân thức chính bản thân mình.Theo Hêghen, tuyệt đối là sự đồng nhất hoàn toàn giữa tinh thần và vật chất và làkết quả của cả một quá trình phát triển tinh thần tuyệt đối Vì vậy, ông khẳngđịnh tinh thần tuyệt đối là điểm xuất phát và nền tảng của hiện thực gắn liền vớiquan niệm phát triển
Trang 30Hêghen đã trình bày sự vận động và phát triển một cách chi tiết và khoahọc Khác với các nhà triết học siêu hình, Hêghen coi sự phát triển không chỉ là
sự tăng giảm đơn thuần về lượng, hay sự dịch chuyển vị trí của vật trong khônggian Ông cho rằng: Sự phát triển là một quá trình phủ định biện chứng, là sự rađời của những cái mới thay thế cho cái cũ trên cơ sở kế thừa những yếu tố củacái cũ mà chúng có khả năng thúc đẩy sự phát triển Sự phát triển của sự vật,hiện tượng là một quá trình vận động từ chưa đầy đủ đến đầy đủ, từ thấp đếncao, là quá trình tích lũy về lượng, khi lượng đổi tới một giới hạn “độ” nhất địnhthì sự vật chuyển hóa về chất Quan điểm của Hêghen về sự phát triển là một cáinhìn mới trong triết học
Theo Hêghen, chỉ trong lĩnh vực tinh thần sự biến đổi mới tạo ra cái mới,còn sự biến đổi trong giới tự nhiên vô cơ và hữu cơ đó chỉ là sự nổ lực để giảithoát khỏi cái hình thức không tương hợp trọn vẹn với nội dung của ý niệm tuyệtđối Như vậy, theo Hêghen sự phát triển chỉ có trong thế giới ý niệm tuyệt đốihay chỉ có sự biến đổi trong khái niệm mới là phát triển
Tuy nhiên, quan điểm của Hêghen cũng mới chỉ dừng dưới góc độ biệnchứng của khái niệm chứ chưa phản ánh trung thực, chính xác biện chứng kháchquan của duy vật Bởi vì Hêghen coi sự vật, hiện tượng chỉ là dạng tồn tại khác
“của ý niệm tuyệt đối” Sự vật hiện tượng dù có sự chuyển hóa về chất nhưngkhông phải là sự vận động đi lên hướng về tương lai mà là sự vận động hướng vềquá khứ, trở lại với quá khứ Ngay cả ý thức, tri thức tích lũy của con người cũngchỉ là những gì đã có ở quá khứ Từ quan niệm trên, Hêghen đã khẳng địnhnguồn gốc, động lực của mọi biến đổi thuộc về thế giới “ý niệm tuyệt đối”
Theo quan điểm về sự phát triển của Hêghen, thì giới tự nhiên với tínhcách chỉ giản đơn là sự tha hóa của ý niệm, không có năng lực phát triển trongthời gian, nó chỉ có thể mở rộng tính muôn vẻ của nó trong không gian và do đó
nó phải lặp đi, lặp lại một cách vĩnh viễn những quá trình như nhau
Trang 31Qua việc nghiên cứu các quan điểm của các nhà triết học trước Mác, chochúng ta thấy vấn đề về sự phát triển đã có manh nha từ rất sớm Mặc dù cácquan điểm triết học ấy đã trình bày sự phát triển dưới dạng vận động, một thuộctính của vật chất Chưa có một nhà triết học nào đưa ra quan điểm một cách khoahọc về sự phát triển, họ chưa tìm thấy nguồn gốc, động lực, khuynh hướng củaphát triển Triết học Mác đã khắc phục những vấn đề đó trên cơ sở sự kế thừa,chọn lọc và phát triển các quan điểm trước đó để đưa ra được quan điểm khoahọc về sự phát triển.
1.2 Quan niệm của triết học Mác - Lênin về sự phát triển
Nguyên lý về sự phát triển được xây dựng trong triết học Mác - Lêninluôn lấy hiện thực làm tiền đề xuất phát cho mọi luận điểm Vì vậy, nó mangtính khoa học và thực tiễn Theo quan điểm của triết học Mác - Lênin, mọi sựvật, hiện tượng tồn tại gắn liền với sự vận động và phát triển, thông qua vậnđộng, nhờ vận động mà các sự vật, hiện tượng có sự biến đổi, trong đó có sựbiến đổi về hình dạng, vị trí, kết cấu và biến đổi về khuynh hướng Trong sự biếnđổi của sự vật, hiện tượng thì khuynh hướng vận động đi lên chính là sự pháttriển, là bước chuyển biến về chất Với cách lập luận như vậy, triết học duy vậtbiện chứng đã phủ định quan điểm của chủ nghĩa duy tâm, tôn giáo về sức mạnhcủa thần linh và thượng đế hay nói cách khác là phủ nhận sự tồn tại của các lựclượng siêu nhân, phi vật chất nhưng lại có quyền quyết định sự biến đổi của vậtchất Về thực chất, nguồn gốc của sự vận động nằm trong chính sự vật, hiệntượng, vận động và phát triển vừa là tiền đề, đồng thời vừa là kết quả của sựthống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập
Mỗi sự vật vừa tồn tại ở trong trạng thái tĩnh, vừa tồn tại ở trạng tháiđộng Trong đó, trạng thái tĩnh chỉ là sự cân bằng tương đối, tạm thời của sự vật
và nhờ đó chúng ta phân biệt được sự vật này với sự vật khác Mỗi sự cân bằng,
ổn định được xem là tạm thời, thoáng qua và nó luôn có xu hướng bị phá vỡ đểtạo nên sự biến đổi, tạo nên sự khác biệt cơ bản Trong những mặt khác biệt luôn
Trang 32tồn tại những mặt đối lập, có xu hướng vận động trái ngược nhau, trong đó cónhững mặt tạo thành mâu thuẫn Sự xuất hiện của mâu thuẫn đã trở thành vật cảncủa sự phát triển, nhưng cũng chính sự xuất hiện của mâu thuẫn đã đặt ra nhữngđòi hỏi cần phải giải quyết, cần phải được phá vỡ để không cản trở sự vận động
Như vậy, sự phát triển của sự vật, hiện tượng không phụ thuộc vào ý muốncủa một lực lượng siêu nhiên, hay cảm giác nằm ngoài sự vật mà nó là một hiệnthực, nó biến đổi một cách khách quan, phổ biến và diễn ra theo một quá trình.Nhờ dựa vào biến đổi mà chúng ta nhận biết được sự tồn tại của chính sự vật, hiệntượng Có thể nói, sự phát triển chính là một quá trình biện chứng đầy mâu thuẫn;
sự phát triển được coi như là sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập
Theo quan điểm của triết học Mác - Lênin, sự phát triển có những tínhchất sau:
Chính sự tác động của quá trình giải quyết liên tục các mâu thuẫn đã phá
vở sự cân bằng tương đối của sự vật, làm cho sự vật phát triển Quá trình phá vở
sự cân bằng lại làm nảy sinh những mâu thuẫn mới và kết quả của sự giải quyếtmâu thuẫn chính là sự thay đổi của sự vật với những mặt, những yếu tố cản trở,những yếu tố không còn phù hợp với sự vật bị thủ tiêu và biến mất Chỉ nhữngcái phù hợp, tiến bộ, những yếu tố không gây ra sự ngăn cản cho quá trình tiếnlên của sự vật được giữ lại Trong quá trình phát triển của mình, bản thân sự vật
Trang 33sẽ dần hình thành những quy định mới cao hơn về chất, sẽ làm thay đổi các mốiliên hệ, cơ cấu, chức năng, phương thức tồn tại và vận động vốn có theo chiềuhướng ngày càng hoàn thiện hơn Sự phát triển có thể coi là khuynh hướng tấtyếu của sự vật
Chúng ta có thể thấy rằng sự vận động là một mâu thuẫn: Ngay cùng lúc,mỗi sự vật vừa chính là nó vừa không phải là nó Vì vậy, chính sự vận động, sựtác động thông qua các mối liên hệ ràng buộc, phụ thuộc, tác động, chuyển hóalẫn nhau đã làm cho mâu thuẫn xuất hiện thường xuyên và cũng được thườngxuyên giải quyết Mâu thuẫn tồn tại là khách quan, do vậy sự phát triển cũngmang tính khách quan Điều này, đòi hỏi khi xem xét sự phát triển của sự vật,chúng ta phải nhìn thấy được các mâu thuẫn, cũng như sự vận động của các mốiliên hệ trong bản thân sự vật, tránh cách nhìn phiến diện, cô lập như Ăngghen đã
nói về các nhà triết học siêu hình trong tác phẩm “Chống Đuyrinh”:
Chừng nào chúng ta xem xét các sự vật như là đứng im và không cósinh khí, cái nào riêng cho cái ấy, cái này bên cạnh cái kia và hết cáinày đến cái kia, thì chúng ta sẽ không thấy sự mâu thuẫn nào trong sựvật Chúng ta tìm thấy trong đó một số thuộc tính phần thì giốngnhau, phần thì khác nhau, thậm chí mâu thuẫn với nhau nữa Nhưngtrong trường hợp này, các thuộc tính đó lại phân ra trong những sự vậtkhác nhau, như vậy thì trong các thuộc tính đó cũng không chứa mâuthuẫn Trong giới hạn của lĩnh vực này, chúng ta dùng phương pháp
tư duy thông thường, phương pháp siêu hình, cũng có thể giải quyếtđược nhưng tình hình sẽ khác nếu chúng ta xem xét sự vận động trong
sự tự thân, trong sự biến đổi, sự sống, sự tác động lẫn nhau của chúng[1, tr.200 - 201]
Việc giải quyết các mâu thuẫn của sự vật theo phương thức phủ định biệnchứng ở đây không phụ thuộc vào ý thức con người mà nó phụ thuộc vào tính chất,đặc điểm của sự vật, hiện tượng Sự tác động biện chứng đó diễn ra trong hiện thực,
Trang 34tuỳ theo hình thức tồn tại cụ thể của các dạng vật chất Chính vì vậy, mỗi loại sự vật
có phương thức phủ định riêng của nó, do đó mà có sự phát triển
Tóm lại, quan điểm duy vật biện chứng khẳng định nguồn gốc của sự pháttriển nằm trong chính bản thân sự vật; phát triển là quá trình giải quyết liên tụcnhững mâu thuẫn nảy sinh trong tồn tại và vận động của sự vật, do đó, cũng là quátrình tự thân của mọi sự vật Vì vậy, sự phát triển mang tính khách quan
1.2.2 Sự phát triển có tính phổ biến
Thế giới chúng ta đang sống tồn tại rất nhiều các sự vật, hiện tượng và cũngchính vì vậy mà có rất nhiều mối liên hệ đa dạng, phong phú trong chính bản thânmỗi sự vật, hiện tượng và giữa các sự vật, hiện tượng khác với nhau Do đó, khinhận thức về các sự vật, hiện tượng chúng ta phải có quan điểm toàn diện để thấy
rõ tính đa dạng, nhiều chiều của nó, tránh quan điểm phiến diện chỉ xem xét sựvật, hiện tượng trong tương quan của một mối liên hệ nhất định nào đó và vộivàng kết luận về bản chất hay về tính quy luật của chúng
Trong tự nhiên, sự phát triển của giới vô cơ biểu hiện dưới dạng biến đổicác yếu tố và hệ thống vật chất, sự tác động qua lại giữa chúng trong những điềukiện nhất định sẽ làm nảy sinh các hợp chất phức tạp Từ đó làm xuất hiện cácvật chất ban đầu - tiền đề của sự sống Sự phát triển của giới hữu cơ thể hiện khảnăng thích nghi của sự vật với sự biến đổi phức tạp của môi trường, sự hoànthiện thường xuyên giữa quá trình trao đổi chất trong bản thân sự vật và giữa cơthể với môi trường, khả năng tự sản sinh ra chính mình với trình độ ngày càngcao hơn để từ đó xuất hiện ngày càng nhiều giống, loài mới phù hợp với môitrường sống
Trong xã hội, sự phát triển được biểu hiện ở năng lực chinh phục tự nhiên
và cải biến xã hội cũng như bản thân con người Sự vận động và phát triển của
xã hội được đánh dấu bởi sự thay thế về hình thái kinh tế xã hội thấp lên hìnhthái kinh tế xã hội cao hơn: Từ chế độ công xã nguyên thủy lên xã hội chiếm hữu
nô lệ, đến xã hội phong kiến, xã hội tư bản chủ nghĩa và chính nhờ vào nguyên
Trang 35lý về sự phát triển mà các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác đã khẳng định sẽ cómột hình thái kinh tế xã hội cao hơn thay thế cho hình thái kinh tế xã hội tư bản.Các ông gọi đó là hình thái kinh tế xã hội cộng sản chủ nghĩa Đây là hình tháikinh tế xã hội cao nhất trong lịch sử loài người, là xã hội phát triển đồng bộ trêntất cả các mặt kinh tế, xã hội, văn hóa, khoa học kỹ thuật
Sự phát triển trong lĩnh vực xã hội còn thể hiện qua sự thay đổi của cơ cấu
xã hội, như: Giai cấp, nghề nghiệp, sự biến đổi của lực lượng sản xuất (bao gồm
tư liệu sản xuất và người lao động), sự biến đổi của các quan hệ sản xuất (baogồm: Quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất, quan hệ về tổ chức và quản lý lao động
xã hội, quan hệ về phân phối sản phẩm) Nói chung, sự phát triển biểu hiện rõnét nhất ở khả năng chinh phục tự nhiên và cải tạo xã hội để dần tiến đến một xãhội hoàn thiện, phù hợp hơn
Trong tư duy, sự phát triển được thể hiện qua quá trình nhận thức của conngười ngày một hoàn thiện hơn, sâu sắc, đầy đủ, đúng đắn hơn đối với hiện thực
tự nhiên và xã hội Ngay cả các khái niệm, phạm trù phản ảnh thế giới hiện thựccũng nằm trong quá trình vận động và phát triển và trên cơ sở phát triển của tưduy mà các khái niệm, phạm trù mới có thể phản ảnh đúng đắn hiện thực luônvận động và phát triển Đó chính là quá trình tìm hiểu, khám phá, nắm bắt bảnchất sự vật, hiện tượng xung quanh từ hình thức bên ngoài đến nội dung bêntrong, từ chưa biết đến biết, từ biết ít đến biết nhiều để từ đó tác động vào tựnhiên, chinh phục tự nhiên
Sự phát triển của mỗi con người biểu hiện ở khả năng tự hoàn thiện mình
cả về thể chất và tinh thần, sao cho phù hợp với sự vận động và phát triển củamôi trường mà trong đó con người sống và hoạt động Hay nói cách khác, sựphát triển được thể hiện ở việc tăng cường khả năng thích nghi của cơ thể conngười trước sự thay đổi của môi trường, ở khả năng khám phá và chinh phục thếgiới với trình độ khoa học kỹ thuật ngày càng hoàn thiện hơn, cao hơn để phục
vụ cho chính cuộc sống của con người
Trang 36Như vậy, sự phát triển là hiện tượng diễn ra không ngừng trong tất cả cáclĩnh vực tự nhiên, xã hội, tư duy và trong bản thân con người Điều đó chứng tỏrằng sự vận động và phát triển không phải chỉ diễn ra ở một sự vật, hiện tượngđơn lẽ hay ở một quá trình vận động riêng biệt mà nó diễn ra ở tất cả các sự vật,hiện tượng trong không gian rộng và thời gian dài với sự ra đời của sự vật mớithay thế cho sự vật cũ và có khuynh hướng chung là vận động đi lên ở mọi sựvật, hiện tượng Như vậy, chúng ta có thể khẳng định sự phát triển mang tínhphổ biến.
1.2.3 Sự phát triển có tính đa dạng, phong phú
Trong thế giới hiện thực, luôn tồn tại rất đa dạng, phong phú các sự vật,hiện tượng và chúng không đồng nhất với nhau về kết cấu, tổ chức Vì vậy, chúngkhông đồng nhất về lực tác động, chi phối lẫn nhau và ở mỗi sự vật, hiện tượng thì
có các phương thức, con đường giải quyết mâu thuẫn khác nhau, bao gồm cả giới
tự nhiên, xã hội loài người và cả trong tư duy Tính đa dạng trong sự phát triểncòn biểu hiện ở các sự vật luôn sự khác nhau về nhịp độ, về quy mô của bướcnhảy vọt Bước nhảy vọt về chất được diễn ra một cách nhanh chóng, mang tínhđột biến hoặc được thể hiện một cách dần dần, từ từ mang tính tiến hóa
Phát triển là khuynh hướng chung cho mọi sự vật, hiện tượng Song các
sự vật, hiện tượng có quá trình phát triển không giống nhau Sự biến đổi thườngxuyên và tuyệt đối đã trở thành căn nguyên cho tính đa dạng Còn sự ổn địnhtương đối là cơ sở của tính lặp lại của quy luật Sự phát triển mang tính đa dạngphong phú bởi tính lặp lại của thế giới sự vật, mỗi sự vật và hiện tượng cùng mộtlúc vừa tồn tại trong quá trình vận động nói chung, vừa tồn tại trong sự vận độngtạm thời và trong không gian khác nhau, thời gian khác nhau thì sự vật phát triển
sẽ khác nhau
Bên cạnh đó, trong quá trình phát triển các sự vật, hiện tượng còn chịu sựtác động, chi phối của các sự vật, các hiện tượng khác, của rất nhiều yếu tố vàđiều kiện xung quanh Thậm chí có thể làm thay đổi chiều hướng phát triển của
Trang 37sự vật, thậm chí làm cho sự vật thụt lùi Sự tác động đó có thể thúc đẩy hoặc kìmhãm sự phát triển của sự vật
Có thể nói, sự phát triển của các sự vật, hiện tượng mang tính phong phú,
đa dạng bởi chúng phụ thuộc vào nhiều yếu tố Trong đó có yếu tố tồn tại củachính bản thân sự vật trong tự nhiên và còn do sự tác động của yếu tố bên ngoài,quá trình phát triển chính là quá trình giải quyết các mâu thuẫn nảy sinh để lọc
bỏ những yếu tố không còn phù hợp, giữ lại và điều chỉnh những yếu tố phù hợp
để tạo nên bước nhảy vọt về chất
bị biến mất, một chất mới ra đời thay thế cho chất cũ Sự biến đổi về lượng đãtạo ra xu hướng biến đổi về chất và ngược lại là đòi hỏi khách quan, có tính phổbiến, nó là quy luật cơ bản của phép biện chứng
Sự phát triển của sự vật, hiện tượng không diễn ra một cách đơn giản màdiễn ra một cách phức tạp, theo con đường dích dắc, vừa đi lên vừa có bước thụtlùi và mỗi lần lặp lại quá trình đó, mỗi lần có cái mới phủ định cái cũ đều ở mộttrình độ cao hơn trong quá trình cải tiến đó và khuynh hướng chung của sự vậnđộng của sự vật, hiện tượng là để đạt tới sự hoàn thiện hơn, cao hơn, đây là
Trang 38khuynh hướng cơ bản Tính dích dắc của sự phát triển chỉ được nhận thấy khi tađặt sự vật, hiện tượng trong mối quan hệ với hiện thực.
Sự phát triển của sự vật, hiện tượng luôn có tính kế thừa, sự ra đời của một
sự vật, hiện tượng mới không phải là ngẫu nhiên, không phải nó hình thành từ hưkhông, mà trái lại nó được hình thành và phát triển trên sự kế thừa có chọn lọcnhững yếu tố hợp lý trong các mặt, các yếu tố của sự vật cũ Trong đó những mặtnhững yếu tố không hợp lý được phủ định, loại trừ Đó là quá trình vận động đi lên,
là quá trình đan xen giữa tích luỹ dần về lượng với những bước nhảy vọt về chất
Chính nhờ những yếu tố kế thừa mà sự phủ định lần hai xuất hiện với tưcách là tổng hợp tất cả những yếu tố tích cực đã phát triển từ trước, có nội dungphong phú hơn cái khẳng định ban đầu, góp phần quy định khuynh hướng pháttriển của sự vật, hiện tượng Hay nói cách khác, quá trình phát triển là sự thốngnhất giữa cái cũ và cái mới với tính cách là hai mặt đối lập nhau, cái mới ra đời là
một biểu hiện tất yếu, hợp với quy luật của sự vật, hiện tượng, là: “Sự phát triển
dường như diễn lại những giai đoạn đã qua, nhưng dưới một hình thức khác nhau
ở một trình độ cao hơn, sự phát triển không phải theo một đường thẳng tắp màtheo một đường xoáy ốc” [48, tr.65] Chính vì vậy, khi xem xét một sự vật, hiệntượng xã hội nào trong quá trình phát triển, chúng ta luôn tìm thấy trong đó nhữngvết tích của quá khứ, những cơ sở của hiện tại và những mầm mống của tương lai
Như vậy, sự phát triển của sự vật, hiện tượng cái mới bao giờ cũng ra đờitrên nền cái cũ, là sự kế thừa mang tính chọn lọc, loại bỏ những yếu tố khônghợp lý, kế thừa là sự liên hệ, thống nhất giữa cái cũ và cái mới, giữa quá khứ vàhiện tại
1.3 Quan điểm phát triển với vấn đề nâng cao chất lượng tổ chức cơ sở Đảng
1.3.1 Khái niệm chung về tổ chức cơ sở Đảng
TCCS Đảng là khái niệm thành phần của đảng chính trị Vì thế để thốngnhất cách hiểu khái niệm này, cần đặt nó trong tổng thể hiện tượng đảng chínhtrị Đảng chính trị là sản phẩm tất yếu của cuộc đấu tranh giai cấp trong tiến trình
Trang 39phát triển của lịch sử nhân loại Khi xã hội đã phân chia thành giai cấp, có mâuthuẫn về lợi ích giai cấp là có đấu tranh giai cấp Đấu tranh giai cấp phát triểntheo quy luật từ tự phát đến tự giác, từ hình thức thấp đến hình thức cao Đấutranh chính trị là hình thức đấu tranh cao nhất vì nó giải quyết vấn đề quyền lựcchính trị thuộc về giai cấp nào Giai cấp nào giành được quyền lực nhà nước sẽtrở thành giai cấp thống trị về chính trị đối với xã hội Đấu tranh giai cấp pháttriển đến một trình độ nhất định là đấu tranh chính trị thì các đảng chính trị mới
có khả năng ra đời
Đảng chính trị là một phạm trù lịch sử Nó là một tổ chức chính trị bao gồmnhững phần tử tích cực nhất, tiêu biểu nhất của một giai cấp hay các tập đoàn hợpthành giai cấp, nó là công cụ quan trọng nhất để đấu tranh cho quyền lợi của giaicấp mình, là một tổ chức chính trị thể hiện những lợi ích của một giai cấp hay tầnglớp trong xã hội, liên kết nhiều đại biểu tích cực nhất của giai cấp hay tầng lớp ấylãnh đạo họ đạt tới những mục đích và lý tưởng nhất định
Do đặc điểm chính trị của mỗi nước chi phối, nên số lượng và tên gọi cácđảng chính trị cũng như cách thức tổ chức, hoạt động của các đảng chính trị trên thếgiới không hoàn toàn giống nhau Nhưng với tính cách là lực lượng cầm quyền,đảng chính trị nào cũng có trách nhiệm đối với vận mệnh quốc gia, dân tộc
Ở Việt Nam hiện nay, Đảng Cộng sản là lực lượng duy nhất lãnh đạo,thực hiện quyền thống trị và chính trị của giai cấp công nhân để xây dựng nhànước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân và quá độ đi lên chủnghĩa xã hội Giai cấp công nhân, nhân dân lao động và cả dân tộc thông qua độitiên phong của mình là Đảng Cộng sản tiến hành công cuộc xây dựng và pháttriển đất nước theo những phương hướng, mục tiêu đã lựa chọn
Những tư tưởng, quan điểm về vị trí, vai trò của TCCS Đảng của ĐảngCộng sản đã được Mác - Ăngghen nêu lên đầu tiên và được thể hiện trong quá
trình xây dựng, lãnh đạo “Liên đoàn những người cộng sản” - một tổ chức cộng sản đầu tiên được thành lập vào tháng 12/1847 Trong Điều lệ của “Liên đoàn
Trang 40những người cộng sản”, hai ông nói đến các chi bộ của “Liên đoàn” được thành
lập dưới hình thức các hội bí mật trong các hiệp hội công nhân, “Chi bộ gồm ítnhất là ba và nhiều nhất là ba mươi hội viên của liên đoàn” [59, tr.494] Chi bộ lànơi kết nạp hội viên mới, quản lý hội viên, nơi tuyên truyền giác ngộ lý tưởngcộng sản, lãnh đạo công nhân đấu tranh với giai cấp tư sản nhằm lật đổ áchthống trị của chúng, thiết lập nền chuyên chính vô sản
Điều lệ “Liên đoàn những người cộng sản” cũng xác định: “Về cơ cấu,
Liên đoàn gồm những chi bộ, khu bộ, tổng khu bộ, Ban Chấp hành Trung ương
và Đại hội” [52, tr.132] Như vậy TCCS Đảng là một bộ phận cấu thành nênĐảng, sự vững chắc từ nền tảng của Đảng là bảo đảm cho sự vững chắc của toàn
Đảng Tuy chưa dùng thuật ngữ “Tổ chức cơ sở Đảng” nhưng tư tưởng và quan
điểm của Mác và Ăngghen về vị trí, vai trò quan trọng của TCCS Đảng đã được
nêu ra và phát triển trong quá trình xây dựng, lãnh đạo tổ chức “Liên đoàn những người cộng sản”
Lênin đã kế thừa, phát triển những tư tưởng của Mác và Ăngghen trongquá trình đấu tranh chống chủ nghĩa cơ hội trên lĩnh vực tổ chức và tiến hànhxây dựng một Đảng kiểu mới của giai cấp công nhân và ông đã đưa ra khái niệm
“Tổ chức cơ sở Đảng” lần đầu tiên tại Đại hội III, Đảng Công nhân Dân chủ
-Xã hội Nga (25/4/1905) Đại hội xác định mỗi tổ chức Đảng cho tới chi bộ côngnhân cơ sở của Đảng phải được xác định thành phần và nhất định phải ổn định
những mối liên hệ đều đặn với Trung ương Sau đó trong bài “Tiến tới thống nhất”, Lênin chỉ rõ “Những điều kiện khách quan đòi hỏi rằng những chi bộ
công nhân phải làm cơ sở của Đảng” [52, tr.448] Ông còn nói rõ: “Các tổ chức
cơ sở đảng là hạt nhân tổ chức cơ bản của Đảng” [49, tr.77]
Trong bài báo “Bước vào con đường đúng”, Lênin coi các TCCS Đảng là
nền tảng của Đảng trong quần chúng, nơi Đảng liên hệ chặt chẽ với quần chúnglao động, là hạt nhân chính trị của các tập thể lao động, giáo dục, dẫn dắt quầnchúng thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng Người còn đưa ra