Ánh sáng ấy đã dẫn dắtchúng sinh thoát khỏi bể khổ và đi vào một cuộc sống hạnh phúc thực sự.Điều đó đã lý giải tại sao trãi qua bao thăng trầm của lịch sử, Phật giáo đãchinh phục hàng t
Trang 1ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
Giáo viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:
GVC Th.S Hoàng Ngọc Vĩnh Lê Thị Nhung
Khoa: Mác - Lênin Lớp: Triết K28
Huế, 5/2008
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài:
Con người sinh ra ở trên đời, ai cũng muốn có cuộc sống hạnh phúc,
no đủ về vật chất, thoải mái về tinh thần Tuy nhiên, trong thực tế con ngườigặp không ít khó khăn, đau khổ về thể xác hoặc tinh thần
Vậy làm sao để thoát khỏi khổ đau, làm sao để biến khổ đau thànhniềm vui? Trong thâm tâm của mỗi người, ai cũng có khát vọng mong giảiđáp được những thắc mắc đó Trong thực tế có biết bao nhà tư tưởng nóichung và những nhà triết học nói riêng từ cổ đại đến nay đã khám phá và lýgiải bằng nhiều cách khác nhau về con đường, biện pháp giúp cho conngười thoát khỏi khổ đau của cuộc đời
Ấn Độ là một trong những cái nôi triết học cổ xưa nhất của nhân loại
và mang một “hơi thở” riêng, độc đáo, thể hiện tính nhân văn, nhân bản sâusắc Đó là một nền Triết học hướng vào sự giải thoát khổ bằng con đườngthực nhiệm tâm linh, tức là vén mở chính thế giới nội tâm của con người
“Ở phương Đông, nhất là Ấn Độ, người ta vẫn tin rằng con người có thểnhận biết được tâm lý siêu hình bằng thực nghiệm trực tiếp, thực nghiệmbản thân’’[11, 15] Có lẽ vậy mà “triết học Ấn Độ không muốn giải thíchmột cách khách quan các chân lý siêu hình Nó cống hiến cho ta một conđường lớn suy tưởng nội hướng có thể giúp cho ta lý hội được cái thực tại
do những bậc thánh trí đã tự giác và từ đó đưa đến chỗ thực hiện chân lý.Dưới ánh sáng ấy, triết học được coi như một nghệ thuật sống, hơn là mộthọc thuyết về vũ trụ và đời người”[11, 13]
Tuy có nhiều khuynh hướng và hình thức khác nhau, nhưng giảithoát luận là khuynh hướng nổi trội của triết học Ấn Độ cổ trung đại L ýtưởng, mục đích tối cao là giải thoát con người khỏi bể khổ của cuộc đời làđỉnh cao của triết học Phật giáo
Phật giáo đã hiện diện trong cộng đồng thế giới trên 2.500 năm và đã
Trang 3ánh sáng của trí tuệ vô ngã và lòng từ bi mà tất cả các triết học, tôn giáotrước đó đều không thể tìm ra được Trí tuệ vô ngã theo lời Phật dạy phảiđược trực nhận, phải được nghiệm lấy, phải tự mình chứng ngộ cho chínhmình và “mỗi người hãy tự thắp đuốc lên mà đi” Ánh sáng ấy đã dẫn dắtchúng sinh thoát khỏi bể khổ và đi vào một cuộc sống hạnh phúc thực sự.Điều đó đã lý giải tại sao trãi qua bao thăng trầm của lịch sử, Phật giáo đãchinh phục hàng triệu trái tim con người và đã trở thành triết lý sống, hànhđộng sống không chỉ của mỗi người dân Ấn Độ mà toả sáng đến nhiều quốcgia trên thế giới.
Hàng ngàn năm qua, ở Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam, tưtưởng Phật giáo đã được du nhập, truyền bá và ảnh hưởng khá sâu đậm tớiđời sống tinh thần, đạo đức của nhân dân, nhất là triết lý giải thoát của Phậtgiáo
Vì vậy, việc nghiên cứu tư tưởng giải thoát trong Phật giáo sơ kỳ làhết sức cần thiết Trên cơ sở đó chúng ta hiểu rõ hơn, sâu săc hơn về đặcđiểm triết học-tôn giáo Phật giáo, từ đó có cách nhìn, cách đánh giá đúngđắn khách quan về nó Ngoài ra nó còn giúp chúng ta giải quyết những ýkiến khác nhau vẫn còn tồn tại đối với đạo Phật đó là: Đạo Phật là một triếthọc, một khoa học, một luân lý, hay một tôn giáo, và những vấn đề có giátrị thực tiễn như mối quan hệ Phật giáo với thời đại, Phật giáo với hạnhphúc con người, Phật giáo với tuổi trẻ
Xuất phát từ những vấn đề trên, tôi đã mạnh dạn chọn vấn đề “Tư
tưởng giải thoát trong Triết học Phật giáo sơ kỳ” làm đề tài khoá luận tốt
nghiệp của mình
2 Lịch sử nghiên cứu đề tài:
Tư tưởng giải thoát là nét nổi trội của triết học Ấn Độ cổ trung đại
mà tư tưởng giải thoát của Phật giáo là nổi bật nhất Nó mang ý nghĩa nhânvăn sâu sắc và có ảnh hưởng sâu đậm đến đời sống tinh thần, đạo đức khôngchỉ nhân dân Ấn Độ xưa và nay mà còn toả sáng ra nhiều nước trên thế giới,
Trang 4trong đó có Việt Nam Do đó, tư tưởng giải thoát trong triết học- tôn giáoPhật giáo đã được nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới cả phương Đông lẫnphương Tây quan tâm và đã đạt được nhiều thành tựu to lớn.
Trước hết phải kể đến các công trình nghiên cứu của các học giảnước ngoài, đặc biệt là công trình nghiên cứu của hai nhà Phật học nổitiếng; người Nhật (Ki mu ra Tai ken) và Trung Hoa (Tưởng Duy Kiều)
Ở Việt Nam, đã có sự nghiên cứu khá sâu rộng về triết học- tôn giáo
Ấn Độ nói chung và tư tưởng giải thoát nói riêng, có thể kể ra những côngtrình tiêu biểu như:
1) Biện chứng giải thoát trong tư tưởng Ấn Độ của Nghiêm XuânHồng, Quan điểm, Sài Gòn xuất bản năm 1966
2) Tư tưởng giải thoát trong Triết học Ấn Độ của Phó Tiến sĩ DoãnChính, nhà xuất bản Thanh niên, Hà Nội xuất bản năm 1999
Tại trường Đại học Khoa học Huế, đã có các đề tài khóa luận tốtnghiệp cử nhân triết học sau:
1) Tư tưởng giải thoát trong Triết học Phật giáo và ảnh hưởng của nó
đối với người dân Huế của nhóm tác giả: Trịnh Thị Liên, Lưu Thị MaiThanh, Trương Thị Hồng Vân, Huế 4- 2001
2) Sự khác nhau trong giải thoát luận của Triết học Ấn Độ cổ- trungđại của Nguyễn Văn Duy, khoá luận tốt nghiệp, Huế 5- 2006
3) Tư tưởng giải thoát của Triết học Phật giáo và tư tưởng giảiphóng con người của Triết học Mac- Lênin- Những nét tương đồng và khácbiệt của Trương Thị Thanh Lan, khoá luận tốt nghiệp, Huế 5- 2006
4) Bản chất con đường giác ngộ trong Triết học Phật giáo của Tôn
Nữ Diễm Châu, khoá luận tốt nghiệp, Huế 5- 2006
5) Giải thoát luận, tính tương đồng và sự khác biệt giữa Upanischad
và Buddaha của Nguyễn Thị Hợi, khoá luận tốt nghiệp, Huế 5- 2007
Trang 5Hầu hết các công trình nghiên cứu trên đều đề cập đến tư tưởng giảithoát trong triết học Phật giáo Tuy nhiên, chưa có một công trình nào
nghiên cứu một cách cụ thể, hệ thống về vấn đề “Tư tưởng giải thoát trong
Triết học Phật giáo sơ kỳ” Vì vậy, khoá luận này trên cơ sở kế thừa các
công trình nghiên cứu của các học giả đi trước, tiếp cận vấn đề này một cách
cụ thể và hệ thống
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Mục đích của đề tài là làm rõ về hệ thống tư tưởng giải thoát, nộidung cốt lõi trong triết học Phật giáo sơ kỳ, từ đó đứng trên lập trường chủnghĩa Mác- Lênin đánh giá những đóng góp và hạn chế của nó
Nhiệm vụ: để đạt được mục tiêu của đề tài, đề tài cần nghiên cứu:bối cảnh ra đời, khái quát những nội dung cơ bản của triết học Phật giáo sơ
kỳ và hệ thống tư tưởng giải thoát trong triết học- tôn giáo Ấn Độ cổ- trungđại
4 Đối tượng nghiên cứu của đề tài
Đề tài lấy hệ thống của những tư tưởng giải thoát của triết học Phậtgiáo sơ kỳ làm đối tượng nghiên cứu trọng tâm Ngoài ra còn có những nộidung cơ bản của tư tưởng giải thoát trong triết học- tôn giáo Ấn Độ cổ-trung đại để góp phần làm phong phú, sâu sắc hơn cho nội dung chính của
đề tài
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài
Đề tài được thực hiện dựa trên cơ sở thế giới quan và phương phápluận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác- Lênin, tưtưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam, đồng thờivận dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học cụ thể khác nhau như;phương pháp phân tích- tổng hợp, phương pháp lôgic- lịch sử, phương phápkhái quát hoá, trừu trượng hoá, phương pháp so sánh để làm rõ các vấn đề
mà nhiệm vụ nghiên cứu đã đặt ra
6 Đóng góp của đề tài
Trang 6Khoá luận là một công trình nghiên cứu khoa học ở trình độ cử nhân.
Vì vậy, tác giả chỉ mong rằng góp phần nhỏ bé của mình vào việc làm rõ nộidung tư tưởng giải thoát trong triết học Phật giáo sơ kỳ, thấy được nhữnghạn chế, đóng góp của nó để lý giải cho những vấn đề nhân sinh quan và giátrị của nó trong thời đại ngày nay Từ đó thấy được đỉnh cao của triết họcMác- Lênin về giải phóng con người
Ngoài ra kết quả nghiên cứu của đề tài còn góp phần nhỏ bé làm tàiliệu tham khảo cho những ai quan tâm đến vấn đề này
7 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo,phần nội dung của khoá luận gồm có 3 chương
Trang 7Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ PHẬT GIÁO SƠ KÝ1.1 Bối cảnh xã hội và tư tưởng Phật Thích Ca.
1.1.1 Bối cảnh xã hội khi Đức Phật ra đời
Là một hình thái ý thức xã hội, sự hình thành, phát triển của triết họcgắn liền với điều kiện kinh tế- xã hội, với cuộc đấu tranh giữa các giai cấp,các lực lượng xã hội, với các thành tựu khoa học tự nhiên và khoa học xãhội, với sự thâm nhập và đấu tranh giữa các trường phái triết học với nhau
Sự hình thành và phát triển của tư tưởng triết học- tôn giáo Phật giáo tấtnhiên không nằm ngoài quy luật
Phật giáo ra đời vào khoảng thế kỷ VII đến VI Tcn Thời kỳ này lịch sử
Ấn Độ có sự chuyển biến lớn Các quan hệ chính trị văn hoá, học thuậtdường như đang nằm trong một cuộc vận động mạnh mẽ
Đây là thời kỳ chế độ nô lệ mang tính chất gia trưởng, và chế độ công
xã nông thôn ở Ấn Độ đã khá phát triển Các quốc gia chiến hữu nô lệ nhỏphân tán nay có xu hướng thống nhất lại Trong đó hưng thịnh nhất là thời
kỳ của các vương triều Magadha và vương triều Maurya Sự thống nhấtquốc gia đã tạo cho sự phát triển tri thức khoa học, lực lượng sản xuất và đôthị hoá xã hội
Về mặt kinh tế, thời kỳ này đã có những bước tiến bộ đáng kể Việc sửdụng đồ sắt làm công cụ lao động đã trở thành phổ biến Nông nghiệp đãphát triển cao Người Ấn Độ cổ đã biết mở mang công trình thuỷ lợi, trên cơ
sở đó tiến hành khai khẩn đất đai, mở rộng diện tích canh tác, trồng các loạingũ cốc mới Nghề thủ công cũng đã đạt được những thành tựu đáng kể, nótách ra khỏi nông nghiệp ở một số vùng kinh tế phát triển Những người thợthủ công đã tụ tập thành những tổ chức đặc biệt kiểu như phường hội.Những nghề thủ công phát đạt nhất thời đó là nghề dệt bông, đay, tơ lụa,nghề làm đồ gỗ và đồ trang sức Mặc dù nền kinh tế tự nhiên chiếm ưu thế,
Trang 8nhưng thương nghiệp cũng đã phát triển, do vậy trong cơ cấu giai cấp xã hội
đã xuất hiện một tầng lớp mới - tầng lớp thương nhân quí tộc Nhiều thànhphố trở thành trung tâm thủ công nghiệp và thương nghiệp quan trọng nhưVaranisi (Benares), Snavaski (nay Savathi), Ratjagua (nay là Radjia),Pataliputiry (nay Patha) Nhiều con đường giao thông thương mại thuỷ bộnối liền các thành thị đó với nhau và thông từ Ấn Độ qua các nước khác nhưTrung Hoa, Ai Cập và miền Trung Á dần dần xuất hiện
Chế độ nô lệ Ấn Độ rất hà khắc Nô lệ được coi là tài sản tư hữu củachủ nô như những tài sản khác Nô lệ được coi như là “tài sản hai chân” cóthể đem bán mua trao đổi như những “tài sản bốn chân” khác Ấn Độ có 15loại nô lệ:
1 Con của nô lệ là nô lệ
2 Nô lệ mua về
3 Nô lệ do người khác cho
4 Nô lệ do thừa kế tài sản
5 Quá bần cùng trở thành nô lệ
6 Phạm tội bị xử làm nô lệ
7 Con tin được coi là nô lệ
8 Tù binh trong các cuộc chiến là nô lệ
9 Nô lệ được thưởng qua các cuộc thi
10 Vì bội ước trở thành nô lệ
11 Tự nguyện làm nô lệ
12 Nô lệ tạm thời
13 Vì được kẻ khác nuôi nấng xin làm nô lệ
14 Lấy vợ là nô lệ thành nô lệ
15 Bán mình làm nô lệ
Trang 9Quan hệ chủ nô - nô lệ Ấn Độ mang nét bóc lột gia trưởng là điển hình.Trong lao động nô lệ và chủ nô rất gầnn gũi Nhưng những thành viênthường của gia đình chủ nô vẫn có uy thế tuyệt đối trong mọi mặt đối với nô
lệ như phạt lao động khổ sai, kìm kẹp, đánh đập, thích vào mặt nô lệ Chủ
nô cũng có thể tự do đánh đập, hành hạ hay đem bán con mình tuỳ thích.Chế độ nô lệ ở Ấn Độ có tính chất khá đặc biệt, đó là một chế độ xã hộichưa đạt tới trình độ phát triển thành thục như ở Hy Lạp - La Mã cổ đại, bịkìm hãm bởi sự kiên cố của chế độ công xã nông thôn vốn dựa trên mối liên
hệ có tính chất gia trưởng giữa lao động nông nghiệp và lao động thủ côngnghiệp đã làm cho nền kinh tế của công xã mang nặng tính chất tự nhiên, tựcấp tự túc, và do đó đời sống xã hội phát triển hết sức trì trệ và chậm chạp Công xã nông thôn ở Ấn Độ cổ không chỉ là một đơn vị kinh tế độc lập
mà còn là một đơn vị hành chính có quyền tự trị rất lớn Nhà nước hầu nhưkhông hề can thiệp vào được nội bộ của công xã, và làng xã cũng không hềquan tâm đến vận mệnh của Nhà nước Mọi nghĩa vụ của nhà nước đều bổvào công xã nói chung chứ không bổ vào đầu cá nhân mỗi thành viên công
xã Trong mỗi công xã có cơ quan hành chính của nó, và những chức vụhành chính của cơ quan này hoặc do công xã bầu ra hoặc do cha truyền connối
Tính chất đặc biệt đó của chế độ nô lệ ở Ấn Độ cổ đã tác động mạnh
mẽ không chỉ đến đời sống vật chất mà còn ghi dấu ấn sâu đậm trong đờisống tinh thần, tư tưởng, tôn giáo của người dân Ấn Độ cổ Nó đã hạn chế lýtrí con người, biến con người trở thành công cụ ngoan ngoãn của mê tín tôngiáo, cam chịu trước hoàn cảnh Điều đó, C.Mác đã viết "chúng ta khôngđược quên rằng những công xã nông thôn thơ mộng ấy, dầu cho chúng có vẻ
vô hại như thế nào chăng nữa, bao giờ cũng vẫn là cơ sở bền vững của chế
độ chuyên chế phương Đông, rằng những công xã ấy đã hạn chế lý trí củacon người trong một khuân khổ chật hẹp nhất, làm cho nó trở thành mộtcông cụ ngoan ngoãn của mê tín, buộc nó bằng những xiềng xích nô lệ củacác qui tắc cổ truyền, Chúng ta không quên rằng những công xã nhỏ bé ấy
Trang 10mang dấu ấn của sự phân biệt đẳng cấp và của chế độ nô lệ, rằng nhữngcông xã ấy làm cho con người phục tùng những hoàn cảnh bên ngoài chứkhông nâng con người lên địa vị làm chủ và những hoàn cảnh ấy, rằngnhững công xã ấy đã biến trạng thái tự động phát triển của xã hội thành một
số phận không thay đổi do thiên nhiên quyết định trước, và do đó đã tạo ra
sự thờ cúng thiên nhiên một cách thô lỗ, mà sự thoái hoá biểu hiện trongviệc con người, kẻ làm chủ thiên nhiên, lại phải thành kính quì gối trước conkhỉ Hanuman và trước con bò Sabbla" [1,177-178]
Xã hội Ấn Độ cổ không chỉ bị đè nặng bởi nổi khổ do quan hệ bất công
và sự bóc lột hà khắc của giai cấp quí tộc chủ nô đối với giai cấp nô lệ vànhững kẻ tôi tớ, mà còn bị bóp nghẹt bởi chế độ phân biệt chủng tính, màu
da, sắc tộc, còn gọi là chế độ đẳng cấp hết sức nghiệt ngã gây nên Chế độđẳng cấp không chỉ góp phần qui định cơ cấu, trật tự xã hội Ấn Độ mà cònảnh hưởng sâu sắc đến nội dung và tính chất của các quan điểm triết lý tôngiáo Ấn Độ cổ đại
Theo thánh điển của Bà La Môn và theo bộ luật Manu, người ta đãphân chia xã hội Ấn Độ ra thành rất nhiều chủng tính Nhưng có thể quithành bốn chủng tính lớn và đó cũng là 4 đẳng cấp chính của xã hội Ấn Độ:a) Bàlamôn (Brahmana) gồm những giáo sĩ, những người giữ quyềnthống trị tinh thần, phụ trách về lễ nghi, cúng bái Họ tự nhận mình là hạngcao thượng, sinh từ lỗ miệng phạm thiên (Brahmana) hay phạm thiên cầmvương lãnh đạo tinh thần dân tộc, nên có quyền ưu tiên được tôn kính, và anhưởng cuộc đời sung sướng nhất
b) Sát đế lợi (Kshatriya) là hàng vua chúa quí phái, tự cho mình sinh ra
từ cánh tay phạm thiên, thay mặt phạm thiên nắm giữ quyền hành thống trịdân chúng
c) Vệ xá (Vaishya) là những hàng thương gia chủ điền và dân tự do tinmình sinh ra từ bắp chân phạm thiên và phạm thiên có nhiệm vụ đảm đương
về kinh tế trong nước (mua bán, trồng trọt, thu huệ lợi cho quốc gia)
Trang 11d) Thu đà la (Shudra) là những người lao động bao gồm đa số tiện dân
và nô lệ tin mình sinh ra từ gót chân phạm thiên nên thủ phận làm khổ saisuốt đời cho giai cấp trên
Ngoài bốn đẳng cấp trong xã hội còn có một hạng người nữa là hạng hàtiện nhất là giống Ba-tia-a (Pariahs) giống dân tộc mọi rợ, bị coi như sốngloài lề xã hội loài người, bị các giai cấp trên đối xử như thú vật, vô cùng khổnhục tăm tối
Năm giai cấp này mặc y phục khác nhau Mỗi giai cấp sống theo luật lệ
hệ thống cha truyền con nối, không được thay đổi nghề nghiệp hay cưới hỏilẫn nhau "người ở đẳng cấp khác nhau mà lấy nhau thì sẽ bị giáng đẳng cấp
ti tiện, hèn hạ nhất của xã hội đó là đẳng cấp Paria"[3, 39], và không được
di chuyển chỗ ở khác Theo luật Bàlamôn chỉ có đẳng cấp trên mới đượchọc đạo, còn hai đẳng cấp dưới đời đời chỉ làm nô lệ cho giai cấp trên màthôi "Nếu một người Shudra mà nghe thánh kinh thì tai sẽ bị điếc, bị đổ trìvào tai, nếu tụng thánh kinh thì lưỡi sẽ bị cắt đứt ra, nếu muốn học thuộclòng thánh kinh thì thân thể sẽ bị chặt đứt ra làm đôi Đạo Bàlamôn là đạocủa riêng đẳng cấp Bàlamôn, không bao giờ có bất cứ người nào len lỏivào"[3, 38]
Chế độ phân biệt đẳng cấp xã hội ở Ấn Độ cổ là hết sức đặc biệt Nókhông chỉ được giáo lý đạo Bàlamôn biện hộ mà còn được pháp luật nhànước bảo vệ Nó không chỉ là sự phân biệt về địa vị, học vấn, sang hèn, giàunghèo theo kiểu phân biệt giai cấp ở các quốc gia chiếm hữu nô lệ phươngTây mà còn là sự phân biệt về màu da, chủng tính, nghề nghiệp, tôn giáo;chế độ hôn nhân, quan hệ giao tiếp ngay trong đời sống hằng ngày Điều
đó nói lên từ sự bất công xã hội không thể nào diễn tả nổi Giữa người vớingười, thật không có một nhịp cầu thông cảm nào, nguồn yêu thương tắcnghẹn, giai cấp này đối với giai cấp khác là địch thủ mà càng bóc lột baonhiêu là càng tốt bấy nhiêu
Trong hoàn cảnh ấy, Đức Phật Thích Ca đã xuất hiện đúng lúc để cứuvớt cõi đời sầu khổ
Trang 121.1.2 Bối cảnh tư tưởng khi Đức phật ra đời
Về phương diện tư tưởng thì xã hội Ấn Độ thời bấy giờ cũng diễn ramột cảnh tượng vô cùng hỗn tạp, nhiều trào lưu tư tưởng, tín ngưỡng vậnđộng bên nhau, chống đối nhau không kém phần quyết liệt mạnh mẽ
Bên cạnh trào lưu tư tưởng suy tôn thánh kinh Veda, Upanishad vàgiáo lý Bàlamôn còn xuất hiện một trào lưu tư tưởng mới thoát ly truyềnthống Vêda, chống lại giáo lý Bàlamôn, phê phán chế độ phân biệt đẳngcấp, sắc tộc nghiệt ngã của Ấn Độ, nói lên tiếng nói tiến bộ, đòi hỏi bìnhđẳng xã hội
Dưới sự tác động chi phối, thống trị của triết lý Veda, Upanishad vàgiáo lý Bàlamôn được mệnh danh là tư tưởng truyền thống chính thống.Chính người Ấn Độ đã gom các hệ thống triết học của họ thành hai loại lớn:Các hệ thống chính thống: hữu, và hệ thống không chính thống: vô Cáctrường phái triết học được gọi là hệ thống Bàlamôn chính thống, tức cácdarshanas, là các trào lưu bằng cách này hay cách khác đều thừa nhận ưu thếmặc khải tối cao của Veda và triết lý về tinh thần sáng tạo của vũ trụ tuyệtđối cao Brahmas, trong Upanishad biện hộ cho giáo lý của đạo Bàlamôn,bảo vệ chế độ phân biệt đẳng cấp xã hội Hệ thống triết học chính thốnggồm có 6 trường phái, gọi là sáu darshamas:
1 Trường phái triết học Samkhuya
2 Trường phái triết học Nyaya
3 Trường phái triết học Vaiseika
4 Trường phái triết học Mimansa
5 Trường phái triết học Yoga
6 Trường phái triết học Vendanta
Các trường phái triết học không chính thống đó là các trường phái có
tư tưởng phủ nhận uy thế tối cao của Veda và Upanishad, phê phán giáo lý
Trang 13của Bàlamôn, đã phá chế độ đẳng cấp xã hội Hệ thống triết học khôngchính thống gồm có 3 trường phái:
1 Phật giáo
2 Trường phái triết học Jaira
3 Các trường phái triết học duy vật vô phần trong phong trào mới về tự
do tư tưởng ở Đông Ấn, gọi là "lục sư ngoại đạo" (Sattirthakarah), trong đónổi bật nhất là trường phái triết học Lokayata hay còn gọi là Charvaka.Các trường phái triết học không chính thống, tuy cùng có những điểmchung như không tin có thượng đế, nghi ngờ và phủ nhận quyền uy của kinhVêda, phê phán giáo lý Bàlamôn, đã kích chế độ phân biệt đẳng cấp trong
xã hội, nhưng giữa họ lại có sự khác biệt nhau trong cả quan điểm về thếgiới cũng như quan điểm về nhân sinh Nếu như trường phái Lokayata luônthể hiện một cách nhất quán rõ ràng và triệt để thế giới quan duy vật, vôthần trong lập trường tư tưởng và tính chất triết học của mình, chỉ thừa nhậnbốn yếu tố cơ bản đầu tiên cấu thành nên vạn vật gồm: đất, nước, lửa, khôngkhí, gọi là "từ đại", phủ nhận thượng đế,đả phá quan niệm về "sự bất tử củalinh hồn" đề cao chủ nghĩa hiện thực, thì trường phái triết học Jaina lại làmột hệ thống triết học mang tính chất nhị nguyên, có nhiều hướng ngã vềchủ nghĩa duy tâm Nó chỉ thừa nhận hai bản nguyên cấu tạo nên thế giớivạn vật, đó là Jva (linh hồn, tinh thần) và adjiva (gồm tất cả những gì khôngphải là tinh thần hay linh hồn) Đặc biệt họ cho nguyên tử của các yếu tố:đất, nước, lửa, khí là giống nhau, chúng kết hợp với nhau tạo ra các sự vậtphong phú đa dạng khác nhau
Đối với các trường phái triết học chính thống thì họ chỉ cần thừa nhậnnhững nguyên lý căn bản của xã hội Ấn Độ chính thống, chấp nhận quyền
uy của kinh Vêda, Upanishad, biện hộ cho giáo lý đạo Bàlamôn, bảo vệ chochế độ phân biệt đẳng cấp, rồi họ có thể tự do phát triển tư tưởng của họtheo các hình thức và khuynh hướng khác nhau tuỳ ý thích Cả sáu phái đókhác nhau nhưng đều đồng nhất về một số nguyên tắc cơ bản của tư tưởng
Trang 14Ấn Độ như: 1 Các kinh Vêda là do mặc khải; 2 Để tìm sự thật và đặt chân
lý thì phép lý luận không chắc chắn bằng phép trực giác; 3 Mục đích của tríthức và triết học không phải để thống trị thế giới mà là để thoát ly khỏi thếgiới; 4 Suy tư là để tự giải thoát khỏi khổ não, dựt dục vọng và chính dụcvọng không được thoả mãn là nguyên nhân của đau khổ Điều đó nói lêntính phức tạp trong quá trình phát triển của tư tưởng triết học tôn giáo Ấn
Độ cổ đại
Phản ánh hiện thực xã hội, triết học tôn giáo Ấn Độ thời kỳ này còndiễn ra quá trình đấu tranh gay gắt giữa các trường phái triết học duy vật vôthần, hay "những người theo thuyết hư vô", "bọn hoài nghi" với môn pháitriết học duy tâm tôn giáo, đặc biệt là triết lý Vêda, Upanishad, và giáo lýđạo Bàlamôn, nhằm phủ nhận quan điểm suy tôn thượng đế, phạm thiên hay
"tinh thần sáng tạo ưu trụ tối cao" Brahman, chống lại những quan điểm về
sự bất tử linh hồn và sự siêu thoát của linh hồn con người, sang thế giới bênkia" nào đó Tiêu biểu cho phong trào chống chủ nghĩa duy tâm tôn giáothời đó là các phái nổi tiếng "lục sư ngoại đạo", mà trường phái duy vật vôthần triệt để Lokayata là tiêu biểu nhất
Khoảng thế kỷ VI Trcn, trong lòng xã hội Ấn Độ cổ đại đã diễn ra sựbiến đổi mạnh mẽ về kinh tế, chính trị, văn hoá, và cùng với sự phát triểnmạnh mẽ của khoa học kỹ thuật, thu được nhiều thành quả trên nhiều lĩnhvực như toán học, thiên văn học, y học đã tạo ra những nấc thang nhậnthức quan trọng góp phần đắc lực vào việc giải thích thế giới và cải tạo thếgiới phục vụ cho lợi ích của con người Hơn thế nữa chúng còn là cơ sở choquá trình phát triển khả năng tư duy trừu tượng Hình thành nên các hệthống triết học phong phú đa dạng, vừa thống nhất, vừa đấu tranh chống đốinhau
Xã hội Ấn Độ lúc bấy giờ là một xã hội về vật chất thì đang rên siếtdưới ách bất công áp bức, về tinh thần thì đang quay cuồng, điên đảo trongnhững luồng tư tưởng lý thuyết rối reng, khiến con người thời đại hoang
Trang 15tình thương và bình đẳng, đang mong chờ được chói rạng dưới ánh sáng củatrí tuệ Trong hoàn cảnh ấy, Đức Phật Thích Ca xuất hiện với ánh sáng củalòng từ bi và trí tuệ vô ngã đã trở thành cứu cánh cho cõi đời sầu khổ.
1.2 Những tư tưởng triết học cơ bản trong đạo Phật
Đạo Phật được xây dựng trên cơ sở cuộc đời và giáo lý của Thích CaMâu Ni (Sakifamuni) "Phật" theo tiếng Phạn gọi là Buddaha, tiếng Hánphiên âm là "Phật đà", còn tiếng đọc âm là "Phật" Phật có nghĩa là Đấnggiác ngộ và giác ngộ người khác
Đức Phật không phải là thượng đế tạo thế và cứu thế Ngài cũng khôngphải là sản phẩm trí tuệ của con người tạo ra để chiêm bái, kính lễ Lịch sửĐức Phật Thích Ca là lịch sử của một con người bằng xương, bằng thịt, cóquốc gia, có cha, có mẹ và những người thân quyến như bất cứ con ngườinào được sinh ra trên cõi đời này Thích Ca Mâu Ni có tên thật là Tất Đạt
Đa (Siddhattha), họ là Cù Đàm (Gautâm), con đầu của vua Tịnh Phạn(Suddodana - nghĩa là người trồng lúa mạch), thuộc bộ tộc Sakiya, có kinh
đô là thành Catilavê (Kapilavatthu) Về niên đại của Phật Thích Ca, người takhông biết rõ đích xác năm sinh nhưng hầu hết đều đồng ý là Phật sinh vàokhoảng 563 trước công nguyên và mất khoảng năm 483 trước công nguyên.Theo truyền thuyết Phật có tới 547 tiền kiếp trước khi đầu thai làm convua Sakiya Trong những kiếp trước, Đức Phật là loài vật hay con người thìđều đầy lòng từ, bi, hỉ xả, sẵn sàng hy sinh cho đồng loại Kiếp gần nhấtcủa Đức Phật là con voi trắng sáu ngà Khi mới sinh ra, Phật có 32 dị tướngtốt và 82 đặc điểm phi thường, trong đó có việc vừu được sinh ra đã đi đượcbảy bước, và đã được tiên đoán là sẽ trở thành Hoàng đế trị vì thiên hạ, nếukhông thì cũng là Đức Phật cứu nhân độ thế Mặc dù sống trong giàu sangquyền quí, với sự yêu chiều của vua cha và người vợ trẻ đẹp, nhưng nhưtiền định, hoàng tử luôn nghĩ về sự khổ của sinh lão, bệnh tử và nhữngphiền não bụi trần Trong những lần ra khỏi hoàng cung để nhìn xem thếgian bên ngoài và trực tiếp, tiếp xúc với sự thật phủ phàng của đời sống, thái
tử tiện mắt nhìn thấy một cụ già đầu bạc, chân còng, chân chề gối mỏng, đi
Trang 16đứng mệt nhọc, một người bệnh hoạn đau khổ, một thây ma theo sau cónhững người khóc than sầu não, một đạo sĩ nghiêm trang khả kính Hoàng
tử càng suy tư về nỗi khổ của nhân sinh, càng chán cảnh phồn hoa thế vị,càng quyết tâm xuất gia đi tu tầm đạo để giải thoát cho chúng sinh khỏicảnh khổ ải của nghiệp chướng luân hồi Nửa đêm mùng bảy tháng hai,Hoàng tử lặng lẽ rời khỏi cung đi ra tìm chân lý Khi ấy Hoàng tử Tất Đạt
Đa vừa tròn 29 tuổi và đã có một người con trai là Rahula
Ông xuất gia tu hành theo phương pháp khổ hạnh hành khất về phươngNam, nhưng sau 6 năm thiền định khổ hạnh đến nỗi thân hình gầy yếu chỉcòn da bọc xương, vẫn không đắc đạo Ông đã suy nghĩ "ta tu khổ hạnh, épxác như thế này mà không thông đạo thì cách tu của ta chưa phải, chi bằngphải đi theo trung đạo, tức không say mê việc đời, mà cũng không quá khắckhổ " Năm đạo sĩ tu hành với Tất Đạt Đa, tưởng ngài thoái chí, nên bỏngài mà đi tu chỗ khác Còn lại một mình, một buổi trưa sau khi tắm rửaxong và uống một cốc sữa của người chăn bò đưa cho, ông cảm thấy khoankhoái, tinh thần tỉnh táo hẳn lên, ông một mình ngồi dưới gốc cây Bồ Đề(Bobdi -Tâtbatla) thiền tịnh trong 49 ngày thì quả nhiên giác ngộ, thấyđược căn nguyên sinh thành biến hoá của vũ trụ vạn vật, tìm ra nguồn gốccủa nỗi khổ và từ đó chỉ ra phương pháp diệt trừ nỗi khổ cho chúng sinhbằng học thuyết "nhân duyên sinh" và triết lý "tứ diệu đế", "thập nhị nhânduyên", "bát chính đạo"
Về tư tưởng triết lý Phật giáo ban đầu chỉ truyền miệng, sau đó đượcviết thành sách, thể hiện trên một khối lượng kinh đồ sộ Hai căn tư căn bảnghi các kinh sách của Phật là Bắc phạn (SanCrit) và Nam phạn (pà li) được
tổ chức thành tam tạng:
Tạng kinh, ghi lại lời thuyết pháp của Phật
Tạng luật, tức giới điều mà giáo đoàn Phật giáo phải tuân theo
Tạng luận, tức tác phẩm luận giải các vấn đề Phật giáo của thế hệ sau
Trang 17Từ khi ra đời đế nay ,Phật giáo đã có những biến đổi sâu sắc làmphong phú thêm những tư tưởng triết học sơ kỳ của Phật, nhưng tư tưởngcốt lõi vẫn không nằm ngoài tưởng sơ kỳ Chúng ta có thể nghiên cứu tưtưởng triết học Phật giáo trên hai phương diện, về bản thể luận và nhân sinhquan
1.2.1 Bản thể luận (thế giới quan)
Trong triết học của mình, Đức Phật không mấy lưu tâm đến những vấn
đề liên quan đến nguồn gốc, bản chất của thế giới để tập trung vào mục đíchnhiệm vụ tối cao là giải thoát chúng sinh khỏi khổ não của cuộc đời ĐứcPhật nói: "Biển chỉ có một vị là vị mặn Cũng vậy, pháp và luật này cũngchỉ có một vị là vị giải thoát" [3, 238] Tuy nhiên, trong triết lý Phật giáovẫn toát lên những vấn đề về bản thể luận trong tư tưởng về "Vô thường",
"Vô ngã", qua học thuyết về "Nhân quả" hay "Nhân duyên khởi"
Theo nguyên lý "Nhân duyên khởi", Phật giáo coi vạn vật trong vũ trụđều có nguyên nhân tự thân, không do một đấng thần linh nào tạo ra cả Sựvật đa dạng của tồn tại là do "nhân duyên" tạo ra: Nhân duyên hội thì sự vậttạo ra Nhân duyên hết thì sự vật không còn
"Nhân duyên" quan hệ chặt chẽ với "nhân quả" Nhân là nghiệp lực.Quả là nghiệp lực đã thành hiện thực nhờ hội đủ duyên
"Nhân duyên khởi" và "nhân quả" là nguyên lý phổ biến tuyệt đối củatồn tại "Duyên" ở đây phải được hiểu vừa là nguyên nhân sinh ra cái mới,vừa là kết quả của quá trình biến đổi cũ trước đó Nhân nhờ duyên mà thànhquả, quả nhờ duyên mà thành nhân mới, nhân mới nhờ duyên mà thành quảmới quá trình cứ thế nối nhau vô cùng, vô tận mà thế giới, vạn vật, muônloài cứ biến hiện không ngừng theo quá trình: sinh - trụ - dị - diệt hay thành
- trụ - hoạt - không
Lý nhân duyên giải thích căn nguyên biến hoá vô thường của vạn pháp.Tất cả vạn pháp không thoát ra được sự chi phối của luật nhân quả Cái gìtác động ở vật gây ra là nhân Cái gì kết tập lại từ nhân gây ra gọi là quả
Trang 18Duyên không phải là cái gì đó cụ thể, xác định mà còn là điều kiện, sựtương hợp, tường sinh nói chung giúp cho vạn pháp sinh thành và biến đổi.
Về sau các môn phái triết học còn chia nhân duyên ra thành: lục nhân,tam duyên, tứ duyên, thập nhị nhân duyên
Lục nhân gồm:
1 Tương ứng nhân, là cái nhân của tâm vương và tâm sơ tương ứngvới nhau (tâm vương là cái tâm làm chủ cái thức, tâm sơ là cái tâm thụ,tưởng, hành thức mà có);
2 Câu hữu nhân, là cái nhân của tâm vương và tâm sở cùng có màgiúp lẫn nhau
3 Đồng loại nhân, là cái nhân cùng một loại, như nhân thiện vớinhân thiện, nhân ác với nhân ác
4 Biến hành nhân, là cái nhân cùng khởi một lúc khắp cả trong khổ
Tứ duyên gồm:
Trang 191 Nhân duyên: cái duyên làm cho nhân thành quả Chẳng hạn, lụccăn (mắt, tai, mũi, miệng, thân, ý) làm nhân, lục trần (sắc, thanh, hương, vị,xúc, pháp) làm duyên mà thành ra lục thức (thị giác, thính giác, khứu giác,
vị giác, xúc giác, ý giác)
2 Thứ đệ duyên: cái duyên của tâm vương, tâm sở cứ thứ tự theonhau sinh ra liên tục không dứt
3 Tăng thượng duyên
4 Sở duyên duyên: Đối với sinh vật, kinh phật tìm thấy sự liên kếtcủa nghiệp quả từ quá khứ đến hiện tại, từ hiện tại đến tương lai mà đưa ra
"Thập nhị nhân duyên"
Triết lý "Thập nhị nhân duyên" của Phật giáo đề cập đến vấn đềvòng sinh tử, luân hồi, nguồn gốc của sự đau khổ và chỉ nhằm mục đíchgiúp chúng sinh thoát khỏi phiền não của cuộc sống Mười hai nhân duyên
đó là:
1 Duyên vô minh, là sự ngu dốt, kém hiểu biết, không sáng suốt,không nhận thức được thực tướng của vạn vật và chân bản tính của mình.Chính vô minh khiến con người, tâm con người vọng đọng, ham muốn vàhành động để thoả mãn những mong muốn
2 Duyên hành, tức là hành động tạo tác theo ý muốn của mình và dohành động tạo tác nêu tạo ra nghiệp
3 Duyên thức, là nhận thức, biết ta là ta
4 Duyên danh - sắc: là hội họp của các yếu tố vật chất và tinh thần(hình - danh)
5 Duyên lục nhập: là sự tác động qua lại giữa lục căn (mắt, tai, mũi,lưỡi, thân, ý) với lục trần (sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp)
6 Duyên xúc, là sự tiếp xúc, phối hợp giữa lục căn, lục trần và thức
7 Duyên thụ, là tiếp thu, thu nhận các tác động của đối tượng vào mình
mà sinh ra yêu, ghét, buồn chán
Trang 208 Duyên aí, là yêu thích, luyến ái, khao khát tức nảy sinh dục vọng.
9 Duyên thủ, tức là giữ lấy, giành lấy những cái mà mình tham muốn
10 Duyên hữu, là có tồn tại, hiện hữu Có là với sắc, thụ, tưởng, hành,thức nên mới có ái dục gây nên nghiệp Hữu là hành động tạo nghiệp thiệnhay bất thiện
Như vậy, hành và hữu đều là hành động tạo nghiệp, nhưng nếu nhưhành là hành động trong quá khứ, thì hữu là hành động trong hiện tại
11 Duyên sinh, đã có tạo nghiệp (hữu) tức là có nghiệp nhân ắt cónghiệp quả, tức là phải sinh ra ta
12 Duyên lão - tử Đã có sinh thì có già và chết
Sinh - lão - tử là kết quả cuối cùng của một quá trình nhưng đồng thờicũng là nguyên nhân của một vòng luân hồi mới, từ vô mình của cuộc đờikhác Tất cả mười hai nguyên nhân này có quan hệ ràng buộc với nhau ĐứcPhật đã nêu lên mối quan hệ giữa mười hai nguyên nhân đó là: Do vô minh
có hành sinh, do hành có thức sinh, do thức có danh sắc sinh, do danh sắc cólục nhập sinh; do lục nhập có súc sinh; do xúc có ái sinh; do ái có thủ sinh;
do thủ có hữu sinh; do hữu có sinh sinh, do sinh có lão, tử, bi, khổ, ưu, nãosinh Để đoạn diệt cái khổ thì phải đoạn diệt vô minh
Nói về lý duyên khởi, kinh Tương Ưng Bô viết: "Do cái này có mặt,cái kia có mặt Do cái này sinh, cái kia sinh Do cái này diệt, cái kia diệt"[3,245]
Xuất phát từ "Lý duyên khởi" mà triết lý Phật giáo cho rằng: "Vạnpháp đều không vượt qua được nguyên lý "vô ngã", "vô thường" "Vô ngã"
là không có cái ta; sự vật bản chất không thường tồn bất biến, nên "ngã" chỉ
là "ảo" là "giả" Nó là "ảo" là "giả" vì hội đủ duyên thì có, cái có ấy tự tínhvốn chẳng "có" mà là "không" "Vô thường" là vạn vật chẳng thường hằng,thường trụ mà luôn trôi đi, biến đi đến mức vạn pháp hiện trước nhận thứccủa con người đều là "ảo", là "giả" Là "ảo", là "giả" vì biến đổi "vô thường"
Trang 21nên cái thấy chẳng thật Chỉ trong một sát ra thì sự vật đã chẳng còn là nó,thế thì cái thấy chỉ là huyễn hoặc"[8, 54].
Theo Phật giáo vạn vật cũng như con người được tạo nên bởi ngũ uẩn:
"Sắc" (vật chất), thụ, tưởng, hành, thức ("Danh" (tinh thần) Cũng có quanniệm cho rằng thế giới được tạo nên bởi lục đại: phong, thuỷ, hoả, không(sắc), thức (danh)
Nhưng "duyên danh - sắc" chỉ hội tụ với nhau trong một thời gian ngắnrồi lại chuyển sang trạng thái khác, do vậy "không có cái tôi" (vô ngã) Bảnthân thế giới chỉ là một dòng biến chuyển liên tục (vô thường), không thểtìm ra nguyên nhân đầu tiên, do vậy không ai tạo ra thế giới cả, không có cái
gì là tồn tại vĩnh hằng cả Thế giới sự vật và hiện tượng luôn biến chuyểntheo một chu trình: Sinh - trụ - dị - diệt (thành - trụ - hoại - không hay sinh -lão - bệnh - tử) theo luật nhân quả
Xuất phát từ "Lý duyên khởi", Phật giáo chỉ coi mọi sự vật hiện tượngtrong vũ trụ đều biến chuyển như dòng thác đổ, không phút nào ngừng nghỉ.Không có một cái gì độc lập, cố định, đứng yên và vĩnh hằng, ngay cả trong
ý niệm tự ngã Mọi hiện tượng trong đời sống đều tương sinh, tương duyênvới nhau Dòng biến chuyển ấy là vô thuỷ, vô chung, vô cùng, vô tận, không
có khởi đầu, không có kết thúc
Về mặt giá trị, thế giới quan Phật giáo sẽ ký chứa đựng những yếu tốduy vật chất phác, thể hiện rõ nét ở quan niệm về tính tự thân sinh thành,biến đổi của con người và vạn vật tuân theo tính tất định: nhân - quả, phủnhận sự sáng tạo thế giới bởi Brahman, cũng như phủ nhận cái tôi (Atman)
và đưa ra quan niệm "vô ngã" vô "thường" mang tính biện chứng tự phát,chính Ăngghen đã nhận định rằng tư duy biện chứng tự phát là đặc điểmchung của tư tưởng Phật giáo sơ kỳ cũng như những người Hy lạp cổ đại
1.2.2 Nhân sinh quan
Những câu hỏi về: Con người từ đầu đến? Ai quyết định cái sống vàcái chết của con người? Con người có số phận không? Con người có quan
Trang 22hệ với nhau như thế nào trong xã hội? Tại sao con người lại chịu bất hạnh
và làm sao để con người được sống hạnh phúc, hạnh phúc là gì? Đã đượcnhân loại đặt ra và tìm cách giải đáp từ rất lâu và vẫn đang tiếp tục được giảiđáp bằng nhiều cách khác nhau
Xuất phát từ lý "Nhân duyên khởi", Phật giáo cho rằng con ngườikhông do thượng đế sinh ra, cũng không do một đấng thiêng liêng nào tạo ra
cả, mà con người là một pháp đặc biệt trong vạn pháp, do nhân duyên kếthợp tạo ra bởi hai thành phần: thể xác và tinh thần Phần thể xác là thần sắc,hình tướng giới hạn trong không gian bằng xương, thịt, da gọi là "sắc", đượctạo bởi bốn yếu tố (tứ đại) là: thuỷ, hoả, địa, phong Phần tinh thần hay ýthức gọi là "danh", bốn yếu tố do nhân duyên kết hợp tạo thành phần tinhthần (danh) của con người là:
- Thụ là những cảm giác, cảm thụ về sự khổ hay sướng đưa đến sự xúccảm, lãnh hội với thân và tâm
- Tưởng là suy nghĩ, tư tưởng
- Hành là hành động tạo tác theo ý muốn của mình thúc đẩy
"vô ngã"
Nói về tính chất "vô thường", "vô ngã" của vạn pháp trong Tăng nhất
A Hàm Kinh viết: "Pháp pháp tự sinh, pháp pháp tự diệt, pháp pháp tựđộng, pháp pháp tự tức pháp pháp tương loạn, pháp pháp tự tức, phápnăng sinh pháp nhất nhị nhất thiết sở hữu giai, qui vĩ không: vô ngã, vônhân, vô mệnh, vô sĩ, vô phu, vô hình, vô tượng, vô nam, vô nữ " (các
Trang 23Các pháp tự loạn lẫn nhau, các pháp tự nghỉ, pháp có thể sinh ra pháp Nhưthế hết thảy cái có đều qui về cái không, không ta, không người, khôngmệnh, không sĩ, không phu, không hình, không tượng, không nam, khôngnữ )[3, 248].
Nói về nhân sinh quan Phật giáo, sẽ là thiếu sót nếu ta không đề cậpđến hai phạm trù căn bản có liên quan với nhau là nghiệp báo và luân hồi
Nó không chủ lý giải về thân phận con người mà còn có tác dụng giáo hoácon người Tư tưởng "nghiệp báo" "luân hồi" không phải đức Phật khai hoá
mà nó có từ trước Nhưng với triết lý Phật giáo nó mới được hoàn thiện.Nghiệp là cái do hành động, thiện hay bất thiện, cố ý hay không cố ýcủa con người tạo ra Trong cuộc sống hiện tại con người phải gánh chịuhậu quả hành vi của kiếp trước con người tạo ra Sự gánh chịu hậu quả củakiếp trước là "nghiệp báo" Nghiệp báo còn được hiểu là khuynh hướng củanhân thần quả (thiện thành thiện, ác thành ác); là cái tâm linh cao hơn cái tựnhiên vốn có của con người (con người là bộ phận của tự nhiên là bộ phậncao hơn có quan hệ xã hội); là tự do của con người bằng sự hợp nhất tự docủa linh hồn với thượng đế (Brahman), là ánh sáng tâm linh bên trong củacon người (Đức sáng tự mình) Ánh sáng tâm linh này có phản chiếu ánhsáng tối cao hay không là chuyện bất khả tri, cách truyền nghiệp là tâmtruyền (muốn là được)
Phật giáo chứng minh con người có ý trí và có khả năng làm chủ đượcnghiệp trong khi phải tuân thủ luật nghiệp Khi giác ngộ với nghiệp khôngcòn tác dụng Nghiệp là sức mạnh ngấm ngầm thúc đẩy từ bên trong, là tiềmthức của con người mà muốn nhìn thấy nó phải nhất tâm thiền định
Luân hồi: luân là bánh xe quay tròn, hồi là trở về Luân hồi là nói đếnvạn pháp trong tam giới luôn luân chuyển không ngừng theo chu kỳ: sinh -trụ - dị - diệt hay thành - trụ - hoại không hay sinh - lão - bệnh - tử Đối vớicon người có thân thì có nghiệp, có nghiệp thì vào luân hồi để trả nghiệpbáo
Trang 24Cùng với thuyết "Nhân quả", "nghiệp - nghiệp báo" và "luân hồi" Phậtgiáo cho rằng không có một hành vi nào dù thiện, ác, to, nhỏ của con người
dù được bưng bít hay che đậy mà tránh khỏi "quả báo" Do đó, nếu làm điềutốt lành, tu nhân tích đức ở kiếp này thì có nghiệp tốt ứng báo điều lành,điều tốt cho đời sau Ngược lại, nếu ở kiếp này làm điều ác, điều xấu thì cónghiệp xấu báo ứng, phải gánh chịu điều xấu cho đời sau (quan hệ nhânquả)
Quan niệm về đời người thể hiện trong Tứ Thánh Đế Tứ Thánh Đế lànội dung chủ yếu của nhân sinh quan phật giáo Đó là luận điểm về giảithoát và cứu khổ - niết bàn Theo Tứ Thánh Đế, Phật giáo cho rằng đờingười là bể khổ "nước mắt chúng sinh nhiều hơn bốn biển" Những cái khổtóm lại trong bát khổ: sinh - lão - bệnh - tử - ái - biệt ly, oán tăng bội - sởcầu bất đắc - thủ ngũ uẩn khổ Căn nguyên của nổi khổ là do "vô minh"
Về bản tính của mình và thực tướng của vạn vật Vì nhầm tưởng "vôngã" là đích thực nên chủ thể chạy theo ái dục, nảy sinh khát khao thoả mãn
ái dục và để thoả mãn ái dục thì phải tạo "nghiệp" "Nghiệp" là nguyên nhân
để con người ra vào vòng luân hồi của khổ đau Để diệt khổ trước hết phảiphá bỏ "vô mình" Phá bỏ vô mình sẽ tự giác không chạy theo ái dục mà tạonghiệp Hết nghiệp con người thoát khỏi sự chi phối của nhân duyên, thoátdòng luân hồi đau khổ và đạt tới giải thoát ở cảnh giới "Niết bàn"
Để phá bỏ "vô minh", thoát khỏi khổ đau Phật giáo đã đưa ra 8 conđường biện pháp hay còn gọi đó là "bát chính đạo": chính kiến, chính tưduy, chính ngã, chính nghiệp, chính mệnh, chính tinh tấn, chính niệm, chínhđịnh: Đây là sự tu luyện toàn diện trên ba phương diện: giới (rèn luyện chođạo đức), định (rèn luyện tư tưởng), tuệ (khai sáng trí tuệ)
Như vậy, khi bàn về nhân sinh quan, Phật giáo đã thể hiện là một tôngiáo, triết học xác định "con người là tâm điểm của xã hội loài người" Trênthế giới loài người này không có gì tự nhiên sinh ra hay từ hư không rơixuống, mà điều do năng lực hoạt động của con người tạo các chi phối tất cả
Trang 25vô minh Người là chúa tể của xã hội loài người, xã hội loài người không cóchúa trời thứ hai Vì thế, đối với nhân sinh quan, Phật giáo phủ định thuyếtđịnh mệnh và thượng đế Nếu như thuyết định mệnh cho rằng con ngườisinh ra ở đời, dữ, phúc, họ đều do định sẵn từ trước, không thể nào thay đổiđược Những người tin vào thuyết định mệnh cho rằng tất cả đều là do trờisắp đặt kể cả việc sống và chết Người đã có số thì cho dù cố gắng đến baonhiêu cũng không thay đổi được số phận của mình Ví dụ, số đã nghèo thìlàm mấy cũng nghèo, hoặc người hay làm điều ác thì số đã giàu có phonglưu cũng không vì thế mà gặp nghiệp chướng Thì Phật giáo lại cho rằngcon người có thể thay đổi được số phận của mình Khi mê thì con người đaukhổ, nhưng khi bắt đầu nhận được mình mê, thì con người có thể cải tạohoàn cảnh và cuộc sống của mình.
Tuy nhiên, nhân sinh quan Phật giáo cũng có những hạn chế như: đạoPhật cho rằng con người là một giả hợp vô thường, vô ngã, do đó khôngthấy nguồn gốc tự nhiên của con người: con người là sản phẩm cao nhất củaquá trình vận động và phát triển của giới tự nhiên, thoát thai từ động vật và
về mặt sinh học, nó là động vật bậc cao có ý thức Chính vì bản thể luận cònhạn chế mà đạo Phật không thể hiểu được con người là một thực thể sinhhọc - xã hội Đạo Phật chỉ tập trung lý giải con người tinh thần hướng nộigần như không quan tâm đến con người vật chất, con người xã hội
Về "khổ" luận, đạo Phật mờ nhạt tính giai cấp Cái khổ của đạo Phật làkhổ ngoài thực tiễn lịch sử cải tạo, sáng tạo, là khổ phi giai cấp Tính xã hộichỉ thể hiện gián tiếp qua các chuẩn mực đạo đức chính - tà, thiện - ác, khổlạc Khổ của đạo Phật là cái khổ của nội tâm Đạo Phật không nhìn thấy sựtha hoá con người trong các quan hệ sản xuất và quan hệ đẳng cấp xã hội.Khổ của đạo Phật là cái khổ nói chung với sinh - lão - bệnh - tử, chứ khôngphải là cái khổ của con người bị lao động bị tước mất quyền làm chủ cảusản phẩm do chính mình sáng tạo ra để thoả mãn các nhu cầu vật chất vàtinh thần chính đáng Đạo Phật chỉ thấy được cái khổ bất biến của con người
Trang 26nói chung, mà không thấy được rằng thông qua hoạt động thực tiễn conngười làm biến đổi hoàn cảnh xã hội, đồng thời làm biến đổi bản thân mình.
Trang 27Chương 2NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA TƯ TƯỞNG GIẢI THOÁT
TRONG TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO SƠ KỲ 2.1 Những nét cơ bản về tư tưởng giải thoát trong các trường phái triết học Ấn Độ cổ trung đại.
2.1.1 Khái niệm giải thoát trong triết học tôn giáo Ấn Độ
“Giải thoát” tiếng phạm là Moksha, Mukti (mộc xoa, mộc đề), đượcgiải nghĩa như sau: “giải” nghĩa là gỡ ra, cởi ra, chia tách ra hay giải thíchcho rõ, còn chữ “thoát” nghĩa là vượt ra khỏi trói buộc, vượt ra ngoài sựràng buộc Theo các kinh sách triết học và tôn giáo cổ Ấn Độ, thì “giảithoát” là một thuật ngữ bao hàm rất nhiều ý nghĩa Có thể ví nó như mộtviên ngọc được ngắm nhìn ở nhiều gốc độ khác nhau như trạng thái, mụcđích, phương tiện và kết quả Và người ta cũng có thể xem nó ở các mặt bảnthể hiện hay mặt nhận thức luận, mặt triết học, mặt tâm lý cũng như mặt đạođức, tôn giáo
Trong Upanishad, một trong những tác phẩm được coi là đỉnh cao củatriết học Ấn Độ cổ đại, phạm trù giải thoát được định nghĩa là xoá bỏ mọiràng buộc của thế giới nhục dục, đưa tiểu ngã (Át man) hay linh hồn cá thểhoà nhập vào đại ngũ (Brahman) hay “tinh thần vũ trụ tối cao” Theo triết lýUpanishad thì chừng nào chưa giác ngộ và thực hiện được sự đồng nhấtgiữa Át man với Brahman thì chừng đó con người còn tự ràng buộc trongthế giới giả tưởng sinh tử, luân hồi (Samrara) bất tiện bởi nghiệp báo(Karma) chi phối
Còn trong Phật giáo thì “giải thoát” được giải thích là: theo “Phật học
từ điển” của Đoàn Trung Còn thì “giải” là lìa khỏi sự trói buộc, được tự tại,
mở lấy những dạng trói của nghiệp làm, “thoát” là ra ngoài quả khổ tamgiới (dục, sắc,vô sắc) Chẳng hạn như giải thoát đối với kết (thắt, buộc), hệphược (trói, buộc) Giải thoát có các nghĩa:
Trang 28- Giải thoát là Niêt bàn là thể Niết bàn vì lìa tất cả sự trói buộc (giảithoát khỏi ngũ uẩn cũng gọi là Niết bàn)
- Giải thoát là thiền định, vì nhờ thiền định mà thoát khỏi vòng tróibuộc trở nên tự tại (chẳng hạn như tam giải thoát, bát giải thoát, bất tư nghịgiải thoát)
- Giải thoát là một phần trong Ngũ phần phán thân Chính vì vậy, ĐạoPhật cũng gọi là giải thoát, giải thoát hạnh, giải thoát giới Aó cà sa cũng gọi
là giải thoát phục, giải thoát y
Giải thoát có hai loại:
1 Tính tịnh giải thoát, tạo bản tính của phép chứng minh vốn là hạnhtịnh không có cái hướng hệ phước (trói buộc), ô nhiễm
2.Chúng tận giải thoát, tức bản tính của chúng sinh nói chúng là thanhtịnh, nhưng vì từ vô thượng đến nay chúng sinh luôn bị phiền não, làm mêhoặc, chẳng thể hiện được bản tính của mình, vậy nên mới phải đoạn tuyệtvới cái hoặc chướng ấy mà được giải thoát tự tại
Giải thoát cũng có hai cách về sự và lý
1 Về sự, tức là thoát khỏi vòng khổ não, tai nạn, đương trói buộc cáithân (chẳng hạn giải thoát khỏi địa ngục, ma quỷ, súc sinh), giải thoát khỏinơi pháp luật (quy luật của vạn pháp)
2 Về lý, tức là giải thoát tất cả những phiền não, những duyên luyến ái
đã từng trói buộc cái tâm (chẳng hạn thoát khỏi luân hồi để đạt quả thánh(Alahán, Bồ tát, phật, giác ngộ)
Về lý do giải thoát cũng có hai lẽ:
1 Tâm thiện giải thoát, tức tâm khéo giải thoát thì lìa khỏi các tróibuộc tham, sân, si
2 Huệ thiện giải thoát, tức trí tuệ khéo giải thoát, không bị chướngngại bởi một pháp nào cả, biết rõ và thông hiểu tât cả Hai lẽ này là giải
Trang 29Từ đó ta có thể thấy rằng theo Phật giáo giải thoát tức là trạng thái đờisống tinh thần con người vượt ra khỏi mọi sự ràng buộc của thế giới nhụcdục, là sự diệt hết mọi dục vọng hay dập tắt mọi ngọn lửa dục vọng và đạttới cảnh trí Niêt bàn với cái tâm tuyệt đối thanh tịnh, không vọng đầy, anlạc, bất sinh, bất diệt và sự tự do, tự tại bằng con đường ta luyện đạo đức,giữ nghiêm giới luật và tu luyện tri thức, thiền định, thực nghiêm tâm linh
để đạt tới giác ngộ theo “Tam học” (giới - Sali, định - Sanadhi, tuệ - Jnana).Như vậy, có thể nói “giải thoát” là một phạm trù triết học tôn giáo Ấn
Độ dùng để chỉ trạng thái tinh thần, tâm lý, đạo đức của con người thoát rakhỏi mọi ràng buộc của thế giới trần tục và nỗi khổ của cuộc đời Đạt tới sựgiải thoát con người, sẽ đạt tới sự giác ngộ, nhận ra chân bận của mình vàthực tướng của vạn vật, xoá bỏ vô minh, diệt mọi dục vọng, vượt ra khởinghiệp báo, luân hồi, hoà nhập vào bản thể tuyệt đối Bahmas hay niết bàn
Để đạt tới giải thoát con người phải dày công tu luyện hành động đạođức theo giới luật, trí tuệ, tự giá, thực nghiệm tâm linh, chiêm nghiệm nộitâm lâu dài Đạt tới sự giải thoát cũng chính là lúc con người đạt tới sự siêuthoát, nghĩa là do vượt lên trên sự trói buộc của thế giới trần tục, thoát khỏi
sự chi phối của dục vọng, sinh tử, phiền não, sống hoàn toàn thanh thoát, tựtại
2.1.2 Tư tưởng giải thoát đặc điểm nổi trội trong triết học tôn giáo
Ấn Độ cổ trung đại
Tư tưởng giải thoát không chỉ có ở triết học Ấn Độ cổ đại mà nó cũngxuất hiện ở những tư tưởng triết học và những giáo lý của tôn giáo của cácnền văn minh khác của nhân loại thời cổ đại “Ở phương Tây đó là tư tươnggiải thoát “Thanh tẩy” của phái Pythagore Còn ở Trung Quốc, đó là tưtưởng về “đạo”, về quan điểm “vạn vật đồng nhất thể” và sự “huyền hoá”,
“huyền đồng” giữa con người và vũ trụ vạn vật hay với đạo tự nhiên “quênthân thể, bãi thông minh, lìa hình hài, bỏ tri thức”, “dựa vào cái chính củatrời đất (đạo), cưỡi trên sự biến hoá của lục khí (âm, dương, gió, mưa, sáng,tối) mà đang chơi trong cõi vô cùng của Lão Trang”[4, 44] Nhưng nếu
Trang 30muốn tìm đến chỗ xuất phát của tư tưởng giải thoát thì ta không thể khôngtìm đến Ấn Độ cổ đại, từ thời đại Áo nghĩa thư trở về sau tất cả tư tưởng Ấn
Độ, không những chỉ đứng trên lập trường giải thoát mà còn tận lực để phấnđấu giải thoát Có thể nói điều đó, ngoài Ấn Độ ra ta không thể tìm thấy ởmột nơi nào khác
Thực vậy, dưới sự chi phối của điều kiện sinh hoạt xã hội, đặc biệt làchế độ chiếm hữu nô lệ mang nặng tính chất của chế độ công xã nông thôn,tính cùng với sự thống trị của chế độ phân biệt đẳng cấp xã hội khắc nghiệt,triết học Ấn Độ cổ đại đã hình thành và phát triển vừa mang tính đa dạngvừa mang tính thống nhất, tạo ra sự sống động muôn màu muôn vẻ của triếthọc Ấn Độ “ Các mặt khác nhau của trí tuệ Ấn Độ phức tạp và mang tínhtoàn bộ được tỏ ra trong tính thống nhất và đa dạng của chúng”[ 9, 289].Đặc điểm ấy được biểu hiện ở chỗ trên cùng một nền tảng xã hội, mộtmục đích chung là đi tìm đạo sống, lẻ sống của con người, suy ngẫm về bảnchất và ý nghĩa tối cao của cuộc đời, biết các môn phái triết học Ấn Độ cổđại lại phát triển theo nhiều hướng khác nhau và mang những tính chất khácnhau “Tất cả các hệ thống đó được coi là chính thống nhưng chúng khácnhau trong cách tiếp cận và kết luận của chúng Có thuyết đa thần giáo, cóthuyết hữu thần với một thượng đế riêng, và nhất thần giáo thuần tuý, vàmột hệ thống vừa thừa nhận thượng đế vừa tự đặt cơ sở trên một thuyết tiếnhoá Có chủ nghĩa duy tâm và chủ nghĩa hiện thực”[9, 299]
Triết học Phật giáo vừa không thừa nhận thế giới quan thần quyền, lạivừa không thừa nhận cái “ngã” cá nhân bất kiến, chủ trương tất cả đều donhân duyên là ý chí, là ở tâm chúng ta Do đó nếu muốn giải thoát, conngười phải cắt đứt mọi nhân duyên, nghĩa là diệt hết dục vọng của conngười
Trong khi đó, các môn phái triết học thuộc hệ thống Bàlamôn chínhthống, thì mỗi trường phái chỉ cần thừa nhận những nguyên lý căn bản của
xã hội Ấn Độ chính thống, như chấp nhận quyền uy của thánh kinh Vêda,
Trang 31Bàlamôn, bảo vệ cho chế độ đẳng cấp xã hội, rồi họ có thể tự do phát triển
tư tưởng của họ theo các hình thức, khuynh hướng, tính chất khác nhau tuỳ
ý, dù đó là chủ nghĩa vô thần, phủ nhận sự tồn tại của thượng đế hay tưtưởng “suy tôn” “Đấng sáng tạo tối cao vô ngã”, dù đó là tư tưởng nhấtnguyên hay tư tưởng đa nguyên, chủ nghĩa bi quan yếm thế hay chủ nghĩahiện thực lạc quan Các trường phái triết học tôn giáo Ấn Độ vừa “cạnhtranh” với nhau, vừa kế thừa tư tưởng của nhau, chúng “gối lên nhau, tưtưởng củ và tư tưởng mới vận động liền nhau không dung hoà và thường khimâu thuẫn nhau góp phần tạo nên một hệ thống khái niệm, những phạm trù,những nguyên lý triết học tôn giáo vừa có tính truyền thống vừa mang tínhhiện thực sinh động như “thực thể”, “tồn tại”, “hư vô”, “pháp”, “bân ngã”,
“tâm linh”, “nhân quả”, “nghiệp”, “luân hồi”, “thiền định”, “giải thoát”,
“siêu thoát” Chúng đã hun đúc và “ảnh hưởng mạnh mẽ trong việc nhàonặn cách nhìn của dân tộc và phát triển một tâm thức đặc biệt”[9, 298] củangười Ấn Độ Tâm thức đi tìm cái thanh tịnh vô hạn, tuyệt đối đằng sau cái
vô thường, hữu hạn tuyệt đối, tìm cõi lý tưởng trong thế giới trần tục, tìmcái thiện trong cái ác Tâm thức coi thế giới vật chất tiền tài, danh vọngthậm chí cả thân thể con người cũng chỉ là vô thường, là tạm bợ, phù du màcon người ta cứ mê lầm theo đuổi chúng thì không bao giờ thoả mãn đượcdục vọng của mình Căn giá trị sâu thẳm trong tâm linh đạo đức con người,khiến cho con người trở thành đích thực mới được coi là cao cả vĩnh hằng.Các trường phái triết học tôn giáo Ấn Độ cổ tuy có nhiều khuynhhướng và hình thức khác nhau nhưng tượng trưng đều nhằm mục đích diệtkhổ và giải thoát Để đạt được mục đích ấy, triết học Ấn Độ cố gắng đi tìmchân bản tính của mọi vật, mà trong đó con người bản chất là đồng nhất vớibản thể của vũ trụ tuyệt đối, sáng suốt, thanh tịnh trong cái ta giả, cái ta hiệntượng đầy dục vọng và tham dục của con người Nó đặt ra những câu hỏixung quanh vấn đề về bản ngã của con người như: con người sinh ra từ đâu?Con người đi về đâu? Ý nghĩa tối cao của cuộc đời con người là gì? Làm thếnào để con người đạt tới cõi hạnh phúc lý tưởng vĩnh hằng? Có thể nói,
Trang 32nhân sinh là những vấn đề cốt lõi của triết học tôn giáo Ấn Độ Để tìm rađạo sống của con người và để tinh thần của con người vượt qua được sự mêhoặc của thế giới hiện tượng giả tưởng, ảo vọng khát khao vươn tới bản thểtuyệt đối tối cao, vĩnh viễn, là nguồn sống của vũ trụ, vạch ra một sự tươngứng tương đồng giữa nội tâm và ngoại giới, giữa cái “tiểu ngã” và cái “đạingã”, triết học Ấn Độ tất yếu phải lý giải về căn nguyên vũ trụ, và hầu nhưtất cả các trào lưu tư tưởng Ấn Độ đều chỉ ra rằng, đằng sau thế giới hiệntượng thiên hình, vạn trạng, luôn biến đổi như ảo ảnh phù du là một thực tạichân thực có tính chất tuyệt đối và vĩnh viễn Mọi sự vật, hiện tượng trongthế giới, kể cả con người chỉ là những biểu hiện khác nhau của cái duy nhất,tuyệt đối tối cao được coi là “Tinh thần vũ trụ tối cao” - Brahman, phạmthiên, niết bàn hay chân như, tức cái chân lý, thực thể, thực tính hiển nhiên,tuyệt đối, vĩnh viễn, không thay đổi.
Về bản chất, cái bản tính của tự ngã tức cái bản chất vốn có của cái ta
về tinh thần, tâm linh, cùng với thực tại vũ trụ, phạm thiên, chân như, Niếtbàn là đồng nhất vốn bản lai thanh tịnh, không vọng động là cảnh giới diệulạc vĩnh hằng Nhưng vì mê mỏ không thấy được cái chân tướng ấy nên conngười đã tự tách khỏi cái bản tính đồng nhất đó, để rồi phải lặn lội, trôi dạttrong bể khổ của vòng sinh tử, bị chìm đắm trong cái ta giả tưởng và thếgiới hiện tượng vụt mất, vụt có, biến ảo phù du với những dục vọng, si mêlôi kéo làm mất hết sự tự do, tự tại
Do đó, đối với các trường phái triết học tôn giáo Ấn Độ, mục đích tốicao của đời sống con người là phải vượt qua mê ngộ, vô hình, nhận ra bảntình của mình và thực tướng của vạn vật, hoà nhập vào với bản thể vũ trụtuyệt đối, chân thực bằng nhận thức trực giác, “thực nghiệm tâm linh” hay
là sự chiêm nghiệm, vén mở chính thế giới nội tâm con người Đó chính là
sự giải thoát
Với ý nghĩa đó, có thể nói tư tưởng giải thoát là một trong những đặcđiểm nổi bật và xuyên suốt của triết học tôn giáo Ấn Độ Các hệ thống triết