LỜI CẢM ƠNTrong quá trình thực hiện và hoàn thành đề tài “Tư tưởng giải thoát trong triết học Phật giáo và ảnh hưởng của nó đối với người dân Huế”, chúng tôi đã nhận được sự giúp đỡ tậ
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện và hoàn thành đề tài “Tư tưởng giải thoát trong triết học Phật giáo và ảnh hưởng của nó đối với người dân Huế”, chúng tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình và tạo nhiều
điều kiện thuận lợi của Trường Đại học Khoa học Huế; Khoa Lênin trường Đại học Khoa học Huế; Lớp Triết học khóa 22, khoa Mác-Lênin trường Đại học Khoa học Huế; Ban Tôn giáo tỉnh Thừa Thiên Huế; Quý thầy, cô và tăng sinh, ni sinh Viện Phật học Hồng Đức tỉnh Thừa Thiên Huế; Quý tu sỹ các chùa Thiên Minh, Từ Đàm; Gia đình và bạn bè;
Mác-Đặc biệt là sự trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ của thầy giáo Thạc
sỹ Hoàng Ngọc Vĩnh - Phó trưởng Bộ môn Triết học, Khoa Lênin, trường Đại học Khoa học Huế.
Mác-Chúng tôi chân thành, trân trọng gửi đến Trường Đại học Khoa học Huế, Khoa Mác-Lênin, Lớp triết K22, Ban Tôn giáo tỉnh, Viện Phật học Hồng Đức, Quý thầy cô, Gia đình, Thầy giáo Hoàng Ngọc Vĩnh, Quý tu sỹ và các tăng sinh, ni sinh lời cảm ơn sâu sắc nhất về sự giúp đỡ chúng tôi hoàn thành đề tài.
Chân thành cảm ơn!
Nhóm tác giả
Trang 2DẪN NHẬP (THAY PHẦN MỞ ĐẦU)
Phật giáo ra đời ở Ấn Độ cách ngày nay hơn 25 thế kỷ Ngày nayPhật giáo là tôn giáo thế giới lớn đứng thứ hai sau đạo Công giáo, nó
có ảnh hưởng lớn trong đời sống tinh thần người phương Đông, đặcbiệt ở Việt Nam và ở Thừa Thiên - Huế
Suốt gần 2000 năm lịch sử dân tộc Việt Nam vừa qua, cùng các tín
ngưỡng dân gian Việt Nam, Phật giáo cùng với dân tộc Việt Nam trải
qua bao thăng trầm thử thách trước lịch sử, góp phần tạo nên bản sắcnền văn hóa Việt Nam Ở Thừa Thiên - Huế, Phật giáo đã hòa nhậpvào nếp nghĩ, nếp sống của người dân Huế như một tín ngưỡng dângian Huế, đem từ bi hỷ xả che chở tâm hồn con người Huế vượt quamọi khổ nạn
Khác với các tôn giáo khác, giáo lý, luật lệ, lễ nghi và triết lý của họthường bị các tầng lớp thống trị phản cách mạng lợi dụng để hạ thấp
và đọa đày con người nói chung, người lao động nói riêng xuống địa
vị của những sinh vật thấp hèn; Tư tưởng Phật giáo chống đối lạinhững thế lực đó - những thế lực nấp sau lưng Thượng đế để duy trìvĩnh viễn quyền lực thống trị của mình trong các xã hội tồn tại dựatrên sự phân chia đẳng cấp Triết thuyết Phật giáo chứng minh vạn vậtđều có mâu thuẫn nội tại của nó và đều nằm trong quá trình vận độngbiến đổi không ngừng Sự biến đổi đó không do một lực lượng siêunhiên nào chi phối điều khiển đến mức an bài cả cuộc sống con người
mà con người không thể nhận thức được Phật giáo khẳng định sự biếnđổi ấy đều theo duyên sinh, nhân quả
Chính việc núp sau lưng Thượng đế của kẻ thống trị mà Phật giáo đãlấy giải thoát làm trọng tâm cho giáo lý của mình Đức Phật nói: “ Nàycác đệ tử, ta nói cho mà biết, nước ngoài khơi chỉ có một vị mặn, đạocủa ta dạy cũng chỉ có một vị là vị giải thoát” Ngài khuyên mọi ngườidẹp bỏ mọi Tham, Sân, Si và trở về với thực tại giải quyết những vấn
đề nhân sinh: “Này các vị, đừng thắc mắc rằng thế giới này là hữu hạnhay vô hạn, cõi đời này là hữu cùng hay vô cùng Dù nó hữu hạn hay
Trang 3vô hạn, hữu cùng hay vô cùng thì điều các vị phải thừa nhận trước hếtvẫn là: cuộc đời đang đầy rẫy khổ đau.” (Kinh Ahàm)
Tư tưởng chủ đạo trong triết lý giải thoát của Phật giáo là cố gắng giảithoát con người ra khỏi mọi khổ đau của cuộc đời Đây là điểm gây sựchú ý nhất cho tất cả những ai tìm hiểu, nghiên cứu tư tưởng Phậtgiáo Đây cũng là lý do mà chúng tôi chọn tên đề tài nghiên cứu của
mình là: “Tư tưởng giải thoát trong triết học Phật giáo và ảnh
hưởng của nó đối với người dân Huế”.
Là những sinh viên năm thứ ba, đứng trước một đề tài khó và rộng thếnày quả thật chúng tôi cũng rất ái ngại Nhưng được sự động viên củaquý thầy cô, gia đình và bạn bè, được sự giúp đỡ của thầy hướng dẫn,chúng tôi vẫn mạnh dạn thực hiện đề tài với mong muốn được hiểubiết thêm về triết học Phật giáo và góp tiếng nói chung cùng những aiquan tâm đến Phật giáo, Phật giáo Việt Nam và Phật giáo Huế
Chúng tôi chọn tư tưởng giải thoát Phật giáo và mối quan hệ của
nó đối với người dân Huế làm đối tượng nghiên cứu để thực hiện mục
đích của việc nghiên cứu: Nêu được một cách khái quát tư tưởng giải
thoát trong triết học Phật giáo và ảnh hưởng của nó đối với người dân
Huế Để đạt được mục đích nghiên cứu, chúng tôi phải thực hiện các
nhiệm vụ: Chỉ ra những nét đặc trưng tích cực và hạn chế của tư tưởng
giải thoát trong triết học Phật giáo; Chỉ rõ những ảnh hưởng tích cực
và hạn chế của nó trong đời sống người dân Huế trên các mặt kinh tế
-xã hội và văn hóa Đề tài được hoàn thành dựa trên cơ sở phương
pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo, chúng tôi cũng sử dụng phương pháp phân tích và tổng hợp các
tư liệu thu được qua các sách báo có liên quan đến đề tài, kết hợp vớiviệc phân tích và tổng hợp kết quả điều tra xã hội học qua các đợt thực
tế ngắn ngày ở các chùa Huế và cư dân Huế
Trong quá trình thực hiên đề tài, do còn hạn chế về kiến thức, hạn chế
về tài liệu tham khảo, hạn chế về thời gian thực hiện đề tài và nhữngđiều kiện khách quan khác, chúng tôi không tránh khỏi những thiếusót nhất định như: chưa thể khái quát một cách đầy đủ và sâu sắc về tưtưởng giải thoát của Phật giáo, về văn hóa Huế, về mọi khía cạnh ảnhhưởng của tư tưởng giải thoát Phật giáo đối với người dân Huế đề tài
Trang 4mới chỉ dừng ở việc nêu và phân tích ảnh hưởng của giải thoát luậnPhật giáo trong lĩnh vực kinh tế - xã hội và văn hóa ở Thừa Thiên -Huế mà thôi
Chúng tôi rất mong nhận được sự góp ý của quý thầy, cô giáo vàcác đọc giả để rút kinh nghiệm cho đề tài lần sau được tốt hơn
Về kết cấu của đề tài, ngoài phần dẫn nhập, kết luận, danh mụctài liệu tham khảo, đề tài có hai chương, sáu tiết
Chương 1: Khái quát chung về lịch sử Phật giáo.
1.1 Truyền thuyết về cuộc đời Phật Thich Ca và Đạo Phật.1.2 Khái lược về sự phát triển của Đạo Phật
1.3 Tư tưởng giải thoát trong triết học Phật giáo
Chương 2: Anh hưởng của tư tưởng giải thoát trong triết học Phật giáo đối với đời sống người dân Huế.
2.1 Khái lược về sự du nhập và phát triển của Phật giáo ở Việt
Nam và ở Huế
2.2 Biểu hiện của tư tưởng giải thoát trong đời sống kinh tế - xã
hội Thừa Thiên - Huế
2.3 Văn hóa Huế - Nền văn hóa có sự chung tạo của tư tưởng
giải thoát của Phật giáo
NỘI DUNG CỦA ĐỀ TÀI CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ LỊCH SỬ PHẬT GIÁO
1 1.1 Truyền thuyết về cuộc đời Phật Thích Ca và Đạo Phật.
Phật giáo là một trào lưu triết học tôn giáo xuất hiện vào khoảngthế kỷ thứ VI Tcn ở miền Bắc Ấn Độ, phía Nam dãy Hymalaya hùng
vĩ, vùng biên giới giữa Ấn Độ và Nepal lúc bấy giờ
Thời đó, xã hội Ấn Độ cổ đại đang phân chia đẳng cấp rất nghiệt ngã,đạo Balamon đang ở địa vị tư tưởng độc tôn Giáo lý, lễ nghi và luật lệcủa tôn giáo này ủng hộ và bảo vệ cho sự phân chia đẳng cấp đó ĐạoPhật ra đời là phản ánh cuộc đấu tranh phản kháng rất quyết liệt củanhân dân chống lại sự thống trị của đạo Balamon và sự phân chia đẳngcấp xã hội nghiệt ngã ấy Đạo Phật với triết lý đạo đức nhân sinh sâusắc đã trở thành một trong những ngọn cờ của phong trào đòi tự do tưtưởng và bình đẳng xã hội ở Ấn Độ cổ đại
Trang 5Theo truyền thuyết của Đạo Phật thì Thích Ca Mâu Ni là vị giáochủ sáng lập ra Đạo Phật Tên thật của Ngài là Cù Đàm Tất Đạt Đa(Gautama Siddhattha) Thân phụ là vua Tịnh Phạn (Suddhodana) vàthân mẫu là hoàng hậu Ma-da (Màỳa), dòng dõi Thích Ca (Sakaya),giai cấp Sát-đế-lợi (Khattya), ở kinh đô Ca-tỳ-la-vệ (Kapilaratthu)thuộc xứ Nepal Therai, Đông Bắc Ấn Độ
Sau khi sinh Thái tử được bảy ngày thì bà Màỳa từ trần Thái tửđược dì Mẫu là Ba-xà-Ba-Đề (Prajàpati) chăm sóc, nuôi nấng và giáodục nên người Lớn lên, Thái tử Tất Đạt Đa tỏ ra là một người thôngminh lanh lợi Đồng thời cũng luôn bộc lộ rõ vẻ trầm tư về cuộc sốngdương gian Vua Tịnh Phạn (Suddhodana) thấy cậu con trai như vậynên rất lo lắng, ông cung phụng cho Thái tử đầy đủ mọi thứ hằngmong con mình vợi và mất đi nét trầm tư Song cuộc sống vương giảtrong cung vẫn không làm cho Thái tử cảm thấy hạnh phúc
Một lần, Thái tử được phép của vua cha ra khỏi bốn cửa thànhdạo chơi, quan sát trạng thái dân gian xã hội, Thái tử đã mục kíchđược những cảnh sanh, già, bệnh, chết, lòng Thái tử trở nên u buồndao động đến cực độ Thái tử cảm thấy cuộc đời không có chi là vuisướng, là bền vững, là giải thoát, hết thảy đều là vô thường Lần kháccũng nhân lúc ra ngoài cổng thành Thái tử gặp một vị Samôn tướngmạo đoan trang, đi đứng ung dung trông có vẻ tiêu giao giải thoát, từ
đó trong lòng Thái tử xuất hiện ý tưởng xuất gia Vua cha lo sợ, nênnăm mười chín tuổi vua cha đã cưới công chúa Da-Da-Đà-La(Yasoddhara) cho Thái tử Tuy sống trong giàu sang quyền quý với sựyêu chiều của người vợ trẻ xinh đẹp, nhưng Thái tử luôn nghĩ về sựkhổ của sinh – lão – bệnh – tử và những phiền não của những bụi trần
ô trược Tất Đạt Đa suy niệm: “Chính ta phải chịu sinh, già, bệnh, tử,phiền não và ô nhiễm Tại sao ta vẫn mãi mê chạy theo những điều màbản chất không như vậy Vì chịu sinh, lão, bệnh, tử, phiền não và ônhiễm, ta đã nhận thức được sự bất lợi của những điều ấy Ta thử đitìm cái chưa thành đạt, cái tối thượng và tuyệt đối chu toàn là NiếtBàn“22; 193 “ Đời sống tại gia rất tù túng chật hẹp, là chỗ ẩn náucủa bụi trần ô trược, nhưng đời của bậc xuất gia quả thật là cảnh trờimênh mông bát ngát ! Người đã quen với nếp sống gia đình thấy khó
Trang 6mà chịu được đời sống đạo hạnh, thiêng liêng với tất cả sự hoàn hảo
và trong sạch của nó”22; 193 Sau nhiều lần thuyết phục vua chakhông thành, năm 29 tuổi, khi đã sinh hạ được cậu con trai La Hầu La(Rabula), Thái tử đã rời bỏ cung vàng ra đi tìm chân lý cho sự cưú độchúng sinh
Ban đầu Thái tử vào khu rừng xanh thuộc nước Ma-Kiệt-Đà gặpđạo ông Tiên Bụt-Già-bà (Bhagarà) Ông đã đưa ra giáo lý của mìnhcho Thái tử nhưng những giáo lý ấy Thái tử không mãn nguyện, thế làThái tử lại ra đi Thái tử nghĩ rằng: “ Phải chính mình tu thì mới tìmđược chính đạo“4; 33 Vì thế Thái tử quyết định đi sâu vào khu rừngthuộc tây ngạn sông Ni-Liên-Thuyền (Nairanjanà) để làm chốn tuhành khổ hạnh Ở đây, Thái tử tu khổ hạnh ép xác suốt sáu năm trời,mỗi ngày chỉ ăn cầm hơi một chút gạo, chút vừng, thân thể trở nên khôhéo, gầy còm, chỉ còn da bọc xương mà vẫn chưa đắc đạo Thái tửnhận ra rằng đây là một con đường tu hành lầm lẫn, nên rồi một mình,một bóng ra đi Vào một buổi trưa, Thái tử đến duới cây Tất-Bà-La(Pippala, tức là cây Bồ Đề - Bodhydnima) ở Già-Da (Yàyà) ngồi kếtgià phu, hướng mặt về phía Đông Khi bắt đầu ngồi, Thái tử thề rằng:
“Nếu ta tọa thiền-tịnh lần này mà không chứng được đạo vô thượng
Bồ Đề thì thân này dù nát cũng không chịu đứng dậy” 4; 35 Sau đó,Thái tử lặng lẽ vào thiền-tịnh suy nghĩ liên tục trong 49 ngày đêm.Ngài suy nghĩ biết được kiếp trước của mình, của người, của mọichúng sinh Đến nửa đêm thứ 49, nhằm vào ngày 08 / 12 / 528 tcn, lúcsao mai mọc thì trong tâm Thái tứ tự nhiên đại ngộ, trừ sạch hết phiềnnão, chứng được đạo quả Vô-Thượng Đại-Bồ-Đề, hiệu là Phật Thích-Ca-Mâu-Ni, khi đó Thái tử 35 tuổi
Khi Thích-Ca-Mâu-Ni đã tìm được chân lý giác ngộ cho chúngsinh và tìm ra phương pháp giải thoát cho chúng sinh, ngay lập tứcNgài bắt đầu truyền đạo, giảng đạo của mình cho chúng sinh Song,Ngài còn phân vân một điều: Giáo lý giải thoát thì tế nhị, thâm sâu, lydục, vô ngã, đi ngược với tập quán ham muốn và suy tư chấp ngã củacon người, làm sao để con người chấp nhận giáo lý của mình ? Giữalúc ấy, Phạm Thiên Sahampati xuất hiện thỉnh cầu ngài cứu thếchuyển bánh xe Pháp vì hạnh phúc của loài người Đầu tiên, Ngài
Trang 7truyền đạo cho năm người bạn cùng tu khổ hạnh trước đây với mình,
và Ngài đã thâu nhận năm người đó làm đệ tử đầu tiên Thích Ca Mâu
Ni giảng tiếp vô ngã rằng ngũ uẩn là vô thường, nếu ai thoát khỏi tham
ái, thì sẽ ra khỏi tái sinh, được giải thoát Tại đây, Ngài còn tiếp độcho bốn vị nữa, tất cả đều đắc Alahán Thế là tại Benares, Phật giáo đã
có 10 vị sư đầu tiên (trong đó có Ngài ), và mỗi người đi về mỗiphương để hoằng hóa
Trong kinh Chuyển Pháp Luân (Dhammacak kappavata nasutta) Đức Phật nói: “Hỡi này các Tỳ Khưu, có hai cực đoan (Antâ)
-mà người xuất gia (pabbajitena) phải tránh Đó là các cực đoan: Một
là đắm mình trong dục lạc (kâmasukhallikanuyoga) thấp hèn, thô bỉ,phàm tục, không xứng đáng phẩm hạnh của bậc thánh nhân là vô ích.Hai là sự tha thiết gắn bó trong lối tu khổ hạnh ép xác(Attakilamathanuyoga) là đau khổ, không xứng đáng phẩm hạnh củabậc thánh nhân và cũng không ích lợi…”22; 195 Tư tưởng triết lýcủa Đạo Phật không những được truyền bá cho dân chúng mà ngay cảphụ vương của Ngài và các hàng vương tử cũng được học, tu tập theođạo của Ngài
Từ khi Đức Phật thành đạo (528 tcn) đến lúc nhập Niết bàn là 45năm Trong 45 năm ấy, Ngài đi khắp nơi truyền đạo, hóa độ chúngsinh không mấy lúc gián đoạn Cách thức truyền đạo của Đức Phật làđối thoại và thí dụ, còn nội dung thì Ngài tùy cơ mà thuyết giảng vềNgũ giới,Thập thiện, Bát chính đạo (đối với phật tử tại gia) và về Tứđế,Thập nhị nhân duyên, Ngũ uẫn (đối với phật tử xuất gia) Năm 80tuổi, trước lúc nhập Niết bàn, Ngài triệu tập các thống lĩnh, các đệ tửđến giảng giải những điều còn hồ nghi Giảng xong bộ kinh Đại-Bát-Niết bàn, Ngài lên tòa Thất-Bảo nằm nghiêng sườn bên phải, đầuhướng về phía Bắc, chân duỗi về phương Nam, mặt ngoảnh về phíaTây rồi vào Đại-Diệt-Độ (Mahavirvàna), lúc ấy nhằm vào ngày 15tháng 2 Trước khi nhập Niết bàn (vô dư ý ), Ngài đã truyền lại tất cảnhững giáo lý nhà Phật của mình cho tôn giả MaHa Ca Diếp - vị đệ tửtối cao của Ngài
Tóm lại, con đường đến chân lý của Phật là con đường gian khổ,khó khăn: Từ một Hoàng tử sống trong vương giả, Ngài đã từ bỏ giàu
Trang 8sang phú quý, quyền uy, trãi qua biết bao năm khổ hạnh, thậm chí épxác làm cho tinh thần trở nên suy giảm Nhưng nhờ nhận thức đượcphương pháp này là sai lầm nên Ngài quyết định từ bỏ nó mà đi theophương pháp thiền định, nhờ đó mà chứng quả, đã trở thành Thích CaMâu Ni Tư tưởng Phật giáo là một học thuyết nhân sinh đạo đức cótính triết lý sâu sắc.
1.2 Khái quát về sự phát triển của Đạo Phật
Từ khi Phật Giáo hình thành đến nay đã trãi qua bốn lần Đại Hội
để hoàn thiện tư tưởng của Phật giáo:
Lần 1, tiến hành vào thế kỷ V tcn do chính các đệ tử trực tiếp củaPhật (Đại-Ca-Diếp giảng về những lời Phật dạy, A-Nan-Đa giảng vềnhững giới luật, Ưu-Bà-Ly giảng về những lời luận giải của Phật vềgiáo lý và giới luật) tổ chức và thuyết giáo Tam tạng của Phật Giáo(kinh, luật và luận) đã được hình thành từ đây nhưng chưa in thànhvăn tự
Lần 2, tiến hành vào khoảng thế kỷ IV tcn Ở đại hội này, Phậtgiáo chủ yếu bàn về việc nên hay không nên cách tân kinh luật và kinhluận Tại đây Phật giáo đã tách thành hai trường phái khác nhau: PháiThượng Tọa Bô, bao gồm chủ yếu là các tỳ kheo già, phái này chủtrương bảo vệ Phật giáo như cũ Phái Đại Chủng Bộ, bao gồm chủ yếu
là các tỳ kheo trẻ, phái này chủ trương cách tân Về sau hai phái nàylại chia thành nhiều phái nhỏ khác Hai phái này là tiền thân của ĐạiThừa vàTiểu Thừa sau này
Lần 3, được tiến hành dưới triều vua A-Sô-Ka (thế kỷ III tcn), dochính nhà vua triệu tập Được sự bảo trợ của nhà vua, Phật giáo đãthành lập các tăng đoàn và truyền bá Phật giáo rộng rãi khắp thế giới Lần 4, được tiến hành dưới triều vua Ka-Nis-Ka (125-150 scn).Đại hội này đã hoàn chỉnh kinh điển Phật giáo, kinh Phật được inthành hai thứ tiếng Paly(Nam Phạn) và Sankrit(Bắc Phạn) và tồn tạicho đến ngày nay Từ Đại hội này, Phật giáo chính thức chia thành haiphái Đại Thừa và Tiểu Thừa
Từ thế kỷ III tcn, Phật giáo phát triển thành tôn giáo chiếm địa vịđộc tôn ở Ấn Độ cho đến thế kỷ thứ VI Từ thế kỷ VI đến thế kỷ thứXII, Phật giáo suy yếu dần ở Ấn Độ do sự phát triển cạnh tranh của
Trang 9Đạo Hin Đu và Hồi Giáo Năm 1193 Hồi giáo đã đập phá tất cả cácchùa, đuổi tất cả sư sãi Phật Giáo ra khỏi Ấn Độ Cho mãi tới thời cậnhiện đại Phật Giáo mới phát triển trở lại ở Ấn Độ Trên thế giới, kể từthế kỷ thứ III tcn Phật giáo phát triển nhanh ở nhiều nước, nhất là khuvực Đông Nam Á Ngày nay, Phật Giáo có mặt hầu hết ở năm châu và
là tôn giáo thế giới lớn đứng thứ hai sau Công Giáo
Ở Việt Nam, Phật Giáo truyền đến bằng nhiều con đường: Trực
tiếp từ các nhà buôn Ấn Độ, hoặc gián tiếp qua các nhà buônMalaixia, hoặc qua giao lưu với các nền văn hóa Lào, Cămpuchia,Thái Lan, Miến Điện v.v Phật giáo Trung Quốc truyền sang Việt Nammuộn hơn nhưng lại ảnh hưởng sâu sắc hơn trong tín ngưỡng PhậtGiáo của Việt Nam
Vào thế kỷ thứ I, Phật Giáo Việt Nam đã rất phát triển, Việt Nam
đã có trung tâm Phật học lớn tại Luy Lâu Theo cụ Trần Văn Giáp,trong “Thuyền Uyển tập anh ngữ lục” do thượng tọa Mật Thể dịch, thì
từ thế kỷ thứ II đến thế ký thứ VII Phật giáo Việt Nam hưng thịnh hơnPhật Giáo Trung Quốc, Ở thế kỷ thứ V, các vua Trung Quốc phải mờicác thiền sư giỏi ở Việt Nam sang giảng đạo và dạy dỗ cho các thái tửTrung Quốc, trong đó nổi bật là các Thiền sư Thích Đạo Hiền, ThíchHuệ Thắng Từ thế kỷ thứ VII đến thế kỷ thứ XIII Việt Nam chịu ảnhhưởng nhiều của Phật Giáo Trung Quốc với các phái Thiền Tỳ NiĐaLưu Chi, Vô Ngôn Thông, Thảo Đường Từ thế kỷ XIII trở đi ViệtNam có thiền phái riêng của dân tộc mình là thiền phái Trúc Lâm ởYên Tử do vua Trần Nhân Tông sáng lập và là sơ tổ Ngoài ra đến thế
kỷ XVII - XVIII, Việt Nam tiếp tục chịu ảnh hưởng của Phật giáoTrung Quốc bởi hai thiền phái Tào Động và Lâm Tế Trong “ViệtNam Phật giáo sử luận” tác giả Vân Thanh còn chỉ ra ở thế kỷ XVIIInước ta có tiếp nhận phái thiền Liên Tôn của Trung Quốc, thật ra LiênTôn là trá hình của Trúc Lâm Yên Tử xem 19;
Trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc, Phật giáo Việt Nam luôn cónhững đóng góp không nhỏ cho sự vận động, phát triển của đất nước.Thời Lý, Trần Phật giáo gần như chiếm địa vị độc tôn trong đời sốngtinh thần người Việt, và đã xuất hiện những vị sư giỏi, có đạo hạnhcao và có công với đất nước như: Quốc sư Vạn Hạnh, Thiền sư Pháp
Trang 10Thuận, Thiền sư Khuông Việt, Cư sỹ Tuệ Trung Thượng Sỹ, vị vuathiền sư Lý Thánh Tông, vị vua thiền sư Trần Nhân Tông xem 3;70 Qua hai ngàn năm thâm nhập, Phật giáo ở Việt Nam đã được coinhư là tín ngưỡng truyền thổng của ngưòi Việt.
Ở Huế và Đàng Trong, rất có thể trước đó đã có Phật giáo truyền
bá ở đây, do chưa có tư liệu chính xác nên chưa thể khẳng định là pháinào Từ khi là lãnh thổ của Việt Nam do người Việt Nam làm chủquyền, thì Huế và Đàng Trong tiếp nhận trực tiếp từ Trung Quốc haiphái thiền: Lâm tế (1665-1712), Tào động (khoảng 1695 trở đi) Giốngnhư Đàng Ngoài, vào năm 1733 Đàng Trong có phái thiền của ngườiViệt do người Việt làm sơ tổ Đó là phái Liễu Quánxem 3; 46, 47.Phái này phát triển mạnh từ Huế vào Phú Yên và tồn tại cho đến ngàynay
Thời các chúa Nguyễn và các vua Nguyễn, họ đưa Nho giáo lên
vị trí độc tôn nhưng luôn sử dụng Phật giáo với tư cách là ngọn cờ đểthu phục nhân tâm
Thời thuộc Pháp và Mỹ xâm lược, Phật giáo Việt Nam bị bọn xâmlược kỳ thị, o ép Nhưng chính vậy mà phong trào Phật giáo yêu nước
vì hòa bình và độc lập dân tộc luôn sống mãi trong lòng nhân dân ViệtNam và nhân loại tiến bộ Ngày nay đồng bào theo đạo Phật đang thiđua hoằng dường Phật pháp và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủnghĩa giàu mạnh, văn minh và phát triển
II 1.3 TƯ TƯỞNG GIẢI THOÁT TRONG TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO
1.3.1 Căn nguyên tư tưởng giải thoát trong triết lý nhà Phật.
Có thể nói, không một tôn giáo nào trên thế giới lại có giọngthiết tha thâm trầm đối với nổi đau khổ của thế gian như ở Phật giáo:
”Nước mắt chúng sinh trong ba ngàn thế giới đem chứa tích lại cònnhiều hơn nước trong bốn bể “ Xem 21; Phải chăng cảnh tượng lúcbấy giờ đầy rẫy những bất công đau khổ đã khiến cho mọi người đềucảm thấy nổi đau khổ của nhân loại ? Điều này cũng đòi hỏi Phật giáophải hướng đến tư tưởng giải thoat cho mình và cho chúng sinh
Theo “Phật học từ điển“ của Đoàn Trung Còn, quyển nhứt, Phậthọc Tòng thơ, Sài Gòn 1966 thì “Giải thoát“ (Morksha) cần được hiểu
Trang 11như sau: Giải là lìa khỏi sự trói buộc, được tự tại, mở những dây tróicủa nghiệp lầm Thoát là ra ngoài quả khổ tam giới (Dục, Sắc, VôSắc) Chẳng hạn như giải thoat đối với kết (thắt, buộc), hệ phược (tróibuộc) Giải thoat có các nghĩa:
- Giải thoát là niết bàn, là thể niết bàn, vì lìa tất cả sự trói buộc(giải thoát khỏi ngũ uẩn cũng gọi là năm loại niết bàn);
- Giải thoát cũng là thiền định, vì nhờ thiền định mà thoát khỏivòng trói buộc, trở nên tự tại (Chẳng hạn như Tam giải thoát, Bát giảithoát, Bất tư nghị giải thoát);
- Giải thoát là một phần trong Ngũ phần pháp thân
Chính vậy Đạo Phật cũng gọi là Giải thoát đạo, Giải thoát hạnh,Giải thoát giới Áo cà sa cũng gọi là giải thoát phục, giải thoát y
Giải thoát có hai loại:
1) Tính tịnh giải thoát, tức bản tính của chúng sinh vốn là thanhtịnh không có cái hướng hệ phược (trói buộc), ô nhiễm
2) Chủng tận giải thoát, tức bản tính của chúng sinh nói chung làthanh tịnh, nhưng vì từ vô thượng đến nay chúng sinh luôn bị phiềnnão làm mê hoặc, chẳng thể hiện được bản tính của mình, vậy nên mớiphải đoạn tuyệt với cái hoặc chướng ấy mà được giải thoát, tự tại Giải thoát cũng có hai cách về sự và lý:
1) Về sự tức là giải thoát khỏi vòng khổ não, tai nạn đương tróibuộc cái thân (chẳng hạn giải thoát khỏi địa ngục, ma quỷ, súc sinh);Giải thoát khỏi mọi pháp luật (quy luật của mọi vạn pháp)
2) Về lý tức là giải thoát tất cả mọi nỗi phiền não, những duyênluyến ái đã từng trói buộc cái tâm (chẳng hạn giải thoát luân hồi để đạtquả thánh: Alahán, Bồ tát, Phật, Giác ngộ)
Về lý giải thoát cũng có hai lẽ:
1) Tâm thiện giải thoát, tức tâm - ý khéo giải thoát thì lìa khỏi cáctrói buộc Tham –Sân –Si
2) Huệ thiện giải thoát, tức trí huệ khéo giải thoát không bịchướng ngại bởi một pháp nào cả, biết rõ và thông hiểu tất cả Hai lẽnày là giải thoát cúa Bồ tát
Như vậy, giải thoát theo triết lý Phật giáo tức là trạng thái tinh
thần con người vượt ra khỏi mọi sự ràng buộc của thế giới nhục dục,
Trang 12là sự “diệt“ hết mọi dục vọng, dập tắt ngọn lưả duc vọng để đạt tới cõiNiết bàn (Nirvana) với cái tâm tuyệt đối thanh tịnh Giải thoát tức làgiải thoát tất cả những mối phiền não, những dây phiền não đã tróibuộc cái tâm, làm mê tâm mờ tính do nhục dục quyến rũ Khi conngười ta được giải thoát cũng chính là con người ta đạt tới sự siêuthoát, nghĩa là họ vượt sự trỏi buộc của thế giới trần tục, thoát khỏi sựchi phối của dục vọng, sinh tử, phiền não, sống hoàn toàn thanh thoát
tự tại Giải thoát là thấu suốt lý nhân sinh để đạt tới thể “không tịch”.Song đạt tới thể không tịch không có nghĩa là trở về với cái hoàn toàn
hư vô, mà thưc ra là để xóa bỏ thành kiến chấp ngã hẹp hòi bởi thếgiới đang tồn tại là thế giới vô ngã, để từ đó có thể thấu đạt tư tưởng:
“chư hành vô thường, vạn pháp vô ngã, hết thảy đều là không“ củapháp ân Triết lý Phật giáo cho rằng xuất phát điểm của tư tưởng giảithoát là từ nỗi khổ của cuộc đời con người Vì vậy muốn được giảithoát thì cần dập tắt mọi dục vọng, trở về với chân bản tính của mình Những nỗi khổ đè nặng lên cuộc đời con người lại được quanniệm nằm ngay trong thân thể, trong ý trí, tình cảm, trong kiếp người
và trong cả thế giới hiện tượng biến đổi vô thường Từ những nổi khổcủa cuộc đời nó thôi thúc con người vươn lên mơ ưóc một cõi hạnhphúc lý tưởng tuyệt đối Triết lý giải thoát Phật giáo không chỉ có trêncon đường hướng đến mục đích thoát khổ Giải thoát trong Phật giáocòn đặt ra câu hỏi khiến con người luôn khát khao tìm kiếm như: Bảnchất và ý nghĩa tối cao của cuộc đời là gì? Cái gì là giá trị cao cả và
là cứu cánh của cuộc sống con người ? Điều đó đã làm cho mọi quanniệm của thế tục lấy vật chất, của cải, danh lợi, sinh tử làm thước đo
đời sống trở nên hết sức nhỏ bé và tầm thường Chính thế, trong xã
hội Thừa Thiên - Huê, khi đến chùa người ta không cầu trở thành triệu phú, mà chỉ mong có người giải đáp cho họ những thắc mắc về bản chất và ý nghĩa đích thực của đời sống.
Tất cả những điều đã lý giải đó thực sự mang ý nghĩa sâu sắc,nhưng có lẽ nó vẫn chưa đủ để vạch rõ ý tưởng giải thoát trong triết
học Phật giáo Bởi thế mới chỉ dừng lại ở chỗ cho rằng, xuất phát điểm
của tư tưởng giải thoát là từ nỗi khổ của con người và từ đó dẫn conngười ta thấy được nỗi khổ của cuộc đời, nên nó thôi thúc con người ta
Trang 13vươn tới khát vọng và ý hướng giải thoát Giải thoát còn phải chỉ ra
được nổi khổ ấy bắt nguồn từ đâu ?.
Phật giáo quan niệm: Sở dĩ con người ta mắc vào vòng tróibuộc của những nổi khổ chính là do con người vô minh Tất cả sự vậtcủa thế giới này, cũng như con người đều là vô thường vô ngã, luôntrong trạng thái biến chuyển không ngừng Không có cái gì là thườngtrụ, bất biến cả Không thật có vật, có ta, có cảnh Tất cả chỉ là giảtưởng Để tránh khỏi mê lầm, thoát khỏi những phiền não, con người
ta phải dập tắt mọi dục vọng để trở về với cái tâm thanh tịnh, tịnh diệt,không đồng vọng bằng con đường thiền định, tu luyện đạo đức, chiêmnghiệm nội tâm lâu dài
Kimiva TaiKen cho rằng: “đối với vạn hữu, đặc biệt là tự thân conngười, người ta cảm thấy so sánh, đối chiếu giữa cái chân tướng và giảtướng của vạn vật Và do cái ý hướng muốn xa lìa giả tướng để về vớichân tướng mà sinh ra giải thoát“1; 54 Nhưng tu luyện trí tuệ, giácngộ để diệt dục, phá vô minh ở đây không phải là sự nhận thức bằngcảm giác hay lý trí Bởi cảm giác chỉ lôi kéo con người ta sa vào sựquyến rũ của thế giới vật dục Còn lý trí, tuy sâu sắc nhưng lại là cái
gì hạn hẹp, nhỏ bé luôn bất lực của trí tuệ trước những cái sâu kín, vôhạn, tuyệt đối Trước cái thực thể sâu kín là bản chất của thiên hìnhvạn trạng bề ngoài và từ mọi lương tâm tỏa ra, chúng ta cần có một cơquan, một cách nhận thức hoàn hảo hơn ngũ quan và lý trí Đó là sự trigiác trực tiếp, sự đốn ngộ hay trực giác (intuition) - một năng lực nhậnthức đặc biệt, trực tiếp nắm bắt chân lý không cần kinh nghiệm và lýtrí “Cái giác tự thâm tâm sau khi đã tự ý hết sức khép kín cánh cửacủa ngũ giác quan” 1; 55 Chính vì thế mà triết lý Phật giáo đề cao
“Tam học“ (giới, định, tuệ) và coi đó là phương pháp giác ngộ cơ bản Như vậy, nguồn gốc của nỗi khổ - điểm xuất phát của tư tưởnggiải thoát - được các trường phái triết học Phật giáo quy về bình diệnnhận thức, hay bình diện tinh thần, tâm lý đạo đức Đúng như KimuraTaiken đã viết: “Đối với nhân sinh Phật giáo cho là khổ, bởi vậy mớilấy tự do, giải thoát làm tiêu chuẩn lý tưởng Song sự khổ não và tróibuộc ấy không phải sự thực tồn tại khách quan mà là căn cứ vào thái
độ của tâm ta cả, nghĩa là cứ khư khư chấp lấy cái “ngã” giả dối cho
Trang 14cái “ta” chân thực rồi trù mưu, tính kế để làm cho nó thõa mãn mọiham muốn của cái ta ấy, nên mới có khổ não trói buộc Nếu ta có thểvượt hẳn ra ngoài vòng tham dục của cái “ngã” nhỏ nhoi âý thì khôngnhững ta sẽ không thấy khổ, không thấy trói buộc mà trái lại, ta sẽthấy một cảnh giới tự do và yên vui vô hạn“1; 55.
Nhưng thực ra, nỗi khổ của cuộc đời và khát vọng vươn lên giảithoát con người khỏi nỗi khổ ấy là bắt nguồn từ đời sống của xã hội.Suy cho cùng, nó chính là sự phản ánh những đặc điểm của tính chấtsinh hoạt xã hội và những mâu thuẫn, những xu thế, yêu cầu tất yếutrong đời sống xã hội đương thời Tư tưởng giải thoát trong triết họcPhật giáo không thể không mang đặc tính ấy Chỉ bằng cách xem xétnhư vậy mới có thể vạch ra một cách đúng đắn đích thực của tư tưởnggiải thoát trong triết lý Phật giáo Jawaharlah Nehru khi nhận xét vềtriết học Phật giáo đã nhấn mạnh rằng: “Không thể không đồng ý rằngmột nền văn hóa hay một nhân sinh quan dựa trên thuyết thế giới bênkia hay sự vô giá trị của thế giới lại có thể sản sinh ra tất cả nhữngbiểu hiện về cuộc sống mạnh mẽ và muôn vẽ như thế …”1; 56 và
“Thông thường thì mỗi tư tưởng đều liên quan đến cơ cấu đời sốngđang thay đổi“1; 56 Điều đó hoàn toàn phù hợp với quan điểm củaKarl Marx và F Engel đã khẳng định: “Ý thức không bao giờ có thể làcái gì khác hơn là sự tồn tại được ý thức … không phải ý thức quyếtđịnh đời sống ý thức …“1; 56 và 57 Tuy nhiên cũng cần phải nóirằng, ý thức xã hội không bao giờ phản ánh tồn tại xã hội một cáchcứng nhắc, giản đơn trực tiếp mà nó trãi qua nhiều khâu trung gian hếtsức tinh tế và linh hoạt
Trong quan hệ với tự nhiên, đứng trước những lực lượng thiênnhiên đa dạng, khắc nghiệt đầy bí ẩn, luôn gây cho con người nhữngtai họa khủng khiếp và những bất trắc khôn lường, người Ấn Độ cổvới trình độ sản xuất lạc hậu và trình độ nhận thức còn thấp kém, đãnhận thấy thân phận mình hết sức mong manh, nhỏ bé khi đứng trướcnhững thực trạng đó Họ luôn phải sống trong tâm trạng lo âu hồi hộp.Thêm vào đó, thì sự trì trệ trong quan hệ xã hội với chế độ chiếm hữu
nô lệ, chế độ phân biệt đẳng cấp hết sức hà khắc làm cho con ngườicàng cảm thấy cuộc đời đầy rẫy những bất công đau khổ Ước mơ giải
Trang 15thoát khỏi những nổi khổ của cuộc đời đã trở thành khát vọng của mổingười Cũng chính vì thế mà Phật giáo ra đời cũng tập trung vào lýgiải bản chất, ý nghĩa tối cao của cuộc sống, tìm ra căn nguyên của nổikhổ và vạch ra con đường để giải thoát con người ra khỏi những lo âukhổ não và cảnh sinh tử của cuộc đời mà họ đang phải gánh chịu.Nhưng đứng trước lực lượng tự nhiên và hoàn cảnh xã hội khắcnghiệt, tàn bạo, họ không thể tìm thâý chỗ dựa cho cuộc đời mình, họbuộc phải đi tìm sư an ủi trong đời sống tinh thần đạo đức, tâm lý, nơisâu thẳm của tâm linh con người ở nơi tôn giáo Những ước vọng đó
đã trờ thành cưú cánh cho đời sống của họ và chúng cũng đã trở thànhvấn đề trung tâm trong triết học Phật giáo
1.3.2 Nội dung tư tưởng giải thoát thể hiện qua lý Nhân duyên khởi và Tứ diệu đế - nền tảng của giáo lý Phật giáo
Có thể nói rằng đỉnh cao của tư tưởng giải thoát trong triết học,tôn giáo Ấn Độ Cổ đại là triết lý giải thoát của Phật giáo Ở đó có sự
kế thừa, chắt lọc, dung hợp và cả sự hoàn thiện những mặt mạnh và cảnhững mặt yếu của tất cả những quan điểm, những phương pháp, cácchủ trương gíải thoát của các trường phái triết học, tôn giáo vào thời
đó
Trái với quan điểm của thánh kinh Véda, Upanishad và cácmôn phái triết học tôn giáo đương thời đều thừa nhận sự tồn tại củamột thực thể siêu nhiên tuyệt đối, tối cao, sáng tạo và chi phối đến tinhthần vũ trụ (Brahman, Atman), Đạo Phật cho rằng vũ trụ này là vôthủy vô chung, vạn vật trong thế giới này chỉ là dòng biến hóa vôthường, duyên sanh vô định, không do một vị thần nào sáng tạo nên
cả Sở dĩ tất cả các sự vật hiện tượng trong thế giới này luôn bíến đổikhông ngừng nghĩ là bởi vì trong vũ trụ từ cái vô cùng nhỏ đến cái vôcùng lớn đều không thoát khỏi luật nhân quả hay còn gọi là luật “Nhân duyên khởi ” Theo triết lý này thì cái gì phát động ra ở vật, gây
ra một hoặc nhiều kết quả được gọi là “Nhân“ (hetu), cái gì được kếttập từ “nhân“gây ra thì được gọi là “quả“ (phala) Còn “Duyên“(pratitya) lại chính là điều kiện là mối liên hệ để giúp “nhân” biếnthành “quả“ Như vậy, “nhân“ nhờ “duyên“ mới thành “quả“, “quả”lại nhờ “duyên“ mới biến thành “nhân“ mới, “nhân“ mới lại nhờ
Trang 16“duyên“ mới biến thành “quả“ mới Cứ như thế mà thế giới nối tiếpnhau biến hóa vô cùng vô tận và vì vậy mà mọi sự vật hiện tượng cứsinh sinh hóa hóa mãi, quá trình đó được Phật giáo gọi là “Chư hành
vô thường“ Dừng ở đây, triết học Phật giáo có tính biện chứng vôthần sâu sắc
Trong sự vận động của thế giới sự vật hiên tượng, con người làmột thực thể sống trong thế giới vận động đó Do vậy, ngay chính bảnthân con người cũng do “nhân – duyên“ kết hợp mà thành Conngười được cấu tạo bởi hai thành phần thể xác và tinh thần, hai thànhphần này là kết quả tan – hợp, hợp – tan của ngũ uẩn, duyên hợp ngũuẩn lại thì ra “ta“, duyên tan ngũ uẩn thì không còn “ta“, mà là diệt.Nhưng đó không phải là sự mất đi mà là sự trở lại với ngũ uẩn và ngay
cả mỗi yếu tố của ngũ uẩn (sắc, thụ, tưởng, hành, thức) cũng luôn luônbiến đổi không ngừng theo luật nhân – quả Như vậy, vạn vật chúngsinh cứ biến hóa vô thường, vụt mất vụt còn, không có thực thể, không
có một hình thức nào tồn tại riêng lẻ và vĩnh viễn, không có cái tôithường định, không có bản ngã hay cái ngã cá nhân bất biến (vạn pháp
vô ngã) Nhưng do không thấy được nguồn gốc của sự biến đổi vôcùng vô tận của vạn vật và chúng sinh là do đâu và như thế nào, nêncon người đã lầm tưởng rằng ta tồn tại mãi mãi, cái gì cũng thườngđịnh, cái gì cũng là của ta, do ta Vì thế mà con người cứ khát ái thamdục, dẫn đến hành động để chiếm đoạt để thõa mãn những dục vọngcủa mình, tạo ra những kết quả gây nên nghiệp báo (Karma), mắc vào
bể khổ trầm luân Đức Phật cũng có dạy rằng: “Này chư tỳ khưu, NhưLai không thấy dây trói buộc nào khác mà chặt chẽ cột trói chúng sanhlâu dài, dai dẳng, thênh thang và hối hả bất định xuyên qua vòngquanh những kiếp sinh tồn như trói buộc của ái dục Quả thật vậy, nàychư tỳ khưu, bị thằng ái dục cột trói, chúng sanh lê bước thênh thang
và hối hả bất định trong vòng luân hồi“14; 116 Ái dục chính lànhững khát vọng mù quáng của chúng sanh đã gây nên sân hận và tất
cả mọi khổ đau phiền lụy Vì vậy việc đầu tiên theo Phật Tổ, để giúpcon người thoát ra được bể khổ triền miên đó là phải diệt ái dục;Tiếng nói của sự giải thoát khổ đau phải là tiếng nói của duyên sinh vôngã
Trang 17Theo Hòa thượng Thích Chơn Thiện, trong quyển “Phật học kháiluận” của Viện nghiên cứu Phật học Việt Nam ấn hành năm 1997 thìduyên sinh được quan niệm như sau: “Duyên khởi là gì ? Thế Tônđịnh nghĩa: Do vô minh có hành sinh; do hành có thức sinh; do thức
có danh sắc sinh; do danh sắc có lục nhập sinh; do lục nhập có xúcsinh; do xúc có thọ sinh; do thọ có ái sinh; do ái có thủ sinh; do thủ cóhữu sinh; do hữu có sinh sinh; do sinh có lão tử, sầu, bi, khổ, ưu, nãosinh, hay toàn bộ khổ uẩn sinh Đây gọi là duyên khởi (hay duyênsinh)“ 7; 166
Ông còn nói rằng: “Nhưng do ly tham, đoạn diệt vô minh một cáchhoàn toàn nên hành diệt Do hành diệt nên thức diệt Do thức diệt nêndanh sắc diệt Do danh sắc diệt nên lục nhập diệt Do lục nhập diệt nênxúc diệt Do xúc diệt nên thọ diệt Do thọ diệt nên ái diệt Do ái diệtnên thủ diệt Do thủ diệt nên hữu diệt Do hữu diệt nên sanh diệt Dosanh diệt nên lão tử, sầu, bi, khổ, ưu, não diệt Như vậy là toàn bộ khổuẩn này đoạn diệt Này các tỳ kheo, như vậy gọi là đoạn diệt“7; 166.Như vậy, khi nào thập nhị nhân duyên khởi thì khổ uẩn khởi, ngượclại khi thập nhị nhân duyên đoạn diệt thì khổ uẩn cũng đồng thời đoạndiệt
Qua thập nhị nhân duyên cũng đã phần nào khái quát nỗi khổ củacon nguười là do đâu mà có Tuy nhiên, con đường giải thoát chúngsinh cũng như tư tưởng giải thoát khổ đau không chỉ thể hiện qua lý
“Nhân duyên khởi“ mà còn được thể hiện trong học thuyết “Tứ diệuđế” (Catvary Arya Satya) - tư tưởng xuyên suốt toàn bộ hệ thống kinhsách nhà Phật Cùng với “lý nhân duyên khởi”, học thuyết “Tứ diệuđế” đã trở thành nền tảng cho giáo lý nhà Phật Thông qua các thuyếtnày, Phật giáo không chỉ vạch rõ con đường, cách thức để giải thoátchúng sinh ra khỏi nghiệp báo luân hồi và những nổi khổ của cuộc đờicon người, mà chúng còn tìm ra nguồn gốc của nỗi khổ của cuộc đờicon người, chỉ ra căn nguyên biến đổi không ngừng cúa vũ trụ và thếgiới Chính ở đây chứ không đâu khác đã thể hiện rõ nét và tập trungnội dung tư tưởng giải thoát đặc sắc của triết lý Phật giáo Triết lý Phậtgiáo phủ nhận thế giới quan thần quyền cũng như quan điểm về cái tôi
cá nhân bất biến Phật giáo không tán thành cách tu luyện ép xác khổ
Trang 18hạnh để có thể giải thoát (của đạo Jaina), cũng như phê phán chủ nghĩakhoái lạc vật chất (của trường phái Lokayata) Theo Phật giáo thì cảhai khuynh hướng đều không thể dẫn đến trạng thái diệt ái dục mộtcách trọn vẹn Tu luyện khổ hạnh sẽ làm suy giảm trí lực do đó khó cóthể đạt tới minh giác, còn nếu sa vào thế giới vật chất tức là đã sa vàothế giới vật dục, là đam mê theo đuổi cái giả tưởng, làm lu mờ tâmtính, điều này dẫn đến sự chậm trễ trong tiến bộ tinh thần Vì vậy, theoPhật giáo con đường đúng đắn nhất để đạt tới giác ngộ và giải thoát làcon đường trung đạo Trong kinh Chuyển Pháp Luân Đức Phật đã nói:
“Người xuất gia có hai cực đoan cần tránh, một con đường thấp hènchủ trương cuộc sống chỉ cần khoái lạc, một con đưòng cực nhọc vôích như chủ trương của phái khổ hạnh ép xác Con đường trung đạo thì
ở giữa hai thái cực kia, có thể dẫn đến giác ngộ và giải thoát“1; 167
Như vậy, Đức Phật đặc biệt nhấn mạnh và nhắc nhở người xuất gia
phải tránh những điều thái quá hay những điều cực đoan khi xác định con đường giải thoát chúng sinh
Con đường giải thoát đó được thể hiện trong triết lý của Phật giáo
như sau: Đầu tiên, thể hiện trong thuyết Tứ diệu đế, tư tưởng giải thoát
Phật giáo có xuất phát điểm từ nỗi khổ của cuộc sống con người Theoquan điểm của Phật giáo, thì ngay việc con người sinh ra và tồn tại thìcon người lại càng rơi vào vô minh, rơi vào những ảo tưởng giả tạo.Chính vì thế nhiệm vụ và mục đích tối cao của sự giải thoát chính làxóa bỏ sự vô minh của con người để đạt tới sự giác ngộ với cái tâmsáng tỏ, có thể nhận ra chân bản tính của mình và thực tướng của vạnvật Có vậy mới dập tắt được ngọn lửa ái dục, thoát ra mọi khổ nãocủa cuộc đời để đạt đến cõi Niết bàn (Nirvana) Vì vậy, mà Đức Phật
đã đưa Khổ đế thành chân lý thứ nhất Triết lý của Đạo Phật khẳngđịnh thực tại nhân sinh là khổ Phật đã nói trong kinh Chuyển PhápLuân rằng: Sinh là khổ, lão là khổ, bệnh là khổ, tử là khổ, oán tăng hội
khổ, thụ biệt ly khổ, thụ ngũ uẩn khổ, sở cầu bất đắc khổ Như vậy ,
với Bát Khổ mà Ngài đưa ra cũng đã khái quát rằng cuộc đời con người vốn đã là bể khổ
Thứ hai, trong Tập Đế, Ngài đã nêu ra và lý giải căn nguyên của
nổi khổ, tức chỉ ra nguồn gốc, nguyên nhân của mọi nổi khổ Cũng
Trang 19như ở thuyết “Nhân – Duyên khởi“, nguyên nhân chính để gây nên nổikhổ của con người chính là lòng ái dục Nhưng sở dĩ có ái dục là vì sự
vô minh, từ cái mê lầm của con người do không nhận thức được bảnchất của thế giới Con người muốn tồn tại mãi nhưng thực tại lại cứluôn biến dịch, con người muốn trường tồn nhưng cuộc đời cứ luânchuyển không ngừng nghĩ theo quy trình: sinh – lão – bệnh – tử; thành– trụ –hoại –không; sanh – trụ –dị – diệt Vì thế, con người mới sinh ralòng tham, lòng sân, lòng si, chiếm đoạt để rồi gây nên những nổi khổtriền miên trong đời Cùng với “Nhân duyên khởi”, Đức Phật đưa rathuyết “Thập nhị nhân duyên“ để giải thích căn nguyên nổi khổ ấy,cùng với đó cũng vạch ra mối liên hệ của nghiệp từ quá khứ tới hiệntại, rồi từ hiện tại tới tương lai Mười hai duyên đó là: vô minh, hành,thức, danh sắc, lục nhập, xúc, thụ, aí, thủ, hữu, sinh, lão tử Mười haiduyên này nối tiếp nhau, chúng liên hệ và chuyển hoá cho nhau, chúngvừa là “nhân“ vừa lại là “quả“ của nhân
Thứ ba, để con người có thể được giải thoát khỏi bể khổ thì phải
diệt khổ, đó chính là mục đích tối cao của sự giải thoát Chân lý tối
cao mà Đức Phật đưa ra đó là diệt đế Phật Tổ nói rằng: “Đó là sự xa
lánh trọn vẹn, là sự tận diệt chính cái ái dục ấy Đó là sự rời bỏ, sựkhước từ, sự thoát ly và sự tách rời ra khỏi tâm ái dục Đó là chân lýcao thượng về sự diệt khổ“1; 170, để đạt tới trạng thái Niết bàn; Niếtbàn được xem là trạng thái tuyệt đối: trạng thái không tịch, diệt trừmọi danh sắc, cảm giác, ý thức, trạng thái diệt mọi ái dục, vô vi, thanhtịnh, là hoàn thiện, vĩnh hằng, bất tử… Chính vì thế mà Long Thọ BồTát đã viết: “Niết bàn là ngừng định, ngừng hết tư tưởng vô và hữu,sắc và không“1; 171
Thứ tư, để thực hiện được mục đích và lý tưởng giải thoát, để đạt
tới trí tuệ bát nhã, Phật giáo đưa ra thuyết về Đạo Đế Đạo đế là quanđiểm về con đường, cách thức hay phương pháp giải thoát của ĐạoPhật Trong đó, con đường trung đạo như đã nói ở trên với thuyết tiêubiểu là “Bát chính đạo” Tám con đường đó là:
1) Hiểu biết nhận thức đúng đắn (chính kiến)
2) Suy nghĩ chân chính (chính tư duy)
3) Hành động , làm việc chân chính (chính nghiệp)
Trang 204) Chỉ nói những điều hay, đúng (chính ngữ).
là quan điểm của Phật giáo về mục đích và nhiệm vụ tối cao của sựgiải thoát, mục đích và nhiệm vụ ấy là xóa bỏ mọi vọng tưởng, thoátkhỏi mọi sự ràng buộc của thế giới vật dục, diệt ái dục để có thể giácngộ, đến với Niết bàn Còn Đạo Đế là con đường và cách thức giảithoát, đó là “Bát chính đạo“
Phải nói rằng trong thời đại ngày nay, khi ta đem “Bát chínhđạo“ ra để mà nghiên cưú, suy ngẫm thì nó vẫn còn giá trị và phù hợpvới điều kiện sống hiện thực Bởi vì, tám con đường mà Phật Tổ dạy
đó, về cơ bản không có điểm gì gây trở ngại cho tình trạng phát triểntốt đẹp của con người, của xã hội Chỉ có điều, giải pháp cho vấn đềnày không gì khác ngoài việc con người phải được giáo huấn “Bátchính đạo“ và theo chư Phật thì tất cả những vấn đề của đời sống đangdồn dập tấn công con người có thể thâu gọn lại thành vấn đề duy nhất
- ấy là nỗi khổ
“Bát chính đạo“ của Đức Phật được mở rộng cho tất cả, không
có sự phân biệt giàu – nghèo, nam – nữ, già – trẻ, hễ người nào đọc vàhành theo “Bát chính đạo“ thì có nghĩa là họ đang đi trên con đườngdẫn đến trạng thái tâm lành mạnh để giúp họ đến được cõi Niết bàn,tức là con người đã được giải thoát ra khỏi bể khổ trầm luân
Giải thoát trong Phật giáo không chỉ có thể đạt được sau khi chết
mà nó còn có thể được thực hiện ngay ở hiện tại khi mà ta có thể từ bỏmọi luyến ái, mọi sự ràng buộc của thế giới vật dục,… để tâm hồn
Trang 21mình được thanh thản, an lạc Bên cạnh đó, trong triết lý giải thoát củamình, Phật giáo cho rằng khi đã đắc đạo, giác ngộ, nhập cõi Niết bànthì ngay cả “Bát chính đạo“ hay những ý niệm liên quan cũng đều phải
từ bỏ nốt Đức Phật đưa ra hình ảnh con đường giải thoát cũng giốngnhư con đường đưa người ta sang sông mê, khi đã qua được tới bờ rồithì phải biết từ bỏ con thuyền ấy chứ nếu cứ giữ nó thì không thể vượt
được bến mê Đức Phật thường khuyên răn mọi ngưòi rằng: Hãy ít
tụng niệm nhưng hành động đúng đạo pháp, diệt tham, sân, si; tri kiến chân tính; giữ tâm thanh tịnh, không luyến ái; tại đây và về sau người
ấy sẽ chứng nghiệm thành quả của đời sống phẩm hạnh thiêng liêng
(Kinh Pháp Cú)
Như vậy, với tư tưởng giải thoát mà Đức Phật đưa ra đã thể hiệnrất sâu sắc tính chất nhân bản, nó quan tâm đến thân phận và đời sốngcủa mỗi con người, giúp con người thoát khỏi những nổi khổ của cuộcđời, tìm cho họ một niềm tin trong cuộc sống, một chỗ dựa vững chắc
và chỗ dựa vững chắc âý không ở đâu xa lạ mà chính ngay trong tâmmỗi người
1.3.4 Tiểu kết.
Tư tưởng giải thoát trong triết học Phật giáo khác với các trườngphái Lokayata, Jaina Trường phái Jaina chủ trương giải thoát bằngcon đường tu luyện ép xác, khổ hạnh có tính cực đoan theo giới luậtahimsa (tức là không giết bất cứ một sinh vật nào, từ chối mọi lạc thúcủa xã hội bên ngoài Trường phái Lokayata chủ trương một quanđiểm triết lý nhân sinh, đạo đức hoàn toàn đối lập với các quan điểmcủa các trường phái triết học khác Nó khuyên con người ta chấp nhậnmột cuộc sống hiện thực với tất cả những mâu thuẫn, xung đột có sựkhổ đau và cũng có những niềm vui hạnh phúc ngọt ngào của nó Triếthọc Phật giáo, với các thuyết “Tứ diệu đế“, “Thập nhị nhân duyên“ coithế giới khách quan và tâm thức con người đều là vô thường vô ngã,coi tất cả vạn vật trong thế giới đều do nhân duyên hòa hợp mà thành.Trong “Tứ diệu đế“ gồm “Khổ đế“ (sự đau khổ của chúng sinh quy vềbát khổ); “Tập đế“ (nguồn gốc của khổ quy về thập nhị nhân duyên),
“Diệt đế“ (lý luận về sự chấm dứt nỗi khổ, thừa nhận mọi nổi khổ đều
có thể diệt được) và “Đạo đế“ (để chấm dứt nỗi khổ con người có thể
Trang 22thực hiện nó bằng nhiều con đường - Bát chính đạo), Phật giáo đã chủtrương chọn con đường trung đạo tu luyện theo “Bát chính đạo”, chủtrương giải thoát cắt đứt mọi duyên sinh, diệt hết mọi dục vọng, tiếntới gíác ngộ trí tuệ, để tiến đến cõi Niết bàn Phật giáo cho rằng mọinỗi khổ trên đời đều do con người tạo ra Nếu cứ sinh hóa mãi thì nỗikhổ này chồng chất nỗi khổ khác Cứ thế liên tiếp tạo thành luân hồibất tận Do đó, nếu con người không diệt dục thì không thể nào đưacon người thoát khỏi sự trầm luân của bể khổ Vì thế, tư tưởng giảithoát trong triết học Phật giáo là hướng con người hành theo támphương pháp tu luyện chân chính để từ bỏ lòng tham, sân, si, từ bỏlòng ham muốn nhục dục trên cõi trần tục để trở về với cái tâm trongsáng.
Con đường và cách thức giải thoát trong triết lý Phật giáo rất
gỉan dị, có ý nghĩa hết sức thiết thực và phù hợp với đời sống hiện thực khách quan Nó chủ trương tu luyện toàn diện trên mọi lĩnh vực
từ đời sống đạo đức luân lý đến tâm linh, trí tuệ Phật giáo cho rằng,
mọi hành vi do con người gây ra đều để lại kết quả bởi Nghiệp(Karma) quy định Nghiệp dù thiện hay ác thì cũng là nỗi khổ của conngười Trong lòng mình, mỗi con người ai cũng mang khát vọnh nhụcdục, lòng đố kị ghen ghét, sự tranh chấp nên mới sinh ra hành vi sailạc như thế Con người không chỉ tham cầu, chấp trước, dục lạc, quyềnthế mà kể cả chấp trước ý niệm, quan điểm, tín ngưỡng… Vì thế, tất
cả mọi sự tranh chấp nhiễu nhương trên thế giới, nhỏ như chuyện cãinhau giữa những người trong gia đình, lớn như các cuộc chiến tranhgiữa nước này với nước khác, đều không ngoài nguyên nhân do khát ái
tự tư , tư lợi gây ra
Phật giáo yêu cầu, căn bản của mọi vấn đề về chính trị, xã hội,đạo đức, văn hóa của con người phải đi theo quỹ đạo của triết lý giảithoát Mọi sự sai hướng, lệch lạc là do con người “vô minh“ khôngnhận thấy được những sai lạc đó nên con người cứ mãi mê theo đuổi
nó Phật nói với LatraBala rằng: “Người đời thường cảm thấy khôngđầy đủ, mộng mị để cầu trở thành nô lệ của tham ái, dục lạc Mỗingười chúng ta đều thừa nhận hết thảy mọi việc ác trên đời đều do