1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Từ quan điểm của chủ nghĩa mác lênin về vai trò của quần chúng nhân dân đến tư tưởng “lấy dân làm gốc”của hồ chí minh

70 11,4K 53

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Từ Quan Điểm Của Chủ Nghĩa Mác-Lênin Về Vai Trò Của Quần Chúng Nhân Dân Đến Tư Tưởng “Lấy Dân Làm Gốc” Của Hồ Chí Minh
Tác giả Đàm Thị Thu Liễu
Người hướng dẫn Th.S. Hoàng Ngọc Vĩnh
Trường học Đại Học Huế
Chuyên ngành Khoa Học Chính Trị
Thể loại Khóa Luận Tốt Nghiệp
Năm xuất bản 2010
Thành phố Huế
Định dạng
Số trang 70
Dung lượng 1,63 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khi cáchình thức tổ chức Nhà nước với những biến chuyển về “chất” lần lượt ra đờithay thế nhau, cho dù là ở hình thức tổ chức nào đi chăng nữa, dù ở đó luôn cócác cá nhân kiệt xuất, nhữn

Trang 1

ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

-  

 -Từ quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin

về vai trò của quần chúng nhân dân

đến tư tưởng “Lấy dân làm gốc”của Hồ Chí Minh

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

Giáo viên hướng dẫn:

Th.S Hoàng Ngọc Vĩnh

Sinh viên thực hiện:

Đàm Thị Thu Liễu

HUẾ, 05/2010

Trang 2

Lời đầu tiên, em xin chân thành cảm ơn quý thầy, cô giáo trong khoa Lý luận chính trị, những người đã dạy dỗ, cung cấp kiến thức cho em trong suốt khóa học.

Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo, Th.S Hoàng Ngọc Vĩnh đã trực tiếp giúp đỡ, hướng dẫn tận tình,

ân cần bảo ban để em hoàn thành khóa luận này

Cuối cùng xin cảm ơn gia đình, bạn bè đã giúp đỡ động viên trong suốt thời gian vừa qua.

Do hạn chế về thời gian và kiến thức nên khóa luận này sẽ không tránh khỏi những thiếu sót Rất mong nhận được sự quan tâm, góp ý của quý thầy cô giáo và các bạn.

Em xin chân thành cảm ơn! Huế, tháng 05 năm 2010

Sinh viên

Trang 3

Đàm Thị Thu Liễu

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu của đề tài 2

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 3

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài 4

5 Đóng góp của đề tài 4

6 Kết cấu của khóa luận 4

NỘI DUNG 5

Chương 1 QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN VỀ VAI TRÒ CỦA QUẦN CHÚNG NHÂN DÂN 5

1.1 Quần chúng nhân dân, nhân tố quyết định lịch sử 5

1.1.1 Khái niệm quần chúng nhân dân 5

1.1.2 Vai trò của quần chúng nhân dân trong lịch sử 8

2.1 Khái niệm và vai trò của vĩ nhân, lãnh tụ trong lịch sử 17

2.1.1 Khái niệm vĩ nhân, lãnh tụ 17

2.1.2 Vai trò của vĩ nhân-lãnh tụ 18

Chương 2 TƯ TƯỞNG “LẤY DÂN LÀM GỐC” CỦA HỒ CHÍ MNH 27

2.1 Cơ sở hình thành tư tưởng “Lấy dân làm gốc” của Hồ Chí Minh 27

2.1.1 Truyền thống “cố kết cộng đồng dân tộc” trong lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam 27

2.1.2 Tinh hoa văn hóa nhân loại 31

2.1.3 Lý luận về vai trò quần chúng nhân dân của Hồ Chí Minh là một bộ phận khăng khít của chủ nghĩa duy vật biện chứng về lịch sử 34

Trang 4

2.2 Nội dung tư tưởng “Lấy dân làm gốc” của Hồ Chí Minh và ý nghĩa của nó trong giai đoạn hiện nay 38

2.2.1 Khái niệm “Dân” trong tư tưởng Hồ Chí Minh 38 2.2.2 Nội dung tư tưởng “Lấy dân làm gốc” của Hồ Chí Minh 45 2.2.3 Tư tưởng “Lấy dân làm gốc” của Hồ Chí Minh là cơ sở nền tảng của tư tưởng, là kim chỉ nam cho hành động của cách mạng Việt Nam 55

KẾT LUẬN 62 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 65

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Không phải đến lúc chủ nghĩa Mác-Lênin ra đời, quần chúng nhân dânmới có vai trò to lớn đối với lịch sử Ngay từ xa xưa, thuở bình minh của nhânloại, lúc con người mới liên kết lại với nhau tạo nên các “cộng đồng” người, họ

đã biết sức mạnh của “bầy đàn”, luôn lớn hơn sức mạnh của cá thể Khi cáchình thức tổ chức Nhà nước với những biến chuyển về “chất” lần lượt ra đờithay thế nhau, cho dù là ở hình thức tổ chức nào đi chăng nữa, dù ở đó luôn cócác cá nhân kiệt xuất, những người con ưu tú của thời đại, đứng đầu dẫn dắt,lãnh đạo đưa ra các quyết định có tính chất bước ngoặt cho lịch sử, nhưng chỉ

có các cá nhân, lãnh tụ, các vĩ nhân kiệt xuất không thôi chưa đủ, lịch sử khó

có thể sang trang mới, xã hội loài người khó tiến bộ nếu thiếu mất một lựclượng cơ bản, lực lượng chủ yếu tạo nên các cuộc cách mạng xã hội, quyết

định sự phồn vinh hay suy thoái, tồn tại hay suy vong của xã hội: Đó chính là quần chúng nhân dân.

Chỉ đến lúc chủ nghĩa Mác-Lênin ra đời, vai trò to lớn đó của quầnchúng nhân mới được khẳng định một cách đúng đắn, khoa học Chủ nghĩaMác-Lênin khẳng định vai trò to lớn của quần chúng nhân dân không chỉ giớihạn trong phạm vi một lãnh thổ, một quốc gia, một dân tộc hay một thời đạinào, mà nó đúng ở mọi thời đại, mọi quốc gia, mọi dân tộc trên thế giới

Trang 5

Vai trò quần chúng nhân dân trong lịch sử đã được khẳng định như làmột chân lý bất dịch, không chỉ là một quan điểm lý luận mà là một bộ phậnkhăng khít của chủ nghĩa duy vật biện chứng về lịch sử Hồ Chí Minh là lãnh

tụ đầu tiên ở Việt Nam đã tiếp thu quan điểm đó, vận dụng sáng tạo vào hoàncảnh Việt Nam và phát triển nó trong điều kiện mới của lịch sử Người đãkhẳng định: “Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng nhân dân, chứ khôngphải là sự nghiệp của cá nhân anh hùng nào”[13; 7] Hồ Chí Minh đã thấmnhuần và tiếp thu tư tưởng “Quần chúng là người sáng tạo ra lịch sử thúc đẩylịch sử không ngừng phát triển” của chủ nghĩa Mác-Lênin và phát triển nótrong điều kiện mới của lịch sử dân tộc với tư tưởng “Nước lấy dân làm gốc”

Quan điểm này có trong Nho giáo từ thế kỷ IV TCN Ở Việt Nam, tưtưởng này xuất hiện từ Trần Hưng Đạo Đến thế kỷ XV nó được Nguyễn Trãi

mở rộng và hoàn thiện thêm, và sau này được nhiều nhà tư tưởng Việt Namkhông ngừng hoàn thiện: Lê Thánh Tông, Minh Mạng, Phan Bội Châu, v.v

Hồ Chí Minh sau ngần 40 năm bôn ba nước ngoài và trực tiếp lãnh đạocách mạng Việt Nam, Người nhận thức đầy đủ và sâu sắc hơn chân lý “Nướclấy dân làm gốc” mà khẳng định: “Gốc có vững cây mới bền Xây lầu thắnglợi trên nền nhân dân”[15; 410] Trong rất nhiều bài nói, bài viết, Hồ ChíMinh luôn coi “Dân là gốc của nước, nước lấy dân làm gốc”

Vì vậy, việc nghiên cứu vai trò to lớn của quần chúng nhân dân trongtriết học Mác-Lênin, đến tư tưởng “Lấy dân làm gốc” của Hồ Chí Minh là hếtsức cần thiết Trên cơ sở đó chúng ta hiểu rõ hơn, sâu sắc hơn về vai trò củaquần chúng nhân dân trong công cuộc đổi mới ở Việt Nam hiện nay và tươnglai

Xuất phát từ nhận thức đó, tôi mạnh dạn chọn vấn đề: “Từ quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về vai trò của quần chúng nhân dân đến tư tưởng “Lấy dân làm gốc”của Hồ Chí Minh” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp

của mình

2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu của đề tài

Trang 6

Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về vai trò của quần chúng nhândân và bài học “Lấy dân làm gốc” là vấn đề đã được khá nhiều tác giả nghiêncứu dưới các góc độ khác nhau.

 Quan điểm triết học Mác-Lênin về vai trò của quần chúng nhân dân

và cá nhân trong lịch sử được trình bày trong các giáo trình, các bài giảngmôn triết học Mác-Lênin và những tài liệu khác nhau, đặc biệt là các Giáotrình triết học Mác-Lênin dùng trong các trường Cao đẳng, Đại học do Bộgiáo dục và đào tạo biên soạn, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, phát hành từnăm 1992 đến nay

 Giáo trình tư tưởng Hồ Chí Minh dùng trong các trường Cao đẳng,Đại học do Bộ giáo dục và đào tạo, biên soạn, Nxb Chính trị quốc gia, HàNội, 2003 đến 2009

 “Tư tưởng Hồ Chí Minh về lấy dân làm gốc”, của tác giả Phạm BáLượng, Học Viện An Ninh, trên tạp chí Triết học, số 2 tháng 2/2005

 Luận văn thạc sỹ “Quan điểm của triết học Mác-Lênin về vai trò quầnchúng nhân dân trong lịch sử và sự vận dụng của Đảng Cộng sản Việt Nam”,của Trần Văn Đặng, Huế - 2006

 “Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về quần chúng nhân dân và bàihọc “Lấy dân làm gốc” trong giai đoạn hiện nay” của Dương Thị Thu Hương,khóa luận tốt nghiệp, năm 2003

 Bài học “Lấy dân làm gốc” trong lịch sử tư tưởng Việt Nam với côngtác vận động quần chúng giai đoạn hiện nay”, của Nguyễn Thanh Niềm, khóaluận tốt nghiệp, năm 2009

Để hoàn thành khóa luận này, tôi kế thừa có chọn lọc những kết quảnghiên cứu đó, đồng thời góp phần làm sáng tỏ thêm ý nghĩa tư tưởng “Lấydân làm gốc” của Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

Mục đích:

Trang 7

Làm rõ quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về vai trò của quần chúngnhân dân và tư tưởng “lấy dân làm gốc” của Hồ Chí Minh, từ đó vạch ra ýnghĩa của quan điểm này đối với giai đoạn hiện nay ở Việt Nam.

 Chỉ rõ ý nghĩa của vấn đề này trong giai đoạn hiện nay ở Việt Nam

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài

Đề tài được thực hiện trên cơ sở thế giới quan duy vật biện chứng vàphương pháp luận biện chứng duy vật; tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểmcủa Đảng Cộng sản Việt Nam về vai trò của quần chúng nhân dân

Các phương pháp nghiên cứu của đề tài là: phương pháp phân tích-tổnghợp, phương pháp logic-lịch sử, phương pháp đối chiếu-so sánh, v.v

5 Đóng góp của đề tài

Khóa luận là một công trình nghiên cứu ở trình độ cử nhân Vì vậy, tácgiả chỉ mong rằng được góp phần của mình vào việc làm rõ tư tưởng Hồ ChíMinh về “Lấy dân làm gốc” đã kế thừa và phát triển quan điểm của chủ nghĩaMác-Lênin về vai trò của quần chúng nhân dân như thế nào

Ngoài ra kết quả nghiên cứu của đề tài còn có thể làm tài liệu học tập,tham khảo cho những ai quan tâm đến vấn đề này

6 Kết cấu của khóa luận

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo,khóa luận gồm 2 chương 4 tiết:

Chương1: Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về vai trò của quần

chúng nhân dân

Trang 8

1.1 Quần chúng nhân dân, nhân tố quyết định lịch sử

1.2 Khái niệm và vai trò của vĩ nhân-lãnh tụ trong lịch sử

Chương 2: Tư tưởng “Lấy dân làm gốc” của Hồ Chí Minh.

2.1 Cơ sở hình thành tư tưởng “Lấy dân làm gốc” của Hồ Chí Minh2.2 Nội dung tư tưởng “Lấy dân làm gốc” của Hồ Chí Minh và ý nghĩacủa nó trong giai đoạn hiện nay

Trang 9

NỘI DUNG Chương 1 QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN VỀ

VAI TRÒ CỦA QUẦN CHÚNG NHÂN DÂN

1.1 Quần chúng nhân dân, nhân tố quyết định lịch sử

1.1.1 Khái niệm quần chúng nhân dân

Chủ nghĩa Mác-Lênin khẳng định chủ thể chân chính sáng tạo ra vàquyết định sự vận động, phát triển của lịch sử là quần chúng nhân dân Quátrình vận động, phát triển của lịch sử luôn diễn ra thông qua hoạt động củađông đảo quần chúng nhân dân, dưới sự lãnh đạo của một cá nhân hay một tổchức, nhằm thực hiện những mục đích nhất định Bởi vì, mọi lý tưởng giảiphóng xã hội, giải phóng con người tự nó không biến đổi được hiện thực, màphải thông qua sự tiếp thu (nhận thức) và hoạt động thực tiễn của quần chúngnhân dân C.Mác đã viết: Cố nhiên vũ khí phê phán không thể thay thế sự phê

phán bằng vũ khí, lực lượng vật chất chỉ có thể đánh bại bằng lực lượng vật

chất Nhưng mỗi khi lý luận thâm nhập vào quần chúng thì sẽ trở thành lựclượng vật chất

Tuy nhiên, trong lịch sử, vì lợi ích giai cấp mà người ta đã đưa ra nhiềuquan điểm khác nhau, thậm chí là đối lập nhau về vai trò của quần chúng nhândân và cá nhân trong lịch sử Tư tưởng tôn giáo, cho rằng mọi sự thay đổi trong

xã hội là do ý chí của đấng tối cao “thượng đế”, “chúa trời”, “mệnh trời”, được

cá nhân thực hiện Triết học duy tâm cho rằng lịch sử nhân loại là lịch sử củacác bậc vua chúa, anh hùng hào kiệt, thiên tài lỗi lạc; lịch sử do lực lượng siêunhiên gọi là “thượng đế”, “chúa trời”, “mệnh trời”, “tinh thần tuyệt đối” sángtạo, còn quần chúng nhân dân chỉ là “lực lượng tiêu cực”, là “phiến diện”, là

“công cụ” mà các vĩ nhân cần đến để đạt mục đích của mình Nhìn chung giaicấp thống trị bóc lột cho rằng vĩ nhân lãnh tụ đóng vai trò quyết định trongviệc sáng tạo ra lịch sử Lý luận đó mang tính chất duy tâm và phản động vớimục đích cuối cùng là nhằm biện hộ cho sự bóc lột của giai cấp thống trị

Trang 10

Cùng với quan điểm đúng đắn, khoa học về con người và bản chất củacon người, triết học Mác-Lênin đã lý giải một cách duy vật khoa học về quầnchúng nhân dân, cá nhân, vĩ nhân, anh hùng, lãnh tụ, về vai trò của quầnchúng nhân dân và vĩ nhân-lãnh tụ trong lịch sử.

Quần chúng nhân dân là khái niệm mang tính lịch sử, gắn với nhữnghình thái kinh tế-xã hội nhất định Trong bất cứ giai đoạn phát triển nào, quầnchúng nhân dân đều được xác định bởi: Những người lao động sản xuất ra củacải vật chất, đây là bộ phận hạt nhân của quần chúng nhân dân; Bộ phận dân

cư chống lại những lực lượng xã hội phản động ngăn cản sự tiến bộ xã hội;Những giai cấp, những tầng lớp xã hội thúc đẩy sự tiến bộ xã hội

Khái niệm quần chúng nhân dân có sự thay đổi và phát triển trong lịchsử, gắn liền với từng giai đoạn lịch sử, với những hình thái kinh tế-xã hội nhấtđịnh, do đó nó là một phạm trù lịch sử Căn cứ vào điều kiện lịch sử xã hội vànhững nhiệm vụ đặt ra của mỗi thời đại mà quần chúng nhân dân bao hàmnhững thành phần, những giai cấp và tầng lớp xã hội khác nhau, chứ khôngphải toàn bộ mọi người trong xã hội Quần chúng nhân dân thay đổi theo lịchsử, có thể trong giai đoạn lịch sử này họ là quần chúng nhân dân nhưng tronggiai đoạn khác họ không phải là quần chúng nhân dân nữa Nhưng trong bất

kỳ giai đoạn nào của lịch sử quần chúng nhân dân cũng đều được xác định bởicác nội dung cơ bản sau:

Thứ nhất: những người lao động sản xuất ra của cải vật chất và của cải tinh thần cho xã hội, đây là lực lượng hạt nhân cơ bản của quần chúng nhân dân, do đó thường có tên gọi là quần chúng nhân dân lao động.

Quần chúng nhân dân không phải tất cả các giai cấp, tầng lớp trong

xã hội, mà nó là bộ phận đông đảo của xã hội, trước hết là người lao độngsản xuất của cải vật chất và của cải tinh thần cho xã hội, là nhân tố quyết định

sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người Ngày nay, lực lượng lao động cơbản của thời đại là giai cấp công nhân

Chính nguời lao động là chủ thể của quá trình lao động sản xuất, đãsáng tạo ra lịch sử xã hội loài người Với sức mạnh về vật lực và trí lực của

Trang 11

mình người lao động đã tác động vào giới tự nhiên, cải tạo các dạng vật chất

tự nhiên, tác động vào đối tượng lao động để sản xuất ra của cải vật chất, đápứng cho nhu cầu ngày càng cao của con người và xã hội Cũng chính quátrình lao động sản xuất đó, người lao động đã không ngừng được phát triển cả

về số lượng lẫn chất lượng lao động cả về thể lực lẫn trí lực Ngày nay, cùngvới sự phát triển của cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật - công nghệ, trình

độ lao động của quần chúng nhân dân ngày càng được nâng cao một cách rõrệt

Thứ hai: những bộ phận dân cư chống lại những lực lượng xã hội lạc hậu, phản động, giai cấp thống trị áp bức, bóc lột, đối kháng với nhân dân.

Quần chúng nhân dân không phải tất cả các bộ phận dân cư trong xãhội, mà chỉ bao gồm các giai cấp, các tầng lớp xã hội bị thống trị áp bức bóclột, đó chính là lực lượng xã hội đối kháng với giai cấp thống trị áp bức, bóclột Chính lực lượng xã hội này đã thực hiện những cuộc đấu tranh giai cấpchống lại giai cấp thống trị áp bức bóc lột, làm nên những cuộc cách mạng xãhội đưa lịch sử xã hội loài người phát triển từ thấp đến cao Đây chính là lựclượng cơ bản, là động lực chủ yếu của mọi cuộc cách mạng xã hội trong lịchsử

Thứ ba: những giai cấp, những tầng lớp xã hội thúc đẩy sự tiến bộ xã hội thông qua hoạt động của mình, trực tiếp hay gián tiếp trên các lĩnh vực của đời sống xã hội.

Quần chúng nhân dân không phải mọi lực lượng trong xã hội nóichung, mà nó chỉ bao gồm các lực lượng tiến bộ trong xã hội Là lực lượngđối lập với giai cấp thống trị bóc lột, đối lập với bọn phản cách mạng, đối lậpvới các lực lượng lạc hậu kìm hãm sự phát triển trong xã hội Chính bằng cáchoạt động thực tiễn của mình, mà trước hết là lao động sản xuất của cải vậtchất, đấu tranh giai cấp và các hoạt động chính trị xã hội khác, quần chúngnhân dân đã đóng vai trò quyết định làm thúc đẩy mọi mặt đời sống pháttriển, làm cho lịch sử xã hội không ngừng vận động, biến đổi từ thấp đến cao

Trang 12

Ngày nay, quần chúng nhân dân bao gồm toàn bộ lực lượng tiến bộ củanhân loại, trong đó lực lượng cơ bản là giai cấp công nhân và nhân dân laođộng, đoàn kết đấu tranh phấn đấu thực hiện cho các mục tiêu cơ bản của thờiđại: hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.

Như vậy, quần chúng nhân dân là bộ phận có cùng chung lợi ích cơ bản

gắn liền với một hình thái kinh tế-xã hội nhất định, bao gồm những thànhphần, những tầng lớp và những giai cấp, liên kết lại thành tập thể dưới sự lãnhđạo của một cá nhân, tổ chức hay đảng phái nhằm giải quyết những vấn đềkinh tế, chính trị, xã hội của một thời đại nhất định

Thực chất quần chúng nhân dân là sự liên kết những cá nhân thành mộtkhối thống nhất được xây dựng trên cơ sở nền tảng là lợi ích cơ bản nhằmthực hiện những nhiệm vụ lịch sử đặt ra Do đó quần chúng nhân dân là mộtphạm trù lịch sử, vận động và biến đổi theo sự phát triển của lịch sử xã hội

1.1.2 Vai trò của quần chúng nhân dân trong lịch sử

Con người sáng tạo ra lịch sử, song vai trò quyết định đối với sự phát triển xã hội là ở một cá nhân đặc biệt hay quần chúng nhân dân đông đảo?.

Trước khi chủ nghĩa Mác-Lênin ra đời, các trường phái triết học trướcMác đều chưa nhận thức được vai trò của quần chúng nhân dân Tư tưởng tôngiáo và chủ nghĩa duy tâm cho rằng mọi sự thay đổi trong lịch sử xã hội là do

ý chí của đấng tối cao, do mệnh trời tạo nên và trao quyền cho các cá nhânthực hiện, lịch sử chỉ còn là lịch sử của cá nhân lãnh đạo, nắm quyền lực cùngvới tư tưởng của họ, quần chúng nhân dân chỉ là vật mang công cụ thực hiện

tư tưởng của các “đấng bề trên” mà thôi Chủ nghĩa duy vật trước Mác vẩnchưa thoát khỏi quan điểm duy tâm về xã hội, khi cho rằng nhân tố quyết định

sự phát triển của xã hội là tư tưởng, đạo đức, là các vĩ nhân và chỉ có họ mớisớm nhận thức được chân lý vĩnh cửu Khi đề cao vai trò quần chúng nhândân, thì lại phủ nhận vai trò vĩ nhân hoặc không lý giải được một cách khoahọc vai trò quần chúng nhân dân

Với sự xuất hiện của chủ nghĩa Mác-Lênin đã chứng minh một cáchkhoa học vai trò của quần chúng nhân dân trong lịch sử và xác định đúng đắn

Trang 13

mối quan hệ giữa quần chúng nhân dân và cá nhân kiệt xuất trong sự pháttriển của xã hội Chính quần chúng nhân dân là chủ thể sáng tạo chân chính ralịch sử, xã hội, và cá nhân kiệt xuất là sản phẩm của thời đại là người lãnh đạoquần chúng nhân dân đấu tranh, làm cách mạng thắng lợi Bởi vì, mọi lýtưởng giải phóng con người chỉ được chứng minh thông qua sự tiếp thu vàhoạt động của quần chúng nhân dân Hơn nữa, tư tưởng tự do không làm biếnđổi xã hội mà phải thông qua hoạt động cách mạnh, hoạt động thực tiễn củaquần chúng nhân dân (để biến lý tưởng, ước mơ thành hiện thực trong đờisống xã hội).

Chính lý luận sắc bén mang tính khoa học và cách mạng chủ nghĩaMác-Lênin đã bác bỏ luận điểm của các nhà triết học duy tâm và duy vậtkhông triệt để trước đó Đây chính là bước chuyển biến cách mạng trong nhậnthức về lịch sử, về sự phát triển của xã hội Đó chính là căn cứ khoa học đểgiai cấp công nhân, để chính đảng vô sản xây dựng đúng đắn đường lối chiếnlược và sách lược đưa sự nghiệp cách mạng của giai cấp vô sản đến thắng lợihoàn toàn Đó cũng là biểu hiện tính khoa học, cách mạng và đậm đà tínhnhân văn, nhân bản của lý luận Mác-Lênin, vì mục đích giải phóng giai cấp,giải phóng nhân loại đem lại tự do, ấm no, hạnh phúc cho con người

Vai trò của quần chúng nhân dân được biểu hiện ở những nội dung sau:

Thứ nhất: quần chúng nhân dân là lực lượng sản xuất cơ bản của xã hội, trực tiếp sản xuất ra của cải vật chất là cơ sở của sự tồn tại và phát triển của xã hội.

Chúng ta biết rằng, con người muốn tồn tại trước hết cần phải thỏa mãnnhững nhu cầu thiết yếu như ăn, ở, mặc Để đáp ứng những nhu cầu đó,người ta phải không ngừng sản xuất Sản xuất vật chất là điều kiện cơ bảnquyết định sự tồn tại và phát triển của xã hội Hoạt động sản xuất vật chất làhoạt động của toàn bộ xã hội, chứ không phải của một cá nhân nào Trong đólực lượng cơ bản đông đảo và quyết định là quần chúng nhân dân Trong quátrình lao động sản xuất, loài người càng tích lũy được nhiều kinh nghiệm vàhiểu biết về giới tự nhiên, cải tiến kỹ thuật sản xuất, công cụ sản suất, cải tiến

Trang 14

tổ chức quản lý nâng cao năng suất lao động Nghĩa là không ngừng phát triểnlực lượng sản xuất Cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất dẫn tới sựthay đổi của quan hệ sản xuất cho phù hợp Điều đó cũng làm cho phươngthức sản xuất của xã hội thay đổi và phát triển.

Lao động sản xuất ra của cải vật chất của quần chúng nhân dân làyêu cầu khách quan của sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người Quátrình sản xuất vật chất, chế tạo và cải biến công cụ lao động là hoạt độngcủa toàn bộ xã hội chứ không phải của một cá nhân Lực lượng sản xuất

cơ bản là đông đảo quần chúng nhân dân lao động bao gồm lao động chântay và lao động trí óc Người ta chỉ có thể sản xuất được bằng cách hợptác với nhau theo một cách nào đó và trao đổi hoạt động với nhau

Thực tiễn sản xuất của loài người, của quần chúng nhân dân là cơ sở và

là động lực, phát triển của khoa học-kỹ thuật Khoa học không có lý do tồn tạinếu không có hoạt động sản xuất C.Mác, Ph.Ăngghen đã từng nói: “Chínhcon người khi phát triển sự sản xuất vật chất và sự giao tiếp vật chất của mình

đã làm biến đổi cùng với sự tồn tại của mình cả tư duy lẫn sản phẩm tư duycủa mình”[12; 277]

Đến lượt nó khoa học lại thúc đẩy sản xuất phát triển, tăng năng suấtlao động Khoa học-kỹ thuật cũng không hoạt động riêng lẻ của một số cánhân nào Ngày nay, nhân dân lao động trước hết là giai cấp công nhân và độingũ trí thức là lực lượng cơ bản của nền sản xuất hiện đại, trí tuệ cao Nền sảnxuất xã hội sẽ sa sút, kém hiệu quả nếu tài năng trí tuệ, năng suất lao động củađông đảo những người lao động không được phát huy, không được nâng cao.Trong trường hợp đó khoa học cũng khó phát triển Đó là cơ sở để khẳng địnhhoạt động sản xuất của quần chúng là điều kiện cơ bản để quyết định sự tồntại và phát triển của xã hội

Thứ hai: quần chúng nhân dân là động lực cơ bản của mọi cuộc cách mạng xã hội.

Quần chúng nhân dân không chỉ là lực lượng quyết định sự phát triểncủa sản xuất, mà còn là lực lượng cơ bản của mọi cuộc cách mạng xã hội

Trang 15

Trong xã hội có giai cấp, mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệsản xuất biểu hiện thành mâu thuẫn giữa các giai cấp đối kháng, giữa giai cấpthống trị và giai cấp lao động bị trị Khi quan hệ sản xuất đã trở thành xiềngxích kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất, dẫn đến mâu thuẫn giaicấp đối kháng không thể dung hòa, điều hòa được, tất yếu dẫn đến đấu tranhgiai cấp Đấu tranh giai cấp phát triển đến giai đoạn đỉnh cao của nó sẽ thựchiện cuộc cách mạng xã hội để xóa bỏ quan hệ sản xuất cũ thiết lập quan hệsản xuất mới, giải phóng lực lượng sản xuất hình thành phương thức sản xuấtcao hơn Cách mạng xã hội sẽ xóa bỏ chế độ xã hội cũ, thiết lập chế độ xã hộimới tiến bộ hơn.

Quần chúng nhân dân bao giờ cũng là lực lượng cơ bản của cách mạng,đóng vai trò quyết định thắng lợi của mọi cuộc cách mạng Trong các cuộccách mạng vĩ đại làm thay đổi hình thái kinh tế-xã hội, quần chúng nhân dântham gia đông đảo, tự giác, tích cực thì cách mạng mới có thể giành thắng lợi.Cách mạng là ngày hội của quần chúng nhân dân, là sự nghiệp của quầnchúng chứ không phải sự nghiệp riêng của một cá nhân, anh hùng nào Lịchsử của xã hội loài người đã chứng minh điều đó

Chính trong thời kỳ bão táp cách mạng, vai trò chính trị của quầnchúng được thể hiện, đặc biệt nổi bật nhất là các cuộc cách mạng do giaicấp vô sản lãnh đạo Trong thời kỳ lịch sử này, quần chúng nhân dân đượcthức tỉnh một cách mạnh mẽ với một tinh thần nhiệt huyết và tự giác caolàm cho lịch sử tiến nhanh với tốc độ “một ngày bằng hai mươi năm”

Đánh giá về điều này Lênin nói: “Cách mạng là ngày hội của nhữngngười bị áp bức và bị bóc lột Không lúc nào như trong thời kỳ cách mạng màquần chúng nhân dân tỏ ra là người sáng tạo tích cực như thế trong việc xâydựng trật tự mới Trong những thời kỳ ấy nhân dân có thể làm nên những sựviệc kỳ diệu”[10; 13]

Cách mạng là sự nghiệp của bản thân quần chúng, không có sựtham gia tích cực của đông đảo quần chúng nhân dân thì không thể cónhững chuyển biến cách mạng trong lịch sử Các cuộc cách mạng xã hội

Trang 16

trong lịch sử đã chứng tỏ rằng sự chuyển biến từ chế độ xã hội này sangchế độ xã hội khác, là sự nghiệp cách mạng của quần chúng nhân dân.

Ngay cả trong thời kỳ hòa bình, tức khi cuộc đấu tranh giai cấp củaquần chúng nhân dân chống lại bọn thống trị áp bức, bóc lột chưa chuyểnthành cách mạng xã hội, quần chúng nhân dân cũng có tác dụng thúc đẩy mọilĩnh vực đời sống xã hội như kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, khoa học, kỹthuật, phát triển Không những thế nó còn có tác dụng cải tạo ngay chính cảbản thân giai cấp cách mạng

Chính vì vậy, cách mạng là sự nghiệp của quần chúng nhân dân là ngàyhội của quần chúng nhân dân, là động lực của những biến cố lịch sử

Thứ ba: quần chúng nhân dân chính là người sáng tạo ra những giá trị văn hóa, tinh thần.

Quần chúng nhân dân chẳng những đóng vai trò quyết định trong sảnxuất vật chất, trong cách mạng xã hội, mà còn đóng vai trò vô cùng to lớntrong sự nghiệp phát triển văn học, nghệ thuật, khoa học, đồng thời áp dụngnhững thành tựu đó trong hoạt động thực tiễn Những sáng tạo về văn học,nghệ thuật, xã hội, y học, quân sự, kinh tế, chính trị, đạo đức của nhân dânvừa là cội nguồn, vừa là điều kiện để thúc đẩy sự phát triển nền văn hóa tinhthần của các dân tộc trong mọi thời đại Hoạt động của quần chúng nhân dân

từ trong thực tiễn là nguồn cảm hứng vô tận cho mọi sáng tạo tinh thần trongđời sống xã hội Mặt khác, các giá trị văn hóa tinh thần chỉ có thể trường tồnkhi được đông đảo quần chúng nhân dân chấp nhận và truyền bá sâu rộng, trởthành giá trị phổ biến

Nói về vai trò quần chúng nhân dân trong sáng tạo nghệ thuật,

Hồ Chí Minh nhận định: “Quần chúng là những người sáng tạo, công nông lànhững người sáng tạo Nhưng, quần chúng không phải chỉ sáng tạo ra nhữngcủa cải vật chất cho xã hội Quần chúng còn là người sáng tác nữa Nhữngsáng tác ấy là những hòn ngọc quý”[8; 623-624]

Quần chúng nhân dân còn là chủ thể sáng tạo và hưởng thụ nền văn hóadân gian trong lịch sử Họ là chủ thể của những câu chuyện thần thoại,

Trang 17

chuyện cổ tích, của kho tàng ca dao tục ngữ, dân ca, của những bức họa tinh

tế, những nét hoa văn của nhiều sáng tác nghệ thuật độc đáo Những nền vănhọc nghệ thuật lớn đều bắt nguồn từ văn học nghệ thuật dân gian Đánh giánền văn học dân gian cổ Hy Lạp, C.Mác viết: “Thần thoại Hy Lạp khôngnhững cấu thành kho tàng của nghệ thuật Hy Lạp mà còn là miếng đất đã nuôidưỡng nghệ thuật Hy Lạp nữa”[8; 624]

Truyện Kiều của Nguyễn Du sống mãi với dân tộc Việt Nam và nhândân thế giới, chính là vì tác phẩm đó phản ánh sinh động cuộc sống, tâm tưnguyện vọng của nhân dân, đồng thời thừa kế những tinh hoa văn học dângian, nhất là ca dao, dân ca, tục ngữ

Trong xã hội có áp bức giai cấp, quần chúng lao động không có điềukiện nghiên cứu, phát minh khoa học, song vẫn có không ít nhà khoa học tàinăng xuất thân từ quần chúng lao động Khoa học tự nhiên và khoa học xã hội

là sự khái quát thực tiễn lao động sản xuất, chế ngự thiên nhiên và đấu tranh

xã hội của quần chúng nhân dân

Đông đảo quần chúng nhân dân với hoạt động thực tiễn của họ, là cơ sởsản xuất tinh thần của xã hội Quần chúng nhân dân đóng vai trò quyết địnhtrong sự phát triển lịch sử, những vai trò đó trong từng thời kỳ cụ thể khônggiống nhau Vai trò ấy được phát huy cao độ một khi đông đảo quần chúngthoát khỏi sự trói buộc của những tư tưởng phản động, phản khoa học, nhữngtập quán lạc hậu, và được giác ngộ những tư tưởng khoa học và cách mạng

Do đó, C.Mác nói: “Tư tưởng một khi thâm nhập vào quần chúng sẽ biếnthành lực lượng vật chất Đó là những tư tưởng phản ánh đúng ý nguyện vàlợi ích căn bản của đông đảo quần chúng, chỉ ra được những nhiệm vụ lịch sử

đã chín muồi mà quần chúng nhân dân cần thực hiện”[8; 625]

Dưới chủ nghĩa xã hội, quần chúng nhân dân thực sự trở thànhchủ thể sáng tạo và hưởng thụ những của cải tinh thần Chủ nghĩa xã hộimột mặt đã tạo ra được những điều kiện khách quan về kinh tế, chính trị,văn hóa, xã hội, mà trước hết là chế độ công hữu về tư liệu sản xuất,nhân tố đóng vai trò quyết định đảm bảo cho quần chúng nhân dân trở

Trang 18

thành người làm chủ xã hội nói chung và chủ thể sáng tạo, hưởng thụnhững của cải tinh thần nói riêng, đời sống của quần chúng nhân dânkhông ngừng được cải thiện và nâng cao nói chung, đặc biệt là trình độvăn hóa, khoa học-kỹ thuật Mặt khác chủ nghĩa xã hội còn đòi hỏi quầnchúng nhân dân phải thực sự là chủ thể của những của cải tinh thần, phảiđem hết khả năng, lòng nhiệt tình, tính tự giác của mình để sáng tạo vàhưởng thụ những của cải tinh thần đó.

Tóm lại, xét từ góc độ kinh tế-chính trị, từ thực tiễn đến tinh thần tưtưởng thì quần chúng nhân dân luôn đóng vai trò quyết định trong lịch sử

Từ khẳng định vai trò quyết định của quần chúng nhân dân trong lịch

sử, thì một trong những nội dung quan trọng của chủ nghĩa Mác-Lênin về vai trò của quần chúng nhân dân trong cách mạng vô sản là “Liên minh công-nông”.

Khi tổng kết thực tiễn phong trào công nhân ở Châu Âu, nhất là Anh,Pháp cuối thế kỷ XIX, C.Mác và Ăngghen đã khái quát thành lý luận về liênminh công-nông và các tầng lớp lao động khác Các ông đã chỉ ra nguyênnhân chủ yếu của thất bại trong các cuộc đấu tranh là do giai cấp công nhânkhông tổ chức được mối liên minh với “người bạn đồng minh tự nhiên” củamình là giai cấp nông dân Do vậy, trong các cuộc đấu tranh này giai cấp côngnhân luôn đơn độc và cuộc cách mạng vô sản này đã trở thành “bài ca aiđiếu”

Để thực hiện khẳ năng đưa cách mạng tư sản vượt qua mục tiêu banđầu của nó tiến lên cách mạng xã hội chủ nghĩa, thì giai cấp công nhân phảithực hiện được sự liên minh với giai cấp nông dân và các tầng lớp tiểu tư sảnthành thị để hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình

C.Mác kết luận về cách mạng Pháp (1848-1850) như sau: “Công nhânPháp không thể tiến lên được một bước nào và cũng không thể đụng đến mộtsọi tóc nào của chế độ tư sản, trước khi đông đảo nhân dân đứng giữa giai cấp

vô sản và tư sản, tức là nông dân và giai cấp tiểu tư sản nổi dậy chống chế độ

Trang 19

tư sản, chống sự thống trị của tư bản chưa bị tiến trình của cách mạng buộc

phải đi theo những người vô sản coi là đội tiên phong của mình”[5; 146-147].

Trong điều kiện đã phát triển cao của chủ nghĩa tư bản, V.I.Lênin đãvận dụng và phát triển lý luận của C.Mác, Ph.Ăngghen về tổ chức liên minhcông-nông và các tầng lớp lao động khác trong cách mạng xã hội chủ nghĩaTháng Mười Nga (1917) Trong thời kỳ đầu của thời kỳ quá độ không chỉ cóliên minh công-nông mà còn liên minh với các tầng lớp lao động khác Ngay

cả trong chuyên chính vô sản, V.I.Lênnin khẳng định: “Chuyên chính vô sản

là một hình thức đặc biệt của liên minh giai cấp giữa giai cấp vô sản, đội tiênphong của những người lao động, với đông đảo những tầng lớp lao độngkhông phải vô sản (tiểu tư sản, tiểu chủ, nông dân, tri thức, )”[1; 186]

Chủ nghĩa Mác-Lênin xác định trong thời kỳ quá độ không chỉ liênminh giữa các giai cấp mà bỏ qua các tầng lớp lao động khác mà ngược lại,rất cần phải liên minh với họ để thực hiện mục tiêu chung do giai cấp côngnhân lãnh đạo

Trong một nước công nghiệp đại đa số dân cư là nông dân thì vấn đề giaicấp công nhân liên minh với họ là điều tất yếu V.I.Lênnin đặc biệt lưu ý mốiliên minh công-nông trong các giai đoạn xây dựng chủ nghĩa xã hội: “Nguyêntắc cao nhất của chuyên chính là duy trì khối liên minh giữa giai cấp vô sản

và nông dân để giai cấp có thể giữ được vai trò lãnh đạo và chính quyền nhànước”[1; 186]

Qua khối liên minh này, lực lượng đông đảo nhất trong xã hội là nôngdân được tập hợp cùng thực hiện mục tiêu chung là xây dựng chủ nghĩa

xã hội, vì lợi ích của toàn thể dân tộc do giai cấp công nhân lãnh đạo Đây làđiều kiện để giai cấp công nhân giữ vai trò lãnh đạo Đó chính là tính tất yếu

về mặt chính trị-xã hội, là yếu tố quyết định thắng lợi của cách mạng vô sản

Vậy, để giai cấp công nhân - là đội tiên phong, là người lãnh đạoquần chúng nhân dân - hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình xây dựng thànhcông chủ nghĩa xã hội, tất yếu phải liên minh công-nông

Trang 20

Trong thời kỳ phát triển mới của đất nước, đương nhiên sự liên minhgiữa các giai cấp về chính trị cũng rất cần thiết, nhằm cũng cố và xây dựngchính quyền cách mạng Nhưng sự liên minh về kinh tế mới là chủ yếu, ngayliên minh chính trị cũng cần được cũng cố trên cơ sở kinh tế, Lênin đã nói:

“lúc này chính trị ngay trong kinh tế”

Lênin còn chỉ ra cách mạng chủ nghĩa xã hội ở một nước mà số đôngnhân dân là nông dân thì chỉ có thể giành thắng lợi với điều kiện có sự thỏathuận về kinh tế giữa giai cấp công nhân và nông dân lao động Theo Lênin,liên minh công - nông - trí cần được bảo đảm vững chắc về kinh tế, khôngphải chỉ trên cơ sở tôn trọng quyền sử dụng ruộng đất của nông dân, mà phảitrên cơ sở mới Đó là tạo điều kiện cho sản xuất công nghiệp và nông nghiệpphát triển, thực hiện giao lưu sản phẩm hàng hóa giữa thành thị và nông thôn,đảm bảo đời sống của quần chúng công - nông - trí thức Do đó vai trò của thịtrường, thương nghiệp, quan hệ hàng hóa - tiền tệ, giao thông vận tải trở nêncực kỳ quan trọng

Liên minh công - nông - trí hợp thành đội quân chủ lực hùng mạnh làmhạt nhân của khối đại đoàn kết toàn dân, không những đảm bảo vai trò lãnhđạo của các giai cấp công nhân và giữ vững chính quyền cách mạng mà xétđến cùng còn là yếu tố có ý nghĩa quyết định đến thắng lợi của một nước.Trong khối liên minh ấy, giai cấp nông dân là người bạn đồng hành chiếnlược của giai cấp công nhân trên con đường đi lên chủ nghĩa xã hội và chủnghĩa cộng sản Thực tế lịch sử chứng minh rõ mọi khuynh hướng coi thườnghoặc phủ nhận vai trò của lực lượng xã hội to lớn này, không quan tâm đầy đủđến việc xây dựng, cũng cố khối liên minh công - nông trong các giai đoạn vàcác thời kỳ cách mạng, có nghĩa là đặt giai cấp công nhân vào một hoàn cảnhphải chiến đấu đơn độc và đó là một sai lầm chính trị nghiêm trọng

Do đó khi đánh giá vai trò của giai cấp nông dân nhận rõ tính tất yếucủa sự liên minh công - nông cần khẳng định sự liên minh này là một sự liênminh “đặc biệt”, trong đó giai cấp công nhân phải giữ vai trò lãnh đạo, sự liênminh có ý nghĩa chiến lược, chẳng những chỉ nhằm đánh đổ giai cấp bóc lột

Trang 21

mà còn tạo ra những điều kiện cần thiết để xây dựng một chế độ xã hội mớivăn minh hơn, tốt đẹp hơn

Theo quan điểm triết học Mác-Lênin, vai trò của quần chúng nhân dân vàvai trò của cá nhân trong lịch sử không tách rời nhau Cá nhân ưu tú, lãnh tụ kiệtxuất là sản phẩm của thời đại, đại diện cho lợi ích và ý chí của quần chúng Chỉnhững cá nhân như thế mới được quần chúng nhân dân công nhận là người lãnhđạo thực sự của họ Do vậy, khi xem xét vai trò của quần chúng nhân dân cầnđặt nó trong mối quan hệ với vai trò của cá nhân

1.2 Khái niệm và vai trò của vĩ nhân, lãnh tụ trong lịch sử

1.1.1 Khái niệm vĩ nhân, lãnh tụ

Khẳng định vai trò quyết định của quần chúng nhân dân đối với lịch sử,triết học Mác-Lênin không hề xem nhẹ hoặc phủ nhận vai trò của vĩ nhân, anhhùng, lãnh tụ, nhân vật xuất sắc trong sự phát triển của xã hội

 Khái niệm vĩ nhân

Vĩ nhân là những cá nhân kiệt xuất, trưởng thành trong phong trào củaquần chúng, nắm bắt được những vấn đề cơ bản nhất trong lĩnh vực nhất địnhcủa hoạt động khoa học và thực tiễn

Đó là những cá nhân kiệt xuất trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị,khoa học, văn hóa nghệ thuật Sự xuất hiện của những cá nhân, lãnh tụ làmột điều tất nhiên do đòi hỏi khách quan của phong trào cách mạng của quầnchúng nhân dân Ăngghen chỉ rõ: “Thật là điều ngẫu nhiên thuần túy, mà một

vĩ nhân nào đó xuất hiện ở một thời nhất định nào đó, điều ấy là hoàn toànngẫu nhiên Nhưng nếu chúng ta phế bỏ người ấy đi, thì lại xuất hiện sự đòihỏi phải có một người khác thay thế và người thay thế này sẽ xuất hiện thíchhợp ít hay nhiều nhưng cuối cùng thì cũng xuất hiện”[8; 626]

Nhận định trên đây nói lên rằng các nhà sáng lập chủ nghĩa duy vật lịchsử không hề coi nhẹ mà ngược lại các ông đã đánh giá rất cao vai trò của cánhân kiệt xuất, lãnh tụ sáng suốt

 Khái niệm lãnh tụ

Trang 22

Lãnh tụ là vĩ nhân, nhưng đồng thời là người dẫn dắt, định hướng chohoạt động của dân tộc, của quần chúng nhân dân Phẩm chất cơ bản của lãnh

tụ là: Có tri thức khoa học uyên bác, nắm bắt được xu hướng vận động củadân tộc, quốc tế và thời đại; Có khả năng tập hợp quần chúng nhân dân, thốngnhất ý chí và hành động của họ hướng vào nhiệm vụ cụ thể của dân tộc hoặccủa thời đại; Hy sinh quên mình cho lợi ích của dân tộc, quốc tế và thời đại

Các phẩm chất cơ bản của lãnh tụ gồm có:

Một là: có tri thức khoa học uyên bác nắm bắt được xu thế vận động

của dân tộc, quốc tế và thời đại

Hai là: có năng lực tập hợp quần chúng nhân dân, thống nhất ý chí

và hành động của quần chúng nhân dân vào nhiệm vụ của dân tộc, quốc tế

và thời đại

Ba là: gắn bó mật thiết với quần chúng nhân dân, nguyện hy sinh quên

mình vì lợi ích của dân tộc, quốc tế và thời đại

Bất cứ một thời kỳ nào, một dân tộc nào nếu lịch sử đặt ra những nhiệm

vụ cần giải quyết thì từ trong phong trào quần chúng nhân dân, tất yếu sẽ xuất hiện những lãnh tụ đáp ứng yêu cầu của lịch sử Lênin viết: “Trong lịch sử,chưa hề có một giai cấp nào giành được quyền thống trị nếu không đào tạođược trong hàng ngũ của mình những lãnh tụ chính trị những đại biểu tiên phong

có đủ khả năng tổ chức và lãnh đạo”[5; 487-488]

1.1.2 Vai trò của vĩ nhân-lãnh tụ

Vĩ nhân-lãnh tụ có vai trò là người có thể thúc đẩy nhanh tiến trìnhcách mạng, mang lại hiệu quả cao nhất cho hoạt động của quần chúng nhândân, nếu họ hiểu và vận dụng đúng quy luật khách quan Song họ cũng làngười có thể làm lùi bước lịch sử nếu họ làm trái quy luật Vĩ nhân-lãnh tụ làngười sáng lập các tổ chức chính trị-xã hội, tập hợp nhân tài và là linh hồncủa các tổ chức đó Không có vĩ nhân-lãnh tụ cho mọi thời đại, vĩ nhân-lãnh

tụ của mỗi thời đại chỉ có thể hoàn thành nhiệm vụ đặt ra trong thời đại đó,vượt qua giới hạn của thời đại, vĩ nhân-lãnh tụ có thể mất đi vai trò tiên phongcủa họ

Trang 23

Vĩ nhân-lãnh tụ không phải ngẫu nhiên mà có Đó là kết quả của quátrình đấu tranh cách mạng của đông đảo quần chúng nhân dân, của cả một quátrình lịch sử tạo nên những điều kiện nhất định, cho việc xuất hiện nhữngnhân vật với tài năng và đức tính nhất định có thể giải quyết những nhiệm vụ

do lịch sử đề ra Do đó, vai trò của vĩ nhân-lãnh tụ lại càng cần thiết đối vớihoạt động chính trị, đối với đấu tranh giai cấp của quần chúng bị bóc lột, bị ápbức nhằm lật đổ xã hội cũ, xây dựng nên xã hội mới tiến bộ hơn Tuy nhiên,vai trò to lớn của các vĩ nhân-lãnh tụ chỉ được phát huy khi quan hệ mật thiếtvới quần chúng, được quần chúng tin yêu và tích cực ủng hộ

Vĩ nhân-lãnh tụ có vai trò to lớn quan trọng đối với phong trào quầnchúng Vì họ là những người có tác dụng thúc đẩy phong trào cách mạng củaquần chúng nhân dân phát triển mạnh mẽ, đúng hướng đạt tới những thành quả

to lớn nhất Họ có tác dụng động viên, cổ vũ và tổ chức đông đảo quần chúngnhân dân làm nên những sự nghiệp vĩ đại Lịch sử vận động và phát triển theo

xu hướng tất yếu của nó, vẫn mang dấu ấn sự lãnh đạo của các vĩ nhân anhhùng xét về mặt tốc độ, bước đi, hình thức của phong trào Nếu một nhân vậtlãnh đạo phạm sai lầm sẽ làm tổn thất cho phong trào, còn một nhân vật lãnhđạo có lập trường không kiên định, thiếu quả quyết sẽ làm cho phong trào cólúc ngã nghiêng Nhưng vô luận tốc độ, bước đi, hình thức như thế nào đi nữathì phong trào cách mạng của quần chúng nhân dân vẫn phát triển theo chiềuhướng khánh quan của nó

Vai trò của cá nhân anh hùng, lãnh tụ được thể hiện nổi bật trong nhữngthời điểm cấp bách của lịch sử, khi lịch sử đặt ra cho một giai cấp, một dân tộcphải giải quyết những tình huống khó khăn và phức tạp để tiếp tục tiến lên, nhất

là trong thời kỳ cách mạng Lúc này sự sáng suốt, tỉnh táo của lãnh tụ có một tácdụng hết sức quan trọng đối với diễn biến của tình hình Đặc biệt với phong tràocách mạng của giai cấp công nhân và các tầng lớp bị áp bức bóc lột khác, nhằmthủ tiêu các chế độ tư hữu xây dựng nên một xã hội mới, dựa trên nền tảng chế

độ công hữu thì vai trò tổ chức, lãnh đạo của vĩ nhân-lãnh tụ lại càng quan trọng.Nếu không có sự lãnh đạo của Đảng Mác-Lênin và lãnh tụ xuất sắc nhất của

Trang 24

Đảng có nhiều kinh nghiệm và nhận thức đúng đắn quy luật khách quan, thì nhấtđịnh sự nghiệp cách mạng của giai cấp vô sản không thể thắng lợi V.I.Lêninviết: “Trong lịch sử chưa hề có giai cấp nào giành được quyền thống trị, nếu như

nó không đào tạo ra được hàng ngũ của mình, những lãnh tụ chính trị, những đạidiện tiên phong có đủ khả năng tổ chức và lãnh đạo phong trào”[8; 626]

Trong mối quan hệ với quần chúng nhân dân, vĩ nhân-lãnh tụ có nhiệm

Từ nhiệm vụ trên thì vĩ nhân-lãnh tụ có vai trò to lớn đối với phongtrào quần chúng như sau:

Một là: thúc đẩy hoặc kìm hãm sự tiến bộ xã hội.

Hai là: là người sáng lập ra các tổ chức chính trị-xã hội, là linh hồn của

các tổ chức đó Là người tổ chức, điều khiển, quản lý và có vai trò ảnh hưởnglớn đến sự tồn tại phát triển và hoạt động của các tổ chức đó

Ba là: vĩ nhân-lãnh tụ của mỗi thời đại chỉ có thể hoàn thành những

nhiệm vụ đặt ra của thời đại đó

Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, vai trò của quần chúng

và vai trò của vĩ nhân-lãnh tụ trong lịch sử không tách rời nhau, trái lại cóquan hệ khăng khít với nhau Hai vai trò đó tuy khác nhau nhưng quan hệ mậtthiết với nhau, trong đó vai trò quần chúng nhân dân là quyết định, không cóvai trò của quần chúng nhân dân thì không thể có vĩ nhân-lãnh tụ Lãnh tụ làlãnh tụ của quần chúng, anh hùng là anh hùng của tập thể, là con đẻ củaphong trào cách mạng, có nhiệm giải quyết những nhiệm vụ mà lịch sử đặt rađưa phong trào đi lên Cá nhân ưu tú, lãnh tụ kiệt xuất là sản phẩm là con đẻ

Trang 25

của phong trào quần chúng nên sức mạnh trí tuệ của họ bắt nguồn từ quầnchúng nhân dân.

Khẳng định mối quan hệ biện chứng giữa quần chúng nhân dân với vĩnhân-lãnh tụ được biểu hiện:

* Tính thống nhất giữa quần chúng nhân dân và vĩ nhân-lãnh tụ đượcquy định bởi không có phong trào cách mạng của quần chúng nhân dân,không có các quá trình kinh tế-xã hội của đông đảo quần chúng nhân dân thìkhông thể xuất hiện vĩ nhân-lãnh tụ

* Quần chúng nhân dân và vĩ nhân-lãnh tụ thống nhất trong mục đích

và lợi ích của mình

* Sự khác biệt giữa quần chúng nhân dân và vĩ nhân-lãnh tụ biểu hiệntrong vai trò khác nhau của sự tác động đến lịch sử Tuy cũng đóng vai tròquan trọng đối với tiến trình phát triển của lịch sử xã hội, nhưng quần chúngnhân dân là lực lượng quyết định sự phát triển, còn lãnh tụ là người địnhhướng, dẫn dắt phong trào, thúc đẩy sự phát triển của lịch sử

Nếu những vĩ nhân-lãnh tụ, anh hùng đó vì động cơ cá nhân, vì lợi íchriêng mà tách ra khỏi quần chúng nhân dân thì nhất định họ bị mất tác dụng

và bị quần chúng nhân dân vượt qua Không được quần chúng nhân dân kínhyêu và ủng hộ thì cá nhân đó cho dù có tài năng đến đâu cũng không còn gâyđược ảnh hưởng, mà làm cản trở tiến trình lịch sử

Sở dĩ, những vĩ nhân-lãnh tụ, anh hùng phát huy được tác dụng tíchcực đối với lịch sử, là nhờ hoạt động của họ gắn với tiến trình xã hội, phù hợpvới nguyện vọng và lợi ích của quần chúng Nhờ đó, họ tập hợp được quầnchúng, động viên được quần chúng Hết sức hết lòng vì lợi ích của quầnchúng nhân dân, dám hy sinh bản thân mình vì tập thể, vì nhân dân mà vĩnhân-lãnh tụ được quần chúng nhân dân ra sức ủng hộ Như vậy, sức mạnhcủa vĩ nhân-lãnh tụ không nằm ở đâu ngoài sức mạnh của quần chúng nhândân

Giai cấp công nhân, quần chúng nhân dân lao động các dân tộc bị ápbức trên thế giới vô cùng tự hào về những vị lãnh tụ thiên tài có đầy đủ năng

Trang 26

lực và phẩm chất lãnh đạo giai cấp công nhân và quần chúng nhân dân laođộng làm cách mạng, đó là: C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I.Lênin Tên tuổi củacác vị lãnh tụ ấy mãi mãi gắn liền với phong trào cách mạng của thế giới vàthời đại.

Giai cấp công nhân, nhân dân lao động và dân tộc Việt Nam còn

có thêm sự tự hào về vĩ nhân-lãnh tụ Chủ tịch Hồ Chí Minh suốt đời gắn bóvới quần chúng nhân dân, có lòng thương yêu vô hạn đối với quần chúngnhân dân Ở Người đã kết tinh những phẩm chất tiêu biểu nhất của một lãnh

tụ vô sản, lãnh tụ dân tộc Người là một vị anh hùng giải phóng dân tộc, mộtdanh nhân văn hóa thế giới

Chủ nghĩa Mác-Lênin đánh giá rất cao vai trò của các vĩ nhân-lãnh tụanh hùng trong sự phát triển của lịch sử, đồng thời kiên quyết chống tệ sùngbái vĩ nhân-lãnh tụ

Tệ sùng bái vĩ nhân-lãnh tụ là thần thánh hóa vĩ nhân-lãnh tụ, ngườilãnh đạo đi đến chỗ chỉ thấy vai trò của vĩ nhân-lãnh tụ quyết định tất cả, màkhông thấy hoặc coi nhẹ vai trò của quần chúng nhân dân

Tệ sùng bái vĩ nhân-lãnh tụ sẽ dẫn đến những hạn chế hoặc tước bỏquyền làm chủ của quần chúng, làm cho quần chúng nhân dân thiếu tin tưởngvào chính ngay sức mạnh của bản thân mình, có thái độ phục tùng tiêu cựckhông phát huy được tính năng động sáng tạo của họ trong sự nghiệp cáchmạng

Khi giai cấp vô sản đã giành được chính quyền, nếu người đứng đầuĐảng và Nhà nước mắc phải tệ sùng bái vĩ nhân-lãnh tụ thì sẽ gây ra nhiều táchại cho sự nghiệp cách mạng của giai cấp và của dân tộc

Những người mắc tệ sùng bái vĩ nhân-lãnh tụ thường thần thánh hóabản thân mình, đặt mình lên trên tập thể, trên Đảng, Nhà nước và Nhân dân

Họ tự coi mình là “cứu tinh” của quần chúng nhân dân, là người quyết địnhmọi đường lối, chính sách của cách mạng, còn những người khác chỉ cónhiệm vụ phục tùng theo ý muốn chủ quan của mình Tệ sùng bái cá nhân còndẫn đến hậu quả vi phạm quyền dân chủ, chia rẽ, bè phái phá hoại đoàn kết

Trang 27

trong Đảng, trong nhân dân, tạo ra tình trạng mất lòng tin của cán bộ và quầnchúng.

Vì thế, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin luôn luôn coi sùngbái cá nhân, vĩ nhân-lãnh tụ là một hiện tượng hoàn toàn xa lạ với bản chất,mục đích, lý tưởng của giai cấp vô sản Những lãnh tụ vĩ đại của giai cấp vôsản như C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin, Hồ Chí Minh đều hết sức khiêm tốn,gần gũi với nhân dân, đề cao vai trò và sức mạnh của quần chúng nhân dân,xứng đáng là những vĩ nhân kiệt xuất mà toàn thể loài người tôn kính vàngưỡng mộ

Triết học Mác-Lênin phê phán tệ sùng bái cá nhân, vĩ nhân-lãnh tụ,điều đó không có nghĩa là coi thường cá nhân, vĩ nhân, anh hùng, lãnh tụ Tráilại, luôn luôn giáo dục quần chúng nhân dân luôn tôn trọng và kính yêu vĩnhân-lãnh tụ, kiên quyết chống lại mọi luận điệu của bọn phản động, bọn cơhội chủ nghĩa nhằm hạ thấp đi đến đã kích vào các lãnh tụ của giai cấp vô sản.Mặt khác, triết học Mác-Lênin cũng luôn luôn đặt vai trò lãnh tụ trong mốiquan hệ chặt chẽ với quần chúng nhân dân

Như vậy, triết học Mác-Lênin đã đưa ra một quan điểm khoa học

và cách mạng về quần chúng nhân dân và vai trò của quần chúng nhân dântrong lịch sử Quần chúng nhân dân là một phạm trù lịch sử, nó được thay đổitheo từng thời kỳ, từng giai đoạn lịch sử nhất định, nhưng quần chúng nhândân luôn là người quyết định làm nên lịch sử Trong bất kỳ thời đại nào quầnchúng nhân dân cũng là người sáng tạo chân chính ra lịch sử Vĩ nhân, lãnh

tụ, anh hùng có vai trò to lớn quan trọng đối với phong trào quần chúng, đốivới sự phát triển của lịch sử, vì họ là người giác ngộ, hướng dẫn, tổ chức quầnchúng sáng tạo ra lịch sử Vai trò của vĩ nhân, anh hùng, lãnh tụ luôn được đặttrong mối quan hệ với quần chúng nhân dân

Tóm lại: Trước khi chủ nghĩa Mác-Lênin ra đời, các nhà triết học duy

tâm và duy vật đều không hiểu đúng đắn vai trò của quần chúng nhân dân vàmối quan hệ giữa quần chúng nhân dân với vĩ nhân-lãnh tụ

Trang 28

Tư tưởng tôn giáo cho rằng mọi thay đổi trong xã hội đều do ý chí củađấng tối cao và được các cá nhân thực hiện Triết học duy tâm cho rằng lịchsử nhân loại là lịch sử của các bậc vua chúa, anh hùng hào kiệt, thiên tài lỗilạc Còn quần chúng nhân dân chỉ là lực lượng tiêu cực, là phương tiện củacác bậc vĩ nhân mà thôi Các nhà triết học duy vật trước Mác tuy không tinvào thần linh, thượng đế, nhưng cũng không hiểu được vai trò của quần chúngnhân dân trong lịch sử, nếu họ không tuyệt đối hóa vai trò của vĩ nhân-lãnh tụthì cũng rơi vào tuyệt đối hóa vai trò của quần chúng nhân dân mà phủ địnhvai trò của vĩ nhân lãnh tụ.

Mãi đến chủ nghĩa Mác-Lênin ra đời và phát triển mới có quan điểmđúng đắn, khoa học về mối quan hệ biện chứng giữa quần chúng nhân dân với

Họ là chủ thể của hoạt động cải biến các quá trình kinh tế-xã hội(là động lực cơ bản của mọi cuộc cách mạng xã hội)

Lợi ích của quần chúng nhân dân vừa là điểm khởi đầu vừa

là mục đích cuối cùng của mọi hoạt động cách mạng

Chủ nghĩa Mác-Lênin khẳng định: “Vĩ nhân-lãnh tụ có vai trò là người

có thể thúc đẩy nhanh tiến trình cách mạng, mang lại hiệu quả cao nhất chohoạt động của quần chúng nhân dân nếu họ hiểu và vận dụng đúng quy luậtkhách quan Song họ cũng là người có thể làm lùi bước lịch sử nếu họ làm tráiquy luật Vĩ nhân-lãnh tụ là người sáng lập các tổ chức chính trị-xã hội, tậphợp nhân tài và là linh hồn của các tổ chức đó Không có vĩ nhân-lãnh tụ chomọi thời đại, vĩ nhân-lãnh tụ của mỗi thời đại chỉ có thể hoàn thành nhiệm vụđặt ra trong thời đại đó, vượt qua giới hạn của thời đại vĩ nhân-lãnh tụ có thểmất đi vai trò tiên phong của họ”

Trang 29

Vĩ nhân-lãnh tụ có vai trò đó bởi lẽ, từ những phẩm chất cơ bản của họ

đã quy định họ có các chức năng: Nắm bắt xu thế của dân tộc, quốc tế và thờiđại dựa trên cơ sở những hiểu biết quy luật khách quan của các quá trình kinh

tế - chính trị - xã hội; Định hướng chiến lược, hoạch định chương trình hànhđộng cách mạng; Tổ chức lực lượng, giáo dục, thuyết phục quần chúng nhândân và thống nhất hành động của họ vào những vấn đề then chốt nhất

Chủ nghĩa Mác-Lênin đánh giá cao vai trò vĩ nhân-lãnh tụ, nhưng kiênquyết chống tệ sùng bái cá nhân Tệ sùng bái cá nhân thường dẫn đến bè phái,mất đoàn kết, tạo ra nhiều hiện tượng tiêu cực như xu nịnh, quan liêu, giatrưởng Chủ nghĩa Mác-Lênin luôn coi sùng bái cá nhân là hiện tượng hoàntoàn xa lạ với hệ tư tưởng của giai cấp vô sản

Hồ Chí Minh, vĩ nhân-lãnh tụ vĩ đại của nhân dân Việt Nam và phongtrào công nhân, phong trào cộng sản quốc tế và của nhân loại tiến bộ, suốt đờiluôn gắn bó với quần chúng nhân dân, yêu thương và hết mực tôn trọng quầnchúng nhân dân Người luôn căn dặn cán bộ, Đảng viên phải học hỏi ở dân,phải xứng đáng vừa là người lãnh đạo vừa là người đầy tớ thật trung thànhcủa nhân dân

Hồ Chí Minh là người đầu tiên từ cuối giữa đầu thế kỷ XX, đã xác địnhđúng vai trò của trí thức trong cách mạng giải phóng dân tộc tuân thủ conđường cách mạng vô sản, lấy liên minh công-nông-trí thức làm nguyên tắccao nhất

Liên minh công-nông-trí thức là nhu cầu giữ vững vai trò lãnh đạo củagiai cấp công nhân, nhu cầu tự giải phóng của nông dân và nhu cầu phát triểncủa trí thức

Liên minh công-nông-trí thức là sự hợp tác toàn diện giữa công nhân,nông dân và trí thức trong tất cả các mặt khác nhau của đồi sống xã hội

- Nội dung liên minh về kinh tế: nhằm thỏa mãn các nhu cầu, lợi íchkinh tế của công nhân, nông dân và trí thức

Trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, liên minh công-nông-tríthức dưới góc độ kinh tế giữ vai trò quyết định Điều này do sự nghiệp xây

Trang 30

dựng chủ nghĩa xã hội quy định, do phải gắn chặt nông nghiệp với côngnghiệp với dịch vụ, khoa học và công nghệ để thực hiện việc thõa mãn lợi íchkinh tế cả trước mắt và cả lâu dài cơ bản của xã hội Trong thời đại ngày nay,vai trò của tri thức ngày càng trở thành nòng cốt khi khoa học-kỹ thuật-côngnghệ là lực lượng sản xuất trực tiếp, thì sự liên minh giữa công nhân với nôngdân và tri thức trở thành vô cùng quan trọng để xây dựng thành công chủnghĩa xã hội.

Như vậy, sự liên minh về mặt kinh tế là do yêu cầu khách quan của

sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội quy định

- Nội dung liên minh về chính trị: khối liên minh công-nông-trí thức là

cơ sở vững chắc cho khối đại đoàn kết toàn dân tạo sức mạnh vượt qua nhữngkhó khăn trở ngại, đập tan âm mưu chống phá chủ nghĩa xã hội, xây dựng Tổquốc xã hội chủ nghĩa Liên minh công-nông-trí thức được xây dựng và củngcố vững chắc chính là để đảm bảo vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân đốivới toàn xã hội

Nắm vững quan điểm triết học Mác-Lênin về vai trò của quần chúngnhân dân trong lịch sử có ý nghĩa lý luận và thực tiễn lớn lao Nó góp phầnphê phán những quan điểm sai lầm duy tâm về lịch sử, coi thường, phủ nhậnvai trò quần chúng nhân dân, đề cao vai trò anh hùng, lãnh tụ, tệ sùng bái cánhân Quan điểm triết học Mác-Lênin về vai trò quần chúng nhân dân và vĩnhân-lãnh tụ trong lịch sử là một trong những cơ sở lý luận khoa học giúp chochúng ta làm công tác quần chúng, nhằm tập hợp lý luận trong cuộc đấu tranhcách mạng giành độc lập tự do cho Tổ quốc và xây dựng Tổ quốc chủ nghĩa

xã hội

Trang 31

Chương 2

TƯ TƯỞNG “LẤY DÂN LÀM GỐC” CỦA HỒ CHÍ MNH

2.1 Cơ sở hình thành tư tưởng “Lấy dân làm gốc” của Hồ Chí Minh

2.1.1 Truyền thống “cố kết cộng đồng dân tộc” trong lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam

Lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, gắn liền với bao chiến cônganh dũng và của các anh hùng dân tộc và của nhân dân Việt Nam Để làm đượcđiều đó thì toàn thể dân tộc Việt Nam phải đồng lòng, hợp sức để chống giặc ngoạixâm, mà nổi trội hơn hết là chủ nghĩa yêu nước truyền thống là sợi chỉ đỏ xuyênsuốt của cách mạng Việt Nam Chủ nghĩa yêu nước là điểm xuất phát với cộinguồn sâu xa, là sức mạnh vĩ đại, là nội lực, là mẫu số chung của người dân ViệtNam Truyền thống đó có các đặc điểm cơ bản: là một dân tộc yêu hòa bình ghétchiến tranh, có lòng nhân ái cao cả, bất khuất chống giặc ngoại xâm quyết vì độclập dân tộc, có sự cố kết cộng đồng cao

Có người cho rằng những truyền thống đó thì dân tộc nào mà chẳng có.Đúng thế, nhưng để có được những truyền thống ấy như Việt Nam thì chẳng

có dân tộc nào sánh được Tinh thần đoàn kết cố kết cộng đồng, nhân nghĩatương thân tương ái, là một tâm điểm là sức mạnh vô địch để chiến thắng mọi

kẻ thù tạo nên một bức tường đồng vững chắc đoàn kết là sức mạnh của mọithành công

Quốc gia, đất nước gắn liền với cộng đồng người và gắn với vấn đềdân tộc, quốc gia dân tộc Về mặt lý luận chính trị, yêu nước chính là tráchnhiệm về cộng đồng về dân tộc biểu hiện bằng những quan điểm, lý luậnnhững nhận thức về con đường và biện pháp đấu tranh để xây dựng và bảo

vệ đất nước

Ý thức về cộng đồng người Việt là điều dễ nhận ra Ý thức đó xuất hiện

từ thời kỳ đấu tranh giành độc lập dân tộc (111tcn-938) Sự thống trị củangoại bang đã khiến người ta cố tìm lấy điểm chung giữa các thành viên để

Trang 32

gắn bó thành một khối, để khi hành động mỗi thành viên đều với tư cách làmột bộ phận của cộng đồng và do đó tăng thêm sức mạnh của cá nhân và của

cả cộng đồng

Vì vậy, thời bấy giờ sự đoàn kết, sự đồng sức đồng lòng, tinh thần “cốkết cộng đồng” để chống giặc ngoại xâm là một yêu cầu cần thiết Dân tộcViệt Nam có lòng yêu nước nồng nàn nên phải đoàn kết để đứng lên giữ vững

bờ cõi dân tộc Việt Sự đoàn kết đồng lòng, sự cố kết dân tộc đã đánh thắngmọi kẻ thù

Câu chuyện Lạc Long Quân lấy Âu Cơ sinh ra một bọc trăm trứng nở

ra một trăm người con, năm mươi con theo cha xuống biển, năm mươi contheo mẹ lên núi… là một huyền thoại Câu chuyện đó không phù hợp với sựphát triển của người Việt trong thực tế là nhiều thị tộc hợp thành bào tộc, từnhiều bào tộc hợp thành bộ lạc, từ nhiều bộ lạc hợp thành liên minh bộ lạc, từnhiều liên minh bộ lạc hợp thành bộ tộc Nhưng câu chuyện đó cũng có giá trịhiện thực, mọi người vẫn thừa nhận và trân trọng giữ gìn Lý do không phải gìkhác, chính nó là sản phẩm của lòng mong muốn Có chất keo gắn bó họ lại

để cùng chống chọi với kẻ thù, vì cùng một mẹ sinh ra, những tiếng nói “đồngbào”, “bà con”, dùng để gọi những người xung quanh, được sinh ra từ ý thứccùng có chung một mẹ, vì vậy truyền thống cố kết cộng đồng, đoàn kết dầndần được nâng lên đến một trình độ cao hơn, ngày càng bền chặt hơn để bảo

vệ dân tộc mình, bảo vệ đất nước mình

Cũng từ khi nước ta chưa thành văn viết, Việt Nam đã có truyền thuyếtthánh Gióng đánh giặc, khi Gióng lên ba, chưa tự và ăn cơm được Thế nhưngnghe giặc Ân đến xâm lược nước nhà Gióng đã vươn vai trở thành Phù Đổng

để đánh giặc giữ nước Mẹ Gióng quá nghèo, không đủ sức nuôi Gióng ăn vàrèn sắm vũ khí cho Gióng như Gióng yêu cầu Toàn bộ dân làng đã cùngchung lưng đấu cật, nuôi Gióng ăn và rèn vũ khí cho Gióng đánh giặc giữnước Ấy vậy mà, khi xung trận với áo giáp sắt, ngựa sắt, roi sắt Gióng khôngthắng được giặc Ân… Gióng chỉ nghiêng mình nhổ bụi tre làng đã xua tanđược giặc Ân Gióng đã thắng giặc Ân chính vì Gióng là đại biểu cho tinh

Trang 33

thần bất khuất chống giặc ngoại xâm và cố kết cộng đồng dân tộc ta, quyết vìđộc lập dân tộc.

Xuất phát từ điều kiện khách quan, để tồn tại được các cư dân Việt Nam

Từ xưa đã phải sớm cố kết lại để chống thiên tai và giặc ngoại xâm, đặc biệt làphải đối phó với chính sách Hán hóa rất hà khắc, đã diễn ra hàng năm dưới thời

kỳ đấu tranh giành độc lập dân tộc, để rồi vùng lên dành quyền tự chủ, xây dựngđất nước giữ vững độc lập chủ quyền, chống các cuộc chiến tranh xâm lược củacác thế lực hùng mạnh và tàn bạo, trên cơ sở đã cố kết thành dân tộc, nhận thức

về dân tộc và nền độc lập dân tộc Qua nghìn năm đấu tranh giành độc lập dântộc, dân cư Lạc Việt đã kiên cường bảo vệ văn hóa, tiếng nói, phong tục tậpquán, văn hóa vật chất và tinh thần vùng lên giải phóng giành quyền tự chủ Trảiqua các triều đại Ngô, Đinh, Lê, Lý sự cố kết cộng đồng ngày càng phát triển đểkhi hội đủ các yếu tố về cộng đồng kinh tế, cộng đồng văn hóa, cộng đồng vềngôn ngữ và lãnh thổ dân tộc Việt Nam đã vươn lên sánh vai với các dân tộckhác

Tư tưởng về sự đồng lòng sự cố kết dân tộc, đại đoàn kết dân tộc vì lợiích chung, vì sự tồn tại của cả cộng đồng của cả dân tộc Tư tưởng Diên Hồngđoàn kết quân dân đã từng có trong thời Trần Trần Quốc Tuấn thấy rõnguyên nhân thắng lợi là trên dưới một lòng, ông nói: lòng dân không chia,vua tôi đồng lòng, anh em hòa mục, cả nước góp sức, giặc tự bị bắt

Để có sự đoàn kết ấy, cũng như huy động được sức mạnh vật chất và tinhthần của nhân dân vào công cuộc giữ nước thì phải “khoan thư sức dân” TheoTrần Quốc Tuấn dân là chính trị, đường lối chính trị phải lấy giữ nước làm gốc,mọi chiến lược, chiến thuật phải căn cứ vào lợi ích của dân, thắng hay thua, tiếnhay lùi bước đầu phải căn cứ vào lợi ích của dân Chính sách này biểu thị sựquan tâm của nhà nước đối với sản xuất và đời sống của nhân dân Do đó, phảitranh thủ sự đồng lòng ủng hộ của dân

Dưới con mắt của Trần Quốc Tuấn, nhân dân là nơi chứa chất tiềm lựckinh tế và quốc phòng bảo đảm cho sự vững chắc cho nền độc lập và chủ quyềncủa đất nước Dân là nguồn lực vĩ đại của dân tộc để bảo đảm cho sự bền vững

Trang 34

của nền độc lập chủ quyền đất nước Trong “Hịch Tướng Sỹ” ông khẳng định:được lòng dân mới là tất cả, được lòng dân mới là gốc nước Trần Quốc Tuấn làngười đầu tiên khẳng định sức mạnh từ sự đoàn kết của nhân dân đối với sự pháttriển của đất nước, đó như là một chân lý sáng ngời của chiến tranh giữ nước, cảnước chung sức đánh giặc cho nên “khoan thư sức dân” sẽ làm cho sức mạnhcủa dân tộc tăng lên gấp bội với tư tưởng “lòng dân không chia”, “cả nước gópsức” chống giặc Đồng thời khẳng định sự đoàn kết đồng lòng của quân sỹ đó làbiểu hiện sự đoàn kết toàn dân trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên -Mông.

Truyền thống đó đã được chứng minh hùng hồn bởi cuộc kháng chiếnchống quân Minh Sở dĩ Lê Lợi và Nguyễn Trãi cùng dân tộc làm nên được cácchiến công oanh liệt: “Đánh một trận sạch không kình ngạc, đánh hai trận tan tácchim muông” chính là vì các ông đã đoàn kết được toàn dân đánh giặc Ông đãtừng nói: Hòa rượu cùng uống, binh sĩ một dạ cha con

Các nhà tư tưởng về sau này đã thấy rõ chỉ có “hợp sức”, “hợp quần”thì mới có sức mạnh Rồi đến Hồ Chí Minh, tư tưởng đó được nêu lên thànhnguyên lý “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết Thành công, thành công, đạithành công” Vì vậy, phải coi trọng vai trò của sức mạnh “cố kết cộng đồng”,sức mạnh “đại đoàn kết dân tộc” đó là sợi chỉ đỏ xuyên suốt lịch sử dựngnước và giữ nước của dân tộc ta Bên cạnh đoàn kết toàn dân tộc, đoàn kếttoàn dân, thì vai trò của nhân dân cũng được coi trọng trong chiến tranh giữnước và cứu nước

Ngay từ khi khởi đầu dựng nước Đại Việt thế kỷ XI, Lý Công Uẩn đã nói:

“Trên vâng mệnh trời, dưới theo ý dân, thấy thuận trên thì thay đổi” Trần QuốcTuấn đã từng tổng kết: “Khoan thư sức dân để làm kế sâu rể bền gốc, đó làthượng sách giữ nước”, Nguyễn Trãi nói: “Chở thuyền là dân, lật thuyền cũng làdân”, ông còn nói: “Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân”

Trong thời đại ngày nay, thời đại Hồ Chí Minh, tư tưởng đó đã nâng lênmột trình độ mới Thành công trong toàn bộ sự nghiệp cách mạng của Hồ ChủTịch là nhờ kế thừa và phát huy thành công truyền thống quý báu của dân tộc

Trang 35

Sử ta dạy cho ta bài học: “khi nào dân ta đoàn kết thì độc lập của nước tađược giữ vũng, khi nào dân ta không đoàn kết thì độc lập của nước ta có nguy

cơ bị xâm phạm”; Người đánh giá đúng, đề cao sức mạnh và phát huy tinhthần quật cường của “nhân dân ta có truyền thống nồng nàn yêu nước, mỗikhi Tổ quốc bị xâm lăng thì triệu người như một xông lên phía trước, quyếtgiữ gìn và bảo vệ độc lập dân tộc”, mà luôn thực hiện đường lối cách mạngđại đoàn kết toàn dân, với nguyên tắc “tin dân dựa vào dân”, khẳng định sứcmạnh vô tận vô địch của dân: “Dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lầndân liệu cũng qua”, “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết Thành công, thànhcông, đại thành công”; Người đưa dân tộc Việt Nam lên ngang tầm thời đạivới các chiến thắng rực rỡ: từ Cách mạng Tháng 8/1945, chiến thắng ĐiệnBiên Phủ 1954, đến Đại thắng mùa xuân 1975 Đảng cộng sản Việt Nam đãkhơi dậy sức mạnh vĩ đại của nhân dân, nên đã chiến thắng được các đế quốc

to là Pháp và Mỹ và đang ngày càng lập được nhiều kỳ tích trong đẩy mạnh

sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo định hướng

xã hội chủ nghĩa, làm cho dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủvăn minh

2.1.2 Tinh hoa văn hóa nhân loại

Hồ Chí Minh xuất thân trong một gia đình khoa bảng, ngay từ nhỏ đãhấp thu một nền quốc học và hán học khá vững vàng Trong những năm ởnước ngoài, Người đã không ngừng làm giàu trí tuệ mình bằng những tinhhoa văn hóa nhân loại, Hồ Chí Minh là một con người đặc trưng cho sự kếthợp hài hòa văn hóa Đông - Tây

Phương Đông có một bề dày lịch sử phát triển xã hội - văn hóa - tínngưỡng Phương Đông được coi là một trong những trung tâm văn hóa củanhân loại, giá trị truyền thống của phương Đông cho đến nay vẫn còn nguyêngiá trị Hồ Chí Minh đã biết chắt lọc những gì tinh túy nhất của các học thuyếttriết học trong tư tưởng của Khổng Tử, Mạnh Tử, Mặc Tử, v.v

Người tiếp thu những mặt tích cực của Nho giáo Đó là các triết lý hànhđộng, tư tưởng nhập thế, hành đạo giúp đời; đó là ước vọng về một xã hội

Ngày đăng: 06/01/2014, 15:03

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Giáo dục và Đào tạo, “Giáo trình chủ nghĩa Mác-Lênin”, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội - 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình chủ nghĩa Mác-Lênin”
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
2. Bộ Giáo dục và Đào tạo, “Giáo trình triết học Mác-Lênin”, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội - 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình triết học Mác-Lênin”
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
3. Bộ Giáo dục và Đào tạo, “Giáo trình tư tưởng Hồ Chí Minh”, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội - 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình tư tưởng Hồ Chí Minh”
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
4. Nguyễn Thanh Bình “ Học thuyết chính trị - xã hội của nho giáo và ảnh hưởng của nó ở Việt Nam”(Từ thế kỷ XI đến nữa đầu thế kỷ XIX), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội -2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Học thuyết chính trị - xã hội của nho giáo và ảnh hưởng của nó ở Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
5. Nguyễn Trọng Chuẩn, Phạm Văn Đức, Hồ Sĩ Quý, “Những quan điểm cơ bản của C.Mác-V.I.Lênin về chủ nghĩa xã hội và thời kỳ quá độ”, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội - 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những quan điểm cơ bản của C.Mác-V.I.Lênin về chủ nghĩa xã hội và thời kỳ quá độ”
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
6. Lê Duẩn, “Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng nhân dân”, Nxb Sự thật, Hà Nội - 1978 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng nhân dân”
Nhà XB: Nxb Sự thật
7. Trần Văn Đặng, “Quan điểm của triết học Mác-Lênin về vai trò quần chúng nhân dân trong lịch sử và sự vận dụng của Đảng Cộng sản Việt Nam”, Luận văn thạc sỹ, Huế - 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan điểm của triết học Mác-Lênin về vai trò quần chúng nhân dân trong lịch sử và sự vận dụng của Đảng Cộng sản Việt Nam
8. Hội đồng Trung ương chỉ đạo biên soạn giáo trình quốc gia các bộ môn khoa học Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, “Giáo trình triết học Mác-Lênin”, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội - 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình triết học Mác-Lênin”
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
9. Dương Thị Diễm Hương, “Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về quần chúng nhân dân và bài học “lấy dân làm gốc” trong giai đoạn hiện nay”, Khóa luận tốt nghiệp, Huế - 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về quần chúng nhân dân và bài học “lấy dân làm gốc” trong giai đoạn hiện nay
10. V.I. Lênin, Toàn tập, Tập 9, Nxb Sự thật, Hà Nôi - 1968 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Nhà XB: Nxb Sự thật
11. Phạm Bá Lượng, “Tư tưởng Hồ Chí Minh về lấy dân làm gốc”, Tạp chí Triết học, số 2 tháng 2/2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng Hồ Chí Minh về lấy dân làm gốc
12. Mác-Ănghen, “Hệ tư tưởng Đức”, Nxb Sự thật, Hà Nội - 1963 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ tư tưởng Đức
Nhà XB: Nxb Sự thật
13. Hồ Chí Minh, “Về quan điểm quần chúng”, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1974 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về quan điểm quần chúng”
Nhà XB: Nxb Sự thật
14. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 2 , Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội - 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
15. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 5 , Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội - 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
16. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 6 , Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội - 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
17. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 7 , Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội - 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
18. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 8 , Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội - 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
19. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 12, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội - 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
20. Lê Hữu Nghĩa, “Tư tưởng triết học Hồ Chí Minh”, Nxb Lao động, Hà Nội, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng triết học Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Lao động

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w