Nhiệm vụ nghiên cứu - Trên cơ sở tìm hiểu khái quát về khu vực miền núi phía Bắc và các dân tộcthiểu số cộng cư ở khu vực này, một số vấn đề lý thuyết như lý thuyết thể loại, một số khái
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Miền núi phía Bắc là khu vực định cư lâu đời và đông đúc của nhiều dân tộc
thiểu số Cùng với dân tộc Việt, ngay từ những buổi đầu dựng nước, các dân tộcthiểu số đã tham gia tích cực vào việc xây dựng các truyền thống lịch sử, văn hóa lâuđời của đại gia đình các dân tộc Việt Nam Trong quá trình tạo lập, phát triển cuộcsống, các dân tộc nơi đây đã sáng tạo ra nền văn hóa, văn học truyền thống có giá trị.Văn học dân gian các dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc có những đóng góp quantrọng đối với văn học dân gian Việt Nam nói chung trong đó đặc biệt phải nói đếntruyện kể dân gian - bộ phận đã sớm được sưu tầm và hiện còn lưu giữ một nguồntác phẩm dày dặn Truyện kể dân gian là sự phản chiếu chân thực cuộc sống laođộng, chiến đấu và sáng tạo của quần chúng nhân dân thông qua những câu chuyệngiàu sức tưởng tượng, giàu yếu tố kỳ ảo Truyện kể dân gian là bộ phận bao gồmnhiều thể loại hơn cả trong các loại hình văn học dân gian Đây cũng là bộ phận vănhọc có khả năng phản ánh chân thực, đa dạng nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sốnghiện thực, qua đó, phản ánh suy nghĩ, quan niệm và khát vọng của đồng bào các dântộc Truyện kể dân gian còn là bộ phận văn học dân gian gắn bó máu thịt với văn hóadân gian, là nơi tích tụ nhiều tầng lớp lịch sử, văn hóa, bản sắc của các dân tộc thiểu
số Có thể khẳng định, cùng với đồng bào dân tộc ở những nhóm ngôn ngữ, vùngmiền khác, các dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc đã sáng tạo nên những sản phẩmvăn hóa tinh thần đặc sắc, độc đáo phản ánh đời sống xã hội, quan niệm, tâm tư, tìnhcảm, khát vọng cộng đồng
Công tác sưu tầm, biên soạn về văn học dân gian các dân tộc thiểu số miềnnúi phía Bắc trong đó có truyện kể dân gian đã được nhiều tác giả quan tâm từ nhữngnăm 64 của thế kỷ XX Từ đó đến nay, nhiều tuyển tập truyện cổ dân gian đã đượcxuất bản gắn với tên tuổi các nhà sưu tầm, biên soạn tiêu biểu như Lê Trung Vũ,Hoàng Quyết, Hoàng Thao, Triều Ân, Cầm Cường…và một số nhóm tác giả của cácviện nghiên cứu như Viện Văn học, Viện nghiên cứu văn hóa dân gian Tuy vậy,thực tế cũng cho thấy những thành tựu nghiên cứu về bộ phận văn học dân gian đặcsắc này còn khiêm tốn, ít ỏi hơn rất nhiều so với sự tồn tại phong phú của chúng.Nhất là việc xem xét khám phá các thể loại truyện kể trong mối quan hệ qua lại với
Trang 2nhau, trong mối quan hệ với đời sống tín ngưỡng, với lịch sử dân tộc và bản sắc vănhóa tộc người vẫn còn bỏ ngỏ Đây là khoảng đất trống gợi mở cho những ngườinghiên cứu muốn tiếp tục góp sức nghiên cứu, tìm ra vẻ đẹp và giá trị trong nhữngcâu chuyện lung linh nhiều sắc màu.
Bản thân những người nghiên cứu chúng tôi hiện đang sinh sống và làm việctại khu vực miền núi phía Bắc, có cơ hội được tiếp xúc và tiếp nhận một số giá trịvăn hóa của các dân tộc thiểu số, do đó, chúng tôi có những điều kiện thuận lợi nhấtđịnh khi nghiên cứu vấn đề này Đồng thời, chúng tôi cũng nhận thấy ý nghĩa sâu sắccủa công việc mà chúng tôi đã và đang tiến hành Chúng tôi có điều kiện hiểu sâuhơn về một bộ phận văn học dân gian các dân tộc thiểu số, có cơ sở chỉ ra và lý giảimột số nét đặc sắc trong truyện kể dân gian các dân tộc nơi đây, từ đó, góp phần giữgìn và phát huy vốn văn hóa, văn học quý báu vốn còn ẩn sâu chưa được biết đến
2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
- Khảo sát, thống kê, phân tích các thể loại, nhóm truyện, type truyện thuộc bộphận truyện kể dân gian các dân tộc thiểu số ở miền núi phía Bắc nhằm dựng lại diệnmạo của bộ phận đặc sắc này
- Chỉ ra mối liên hệ giữa các thể loại truyện kể và một số nét đặc trưng trongtruyện kể của các dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc
- Tìm hiểu sâu và hệ thống hóa về mối quan hệ giữa đời sống tín ngưỡng dângian, thế giới quan, nhân sinh quan và bản sắc văn hóa với quá trình sáng tạo, phảnánh và lưu truyền truyện kể dân gian các dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Trên cơ sở tìm hiểu khái quát về khu vực miền núi phía Bắc và các dân tộcthiểu số cộng cư ở khu vực này, một số vấn đề lý thuyết như lý thuyết thể loại, một
số khái niệm công cụ như khái niệm truyện kể dân gian, type và motif, luận án tiếnhành khảo sát, phân tích ba thể loại truyện kể dân gian tiêu biểu của các dân tộc thiểu
số miền núi phía Bắc: thần thoại, truyền thuyết, truyện cổ tích qua các nhóm truyện,type truyện và hệ thống motif
Trang 3- So sánh và chỉ ra những tương đồng, khác biệt trong mỗi thể loại giữa cácdân tộc trong khu vực, sự tương đồng và khác biệt giữa truyện kể khu vực này vớidân tộc Việt và một số dân tộc thiểu số ở khu vực khác.
- Phân tích mối quan hệ giữa các thể loại truyện kể với đời sống tín ngưỡng,nghi lễ, giữa các thể loại truyện kể với nhau, chỉ ra nét đặc trưng trong truyện kể củacác dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu chính của luận án là tập hợp truyện kể được khảo sátchủ yếu trên những tổng tập, tuyển tập, hợp tuyển truyện kể, truyện cổ của các dântộc thiểu số miền núi phía Bắc, cập nhật những tập truyện được sưu tầm và xuất bảngần đây Ngoài ra, chúng tôi sẽ sử dụng thêm nguồn tư liệu điền dã chưa được xuấtbản của một số tác giả và nhóm tác giả công bố trong một số luận văn, luận án
- Chúng tôi cũng hướng tới tìm hiểu một số hình thức sinh hoạt văn hóa, tínngưỡng, phong tục trong đời sống có liên quan đến truyện kể dân gian các dân tộcthiểu số miền núi phía Bắc
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận án khảo sát, nghiên cứu ba thể loại tiêu biểu của truyện kể dân gian cácdân tộc thiểu số miền núi phía Bắc là thần thoại, truyền thuyết, truyện cổ tích Chúngtôi xác định giới hạn miền núi phía Bắc bao gồm hai tiểu vùng miền núi Đông Bắc
và miền núi Tây Bắc (không tính một số tỉnh trung du và đồng bằng Bắc Bộ), đồngthời phân định với khu vực miền Trung và Nam Bộ
4 Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng kết hợp các phương pháp sau:
+ Phương pháp thống kê, phân loại: Phương pháp này được sử dụng trong quátrình khảo sát, thống kê, phân loại các thể loại, nhóm truyện, type truyện dân giancác dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc để có những số liệu, tỉ lệ làm cơ sở triển khaicác nội dung của luận án
Trang 4+ Phương pháp phân tích, tổng hợp: Phương pháp này được sử dụng trongviệc phân tích nội dung phản ánh, hình thức biểu hiện, các motif tiêu biểu của cácnhóm truyện, type truyện dân gian các dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc.
+ Phương pháp so sánh – loại hình: Chúng tôi sử dụng phương pháp này đểtiến hành so sánh một số nhóm truyện, type truyện, motif của các dân tộc khu vựcnày với truyện kể dân tộc Việt và một số dân tộc thiểu số ở khu vực khác, qua đó,phát hiện ra những tương đồng cũng như những khác biệt giữa các dân tộc
+ Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Chúng tôi kết hợp phương phápnghiên cứu của các ngành dân tộc học, sử học, văn hóa học để có những lý giải,khám phá mới về các nhóm truyện, type truyện, motif đặc thù của các dân tộc, cũng
là thấy được giá trị ẩn sâu bên trong của kho tàng truyện kể các dân tộc thiểu số miềnnúi phía Bắc
5 Đóng góp mới của luận án
Qua quá trình tập hợp, khảo sát, nghiên cứu nguồn tư liệu phong phú, luận án
sẽ có những đóng góp sau:
.- Là công trình khảo sát một cách hệ thống diện mạo truyện kể dân gian cácdân tộc thiểu số ở miền núi phía Bắc Việt Nam theo thể loại, type truyện và hệ thốngmotif
- Chỉ ra một số đặc điểm cơ bản của truyện kể dân gian khu vực miền núi phíaBắc trong cái nhìn đối sánh với truyện kể của các dân tộc khác ở các vùng miềnkhác
- Chỉ ra mối quan hệ giữa truyện kể dân gian các dân tộc thiểu số miền núiphía Bắc với đời sống tín ngưỡng và bản sắc văn hóa của các dân tộc
6 Bố cục của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Thư mục tham khảo, Phụ lục, Nội dung chính
của luận án được chia làm bốn chương:
Chương 1: Tổng quan về khu vực miền núi phía Bắc và việc nghiên cứu truyện kể dân gian các dân tộc thiểu số
Chương 2: Thần thoại và truyền thuyết các dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc
Trang 5Chương 3: Truyện cổ tích các dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc
Chương 4: Mối quan hệ và nét đặc trưng của truyện kể dân gian các dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc
Trang 6CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ KHU VỰC MIỀN NÚI PHÍA BẮC VÀ VIỆC NGHIÊN CỨU
TRUYỆN KỂ DÂN GIAN CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ
Truyện kể dân gian nói chung là sản phẩm văn hóa tinh thần sớm được hìnhthành từ trong đời sống lao động và sinh hoạt của các dân tộc Truyện kể dân gianđược lưu truyền từ đời này sang đời khác, từ vùng này sang vùng khác tạo nên sứcsống lâu dài, bền bỉ Các dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc là một bộ phận cư dântrong cộng đồng các dân tộc Việt Nam, vì thế điều kiện sinh sống tự nhiên, đời sốngvăn hóa, tín ngưỡng, phong tục có những tương đồng và không ít khác biệt so với cácdân tộc thiểu số ở khu vực khác Chính những yếu tố này có tác động quan trọng vàgóp phần tạo nên bản sắc cũng như sức sống, sức lưu truyện của truyện kể dân giannói riêng, văn học dân gian nói chung Do đó, trước khi đi vào nghiên cứu cụ thể khotruyện kể phong phú của đồng bào các dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc, chúng tôithấy cần thiết phải trình bày khái lược những nội dung có ý nghĩa cơ sở, nền tảngliên quan như không gian địa - văn hóa khu vực miền núi phía Bắc trong đó các dântộc thiểu số là chủ nhân trung tâm, khái quát về văn học dân gian, diện mạo và tư liệutruyện kể dân gian các dân tộc nơi đây cùng với khái niệm và phương pháp nghiên
cứu truyện kể theo type và motif
1.1 Điều kiện tự nhiên, đặc điểm xã hội khu vực miền núi phía Bắc
1.1.1 Điều kiện tự nhiên
Theo các nhà địa lý tự nhiên, địa lý kinh tế, miền núi phía Bắc là khu vực cóđịa hình chủ yếu là đồi núi cao, hiểm trở, được phân chia một cách tự nhiên thành haivùng Đông Bắc và Tây Bắc Đông Bắc là vùng có nhiều núi cao, cao nguyên xen vớinhững thung lũng- cánh đồng lòng chảo, những dòng sông dài và nhiều danh lamthắng cảnh Đông Bắc nổi tiếng với những ngọn núi cao như Tây Côn Lĩnh, NgânSơn, Mẫu Sơn…với những cao nguyên nằm ở biên giới Việt - Trung như cao nguyênBắc Hà, Quản Bạ, Đồng Văn…Bên cạnh đó, vùng Đông Bắc còn chứa cả nhữngthung lũng với những cánh đồng bằng phẳng như Nước Hai, Lộc Bình, Phủ Thông…
và khá nhiều con sông lớn nhỏ như sông Lô, sông Chảy, sông Bằng Giang, sông KỳCùng…Khí hậu Đông Bắc cơ bản thuộc về vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa Nhiệt độ
Trang 7trung bình trong năm là từ 20-22 độ C Đáng chú ý là nhiệt độ giữa ban ngày và banđêm chênh lệch nhau khá nhiều Cá biệt có những nơi vào mùa đông nhiệt độ hạ thấptạo ra những dải tuyết trắng phủ đầy trên các đỉnh núi Có thể thấy, về mặt địa lý tựnhiên, Đông Bắc là vùng có đủ các yếu tố mang tính đại diện cho cả nước Ở đây, cónúi cao, có sông dài, có vùng thấp vùng cao, có thung lũng, có cánh đồng, có biển, cóbiên giới quốc gia Đó cũng là vùng chuyển tiếp từ đồng bằng châu thổ sông Hồnglên vùng biên giới Đông Bắc Môi trường tự nhiên cơ bản là điều kiện thuận lợi và cónhiều ưu đãi cho quá trình xây dựng và phát triển đời sống của cư dân vùng ĐôngBắc nói chung trong đó có các tộc người dân tộc thiểu số.
Cùng với Đông Bắc, Tây Bắc là vùng có điều kiện tự nhiên đặc biệt Khu vựcnày nổi tiếng với các cánh đồng rộng lớn màu mỡ là: nhất Thanh (Mường Thanh-Điện Biên), nhì Lò (Mường Lò- Văn Chấn- Yên Bái), tam Thanh (Mường Thanh-Than Uyên- Lai Châu) và tứ Tấc (Mường Tấc- Phù Yên- Sơn La) Ngoài ra, địa bànsinh tụ của các nhóm Mường còn nổi danh với bốn mường: nhất Bi (Mường Bi- TânLạc), nhì Vang (Lạc Sơn), tam Thàng (Kỳ Sơn) và tứ Động (Chiềng Động- Kim Bôi)thuộc tỉnh Hòa Bình Tây Bắc cũng là khu vực có những ngọn núi cao vào loại nhấtnhì Việt Nam như đỉnh Phanxipăng, dãy Hoàng Liên Sơn…Khí hậu nơi đây là khíhậu nhiệt đới gió mùa vùng núi điển hình Mùa đông lạnh, có sương muối, ít mưa,mùa hè nóng, nhiều mưa So với vùng Đông Bắc, nhiệt độ mùa khô ở đây cao hơn từ1-2 độ C Như vậy, Tây Bắc cũng là vùng địa lý điển hình và độc đáo với núi nonhiểm trở, trùng điệp, nhiều dòng sông lớn, nhiều cao nguyên và những cánh đồng.Đây cũng là vùng có đường biên giới với hai nước bạn Lào và Trung Hoa, đặc biệt,nơi đây có các nhà máy thủy điện lớn cung cấp năng lượng cho cả nước
Điều kiện tự nhiên vừa có phần hùng vĩ, thơ mộng vừa có phần khắc nghiệt,hiểm trở ấy đã chi phối đến đời sống xã hội, văn hóa và văn học dân gian các dân tộcthiểu số trên nhiều phương diện Những núi, những sông, những cánh đồng rộng dàibát ngát đã ghi dấu ấn trong nhiều truyện kể dân gian các dân tộc Các loài động thựcvật phong phú đa dạng đã được đồng bào các dân tộc thể hiện sinh động trong cáctruyện thần thoại và cổ tích Đặc trưng khí hậu rét vào mùa đông, mưa nhiều vàomùa hè và ấn tượng về những đại nạn trong tự nhiên như hạn hán, lũ lụt chính là cơ
Trang 8sở cho sự hình dung và miêu tả về những chàng người khỏe, những nhân vật khổng
lồ ngăn nước, đắp mương trong truyện kể
lẽ đó, trong luận án, chúng tôi tập trung khảo sát nghiên cứu truyện kể các dân tộcthiểu số cư trú ở các tỉnh đã kể trên Trong các dân tộc thiểu số khu vực miền núiphía Bắc có những nhóm dân tộc di cư, du nhập và liên hệ rất mật thiết với một sốdân tộc miền Nam Trung Quốc và một số dân tộc Đông Nam Á Tiêu biểu là các dântộc Hmông, Dao có nguồn gốc phương Bắc, di cư vào nước ta ở những thời kỳ lịch
sử khác nhau như dân tộc Dao là từ thế kỷ XIII, dân tộc Hmông là từ thế kỷ XIII đếnthế kỷ XIX Đặc điểm lịch sử xã hội này tạo ra sự ảnh hưởng qua lại giữa các dân tộcmiền núi phía Bắc Việt Nam và một số dân tộc phía Nam Trung Quốc, điều đó đượcthể hiện khá rõ nét trong một số thể loại, type truyện dân gian mà chúng tôi sẽ chỉ ra
và phân tích ở những chương sau
Đối với các dân tộc thiểu số, bản làng, mường là đơn vị cư trú quan trọng Cácnóc nhà quần tụ với nhau, gắn bó và quan hệ chặt chẽ tạo thành bản Các bản làngcùng cư trú trong một thung lũng trở thành mường Các dân tộc cư trú ở vùng thấp cóthể xây dựng bản làng ở chân núi, thung lũng còn các dân tộc vùng cao chọn sườnđồi hay sườn núi để tạo lập Người Thái thường lập bản ở ngay giữa các cánh đồng
Trang 9nên bản của họ là những cụm dân cư khá đông đúc, có khi có tới hàng trăm nóc nhà.Người Mường lại thường dựng bản thành từng cụm ven chân núi nên quy mô khônglớn như bản người Thái Các dân tộc ở vùng Đông Bắc như Tày, Nùng, Hmông, Daothì hay chọn sườn đồi, sườn núi làm nơi dựng bản Dù ở những vị trí khác nhau thìđồng bào các dân tộc đều thống nhất tiêu chuẩn dựng bản mường đó là gần nguồnnước để tiện cho lao động sản xuất và sinh hoạt Riêng dân tộc Mường còn dựng bảnnơi có gốc cây si hoặc cây đa Nước có ý nghĩa quan trọng đối với đời sống, đặc biệtvới các cư dân vùng thấp Người Tày, Nùng, Thái có hoạt động sản xuất cơ bản là
làm ruộng ở những thung lũng lúa nước với hệ thống thủy lợi theo kiểu mương, phai, lái, lịn và các loại cọn, guồng…Và có lẽ vì thế, nước cùng với những yếu tố có liên
quan đã trở thành một trong những biểu tượng tiêu biểu thường xuyên xuất hiệntrong truyện kể dân gian các dân tộc Mỗi bản đều có địa giới rõ ràng, địa giới hoặc
là một con đường, dòng suối hoặc là một gốc cây cổ thụ, một cái đèo, một con dốc…Mỗi bản có nguồn tài nguyên riêng mà chỉ các thành viên trong bản được quyền sửdụng Mỗi bản thường có nhiều dân tộc cùng sinh sống, lao động và có quan hệ đoànkết, giúp đỡ lẫn nhau Người cùng một bản thường tổ chức các hoạt động văn hóacộng đồng ở nơi sinh hoạt chung như miếu, đình làng…
Về tổ chức quản lý xã hội, các dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc chủ yếu
thực hiện theo thiết chế tự quản, mỗi bản, mường đều có một người đứng đầu được
gọi là trưởng bản Một số dân tộc thiểu số tiêu biểu như Thái, Tày, Mường do ảnhhưởng rõ rệt của chế độ phong kiến, do xã hội đã phát triển hơn và đạt đến trình độtiền giai cấp, tiền nhà nước do vậy, thiết chế xã hội đã hình thành bộ máy bao gồm lýtrưởng, chánh tổng, quan châu…một số dân tộc khác thực hiện thiết chế theo chế độ
quằng, thổ ty, phìa tạo, lang đạo Chính vì thế, trong truyện kể dân gian các dân tộc
này, chúng ta thấy xuất hiện phổ biến hình ảnh thực của giai cấp thống trị với tên gọi,đặc điểm tính cách xác định cụ thể
Hầu hết gia đình các dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc đều thuộc loại giađình nhỏ phụ hệ bao gồm hai hình thức gia đình hạt nhân và gia đình hạt nhân mởrộng, trong đó, người chồng, người cha làm chủ gia đình Người chủ gia đình có vaitrò quyết định trong tổ chức sản xuất và điều hòa các mối quan hệ giữa con người vớicon người trong gia đình cũng như ngoài xã hội Trong gia đình, nề nếp phân công
Trang 10lao động theo lứa tuổi và giới tính đã hình thành từ lâu đời Người đàn ông trưởngthành thường gánh vác những công việc nặng nhọc như cày, bừa, phát rẫy, săn bắn,đánh bắt, dựng nhà cửa…Phụ nữ tham gia những công việc sản xuất ít nặng nhọchơn như gieo cấy, chăm sóc lúa và hoa màu, đặc biệt là đảm nhận công việc trong giađình như dệt may, khâu vá nấu nướng và chăm sóc con cái Đặc điểm xã hội này đã
để lại những dấu ấn nhất định trong nhiều truyện kể
1.2 Đời sống văn hóa các dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc
Miền núi phía Bắc là khu vực định cư của rất nhiều dân tộc thiểu số, ngoàimột số tộc người bản địa còn có nhiều nhóm tộc người từ các khu vực, quốc gia khác
di cư đến và định cư sinh sống tại đây Do đó, đời sống văn hóa các dân tộc thiểu số
cư trú tại khu vực này vừa là sự tổng hợp một cách tự nhiên bởi mối giao lưu, ảnhhưởng, tiếp biến các sắc thái văn hóa tộc người vừa là sự hiện hữu một số nét vănhóa riêng của mỗi tộc người ấy Trong luận án này, chúng tôi chủ yếu khái quátnhững nét văn hóa mang tính chất tổng hợp, là điểm gặp gỡ, thống nhất giữa các dântộc coi đó như một phần điểm tựa để khám phá giá trị của bộ phận truyện kể phongphú ấy Bên cạnh đó, ở một số luận điểm chúng tôi cũng xem xét đến bản sắc vănhóa mỗi tộc người có ảnh hưởng và tạo ra những type, motif truyện độc đáo của từngdân tộc Tìm hiểu một số biểu hiện cụ thể trong đời sống văn hóa các dân tộc cũng cónghĩa là chúng tôi muốn hướng tới việc khai thác và lý giải các thể loại truyện kể dângian từ góc độ văn hóa tộc người, văn hóa vùng lãnh thổ và trong mối liên hệ vănhóa liên quốc gia ở một vài trường hợp cụ thể Với tinh thần đó, dưới đây chúng tôixin trình bày khái quát một số vấn đề cơ bản về đời sống văn hóa của các dân tộcthiểu số miền núi phía Bắc
Cộng cư trong khung cảnh thiên nhiên vừa bí ẩn, khắc nghiệt vừa hùng vĩ, nênthơ, người dân các dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc đã tạo dựng và lưu giữ đượcnhững nét văn hóa đặc trưng thời cổ đại- văn hóa Nam Á Đó là bức tranh văn hóaphản ánh một nền sản xuất nông nghiệp miền núi vùng nhiệt đới gió mùa Bức tranhvăn hóa ấy được biểu hiện ra thành các nét vẽ muôn màu muôn vẻ trong tất cả cácphương diện văn hóa vật chất và tinh thần
Sống ở miền núi, giữa môi trường tự nhiên nhiều loại gỗ, tre, nứa lá, ngườimiền núi phía Bắc đã biết sử dụng các nguyên liệu tự nhiên có sẵn để làm nhà ở Cư
Trang 11dân thiểu số vùng thấp miền núi phía Bắc thường làm nhà sàn Những dân tộc sinhsống ở vùng cao hơn như Hmông, Dao có thể kết hợp nhà sàn với nhà đất, nhà gỗ.Nét chung trong tập quán làm nhà và sử dụng nhà ở của các dân tộc là sự phân chianhà thành các tầng, các gian với chức năng được phân định rõ ràng Nhà gồm batầng: tầng dưới cùng là gầm sàn- nơi dành để công cụ sản xuất, gia súc, gia cầm; tầngtrên là nơi con người ở và các đồ dùng hàng ngày của con người và tầng gác là nơichứa lương thực và cất giữ các đồ đạc bảo quản lâu ngày Nhà cũng gồm ba gian:gian giữa là nơi đặt bàn thờ tổ tiên, là nơi tiếp khách cũng là không gian sinh hoạtchung của gia đình, một gian làm bếp và buồng ngủ cho phụ nữ, gian còn lại dànhchon nam giới
Về trang phục, các dân tộc thiểu số trước đây đều tự túc hoàn toàn từ khâutrồng bông, trồng lanh, dệt vải đến công đoạn cắt, khâu thành quần áo Trang phụccủa các dân tộc miền núi cầu kỳ và tinh tế bao gồm mũ (khăn đội đầu), áo, quần(váy), thắt lưng, tạp dề, xà cạp, guốc hoặc dép Các dân tộc thiểu số vùng thấp ĐôngBắc như Tày, Nùng ưa dùng sắc màu chàm xanh để nhuộm quần áo Đó là vẻ đẹpthâm trầm không gây cảm giác choáng ngợp nhưng lại mang nét độc đáo và duyêndáng Trong khi đó, các dân tộc Hmông, Dao ở vùng cao thường gây cảm giác và ấntượng mạnh mẽ bởi vẻ đẹp rực rỡ của những tấm váy xòe nhiều màu sắc Người Tháihấp dẫn bởi áo cánh, váy cuốn bó sát thân với hai sắc màu trắng và thâm (đen) làmchủ đạo, cùng khăn piêu nền nã, tinh tế và dải thắt lưng xanh duyên dáng Trangphục của nữ giới thường phức tạp, đa dạng và nhiều màu sắc hơn trang phục namgiới Thêm vào đó, đồng bào các dân tộc thiểu số thường sử dụng kết hợp trang phụcvới các loại trang sức để tăng sức hấp dẫn Đó là các loại hoa tai, vòng tay, vòng cổ,
bộ xà tích…Các loại trang sức này thường được làm từ bạc và được trạm khắc vớinhiều hoa văn đẹp mắt Ngoài chức năng làm đồ trang điểm cho thêm duyên dáng,một số loại trang sức còn được coi như bùa hộ mệnh, đồ chữa bệnh…Có thể nói,trang phục các dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc vừa đậm đà tính truyền thống, bảnsắc dân tộc vừa có yếu tố hiện đại tạo ra những ấn tượng riêng góp phần hoàn thiệnbức tranh văn hóa đặc sắc
Nói đến văn hóa đồng bào các dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc không thểkhông nói đến đời sống tín ngưỡng, nghi lễ bởi đó là nhu cầu tất yếu trong cuộc sống
Trang 12của tất cả các dân tộc Đặc biệt, các cư dân vùng cao miền núi phía Bắc, sống gắn bóthường xuyên với môi trường tự nhiên còn nhiều bí ẩn, nguy hiểm nên mặc nhiên ở
họ xuất hiện niềm tin vào số phận, vào lực lượng siêu nhiên và đó chính là cơ sở củaniềm tin tín ngưỡng, tôn giáo Tín ngưỡng các dân tộc thiểu số vùng Đông Bắc trướchết là tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, sau là tín ngưỡng đa thần giáo, tín ngưỡng vật tổdựa trên niềm tin “vạn vật hữu linh” và một số phương diện chịu ảnh hưởng của Phậtgiáo, Đạo giáo và Nho giáo Trong gia đình, cư dân các dân tộc đều lập bàn thờ đểthờ cúng tổ tiên, thờ Bà Mụ Ngoài ra họ còn thờ Phật, Khổng, Đạo, có khi thờ tổ sưnghề thầy cúng, hoặc thờ vị thần được coi là thủy tổ của dân tộc mình Một số dântộc và dòng họ trong các dân tộc do ảnh hưởng của tín ngưỡng vật tổ mà có tục kiêng
ăn thịt một số loài vật Ví dụ, dân tộc Tày có nhiều dòng họ Họ Bế kiêng ăn thịt chó
vì họ cho rằng xưa kia tổ tiên dòng họ này đã được con chó chăm sóc và cho bú lúcgặp hoạn nạn Họ Hồ không ăn thịt rùa hay họ Vương thì kiêng ăn thịt ếch Đồng bàoThái ở nhiều vùng lại kiêng ăn thịt rắn vì họ coi đó là vật tổ của mình Đồng bào Daocũng kiêng ăn và giết chó vì trong tâm thức của họ, con chó thần Long khuyển chính
là tổ tiên đã sinh ra các dòng họ Dao Điều này để lại dấu ấn trong truyện kể dân giancủa các dân tộc rất rõ từ những truyện thần thoại giải thích tục thờ thần, thờ vật tổ,truyền thuyết về vị tổ sư đến sự xuất hiện nhân vật thần, phật trong truyện cổ tích Vínhư trong quan niệm của các dân tộc Tày, Nùng, thần Nông là vị thần phụ trách việcnông trang, thần định ra thời vụ và giữ nước cho thời vụ Thần có ý nghĩa rất quantrọng đối với đời sống sản xuất gắn liền với nông nghiệp của các cư dân Hàng năm,các dân tộc đều tổ chức những nghi lễ trang trọng thờ cúng thần Nông để cầu mongmưa thuận gió hòa, bớt thiên tai đối với cuộc sống Đồng bào các dân tộc cũng quanniệm vạn vật đều có hồn, có ma, có thần Tất cả các loại hồn đều được chia làm hailoại: lành (thiện) và dữ (ác) Đây là quan niệm điển hình trong nhận thức nhân dâncác dân tộc chi phối mạnh mẽ đến đời sống văn hóa và các sáng tác văn học dângian Đó là nguyên nhân, là cơ sở hình thành hàng loạt các miếu thờ thổ công, thổđịa, thổ thần, đình làng thờ Thần hoàng, là nguyên cớ để đồng bào các dân tộc tổchức các lễ hội mang tính nghi lễ, cũng là cơ sở hình thành các thể loại sáng tác dângian nghi lễ tiêu biểu
Trang 13Đối với các dân tộc thiểu số vùng Tây Bắc, tín ngưỡng, tôn giáo chủ yếu mớidừng lại ở các loại hình nguyên thủy Đó là niềm tin về sự tồn tại của ba mường (dântộc Thái), ba tầng- bốn thế giới (dân tộc Mường) Với người Mường, ba tầng đó làtầng trên cao (tầng trời), tầng giữa (tầng mặt đất) và tầng thấp (tầng dưới mặt đất).Bốn thế giới bao gồm thế giới Mường Trời (Phạ, Then hoặc Blơi, Klơi)- nơi ở của tổtiên và các vị thần linh trông coi mọi vật trên trái đất, thế giới Mường Pưa- thế giớitrần gian của người sống, thế giới Mường Pưa Tín (dưới mặt đất) và thế giới MườngVua Khú (mường nước) Trong các mường đó, mường Trời là nơi trú ngụ của các vịthần có sức mạnh, uy quyền phi phàm nhất, có thể chia làm nhiều tầng, lớp khácnhau với các địa vị, chức năng khác nhau Niềm tin ấy đã tạo nên trong truyện kể dângian các dân tộc không khí huyền ảo với sự xuất hiện của không gian Mường Trời vànhân vật Vua Trời đầy uy quyền một cách rất phổ biến.
Lễ hội cũng là một nét sinh hoạt văn hóa cộng đồng của đồng bào các dân tộc
Lễ hội được tổ chức khá thường xuyên và gắn liền với đời sống của nhân dân đặcbiệt là đời sống sản xuất, phản ánh niềm tin và mơ ước về một cuộc sống tốt đẹp hơn
Lễ hội ở đây thường được tổ chức theo mùa và theo mục đích của lễ hội như TếtNguyên Đán, lễ hội mùa xuân, lễ hội cầu mùa, lễ hội cầu an, lễ cầu tự Ở mỗi dân
tộc, các lễ hội này có thể được gọi theo những cách khác nhau như lồng tồng (lùng tùng), hội Hai (Tày), nào xồng, gầu tào (Hmông), dun pùn (Dao), sắc bùa, khuổng mùa (Mường), xên mường, xên bản (Thái) …Các lễ hội được tổ chức phổ biến vào
mùa xuân, tháng Giêng, ngoài ra có thể vào một số dịp khác như mùa hè, thu Saunhững năm mùa màng thất bát, vào dịp xuân mới, người Tày ở Tràng Định (LạngSơn) và Thạch An (Cao Bằng) thường tổ chức Hội Hai để đón rước nàng Hai (nàngTrăng) Đồng bào quan niệm trên cung trăng có Mẹ Trăng và 12 cô gái đẹp chuyên
lo lắng và bảo vệ mùa màng cho dân ở trần gian Tổ chức hội Trăng là để đón MẹTrăng và các cô gái xuống tìm hiểu cõi người và đồng cảm với khát vọng của dân Lễ
“xên mường” của người Thái cũng là lễ hội mùa nông nghiệp được tổ chức đầu xuân
để cúng bái trời đất, thần linh, các tổ tiên, dòng họ chúa, các ma quỉ…cầu mong mộtnăm bản mường được tốt đẹp, yên ấm
Giống như dân tộc Kinh, đồng bào khu vực nơi đây cũng duy trì được một số
lễ hội gắn với các nhân vật anh hùng lịch sử như lễ hội Dương Tự Minh ở Thái
Trang 14Nguyên, lễ hội về anh hùng Nùng Trí Cao ở Cao Bằng, lễ hội nàng Han ở Sơn La…Tuy hệ thống lễ hội này không thật phong phú như ở người Việt nhưng chúng đã gópphần tạo ra môi trường lưu giữ các giá trị văn hóa, văn học truyền thống quý báu củacác dân tộc Lễ hội được coi như những “bảo tàng sống” phản ánh, bảo lưu và giữgìn nhiều nét tín ngưỡng, phong tục, tập quán truyền thống của các tộc người
Trong lễ hội, đồng bào các dân tộc đặc biệt chú ý đến việc sử dụng các nhạc
cụ nhằm làm phong phú hấp dẫn cho các hoạt động và hơn hết góp phần giúp chocác sáng tác văn học dân gian truyền miệng một cách sinh động và sâu sắc hơn.Người Tày nổi tiếng với cây đàn tính, người Thái có cây sáo pí pặp còn với dân tộcHmông, cây khèn được coi là nhạc cụ đặc trưng tiêu biểu Đồng bào Hmông giãi bàytâm sự với nhau bằng khèn, than thân bằng khèn, cúng lễ bằng khèn, nghĩa là diễn tảmọi tâm tư, tình cảm, suy nghĩ của mình bằng khèn Dưới góc độ nhân học biểu tượng,cây khèn là hiện thân của tâm hồn, tính cách, tài năng, phẩm chất của người đàn ôngHmông và cũng là vật tượng trưng cho tâm hồn, tình yêu, khát vọng tuổi trẻ của ngườiHmông Vì thế, trong truyện kể dân tộc này, biểu tượng này xuất hiện phổ biến gắn vớinhững chàng trai mồ côi nghèo khổ mà tài giỏi và đức hạnh Tiếng khèn và tài thổi khèntrở thành một trong những yếu tố khẳng định vẻ đẹp của nhân vật và giúp nhân vật tìmđược hạnh phúc trong cuộc sống
Có thể khẳng định, trong quá trình cộng cư lâu dài, các dân tộc thiểu số miềnnúi phía Bắc tạo ra một nền văn hóa, văn học và truyện kể mang nhiều đặc điểmchung do có sự giao lưu, tiếp nhận và ảnh hưởng lẫn nhau nhưng đồng thời ở mỗidân tộc, mỗi nhóm dân tộc vẫn có những nét khác biệt nhất định phản ánh trình độphát triển khác nhau Bên cạnh đó, trong đời sống, các dân tộc thiểu số miền núi phíaBắc một mặt giữ gìn những nét văn hóa tộc người, mặt khác cũng có xu hướng tiếpcận và hòa nhập cả với cuộc sống, văn hóa của dân tộc Kinh Thành phần các dân tộcthiểu số đa dạng, phong phú đã góp phần tạo nên bức tranh văn hóa nhiều màu sắc làchứng tích cho sự hiện hữu và gắn bó với vùng đất này của đồng bào
Trang 151.3 Khái quát về văn học dân gian các dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc
Văn học dân gian là một trong hai bộ phận cấu thành nền văn học dân tộc củamỗi quốc gia Đây là bộ phận văn học mang nhiều nét riêng biệt, tồn tại tương đốiđộc lập nhưng luôn song hành và có những ảnh hưởng qua lại nhất định với bộ phậnvăn học thành văn Trong văn học dân gian Việt Nam, bên cạnh kho tàng văn họcdân gian phong phú của dân tộc Việt, các dân tộc thiểu số trong đó có các dân tộckhu vực miền núi phía Bắc cũng đã sáng tạo và lưu giữ được một nguồn sống tinhthần dồi dào vừa mang những nét chung vừa đậm đà nét riêng của các tộc người
Miền núi phía Bắc là nơi hội tụ của nhiều dân tộc thiểu số nên điều đầu tiên cóthể khẳng định, văn học dân gian các dân tộc khu vực này rất phong phú và gắn bóchặt chẽ với nhau cùng tồn tại, phát triển tạo nên sự đa dạng mà thống nhất với đầy
đủ các loại hình và thể loại Mỗi dân tộc ở khu vực miền núi phía Bắc đều có mộtkho tàng văn học dân gian của riêng mình đồng thời dấu ấn của sự giao lưu, ảnhhưởng và thâm nhập vào nhau cũng xuất hiện rất phổ biến trong các sáng tác Đồngbào các dân tộc đã sớm sáng tạo và lưu truyền từ những truyện kể về nguồn gốc loàingười, nguồn gốc các hiện tượng đến những câu chuyện phản ánh về số phận conngười, trong đó nổi bật là những hình tượng người mồ côi, người làm dâu…Họ cũngtruyền cho nhau những câu nói ngắn gọn phản ánh kinh nghiệm sống, đặc biệt họ vôcùng yêu thích những làn điệu dân ca ngọt ngào, những bài hát nghi lễ linh thiêng,huyền bí Văn học dân gian các dân tộc thiểu số nơi đây chứa đựng trong nó khôngkhí miền núi đặc trưng, tâm hồn con người miền núi dung dị, chất phác, cổ sơ Hìnhảnh, ngôn ngữ, kết cấu trong các sáng tác văn học dân gian có những điểm tươngđồng và cả nét riêng biệt độc đáo nhất định so với nguồn truyện kể của người Việtcũng như các dân tộc thiểu số các vùng, miền khác
Văn học dân gian các dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc gắn liền với đờisống Đặc trưng này đúng với văn học dân gian nói chung nhưng nó càng đúng và rõhơn với văn học dân gian các dân tộc thiểu số Việt Nam và văn học của đồng bào
miền núi phía Bắc Nhà nghiên cứu Phan Đăng Nhật đã khẳng định: “Văn học dân gian truyền thống của các dân tộc nảy sinh và phát triển trong các sinh hoạt cụ thể của đời sống các dân tộc và là một bộ phận không thể tách rời của các hoạt động cụ thể đó Trong đám cưới, đám tang, trong việc giao tế, lời hát, lời nói vần không phải
Trang 16chỉ để phản ánh để thúc đẩy các hoạt động này mà hơn nữa còn là một khâu quan trọng không thể thiếu trong các sinh hoạt đó” [59, tr 14-15]
Văn học dân gian các dân tộc ở đây được hình thành từ trong chính cuộc sốnglao động, sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng, phong tục của nhân dân, tồn tại trong cáchoạt động sinh hoạt văn hóa ấy và phục vụ cho chính cuộc sống ấy Văn học dângian các dân tộc thiểu số chưa phải là một bộ phận chuyên môn hóa tách hẳn khỏicác hoạt động cụ thể của đời sống vật chất Cho đến ngày nay, trong các hoạt độngsinh hoạt của đời sống, nhất là sinh hoạt văn hóa, một số loại hình văn học dân gianvẫn còn được diễn xướng, biểu diễn hết sức chân thực và sinh động Ví như các câuchuyện thần thoại, sử thi thường được kể trong những đám tang ma dưới sự thể hiệncủa các thầy mo, các bài dân ca quen thuộc vẫn được hát trong lễ hội sắc bùa củangười Mường, lễ lồng tồng của người Tày, Nùng…
Văn học các dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc có đầy đủ các loại, thể loạigiống như văn học dân gian Việt, thậm chí còn xuất hiện một số thể loại văn họctruyền miệng mà dân tộc Việt hiện chưa thấy hoặc không có Bộ phận trữ tình baogồm các loại dân ca như dân ca nghi lễ, dân ca lao động và dân ca sinh hoạt Các loạidân ca này đa dạng về tên gọi, nội dung và hình thức diễn xướng Dân ca nghi lễ lànhững bài hát thường được diễn xướng trong các sinh hoạt tín ngưỡng, nghi lễ nhưđám ma, đám cưới, lễ cầu mùa, cầu tự…Đặc biệt, các hình thức dân ca sinh hoạttrong đó có dân ca giao duyên là mảng dân ca rất phong phú, độc đáo của các dân
tộc Dân tộc Tày nổi tiếng với những điệu lượn, phuối pác làm say lòng người.
Người Thái lại hát khắp (khặp) trong hội hát trên sàn hoa Hạn khuống có khi quên
ngày đêm Các dân tộc Nùng, Hmông cũng có những làn điệu sli, gầu tha thiết cho
các chàng trai cô gái cất lên mỗi dịp xuân về
Các thể loại văn học dân gian mang tính chất luận lý (theo cách gọi của nhà nghiên cứu Hoàng Tiến Tựu), đúc kết kinh nghiệm (theo cách gọi của nhà nghiên cứu
Cao Huy Đỉnh) như tục ngữ, câu đố cũng được đồng bào các dân tộc lưu giữ kháphong phú và có những hình ảnh, phương thức thể hiện riêng Ví như người Thái nói
theo cách trực tiếp như sau: Hạt thóc ở dưới đất Miếng ăn ở trên rừng Ai khéo cuốc thành ruộng Ai khéo đắp thành làng Hoặc Hỏi đường hỏi người già Xin cơm xin cô gái Người Tày lại đúc kết: Vằn diều thì mưa Vằn chim thì hạn Vằn cá thì mưa Vằn
Trang 17cáo thì nắng…Các dân tộc cũng có lối nói hình ảnh như Ở với vôi dính vôi Ở với mực dính mực (Thái), Núi ni đã tỏ, núi nọ còn cao Dao ni sắc, dao khác sắc hơn (Mường).
Đặc biệt, có một thể loại được coi là sản phẩm riêng trong văn học dân giancác dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc, đó là truyện thơ Đó là những tác phẩmtruyện có hình thức văn vần, được diễn xướng dưới nhiều hình thức như kể, hát,ngâm, đọc, có số lượng câu chữ lớn, nội dung thường phản ánh về số phận nhưngcon người bất hạnh và cuộc sống lứa đôi có nhiều trắc trở Truyện thơ là thể loại có
sự kết hợp chặt chẽ giữa yếu tố tự sự và yếu tố trữ tình, mang đậm bản sắc văn hóa,giàu phong tục tập quán, phản ánh nếp nghĩ, tư tưởng, tình cảm của nhân dân các dân
tộc thiểu số miền núi phía Bắc Có lẽ không ai không biết đến truyện thơ Tiễn dặn người yêu, Chàng Lú- nàng Ủa…của dân tộc Thái, truyện thơ Út Lót- Hồ Liêu, Nàng Ờm-chàng Bồng Hương…của dân tộc Mường Dân tộc Tày lại tự hào với hàng loạt tác phẩm như: Nam Kim- Thị Đan, Lưu Đài- Hán Xuân, Nhân Lăng…Dân tộc Hmông nổi tiếng với các tác phẩm: Tiếng hát làm dâu, Nàng Dợ- chàng Tăng…
Một thể loại nữa làm nên nét đặc sắc trong cơ cấu thể loại văn học dân giancác dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc đó là sử thi Nếu các dân tộc Tây Nguyên nổitiếng vì họ là chủ nhân của các bản sử thi anh hùng mang âm hưởng anh hùng ca lẫm
liệt như Đam Săn, Xinh Nhã…thì sử thi thần thoại là đặc trưng của các dân tộc ở miền núi phía Bắc Đó là tác phẩm Đẻ đất đẻ nước của người Mường ở Hòa Bình,
Ẳm ệt luông, Ẳm ệt nọi của người Thái ở Tây Bắc Đó là những tác phẩm mang hình
thức văn vần dài hơi kể về sự hình thành vũ trụ, con người, về quá trình sáng tạo vănhóa đầu tiên của loài người Thực chất đây là những tác phẩm tổng hợp nhiều nộidung của nhiều thể loại như thần thoại, truyền thuyết, nhiều loại hình nghệ thuật dângian khác nhau như diễn kể, ca hát và âm nhạc, có giá trị như những trang sử cổ xưaphản ánh những sự kiện lớn ảnh hưởng đến toàn cộng đồng
Có thể khẳng định, văn học dân gian các dân tộc miền núi phía Bắc đa dạng,phong phú và có nhiều giá trị đặc sắc, trong đó bộ phận truyện kể dân gian có mộtdiện mạo và vai trò đáng kể
Trang 181.4 Lịch sử sưu tầm và nghiên cứu truyện kể dân gian các dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc
1.4.1 Lịch sử sưu tầm, biên soạn
Theo nhiều nhà nghiên cứu, tình hình sưu tầm truyện kể dân gian các dân tộcthiểu số nói chung, các dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc nói riêng có thể chia làmhai giai đoạn chính là giai đoạn trước Cách mạng tháng Tám và sau Cách mạngtháng Tám Trước Cách mạng tháng Tám, việc sưu tầm văn học dân gian trong đó cótruyện cổ tích các dân tộc thiểu số chưa được quan tâm thích đáng Phần lớn truyện
kể các dân tộc miền núi mới được giới thiệu qua các công trình địa chí như Cao Bằng thực lục (1795) của Bế Hựu Cung đốc trấn Cao Bằng, Cao Bằng lục (1807) của tiến sĩ Lê Phiên, Lịch triều hiến chương loại chí (1819) của nhà sử học Phan Huy
Chú…
Trên thực tế, những thành tựu sưu tầm biên soạn về truyện kể chủ yếu để lạidấu ấn ở giai đoạn sau Cách mạng tháng Tám Vì thế, trong phạm vi của đề tài,chúng tôi sẽ điểm lại lịch sử sưu tầm, biên soạn truyện kể các dân tộc miền núi phíaBắc một cách khái quát qua những công trình có giá trị được công bố từ sau Cáchmạng tháng Tám Đó cũng là nguồn tư liệu chính để chúng tôi tiến hành khảo sát,thống kê, phân tích và triển khai đề tài Để tiện theo dõi, chúng tôi tiếp tục chia giaiđoạn này thành hai thời kỳ sau:
1.4.1.1 Thời kỳ 1945-1980
Cuốn sách được coi là bộ sưu tập đầu tiên về truyện kể dân gian các dân tộc
thiểu số miền núi phía Bắc là Truyện cổ tích miền núi [73] do tập thể thầy trò trường
Sư phạm miền núi trung ương thực hiện Từ sau những năm 64, công tác sưu tầmtruyện kể các dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc đặc biệt được quan tâm chú ý hơn
với sự xuất hiện các công trình tiêu biểu như: Truyện cổ Việt Bắc [94], Truyện cổ dân tộc Mèo [108], Truyện cổ Tày Nùng [95] Thời kỳ này, truyện kể các dân tộc nơi
đây còn được sưu tầm, biên soạn, tập hợp trong một số bộ tuyển tập dày dặn như
Truyện cổ dân gian các dân tộc Việt Nam (4 tập) (tái bản thành 2 tập năm 1999)
[136]
Trang 19Những công trình sưu tầm, biên soạn trên có ý nghĩa quan trọng vì nó đặt nềnmóng, tiền đề cần thiết cho một công việc không dễ dàng Tuy vậy, công việc đó ởthời kỳ này cũng còn nhiều hạn chế Đó là sự thiếu vắng rõ rệt kho truyện kể củanhiều dân tộc, sự hạn chế trong thao tác sưu tầm Phần lớn các truyện cổ sưu tầmtrong thời kỳ này là của các tác giả người Kinh Vì thế, công việc sưu tầm gặp phảikhó khăn do sự thiếu hụt về ngôn ngữ, tri thức bản địa về văn hóa và tâm lý dân tộc.Hơn nữa, họ làm công tác sưu tầm chủ yếu bởi lòng yêu thích và một phần ý thứckhôi phục vốn văn hóa quý báu của các dân tộc nên tính khoa học hầu như chưa mấyđược chú ý.
1.4.1.2 Thời kỳ từ 1980 đến nay
Đây là thời kỳ này đánh dấu bước phát triển đáng kể trong công tác sưu tầmtruyện kể dân gian các dân tộc thiểu số Việt Nam Đặc biệt giai đoạn từ sau năm
1986, khi chính sách của Đảng và Nhà nước rất chú trọng đến việc phát hiện, bảo tồn
và phát huy những giá trị văn hóa của các dân tộc thiểu số thì công tác sưu tầmtruyện kể dân gian đồng bào dân tộc được các nhà nghiên cứu, các Sở văn hóa thôngtin quan tâm và đầu tư đáng kể Thành tựu sưu tầm giai đoạn này được khẳng định cả
Ngoài ra, trong giai đoạn này, truyện kể dân gian các dân tộc thiểu số miềnnúi phía Bắc còn được công bố kết quả qua những tuyển tập truyện cổ được sưu tầm
và xuất bản tại tỉnh, huyện Các công trình tiêu biểu như Truyện cổ dân tộc Mèo Hà Giang [135], Truyện cổ Bắc Thái [119], Chiếc sừng nai [82], Truyện cổ Hà Sơn Bình [74], Truyện cổ xứ Lạng [4], Truyện cổ Bắc Kạn [64] ….
Đến khoảng cuối những năm 80 trở về sau, truyện kể các dân tộc thiểu số nóichung, các dân tộc miền núi phía Bắc nói riêng đã trở thành đối tượng được quan tâmthực sự của nhiều nhà khoa học và các nhóm tác giả Các bộ tổng tập về truyện kểcác dân tộc xuất hiện nhiều hơn và liên tục được bổ sung, điều chỉnh Các bộ sách
Trang 20đáng chú ý như: Tuyển tập truyện cổ các dân tộc ít người Việt Nam [80], Truyện cổ các dân tộc ít người Việt Nam [125], Tổng tập văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam [130] Gần đây nhất, bộ Tổng tập văn học dân gian các dân tộc thiểu số Việt Nam [114-116] do Viện Nghiên cứu văn hóa thuộc Viện Khoa học xã hội Việt Nam
biên soạn theo hướng song ngữ, tiếp tục là kết quả đáng ghi nhận về công tác sưutầm và giới thiệu truyện kể dân gian các dân tộc thiểu số trong đó có các dân tộcthiểu số miền núi phía Bắc
Từ việc khái quát tình hình sưu tầm, giới thiệu truyện kể các dân tộc thiểu sốmiền núi phía Bắc ở trên, chúng tôi nhận thấy: Lịch sử sưu tầm truyện kể dân giancác dân tộc thiểu số khu vực này có thời điểm bắt đầu không thật sớm như việc sưutầm truyện kể của người Việt nhưng đó là một quá trình lâu dài, liên tục thể hiện sựquan tâm, cố gắng, ý thức và trách nhiệm của các nhà sưu tầm, biên soạn đối với vănhọc dân gian nói chung, truyện kể dân gian nói riêng Các cuốn sách ra đời khẳngđịnh vị trí và giá trị của truyện kể dân gian các dân tộc thiểu số miền núi phía Bắctrong kho tàng truyện kể các dân tộc Việt Nam Từ việc giới thiệu một cách lẻ tẻ, ít
ỏi ban đầu, truyện kể các dân tộc đã được giới thiệu, công bố ngày càng phong phú,
đa dạng và có hệ thống hơn Các nhà sưu tầm ban đầu chủ yếu là các nhà biên soạnngười Kinh say mê khám phá, ghi chép nhưng còn hạn chế về tri thức bản địa, chưa
có thao tác biên soạn một cách khoa học Về sau, truyện kể các dân tộc được giớithiệu bởi chính những người con, những tri thức địa phương của các dân tộc hoặc bởinhóm những nhà khoa học có tổ chức, có kế hoạch, có kiến thức lý luận về các thể.Tuy vậy, cũng cần phải khẳng định rằng, các công trình trên đều mới dừng ở mức độ
là công tác sưu tầm chứ chưa phải là công việc nghiên cứu Sự phân loại và nhữngnghiên cứu, phân tích, lý giải nhằm chỉ ra giá trị, nét đặc sắc trong kho truyện kểphong phú của các dân tộc miền núi phía Bắc vẫn còn là công việc bỏ ngỏ Gần đây,một số cuốn sách tập hợp, giới thiệu đã chú ý đến vấn đề phân loại nhưng vẫn khôngtránh khỏi những nhầm lẫn, thiếu thống nhất Điều này khiến chúng tôi xác định rõhơn những nhiệm vụ cần thiết phải tiến hành trong luận án của mình Một mặt, chúngtôi trân trọng và tiếp thu toàn bộ nguồn tư liệu đã được các tác giả sưu tầm biên soạn
và giới thiệu, mặt khác chúng tôi cố gắng tiếp tục công việc phân loại, nghiên cứu và
Trang 21lý giải những biểu hiện độc đáo có giá trị tạo dấu ấn riêng biệt trong kho tàng truyện
kể các dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc
1.4.2 Lịch sử nghiên cứu
Công tác nghiên cứu về truyện kể dân gian các dân tộc thiểu số miền núi phíaBắc cũng đã được một số nhà nghiên cứu quan tâm nhưng chưa thực sự tương xứngvới những thành quả của công tác sưu tầm Truyện kể dân gian các dân tộc thiểu sốmiền núi phía Bắc chủ yếu đã được khảo sát, nghiên cứu theo các hướng sau:
- Nghiên cứu truyện kể dân gian các dân tộc thiểu số Việt Nam nói chungtrong đó truyện kể các dân tộc miền núi phía Bắc là một bộ phận
- Nghiên cứu truyện kể dân gian của từng dân tộc, từng thể loại, kiểu truyện,hình tượng hoặc motif cụ thể nào đó trong truyện kể các dân tộc
Cho đến nay, chưa có công trình nào nghiên cứu truyện kể các dân tộc miềnnúi phía Bắc một cách toàn diện, nhìn đối tượng trong trường khảo sát có tính hệthống, bao quát và quan hệ biến đổi văn hóa giữa các dân tộc cũng như các thể loại.Tuy vậy, các hướng nghiên cứu và kết quả nghiên cứu đi trước thực sự là những gợidẫn quý báu để chúng tôi tiếp tục công việc trong đề tài của mình Chúng tôi tiếpnhận rất nhiều đánh giá từ tất cả các hướng nghiên cứu trên
1.4.2.1 Những nghiên cứu khái quát về truyện kể dân gian các dân tộc thiểu số Việt Nam trong đó truyện kể miền núi phía Bắc là một bộ phận.
Từ những năm 80 trở đi, trong nhiều giáo trình, chuyên luận, các nhà nghiêncứu đã bắt đầu quan tâm nghiên cứu và giới thiệu về truyện kể dân gian các dân tộcthiểu số Việt Nam, trong đó có truyện kể các dân tộc miền núi phía Bắc Trong cáccông trình có tính chất công cụ này, các nhà nghiên cứu đã tiến hành giới thiệu, phânloại và phân tích các loại, tiểu loại truyện kể dân gian tiêu biểu của tất cả các dân tộcthiểu số dọc suốt từ Bắc chí Nam
Năm 1980 trong công trình Lịch sử văn học Việt Nam [56], các tác giả Nông
Quốc Chấn và Phan Đăng Nhật đã dành hai chương tìm hiểu và giới thiệu về phần
truyện kể là: Thần thoại và trường ca các dân tộc, Truyện cổ dân gian các dân tộc thiểu số anh em Trong công trình này, các tác giả đã đặt hai thuật ngữ thần thoại và
truyền thuyết liền với nhau để tìm hiểu nội dung và một số vấn đề mà không có sựphân biệt nào, cũng không có một chú giải nào Về truyện cổ dân gian, các tác giả
Trang 22phân chia và tìm hiểu 4 loại: truyện người khỏe tài ba, truyện người hiền lành, truyện
người mồ côi và truyện cười Công trình nghiên cứu này có ý nghĩa khơi nguồn, gợi
mở với hướng nghiên cứu và những suy nghĩ của riêng nhóm tác giả Chúng tôi nhậnthấy về cách gọi tên, phân loại, phạm vi nghiên cứu văn học dân gian các dân tộcthiểu số nói chung, các dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc nói riêng còn có nhữngvấn đề cần tiếp tục được khảo cứu
Năm 1981, trong công trình Văn học các dân tộc thiểu số (trước Cách mạng
tháng Tám)[69], tác giả Phan Đăng Nhật đã căn cứ chủ yếu vào hình thức diễn xướng để chia văn học dân gian các dân tộc thiểu số thành ba loại: Loại hình văn học nói, Loại hình văn học kể và Loại hình văn học hát, sau đó xếp thể loại thần thoại vào loại hình văn học hát còn loại hình văn học kể bao gồm hai thể loại cổ tích và truyện cười
Phần nghiên cứu công phu hơn cả của tác giả chính là những trang viết về thểloại cổ tích Ở đó, tác giả đã quan tâm đến vấn đề phân nhóm hay phân loại Ông cho
rằng “Nếu lấy mâu thuẫn xã hội và những nhân vật trung tâm của truyện cổ tích tiêu biểu cho mâu thuẫn đó làm trục phân loại, chúng ta có thể chia truyện cổ tích các dân tộc thiểu số ra làm ba loại chính:
- Truyện về người mồ côi, người em út, người con riêng, người đội lốt xấu xí.
- Truyện về người người khỏe
số với văn học dân gian dân tộc Việt
Nhìn một cách tổng thể, cuốn chuyên luận này đã nghiên cứu, phân tích côngphu, tỉ mỉ về diện mạo, giá trị nội dung và nghệ thuật một số loại, thể loại văn họcdân gian các dân tộc thiểu số, trong đó có truyện kể dân gian Tuy vậy, cách phân
Trang 23chia các loại và thể loại của tác giả còn có những điểm chưa hợp lý Sự phân tích đầy
đủ các loại và thể loại, kiểu truyện cũng chưa thể hiện được ở công trình này
Tác giả Võ Quang Nhơn cũng đã dành mối quan tâm nghiên cứu về văn học
dân gian các dân tộc ít người ở Việt trong đó có bộ phận truyện kể dân gian từ khá
sớm Điều này được thể hiện trong công trình Văn học dân gian các dân tộc ít người
ở Việt Nam [79] Sau này, công trình đã được in chung trong giáo trình Văn học dân gian [45] và được tái bản nhiều lần Ở công trình này, Võ Quang Nhơn tìm hiểu chủ
yếu hai thể loại truyện kể dân gian các dân tộc thiểu số tiêu biểu là thần thoại, truyện
cổ tích
Về thần thoại, tác giả đã đặt ra vấn đề phân loại Theo ông, “Có thể phân chia
hệ thống thần thoại các dân tộc theo các loại hình sau đây: loại truyện kể về việc sinh ra trời, đất, cây cỏ, núi sông; loại truyện kể về việc sinh ra con người, sinh ra các dân tộc; loại truyện kể về những kì tích sáng tạo văn hóa trong buổi đầu của con người; loại truyện kể về những cuộc đấu tranh xã hội trong buổi đầu của xã hội có giai cấp” [45, tr 594] Ngoài ra, tác giả cho rằng thần thoại các dân tộc thiểu số đã thống nhất thể hiện ba chủ đề nổi bật “Thần thoại các dân tộc ít người đã thống nhất tập trung thể hiện loại chủ đề thứ nhất: các dân tộc anh em trong đại gia đình dân tộc Việt Nam có cùng nguồn gốc chung và cùng nền văn hóa chung” [45, tr 640] Chủ đề thứ hai là “ghi lại và ngợi ca những chiến tích lao động của tổ tiên các dân tộc anh em trong buổi đầu” [45, tr 646] Và chủ đề lớn thứ ba là “Phản ánh sự phân hóa giai cấp và công cuộc đấu tranh giai cấp trong buổi đầu của lịch sử, đồng thời
ca ngợi những nhân vật kiệt xuất đầy mưu trí và dũng cảm, cùng nhân dân đứng lên chống lại thù trong giặc ngoài, bảo vệ những thành quả lao động và thành tựu văn hóa, bảo vệ cuộc sống cộng đồng” [45, tr 612] Nhà nghiên cứu đã tìm hiểu giá trị
của thể loại truyện cổ tích chủ yếu dựa vào việc phân loại, phân tích, tìm hiểu nội
dung nghệ thuật các tiểu loại truyện cơ bản: Truyện về các chàng trai khỏe, Truyện
về các nhân vật bất hạnh Tác giả đã có những nhận xét đáng chú ý về vấn đề giao lưu, tiếp thu và ảnh hưởng giữa các dân tộc như: “Tuy rằng hai dân tộc Tày và Hmông khác nhau khá xa về hệ ngôn ngữ, khác nhau về địa bàn cư trú nhưng trong sáng tác văn học dân gian lại có nhiều yếu tố gần gũi nhau, thậm chí có chỗ gặp gỡ nhau, trùng hợp nhau nữa Đây là một biểu hiện khá sống động nói lên quá trình
Trang 24giao lưu văn hóa giữa các dân tộc anh em” [45, tr 619] Ngoài ra, tác giả cũng dành
một số trang để tìm hiểu thêm một số thể loại như truyện cười, truyền thuyết lịch sử
Một công trình có giá trị đã đề cập đến văn học các dân tộc thiểu số của tác
giả Đỗ Bình Trị là giáo trình Văn học dân gian Việt Nam (Tập 1) [117] Ở đó, nhà
nghiên cứu đã chỉ ra một số nét đặc sắc của một số thể loại trong VHDG các dân tộcthiểu số nói chung như thần thoại, truyện cổ tích, sử thi, truyện thơ, dân ca
Trong phần nghiên cứu về thần thoại, tác giả đã đưa ra một số nhận xét so
sánh giữa thần thoại các dân tộc thiểu số với thần thoại dân tộc Việt: “Nhìn chung, thần thoại của các dân tộc thiểu số có phần nguyên vẹn hơn và có hệ thống hơn so với thần thoại của dân tộc Kinh [117, tr 191]…Thật ra màn đầu của cuộc đối thoại giữa con người với tự nhiên được đánh dấu trước hết bởi thần thoại suy nguyên, và chủ yếu bởi thần thoại sáng tạo, mang những nét đại đồng của toàn nhân loại Sự khác biệt giữa thần thoại các dân tộc cũng chỉ là tiểu dị… Đặc sắc riêng của thần thoại các dân tộc thiểu số thể hiện ở chỗ nó bảo tồn được một số nét cổ hơn, tức là ít
có dấu vết tái tạo của đời sau hơn so với thần thoại của người Việt” [117, tr 193] Cũng trong công trình này, tác giả đã dùng thuật ngữ truyện cổ dân gian tương đương với thuật ngữ truyện cổ tích và phân loại, tìm hiểu trên ba tiểu loại: truyện cổ
tích về loài vật, truyện cổ tích thần kỳ và truyện cổ tích sinh hoạt Với truyện cổ tích
về loài vật, tác giả cho rằng: Chỉ có các dân tộc dọc Trường Sơn và Tây Nguyên là còn giữ được một nguồn truyện cổ tích về loài vật phong phú và nguyên vẹn hơn cả
về mặt hình thức thể loại…Truyện cổ tích về loài vật của các dân tộc thiểu số Việt Nam có khuynh hướng thiên về đề cao tình thương đồng loại, đề cao lòng can đảm
và sự hợp quần ở những kẻ yếu” [117, tr 205-206] Trong bộ phận truyện cổ tích
thần kỳ, tác giả cũng đặc biệt chú ý đến nhóm truyện cổ tích bắt nguồn từ nhữngquan hệ xã hội thời cổ khi chế độ thị tộc cổ đại suy tàn và xã hội có giai cấp mới phátsinh Đó là khối lượng lớn những truyện cổ tích về người em út, người mồ côi, ngườicon riêng…Tác giả cho rằng bộ phận truyện về những nhân vật này có những nét
chung với những nhân vật cùng loại trong truyện cổ tích của người Kinh “Đó là nhân vật kiểu mẫu về đạo đức nhân dân và tài năng lao động, trí tuệ dân gian, nạn nhân của những tai ách xã hội và là người, cuối cùng luôn chiến thắng mọi lực lượng thù địch Có khác chăng là ở những dấu vết của tín ngưỡng cổ đại và của
Trang 25trình độ phát triển xã hội với những nét riêng của mỗi dân tộc in đậm trong các cốt truyện, trong hình tượng nhân vật trung tâm, trong cách giải quyết xung đột và đặc biệt trong các chi tiết về môi trường diễn ra câu chuyện được kể lại, về biểu hiện cụ thể của cái thần kỳ” [117, tr 208]
Các giáo trình, chuyên luận trên đều là kết quả nghiên cứu nghiêm túc, côngphu của các tác giả, tuy vậy đó là những nghiên cứu tổng thể về văn học dân gian cácdân tộc thiểu số ở Việt Nam nói chung nên trong chừng mực nào đó, sự đánh giá vềvăn học các dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc chưa sâu và chưa rõ Các nhà nghiêncứu đã đặt ra vấn đề phân loại đối với truyện kể dân gian nhưng nhiều chỗ vẫn cònchưa hoàn toàn chính xác Tuy vậy, chúng tôi xác định đó là những cơ sở tiền đềquan trọng để tìm hiểu về truyện kể dân gian các dân tộc thiểu số ở miền núi phíaBắc
Truyện kể dân gian các dân tộc thiểu số tiếp tục là mối quan tâm của giới
nghiên cứu trong những năm gần đây Trong bộ Tổng tập văn học dân gian các dân tộc thiểu số Việt Nam, một số nhà nghiên cứu đã viết phần Dẫn nhập vừa để tổng kết
tình hình sưu tầm, nghiên cứu vừa bổ sung những nhận xét, phân tích khái quát vềcác thể loại trong đó có các thể loại truyện kể dân gian của các dân tộc
Về thần thoại, nhà nghiên cứu Nguyễn Thị Huế cho rằng có thể phân loại thầnthoại Việt Nam nói chung và thần thoại các dân tộc thiểu số nói riêng thành hai nhóm
tương đương với hai chủ đề chính Nhóm 1: Thần thoại suy nguyên kể về nguồn gốc
vũ trụ và nguồn gốc muôn loài Nhóm 2: Thần thoại kể về sự chinh phục thiên nhiên
và sáng tạo văn hóa Từ đó, tác giả lại tiếp tục chia các nhóm chính đó thành nhiều nhóm nhỏ để tìm hiểu một cách cụ thể Nhóm Thần thoại suy nguyên kể về nguồn gốc vũ trụ và nguồn gốc muôn loài bao gồm Thần thoại suy nguyên kể về nguồn gốc
vũ trụ, Thần thoại kể về nguồn gốc muôn loài và Thần thoại về nguồn gốc loài người Trong quá trình phân tích, tác giả đã đưa ra một số nhận định có giá trị rất đáng chú ý như “Trong thần thoại các dân tộc Việt Nam, nhiều motif thần thoại đã được nhào nặn lại, phát triển để trở thành những motif của thể loại khác” [114, tr
56]
Tìm hiểu truyền thuyết các dân tộc thiểu số Việt Nam, tác giả Trần Thị An đã
có những nhận xét khái quát trên một số điểm cơ bản như:
Trang 26Truyền thuyết của các dân tộc thiểu số đã thể hiện tín ngưỡng thờ thần tự nhiên của các dân tộc: thần nước, thần núi, thần nai, thờ vực nước sâu, thờ thần cây, thần đá…Truyền thuyết các dân tộc thiểu số biểu thị sự liên quan chặt chẽ giữa thần với đời sống con người Mối quan hệ thần- người trong truyền thuyết các dân tộc thiểu số được thể hiện ở hai loại thái độ: thần phục và chống đối…Về mặt nghệ thuật, truyền thuyết các dân tộc thiểu số có kết cấu lỏng lẻo, các chi tiết nhiều khi được lắp ghép một cách khá ngẫu nhiên, tính thống nhất của cốt truyện chưa thật rõ ràng… Bên cạnh đó, một đặc điểm nổi trội của truyền thuyết các dân tộc thiểu số là
có sự đan xen nhiều thể loại Có thể thấy rõ các dấu ấn của thần thoại, truyện cổ tích và sử thi trong các truyền thuyết ở đây [116, tr 812-823].
Trong bộ tổng tập này, nhà nghiên cứu Nguyễn Thị Yên cũng đã khái quáttình hình sưu tầm và nghiên cứu về truyện cổ tích các dân tộc thiểu số Việt Nam từtrước đến nay Từ đó, tác giả đã tìm hiểu truyện cổ tích dựa trên việc phân chia batiểu loại: truyện cổ tích thần kỳ, cổ tích sinh hoạt và cổ tích loài vật Trong mỗi tiểuloại, tác giả lại tiếp tục chia thành các nhóm truyện tiêu biểu như truyện cổ tích thần
kỳ có các nhóm: truyện về thân phận đứa bé mồ côi, truyện về người đội lốt con vật,truyện về những chàng trai tài giỏi Truyện cổ tích loài vật gồm các nhóm: truyệngiải thích về đặc điểm của các loài vật, truyện cổ tích nói về mối quan hệ giữa conngười với loài vật và lớp truyện đối chiếu quan hệ của xã hội loài người vào quan hệcon vật Truyện cổ tích sinh hoạt bao gồm nhóm truyện về chủ đề gia đình và nhómtruyện đề cập đến các mối quan hệ trong xã hội Trong quá trình tìm hiểu, tác giảcũng đã có những so sánh nhất định với truyện cổ tích người Việt ở từng nhómtruyện cụ thể
Những ý kiến đó còn mang tính khái quát nhưng cũng có ý nghĩa như nhữnggợi dẫn giúp cho việc nghiên cứu về truyện kể dân gian các dân tộc thiểu số miền núiphía Bắc được sâu sắc hơn
Các kết quả nghiên cứu trên dù chưa tìm hiểu trực tiếp vào truyện kể dân giancác dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc nhưng có thể coi như tri thức tiền đề, cơ sởgiúp chúng tôi triển khai luận án bởi các dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc là một
bộ phận tạo thành các dân tộc thiểu số Việt Nam nói chung Đặc điểm truyện kể và
Trang 27các vấn đề truyện kể các dân tộc thiểu số Việt Nam có những ảnh hưởng và chi phốinhất định đến đặc điểm truyện kể các dân tộc miền núi phía Bắc.
1.4.2.2 Những nghiên cứu trực tiếp, cụ thể về truyện kể dân gian từng dân tộc, từng thể loại, kiểu truyện hoặc hình tượng, motif trong truyện kể các dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc.
Trước hết, chúng tôi quan tâm đến những lời giới thiệu khái quát về truyện kểcủa các dân tộc riêng biệt hoặc các nhóm dân tộc trong các công trình sưu tầm, biênsoạn và biên dịch được giới thiệu bởi chính các nhà sưu tầm hoặc những người concủa dân tộc có tri thức uyên bác Đây có thể coi là những nhận xét khái quát khơi gợiđầu tiên vì nó gắn với công tác sưu tầm, biên soạn, một công việc đã được nhiều tácgiả quan tâm từ rất sớm Nói chung, các nhận xét đều giống nhau ở chỗ khẳng địnhgiá trị đóng góp và chỉ ra một số đặc điểm của truyện kể dân gian các dân tộc Chúngtôi xin dẫn dưới đây một số trong rất nhiều nhận xét như vậy
Trong Lời giới thiệu cuốn Truyện cổ Tày Nùng, tác giả Hà Văn Thư có nhận
xét “So với văn học dân gian các dân tộc thiểu số khác (mà xã hội còn nhiều tàn dư thị tộc, bộ lạc) văn học dân gian hai dân tộc Tày Nùng nhất là trong truyện cổ, yếu
tố thần thoại, huyền thoại càng về sau càng giảm dần để nhường chỗ cho yếu tố đấu tranh thiên nhiên, đấu tranh xã hội mỗi ngày một thêm rõ nét Vị trí con người lao động sản xuất có mưu trí càng ngày càng được đề cao” [95, tr 5].
Tác giả Cầm Cường, trong bài viết Khái lược về truyện dân gian Thái, in đầu cuốn Truyện dân gian Thái, đã chỉ ra một số đặc điểm của truyện kể dân gian dân tộc Thái như “Thực tế, truyện dân gian Thái các yếu tố: thần thoại truyền thuyết, lịch
sử, sự tích, thế sự, ngụ ngôn, cười…đều có mặt Có điều nó không tách bạch rạch ròi
để ta có thể xếp loại dễ dàng chúng Thông thường các yếu tố này đan vào nhau trong cùng một truyện cụ thể nào đó” [9, tr 15]
Trong cuốn Truyện cổ Bắc Kạn, thay mặt nhóm biên soạn, nhà nghiên cứu Vũ Anh Tuấn đã viết phần Lời nói đầu tâm huyết vừa để giới thiệu vừa thể hiện những
phân tích, đánh giá khái quát về truyện kể dân gian các dân tộc ở Bắc Kạn mà chủyếu là truyện kể Tày Chúng tôi tiếp thu và tiếp nhận nhiều nhận định sắc sảo về
truyện cổ tích như “Sức hấp dẫn của những truyện cổ tích ấy (truyện cổ tích Bắc Kạn) được tạo nên bởi hai sự hòa điệu: sự hòa điệu giữa con người với tự nhiên và
Trang 28sự hòa điệu của chính con người giữa cộng đồng Sự hòa điệu thứ nhất tạo nên bản sắc riêng Sự hòa điệu thứ hai tạo nên tính đồng hình…Trong di sản cổ tích Bắc Kạn, chúng tôi cho rằng motif và mẫu kể về loài vật và cỏ cây có giá trị rất đặc thù” [64, tr 9, 14] Về thể loại truyền thuyết, tác giả khẳng định “Trong truyền thuyết Bắc Kạn, chúng ta sẽ nhận ra hai hướng phát triển: một hướngtrong đó các nghệ nhân dân gian đã thần thánh hóa con người để ca ngợi tuyệt đỉnh các anh hùng địa phương giữ nước, một hướng khác cũng theo cách đó (thi pháp truyền thuyết) để kể truyền đời công tích các thế hệ cha ông cần cù làm lụng và say sưa sáng tạo trong lao động nương rẫy Và một bộ phận truyền thuyết như thế ở hướng thứ hai đã được
cổ tích hóa” [64, tr 13].
Trong phần Dẫn luận: Truyền thuyết các dân tộc thiểu số - phác thảo một diện mạo, nhà nghiên cứu Trần Thị An đã tiếp tục có những đánh giá xoay quanh truyền
thuyết của một số dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc Về truyền thuyết của dân tộc
Tày, nhà nghiên cứu khẳng định “Khác với truyền thuyết các dân tộc thiểu số khác, truyền thuyết dân tộc Tày dành sự quan tâm sâu sắc tới các nhân vật lịch sử…Đặc điểm chung của nhóm truyền thuyết này là đã dùng các yếu tố hư cấu của truyện cổ tích để thể hiện sự tôn vinh của người dân về các nhân vật mà thân thế và hành trạng của họ đã đi vào lịch sử” [116, tr 809].
Riêng về thể loại thần thoại, chúng tôi mới thấy có công trình Bước đầu tìm hiểu thần thoại dân tộc Thái ở Tây Bắc [55] của tác giả Đinh Văn Lành xuất bản
năm 2002 Đây là công trình đầu tiên nghiên cứu và giới thiệu về kho tàng thần thoại
của dân tộc Thái với ba chương nội dung cơ bản: Chương 1: Vũ trụ (trời – đất), Chương 2: Thế giới tự nhiên và Chương 3: Sự tích anh hùng Công trình đã phân tích
và phân loại kho thần thoại phong phú của dân tộc Thái trên cơ sở nội dung phản ánhchủ yếu, từ đó, bổ sung thêm nguồn tư liệu và tri thức phong phú, mới mẻ về nhữngmẩu thần thoại của dân tộc Thái, góp phần làm cho công tác sưu tầm nghiên cứu thầnthoại nói chung được dày dặn hơn
Truyện kể dân gian các dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc còn được các tácgiả nghiên cứu trong nhiều bài báo khoa học xoay quanh một số vấn đề cụ thể, trong
đó, vấn đề các hình tượng nhân vật được nghiên cứu trong khá nhiều bài viết
Trang 29Trong bài Hình tượng anh hùng trong truyện dân gian các dân tộc thiểu số miền Bắc [67], nhà nghiên cứu Bùi Văn Nguyên đã điểm lại một số hình tượng anh
hùng trong các truyện dân gian một số dân tộc thiểu số từ Ải Lậc Cậc (Thái), PúLương Quân (Tày) đến các nữ anh hùng như nàng Xáy (Nùng), nàng Han (Thái)…Như vậy, đây là một kiểu hình tượng nhân vật tiêu biểu xuất hiện phổ biến trongnhiểu thể loại truyện dân gian của các dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc Bên cạnh
đó có những bài viết đi sâu tìm hiểu một số hình tượng nhân vật cụ thể trong truyện
kể dân gian một số dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc như Lê Trung Vũ có các bài
viết Tính cách của các nhân vật người khỏe trong truyện cổ dân tộc Mèo [133], Hình tượng người mồ côi trong văn học dân gian Mèo [136] hay bài Bước đầu phác họa hình tượng người khỏe tài ba và hình tượng người lao động thông minh, mưu trí trong truyện kể dân gian Tày, Nùng [104] của tác giả Hà Đình Thành Ngoài ra là
khá nhiều bài viết khác tìm hiểu các khía cạnh khác nhau, xung quanh các thể loại,
hình thức văn hóa dân gian của các dân tộc như: Suy nghĩ về một số biểu tượng đặc thù trong truyện cổ tích miền núi [121]; Một vài quan niệm về vũ trụ quan, nhân sinh quan người Tày cổ qua một số truyện cổ của họ [30]; Tìm hiểu một cặp mẫu kể dân gian miền núi dưới góc độ loại hình [122].
Truyện kể dân gian các dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc cũng đã trở thànhđối tượng nghiên cứu chính trong một số luận văn, luận án từ cuối những năm 80
Công trình đầu tiên có thể nhắc đến là luận văn tốt nghiệp sau đại học Hình
tượng “người khổng lồ” trong loại hình tự sự dân gian các dân tộc thiểu số miền Đông Bắc, Tây Bắc – Việt Nam [89] của tác giả Nguyễn Hằng Phương Công trình
này đã đi sâu tìm hiểu hình tượng “người khổng lồ” trong loại hình tự sự dân gian
các dân tộc thiểu số Đông Bắc và Tây Bắc trên hai phương diện cơ bản là cốt truyện
và nhân vật, so sánh hình tượng trong truyện kể khu vực này với hình tượng “người
khổng lồ” trong truyện kể dân tộc Việt và các dân tộc thiểu số phía Nam Từ đó, tácgiả đã chỉ ra giá trị phản ánh và giá trị thẩm mỹ của hình tượng “người khổng lồ” vàmột số nét độc đáo khu vực của nó Theo tác giả, căn cứ vào mảng hiện thực đượcphản ánh thì có thể phân loại hình tượng “người khổng lồ” thành ba loại: hình tượng
“người khổng lồ” kiến tạo vũ trụ và sinh nở các giống loài, hình tượng “người khổng
Trang 30lồ” chinh phục, chế ngự thiên nhiên và sáng tạo văn hóa, hình tượng “người khổnglồ” đấu tranh bảo vệ địa bàn cư trú và cuộc sống cộng đồng.
Công trình tiếp theo có đóng góp quan trọng vào kết quả nghiên cứu truyện kểdân gian Tày nói riêng, các dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc nói chung là luận án
Phó tiến sĩ của tác giả Vũ Anh Tuấn: Khảo sát cấu trúc và ý nghĩa một số típ truyện
kể dân gian Tày ở vùng Đông Bắc Việt Nam [123] Luận án đã khảo cứu công phu, tỉ
mỉ cấu trúc và ý nghĩa của một số típ truyện kể dân gian Tày ở vùng Đông Bắc Các
típ truyện được tác giả khảo sát là: nhóm mẫu kể về hình tượng người khổng lồ, nhóm mẫu kể về người thần kỳ đội lốt, nhóm mẫu kể về người thần kỳ sáng tạo các loại hình nghệ thuật, người thần kỳ đổi phận vào trong cây cỏ tự nhiên, nhóm mẫu
kể về địa danh, nhóm mẫu kể về động vật, cỏ cây Tác giả đã chỉ ra một số phẩm chất
độc đáo loại hình qua một số típ kể đặc sắc riêng của truyện kể dân gian Tày nhưnhóm mẫu kể về hình tượng Pựt luông, nhóm mẫu kể về người con riêng Trong quátrình phân tích, lý giải, tác giả đã có sự đối chiếu, so sánh với truyện kể dân gian dântộc Việt và các dân tộc thiểu số khác nhất là truyện kể của các dân tộc ở khu vựcmiền núi phía Bắc
Có thể nói, công trình đã khám phá và chỉ ra được đặc trưng loại hình và đặcthù của truyện kể dân gian Tày qua những típ kể tiêu biểu và đặc sắc Công trình gópphần đáng kể giúp chúng tôi tiếp tục hướng nghiên cứu mang tính khái quát vềtruyện kể dân gian các dân tộc thiểu số ở miền núi phía Bắc trong đó truyện kể tộcngười Tày được coi là một trong những đối tượng cơ bản
Luận án Mối quan hệ văn hóa Tày- Việt dưới góc độ thẩm mỹ qua một số
kiểu truyện kể dân gian cơ bản [42] của tác giả Hà Thị Thu Hương tiếp tục hướng
nghiên cứu về mối quan hệ văn hóa Tày Việt qua việc khảo sát, phân tích một sốkiểu truyện như người anh hùng kiến tạo thế giới, kiến tạo vũ trụ, người anh hùngvăn hóa, người anh hùng chiến trận chống giặc ngoại xâm
Gần đây, một số luận văn thạc sĩ tiếp tục nghiên cứu truyện kể dân gian các
dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc ở một thể loại, một dân tộc cụ thể như Đặc điểm nghệ thuật truyện cổ tích thần kỳ của dân tộc Mông ở Hà Giang (2006) của tác giả Hạng Thị Vân Thanh [102], Truyện kể địa danh của người Tày ở huyện Nà Hang-
Tuyên Quang (2010) của tác giả Nông Thị Hồng Nhung [81], Truyện kể địa danh
Trang 31của dân tộc Thái ở Việt Nam (2010) của tác giả Nguyễn Thị Mai Quyên [93], Khảo sát truyền thuyết các dân tộc lưu hành ở Yên Bái (2011) của tác giả Phùng Thị Phương Hạnh [26], Mối quan hệ giữa truyền thuyết dân gian và lễ hội về người anh hùng lịch sử của dân tộc Tày ở vùng Đông Bắc (2011) của tác giả Hà Xuân Hương [43], Văn học dân gian của người Cơ lao đỏ ở Túng sán, Hoàng Xu Phì, Hà Giang của tác giả Trịnh Thị Hoài Giang (2012), Hệ thống truyền thuyết và lễ hội về võ tướng Dương Tự Minh ở Thái Nguyên của Nguyễn Phương Thủy (2013), Khảo sát truyện cổ tích thần kỳ của dân tộc Mông lưu hành ở Yên Bái của tác giả Mai Anh
Dũng (2013)
Điểm lại lịch sử nghiên cứu văn học dân gian các dân tộc thiểu số nói chung,văn học và truyện kể dân gian các dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc nói riêng, cóthể thấy chưa có một công trình nào nghiên cứu về truyện kể dân gian các dân tộcthiểu số miền núi phía Bắc Việt Nam một cách khái quát và hệ thống Các nghiêncứu đã có hoặc tìm hiểu về truyện kể các dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc trên mộtdiện rộng, nhìn trong một tổng thể bộ phận truyện kể dân gian của các dân tộc thiểu
số Việt Nam nói chung hoặc đó là những khám phá cụ thể ở một số thể loại, một sốphương diện trong truyện kể dân gian của một số dân tộc cụ thể riêng lẻ Đó chính làkhoảng trống mà đề tài này mong muốn được tiếp tục khám phá, tìm hiểu và nghiêncứu nhằm dựng nên diện mạo, chỉ ra những giá trị, vị trí và đóng góp quan trọng củakho tàng văn học các dân tộc khu vực này đối với văn học dân gian các dân tộc thiểu
số nói riêng và văn học dân gian Việt Nam nói chung
1.5 Khái niệm truyện kể dân gian và các thể loại truyện kể dân gian
Theo Từ điển văn học, thuật ngữ Truyện được định nghĩa như sau: “Thuộc
loại tự sự - có hai thành phần chủ yếu là cốt truyện và nhân vật Thủ pháp nghệ thuật chính là kể Truyện thừa nhận vai trò rộng rãi của hư cấu và tưởng tượng Tùy theo nội dung phản ánh, dung lượng, chủ thể sáng tác cụ thể mà truyện được chia thành nhiều loại: truyện dân gian, truyện ngắn, truyện vừa, truyện dài (cũng gọi là tiểu thuyết), truyện nôm, truyện nôm khuyết danh…” [75, tr 450].
Trên cơ sở khái niệm Truyện đó, chúng tôi đưa ra nội dung khái niệm Truyện
kể dân gian như sau: Truyện kể dân gian là một bộ phận tiêu biểu của văn học dân
gian bao gồm những sáng tác văn học dân gian được tạo thành bởi hai thành phần
Trang 32chủ yếu là cốt truyện và nhân vật, phản ánh hiện thực cuộc sống một cách khách quan chủ yếu thông qua phương thức kể và ngôn ngữ văn xuôi Do đặc trưng và ưu
thế của loại hình, truyện kể dân gian có khả năng phản ánh khá toàn diện các mặt củacuộc sống con người trong các mối quan hệ ứng xử như ứng xử với môi trường tựnhiên, với môi trường xã hội Truyện kể dân gian là bằng chứng độc đáo cho lịch sử
tư tưởng, triết lý sống của các dân tộc và cũng là nơi thể hiện tâm tư, tình cảm, khátvọng, tình cảm thẩm mỹ của đồng bào các dân tộc
Truyện kể dân gian là bộ phận có nhiều thể loại nhất so với các loại hình vănhọc dân gian khác, trong đó có ba thể loại tiêu biểu là thần thoại, truyền thuyết vàtruyện cổ tích Để có thể sắp xếp, phân loại và tìm hiểu các thể loại truyện kể từ vốn
tư liệu đã được sưu tầm vẫn còn khá bộn bề, chúng tôi cho rằng việc nhận diện đặctrưng của các thể loại này là rất quan trọng Theo đó, sau đây, chúng tôi sẽ trình bàymột số quan điểm chủ yếu liên quan đến vấn đề đó
Nhà folklore học người Nga B.L.Riftin trong bài Một số vấn đề lý thuyết về thần thoại (Từ trường hợp thần thoại của thổ dân Đài Loan và thần thoại cổ đại của Trung Quốc đại lục) [98] đã trình bày đặc điểm và ranh giới giữa một số thể loại
truyện kể dân gian gần gũi như thần thoại, truyền thuyết và truyện cổ tích (mà tác giảgọi là truyện dân gian) Về thần thoại, tác giả đưa ra 11 điểm trong đó đáng chú ý làcác điểm sau:
Thần thoại miêu tả một phạm vi thời gian đặc định, đó là thời gian được gọi là
Khai thiên lập địa, Thời đại tiền sử Một số dân tộc đã phân định rất rõ thời đại của thần thoại và thời đại của chúng ta hiện nay…Thời gian của thần thoại không phải là
thời gian lịch sử
Thần thoại miêu tả nguồn gốc của loài người và những chế độ, thói quen, quytắc đời sống mà chúng ta quen thuộc Các yếu tố địa hình như sông núi, biển cả đãhình thành thế nào? Hỗn độn đã trở thành vũ trụ ra sao? Đó đều là những chủ đề củathần thoại
Thần thoại có mối quan hệ nhất định với sùng bái nguyên thủy, tế lễ và nghithức nguyên thủy Thần thoại có chức năng truy nguyên, tức là giải thích nguồn gốchoặc đặc điểm của vạn vật, nguồn gốc của loài người cùng các loại hình tế lễ, nghithức…Đây cũng là chức năng và mục đích tự sự chủ yếu của thần thoại
Trang 33Thần thoại có những nhân vật anh hùng đặc thù là động vật hoặc người Thầnthoại của các xã hội phát triển thường có những nhân vật là thần hoặc bán thần hoặccác loại anh hùng văn hóa, những đấng sáng thế hoặc những người xây dựng nênnhững quy định về thế giới Nhân vật điển hình của thần thoại là các anh hùng vănhóa, tức những người có đủ thứ “của cải” như lửa, thực vật, hoặc đưa ra các phátminh Những việc mà các anh hùng trong thần thoại làm nhất định phải là vì toànnhân loại (hoặc cả bộ lạc)
Những đặc điểm nhận diện thần thoại trên đây của Riftin là phù hợp để soi rọivào nguồn tư liệu truyện kể các dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc Việt Nam
Trong bài viết của mình, Riftin cũng đã đưa ra một số điểm phân biệt giữathần thoại và truyền thuyết như sau Thần thoại miêu tả thời kỳ sáng thế, tiền sử còntruyền thuyết miêu tả các thời kỳ lịch sử, nhân vật cũng thường là nhân vật lịch sử.Thần thoại giải thích nguồn gốc của những khái niệm cơ bản nhất, như nguồn gốc vũtrụ, nguồn gốc của lửa, nguồn gốc của nhân loại, nguồn gốc của hồng thủy…còntruyền thuyết thì giải thích nguồn gốc của những thứ không quan trọng như vậy.Thần thoại nhìn chung có liên quan đến tín ngưỡng, nghi lễ còn nền tảng của truyềnthuyết lại là sự kiện lịch sử Thần thoại kể chuyện của cả nhân loại, cả bộ lạc, cả dântộc Truyền thuyết kể chuyện về một nhân vật, chuyện xảy ra ở một địa phương nhỏ
vì thế truyền thuyết mang tính địa phương rất rõ nét Khu vực lưu truyền của truyềnthuyết không phải là trên toàn quốc mà chỉ giới hạn trong những khu vực nhất định.Truyền thuyết mặc dù có một vài nhân tố thần kỳ nhưng sự việc được miêu tả lại xảy
ra ở một nơi có thật trong một thời đại lịch sử cụ thể, nhân vật cũng thường là nhữngnhân vật có thật Truyền thuyết có nhóm gắn với các loại ngành nghề và có nhómliên quan đến tôn giáo Truyền thuyết cũng vay mượn một số phương pháp biểu hiệnhoặc chủ đề , motif, kết cấu…của truyện dân gian
Về đặc trưng của thể loại truyền thuyết, chúng tôi chú ý đến quan điểm củanhà nghiên cứu Trần Thị An như một sự bổ sung thiết thực Theo tác giả, có thể xác
định truyền thuyết bằng một số tiêu chí quan trọng như niềm tin, nội dung Tác giả
Trần Thị An cho rằng niềm tin trong truyền thuyết là một vấn đề được các nhànghiên cứu folklore ở nhiều nước nhấn mạnh Ví như hai nhà nghiên cứu Linda Dégh
và Andrew Vázronyi (Hunggari) trong chuyên khảo Truyền thuyết và niềm tin khẳng
Trang 34định “Niềm tin là một vấn đề có tính nguyên tắc của truyền thuyết…Niềm tin là một thành phần không thể bỏ đi được của truyền thuyết Những khía cạnh phong phú của niềm tin về những điều có thật hay tưởng tượng được trình bày trong truyền thuyết
là chiếc chìa khóa để các nhà nghiên cứu hiểu được thể loại này” [116, tr 716] Một nhận định khác là của Friedrich Ranke (Đức): “Truyền thuyết trong bản chất của nó đòi hỏi niềm tin ở người kể cũng như người nghe, rằng nó liên quan tới sự thực, rằng nó đã từng xảy ra” [116, tr 716] Về tiêu chí nội dung, tác giả Trần Thị An khẳng định “truyền thuyết là thể loại phản ánh một thế giới đã định hình thành những tổ chức xã hội nhất định, trong đó mối quan hệ giữa cá nhân và các giá trị cộng đồng của họ là vấn đề được chú ý nhất…hai loại vấn đề của cộng đồng thu hút
sự chú ý của các tác giả truyền thuyết là: các vấn đề của đời sống tâm linh và các vấn đề của lịch sử” [116, tr 717] Về nội dung các vấn đề của đời sống tâm linh,
truyền thuyết thỏa mãn nhu cầu trải nghiệm cảm xúc hướng tới cái thiêng của vô
thức cộng đồng Về nội dung yếu tố lịch sử, nhà nghiên cứu khẳng định thêm “đối tượng mà truyền thuyết muốn phản ánh không phải là bản thân lịch sử mà là cảm nhận và tri nhận của nhân dân về truyền thống và lịch sử, trong đó, cảm xúc bao trùm của cảm nhận về truyền thống và lịch sử là cảm hứng tôn vinh” [116, tr 719].
Như vậy, nếu thần thoại thể hiện mẫu số chung của nhân loại thì truyền thuyếtchỉ thể hiện mẫu số chung của từng cộng đồng ở nhiều phạm vi Điều này có thểđược minh chứng rất rõ ràng qua việc khảo sát, nghiên cứu về thần thoại và truyềnthuyết các dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc mà chúng tôi sẽ trình bày trong cácchương sau
So với thần thoại và truyền thuyết, đặc trưng truyện cổ tích được các nhànghiên cứu thống nhất và trình bày rõ ràng hơn, nghĩa là ranh giới giữa thể loại nàyvới các thể loại khác cũng dễ dàng nhận ra hơn Các nhà nghiên cứu đều cho rằng,khác với thần thoại là thể loại nảy sinh trong thời kỳ tiền sử, truyện cổ tích phát sinhtrong thời kỳ xã hội loài người đã bắt đầu phân hóa giai cấp Vì thế, nếu thần thoạinhằm mục đích chủ yếu là giải thích trạng thái của vũ trụ, những thay đổi cũng nhưnhững quy định của vũ trụ khi nó được xác lập thì truyện cổ tích chủ yếu miêu tảtrạng thái của nhân vật và những thay đổi các trạng thái đó Cụ thể, truyện cổ tíchphản ánh các quan hệ của con người, miêu tả cuộc sống con người với những mâu
Trang 35thuẫn, xung đột trong phạm vi gia đình Truyện cổ tích thường chỉ kể chuyện một cánhân, một gia đình nhưng cũng là để phản ánh một xã hội thời kỳ đầu phân hóa giaicấp Công thức mở đầu của cổ tích vốn quen thuộc “Ngày xửa ngày xưa có một giađình nọ chỉ có hai vợ chồng già ” không hoàn toàn là ngẫu nhiên Thời gian và sựviệc trong cổ tích không phải là hiện tại nhưng cũng không phải là thời kỳ sáng thế,thời kỳ tiền sử của thần thoại Thần thoại dùng phương pháp tượng trưng để miêu tảthế giới hoặc mô hình thế giới trong khi đó, truyện cổ tích mô tả theo hướng hiệnthực, cụ thể cả về đối tượng, phương pháp, tình tiết, kết cấu…tất nhiên, do sản sinh
từ nền tảng thần thoại nên trong truyện cổ tích vẫn có hiện tượng vay mượn motif từthần thoại
Tuy nhiên, ở đây cũng cần lưu ý rằng mọi sự phân biệt chỉ là tương đối Trênthực tế, mối quan hệ kế thừa và chuyển hóa giữa các thể loại văn học dân gian nóichung, truyện kể dân gian nói riêng cũng lại là một đặc trưng Là bởi thực tế sáng tác
và lưu truyền của văn học dân gian là một quá trình liên tục bồi đắp và biến đổi Tácgiả dân gian khi bày tỏ, biểu đạt nhận thức và tình cảm của mình trong các sáng táccũng không hề biết đến và quan tâm đến vấn đề thể loại của một truyện kể nào đó
Do đó, hiện tượng có những bản kể có thể chứa đựng tổng hợp giá trị của nhiều thểloại hoặc có những sáng tác được và bị chuyển hóa thể loại trong quá trình lưu tồntrong đời sống các dân tộc là khá phổ biến Trong khi nghiên cứu, chúng tôi sẽ chú ýđến đặc trưng này và chỉ ra trong một số dẫn chứng cụ thể
Trên cơ sở kế thừa những nghiên cứu và phân tích khái quát về đặc trưng cácthể loại truyện kể dân gian tiêu biểu trên đây, chúng tôi sẽ tiến hành công việc phânloại, khảo cứu và khám phá những giá trị ẩn sâu bên trong của kho truyện kể các dântộc thiểu số miền núi phía Bắc
1.6 Khái quát về tư liệu và diện mạo chung truyện kể dân gian các dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc
Trong luận án này, chúng tôi đã tiến hành tập hợp và thống kê từ nhiều tuyểntập văn học dân gian, văn hóa dân gian, truyện kể của các dân tộc từ những năm 64cho đến những năm gần đây như phần lịch sử đã giới thuyết Những truyện kể củacác dân tộc được sưu tầm, giới thiệu bởi nhiều tác giả và nhóm tác giả Một trongnhiều số ấy là những người con của chính dân tộc đó ghi chép và biên soạn lại với
Trang 36mục đích giới thiệu và lưu giữ vốn văn học của dân tộc mình Họ có lòng say mê, có
ý thức và vốn sống về tri thức bản tộc nhưng về phương pháp, cách thức làm việcchưa có tính chuyên nghiệp cao Một số tác giả khác không phải là cư dân bản địanhưng có điều kiện thâm nhập vào đời sống các dân tộc và cũng say sưa ghi chép,lưu truyền và chuyển tải vốn văn hóa quý báu ấy đến với các thế hệ sau Tuy vậy,kho truyện mà những tác giả này sưu tầm, biên soạn hầu như chưa được sắp xếp,phân loại và chọn lọc một cách hợp lý và khoa học Nhà sưu tầm chủ yếu cố gắng ghichép và biên soạn lại tất cả những bản kể mà đồng bào các dân tộc còn ghi nhớ vàlưu truyền được Bản thân văn học dân gian nói chung, truyện kể dân gian nói riêng
là những sáng tác truyền miệng nên nó thường có xu hướng vận động, biến đổi liêntục cùng thời gian và không gian Đó cũng là những sản phẩm văn hóa mang tínhnguyên hợp rõ nét, được hình thành để phản ánh một vấn đề nhận thức nào đó vàphản ánh trình độ sáng tạo nghệ thuật một cách không tự giác Do vậy, những bản kểđầu tiên do đồng bào sáng tạo và lưu giữ, qua các thế hệ, đến với người sưu tầm, biênsoạn ghi chép rồi đến với người nghiên cứu là cả một khoảng cách lớn Thực tế, cónhững bản kể mà nội dung và hình thức có sự pha tạp của nhiều yếu tố rất khó có thểđưa vào cơ cấu các thể loại truyện kể dân gian Vì thế, trong luận án này, trước hết,chúng tôi đã thống kê, sắp xếp các truyện kể vào các bảng thể loại sau đó tiến hànhtập hợp và khảo sát tối đa những bản kể có chung cốt truyện và nội dung phản ánhtrong mỗi thể loại, nghĩa là các bản kể thuộc cùng một type của các dân tộc để có thể
có những kết quả khảo cứu mang tính khái quát, hệ thống cũng như bước đầu chỉ rađược một số đặc trưng của truyện kể các dân tộc thiểu số khu vực miền núi phía Bắc
Trên tinh thần đó, chúng tôi đã thống kê, khảo sát chủ yếu trên các tập truyện
tiêu biểu sau: Truyện cổ tích miền núi [73], Truyện cổ Việt Bắc [94], Truyện cổ Việt Bắc [96,97], Truyện cổ dân tộc Mèo [100], Truyện cổ dân tộc Mèo [134], Truyện cổ dân tộc Mèo Hà Giang [135], Truyện cổ Tày Nùng [95], Truyện cổ các dân tộc Việt Nam [126], Truyện cổ Dao [101], Truyện cổ dân tộc Thái [124], Truyện cổ Thái [18], Truyện dân gian Thái [9], Truyện cổ Bắc Kạn (3 tập) [64], Truyện cổ các dân tộc ít người Việt Nam [125], Truyện cổ Mường Hà Sơn Bình [108], Truyện cổ xứ Lạng [4], Tổng tập văn học dân gian các dân tộc thiểu số Việt Nam [114,115,116].
Trang 37Ngoài ra, chúng tôi còn sử dụng nguồn truyện được sưu tập trong một số tậptruyện nhỏ lẻ khác và một số tư liệu trong các công trình của một số nhà nghiên cứu
đi trước đã công bố để phân tích, so sánh từ đó đưa ra những nhận xét mang tính kháiquát Phần tư liệu này chúng tôi sẽ kể đến trong các bảng thống kê cụ thể ở cácchương sau
Qua khảo sát nguồn tư liệu kể trên chúng tôi nhận thấy, truyện kể dân gian cácdân tộc thiểu số miền núi phía Bắc gồm đầy đủ các thể loại: thần thoại, truyền thuyết,truyện cổ tích, truyện cười và truyện ngụ ngôn
Thần thoại là thể loại có số lượng truyện khá phong phú phản ánh những chủ
đề mang tính phổ biến từ thần thoại kể về nguồn gốc trời đất, nguồn gốc loài người,nguồn gốc muôn loài đến những truyện kể về công cuộc chinh phục tự nhiên, sángtạo văn hóa của con người thời nguyên thủy Hình thức phản ánh của thần thoại cácdân tộc miền núi phía Bắc nhìn chung có nhiều điểm gặp gỡ với thần thoại các dântộc ở các khu vực khác
Về truyền thuyết, so với thần thoại, số lượng truyện kể khiêm tốn hơn và sựphân bố ở các dân tộc cũng không đồng đều, chỉ tập trung chủ yếu ở hai dân tộc làTày và Thái Truyền thuyết ở đây tập trung vào hai nhóm đề tài chính là truyềnthuyết về nhân vật anh hùng lịch sử và truyền thuyết địa danh
Truyện cổ tích là thể loại có số lượng truyện nhiều hơn cả với đầy đủ các tiểuloại: truyện cổ tích thần kỳ, truyện cổ tích sinh hoạt, truyện cổ tích loài vật Các tiểuloại này lại bao gồm các type như truyện về nhân vật mồ côi, truyện về nhân vật em
út, truyện về nhân vật con riêng, truyện về nhân vật người đột lốt vật, truyện về nhânvật người khỏe, truyện về nhân vật thông minh, truyện về nhân vật hiếu nghĩa, nhânvật tiêu cực Ngoài ra, trong kho tàng truyện cổ các dân tộc xuất hiện một loạitruyện thường kể về những mối tình bất hạnh, éo le để từ đó lý giải sự tồn tại và têngọi một số địa danh và một số sự vật, hiện tượng có thực Nguồn truyện này chúngtôi đặt vào hai thể loại là truyền thuyết địa danh và truyện cổ tích sinh hoạt tùy theonội dung, chức năng và cách thức kể chủ yếu của truyện
Truyện cười các dân tộc thiểu số cũng có một số lượng đáng kể Phần lớn đó
là những truyện mang tính chuỗi, được kể xoay quanh một nhân vật trung tâm.Truyện cười các dân tộc được kể trong một dung lượng tương đối dài, xâu chuỗi bởi
Trang 38nhiều chi tiết, tình tiết khá chặt chẽ, logic và sinh động Theo cách gọi của nhànghiên cứu Hoàng Tiến Tựu thì đó là loại truyện cười kết chuỗi, giống như loạitruyện Trạng trong truyện cười dân gian Việt Tiêu biểu như chuỗi truyện về chàngKhun Hôn, Phanh Cha Hán của dân tộc Thái, chàng Cuội của dân tộc Mường, chàng
Ý Pịa của dân tộc Tày, chàng E Toi của dân tộc Giáy… Truyện cười các dân tộcthường được kể theo lối kể tự nhiên, dân dã, hồn nhiên Các nhân vật có khi dùng tríthông minh, sự nhanh trí, láu lỉnh của mình để “lừa”, để chống lại thói tham lam,hách dịch của những kẻ bề trên nhưng cũng có khi chính sự láu lỉnh đó lại là phươngtiện để nhân vật “chơi khăm” những người lao động, thậm chí cả những người họhàng, thân thích Ví dụ: nhân vật Cuội trong các truyện cười của dân tộc Mường
“Thím đẻ con, chú bị trâu húc thủng bụng”, “Bọ hung đổ thuế ”, “Quan Lang đến nhà ”, “Làm cuội cho mà xem ”…Điều này cho thấy, nhân vật trong truyện cười các
dân tộc thiểu số được xây dựng theo xu hướng gần với đời sống thực, không được lýtưởng hóa một cách tuyệt đối
Truyện ngụ ngôn là thể loại có số lượng khiêm tốn hơn cả, phần lớn là nhữngtruyện cổ tích loài vật chuyển hóa mà thành Tuy nhiên, sự xuất hiện thể loại này đãcho thấy sự vận động, phát triển trong tư duy, trình độ nhận thức và phản ánh các vấn
đề đời sống các dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc Đó cũng là sự vận động, chuyểnhóa giữa các thể loại văn học dân gian Truyện ngụ ngôn có thể có cả hình thức vănxuôi và văn vần, có nhiều loại nhân vật và sự phản ánh nội dung trực tiếp hay giántiếp
Truyện kể dân gian các dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc đặc biệt có quan hệ mật thiết với những thể loại khác như ca dao, dân ca, truyện thơ Các thể loại này đã tiếp tục kế thừa và phát triển những đề tài từng xuất hiện trong
cổ tích như tiếng hát của người mồ côi, người làm dâu và những câu chuyện tình yêu bất hạnh Trong giới hạn của luận án, chúng tôi sẽ tập trung tìm hiểu
ba thể loại truyện kể dân gian tiêu biểu, đó là: thần thoại, truyền thuyết và truyện cổ tích Kết quả khảo sát, thống kê về ba thể loại của các dân tộc được thể hiện trong Bảng 1.1.
STT Dân tộc Thần thoại Truyền thuyết Truyện cổ tích Tổng số
Trang 39Hiện nay, các khái niệm type, motif và việc nghiên cứu văn học dân gian nói
chung, truyện kể dân gian nói riêng theo type và motif vẫn đang được các nhà
nghiên cứu sử dụng Theo tác giả Nguyễn Tấn Đắc, Type và Motif là những phần tử
đơn vị vừa mang tính đặc trưng vừa mang tính bền vững của truyện kể dân gian [13,
tr 11] Theo nghĩa ngôn ngữ thông thường, type chỉ một lớp vật thể có những đặc điểm chung Nó được hiểu tương đương với các khái niệm: kiểu, kiểu mẫu, đại diện điển hình
Trong khoa học nghiên cứu về văn học dân gian nói chung, truyện kể dân gian
nói riêng, thuật ngữ type thường được hiểu trên cơ sở khái niệm của nhà nghiên cứu Stith Thompson viết trong cuốn Standard Dictionary of Folklore (NewYork, 1950) đại ý: Type là những cốt kể có thể tồn tại độc lập trong kho truyện truyền miệng Dù
đơn giản hay phức tạp, truyện nào được kể như một cốt kể độc lập đều được xem làmột type Có những truyện kể dài chứa đựng hàng tá motif, lại có những truyện kểngắn như những mẩu kể trong các chùm truyện về súc vật có thể chỉ có một motifđơn lẻ Trong trường hợp đó, type và motif đồng nhất Nếu hiểu type là những cốt kểđộc lập như vậy thì trong mỗi nền văn hóa riêng biệt chỉ có một số lượng type nhấtđịnh [13, tr 11]
Trang 40Như vậy, có thể hiểu một cách đơn giản rằng tập hợp những mẫu truyện kể dân gian có chung một cốt kể tức là chung một hệ thống motif sẽ tạo thành một type.
Type là một cốt với tất cả các dị bản của nó và trở thành một kiểu truyện, tức mộtđơn vị truyện độc lập, phân biệt với đơn vị truyện khác Có thể gọi type là mộttruyện đơn vị, một kiểu truyện Trong luận án, chúng tôi cũng thống nhất sử dụng
thuật ngữ kiểu truyện tương đương với thuật ngữ type
Về khái niệm motif, cũng trong công trình Standard Dictionary of Folklore (NewYork, 1950), Stith Thompson có viết đại ý: Trong Folklore, Motif là thuật ngữ
chỉ bất kỳ một phần nào mà ở một tiết (item) của folklore có thể phân tích ra được…Motif truyện kể đôi khi là những khái niệm rất đơn giản, thường gặp trong truyện kểtruyền thống Có thể đó là những tạo vật khác thường, như thần tiên, phù thủy, rồng,yêu tinh, người mẹ ghẻ ác nghiệt, con vật biết nói…có thể đó là những thế giới kỳdiệu, hoặc ở những nơi mà ở đó ma thuật luôn luôn có hiệu lực, là tất cả các loại vậtthiêng có phép và những hiện tượng tự nhiên khác thường [13, tr 27]
Nhà khoa học Nga A.N.Vexelopxki quan niệm về motif như sau “Tôi hiểu mô
típ như một công thức, vào thuở ban đầu của xã hội loài người, trả lời cho câu hỏi màgiới tự nhiên ở mọi nơi đặt ra với con người hoặc ghi nhận những ấn tượng về thựctại đặc biệt mạnh mẽ, quan trọng và lặp lại nhiều lần” “Tôi hiểu mô típ như một đơn
vị trần thuật đơn giản nhất, bằng hình tượng, giải đáp những vấn đề khác nhau màtâm trí nguyên thủy hoặc những sự quan sát trong đời sống nguyên thủy đặt ra” [131,
tr 32-33] Nhà nghiên cứu Chu Xuân Diên đã nêu trong cuốn Từ điển văn học như sau: “Đây là thuật ngữ phiên âm từ tiếng Pháp đôi khi được dịch sang tiếng Việt là mẫu đề, dùng để chỉ những yếu tố đơn giản nhất có ý nghĩa trong cấu tạo đề tài, cốt truyện của tác phẩm nghệ thuật” [75, tr 465]
Tiếp thu tri thức của các nhà nghiên cứu đi trước, chúng tôi quan niệm motif
là yếu tố hạt nhân hoặc yếu tố hợp thành của cốt truyện, lặp đi lặp lại và phải có ít nhiều khác lạ, bất thường, đặc biệt Có những motif xuất hiện sớm từ thời công xã
nguyên thủy và cũng có nhiều motif xuất hiện đồng dạng ở những khu vực địa lý vàcác dân tộc khác nhau
Nghiên cứu truyện kể dân gian theo type và motif có những ưu thế nhất định.Type giúp chúng ta xem xét, sắp xếp truyện kể dân gian theo các cốt kể, tìm hiểu đặc