1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vấn đề hợp tác quốc tế của việt nam trong thời kỳ đổi mới dưới ánh sáng của chủ nghĩa mác lênin

66 844 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vấn đề hợp tác quốc tế của Việt Nam trong thời kỳ đổi mới dưới ánh sáng của chủ nghĩa mác lênin
Tác giả Nguyễn Văn Phong
Trường học Đại học Quốc Gia Hà Nội
Chuyên ngành Triết học
Thể loại Luận văn tốt nghiệp
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 66
Dung lượng 377 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong bối cảnh Quốc tế diễn biếnnhanh chóng, có nhiều thuận lợi nhưng cũng chứa đựng không ít yếu tố bấttrắc, những năm sắp tới, sự nghiệp cách mạng nước ta chắc chắn sẽ có bướcphát triể

Trang 1

A PHẦN MỞ ĐẦU:

I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:

Loài người đang sống trong những năm đầu của thế kỷ XXI, với baobiến động đổi thay đầy phức tạp Trong kinh tế, xu thế khu vực hoá, quốc tếhoá nền kinh tế thế giới đang trở thành yêu cầu khách quan Sự phát triểnmạnh mẽ của cách mạng khoa học - kỹ thuật - công nghệ đã và đang tácđộng đến mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội Thế giới chuyển từ thời kỳđối đầu sang đối thoại, vừa hợp tác, vừa đấu tranh cùng thi đua tồn tại tronghoà bình và phát triển

Có thể khẳng định rằng, không một quốc gia, dân tộc nào phát triểnđược mà lại tách biệt, biệt lập với thế giới bên ngoài Vì thế hợp tác quốc tếtrở thành xu thế khách quan phục vụ cho sự phát triển kinh tế - xã hội, trong

đó khai thác được nguồn vốn, công nghệ, và tìm được chỗ đứng trong thịtrường quốc tế là cực kỳ quan trọng

Trên thế giới: Sự sụp đổ của chế độ XHCN ở Liên Xô và Đông Âu

khiến CNXH tạm thời lâm vào thoái trào, nhưng điều đó không làm thay đổitính chất của thời đại, loài người vẫn ở trong thời kỳ quá độ từ CNTB lênCNXH

Nguy cơ chiến tranh thế giới bị đẩy lùi, nhưng xung đột vũ trang,chiến tranh cục bộ, xung đột về sắc tộc và tôn giáo, việc sản xuất và buônbán vũ khí, chạy đua vũ trang, các hoạt động can thiệp, bạo loạn, lật đổ,khủng bố vẫn xảy ra ở nhiều nơi

Cách mạng KH-CN mà nội dung cơ bản là cách mạng về công nghệthông tin, sinh học, năng lượng, vật liệu mới tiếp tục phát triển nhanh vớitrình độ ngày càng cao, làm thay đổi nhanh chóng tính chất và trình độ củalực lượng sản xuất, thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế thế giới,Quốc tế hoá nền sản xuất và đời sống xã hội

Các nước đều đứng trước cơ hội để phát triển, nhưng mặt khác do ưuthế thuộc về các nước TBCN phát triển và các công ty xuyên quốc gia - vềvốn, công nghệ, thị trường, kinh nghiệm quản lý - nên các nước đang pháttriển đứng trước những thách thức to lớn

Cuộc cạnh tranh kinh tế thương mại, KH-CN diễn ra gay gắt trênphạm vi toàn thế giới Công đồng Quốc tế đang đứng trước những vấn đềchung có tính toàn cầu: Bảo vệ môi trường, hạn chế bùng nổ dân số, phòngngừa và đẩy lùi bệnh tật hiểm nghèo Không một quốc gia riêng lẻ nào cóthể tự giải quyết, mà cần phải có sự hợp tác đa phương

Trang 2

Từ những đặc điểm nêu trên, trong quan hệ hợp tác Quốc tế đã vàđang nổi lên những xu thế chủ yếu sau:

Hoà bình, ổn định và hợp tác để phát triển ngày càng trở thành đòi hỏibức xúc của đông đảo các dân tộc và các quốc gia Các nước dành ưu tiêncho yêu cầu phát triển kinh tế, coi phát triển kinh tế có ý nghĩa quyết địnhđối với việc tăng cường sức mạnh tổng hợp của quốc gia

Các quốc gia lớn, nhỏ tham gia ngày càng tích cực vào quá trình hợptác và liên kết khu vực, Quốc tế hoá và toàn cầu hoá về kinh tế, thương mại

và nhiều lĩnh vực hoạt động khác Các dân tộc nâng cao ý thức độc lập, tựlực, tự cường, kiên quyết đấu tranh chống lại sự áp đặt can thiệp của nướcngoài, vì hoà bình độc lập và phát triển

Các nước có chế độ chính trị, xã hội khác nhau vừa hợp tác, vừa đấutranh, cùng tồn tại hoà bình, hợp tác ngày càng tăng lên và sâu thêm, nhữngcạnh tranh cũng rất gay gắt và quyết liệt

Sự vận động của các mâu thuẫn cơ bản và tác động của các xu thế chủyếu nêu trên làm nảy sinh tính đa phương hoá, đa dạng hoá trong quan hệhợp tác Quốc tế, từ đó nhiều nước điều chỉnh chiến lược và thể hiện chínhsách đối ngoại của mình

Trong nước: Trước tình hình và đặc điểm của thế giới đầy biến động

và phức tạp như vậy, chúng ta đã tiến hành đổi mới thành công Những kếtquả bước đầu đã khẳng định đường lối đổi mới mà Đảng ta đề ra từ Đại hội

VI - 1986 là đúng đắn Bên cạnh đó, chúng ta cũng đang đứng trước một sốkhó khăn như: tụt hậu về kinh tế so với nhiều nước trong khu vực và trênthế giới, chệch hướng XHCN, nạn tham nhũng và tệ quan liêu; "diễn biếnhoà bình" do các thế lực gây ra Đến nay, những thách thức đó vẫn tồn tại,diễn biến phức tạp, đan xen tác động lẫn nhau, không thể xem nhẹ nguy cơnào

Việt Nam là một nước đang phát triển, đời sống nhân dân còn nhiềukhó khăn Muốn đổi mới thành công, làm cho nước ta cơ bản trở thành mộtnước công nghiệp vào năm 2020, thực hiện mục tiêu: "Dân giàu nước mạnh,

xã hội công bằng, dân chủ, văn minh" chúng ta không thể không mở cửa,giao lưu hợp tác trong quan hệ Quốc tế

Trong bối cảnh quốc tế rất phức tạp hiện nay, xu thế tất yếu kháchquan trong quá trình phát triển là đòi hỏi phải có sự hợp tác, phát huy thếmạnh, khắc phục khó khăn đưa đất nước đổi mới với thời kỳ đẩy mạnh côngnghiệp hoá, hiện đại hoá đi tới thắng lợi

Trang 3

Với tinh thần sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trongcộng đồng Quốc tế, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển Việt Namthực hiện đường lối nhất quán đối ngoại độc lập tự chủ, mở rộng đa phươnghoá, đa dạng hoá các quan hệ Quốc tế Trong bối cảnh Quốc tế diễn biếnnhanh chóng, có nhiều thuận lợi nhưng cũng chứa đựng không ít yếu tố bấttrắc, những năm sắp tới, sự nghiệp cách mạng nước ta chắc chắn sẽ có bướcphát triển sôi động.

Xuất phát từ tình hình kinh tế - xã hội của đất nước trong những nămđầu tiến hành công cuộc đổi mới, cũng như những diễn biến phức tạp củaThế giới nêu trên, do hạn chế về thời gian và tri thức, đề tài nghiên cứu củatôi chỉ giới hạn trong phạm vi: "Vấn đề hợp tác Quốc tế của Việt Nam trongthời kỳ đổi mới dưới ánh sáng của Chủ nghĩa Mác-Lênin"

II LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI:

Quan hệ hợp tác quốc tế đã xuất hiện với tư cách là mối quan hệ xãhội lâu đời và phổ biến Nó vừa là kết quả, vừa là điều kiện cần thiết chomọi quá trình phát triển của xã hội Mối quan hệ đó đang diễn biến với tínhchất và hình thức khác nhau trong những giai đoạn lịch sử khác nhau Xuấtphát từ tình hình thực tiễn của công cuộc đổi mới đất nước, cũng như xuhướng toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới, Việt Nam muốn phát triển khôngthể không có quan hệ trao đổi, giao lưu trên các lĩnh vực: Kinh tế, chính trị,văn hoá với các cộng đồng dân tộc, quốc gia khác Chính cơ sở thực tiễn

đó làm cho vấn đề này trở thành một vấn đề được Đảng và Nhà nước rấtquan tâm, đặc biệt là các nhà khoa học chuyên nghiên cứu vấn đề quan hệhợp tác Quốc tế trong giai đoạn hiện nay

Cho đến nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này vàquan hệ hợp tác Quốc tế giai đoạn hiện nay như:

1 Lịch sử quan hệ Quốc tế từ sau chiến tranh thế giới thứ hai 1945đến năm 1954 của tác giả Phạm Giảng, xuất bản năm 1962

2 Quan hệ Quốc tế, trật tự thế giới thời kỳ chiến tranh lạnh của tậpthể tác giả Khoa Quan hệ quốc tế - Học Viện chính trị Quốc gia Hồ ChíMinh năm 1996 và 1997

3 Lịch sử thế giới hiện đại từ năm 1917 đến 1995 của tập thể tác giảtrường ĐHSP - Đại học Quốc gia Hà Nội năm 1996

4 Hỏi đáp về tình hình thế giới và chính sách đối ngoại của Đảng vàNhà nước ta của Học viện quan hệ Quốc tế năm 1997

Trang 4

5 Quan hệ Quốc tế từ năm 1945 đến 1995 của hai tác giả Hoàng VănHiển - ĐHKH Huế, và Nguyễn Viết Thảo - Học viện chính trị Quốc gia HồChí Minh - Nhà xuất bản chính trị Quốc gia Hà Nội - 1998.

Cùng nhiều bài viết khác trên các tạp chí quan hệ Quốc tế và nghiêncứu Quốc tế

Các công trình nghiên cứu trên vẫn chưa khai thác hết các khía cạnhcủa quan hệ hợp tác ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới và chưa có một hệthống công trình nghiên cứu nào mang tính chuyên biệt về quan hệ hợp tácQuốc tế thời hiện đại

Trên cơ sở kế thừa và phát triển những tài liệu đã có, đồng thời vậndụng những sự kiện qua tìm hiểu vấn đề hợp tác Quốc tế, đề tài khoá luận sẽ

đi phân tích sâu một số nội dung về quan hệ hợp tác Quốc tế ở Việt Namhiện nay và rút ra những kết luận cần thiết về tầm quan trọng của sự hợp tácQuốc tế trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

III MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU:

Mục đích của đề tài là: xây dựng một hệ thống hoàn chỉnh, có cơ sởkhoa học cả về lý luận và thực tiễn với nội dung sát thực, chỉ ra xu hướng,khuynh hướng và quy luật của sự hợp tác Quốc tế ở nước ta hiện nay

Nhiệm vụ của đề tài là: góp phần làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn củaquan hệ hợp tác Quốc tế trong thời kỳ quá độ ở Việt Nam hiện nay, nhất làtrong giai đoạn nước ta đang bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá,hiện đại hoá đất nước; Khái quát nội dung và hình thức của hợp tác Quốc tếtrên lĩnh vực kinh tế, chính trị, khoa học kỹ thuật của Việt Nam

IV CƠ SƠ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:

Cơ sở lý luận của đề tài là: chủ nghĩa Mác-Lênin và những quan điểmcủa Đảng CSVN về quan hệ hợp tác Quốc tế trong thời kỳ quá độ lênCNXH và trong giai đoạn cách mạng hiện nay

Phương pháp nghiên cứu của đề tài là: phương pháp biện chứng duyvật và kết hợp với một số phương pháp chủ yếu khác như: Phân tích, tổnghợp, khái quát

V ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI:

Đề tài góp phần khẳng định tính đúng đắn của chủ nghĩa Mác-Lênin

về hợp tác Quốc tế và những quan điểm của Đảng ta về hợp tác Quốc tếtrong thời kỳ đổi mới trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị và khoa học kỹthuật ở Việt Nam Đề tài cũng bước đầu đi sâu xem xét, nghiên cứu và đánhgiá thực trạng của sự hợp tác Quốc tế ở Việt Nam hiện nay một cách có hệthống

Trang 5

Đề tài còn là một trong những tài liệu tham khảo cho sinh viên vànhững người muốn tìm hiểu, nghiên cứu vấn đề này.

VI KẾT CẤU CỦA ĐỀ TÀI:

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, đề tàigồm hai chương:

Chương 1: Khái luận chung về quan hệ hợp tác Quốc tế

Chương 2: Nội dung cơ bản của quan hệ hợp tác Quốc tế ở Việt Namtrong thời kỳ đổi mới

Trang 6

B PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: KHÁI LUẬN VỀ QUAN HỆ HỢP TÁC QUỐC TẾ

1.1 NHỮNG QUAN ĐIỂM CƠ BẢN VỀ HỢP TÁC QUỐC TẾ

1.1.1 Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin

Lịch sử từ xa xưa đến nay, không một cộng đồng người, một dân tộchay một quốc gia nào phát triển mà không quan hệ trao đổi, giao lưu trêncác lĩnh vực Kinh tế, chính trị, văn hoá, tư tưởng với các cộng đồng dântộc, quốc gia khác Quan hệ hợp tác quốc tế chiếm vị trí quan trọng trongđời sống chính trị của tất cả các quốc gia dân tộc Sự biến đổi và phát triểncủa các chế độ chính trị, kinh tế - xã hội liên quan chặt chẽ với quá trìnhtrao đổi, buôn bán, hợp tác, đấu tranh, cũng như phát triển quan hệ ngoạigiao với các nước, với các chính phủ, phi chính phủ, liên minh quốc giatrong vùng lãnh thổ, trong khu vực và trên thế giới

Chủ nghĩa Mác - Lênin đã đưa ra những quan điểm đúng đắn về quan

hệ hợp tác quốc tế, đây là vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn quan trọng,trong công cuộc đổi mới của chúng ta hôm nay Trong thời đại ngày nay,các mối quan hệ đó một mặt, ngày càng phát triển sâu rộng, chặt chẽ, ràngbuộc và phụ thuộc lẫn nhau; mặt khác, chứa đầy mâu thuẫn, phức tạp vànhững biến đổi không ngừng Thế kỷ XXI sẽ đánh dấu sự phát triển vượtbậc của khoa học và công nghệ, của toàn cầu hoá, và các vấn đề kinh tế, vănhoá Các quốc gia vừa hợp tác vừa đấu tranh với nhau để tồn tại và pháttriển

Mác và Ăng ghen, những người sáng lập ra chủ nghĩa xã hội khoahọc trên cơ sở của hai phát minh vĩ đại: quan niệm duy vật biện chứng vềlịch sử và quy luật giá trị thặng dư Từ đây chủ nghĩa Mác đã đặt cơ sở khoahọc để nghiên cứu một cách đúng đắn về xã hội loài người Trong đó baogồm việc nghiên cứu những vấn đề quan hệ hợp tác quốc tế phải dựa trên cơ

sở lý luận của chủ nghĩa Mác là phương pháp luận biện chứng duy vật khoahọc Những quan điểm cơ bản về vấn đề quan hệ hợp tác quốc tế của Mác

và Ăng ghen đã giúp ta nhận thức đúng đắn và sâu sắc những vấn đề quốc tếtrong lịch sử cũng như trong thời đại ngày nay Có thể nêu lên một số quanđiểm cơ bản về quan hệ hợp tác quốc tế của Mác và Ăng ghen như sau:

Vấn đề thời đại:

Kế thừa tư tưởng của những người đi trước như: Phuriê, Mooc-Găng

về vấn đề thời đại và đứng trên cơ sở quan điểm duy vật biện chứng về lịch

Trang 7

sử và học thuyết giá trị thặng dư, Mác và Ăng ghen đã nêu lên quan điểm vềthời đại Ăng ghen viết: “ Trong mỗi thời đại lịch sử, phương thức chủ yếucủa sản xuất kinh tế và trao đổi, cùng với cơ cấu xã hội do phương thức đóquyết định, đã cấu thành cơ sở cho lịch sử chính trị của thời đại và lịch sửcủa sự phát triển trí tuệ của thời đại, cái cơ sở mà chỉ có xuất phát từ đó mớicắt nghĩa được lịch sử đó ”[4; 523].

Như vậy, hình thái kinh tế - xã hội là nội dung cấu thành thời đại.Còn bản thân thời đại là thời kỳ lịch sử hình thành, phát triển và ngự trị củamột hình thái kinh tế - xã hội nhất định

Mác và Ăng ghen chỉ dự báo nội dung cơ bản của thời đại mới là:

“Giữa xã hội tư bản chủ nghĩa và xã hội cộng sản chủ nghĩa là một thời kỳcải biến cách mạng từ xã hội nọ sang xã hội kia Thích ứng với thời kỳ ấy làmột thời kỳ quá độ về chính trị và Nhà nước của thời kỳ ấy không thể là cái

gì khác hơn là nền chuyên chính cách mạng của giai cấp vô sản”[3; 47] Tưtưởng trên đây vẫn còn nguyên ý nghĩa để khẳng định con đường đi lên củacác cuộc cách mạng chân chính hiện nay

Vấn đề toàn cầu hoá:

Ngày nay, toàn cầu hoá là một xu thế lớn trong lịch sử nhân loại Chiphối sự vận động của toàn thế giới Cách đây hơn 150 năm Trong “Tuyênngôn của Đảng Cộng Sản”, Mác và Ăng ghen đã nói đến quốc tế hoá vàtoàn cầu hoá: “Đại Công nghiệp đã tạo ra thị trường thế giới Do bóp nặnthị trường thế giới, giai cấp tư sản đã làm cho sản xuất và tiêu dùng của tất

cả các nước mang tính chất thế giới Thay cho tình trạng cô lập trước kiacủa các địa phương và dân tộc vẫn tự cung tự cấp, ta thấy phát triển nhữngquan hệ phổ biến, sự phụ thuộc phổ biến giữa các dân tộc”; rằng “nhờ cảitiến mau chóng công cụ sản xuất và làm cho các phương tiện giao thông trởnên vô cùng tiện lợi, giai cấp tư sản lôi cuốn đến cả những dân tộc dã mannhất vào trào lưu văn minh” [2; 598, 602, 603]

Mác và Ăng ghen chỉ ra toàn cầu hoá là một xu thế khách quan Xuthế đó gắn liền với quá trình phát triển của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa vàdẫn đến sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia, dân tộc, các khu vực trênthế giới Trong các tác phẩm của mình, Mác và Ăng ghen chưa sử dụngthuật ngữ toàn cầu hoá kinh tế, nhưng hai ông đã phân tích một cách sâu sắcquá trình quốc tế hoá sản phẩm tư bản chủ nghĩa và xu hướng phát triển củanó

Trang 8

Tư tưởng của Mác và Ăng ghen đã chỉ rõ những điều rất cơ bản mang

tính phương pháp luận về quá trình quốc tế hoá sản xuất Thứ nhất, quá

trình quốc tế hoá kinh tế đã có từ rất sớm Những phát kiến về địa lý, giaothông vận tải đã mở ra cơ hội cho quá trình quốc tế hoá kinh tế Lịch sửquốc tế hoá kinh tế bắt đầu từ sau khi tìm ra châu Mỹ, nhưng tiến trình nàychỉ thực sự tăng tốc sau khi cách mạng công nghiệp ở Anh và các nước tư

bản chủ nghĩa chủ yếu khác thành công Thứ hai, quá trình quốc tế hoá kinh

tế mang tính tất yếu khách quan, do đòi hỏi của bản thân nền sản xuất, đặcbiệt là do sự phát triển của lực lượng sản xuất sự phát triển của sức sản xuấtvừa đòi hỏi lại vừa tạo điều kiện cho sự phát triển kinh tế mang tính quốc tế

Thứ ba, quá trình quốc tế hoá kinh tế dù mang trong nó yếu tố khách quan,

nhưng bên trong nó thúc đẩy và luôn là ý áp đặt chủ quan của những nướcnắm các lực lượng kinh tế hùng hậu nhất

Toàn cầu hoá kinh tế là xu hướng có tính tất yếu, và tính tất yếu đó lại

có nguyên do từ quá trình quốc tế hoá, có sự bắt đầu bằng quốc tế hoá kinh

tế Bản chất khách quan của toàn cầu hoá kinh tế được quy định bởi tính tấtyếu khách quan của quá trình quốc tế hoá kinh tế Ngay trong thực tiễn, trênmột số mặt chủ yếu của nền kinh tế thế giới, quốc tế hoá là cơ sở, tiền đềcho toàn cầu hoá kinh tế

Ôn lại những chỉ dẫn của Mác và Ăng ghen, chúng ta càng nhận thứcvấn đề này một cách sâu sắc hơn Hiện nay, xu thế hoà bình, hợp tác để pháttriển trở thành xu thế chủ đạo của quan hệ quốc tế Có nhiều yếu tố tác độngđến toàn cầu là: cuộc cách mạng khoa học và công nghệ từ cuối thập kỷ 70của thế kỷ XX trở lại đây, đặc biệt là cách mạng thông tin; Sự quốc tế hoáhoạt động sản xuất kinh doanh, trong đó đặc biệt là vai trò của các công tyxuyên quốc gia; Chính sách tự do hoá của các nước, trong đó đặc biệt là vaitrò đầu tầu của các nước bá quyền và các nước tư bản chủ nghĩa phát triểnphương Tây

Vai trò của quần chúng nhân dân trong lịch sử

Chủ nghĩa Mác khẳng định quá trình phát triển của xã hội loài người

là quá trình lịch sử tự nhiên, đồng thời cũng khẳng định không phải những

cá nhân kiệt xuất, những anh hùng mà chính quần chúng nhân dân là ngườilàm nên lịch sử Vai trò của quần chúng nhân dân trong lịch sử ngày mộttăng lên

Trang 9

Phê phán quan điểm duy tâm của anh em Bơrunô, Bauơ coi thườngvai trò của quần chúng nhân dân, Mác và Ăng ghen chỉ ra: “Hoạt động lịch

sử ngày càng lớn lao thì do đó, quần chúng mà hoạt động lịch sử đó là sựnghiệp của mình, cũng sẽ lớn lên theo”[1; 123]

Khi tổng kết kinh nghiệm của các cuộc cách mạng tư sản ở châu Âu,Bắc Mỹ và nhất là phong trào cách mạng Tây Âu những năm 40-50 của thế

kỷ XIX, Mác và Ăng ghen lại một lần nữa khẳng định quần chúng nhân dân

là người làm nên lịch sử, chính họ đóng vai trò quyết định đối với tiến trìnhcủa lịch sử thế giới

Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân

Mác và Ăng ghen chứng minh rằng, trong xã hội tư bản đã hình thànhmột nền sản xuất đại công nghiệp, đảm bảo cho lực lượng sản xuất và xã hộiphát triển, khiến cho xã hội loài người có thể chuyển lên một xã hội caohơn, đó là xã hội cộng sản văn minh Đồng thời, một lực lượng xã hội đãhình thành và phát triển, đó là giai cấp công nhân Giai cấp này có sứ mệnhlịch sử là xoá bỏ chế độ tư bản chủ nghĩa, xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa

và cộng sản chủ nghĩa trên phạm vi toàn cầu Trong “Tuyên ngôn của Đảngcộng sản”, hai ông viết: “Cùng với sự phát triển của đại công nghiệp chínhcái nền tảng trên đó giai cấp tư sản đã sản xuất và chiếm hữu sản phẩm của

nó, đã bị phá sập dưới chân giai cấp tư sản Trước hết, giai cấp tư sản sảnsinh ra những người đào huyệt chôn chính nó Sự sụp đổ của giai cấp tư sản

và thắng lợi của giai cấp vô sản đều là tất yếu như nhau”[2; 613]

Về chủ nghĩa quốc tế vô sản

Trong hoàn cảnh lịch sử của thời đại mà Mác và Ăng ghen sống, giaicấp vô sản chưa giành được chính quyền, vì vậy hai ông luôn nhấn mạnhđến đại đoàn kết trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế Mác vàĂng ghen đã kêu gọi giai cấp công nhân toàn thế giới: “Mặc cho các giaicấp thống trị run sợ trước một cuộc cách mạng cộng sản chủ nghĩa! Trongcuộc cách mạng ấy, những người vô sản chẳng mất gì hết, ngoài nhữngxiềng xích trói buộc họ Họ sẽ giành được cả thế giới Vô sản các nước đoànkết lại”[2; 646]

Trong tác phẩm: ”Phê phán cương lĩnh Gôtha”, cũng như trong

“Cương lĩnh Gôtha”, Mác đã phê phán Đảng Công nhân Đức chỉ nói đến sựhoạt động riêng biệt của giai cấp vô sản trong phạm vi dân tộc, mà khôngnêu lên mối quan hệ đoàn kết, tương trợ giữa giai cấp công nhân các nước

Trang 10

với nhau: không hề nói đến những nhiệm vụ quốc tế của giai cấp công nhânĐức.

Cống hiến của V.I Lênin về lý luận quan hệ hợp tác quốc tế:

Lênin đã phát triển chủ nghĩa Mác lên một giai đoạn mới, đặc biệttrong lý luận về quan hệ quốc tế Lênin có nhiều cống hiến to lớn vào khotàng lý luận của chủ nghĩa Mác Người nêu ra những quy luật quan hệ quốc

tế ở những thời kỳ lịch sử khác nhau và những nguyên lý cơ bản về lý luậnquan hệ quốc tế để hình thành chiến lược sách lược đối ngoại của Đảngcông nhân và Nhà nước xã hội chủ nghĩa Tư tưởng của Lênin về quan hệhợp tác quốc tế được thể hiện rõ ở hai giai đoạn: Trước Cách mạng thángMười và sau Cách mạng tháng Mười Nga 1917

Trước Cách mạng tháng Mười, Lênin đã nghiên cứu nguyên nhân của

cuộc chiến tranh và tính chất của chiến tranh giữa các đế quốc Người vạch

ra tính chất cướp đoạt trong chính sách đối ngoại của các nước đế quốc, vànhấn mạnh vai trò quan trọng của sự đoàn kết giữa giai cấp công nhân vàcác lực lượng tiến bộ trong đấu tranh chống đế quốc Đồng thời Người cũngchỉ ra chính sách đối ngoại của Nhà nước vô sản mới thành lập, phải đối lậpvới chính sách ngoại giao có tính chất cướp đoạt của giai cấp tư sản

Chính sách đó phải thúc đẩy sự nghiệp giải phóng các nước thuộc địa

và quyền tự quyết của các dân tộc, phải liên minh với các lực lượng cáchmạng và các dân tộc bị áp bức, phải bảo vệ hoà bình trên cơ sở tôn trọngchủ quyền của nhân dân các nước Ba vấn đề chủ yếu trên lĩnh vực quan hệhợp tác quốc tế mà Lênin đã phát triển lên từ chủ nghĩa Mác trong giai đoạnlịch sử này là:

Chủ nghĩa xã hội có thể thắng lợi trong một nước:

Trong điều kiện lịch sử những năm 40 của thế kỷ XIX, khi chủ nghĩa

tư bản đang còn ở giai đoạn tự do cạnh tranh, mâu thuẫn giữa các nước tưbản chưa phát triển đến mức gay gắt, Mác và Ăng ghen đã nêu lên luậnđiểm về cuộc cách mạng vô sản như sau: “Chủ nghĩa cộng sản chỉ có thể cóđược một cách kinh nghiệm như là hành động “tức khắc” và đồng thời củanhững dân tộc chiếm địa vị thống trị, điều này lại giả định là phải có sự pháttriển phổ biến của lực lượng sản xuất và của sự giao tiếp có tính thế giới gắnliền với chủ nghĩa cộng sản”[5; 50]

Đến giai đoạn lịch sử mới, chủ nghĩa tư bản chuyển thành chủ nghĩa

đế quốc, Lênin khẳng định chủ nghĩa đế quốc là giai đoạn tột cùng của chủ

Trang 11

nghĩa tư bản, là “đêm trước của cuộc cách mạng vô sản” và Người kết luận:

“Sự phát triển không đồng đều về kinh tế và chính trị là quy luật tuyệt đốicủa chủ nghĩa tư bản Do đó, chúng ta thấy rằng, chủ nghĩa xã hội có thểthắng trước hết là trong một số ít nước tư bản chủ nghĩa hoặc thậm chí trongmột nước tư bản chủ nghĩa, tách riêng ra mà thôi”[6; 447)

Biến chiến tranh đế quốc thành nội chiến cách mạng:

Lênin đã phân tích tình hình thế giới khi nổ ra cuộc chiến tranh thếgiới lần thứ nhất (1914-1918) và chỉ rõ đây là cuộc chiến tranh giữa cácnước đế quốc nhằm tranh giành quyền lợi Từ đó, Lênin phê phán các đảngcủa Quốc tế II đã đứng về phía chính phủ của các nước đế quốc hô hào quầnchúng công nông bảo vệ Tổ quốc Nhưng thực chất các đảng đó đã trở thànhnhững đảng xã hội Sô vanh bảo vệ cho lợi ích của giai cấp tư sản Lênin chỉ

ra điều ít tai hại nhất đối với nhân dân trong các cuộc chiến tranh đế quốclúc đó là sự thất bại của chính phủ Nga hoàng, vì nhờ đó mà nhân dân dễdàng đánh đổ chế độ Nga hoàng, giai cấp công nhân và nông dân được giảiphóng, thoát khỏi cuộc chiến tranh đế quốc

Lênin cũng chỉ ra rằng, không phải chỉ những người cách mạng Nga

mà cả các đảng của giai cấp vô sản ở tất cả các nước tham chiến cũng phảithực hành chính sách làm cho chính phủ đế quốc ở nước mình thất bại Ởđây, Lênin đã thể hiện rất rõ lập trường và thái độ cách mạng của giai cấp

vô sản đối với chiến tranh của chủ nghĩa đế quốc

Kết hợp phong trào giải phóng dân tộc với cách mạng vô sản:

Trong thời đại đế quốc chủ nghĩa, Lênin đã nhận ra vai trò cách mạngcủa phong trào giải phóng dân tộc Phong trào này kết hợp với phong tràocách mạng vô sản, sẽ biến các nước phụ thuộc và các thuộc địa từ chỗ là lựclượng hậu bị của giai cấp tư sản đế quốc trở thành lực lượng hậu bị và đồngminh của giai cấp vô sản cách mạng

Lênin đã chỉ rõ: phong trào giải phóng dân tộc cần kết hợp với phongtrào cách mạng của giai cấp vô sản để lật đổ kẻ thù chung là chủ nghĩa đếquốc Từ đó, Người nêu lên một cách cụ thể nhiệm vụ giáo dục chủ nghĩaquốc tế vô sản cho giai cấp công nhân như sau: “Trọng tâm của việc giáodục chủ nghĩa quốc tế cho công nhân trong các nước bị áp bức, tất nhiênphải là ở chỗ họ tuyên truyền và bênh vực quyền tự do phân lập của cácnước bị áp bức Nếu không thì không có chủ nghĩa quốc tế” và “trái lại,người dân chủ xã hội thuộc một dân tộc nhỏ phải có bổn phận chuyển trọng

Trang 12

tâm công tác cổ động của mình vào chữ thứ nhất trong công thức chung củachúng ta là: “liên hợp tự nguyện giữa các dân tộc” Bổ sung vào khẩu hiệu

“Vô sản toàn thế giới đoàn kết lại” của Mác và Ăng ghen Lênin đã nêu lênkhẩu hiệu: “Vô sản toàn thế giới và các dân tộc bị áp bức đoàn kết lại”[7;56-57]

Sau cách mạng tháng Mười Nga, Lênin tiếp tục phát triển và làm

phong phú thêm những quan điểm của chủ nghĩa Mác về quan hệ hợp tácquốc tế trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm của Nhà nước Xô viết Các quanđiểm đó tập trung vào các vấn đề sau:

Một là, mối quan hệ chặt chẽ giữa chính sách đối nội và chính sách

đối ngoại Lênin chỉ ra rằng, nếu đem chính sách đối ngoại tách khỏi chínhsách nói chung, thậm chí đem đối lập chính sách đối ngoại với chính sáchđối nội, thì đó là một sự sai lầm nghiêm trọng, bởi vì không chỉ chính sáchđối nội ảnh hưởng đến chính sách đối ngoại, mà chính sách đối ngoại cũng

có tác động trở lại với chính sách đối nội “Không có tư tưởng nào sai lầmhơn và có hại hơn là tư tưởng tách rời chính sách đối ngoại khỏi chính sáchđối nội”[8; 442]

Hai là, phải biết kết hợp tính kiên định, tính nguyên tắc với tính linh

hoạt trong chính sách đối ngoại của nhà nước vô sản Lênin đã nêu lên quanđiểm phải biết cách thoả hiệp vì lợi ích của Nhà nước Xô Viết và lực lượngcách mạng trên thế giới Người cho rằng, “Hoà ước Brétlitốp” là sự thoảhiệp như vậy Nhưng trong lĩnh vực tư tưởng thì Lênin lại cho rằng khôngthể có sự thoả hiệp nào Ví dụ như trước ngày Bộ Dân uỷ Ngoại giao tiếnhành đàm phán với Mỹ, phía Mỹ đã nêu ra yêu cầu: nếu nước Nga Xô Viếtthay đổi Hiến pháp, để cho đại biểu của thành phần bóc lột tham gia Xô Viếtthì Mỹ sẽ viện trợ kinh tế cho nước này Bộ Dân uỷ Ngoại giao tỏ ý tiếp thu

đề nghị đó, nhưng Lênin đã kiên quyết phản đối

Ba là, chỉ có dựa vào những quy luật khách quan của sự phát triển xã

hội do chủ nghĩa Mác vạch ra mới có thể giải thích về quan hệ hợp tác quốc

tế một cách khoa học, dự báo được những xu thế phát triển của quan hệquốc tế Lênin đặc biệt nhấn mạnh yêu cầu của chính sách nói chung vàchính sách đối ngoại là phải đặc biệt quan tâm đến những nhiệm vụ chủ yếu

mà lịch sử đặt ra, quan tâm đến tương quan lực lượng giai cấp và nguyệnvọng của dân chúng trong nước cũng như trên phạm vi quốc tế

Trang 13

Bốn là, cần đề ra nguyên tắc chủ nghĩa quốc tế của giai cấp vô sản

trong chính sách đối ngoại của Nhà nước xã hội chủ nghĩa Chủ nghĩa quốc

tế vô sản đã được Mác và Ăng ghen nêu ra trong “Tuyên ngôn của ĐảngCộng Sản” Đến Lênin, nó lại được tiếp tục phát triển Lênin đã phân tíchcho thấy tư bản là một lực lượng quốc tế, để chiến thắng chủ nghĩa tư bảncần phải có sự liên minh và đoàn kết quốc tế của giai cấp công nhân

Trước cách mạng tháng Mười, chủ nghĩa quốc tế của giai cấp côngnhân thể hiện ở những nguyên tắc quan hệ giữa các đội tiên phong của giaicấp công nhân Sau cách mạng tháng Mười thành công thì nguyên tắc đoànkết quốc tế của giai cấp công nhân đã trở thành cơ sở cho chính sách đốingoại của Nhà nước Xô Viết

Năm là, đảm bảo nguyên tắc chung sống hoà bình giữa các nước có

chế độ xã hội khác nhau Vào khoảng năm 1915-1916, Lênin đưa ra kết luậntrong thời đại chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa xã hội có thể thắng lợi ở mộtnước hay một vài nước, chủ nghĩa xã hội thay thế chủ nghĩa tư bản sẽ diễn

ra trong một quá trình lâu dài và đó là cả một thời kỳ lịch sử Do đó, mà cóvấn đề quan hệ giữa các nước có chế độ khác nhau

Lênin nhấn mạnh rằng, có một lực lượng to lớn hơn nguyện vọng, ýchí và nghị quyết của bất cứ chính phủ hay giai cấp nào, đó là sức mạnh củaquan hệ kinh tế chung trên toàn thế giới Quan hệ đó đã thúc đẩy các chínhphủ đối địch, các giai cấp đối địch đi vào con đường làm ăn với chúng ta

Tư tưởng này của Lênin được thể hiện trong Hiến pháp đầu tiên củaNhà nước Xô Viết Pháp lệnh hoà bình Tháng 6 năm 1920, Uỷ viên Bộ Dân

uỷ Ngoại giao Xô Viết đã tuyên bố: “Khẩu hiệu của chúng ta: Trước đây vàbây giờ là chung sống hoà bình với các chính phủ khác, phải xây dựng mốiquan hệ lâu dài giữa chính phủ công nông với chính phủ của giai cấp tưsản” Đây là văn kiện chính thức đầu tiên của Nhà nước Xô Viết sử dụngthuật ngữ: “Chung sống hoà bình”

Lúc đó Nhà nước Xô Viết đang ở trong vòng vây của chủ nghĩa tưbản, nhưng việc nêu ra nguyên tắc chung sống hoà bình không phải là suynghĩ về sự tồn tại của bản thân Nhà nước Xô Viết mà là dựa trên sự nhậnthức quy luật khách quan, quá trình phát triển của xã hội loài người

Lênin cho rằng, chung sống hoà bình là một hình thức đặc biệt củađấu tranh giai cấp, là hình thức tất yếu của sự phát triển quan hệ quốc tế, saukhi xuất hiện hai chính sách căn bản khác nhau

Trang 14

Các nước xã hội chủ nghĩa tiếp thu một cách có phê phán nhữngnguyên tắc quan hệ quốc tế của giai cấp tư sản đã nêu ra trong quá trình đấutranh chống chế độ phong kiến như: bình đẳng, tôn trọng chủ quyền và toànvẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau Lần đầu tiênnhững nguyên tắc đó, trở thành cơ sở thực tế cho mối quan hệ qua lại giữacác quốc gia có chính sách xã hội khác nhau Các nước phải thông qua đàmphán để giải quyết các tranh chấp quốc tế, không sử dụng vũ lực hoặc đedoạ dùng vũ lực, tôn trọng quyền lựa chọn chế độ chính trị - xã hội của nhândân các nước.

Quan điểm của các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin về một

số vấn đề cơ bản trong quan hệ hợp tác quốc tế, có giá trị to lớn đối với tất

cả các nước trong thời đại ngày nay Muốn phát triển không thể không hợptác, giao lưu Những quan điểm cơ bản đó, nó có ý nghĩa to lớn đối với côngcuộc đổi mới của chúng ta hiện nay Nhận thức đúng vấn đề giúp cho Đảng

và Nhà nước ta đề ra đường lối đối ngoại đúng đắn theo hướng: “độc lập, tựchủ, rộng mở, đa phương hoá và đa dạng hoá các quan hệ đối ngoại; với tinhthần Việt Nam muốn là bạn của tất cả các nước trong cộng đồng thế giới,phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển, góp phần đảm bảo hoà bình, ổnđịnh, an ninh trong khu vực cũng như trên thế giới”[20; 5]

1.1.2 Quan điểm của Đảng ta về hợp tác quốc tế.

Trên cơ sở những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin vềquan hệ hợp tác quốc tế, cũng như những đòi hỏi khách quan của công cuộcđổi mới Đảng ta đã vận dụng những quan điểm đó một cách linh hoạt vàsáng tạo vào điều kiện cụ thể của Việt Nam Ngay từ đại hội Đảng lần thứ

VI (12 - 1986) Đảng ta đã đề ra đường lối đổi mới đúng đắn, trong đó đềcao vai trò của đường lối đối ngoại Mở rộng sự hợp tác vì hoà bình và pháttriển theo hướng đa phương hoá và đa dạng hoá các quan hệ hợp tác.Nguyên Tổng bí thư Đỗ Mười đã từng phát biểu “Chúng ta hãy tự cứu mìnhtrước khi trời cứu”

Trước những diễn biến nhanh chóng và phức tạp của tình hình thếgiới hiện nay, Đảng ta nhận thức rằng (cùng tồn tại hoà bình giữa các nước

có chế độ chính trị - xã hội khác nhau đã được đề cập từ lâu, song được tậptrung đặc biệt rõ nét trong các văn kiện Đại Hội VII - 1991 của đảng): ”ViệtNam muốn là bạn, muốn sống hoà bình, hữu nghị với tất cả các nước”

Cùng tồn tại hoà bình là một hiện tượng có tính lịch sử được Lêninxác định như những nguyên tắc tất yếu bắt nguồn từ sự phát triển không đềucủa chủ nghĩa tư bản và trong thời kỳ quá độ lên CNXH Cùng tồn tại hoà

Trang 15

bình không có gì chung với hoà bình giai cấp, thoả hiệp về tư tưởng, mà làmột trạng thái đặc thù của đấu tranh giai cấp giữa chủ nghĩa xã hội và chủnghĩa tư bản.

Kế thừa những bài học trong lịch sử dân tộc, trong hai cuộc khángchiến chống Pháp, chống Mỹ, nhất là trong giai đoạn cách mạng hiện nay -giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước theo định hướng

xã hội chủ nghĩa, kiên định chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh

về hợp tác quốc tê, trên cơ sở đòi hỏi khách quan của thực tiễn phát triển,Đảng ta đã khẳng định mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế là một tất yếukhách quan trong quá trình phát triển của đất nước ta hiện nay

Đảng ta không bao giờ chủ trương theo đuổi đường lối biệt lập màluôn luôn coi việc kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh của thời đại làmột trong những nguyên tắc cơ bản trong đường lối quốc tế của mình Qua

15 năm tiến hành công cuộc đổi mới do Đảng Cộng Sản Việt Nam khởixứng và lãnh đạo, nhân dân Việt Nam vô cùng phấn khởi và tự hào vềnhững thành tựu to lớn đã đạt được trên mọi lĩnh vực, trong đó có thắng lợicủa đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hoá, đa dạng hoá, chủđộng hội nhập với nền kinh tế khu vực và thế giới

Quán triệt sâu sắc phương châm “kết hợp sức mạnh dân tộc với sứcmạnh thời đại“ tạo thành sức mạnh tổng hợp để phát triển, chúng ta đã triểnkhai đồng bộ trên tất cả mọi lĩnh vực: kinh tế, chính trị, văn hoá, khoa học

kỹ thuật và công nghệ trong đó, thành tựu nổi bật của ngoại giao ViệtNam thời kỳ đổi mới là: góp phần tạo dựng và củng cố môi trường hoà bình,

ổn định cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, mở rộng hợp tác quốc

tế, tranh thủ những điều kiện quốc tế thuận lợi, góp phần thiết thực vào côngcuộc phát triển đất nước

Xác định rõ nhiệm vụ trung tâm của thời kỳ đổi mới, hoạt động đốingoại những năm qua đã đặt yêu cầu phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế -

xã hội lên hàng đầu Ngay từ đại hội VI của Đảng họp tháng 12-1986, đãchính thức khởi xứng công cuộc đổi mới, nhằm đưa nước ta thoát khỏi tìnhtrạng khủng hoảng kinh tế - xã hội Song việc triển khai nghị quyết của Đạihội lại diễn ra trong bối cảnh Liên Xô và Đông Âu xấu đi nhanh chóng và từđầu những năm 90 của thế kỷ XX thì chế độ xã hội chủ nghĩa đã bị sụp đổtại các nước này

Trang 16

Để phục vụ cho việc thực hiện đường lối đổi mới, Đại hội và các Hộinghị Trung ương tiếp theo, nhất là các nghị quyết 13 tháng 5/1988 của Bộchính trị, Nghị quyết của Hội nghị Trung ương 8A tháng 3/1990, đã phântích sâu sắc tình hình thế giới, đề ra các giải pháp và chủ trương ứng phó vớinhững tác động tiêu cực của tình hình, với nội dung chủ yếu là đẩy lùi chínhsách bao vây về kinh tế, cô lập về chính trị đối với nước ta, mở rộng quan hệquốc tế

Cũng theo tinh thần đó, năm 1987 nước ta đã thông qua luật đầu tưvới nước ngoài với những quy định khá thông thoáng

Đại hội đại biểu của Đảng lần thứ VII họp vào tháng 6/1991, mở rabước đột phá mới: thông qua Cương lĩnh của Đảng, Chiến lược ổn định vàphát triển kinh tế - xã hội 10 năm, đồng thời đưa ra đường lối đối ngoại rộng

mở với khẩu hiệu: “với chính sách đối ngoại rộng mở, chúng ta tuyên bốrằng: Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới,phấn đấu vì hoà bình độc lập và phát triển”[13 tr 147]

Cụ thể hoá đường lối nêu ra tại Đại hội VII, Hội nghị Trung ương lần

3 (khoá VII) đã đưa ra Nghị quyết về chính sách đối ngoại và kinh tế đốingoại, trong đó nêu ra tư tưởng chủ đạo là: giữ vững nguyên tắc độc lập,thống nhất và chủ nghĩa xã hội Đồng thời phải rất sáng tạo, năng động, linhhoạt, phù hợp với vị trí, điều kiện và hoàn cảnh cụ thể của nước ta cũng nhưdiễn biến của tình hình khu vực và thế giới, phù hợp với từng đối tượngnước ta có quan hệ Đồng thời Nghị quyết cũng nêu ra bốn phương châm:Đảm bảo lợi ích dân tộc, trong đó kết hợp nhuần nhuyễn chủ nghĩa yêunước với chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân; giữ vững độc lập tự chủ,

tự lực tự cường, đẩy mạnh đa dạng hoá, đa phương hoá quan hệ đối ngoại;nắm vững hai mặt hợp tác và đấu tranh trong quan hệ quốc tế; ưu tiên hợptác khu vực đồng thời mở rộng quan hệ với tất cả các nước

Đại hội Đảng lần thứ VIII, họp tháng 6/1996, đã khẳng định chủtrương tiếp tục mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế “Xây dựng một nền kinh tếmở”, “đẩy nhanh quá trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới”

Hội nghị Trung ương 4 (khoá VIII) nêu nhiệm vụ: “Tích cực chủđộng thâm nhập và mở rộng thị trường quốc tế”, “Tiến hành khẩn trương,vững chắc việc đàm phán Hiệp định thương mại với Mỹ”, “Gia nhập APEC

và WTO, có kế hoạch cụ thể để chủ động thực hiện cam kết trong khuônkhổ AFTA”

Trang 17

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX, họp tháng 4/2001, đã kiểm điểmquá trình thực hiện đường lối đối ngoại do Đại hội VIII đề ra, một lần nữakhẳng định “đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hoá, đa dạnghoá các quan hệ quốc tế” Đồng thời Đại hội đã bổ sung, phát triển về chủtrương và chính sách, nhiệm vụ cụ thể Trong đó lưu ý mấy điểm sau đây:

Quan điểm độc lập, tự chủ: Trong bối cảnh toàn cầu hoá là một xu thế

khách quan, nhưng đang bị chi phối bởi các nước tư bản phát triển và cáctập đoàn tư bản xuyên quốc gia; chủ nghĩa thực dân kinh tế, thuyết “canthiệp nhân đạo”, “nhân quyền cao hơn chủ quyền”, chính sách “can dự”,

là một nguy cơ đối với các nước đang phát triển; Việc nhấn mạnh quanđiểm độc lập, tự chủ, chủ động trong hội nhập kinh tế quốc tế có ý nghĩa rấtquan trọng, không phải ngẫu nhiên mà nhân dân Mỹ, Canada, Séc, Anh,Thái Lan lại rầm rộ biểu tình chống toàn cầu hoá khi tại nước họ có Hộinghị Quốc tế bàn về toàn cầu hoá; Nhiều đại biểu của các Đảng Cộng Sản

và Công Nhân Quốc tế đến dự Đại hội IX của Đảng ta đã phân tích nhữngmặt tiêu cực của toàn cầu hoá, như là một lời nhắc nhở sự cảnh giác trướccác thủ đoạn lợi dụng toàn cầu hoá để chống phá các nước xã hội chủ nghĩa

Đại hội IX đã phân tích các khía cạnh của các quá trình kinh tế và tiếptục khẳng định chủ trương mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế, chủ động hộinhập với khu vực và thế giới “chủ yếu và trước mắt là về kinh tế” Trongquá trình đó phải đảm bảo độc lập, tự chủ, trước hết là độc lập, tự chủ vềđường lối, chính sách, bảo vệ lợi ích quốc gia và định hướng xã hội chủnghĩa, bảo đảm an toàn và an ninh quốc gia Xây dựng nền kinh tế độc lập

tự chủ đi đôi với chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, kết hợp nội lực vớingoại lực thành nguồn lực tổng hợp để phát triển đất nước Mở rộng quan hệhợp tác quốc tế với các nước, nhưng không để cho nền kinh tế Việt Nam bị

lệ thuộc và bị chi phối bởi bên ngoài

Một trong những điểm mới trong chủ trương đối ngoại được nêu trong văn kiện Đại hội IX là: thay câu “Việt Nam muốn là bạn với các nước

trong cộng đồng quốc tế” thành “Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậycủa các nước trong cộng đồng quốc tế”[15; 119], phấn đấu vì hoà bình, độclập và phát triển

Vấn đề không phải chỉ là sự thay đổi từ ngữ, mà ở đây thể hiện sựnhận thức sâu sắc hơn bối cảnh và thực chất trong quan hệ hợp tác Quốc tế.Điều đó thể hiện ở chỗ: Một mặt, thể hiện chính sách yêu hoà bình, hữu

Trang 18

nghị của Việt Nam, thể hiện đúng đắn mong muốn chân thành của Việt Nam

sẽ là bạn với những ai mong muốn là bạn với Việt Nam; Mặt khác, chúng tabiểu thị thái độ trách nhiệm cao trong quan hệ với các nước, sẵn sàng là đốitác tin cậy của các nước, nghiêm chỉnh thực hiện mọi luật lệ và cam kếtchung khi thiết lập quan hệ hợp tác Điều đó cũng có nghĩa là chúng ta cũngyêu cầu các đối tác phải nghiêm chỉnh thực hiện các hiệp định, cam kết đãthoả thuận với chúng ta Đây là chữ tín, là quan hệ bình đẳng, cùng có lợi

Có như vậy mới duy trì được mối quan hệ lâu dài Cơ sở chung đểthiết lập mối quan hệ giữa nước ta với các nước là: “phấn đấu vì hoà bình,độc lập và phát triển” Đây là điểm chung, dễ được chấp nhận đối với đại đa

số các nước trên thế giới, bất kể chế độ chính trị của các nước đó có khácnhau

Như thế, những quan điểm cơ bản của Đảng ta về mở rộng quan hệhợp tác quốc tế trong thời kỳ đổi mới, đã được thể hiện rất rõ trong các vănkiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI - 1986, lần thứ VII - 1991, lần thứVII - 1996, lần thứ IX - 2001, ngày càng được bổ sung hoàn thiện, đáp ứngyêu cầu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội cả về trước mắt cũng như lâudài, phù hợp với tình hình thực tiễn khách quan và xu thế chung của thếgiới Trong những năm tới, chúng ta tiếp tục mở rộng quan hệ hợp tác quốc

tế, nhưng phải tập trung quán triệt những quan điểm chủ yếu sau:

Phát triển kinh tế đối ngoại là một tất yếu khách quan, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Thế giới ngày nay là một thực thể thống

nhất, trong đó, mỗi quốc gia là một thực thể độc lập Tuy nhiên, các quốcgia lại phải phụ thuộc vào nhau về kinh tế, khoa học - công nghệ, do có sựkhác biệt về điều kiện tự nhiên và trình độ phát triển Trong lịch sử kinh tếthế giới, không có quốc gia nào có thể phát triển nếu thực hiện chính sách tựcung tự cấp Ngược lại, những nước giàu đều là những nước dựa vào kinh tếđối ngoại để thúc đẩy kinh tế trong nước phát triển

Việt Nam là một nước nghèo kém phát triển Để sử dụng những thành

tựu của khoa học - công nghệ thế giới, phục vụ cho việc công nghiệp hoá,hiện đại hoá đất nước, để khai thác những tiềm năng trong nước, chúng taphải phát triển kinh tế đối ngoại, hay nói cách khác phải mở rộng quan hệhợp tác quốc tế, không phân biệt chế độ chính trị, hợp tác bình đẳng, cùng

có lợi Gắn thị trường trong nước với thị trường thế giới, từng bước hộinhập nền kinh tế quốc gia với nền kinh tế khu vực và thế giới

Đa phương hoá, đa dạng hoá các mối quan hệ kinh tế đối ngoại Đa

phương hoá các mối quan hệ kinh tế đối ngoại được hiểu là mở rộng đối

Trang 19

tượng hợp tác kinh tế Trước đây, nước ta chỉ có mối quan hệ hợp tác kinh

tế với các nước xã hội chủ nghĩa cũ là chủ yếu Nay, cần phải thiết lập quan

hệ với tất cả các nước, đặc biệt là các nước công nghiệp phát triển, với các

tổ chức kinh tế quốc tế, các doanh nghiệp nước ngoài, các công ty xuyênquốc gia, trên tinh thần nỗ lực hợp tác để hướng về tương lai, và “Việt Namsẵn sàng là bạn với tất cả các nước” Chúng ta tiếp tục củng cố thị trườngquen thuộc, khôi phục quan hệ với thị trường truyền thống, tìm thị trường vàbạn hàng mới, lâu dài, tích cực hội nhập khu vực và hội nhập quốc tế

Bên cạnh đó, đa dạng hoá hoạt động kinh tế đối ngoại được thực hiệntheo hướng chủ yếu sau đây: Đẩy mạnh xuất khẩu hàng hoá, phát triển dulịch, đẩy mạnh xuất khẩu lao động, thu hút mạnh mẽ đầu tư nước ngoài,tranh thủ nguồn tài trợ quốc tế

Phát triển kinh tế đối ngoại phải dựa trên cơ sở ổn định về chính trị.

Trong phát triển kinh tế đối ngoại, hai vấn đề kinh tế và chính trị có mốiquan hệ mật thiết với nhau Thông thường mối quan hệ chính trị - ngoạigiao mở đường và thúc đẩy mối quan hệ thương mại - kinh tế phát triển.Ngược lại, mối quan hệ thương mại - kinh tế phát triển sẽ có tác dụng củng

cố, tăng cường mối quan hệ chính trị Khác với hoạt động kinh tế trongnước, hoạt động kinh tế đối ngoại phải phụ thuộc vào những yếu tố chínhtrị, vào lợi ích của các nước đối tác Việc xử lý mối quan hệ giữa kinh tế vớichính trị là vấn đề có ý nghĩa quyết định của kinh tế đối ngoại Trên cơ sở

đó, xác định sự cân bằng lợi ích giữa các bên theo nguyên tắc bình đẳng,cùng có lợi Sự ổn định về chính trị sẽ tạo điều kiện cho buôn bán quốc tế,

du lịch, đầu tư Việc thực hiện tốt công tác quốc phòng, an ninh sẽ tạo thuậnlợi cho việc mở rộng hoạt động kinh tế đối ngoại

Phát huy sức mạnh dân tộc để tham gia vào phân công lao động quốc

tế Tuy nhiên, việc phát huy ý chí “tự lực tự cường” không đồng nghĩa với

việc coi nhẹ sức mạnh của yếu tố bên ngoài Cần tận dụng có hiệu quảnhững thành tựu khoa học và công nghệ thế giới và sự giúp đỡ quốc tế

Từng bước xây dựng nền kinh tế “mở cửa” “Mở cửa” nền kinh tế ra

thế giới bên ngoài là một chiến lược hoàn toàn phù hợp với xu thế phát triểncủa nền kinh tế thế giới Nhưng “mở cửa” phải bảo đảm sự ổn định về chínhtrị, an ninh quốc gia, phải bảo vệ được tài nguyên và môi trường, phải cóbiện pháp hạn chế những mặt tiêu cực phát sinh trong quá trình “mở cửa”.Nói cách khác, Việt Nam không đóng cửa về kinh tế, nhưng phải xây dựng

Trang 20

một nền kinh tế độc lập, tự chủ, với cơ chế thị trường theo định hướng xãhội chủ nghĩa Ở Việt Nam có thành phần kinh tế tư nhân, nhưng không tưnhân hoá nền kinh tế, chúng ta tổ chức lại kinh tế hợp tác xã nhưng khônggiải tán hợp tác xã Kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể vẫn là thành phầnkinh tế chủ đạo của nền kinh tế Việt Nam.

Với tinh thần trên, việc mở cửa phải có định hướng, có kế hoạch cụthể, bước đi vững chắc và phải được quản lý chặt chẽ Trên cơ sở nhận thứcđúng đắn quan điểm “mở cửa”, phê phán các quan điểm sai lầm về “mởcửa” như: chỉ thấy được mặt tích cực của “mở cửa” dẫn đến việc “mở toangcửa”, “thả cửa”, hoặc chỉ thấy mặt tiêu cực của “mở cửa” dẫn tới sự do dựtrong “mở cửa”, coi việc “mở cửa” là một chính sách nhất thời, một biệnpháp tình huống,

Những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin và quan điểmcủa Đảng ta về quan hệ hợp tác quốc tế cho thấy, mở rộng quan hệ hợp tácquốc tế, nhất là trong giai đoạn cách mạng hiện nay là cần thiết, là kháchquan trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước

1.2 ĐẶC TRƯNG VÀ BẢN CHẤT CỦA HỢP TÁC QUỐC TẾ:

1.2.1 Tính tất yếu của sự hợp tác quốc tế:

Bài học lớn của cuộc chạy đua vũ trang toàn cầu suốt nửa cuối thế kỷ

XX cho thấy, những nước giành được lợi thế nhiều nhất không phải là haisiêu cường quân sự, mà là Nhật Bản và Cộng hoà Liên Bang Đức, nhữngnước biết tập trung vào phát triển sản xuất các ngành công nghiệp kỹ thuậtcao Bên cạnh đó, các nước như: Hàn Quốc, Đài Loan, Singapo, Malaixia.Thái Lan nhờ khéo léo lựa chọn chiến lược phát triển kinh tế, nay đã khẳngđịnh được vị trí của mình trong nền kinh tế thế giới Nhân tố kinh tế ngàycàng có vị trí quan trọng, gần như giữ vị trí chủ đạo trong quan hệ quốc tếhiện nay Vị trí trên trường quốc tế của mỗi nước ngày càng tuỳ thuộc vàosức mạnh kinh tế hơn là sức mạnh quân sự

Ở mỗi giai đoạn giao thời của lịch sử, đều xuất hiện những cơ hộicũng như thách thức đối với mọi dân tộc Bước vào những năm cuối thế kỷ

XX đầu thế kỷ XXI, các nước đang chạy đua quyết liệt nhằm tìm ra lợi thế

so sánh tối ưu của mình và chiếm lĩnh các đỉnh cao về kinh tế, khoa học - kỹthuật Trong khi đó, do hoàn cảnh lịch sử mà nước ta đã bỏ lỡ mất thời cơvới quãng thời gian 25 năm Trong khoảng thời gian đó, nhiều nước trong

Trang 21

khu vực, có xuất phát điểm giống nước ta “đã xây dựng xong “đường băngphát triển” đã hoặc đang chuẩn bị cất cánh!”[19; 25]

Có thể nói, hiện nay nước ta đang đứng trước những thời cơ mới, kèmtheo những thách thức trong một thế giới có những “luật chơi” khác vớiquan niệm và kinh nghiệm cũ của ta Do đó, chúng ta phải chọn đúng hướng

và có quyết tâm cao trong cuộc chạy đua này

Nhận thức rõ sự yếu kém về kinh tế của Việt Nam, là nguồn gốc cóthể dẫn đến những hậu quả bất lợi về chính trị, quân sự, kinh tế - xã hội vàquan hệ quốc tế, Đảng và Nhà nước ta quyết tâm đưa đất nước sớm thoátkhỏi cảnh nghèo nàn, lạc hậu, đặt nhiệm vụ phát triển kinh tế ở vị trí ưu tiênchiến lược Phấn đấu đến năm 2020, Việt Nam cơ bản trở thành một nướccông nghiệp Nhân tố chủ yếu trong việc quyết định chính sách đối ngoạicủa Việt Nam trong tương lai phải là nhân tố kinh tế, nhận rõ điều đó, Đảng

và Nhà nước ta phải hoạch định đường lối chiến lược, sách lược, trước mắtcũng như lâu dài, có bước đi thận trọng, phù hợp với tình hình thực tiễn củađất nước, cũng như tình hình hiện nay của thế giới

Trong thời đại ngày nay, toàn cầu hoá và khu vực hoá đang diễn rangày càng sâu sắc, không một quốc gia nào có thể đứng ngoài Các quan hệkinh tế quốc tế trở nên sôi động hơn bao giờ hết và có tác động to lớn đến sựphát triển của các quốc gia Một trong những đặc điểm nổi bật của kinh tếthế giới những năm cuối thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI, là quá trình toàn cầuhoá được thúc đẩy mạnh mẽ dưới tác động của cuộc cách mạng khoa học -công nghệ Quá trình này được thúc đẩy mạnh mẽ thêm do sự mở cửa củanền kinh tế và thực hiện chiến lược kinh tế hướng ngoại của hầu hết cácnước Tuy vậy, cùng với quá trình toàn cầu hoá, quá trình khu vực hoá đãdiễn ra song song và được đẩy mạnh chư từng có

Toàn cầu hoá và khu vực hoá nền kinh tế, một mặt thúc đẩy quá trìnhphát triển lực lượng sản xuất, chuyển giao công nghệ, chuyển dịch cơ cấungành, lao động Thúc đẩy quá trình hợp tác và cạnh tranh giữa các quốc gia

và khu vực; đồng thời sẽ diễn ra hai quá trình trái ngược nhau trong thươngmại: Đó là tự do hoá và bảo hộ mậu dịch, hình thành thị trường khu vực với

sự ưu đãi ở mức độ khác nhau đối với các bạn hàng liên kết và phân biệt đối

xử với các bạn hàng khác

Trong thời đại ngày nay, quá trình toàn cầu hoá diễn ra dưới sự chiphối của các nước tư bản phát triển, do đó có nhiều mặt tiêu cực Vì vậy,

Trang 22

trước xu hướng toàn cầu hoá và khu vực hoá đang diễn ra sôi động, mỗiquốc gia phải tìm kiếm những chiến lược đúng đắn nhằm sử dụng những lợithế so sánh để chớp lấy thời cơ thực hiện sự hội nhập quốc tế, đồng thời cónhững sách lược mềm dẻo, khôn khéo để vượt qua những tác động tiêu cựccủa quá trình.

Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện nay đang tác động đếntất cả các nước trên thế giới với những mức độ khác nhau, đưa lại nhữngthành quả cực kỳ to lớn cho nhân loại và những hậu quả xã hội hết sức sâusắc Toàn cầu hoá kinh tế hiện đại bắt nguồn từ sự phát triển của lực lượngsản xuất từ nền kinh tế thị trường thế giới Thế giới đứng trước nhiều vấn đềtoàn cầu mà không một quốc gia riêng lẻ nào có thể tự giải quyết nếu không

có sự hợp tác đa phương như: bảo vệ môi trường, hạn chế sự bùng nổ dân

số, đẩy lùi những dịch bệnh hiểm nghèo, chống tội phạm quốc tế, Vì thế,hoà bình, hợp tác và phát triển là xu thế lớn, phản ánh đòi hỏi bức xúc củacác quốc gia, dân tộc Cuộc đấu tranh vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ,dân sinh, tiến bộ và công bằng xã hội sẽ có những bước tiến mới

Trong bối cảnh đó, nền kinh tế Việt đang còn khó khăn, chúng ta mởrộng quan hệ hợp tác quốc tế để tranh thủ nguồn vốn, khoa học - công nghệ,kinh nghiệm quản lý hợp tác trên mọi lĩnh vực để phục vụ công cuộc pháttriển kinh tế xã hội, vừa hợp tác vừa đấu tranh, tranh thủ thời cơ, đẩy lùinguy cơ, vượt qua thách thức là tất yếu nhằm đưa nền kinh tế Việt nam trên

đà phát triển và nhanh chóng hoà nhập với các nước trong khu vực và trênthế giới Mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế trong thời kỳ đổi mới phục vụ sựnghiệp phát triển kinh tế - xã hội là một tất yếu khách quan, phù hợp vớitình hình phát triển trong nước và trên thế giới Vì nó đã khai thác đượcnhững lợi thế trong nước, tận dụng được nguồn lực bên ngoài, tạo thành sứcmạnh tổng hợp cho sự phát triển nhanh và bền vững

1.2.2 Bản chất của sự hợp tác quốc tế.

Nguyên nhân của hợp tác quốc tế bắt nguồn từ sự phát triển cao củalực lượng sản xuất, sự phát triển của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật, củaquá trình toàn cầu hoá và khu vực hoá nền kinh tế thế giới Muốn phát triểnnhanh và bền vững đòi hỏi phải có sự hợp tác liên kết Hơn nữa, hợp tác,hoà bình và phát triển đã trở thành xu thế khách quan của phát triển

Vậy, bản chất của hợp tác quốc tế hiện nay là gì? Trước kia quan hệquốc tế được hiểu là quan hệ bang giao giữa các quốc gia, liên quan đến an

Trang 23

ninh, biên giới lãnh thổ Nay, quan hệ đó được mở rộng ra mọi lĩnh vựcnhư: văn hoá, xã hội, chính trị, kinh tế, quân sự, môi trường và liên quanđến nhiều loại chủ thể Loại quan hệ quốc tế mang tính chất kinh tế được thểhiện rất phong phú trong đời sống quốc tế và thường được điều chỉnh bằngcông pháp quốc tế Ví dụ như: Các nước đang phát triển yêu sách về mộttrật tự kinh tế thế giới mới vào những năm 70 của thế kỷ XX, sự hợp tácgiữa các quốc gia trong việc thành lập các tổ chức kinh tế quốc tế, quan hệgiữa các quốc gia liên quan đến viện trợ và nợ nước ngoài, việc ký kết cáchiệp định thương mại và bảo hộ đầu tư, việc giải quyết tranh chấp kinh tế

giữa các quốc gia, Như vậy, quan hệ hợp tác quốc tế xét về bản chất là những quan hệ nhằm phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế -xã hội của đất nước, quan hệ kinh tế quốc tế là cơ bản, nhưng không phải là toàn bộ quan hệ quốc tế, mà chỉ bao gồm các quan hệ có liên quan đến yếu tố kinh tế.

Quan hệ kinh tế được hiểu là mối quan hệ giữa các chủ thể thực hiệncác hoạt động liên quan đến quá trình sản xuất, phân phối, tiêu thụ hànghoá Các hoạt động và quan hệ kinh tế chịu sự tác động của các quy luậtkinh tế khách quan như: quy luật cung cầu, quy luật giá trị, quy luật cạnhtranh, quy luật lưu thông tiền tệ, Trong thực tiễn hoạt động kinh tế có cácquan hệ kinh tế mang tính chất quốc tế, tức là chúng vượt quá phạm vi biêngiới một quốc gia Ví dụ như: quan hệ xuất nhập khẩu hàng hoá, đầu tưnước ngoài, chuyển giao công nghệ, xuất nhập khẩu sức lao động, thanhtoán quốc tế, loại quan hệ này thường được điều chỉnh chủ yếu bằng luậtquốc gia, mà cụ thể là tư pháp quốc tế

Trong tình hình mới, đặc biệt là thời kỳ mở cửa, hợp tác, quan hệ đaphương hoá, đa dạng hoá, sự sôi động của nền kinh tế thị trường, sự pháttriển mạnh mẽ như vũ bảo của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật, côngnghệ, thì hợp tác quốc tế lại càng gay gắt, quyết liệt hơn bao giờ hết, vừa cóthời cơ vừa có khó khăn thách thức Thực hiện sự hợp tác quốc tế phải tậndụng mọi thời cơ để phát triển kinh tế, phải có kế hoạch, chiến lược trướcmắt cũng như về lâu dài, có biện pháp đồng bộ linh hoạt trong việc tổ chứcthực hiện, để đạt mục đích cuối cùng đưa nước ta đến con đường phát triểnthịnh vượng và vững chắc

Trang 24

1.2.3 Vai trò và động lực của hợp tác quốc tế.

Trong thời đại ngày nay, toàn cầu hoá và khu vực hoá đang diễn rangày càng sâu sắc, các quan hệ hợp tác quốc tế trở nên sôi động hơn bao giờhết và có tác động to lớn đến sự phát triển của các quốc gia Hợp tác quốc tế

có vai trò to lớn, tác động mạnh đến sự phát triển của mọi quốc gia trên tất

cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, từ kinh tế, chính trị, văn hoá, khoa học

kỹ thuật và công nghệ Trong bối cảnh đó, nền kinh tế Việt Nam trên đàphát triển và đang nhanh chóng hoà nhập với các nước trong khu vực và tiếntới hoà nhập vào cộng đồng kinh tế thế giới Mở rộng hợp tác quốc tế đưalại cho chúng ta những thuận lợi và cơ hội lớn, nhưng bên cạnh đó nó cũngđưa lại không ít khó khăn, thách thức trong sự phát triển kinh tế -xã hội

Hiện nay, xu thế ‘’hoà bình, hợp tác là đòi hỏi bức xúc của các quốcgia, dân tộc để ưu tiên phát triển kinh tế, bởi phát triển kinh tế có ý nghĩaquyết định đối với việc tăng cường sức mạnh tổng hợp của quốc gia Cácquốc gia lớn, nhỏ tham gia ngày càng nhiều vào quá trình hợp tác và liên kếtquốc tế về kinh tế và thương mại, song tính cạnh tranh ngày càng gay gắt.Các dân tộc nâng cao ý thức độc lập, tự chủ, tự cường dân tộc, chống canthiệp của nước ngoài’[21; 26-27] Xu thế trên là xu thế khách quan, xu thế

‘’hội nhập’’, từ đó làm nảy sinh tính đa phương, đa dạng trong quan hệ hợptác quốc tế

Mở rộng sự hợp tác quốc tế đã góp phần củng cố và nâng cao vị thếcủa Việt Nam trên trường quốc tế, thu hút vốn đầu tư, mở rộng thị trường,tiếp thu kinh nghiệm quản lý, Chúng ta đã giữ vững được ổn định chínhtrị, tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới, mà trọng tâm là phát triển kinh tế,chăm lo đời sống nhân dân; mở rộng và nâng cao hiệu quả hoạt động đốingoại, củng cố quốc phòng, an ninh, đã góp phần bảo đảm cho đất nướcđứng vững và tiếp tục phát triển Sự hợp tác quốc tế còn góp phần to lớntrong việc thực hiện nhiệm vụ ‘’giữ vững hoà bình, mở rộng quan hệ hữunghị và hợp tác tạo môi trường và điều kiện quốc tế thuận lợi cho côngcuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đồng thời góp phần tích cực vào cuộcđấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ

và tiến bộ xã hội’[12; 24]

Chúng ta nhận thức sâu sắc rằng, điều quyết định thành công củacông cuộc đổi mới là do sức mạnh của toàn dân ta, của con người, ý chí, trítuệ và tiềm lực của đất nước Đồng thời chúng ta cũng hiểu rằng, trong thời

Trang 25

đại ngày nay, bất cứ nước vào, dù phát triển đến đâu, cũng không thể tựkhép kín được Với điểm xuất phát rất thấp như nước ta, tranh thủ nguồn lựcbên ngoài là rất quan trọng Phải có chính sách khôn khéo, cách làm có hiệuquả để mở rộng quan hệ hợp tác với bên ngoài nhằm khai thác tốt nhất tiềmlực và lợi thế bên trong.

Vì vậy, chúng ta chủ trương mở rộng đa dạng hoá và đa phương hoáquan hệ hợp tác cả về chính trị, kinh tế, văn hoá và khoa học, kỹ thuật, cả vềĐảng Nhà nước và đoàn thể nhân dân, các tổ chức phi chính phủ Sự hợp tác

đó phải phục vụ chiến lược phát triển kinh tế, từng bước đổi mới cơ cấu sảnxuất, đẩy mạnh công nghiệp hoá, tạo điều kiện cho kinh tế nước ta phát triểnmạnh Hơn nữa, nó còn nhằm phát huy lợi thế của từng vùng, của các địabàn trọng điểm, đồng thời bảo đảm sự thống nhất về kinh tế và chính trị của

tự do của Tổ quốc lợi ích đó phù hợp với lợi ích độc lập dân tộc và tiến bộ

xã hội của nhân dân các nước trên thế giới

Sự hợp tác quốc tế, vừa đòi hỏi chúng ta phải nắm vững và vận dụngsáng tạo các nguyên lý của chủ nghĩa Mác -Lênin, phép biện chứng duy vậtvào Việt nam, trung thành với lợi ích dân tộc là độc lập dân chủ và chủnghĩa xã hội ‘’Đó là căn cứ và là sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ hoạt độngđối ngoại của Đảng và Nhà nước ta’’[9; 12] Lợi ích dân tộc là thiêng liêng

và phải được thực hiện trọn vẹn và tuyệt đối Tất nhiên cần có cách xử lýđúng đắn giữa lợi ích trước mắt và lâu dài, cơ bản và không cơ bản, lợi ích

bộ phận và lợi ích toàn cục

Muốn giữ vững lợi ích dân tộc, đối ngoại nói chung và ngoại giao nóiriêng phải đề cao chính nghĩa dân tộc Chỉ có trên cơ sở chính nghĩa dân tộc,chúng ta có cơ sở đấu tranh bảo vệ lợi ích dân tộc, chủ quyền độc lập quốcgia, chúng ta phải dựa vào pháp lý và thông lệ quốc tế để đấu tranh cho kỳđược những lợi ích chân chính của dân tộc mình

Như vậy, sự hợp tác quốc tế phải luôn ‘’trung thành và luôn luôn xuất phát từ lợi ích dân tộc và gắn lợi ích dân tộc với lợi ích cách mạng thế giới, đó là những điều kiện kiên quyết để có đường lối đối ngoại độc lập tự

Trang 26

chủ Đó là bài học quý báu trong lịch sử hoạt động đối ngoại Việt nam’’[10;41].

Tóm lại: hợp tác quốc tế có vai trò rất to lớn đối với sự phát triển kinh

tế -xã hội của đất nước Bối cảnh thế giới hiện nay có những chuyển biếnnhanh chóng do cuộc cách mạng khoa học và công nghệ, xu thế khu vựchoá, quốc tế hoá, đời sống kinh tế, chính trị thế giới; xu thế hợp tác hoà bình

và phát triển đã trở thành xu thế khách quan lôi cuốn tất cả các nước thamgia Hợp tác để phát triển vì lợi ích của mỗi quốc gia dân tộc là khuynhhướng chủ yếu chi phối trong quan hệ quốc tế Việt Nam chủ trương hợp tácquốc tế trên nguyên tắc tôn trọng độc lập chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ củanhau, hợp tác tự nguyện, bình đẳng đôi bên cùng có lợi

Trang 27

CHƯƠNG 2: NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA HỢP TÁC QUỐC TẾ

TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI Ở VIỆT NAM

2.1 TÍNH PHỨC TẠP VÀ DIỄN BIẾN TRONG QUAN HỆ HỢP TÁC QUỐC TẾ THỜI KỲ ĐỔI MỚI

Dưới tác động của sự thay đổi cục diện thế giới và tập hợp lực lượngmới trên thế giới, tất cả các quốc gia dù lớn hay nhỏ, phát triển hay đangphát triển, đều phải điều chỉnh chiến lược đối nội, đối ngoại nhằm tạo chomình tư thế và chỗ đứng có lợi nhất trong một trật tự thế giới mới diễn biếnphức tạp và nhanh chóng

Xu thế ấy đòi hỏi tất cả các nước đều giành ưu tiên cho phát triểnkinh tế, coi kinh tế có ý nghĩa quyết định đối với việc tăng cường sức mạnhquốc gia Vị trí quốc tế mỗi nước ngày càng phụ thuộc vào sức mạnh kinh tếhơn là sức mạnh quân sự của họ Các nước đều ý thức được rằng, muốn cóđiều kiện để giữ vững an ninh và ổn định thì trước hết tiềm lực kinh tế phảimạnh Từ đó lợi ích kinh tế trở thành động lực chính trong quan hệ hợp tácquốc tế song phương và đa phương Chính nhu cầu phát triển kinh tế vừa làđộng lực thúc đẩy các nước cải thiện và phát triển quan hệ hợp tác, vừa lànhân tố làm tăng tình trạng cạnh tranh kinh tế giữa các nước trên thế giới.Trật tự thế giới và sự tập hợp lực lượng mới sẽ tạo dựng không phải bởichiến tranh mà trên cơ sở kinh tế, chính trị là chính Tuy nhiên, do lợi íchdân tộc, lợi ích khu vực còn quá khác nhau, nên xu thế chủ đạo trong quan

hệ giữa các nước hiện nay là xu hướng vừa hợp tác lại vừa đấu tranh vớinhau Ngoại giao đa phương ngày càng có vị trí quan trọng trong đời sốngquốc tế Các đặc điểm nổi bật của thế giới hiện nay là:

“Xu thế đa dạng hoá quan hệ trở thành xu thế phổ biến của các quốc gia Do sự tuỳ thuộc lẫn nhau ngày càng tăng giữa các quốc gia và đời sống

kinh tế đã và đang được quốc tế hoá cao độ: Kinh tế thị trường trở thànhphổ biến Trong quan hệ hợp tác quốc tế, việc tập hợp lực lượng không còndựa trên cơ sở ý thức hệ như trước, mà xuất phát từ lợi ích quốc gia, diễn ramột cách cơ động, linh hoạt, tuỳ theo từng thời điểm, từng vấn đề và sựtrùng hợp lợi ích với từng nước và nhóm nước”[18; 401]

Xu thế liên kết khu vực và xu thế toàn cầu hoá ngày càng phát triển

và là xu thế phổ biến và không thể đảo ngược Xu thế này mang lại những

cơ hội mới, cũng như những thách thức to lớn cho tất cả các nước, nhất làcác nước đang phát triển như Việt Nam Trước làn sóng khu vực hoá, toàncầu hoá về tài chính và thương mại, các nước vừa và nhỏ một mặt phải nângcao ý thức độc lập dân tộc, tự chủ, giữ vững bản sắc dân tộc; mặt khác tìm

Trang 28

cách thích ứng với tình hình mới, tạo thế thuận lợi nhất cho mình để thamgia tích cực và chủ động vào quá trình phân công lao động quốc tế và quan

Những xu thế trên tác động qua lại lẫn nhau, tạo nên những động lựccộng hưởng đang làm thay đổi sâu sắc nền kinh tế và bức tranh chính trị thếgiới Một quốc gia biết lợi dụng tốt những xu thế đó sẽ tạo thêm được sứcmạnh và vị thế cho mình, nhưng nếu tự tách mình ra hoặc thậm chí đi ngượclại xu thế đó sẽ chuốc lấy nhiều nguy cơ cho tiền đồ của dân tộc mình

Trước tình hình quốc tế đang diễn biến rất nhanh chóng và phức tạpnhư thế, đối với nước ta, nó càng làm cho những khó khăn gay gắt thêm,đồng thời cũng mang lại những thuận lợi và cơ hội mới

Chúng ta đang nỗ lực để phát triển kinh tế - xã hội, đẩy mạnh hơn nữacông cuộc đổi mới, tạo điều kiện cho đất nước phát triển nhanh và vữngchắc trong những năm tới Đó là mục tiêu của Đảng, Nhà nước và của cảdân tộc ta hiện nay Thời gian qua, thực hiện hợp tác quốc tế, đối ngoại độclập, tự chủ và rộng mở do Đại hội IX đề ra Chúng ta đã đạt được những kếtquả quan trọng về kinh tế, chính trị, khoa học, kỹ thuật bước đầu phục vụ

sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước, tiếp tục đóng góp tích cực vàocuộc đấu tranh chung vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hộitrên thế giới Kết quả đạt được chứng tỏ chính sách đối ngoại của Đảng vàNhà nước ta là đúng, được đề ra đúng lúc, vận dụng kịp thời và triển khai cóhiệu quả, đã nâng cao uy tín và vị trí quốc tế của Việt Nam, góp phần từngbước tạo điều kiện quốc tế thuận lợi cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổquốc

Sự hợp tác quốc tế trong giai đoạn cách mạng hiện nay cần phải tỉnhtáo, năng động và linh hoạt phát huy được những thuận lợi mà hoàn cảnhquốc tế đưa lại phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước,đồng thời nắm bắt được những hạn chế tiêu cực của tình hình thực tiễn thế

Trang 29

giới để khắc phục những mặt trái của toàn cầu hoá, sự phá hoại của các thếlực thù địch, sự cạnh tranh trong làm ăn phát triển kinh tế Thực tế sinhđộng của sự hợp tác và phát triển đã cho thấy tính phức tạp và diễn biếntrong hợp tác quốc tế, đòi hỏi chúng ta phải tỉnh táo, linh hoạt và khôngđược chủ quan.

2.2 NỘI DUNG CƠ BẢN TRONG QUAN HỆ HỢP TÁC QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM THỜI KỲ ĐỔI MỚI

2.2.1 Hợp tác về kinh tế

Đằng sau các cuộc cạnh tranh khốc liệt về kinh tế, quân sự, nhữngbiến đổi về chiến tranh - xã hội đầy sóng gió và nghịch lý, nhân loại đangchứng kiến những chuyển biến cực kỳ to lớn trong sự phát triển kinh tế vàquan hệ kinh tế quốc tế Hiện nay, các xu hướng vận động của nền kinh tếthế giới rất đa dạng Nó chi phối sự phát triển của tất cả các quốc gia Các

xu hướng này vừa tạo ra những tác động tích cực, đồng thời cũng có thể gây

ra tác động tiêu cực đối với sự phát triển của mỗi quốc gia

Sự hợp tác kinh tế giữa các quốc gia đã tồn tại từ thời xa xưa, đượcthể hiện ở việc ký kết các điều ước thương mại song phương, ở việc thànhlập các tổ chức kinh tế quốc tế hoặc phân chia vùng ảnh hưởng Hơn nữa,hợp tác kinh tế là một trong những nguyên tắc của Liên Hợp Quốc, là cơ sởcho quan hệ bang giao và phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế giữa các quốc gia

Tuy nhiên, trong gần nửa thế kỷ từ sau chiến tranh thế giới thứ II, thếgiới rơi vào cuộc “chiến tranh lạnh” với sự bất hợp tác cả về chính trị lẫnkinh tế Phải chờ đến những năm 90 của thế kỷ XX, khi thế giới không cònhai cực, xu hướng hợp tác kinh tế mới quay trở lại

“Thế giới hiện nay đang chuyển từ đối đầu sang đối thoại, từ biệt lậpsang hợp tác Giữa các nước có sự dung hoà lợi ích, vận dụng các biện phápkinh tế để giải quyết tranh chấp quốc tế Tuy nhiên, thế giới ngày nay là mộtthế giới trong đó vừa có sự hợp tác, vừa có đấu tranh, mà trong lĩnh vựckinh tế được thể hiện ở sự cạnh tranh Do vậy, các quốc gia phải vừa biếtchủ động khai thác các mặt tích cực, vừa phải tránh những mặt tiêu cực của

xu hướng này”[20; 14] Vì thế, chính sách kinh tế đối ngoại phải trở thànhcông cụ của hợp tác kinh tế quốc tế Hợp tác kinh tế sẽ trở thành cơ sở củahợp tác chính trị Chẳng hạn, việc hợp tác kinh tế Châu Âu năm 1957 trongkhuôn khổ Cộng đồng Kinh tế Châu Âu (EEC), đến năm 1992 đã trở thànhLiên minh Châu Âu (EU) EU ngày nay không chỉ là liên minh kinh tế màcòn là liên minh chính trị, an ninh, quân sự

Trang 30

Ngày nay, nền kinh tế thế giới đang được vận hành nhờ các mạnglưới toàn cầu Trong lĩnh vực thông tin, các máy tính cá nhân được nốimạng với nhau ở trong nước và nước ngoài, tạo thành đường thông tin siêucao tốc Hàng hoá được vận chuyển từ nước này sang nước khác với quy môngày càng tăng, bằng những phương tiện vận tải ngày càng hiện đại.

Trong lĩnh vực thị trường sức lao động, các công ty xuyên quốc gia

sử dụng người lao động trên phạm vi toàn cầu 60% hàng của Mỹ được sảnxuất ở nước ngoài Đơn giản một cái quần Jeans cũng có cuộc hành trình dàitrên thế giới: bông được trồng ở Ấn Độ, được kéo thành sợi ở Trung Quốc,được nhuộm ở Philippines bằng thuốc của Đức, được dệt thành vải ở BaLan, được chở sang Pháp, thêm vải lót và phụ gia của Italia, được may tạiPhilippines, thêm cái nhãn của Hy Lạp, rồi lại chuyển sang Mỹ Trong lĩnhvực tài chính hàng tỷ USD được chu chuyển trên khắp thế giới qua các thịtrường chứng khoán với tốc độ tính bằng giây suốt 24 giờ, đang khôngngừng làm thay đổi cơ cấu kinh tế thế giới

Toàn cầu hoá làm cho nền kinh tế thế giới trở thành một thể thốngnhất, trong đó mỗi quốc gia là một bộ phận, giữa chúng có sự phụ thuộc lẫnnhau Để theo đuổi xu hướng này, các nước sẽ phải tháo bỏ dần các rào cảncho sự phát triển thương mại quốc tế, như giảm thuế quan, hoặc loại bỏ cácbiện pháp phi thuế quan Đây chính là cơ hội cho các nước nghèo hội nhậpnền kinh tế thế giới, chủ động tham gia vào phân công lao động quốc tế vàkhu vực Các nước sẽ ảnh hưởng, tác động lẫn nhau cả về tăng trưởng lẫnkhủng hoảng

Một số ý kiến coi toàn cầu hoá như một lý tưởng cuối cùng trong lịch

sử Một số ý kiến khác lại cho rằng, toàn cầu mang đến nạn thất nghiệp, sựđảo lộn trật tự kinh tế, chính trị, làm tăng khoảng cách giàu nghèo giữa cácnước cũng như trong nội bộ từng nước, làm lây lan các cuộc khủng hoảngkinh tế Tác động của toàn cầu hoá đối với các nước không giống nhau.Toàn cầu hoá có thể giúp các nước hội nhập tốt hơn vào nền kinh tế thế giới,đồng thời có thể đẩy chúng ra ngoài lề nền kinh tế thế giới Theo bản báocáo thế giới về phát triển con người năm 1999 do UNDP công bố: có hơn 80nước có thu nhập tính theo đầu người thấp hơn cách đây 10 năm, giá trị tàisản của ba người giàu nhất thế giới còn lớn hơn tổng thu nhập quốc dân củatoàn bộ nhân dân các nước chậm phát triển với hơn 600 triệu dân Cần nhấnmạnh rằng, tình trạng nghèo khổ ở một số nước tăng lên cùng với quá trìnhtoàn cầu hoá

Trang 31

Bên cạnh đó, toàn cầu hoá và tiến bộ khoa học - công nghệ, cùng với

mở cửa biên giới bị các tổ chức tội phạm quốc tế nhanh chóng lợi dụng đểtiến hành các hoạt động buôn lậu, ma tuý, vũ khí, rửa tiền Thái độ đối vớitoàn cầu hoá ở các nước không giống nhau Chẳng hạn, ở Pháp có dư luậncho rằng, toàn cầu hoá làm mất đi bản sắc dân tộc và sự liên kết trong nội bộ

xã hội Còn ở Mỹ, người ta coi toàn cầu hoá là cơ hội để những kinh nghiệmcủa Mỹ được phổ biến trên toàn thế giớ Nói cách khác, người ta đã cổ vũtoàn cầu hoá như một quá trình “Mỹ hoá” Còn đối với các nước đang pháttriển, toàn cầu hoá chỉ được chấp nhận nếu nó phục vụ lợi ích quốc gia

Mặc dù, toàn cầu hoá gây ra những tác động tiêu cực, nhưng nó vẫn

là một thực tế mà các quốc gia phải đối mặt, phải hiểu và kiểm soát được

nó Toàn cầu hoá cũng tạo ra những cơ hội cho các quốc gia và các quốc giaphải biến nó thành sức mạnh, bằng cách phát triển hoạt động hợp tác quốc tếtrên mọi lĩnh vực

Xu hướng toàn cầu hoá có thể được so sánh như một cuộc phiêu lưutrên không bằng máy bay bắt buộc các quốc gia phải tham gia Đi máy baycho phép người ta đi nhanh hơn, xa hơn, nhưng khi rủi ro xảy ra thì rất nguyhiểm Chính vì vậy, phải làm mọi cách để tăng cường sự an toàn, thay vì từ

bỏ việc sử dụng máy bay Tương tự như vậy, các quốc gia không thể đứngngoài xu hướng toàn cầu hoá mà phải nắm bắt những cơ hội của nó để đưađất nước nhanh chóng hội nhập kinh tế quốc tế

Trước tình hình của thế giới, Đảng ta đã khẳng định nước ta cần chủđộng tham gia, và trên thực tế chúng ta đã và đang tham gia tích cực, cóhiệu quả về hội nhập kinh tế quốc tế, phù hợp với sự phát triển của kinh tếtrong nước và thế giới, làm cho nền kinh tế Việt Nam phát triển có hiệu quả,nhanh và vững chắc

Nhấn mạnh phải xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ không có nghĩa

là coi nhẹ vấn đề hội nhập kinh tế quốc tế Trái lại, Đảng ta luôn luôn coihội nhập kinh tế quốc tế là một nội dung trong đường lối kinh tế, đường lốiđối ngoại của Đảng và nhà nước ta; kết hợp nội lực với ngoại lực để tạo rasức mạnh tổng hợp của sự nghiệp phát triển đất nước Hợp tác kinh tế quốc

tế chính là “Hội nhập kinh tế quốc tế nhằm xây dựng nền kinh tế độc lập tựchủ, đáp ứng yêu cầu và lợi ích quốc gia, đồng thời thông qua hội nhập kinh

tế quốc tế để phát huy vai trò và tiềm năng của nước ta trong quá trình hợptác và phát triển của khu vực và thế giới, tranh thủ các nguồn vốn, thiết bị,

Trang 32

vật tư, thành tựu khoa học - công nghệ, kiến thức và kinh nghiệm quản lý,

mở rộng thị trường, tăng cường quan hệ hợp tác cùng có lợi, làm cho nước

ta phát triển ngày càng nhanh và bền vững hơn”[17; 59] Chúng ta khôngthể đồng tình với ý kiến phê phán một chiều tính chất tiêu cực, mặt trái củavấn đề mở cửa, hội nhập để từ đó dẫn tới đóng cửa, khép kín, phản bác chủtrương mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế của Đảng và Nhà nước ta

Nội dung chủ yếu của hội nhập kinh tế quốc tế mà nước ta cần và có thể tham gia từng bước là mở cửa thị trường về thương mại, đầu tư và dịch

vụ Hội nhập kinh tế có cả hình thức đa phương và song phương, vừa tham gia các tổ chức, diễn đàn kinh tế thế giới và khu vực, vừa thiết lập quan hệ thương mại, đầu tư, khoa học kỹ thuật với từng nước.

Nguyên tắc cơ bản và bao trùm hội nhập kinh tế quốc tế là phải bảođảm: “giữ vững độc lập, tự chủ và định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo đảmvững chắc an ninh quốc gia, giữ gìn giá trị truyền thống và bản sắc văn hoádân tộc, bảo vệ và cải thiện môi trường” Trong các quan hệ dù songphương hay đa phương đều phải giữ vững nguyên tắc: “bình đẳng, tôn trọnglẫn nhau và cùng có lợi” Nguyên tắc đó, được thể hiện ngay trong từngđịnh chế, thể thức mà các bên cam kết và được thực hiện trong thực tế hànhđộng Một mặt, không để thiệt hại đến lợi ích mà nước ta được hưởng Mặtkhác, chúng ta phải chấp nhận một sự chia sẻ lợi ích nhất định với các đốitác tuỳ theo mức độ đóng góp của các bên tham gia hợp tác

Thực hiện nhất quán chủ trương đa phương hoá, đa dạng hoá trongquan hệ kinh tế quốc tế, nhằm bảo đảm lợi ích của đất nước, giữ vững độclập tự chủ và sự cân bằng trong các mối quan hệ, tránh lệ thuộc một chiềuvào một hoặc một số đối tác Trong hội nhập kinh tế quốc tế phải nắm vữngphương châm: “chủ động, vừa hợp tác vừa đấu tranh, vừa kiên quyết, vừamềm dẻo”, nhằm bảo vệ được lợi ích chính đáng của ta, đồng thời tranh thủđược các thời cơ thuận lợi trong hội nhập Trong bất cứ tình huống nào,cũng phải luôn luôn chủ động, giành thế chủ động Chủ động ngay từ chủtrương, quyết sách, nội dung, phạm vi, mức độ, lộ trình không để ai lôicuốn xô đẩy Lại phải thường xuyên đề cao cảnh giác, không mơ hồ trướcnhững âm mưu và thủ đoạn của các thế lực thù địch muốn lợi dụng quan hệkinh tế thương mại để thực hiện “diễn biến hoà bình”, xâm nhập, phá hoạichế độ ta Điều cơ bản có tính quyết định để bảo đảm an ninh quốc gia là

Trang 33

chúng ta phải có nội lực mạnh, có sự thống nhất chặt chẽ trong nội bộ, có sựđồng tâm nhất trí, sự ủng hộ mạnh mẽ của toàn dân.

Vấn đề thu hút đầu tư

Để góp phần hoàn thành thắng lợi công cuộc công nghiệp hoá, hiệnđại hoá đất nước, hoạt động kinh tế đối ngoại Việt Nam cần phải làm tốtcác nhiệm vụ có tính chất mục tiêu sau:

Tạo nguồn vốn lớn để tạo ra những “cú hích” mạnh về tài chính, đápứng tốc độ tăng trưởng và duy trì tốc độ phát triển kinh tế Đối với ViệtNam, trong giai đoạn 1995-2000 vừa qua, theo tính toán của các ngành chứcnăng, cần 50 tỷ USD để đầu tư cho sản xuất và kinh doanh, và dự định huyđộng vốn trong nước 50%, 50% còn lại là huy động vốn từ các nguồn củanước ngoài

Cũng xuất phát từ yêu cầu phát triển nội tại và thực tiễn khách quantrong công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đã và đang đòi hỏiViệt Nam cần tới một nguồn vốn đầu tư lớn để hội nhập cùng dòng chảykinh tế - xã hội trên thế giới Hợp tác quốc tế là xu thế tất yếu, là con đườnghiệu quả nhất mà bất kỳ quốc gia nào cũng phải làm khi có đủ điều kiện, vàbuộc phải thực hiện bởi các sức ép bên trong, bên ngoài và nước ta cũngkhông phải là ngoại lệ

Tình hình cụ thể của Việt Nam đòi hỏi đó phải nhanh chóng nâng caothu nhập quốc dân Đòi hỏi buộc chúng ta phải có một nguồn vốn đầu tư rấtlớn, nguồn vốn này không thể hoàn toàn trông chờ vào nguồn tích luỹ nội

bộ trong một thời gian ngắn của một đất nước còn nghèo Chúng ta có thểtranh thủ nguồn vốn của các nước tư bản phát triển, mà chủ yếu là vốn củacác nhà tư bản, của các tập đoàn một quốc gia hay đa quốc gia, xuyên quốcgia

Vốn tư nhân vào Việt Nam không thể bằng con đường viện trợ dù là

có hoàn lại, hay bằng con đường cho vay; Hơn nữa, chính phủ Việt Namhay bất kỳ một nước mới phát triển nào cũng không có đủ khả năng trên lýthuyết cũng như trên thực tế để có thể đi vay hay sử dụng các nguồn vốnvay được trên mọi lĩnh vực Do đó, con đường chủ yếu để các nguồn vốn tưbản nước ngoài chảy vào Việt Nam là nhập khẩu vốn, thông qua phươngthức thu hút và nhận đầu tư trực tiếp từ nước ngoài

Việt Nam bắt đầu thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) chậmhơn so với nhiều nước trong khu vực từ một đến hai thập kỷ Sau khi đường

Ngày đăng: 06/01/2014, 15:04

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Mác - Ăngghen toàn tập, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội 1995, t2, tr 123 Khác
2. Mác - Ăngghen toàn tập, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội 1995, t4, tr598-602-602-613-646 Khác
3. Mác - Ăngghen toàn tập, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội 1995, t19, tr47 Khác
4. Mác - Ăngghen toàn tập, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội 1995, t21, tr523 Khác
5. Lê nin toàn tập, NXB Tiến bộ Mátxcơva, 1980, t3, tr 50 Khác
6. Lê nin toàn tập, NXB Tiến bộ Mátxcơva, 1980, t26, tr 447 Khác
7. Lê nin toàn tập, NXB TB Mátxcơva, 1980, t30, tr56-57 Khác
8. Lê nin toàn tập, NXB Tiến bộ Mátxcơva, 1980, t32, tr442 Khác
9. Nguyễn Mạnh Cầm - Ngoại giao Việt nam góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng của dân tộc - Tạp chí Cộng sản số 10-1995, tr12 Khác
10. Phạm Quốc Hùng - Luận án thạc sỹ khoa học lịch sử:Vấn đề kết hợp yếu tố dân tộc và yếu tố quốc tế trong đường lối đối ngoại Việt nam thời kỳ đổi mới - Hà nội 1995 Khác
11. Hồ Chí Minh toàn tập, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội 2000, t10, tr 14-15 Khác
12. Đỗ Mười - Việt nam muốn là bạn của tất cả các nước trong cộng đồng quốc tế - NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội 1996, tr 24 Khác
13. Đảng Cộng sản Việt nam. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, NXB Sự thật, Hà Nội 1991, tr 147 Khác
14. Đảng Cộng sản Việt nam: Văn kiện Hội nghị lần thứ hai Ban chấp hành trung ương khoá VIII, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội 1997, Tr 59 Khác
15. Đảng Cộng sản Việt nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội 2001, tr119-120 Khác
16. Đảng Cộng sản Việt nam trong tiến trình đổi mới đất nước, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội 2002, tr 97 Khác
17. Đề cương bài giảng: Nghiên cứu quán triệt nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IX, Hà Nội 2001, tr 59 Khác
18. Giáo trình lịch sử quan hệ quốc tế (1945-1990), Học viện quan hệ quốc tế, Hà Nội 2001 Khác
19. Giáo trình quan hệ kinh tế quốc, NXB Công an Nhân dân, Hà Nội 2001, tr14-21-25-211 Khác
20. Quan hệ quốc tế từ 1945 đến 1995, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội 1998, tr 5 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w