1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Triết lý nhân sinh qua truyền thuyết về thời đại hùng vương

73 1,5K 11

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Triết lý nhân sinh qua truyền thuyết về thời đại hùng vương
Tác giả Nguyễn Thị Thu Hằng
Người hướng dẫn PGS.TS. Nguyễn Tiến Dũng
Trường học Trường Đại Học Khoa Học Huế
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2011
Thành phố Huế
Định dạng
Số trang 73
Dung lượng 729,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngoài ra còn rất nhiều bài viết nghiên cứu về thời đại Hùng Vươngtrên các tạp chí như tạp chí nghiên cứu lịch sử, tạp chí văn học, tập san đạihọc của rất nhiều tác giả như tác giả Nguyễn

Trang 1

Để hoàn thành Khóa luận Tốt nghiệp, tôi xin chân thành cảm ơn Ban chủ nhiệm Khoa Lý Luận Chính Trị - Trường Đại Học Khoa Học Huế, Bộ môn Triết học Khoa Lý Luận Chính Trị - Trường Đại Học Khoa Học Huế cùng các thầy, cô trong khoa đã tạo điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành đề tài một cách tốt nhất.

Đặc biệt, xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến thầy giáo PGS.TS.Nguyễn Tiến Dũng giáo viên hướng dẫn, đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn tôi giải quyết những vướng mắc, khó khăn trong suốt thời gian thực hiện đề tài này.

Tôi cũng xin chân thành cảm ơn Thư viện trường Đại Học Khoa Học Huế; Trung tâm Học liệu Đại học Huế đã cung cấp, giới thiệu tài liệu để tôi hoàn thành Khóa luận Tốt nghiệp này.

Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong quá trình nghiên cứu song do kiến thức còn hạn chế, thời gian không nhiều và những lý do khách quan khác, nên không tránh khỏi những thiếu sót Kính mong các thầy, cô giáo góp ý để đề tài khóa luận được hoàn thiện hơn.

Xin chân thành cảm ơn.!

Huế, tháng 05 năm 2011

Sinh viên Nguyễn Thị Thu Hằng

MỤC LỤC

Trang

Trang 2

A MỞ ĐẦU 2

1 Tính cấp thiết của đề tài 2

2 Tình hình nghiên cứu đề tài 4

3 Mục đích nghiên cứu đề tài 6

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu đề tài 6

5 Giới hạn phạm vi nghiên cứu 7

6 Đóng góp của khóa luận 7

7 Kết cấu của khóa luận 7

B NỘI DUNG 7

Chương1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TRUYỀN THUYẾT 8

1.1 Sự hình thành và phát triển của truyền thuyết thời đại Hùng Vương 8

1.1.1 Sự ra đời của truyền thuyết 8

1.1.2 Đặc điểm của truyền thuyết 11

1.1.2.1 Yếu tố hư cấu 11

1.1.2.2 Tính khái quát hóa và cụ thể hóa 12

1.1.2.3 Đặc điểm nhân vật 13

1.2 Nội dung của truyền thuyết Hùng Vương 14

Chương 2: MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ NHÂN SINH QUAN TRONG TRUYỀN THUYẾT THỜI ĐẠI HÙNG VƯƠNG 21

2.1 Quan niệm về đời người 21

2.1.1 Sự hình thành con người 21

2.1.2 Đời sống của con người 25

2.1.3 Quan hệ giữa con người với con người 31

2.2 Một số khía cạnh của đời sống kinh tế và đời sống tinh thần trong truyền thuyết thời đại Hùng Vương 40

2.2.1 Trong đời sống kinh tế 40

2.2.2 Trong đời sống tinh thần 43

2.3 Nhận xét, đánh giá về vấn đề nhân sinh quan của truyền thuyết thời kỳ Hùng Vương 47

C KẾT LUẬN 52

PHỤ LỤC 55

TÀI LIỆU THAM KHẢO 71

Trang 3

A MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài.

Trong thời đại ngày nay, Việt Nam cũng như các quốc gia khác đangbước vào xu thế Hội nhập hóa - Quốc tế hóa trên toàn thế giới Xu thế này

đã đem lại cho Việt Nam những thuật lợi to lớn nhưng bên cạnh đó cũngmang lại không ít những khó khăn thử thách Quá trình Hội nhập hóa -Quốc tế hóa một mặt đã làm cho con người phải đối diện với những

“luồng” giá trị văn hóa tốt, xấu lẫn lộn, làm cho bản sắc dân tộc ngày mộtphai nhạt trước “ cơn lốc ” của công cuộc hội nhập quốc tế của đất nước.Mặt khác, quá trình này còn làm cho những thế lực thù địch, phản độngtrong nước và ngoài nước núp dưới chiêu bài dân tộc, tôn giáo để có cơ hộithực hiện các hành động chống phá Nhà nước ta

Đứng trước thực trạng ấy, Việt Nam cần phải khắc phục những khókhăn, hạn chế đồng thời phát huy những nhân tố tích cực để đưa đất nước

ta không ngừng phát triển đi lên Và để làm được điều đó thì trước hếtchúng ta phải quan tâm, chú trọng và phát triển tới rất nhiều vấn đề baogồm cả kinh tế, xã hội, văn hóa, chính trị… Đặc biệt trong đó vấn đề “ khơidậy ý thức cội nguồn của dân tộc Việt Nam” là vấn đề được Đảng và nhândân ta hết sức quan tâm và được đặt lên hàng đầu nhằm mục đích nâng caotinh thần đoàn kết, ý thức tự hào, tự tôn dân tộc trong mỗi người dân ViệtNam, đồng thời chống lại những âm mưu phá hoại của kẻ thù trong giaiđoạn hiện nay

Và vấn đề “khơi dậy ý thức cội nguồn của dân tộc Việt Nam” đã đượcĐảng và Nhà nước ta đề cập tới rất nhiều trong các nghiên cứu khoa họccủa đất nước ta những năm gần đây Nhất là khi nghiên cứu về thời đạiHùng Vương - Thời đại dựng nước và giữ nước đầu tiên trong lịch sử pháttriển dân tộc Việt Nam ta

Thời đại Hùng Vương là thời kì đầu dựng nước, mặc dù trình độ kinh

tế, văn hóa xã hội còn ở mức sơ khai nhưng trong quá trình phát triển của

Trang 4

lịch sử đã tạo dựng nên truyền thống quý báu của dân tộc ta như cần cù,sáng tạo trong lao động sản xuất, đoàn kết chiến thắng thiên tai dịch họa vàdũng cảm kiên cường trong đấu trang chống giặc ngoại xâm Những truyềnthống quý báu đó là nguồn sức mạnh giúp dân tộc ta vượt lên mọi khó khănthử thách trong thời đại ngày nay, để chiến thắng kẻ thù xâm lược và xâydựng đất nước ngày càng hùng mạnh và có vị thế trên trường quốc tế Nhìnnhận về thời đại Hùng Vương trong lịch sử dân tộc, sách lịch sử Việt Namcủa nhà xuất bản Khoa học xã hội xuất bản năm 1971 có viết: “ Thời kỳVăn Lang, thời kỳ Hùng Vương là một giai đoạn trọng yếu của lịch sử ViệtNam Chính trong thời kỳ này đã xây dựng nên nền tảng dân tộc Việt Nam,nền tảng Văn hóa Việt Nam và truyền thống tinh thần Việt Nam” Để tônvinh thời đại mở đầu dựng nước của dân tộc Việt Nam, đề cao nhữngtruyền thống văn hóa quý báu đã có từ thời đại các Vua Hùng, Bác Hồ kínhyêu đã nhắc nhở chúng ta trong câu nói bất hủ của Người:

“ Các Vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”.

Thời đại Hùng Vương gắn liền với những truyền thuyết cổ xưa nhấtcủa dân tộc Việt Nam Những truyền thuyết về thời đại Hùng Vương đã đisâu đời sống, ăn sâu trở thành những hình thức tín ngưỡng truyền thống củadân tộc ta như tôn thờ tổ tiên, tôn thờ những vị anh hùng có công chốnggiặc ngoại xâm… gắn liền với nó là những lễ hội truyền thống của dân tộc

để nhớ về cội nguồn của dân tộc ta tiêu biểu như: Lễ hội Đền Hùng; Lễ hộiThánh Gióng; Lễ hội Bánh Chưng - Bánh Giầy…đều là những lễ hội bắtnguồn từ những truyền thuyết về Thời đại Hùng Vương Đặc biệt để tưởngnhớ tổ tiên, từ năm 2008 Đảng và Nhà nước ta đã quyết định lấy ngày 10tháng 3(âm lịch) là ngày Quốc giỗ của dân tộc, mọi người dân trong cảnước được nghỉ và cứ 5 năm một lần Giỗ tổ Hùng Vương sẽ do Trungương tổ chức Và các lễ hội bắt nguồn từ truyền thuyết Hùng Vương ngàynay đã trở thành những lễ hội truyền thống mang đậm nét tín văn hóa

Trang 5

truyền thống của dân tộc Việt Nam Vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo được xem

là một trong những vấn đề nhạy cảm nhất trong giai đoạn hiện nay vì nó lànhu cầu tinh thần không thể thiếu của một bộ phận nhân dân trong xã hội.Song sự tồn tại của tín ngưỡng, tôn giáo lại dựa trên cơ sở của thế giới siêunhiên nào đó cho nên nó rất dễ bị các thế lực phản động lợi dụng vì mụcđích xấu Vì vậy, để giải quyết tốt vấn đề này, Đảng và Nhà nước ta cầnphải có những chính sách mềm dẻo và khéo léo để vừa tôn vinh đức tin củacác tín đồ, vừa dẫn dắt họ theo lẽ phải, theo chân lý đúng đắn dựa trên nềntảng thế giới quan duy vật biện chứng Mác để họ có cái nhìn đúng đắn vềnhững giá trị văn hóa truyền thống quý báu mà cha ông ta thế hệ trước đã

để lại cho chúng ta

Nhận thức được tầm quan trọng của những vấn đề trên, cùng vớimong muốn được đóng góp một phần công sức nhỏ vào việc tìm hiểunhững triết lý nhân văn mà truyền thuyết Hùng Vương để lại đồng thời gópphần gìn giữ, phát huy và quảng bá truyền thống văn hóa, phong tục tậpquán, tín ngưỡng…của quê hương đến mọi miền đất nước và bạn bè thếgiới Vì thế mà tôi đã lựa chọn đề tài: “Triết lý nhân sinh của truyền thuyết

về Thời đại Hùng Vương” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp cử nhân ngànhtriết học

2 Tình hình nghiên cứu đề tài.

Thời đại Hùng Vương cùng với những đặc trưng về văn hóa - xã hội,kinh tế, chính trị…đã trở thành đề tài được rất nhiều các nhà khoa học quantâm nghiên cứu nhằm tìm kiếm, giữ gìn và phát huy những giá trị bản sắcvăn hóa của dân tộc từ thuở khai sinh lập nước cho đến nay Đặc biệt trong

xu thế hội nhập ngày nay, các giá trị văn hóa thực - hư đan xen lẫn lộn vàonhau thì việc nghiên cứu và tìm hiểu đề tài này lại càng có ý nghĩa quantrọng hơn bao giờ hết

Hiện nay, đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu về thời đại HùngVương, cụ thể như:

Trang 6

- Công trình nghiên cứu của tác giả Vũ Kim Biên, “Truyền thuyết Hùng Vương - Thần thoại vùng đất tổ”, nhà xuất bản Sở Văn hóa thể thao

và Du Lịch Phú Thọ, 2009: là cuốn sách sưu tầm 32 truyện cổ tích đặc sắccủa vùng đất tổ bao gồm 23 truyện thuộc thời Hùng Vương và 9 truyệnthuộc các thời kỳ sau từ thế kỷ 2 Trước công nguyên đến Triều đại NhàNguyễn Các câu chuyện truyền thuyết đã được tác giả sưu tầm và biênsoạn lại sao cho dễ hiểu, dễ tìm kiếm hơn nhằm mục đích phục vụ cho việcnghiên cứu của các tác giả sau này

- Tập thể các tác giả Trương Hữu Quýnh, Phan Đại Doãn, Nguyễn

Cảnh Minh, “Đại cương lịch sử Việt Nam”, tập 1, Nhà xuất bản Giáo dục,

Hà Nội, 2007: đã khái quát một thời kỳ lịch sử hào hùng của dân tộc - Thờiđại Hùng Vương dựng nước, khái quát về kinh tế, chính trị, xã hội của conngười thời đại Hùng Vương cũng như khẳng định công lao to lớn của cácVua Hùng và nhân dân ta trong cuộc đấu tranh chống giặc ngoại xâmPhương Bắc xâm lược

- Tác giả Đặng Xuân Tuyên,“ Thời đại Hùng Vương - truyền thuyết

và lịch sử”, Nhà xuất bản Khu di tích lịch sử Đền Hùng, Tỉnh Phú Thọ,

2007 : Cuốn sách viết về các truyền thuyết Thời đại Hùng Vương dựngnước, ngày nay dựa vào các truyền thuyết ấy mà các lễ hội với rất nhiều tínngưỡng mang đậm nét văn hóa dân gian vẫn còn ẩn dấu trong lễ hội ngàynay mà tiêu biểu nhất là Lễ hội Đền Hùng tổ chức vào ngày 10 tháng 3(âm lịch) hàng năm

- Công trình nghiên cứu của tập thể các tác giả Lê Tượng, Nguyễn Anh

Tuấn, Phạm Hoàng Oanh, “ Nước Văn Lang thời đại các Vua Hùng”, của

Sở văn hóa thể thao và Du lịch tỉnh Phú Thọ, 2009 : đã khẳng định thời đạiHùng Vương là có thật với các di tích, di vật đã khai quật từ trong lòng đất là

cơ sở vững chắc để chứng minh sự tồn tại của hệ thống thiết chế Nhà nướccủa các Vua Hùng, với phong tục tập quán, ca múa nhạc, điêu khắc…mangbản sắc độc đáo còn tồn tại đến tận bây giờ trên đất nước Việt Nam

Trang 7

- Viện Khảo cổ học, với tác phẩm “ Hùng Vương dựng nước”, Nhà

xuất bản Khoa học xã hội, 1970: bao gồm các bài phát biểu, bài báo cáo vàtham luận đọc tại hội nghị nghiên cứu thời kỳ lịch sử Hùng Vương họp tại

Hà Nội do Viện khảo cổ học phối hợp với Viện sử học; Viện bảo tàng lịchsử; Trường đại học tổng hợp tổ chức Với nhiều bài viết của các tác giả đãnghiên cứu một cách sâu sắc về cuộc sống, về các phong tục Thời đại HùngVương dựng nước

Ngoài ra còn rất nhiều bài viết nghiên cứu về thời đại Hùng Vươngtrên các tạp chí như tạp chí nghiên cứu lịch sử, tạp chí văn học, tập san đạihọc của rất nhiều tác giả như tác giả Nguyễn Linh, tác giả Văn Tân, tác giả

Lê Văn Lan…

Trên cơ sở kế thừa và phát huy những thành tựu nghiên cứu công phu

về thời đại Hùng Vương của các bậc tiền bối đi trước, nghiên cứu vấn đề “triết lý nhân sinh của truyền thuyết thời đại Hùng Vương” là một đề tài cònrất mới mẻ và nhiều hạn chế song kết quả của đề tài khóa luận này hướngđến không ngoài mục đích nhằm góp phần làm phong phú thêm kho tư liệu

về thời đại Hùng Vương dựng nước và giữ nước của dân tộc ta

3 Mục đích nghiên cứu đề tài.

Với việc nghiên cứu đề tài này giúp chúng ta bước đầu làm quen vớihoạt động nghiên cứu khoa học một cách có hệ thống, có lôgíc và hoànthiện hơn Đồng thời tạo điều kiện vận dụng một cách khoa học thế giớiquan duy vật biện chứng trong việc nghiên cứu các truyền thuyết về thờiđại Hùng Vương, góp phần vào việc quảng bá những nét văn hóa truyềnthống đặc sắc của quê hương vùng đất tổ Vua Hùng

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu đề tài.

- Cơ sở lý luận

Đề tài được xây dựng trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin;

Tư tưởng Hồ Chí Minh; Quan điểm của Đảng Cộng Sản Việt Nam về vấn

đề tín ngưỡng, tôn giáo

Trang 8

- Phương pháp nghiên cứu của đề tài này dựa trên lập trường thế giớiquan duy vật biện chứng và duy vật lịch sử và các phương pháp của phépbiện chứng duy vật.

5 Giới hạn phạm vi nghiên cứu.

Khóa luận nghiên cứu toàn bộ thời đại Hùng Vương dựng nước(khoảng từ thế kỉ 6 -7 trước công nguyên) thông qua các truyền thuyết đểthấy được triết lý nhân sinh của toàn bộ Thời đại Hùng Vương

6 Đóng góp của khóa luận.

Đề tài “ Triết lý nhân sinh của truyền thuyết thời đại Hùng Vương”bước đầu làm rõ các khía cạnh nhân sinh quan trong thời đại Hùng Vươngvới các triết lý về sự hình thành con người, về đời sống của con người, vềcác mối quan hệ giữa con người với con người trong tự nhiên, trong xã hội,trong gia đình…

Đồng thời với đề tài nghiên cứu này sẽ trở thành nguồn tài liệu thamkhảo cho những tác giả quan tâm, nghiên cứu về thời đại Hùng Vương

7 Kết cấu của khóa luận.

Ngoài phần mở đầu và kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo thì nộidung của đề tài bao gồm hai chương, năm tiết

Chương 1: Những vấn đề chung về truyền thuyết.

Chương 2: Một số vấn đề nhân sinh quan của thời đại Hùng Vương.

Trang 9

B NỘI DUNG Chương1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TRUYỀN THUYẾT

1.1 Sự hình thành và phát triển của truyền thuyết thời đại Hùng Vương

1.1.1 Sự ra đời của truyền thuyết

Trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam thì thể loại truyền thuyếtchiếm một vị trí hết sức quan trọng Truyền thuyết ra đời từ trong lòng thầnthoại, nối tiếp và phát triển thần thoại nên giữa truyền thuyết và thần thoại

có nhiều rất nhiều nét tương đồng với nhau Nhưng điểm khác biệt để phânbiệt hai thể loại văn học dân gian này lại ở chỗ đó là: truyền thuyết đã dần

bỏ đi yếu tố thô sơ, thần bí trong thần thoại mà thay vào đó là tính hư cấu

và tính cụ thể của lịch sử để mang truyền thuyết đến gần hơn với đời sốngcủa nhân dân hơn, thuận lợi cho việc gìn giữ và lưu truyền lại các truyềnthuyết dân gian hơn Tác giả Lã Duy Lan trong tác phẩm “ Truyền thuyết

Việt Nam” đã cho rằng: “ truyền thuyết chính là những điều truyền tụng về các nhân vật lịch sử, các địa danh, các sự kiện liên quan đến lịch sử phát triển của một cộng đồng và đồng thời cũng là đại diện, là tiêu biểu hay thể hiện những giá trị văn hóa bao gồm cả giá trị vật chất và giá trị tinh thần của cộng đồng người đó”.

Trong xã hội nguyên thủy, mặc dù sống trong tình trạng văn hóa thấpkém, nhưng con người luôn luôn khát vọng thể hiện trong các tác phẩmnghệ thuật của mình tất cả những hoạt động sinh hoạt, những tâm tư, tìnhcảm của mình trước con người, trước tự nhiên Trước khi xuất quân đi sănbắn tập thể hay đánh cá, người nguyên thủy thường tập hợp nhau lại đểdiễn tập những khâu của công việc lao động mà mình sẽ tiến hành Lúcthắng lợi trở về, người ta lại diễn lại những kỳ tích đạt được trong quá trìnhlao động ấy ở buổi lễ ăn mừng, phân chia thành quả lao động đó Nhữngsinh hoạt tập thể ấy, một mặt nhằm mục đích rèn luyện cho nhau về những

kĩ năng sản xuất, những hiểu biết về tự nhiên tích lũy được trong lao động

Trang 10

sản xuất Mặt khác đó cũng chính là dịp lễ để biểu dương những anh hùng,những bậc tiền bối có nhiều công lao, nhiều thành tích trong cuộc đi săn đóđối với thị tộc, đối với bộ lạc.

Trên cơ sở những sinh hoạt có mục đích ấy thì văn nghệ nguyên thủy

đã được nảy sinh Những thành tích và công lao của những người kiệt suất

đó không những được kể lại hoặc được diễn ra đúng với sự thực mà nó cònđược tô điểm theo các tư tưởng chất phác và phong phú của con ngườinguyên thủy Và đó chính là nguyên nhân đã nảy sinh truyền thuyết ra đời.Như vậy, truyền thuyết chính là một bộ phận của văn hóa nguyên thủyđược phát sinh trên cơ sở lao động và đời sống tập thể của người xưa.Truyền thuyết chính là kho tàng lịch sử thiêng liêng, là kho tàng kinhnghiệm sản xuất và chiến đấu của nhân dân được gìn giữ và phát triển chotới tận ngày nay Truyền thuyết lấy những gì liên quan đến những sự kiệncủa nhân vật lịch sử nổi bật làm đối tượng phản ánh và miêu tả Qua đótruyền thuyết còn giúp cho các thành viên trong cộng đồng người đó nhậnthức một cách sâu sắc hơn về cội nguồn lịch sử của chính dân tộc mình mànhất là nguồn gốc ra đời của dân tộc Việt Nam Đồng thời truyền thuyếtgiúp cho nhân dân ta nhận thức về lịch sử trong suốt quá trình phát triểncủa lịch sử dân tộc, lịch sử dựng nước, giữ nước, và chống giặc ngoại xâmcủa chính dân tộc mình để làm khơi dậy tinh thần tự hào dân tộc trong bảnthân mỗi thành viên cộng đồng đó

Hiện nay trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam thì các tác phẩm

về thể loại truyền thuyết được sưu tầm khá nhiều, bao gồm nhiều vấn đềcủa nhiều thời kỳ lịch sử khác nhau, nhiều sự kiện, nhiều nhân vật lịch sửkhác nhau trong quá trình phát triển của dân tộc Do vậy chúng ta có nhiềucách phân chia truyền thuyết ra thành nhiều loại như sau:

Cách thứ nhất: Chúng ta có thể chia thể loại truyền thuyết ra làm 2loại đó là: Truyền thuyết anh hùng ( thời kỳ Văn Lang - Âu lạc) và truyềnthuyết lịch sử ( thời kỳ Bắc thuộc trở về sau) Trong đó truyền thuyết thời

Trang 11

kỳ Văn Lang - Âu Lạc bao gồm rất nhiều câu chuyện truyền thuyết làm cơ

sở hình thành nên nền văn hóa tinh thần đặc trưng của dân tộc Việt Nam Cách thứ hai: Truyền thuyết cũng được phân thành 2 loại đó là truyềnthuyết hoang đường ( thời kỳ Văn Lang - Âu Lạc) và truyền thuyết lịch sử (thời kỳ Bắc thuộc trở về sau)

Cách thứ ba: Phân chia truyền thuyết theo phân kỳ lịch sử, bao gồmcác truyền thuyết sau: Truyền thuyết thời kỳ dựng nước; Truyền thuyết thời

kỳ Bắc thuộc; Truyền thuyết thời phong kiến tự chủ; Truyền thuyết thờiPháp xâm lược

Cách thứ tư: Phân chia truyền thuyết theo nội dung truyền thuyết:Truyền thuyết theo địa danh là những câu truyện kể về nguồn gốc lịch

sử của những tên gọi địa lý khác nhau hoặc về nguồn gốc của bản thânnhững địa điểm, địa hình và sự vật địa lý ấy như Sự tích Sông Thủ Huồn;

Sự tích Sông Nhà Bè; Sự tích Hồ Gươm; Sự tích Núi Tản Viên… Nhữngđịa danh được giải thích bằng truyền thuyết đều gắn với lịch sử, phản ánhlịch sử, sự kiện lịch sử

Truyền thuyết phổ hệ là truyện kể dân gian về nguồn gốc các thị tộc,

bộ lạc, các làng xã tiêu biểu như truyền thuyết về Hùng Vương vừa làtruyền thuyết về lịch sử vừa là truyền thuyết phổ hệ, vừa là truyền thuyết vềđịa danh liên quan đến vùng đất tổ Đền Hùng - Phú Thọ

Truyền thuyết về nhân vật, sự kiện lịch sử còn gọi là truyền thuyết lịch

sử Truyền thuyết này có mục đích tái hiện sự thật lịch sử, ít mang tính địaphương vì sự kiện, nhân vật thường có ảnh hưởng đến đời sống toàn dânnhư những truyền thuyết chống giặc ngoại xâm, chống phong kiến ápbức…

Tóm lại, có rất nhiều cách phân chia truyền thuyết khác nhau dựa vàonội dung của từng tác phẩm nhưng điều quan trọng nhất đó là chúng ta phảihiểu được những giá trị lịch sử, giá trị văn hóa quý giá ẩn chứa bên trongcác tác phẩm tuyền thuyết của dân tộc ta Để từ đó hiểu thêm về nguồn gốc

Trang 12

của dân tộc, khơi dậy niềm tự hào đất nước cũng như góp phần gìn giữ vàphát triển các thể loại truyền thuyết trong thời đại ngày nay.

1.1.2 Đặc điểm của truyền thuyết

Truyền thuyết là thể loại văn học dân gian ra đời từ rất sớm, gắn liềnvới lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Cũng như những thể loạivăn học dân gian khác, truyền thuyết mang những đặc điểm cơ bản sau:

1.1.2.1 Yếu tố hư cấu

Truyền thuyết là một loại hình sáng tác nghệ thuật nên yếu tố hư cấuđóng một vai trò hết sức quan trọng nhưng phải dựa trên những cơ sở hiệnthực đáng tin cậy đó là sự kiện lịch sử và nhân vật lịch sử

Bản chất của truyền thuyết là sự kết hợp giữa lịch sử với sức sáng tạonghệ thuật của nhân dân Lịch sử là chất liệu, là đề tài nhưng để trở thànhtruyền thuyết thì các tình tiết trong tác phẩm phải được nhào nặn lại bằng

“tâm tình”, bằng sức tưởng tượng, lý tưởng hóa của tư duy nghệ thuật Vàtruyền thuyết không phải là bê nguyên xi, sao chép lại lịch sử một cáchmáy móc mà lịch sử đi vào truyền thuyết theo nguyên tắc, phương pháp vàđược tổ chức lại một cách lôgíc theo các sáng tác của nhân dân Vì thế màtrong truyền thuyết vừa có văn vừa có sử, vừa có “ thơ” vừa có “ mộng”,đúng như lời phát biểu của Thủ Tướng Phạm Văn Đồng trong dịp Giỗ tổHùng Vương 10/3 âm lịch trên báo Nhân Dân ngày 29/4/1969 đã nói: “Truyền thuyết dân gian thường có một cốt lõi là sự thực lịch sử mà nhândân ta qua nhiều thế kỷ đã lý tưởng hóa gửi gắm vào đó tâm tình thiết thacủa mình cùng với thơ và mộng, chắp đôi cánh của sức tưởng tượng vànghệ thuật dân gian làm nên những tác phẩm văn hóa mà đời đời con người

ưa thích”

Đây chính là đặc điểm riêng, nổi bật và hết sức độc đáo của thể loạitruyền thuyết Truyền thuyết vừa phảng phất yếu tố thần kỳ, hoang tưởngnhưng mang bóng dáng của sự thật lịch sử Điều này đã trở thành yếu tố cốtlõi, định hướng cho các sáng tác của nhân dân khi sáng tác ra các câu

Trang 13

chuyện truyền thuyết đồng thời cũng là cơ sở khoa học giúp các nhà nghiêncứu lịch sử tìm hiểu một cách dễ dàng khi nghiên cứu về cội nguồn của dântộc ta

Vì thế để hiểu đúng và chính xác về nội dung của các câu chuyệntruyền thuyết chúng ta phải biết “ gặn lọc” những yếu tố hoang đường, thầnthoại trong đó để nhìn thấy được những giá trị lịch sử đúng đắn ẩn chứabên trong truyền thuyết mà ta nghiên cứu

1.1.2.2 Tính khái quát hóa và cụ thể hóa

Trong truyền thuyết tính khái quát hóa và cụ thể hóa kết hợp chặt chẽvới nhau tạo cho cốt chuyện và cho nhân vật vừa mang tính nghệ thuật lạivừa mang tính lịch sử cụ thể Và sự kết hợp của 2 khuynh hướng này luônluôn có sự thay đổi làm thay đổi diện mạo của truyền thuyết Cụ thể:

Ở thời kỳ Văn Lang cổ đại, truyền thuyết mang tính chất sử thi anhhùng và chịu ảnh hưởng của thần thoại Tính chất huyền ảo, hoang đườngđậm nét nhất là trong các truyền thuyết mô tả lại chiến công của các vị anhhùng giữ nước của Vua Hùng dựng nước, Thánh Gióng, An DươngVương…

Ở thời kỳ sau thì tính cụ thể lịch sử lại được thể hiện rõ hơn Các nhânvật lịch sử được mô tả rõ ràng, chân thực gắn liền với đời sống của nhândân kiểu như truyền thuyết về Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Ngô Quyền…

Tính cụ thể xác thực là đặc trưng nổi bật nhất của thể loại truyềnthuyết Nếu như Thần thoại chỉ là những câu truyện về các vị thần theo trítưởng tượng của con người sáng tạo ra, mang tính chất hoang đường, kỳ ảo,siêu nhiên thì truyền thuyết lại được nhân dân sáng tác dựa trên những câuchuyện gắn liền với lịch sử của dân tộc ta Vì thế cho nên tính cụ thể, xácthực đã trở thành đặc trưng nổi bật nhất để phân biệt truyền thuyết với cácthể loại văn học dân gian khác Trong truyền thuyết: tên người, tên đất, thờigian, không gian cụ thể thường rất được coi trọng và tác giả đã dùng chínhnhững dữ kiện ấy để đặt tên cho tác phẩm truyền thuyết Tiêu biểu như

Trang 14

Truyền thuyết Hùng Vương kể về 18 đời Vua Hùng dựng nước ở Việt Trì Phú Thọ, hay Truyền thuyết Thánh Gióng, Truyền thuyết An DươngVương… Các yếu tố này đã có đóng góp hết sức quan trọng cho các nhànghiên cứu sử học sau này vào việc dựng lại không khí lịch sử, tạo tính xácthực lịch sử cho các tác phẩm truyền thuyết.

-Và đến ngày nay thì yếu tố hoang đường, hư cấu đã dần dần bị mất đitrong thể loại truyền thuyết Hầu hết tất các truyền thuyết thời hiện đạithường gắn liền với đời sống của nhân dân, phản ánh những mong muốn và

mơ ước của con người hiện đại và yếu tố hoang đường gần như được loại

bỏ hoàn toàn nhưng xét cho đến cùng thì điều kiện cho để truyền thuyết sựtồn tại thì truyền thuyết phải có sự gắn bó chặt chẽ và đan xen nhau giữa 2yếu tố hoang đường và lịch sử

1.1.2.3 Đặc điểm nhân vật

Khác với thế giới nhân vật trong thần thoại, các nhân vật thần linhtrong thần thoại do nhân dân tự sáng tác ra như Thần Trụ Trời, Nữ Oa,Thần Nông… có sức mạnh hết sức to lớn, chi phối toàn bộ cuộc sống củacon người trần thế thì ở thế giới nhân vật của truyền thuyết, các vị thần lại

là hình ảnh nhân hóa của những vị anh hùng phi thường trong lịch sử Hìnhảnh của những con người nổi bật ở một lĩnh vực cai quản đất nước như VuaHùng, trong vấn đề trị thủy như Sơn Tinh hay ở trong lĩnh vực chống giặcngoại xâm như Thánh Gióng… mà nhân dân ta ngưỡng mộ, hướng về họ

Các nhân vật truyền thuyết gắn bó mật thiết với cuộc sống của cộngđồng, họ là con người của cộng đồng, họ không phải là thần thánh bởi vì họ

có lai lịch con người rõ ràng nhưng họ cũng không phải là con người bìnhthường, nhỏ bé và bất hạnh Họ phi thường với sức mạnh ngang tầm vớithần linh và những hành động của họ mang tính thần kỳ và mạnh mẽ

Có thể nói rằng, sự chuyển đổi nhanh chóng “ trung tâm” là các nhânvật trong nội dung truyền thuyết đã phản ánh sự nối tiếp và phát triển tronglịch sử phát triển của các thể loại văn học dân gian, nó xuất phát từ thế giới

Trang 15

thần linh đến người anh hùng mang tính chất thần kỳ và rồi lại quay trở vềvới những con người bình thường - con người đúng nghĩa là con người.Điều này phần nào đã phản ánh rõ nét sự phát triển trong nhận thức của bảnthân con người: từ những quan niệm hướng ngoại thời nguyên thủy conngười đã dần hướng đến những quan điểm hướng nội, nhận thức ngày cànggắn liền với cuộc sống và con người thì ngày càng ý thức được rõ hơn vềbản thân mình, về sức mạnh tiềm ẩn bên trong con người mình Với tinhthần đoàn kết con người có thể chiến thắng tất cả mà không cần đến sứcmạnh của Thần linh hay Thượng Đế tạo ra nữa

Tóm lại, truyền thuyết là một gạch nối, một mắt xích nối liền thầnthoại với các thể loại văn học dân gian khác, nó là bước chuyển tiếp bảođảm tính liên tục hoàn chỉnh, hợp lý trong cơ cấu thể loại cũng như trongtiến trình lịch sử phát triển của loại hình tự sự dân gian

1.2 Nội dung của truyền thuyết Hùng Vương

Trong kho tàng thần thoại, truyền thuyết của nước ta, nếu như nhữngcâu chuyện thần thoại về khởi nguyên của vũ trụ, về sự xuất hiện của loàingười không được ghi chép lại một cách có hệ thống và cũng không để lạinhững ấn tượng sâu đậm thường trực trong trí nhớ của nhân dân, thì trái lạinhững câu chuyện truyền thuyết liên quan đến lịch sử xuất hiện của cư dânLạc Việt và sự ra đời của đất nước Văn Lang ở thời đại Hùng Vương nhưTruyền thuyết Mẹ Âu Cơ đẻ ra “ một bọc trăm trứng” nở ra một trăm ngườicon trai lấy hiệu là Hùng Vương cai trị đất nước Văn Lang; Các kỳ tích củaCha Lạc Long Quân diệt trừ các loài yêu quái để ổn định nơi cư trú; Truyềnthuyết Sơn Tinh - Thủy Tinh tranh giành công chúa Ngọc Hoa gây ra lũ lụthàng năm cho nhân dân; Truyền thuyết Thánh Gióng đánh giặc Ân… lạiluôn luôn được khắc sâu trong tâm khảm của mọi thế hệ người Việt từ xưađến nay

Giữ gìn và phát huy những các truyền thống dân tộc được đúc kếttrong các truyền thuyết thời đại Hùng Vương đã có ý nghĩa hết sức to lớn

Trang 16

đối với dân tộc Việt Nam Bởi vì, trong suốt hơn một nghìn năm Bắc thuộc,

do chính sách “ đồng hóa” của những kẻ xâm lược đối với nhân dân VănLang nhằm xóa đi những truyền thống văn hóa đặc trưng của dân tộc ViệtNam Cùng với đó là sự giao lưu, tiếp xúc hàng ngày của người dân vớidân tộc khác đã làm cho đời sống của người dân Lạc Việt không thể khôngchịu ảnh hưởng và tiếp thu một phần văn hóa Phương Bắc Đứng trước sự

“đe dọa” nền Văn hiến Văn Lang - Âu Lạc của dân tộc có nguy cơ ngàymột phai nhạt, thì trong tâm trí của người dân Lạc Việt lại luôn luôn ghinhớ và gìn giữ lấy nguồn gốc ra đời của dân tộc mình, gìn giữ tiếng nóichung và những phong tục cổ truyền của người dân Lạc Việt… Người dânVăn Lang đã gìn giữ những giá trị văn hóa ấy thông qua nội dung cáctruyền thuyết thời đại Hùng Vương, hay trên những đồ đồng, đồ dùng sinhhoạt hàng ngày của người Lạc Việt, trên các họa tiết đồng Đông Sơn thờiđại Vua Hùng

Các truyền thuyết thời đại Hùng Vương đã phần nào phản ánh lịch sử,thể hiện niềm tin, sức mạnh đoàn kết của người Văn Lang trong việc đấutranh chống lại tự nhiên, chống lại những kẻ thù xâm lược để bảo vệ đấtnước Niềm tin ấy, sức mạnh ấy đã trở thành bản lĩnh kiên cường của conngười Việt Nam khi đứng trước những khó khăn, thử thách do lịch sử gây

ra tạo thêm động lực, thêm sức mạnh chiến đấu cho cả dân tộc ta, để cả dântộc ta vượt qua được “ những đêm dài” Bắc thuộc khắc nghiệt để tồn tại vàđược lưu truyền mãi về sau

Tác giả Vũ Kim Biên trong tác phẩm “ Truyền thuyết Hùng Vương_ Thần thoại vùng đất tổ” đã sưu tầm và biên soạn lại một cách có hệ thống

các câu chuyện về thời đại Hùng Vương Truyền thuyết Hùng Vương làmột bộ truyền thuyết bao gồm 23 câu truyện kể về nguồn gốc ra đời củacon người Lạc Việt, ca ngợi những chiến công của nhân dân Văn Langtrong việc chống lại sức mạnh của tự nhiên, của kẻ thù xâm lược, cùng với

Trang 17

công lao to lớn trong việc dựng nước và giữ nước của 18 vị Vua Hùng…Đểxây dựng nên một đất nước Văn Lang - Âu Lạc phồn thịnh và hùng mạnh Các truyền thuyết thời đại Hùng Vương thể hiện các nội dung chủyếu sau đây:

Thứ nhất: Truyền thuyết thời đại Hùng Vương đã thể hiện ý thức tự

hào về tổ tiên, về nòi giống Rồng - Tiên cao quý của dân tộc Việt Nam.

Khi nói đến nguồn gốc ra đời của dân tộc thì người dân Việt Namkhông ai lại không tự hào về nguồn gốc Rồng - Tiên của dân tộc mình Đóchính là một truyền thống đặc trưng, đầy tự hào của dân tộc ta Khác vớicác dân tộc khác trên thế giới, dân tộc Việt Nam đã chứng minh đượcnguồn gốc ra đời của dân tộc mình thông qua truyền thuyết cổ xưa nhất cònlưu truyền tới tận ngày nay đó là truyền thuyết Lạc Long Quân - Âu Cơ.Truyền thuyết Lạc Long Quân - Âu Cơ bao gồm nhiều sự tích sâu chuỗivới nhau, kể về cuộc tình duyên lịch sử giữa người dũng sĩ Lạc Long Quânvới nàng tiên Âu Cơ xinh đẹp dẫn đến sự ra đời của cái bọc trăm trứng, nở

ra một trăm chàng trai khôi ngô tuấn tú, rồi một nửa theo mẹ lên núi, mộtnửa theo cha xuống biển…cùng nhau xây dựng cơ nghiệp đất nước Nguồngốc của dân tộc ta đã được thần thánh hóa và quan niệm “ con rồng cháutiên” đã trở nên quên thuộc với nhân dân Việt Nam ta hàng bao đời nay, làniềm tự hào của mỗi người dân Việt Nam khi nói về nguồn gốc hình thànhcủa dân tộc mình

Ngoài ra, hình ảnh “ bọc trăm trứng” nở ra trăm người con trai khôngchỉ là hình ảnh thể hiện sự sinh sôi nảy nở của dân tộc vốn có chung mộtnguồn gốc đó là nguồn gốc Rồng - Tiên_nguồn gốc cao quý của dân tộcViệt Nam mà hình ảnh đó còn thể hiện tinh thần đoàn kết, tình cảm cộngđồng của những người con cùng sinh ra từ “ một bọc trăm trứng”, cùngnhau bảo vệ đất nước khi đất nước bị lâm nguy

Như vậy, truyền thuyết Lạc Long Quân - Âu Cơ đã trở thành “ bản ghichép” giới thiệu về nguồn gốc của dân tộc Việt Nam, đồng thời cũng là bản

Trang 18

“ anh hùng ca” ca ngợi công lao của các vị Vua Hùng đã có cộng dựngnước và giữ nước của dân tộc để con cháu chúng ta sau này khi tìm hiểu vềcội nguồn dân tộc mình càng thêm tự hào về nguồn cội, về truyền thốngyêu thương, đoàn kết của dân tộc Việt Nam.

Thứ hai: Truyền thuyết thời đại Hùng Vương phản ánh tinh thần

dũng cảm, tinh thần đoàn kết nhân dân để chiến thắng mọi khó khăn do thiên tai, dịch bệnh gây ra.

Người dân Văn Lang quan niệm rằng con người sinh ra từ tự nhiên,sống trong tự nhiên, vì thế họ phải cùng nhau gìn giữ và bảo vệ tự nhiên

Tự nhiên trở thành ngôi nhà che chở cho cuộc sống của người dân Tuynhiên, trong tự nhiên lại luôn luôn tiềm ẩn rất nhiều tai họa khủng khiếprình rập, đe dọa cuộc sống của con người như: thiên tai, lũ lụt, hạn hán,dịch bệnh… làm cho cuộc sống của con người ngày càng trở nên khó khăn

và nguy hiểm Vì thế để tồn tại được trong điều kiện tự nhiên khắc nghiệtnhư vậy, người dân Văn Lang phải đoàn kết cùng nhau chống lại các thảmhọa do thiên nhiên gây ra

Truyền thuyết Sơn Tinh - Thủy Tinh đã thể hiện rõ tinh thần đoàn kếtcủa nhân dân Văn Lang chống lại sự khắc nghiệt của thiên nhiên Chỉ cần

có tinh thần đoàn kết thì con người sẽ vượt qua tất cả những khó khăn dothiên nhiên, hay do con người gây ra Thủy Tinh tượng trưng cho sức mạnhcủa tự nhiên là Thần Nước Sơn Tinh tượng trưng cho sức mạnh của tậpthể, của toàn thể nhân dân Văn Lang đó là Thần Núi Hình ảnh Sơn Tinhchính là sản phẩm của tinh thần đoàn kết toàn thể nhân dân Văn Lang trongcuộc đấu tranh chống lại sức mạnh của tự nhiên để bảo vệ xóm làng, bảo vệmùa màng, bảo vệ thành quả lao động của người dân trước sức mạnh pháhoại của thiên nhiên Sơn Tinh đã trở thành vị thần che chở cho nhân dânVăn Lang được người dân yêu mến và thờ phụng

Thông qua Truyền thuyết Sơn Tinh - Thủy Tinh nhân dân Văn Lang

đã phản ánh những kỳ tích tập thể mà người dân đã đạt được trong công

Trang 19

cuộc lao động chinh phục thiên nhiên, là sức mạnh chiến thắng tất cảnhững lực lượng thù địch của người dân Văn Lang Ngoài ra, truyền thuyếtcũng đã khẳng định quyền làm chủ của nhân dân trên cả ba vùng tiêu biểucủa đất tổ là vùng biển, đồng bằng và trung du Xác định địa bàn cư trú ổnđịnh của dân tộc để nhân dân ta yên tâm sinh sống hòa bình, hăng say laođộng và ra sức bảo vệ thành quả lao động của chính mình.

Thứ ba: Truyền thuyết thời đại Hùng Vương thể hiện lòng thiết tha

yêu mến quê hương, bảo vệ xứ sở và địa bàn cư trú của mình.

Trong lịch sử phát triển của dân tộc Việt Nam, đất nước ta đã phải trảiqua rất nhiều cuộc đấu tranh chống giặc ngoại xâm để bảo vệ đất nước, bảo

vệ chủ quyền dân tộc Ở thời đại Hùng Vương, đất nước ta cũng khôngtránh được “ sự dòm ngó” của các nước phong kiến Phương Bắc muốnchiếm nước ta để cai trị Nhân dân Văn Lang với lòng yêu nước nồng nàn,yêu quê hương tha thiết đã đoàn kết nhau lại để đấu tranh chống lại nhữngthế lực xâm lược hùng mạnh Nhân dân Văn Lang đã xây dựng nên hìnhtượng Thánh Gióng là người đại diện tiểu biểu nhất của dân tộc Việt Nam

ta về sức mạnh chống giặc ngoại xâm và ý chí quật cường của dân tộc Sứcmạnh ấy là sức mạnh tổng hợp của tinh thần và vật chất, của con người và

vũ khí, của cá nhân và cộng đồng đã làm nên chiến thắng lẫy lừng của dântộc ta trước kẻ thù xâm lược hung bạo đó là giặc Ân

Chi tiết cậu bé sinh ra ba năm không nói, không cười, không khócnhưng khi đất nước có giặc ngoại xâm, khi nghe tiếng truyền hịch của sứthần cần người hiền tài giúp nước chống giặc thì ngay lập tức biết nói vàtiếng nói đầu tiên là tiếng nói hưởng ứng lời kêu gọi cứu nước Đó là chitiết thể hiện sức mạnh tiềm ẩn của nhân dân, của dân tộc, thể hiện tinh thầncứu nước là trên hết, là trước tiên nhất ở mỗi con người, bất kể già - trẻ -gái - trai Sức mạnh ấy có trong mỗi con người Việt, khi quốc gia cần thìvươn dậy, quật khởi và tự nhiên Sức mạnh ấy không chỉ là sức mạnh củamột con người, một siêu nhân mà là sức mạnh của toàn cộng đồng bộ tộc

Trang 20

hun đúc nên (từ gạo cơm, cà, mắm muối của cộng đồng góp lại nuôi Giónglớn lên) Đó là sức mạnh của sự kết hợp giữa những người đứng đầu bộ tộcvới mọi thành viên Sức mạnh của một đội quân hình thành nhanh chóngtrong hoàn cảnh đất nước nguy cấp, sức mạnh của đồng tâm hiệp lực, củatinh thần vật chất, của lương thực, của vũ khí…

Truyền thuyết kết thúc với chiến thắng oanh liệt và hình ảnh “ Gióngbay về trời” đã làm cho kết cấu của chuyện chặt chẽ, trọn vẹn và ý nghĩa vôcùng sâu sắc Đó là bài học thể hiện triết lý sống cao cả của nhân dân: sốngvới tinh thần vị tha, hy sinh tất cả cho dân cho nước Không mưu cầu lợidanh, chiến đấu cho hạnh phúc của cộng đồng, cho cuộc sống bình yên củađất nước là nghĩa vụ thiêng liêng của mối thành viên trong cộng đồng màkhông đợi tôn vinh, ghi danh Nhân dân đã để cho Gióng lặng lẽ hóa vàocõi vĩnh hằng, để rồi trở thành bất tử trong tâm thức của người dân ViệtNam qua bao nhiêu thế hệ Để tưởng nhớ công lao to lớn của vị anh hùng

đã có công dựng nước và bảo vệ tổ quốc Ngày nay, lễ hội Đền Gióng đượcnhân dân ta tổ chức trọng thể vào tháng ba (âm lịch) hàng năm

Các truyền thuyết thời đại Hùng Vương không chỉ ca tinh thần đoànkết, ca ngợi chiến công của nhân dân Văn Lang trong việc chống giặcngoại xâm mà còn thể hiện tinh thần cảnh giác trước những âm mưu xâmlược nham hiểm của kẻ thù xâm lược

Truyền thuyết An Dương Vương chính là bài học cho sự cảnh giáctrước âm mưu xâm lược của kẻ thù An Dương Vương vì lơ là, mất cảnhgiác, mắc mưu giặc rồi dẫn đến mất nước Mỵ Châu vì quá yêu chồng nênkhông thấy được âm mưu đen tối, thâm hiểm của Trọng Thủy và Triệu Đà

Để xâm chiếm nước khác thì kẻ thù không từ một thủ đoạn nào dù là nhỏnhất Vì thế chúng ta phải đề cao tinh thần cảnh giác, không được chủ quan

mà dẫn đến mắc mưu địch mất nước

Truyền thuyết đã thể hiện triết lý sâu sắc về bài học giữ nước của dântộc Việt Nam ta đó là: khi chúng ta đề cao cảnh giác, phòng bị chắc chắn,

Trang 21

nhân dân trên dưới một lòng cùng nhau bảo vệ đất nước thì tất yếu sẽ dẫntới thắng lợi của đất nước, chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược Còn khi chủquan, lơ là, mất cảnh giác trước những mưu đồ của giặc thì sớm muộn cũng

sẽ dấn đến mất nước

Bài học cảnh giác này đã trở thành kinh nghiệm quý giá của cha ông

ta để lại cho thế hệ mai sau trong công cuộc đấu tranh và bảo vệ đất nướcViệt Nam ta sau này

Tiểu kết chương 1:

Như vậy, thông qua nội dung của các truyền thuyết về thời đại HùngVương đã đem lại cho chúng ta những tri thức quý giá về cuộc sống sinhhoạt, về tâm tư, tình cảm của nhân dân Lạc Việt thời đại Vua Hùng Là cơ

sở để hình thành nên những truyền thống quý báu của dân tộc Việt Nam tanhư truyền thống yêu nước chống giặc ngoại xâm, truyền thống tự hào vềnguồn cội của dân tộc, ca ngợi tinh thần đoàn kết dân tộc để chống lạinhững khó khăn do thiên tai dịch bệnh gây ra, bảo vệ quê hương sứ sở…Những truyền thống văn hóa này đã trở thành một nét đẹp văn hóa đượccha ông ta từ ngàn xưa gìn giữ và lưu truyền cho tới tận ngày nay

Trang 22

Chương 2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ NHÂN SINH QUAN TRONG TRUYỀN THUYẾT THỜI ĐẠI HÙNG VƯƠNG

2.1 Quan niệm về đời người

Trong lịch sử, để hình thành nên con người thời đại ngày nay thì conngười phải trải qua rất nhiều giai đoạn phát triển Và trong mỗi một giaiđoạn phát triển thì con người lại có những quan niệm khác nhau về sự hìnhthành con người, về cuộc sống của con người, về mối quan hệ giữa conngười với con người trong cùng xã hội Ở thời đại Hùng Vương hầu hết cácquan niệm về con người và đời sống của con người lại được hình thành dựatrên cơ sở của các truyền thuyết dân gian Các truyền thuyết thời đại HùngVương đã ẩn chứa một kho tàng lý luận phong phú, đa dạng phản ánh mộtcách sâu sắc cuộc sống sinh hoạt và những tâm tư tình cảm của người dânVăn Lang lúc bấy giờ

2.1.1 Sự hình thành con người

Dưới con mắt của người dân Văn Lang thì mọi vật đều được sinh ra từtrời và đất Đất là nơi nâng đỡ và nuôi nấng muôn loài giống như vai tròcủa người mẹ Trời mang đến cho thế giới ánh sáng, không khí, nước…gópphần duy trì sự sống giống như vai trò của một người cha Do đó, khi trờiđất giao hòa, âm dương kết hợp thì sẽ sinh sôi nẩy nở ra muôn loài trên thếgiới Và sự hình thành của con người cũng gắn liền với trời và đất

Truyền thuyết Lạc Long Quân - Âu Cơ là truyền thuyết ra đời sớmnhất trong lịch sử văn học dân gian Việt Nam Một mặt, truyền thuyết đãthể hiện tâm tư, tình cảm của người dân Văn Lang đó là cầu mong sự sinhsôi, nảy nở của muôn loài, của trời đất, với ước mong “con đàn cháu đống”,

Trang 23

Long Quân - Âu Cơ còn ẩn chứa trong đó cả những tư tưởng duy vật về sựhình thành con người của người dân Văn Lang.

Truyền thuyết Lạc Long Quân-Âu Cơ là câu chuyện tình duyên tuyệtđẹp của chàng trai tuấn tú Lạc Long Quân với nàng tiên nữ Âu Cơ xinh đẹp

Âu Cơ có mang ba năm ba tháng mười ngày thì chuyển dạ sinh ra “ một bọctrăm trứng”, đến một tháng sau thì trăm quả trứng nở thành trăm người contrai Hình ảnh Nàng Âu Cơ tượng trưng cho đất, hình ảnh Lạc Long Quântượng trưng cho trời và sự giao thoa giữa trời và đất đã tạo nên con người vàvạn vật trong vũ trụ Như vậy, vạn vật trên thế giới không phải tự dưng mà

có mà chúng được sinh ra từ những yếu tố nhất định đó là trời và đất

Trời tượng trưng cho khí dương, đất tượng trưng cho khí âm Cha LạcLong Quân tượng trưng cho sự sống còn mẹ Âu Cơ tượng trưng cho nguồndinh dưỡng nuôi nấng sự sống Hai yếu tố âm - dương là hai yếu tố đối lậpnhau song sự kết hợp của hai nhân tố này trong một thể thống nhất lại lànguồn gốc tạo ra sự sống và tạo ra thế giới Như vậy, tất cả các sự vật, hiệntượng tồn tại trên thế giới này dù có phong phú đa dạng tới đâu thì chúngcũng đều có chung một nguồn gốc đó là “ cha trời - mẹ đất”

Truyền thuyết Lạc Long Quân - Âu Cơ đã chứa đựng một tư tưởng hếtsức duy vật của người dân Văn Lang về sự hình thành con người Khác vớiquan niệm trước kia xem con người là sản phẩm của chúa trời sinh ra, conngười cũng như những loài động vật khác trên thế giới đều là do Thượng

Đế tạo ra Trong thế giới thần thoại, con người ra đời một cách ngẫu nhiêntrong một lần “ hạ phàm” xuống trần gian du ngoạn của nàng tiên Nữ Oa

Nữ Oa đã lấy đất bùn đắp thành một hình tượng nhỏ theo hình ảnh củachính mình, rồi đặt tượng đó xuống đất Nó liền sống dậy, gọi Nữ Oa bằng

mẹ rồi chạy nhảy không ngừng và bà đặt tên nó là Con người Như vậy,nguồn gốc ra đời của con chủ yếu hình thành từ trong trí tưởng tượng củacủa con người mà ra chứ chưa gắn với yếu tố vật chất khi giải thích vềnguồn gốc con người

Trang 24

Nhưng qua truyền thuyết Lạc Long Quân và Âu Cơ thì giai đoạn này

đã có bước phát triển mới về quan niệm hình thành con người, nó chứađựng một tư tưởng hết sức duy vật về sự ra đời của con người Cũng nhưcác quan niệm của người Phương Đông khi quan niệm về sự ra đời conngười thì con người được sinh ra từ sự kết hợp của các vật chất cụ thể nhưkim, mộc, thủy hỏa, thổ … Thì theo quan niệm của người dân Văn Lang,con người là sự kết hợp của hai phần: “phần hồn” và “phần xác” Phần xác

có thể nhìn thấy được còn phần hồn thì không thể thấy được và cũng khôngthể nắm bắt được nên con người đã thần thánh hóa nó lên thành các yếu tốtâm linh để cúng bái và thờ phụng Trong phần hồn được chia thành haiphần là: “ phần hồn” và “ phần vía” Con người có ba hồn nhưng phần víathì ở nam có bảy còn ở nữ thì có chín “ Phần xác” của con người lại đượcsinh ra từ “bọc trứng” của mẹ Âu Cơ “ Bọc trứng” là một dạng vật chất cụthể, dưới tác động đầy đủ của của các yếu tố bên ngoài như nhiệt độ, ánhsáng, không khí thì trứng sẽ tự nở, gắn liền với sự hài hòa của trời đất Conngười được sinh ra không phải do Thượng Đế, do Nữ Oa nặn đất sét màthành mà là do yếu tố vật chất cụ thể tạo ra Do vậy, quan niệm về sự hìnhthành con người giai đoạn này chứa đựng yếu tố duy vật Tuy còn sơ khainhưng họ cũng đã thấy được rằng sự hình thành con người gắn với yếu tốvật chất

Trong truyền thuyết mẹ Âu Cơ sinh ra một bọc tăm trứng, nở ra mộttrăm người con, năm mươi lên rừng, năm mươi xuống biển Hình ảnh bọctrứng của mẹ Âu Cơ vừa cơ sở để giải thích nguồn gốc hình thành conngười của người dân Việt Nam đồng thời đó cũng là hình ảnh minh chứngcho tinh thần đoàn kết của con người Việt Nam xưa tới nay Cùng sinh ra

từ một bọc trăm trứng, cùng có chung một dòng máu Tiên - Rồng, là niềm

tự hào của mỗi người dân Việt Nam khi tìm hiểu về nguồn gốc của dântộc mình

Trang 25

Như vậy, con người cũng như vạn vật trong tự nhiên đều được sinh ra

từ sự biến hóa lâu dài của trời đất chứ không phải do bất kỳ một đấng sángtạo nào tạo ra Con người là sản phẩm tiến hóa, phát triển lâu dài của tựnhiên Thế giới tự nhiên luôn luôn vận động và phát triển từ thấp tới cao, từchưa hoàn thiện đến hoàn thiện, và đỉnh cao là con người Con người làmột thực thể sống, có quá trình trao đổi chất với môi trường xung quanh,

có tâm sinh lý, có nhu cầu vật chất nhất định Con người trong qua sinh tồntại của mình không chỉ tác động và tự nhiên, làm biến đổi thế giới tự nhiên

mà con người còn quan hệ với nhau tạo nên bản chất con người Chính tưtưởng này đã chống lại các quan điểm duy tâm của tôn giáo khi cho rằngcon người và vạn vật là do thượng đế sinh ra, là sản phẩm của chúa trời tạo

ra để khẳng định nguồn gốc ra đời của con người và vạn vật trong vũ trụ là

do sự vận động và phát triển lâu dài của tự nhiên

Vậy, qua cách nhìn về cuộc sống của người dân Văn Lang, chúng ta

đã thấy được rằng ngay từ đầu người dân Văn Lang đã có cái nhìn hết sứcduy vật về nguồn gốc của sự sống Sự sống không phải ở đâu xa sôi mà nónằm ngay ở trong những thứ gần gũi với cuộc sống của chúng ta đó là trời,

là đất, là môi trường sống tự nhiên

Từ việc quan sát các hiện tượng thực tế diễn ra trong cuộc sống giúpchúng ta có cái nhìn sâu sắc về bản chất con người của cư dân Văn Lang

Âu Lạc Điều này, giúp làm rõ yếu tố nhân sinh quan trong khía cạnh bảnchất con người Bản chất của con người được thể hiện rõ không chỉ tronglao động mà còn được thể hiện trong các mối quan hệ của các cộng đồngdân cư Điều này đã đánh dấu một bước phát triển mới trong tư duy củangười dân Văn Lang về việc lý giải một cách duy vật về bản chất con ngườitrong thời đại Hùng Vương nói riêng và con người Việt Nam nói chung.Điều này đã được triết học Mác - Lênin đã có cái nhìn tổng quát và sâu sắc

về bản chất con người đó là : “ Bản chất của con người không phải là mộtcái trừu tượng cố hữu của cá nhân riêng biệt Trong tính hiện thực của nó

Trang 26

bản chất con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội”(C.Mác vàPh.Ăngghen, Toàn tập, Nxb, Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t3, tr11) Ngoài ra, khi tìm hiểu về thời đại Hùng Vương còn cho ta thấy rõ vềnguồn gốc của sự sống và nguồn gốc ra đời của dân tộc Việt Nam Thậtvậy, theo quan niệm của cư dân Văn Lang con người sinh ra từ bọc trứngcủa mẹ Âu Cơ Năm mươi con theo mẹ lên rừng, năm mươi theo cha xuốngbiển, chia nước mà trị Điều này, cung cấp thêm cách lý giải sự ra đời củacủa các dân tộc trên đất nước Việt Nam hiện nay.

Như vậy, truyền thuyết thời đại Hùng Vương đã có cách nhìn bướcđầu về quan niệm hình thành con người Mặc dù một số nội dung trongtruyền thuyết còn đan xen những tình tiết mang tính chất duy tâm, thần bísong với con mắt nhìn hiện đại của chúng ta sau khi đã tách bỏ những yếu

tố duy tâm, thần bí thì chúng ta sẽ thấy được tính chất duy vật thô sơ, mộcmạc ẩn chứa bên trong truyền thuyết này, đồng thời thông qua truyềnthuyết khẳng định công lao to lớn của người dân Văn Lang đã đạt được lúcbấy giờ kể cả trong tư duy và trong thực tiễn

2.1.2 Đời sống của con người

Thời đại Hùng Vương là giai đoạn đất nước Văn Lang ta ổn định vàthịnh trị Đời sống của nhân dân ấm no, hạnh phúc, nền kinh tế đất nướcphát triển cùng với đời sống tinh thần của nhân dân ngày càng phong phú

và đa dạng vì thế mà thời kỳ này được coi là thời kỳ hình thành nên nềntảng văn hóa của đất nước Việt Nam ta

Thời đại Hùng Vương là thời đại mà đã có rất nhiều nghành khoa họcnghiên cứu thời đại Hùng Vương nói chung và nghiên cứu về đời sống conngười thời đại này nói riêng như văn học, lịch sử, dân tộc học… Nhưng để

có cách nhìn một cách tổng quát nhất và hiểu hơn được về cuộc sống cũngnhư những mối quan hệ xã hội trong đời sống của người dân Văn Lang thìchúng ta cần phải nhìn nhận qua “ lăng kính” của triết học Điều này đã

Trang 27

giúp cho chúng ta bước đầu hiểu rõ hơn về những triết lý nhân sinh trongđời sống của con người thời đại Hùng Vương.

Cùng với triết lý hình thành con người thì người dân Văn Lang còn đặcbiệt quan tâm tới đời sống của con người, mối quan hệ giữa con người vớicon người, giữa con người với tự nhiên… đã được nhân dân thể hiện chủ yếutrên hai mặt của đời sống đó là: đời sống vật chất và đời sống tinh thần

Cư dân Văn Lang - Âu Lạc sống trong thời đại đất nước hòa bình,thịnh trị, đời sống vật chất của người dân được đề cao và chú trọng Đờisống vật chất của người dân Văn Lang gắn liền với sản xuất nông nghiệp

mà đặc biệt là nghành nông nghiệp trồng lúa nước Ngành nông nghiệptrồng lúa nước đã trở thành ngành sản xuất chính có ý nghĩa quyết định đốivới sự tồn tại của cư dân Hầu hết, trong các truyền thuyết thời đại HùngVương như Truyền thuyết Dạy dân trồng lúa; Truyền thuyết Bánh Chưng -Bánh Giầy; Truyền thuyết Bắt trâu kéo cày… đã một lần nữa thể hiện mốiquan hệ gắn bó sâu sắc giữa sản xuất nông nghiệp với đời sống của ngườidân Văn Lang gắn liền với nền văn minh lúa nước Sản phẩm của cây lúa làthóc, gạo…đó là những nguyên vật liệu chính để làm nên hai loại bánh làBánh Chưng và Bánh Giầy mà Lang Liêu làm ra để mang biếu cha mẹ thểhiện lòng hiếu nghĩa của con cái đối với cha mẹ Bánh Chưng và BánhGiầy không chỉ là hình ảnh tượng trưng cho sự giao hòa của trời và đất mà

nó còn chứa đựng mong ước của người dân Văn Lang về sự sinh sôi nảy nởcủa muôn loài, đất nước an bình, thịnh trị

Như vậy, ngành nông nghiệp lúa nước không những ảnh hưởng to lớnđến đời sống của con người mà nó còn giúp hình thành nên những phẩmchất quý báu của người dân Văn Lang Người dân Văn Lang rất coi trọngtình nghĩa, yêu thương nhau, đoàn kết với nhau ngay cả trong lao động sảnxuất và trong các hình thức sinh hoạt cộng đồng khác như lễ hội, tínngưỡng…

Trang 28

Cũng như mọi thời đại khác, ở thời đại Hùng Vương người dân VănLang đã sớm thấy được vai trò của lao động đối với cuộc sống vật chất củamình Lao động chính là nguồn sức mạnh vật chất cung cấp của cải vật chấtcho đời sống con người Chỉ có thông qua lao động thì các như cầu thiếuyếu của con người mới được đảm bảo như ăn, uống, mặc, nhà ở…Vì thếngười dân Văn Lang rất đề cao lao động, coi lao động như là yếu tố quyếtđịnh sự tồn tại của con người, quyết định vận mệnh của đất nước Một quốcgia thịnh trị thì trước tiên phải đảm bảo được đời sống của người dân Mỗimột thành viên trong cộng đồng phải được đáp ứng đầy đủ về cuộc sốngvật chất, về tinh thần

Như vậy, tư tưởng đề cao lao động đã thể hiện một cái nhìn hết sứcduy vật của người dân Văn Lang về đời sống vật chất của mình Họ đã thấyđược tính quyết định của đời sống vật chất đối với sự tồn tại của con người,đối với sự phát triển của đời sống tinh thần Do vậy mà người dân VănLang rất đề cao lao động, hăng say sản xuất với ước mong về một cuộcsống đầy đủ Họ không trông chờ, ỷ lại vào tự nhiên, nơi cung cấp cho conngười nguồn thức ăn sẵn mà họ vẫn chăm chỉ lao động, sống hết mình cholao động, hăng say lao động để tạo ra của cải vật chất nhằm phục vụ chocuộc sống của mình

Và khi đời sống vật chất đã ổn định, đầy đủ thì người dân Văn Langcũng quan tâm rất lớn tới đời sống tinh thần Đời sống tinh thần của ngườidân được thể hiện trong các hình thức sinh hoạt cộng đồng như các lễ hội,phong tục…

Đời sống tinh thần của con người được thể hiện rõ nhất qua các hìnhthức lễ hội thời đại Hùng Vương Khi nói đến lễ hội thì trước hết phải kểđến tục đánh trống đồng Hình thức này được diễn ra rất phổ biến trongcuộc sống của người dân Văn Lang Tiếng trống cất lên mỗi khi đi săn bắn,

đi đánh cá hay là đi chiến đấu Ở các lễ hội của người dân, tiếng trống đãtrở thành một âm thanh không thể thiếu cổ vũ tinh thần của người dân

Trang 29

Ngoài ra, tiếng trống còn có tác dụng rất to lớn trong khi xua đuổi thú dữbảo vệ mùa màng của nhân dân Trong truyền thuyết dạy dân săn lưới, VuaHùng đã dạy “ dân ta nổi hiệu tù và, nện chiêng trống, đốt mồi lửa, ngườingười gậy gộc hò hét ầm trời” [1;23] làm cho thú dữ sợ mà phải bỏ chạy,xua đuổi thú dữ bảo vệ con người

Qua những di tích khảo cổ được tìm thấy ở thời đại Hùng Vươngchúng ta thấy trống đồng không được đánh đơn độc mà hoà tấu từng đôi,từng cặp Điều này đã thể hiện tinh thần đoàn kết của cả dân tộc Tiếngtrống càng to thì tinh thần đoàn kết của dân tộc càng lớn Tiếng trống đồng,

đã trở thành là một yếu tố không thể thiếu để làm nên lễ hội với ý nghĩatượng trưng cho sự sinh sản, thịnh vượng và sự giao hòa của trời đất

Đời sống tinh thần của người dân cư dân Văn Lang là hết sức phongphú, ngoài hình thức đánh trống trong các buổi lễ hội thì có một hình thứckhác đó là hát đối đáp Hát đối đáp là sinh hoạt cộng đồng trong các ngày

lễ lớn, cũng là một tiết mục trong ngày hội Hình thức đối đáp nam nữ khá

là đặc sắc, ở những ngôi nhà sàn mái cong, từng đôi nam nữ ngồi đối diện,lồng chân giao tay vào nhau mà hát bên cạnh có người đánh trống Nộidung hát đối đáp là những câu hò về nội dung cuộc sống, con người vớinhau Đây là một hình thức sinh hoạt cộng đồng thu hút được nhiều ngườitham gia hàm ý cầu mong sự sinh sôi nảy nở được thịnh vượng Như trongtruyền thuyết Hát xoan đã nói lên tầm quan trọng của loại hình nghệ thuậtnày: “ Vợ Vua Hùng mang thai đã lâu tới ngày sinh nở, cứ đau bụng mãi

mà chưa sinh được Người hầu tâu rằng: có nàng Quế Hoa xinh đẹp múagiỏi, hát hay nên đón về múa hát cho Hoàng Hậu đỡ đau và sinh nở được.Hoàng Hậu đón Quế Hoa vào cung Bấy giờ, vợ Vua đau đẻ dữ dội mớibảo Quế Hoa đứng trước giường múa hát Quế Hoa hát hay, múa dẻoHoàng Hậu mải xem múa hát mà không thấy đau Sinh ra được ba ngườicon trai tuấn tú” [1;6]

Trang 30

Như vậy, các lễ hội như hát đố đáp và đánh trống đã thể hiện đời sốngtinh thần của cư dân Văn Lang rất phong phú và đa dạng Thông qua đó,thể hiện những khát vọng của con người về cuộc sống, về sự sinh sôi nảy

nở của muôn loài, cuộc sống được thịnh vượng Nét truyền thống này nókhông chỉ là nét đẹp văn hóa tinh thần của người Việt xưa mà nay còn đượclưu truyền mãi về sau trong suốt lịch sử tồn tại của các lễ hội, nó giữ một vịtrí quan trọng trong đời sống tinh thần con người Việt Nam ngày nay

Ngoài ra, người dân Văn Lang đã thể hiện đời sống tinh thần phongphú của mình thông qua tục lệ cưới xin trong hình tượng đám cưới SơnTinh và Mỵ Nương trong truyền thuyết Sơn Tinh Thủy Tinh Sơn Tinhmang lễ vật đến cầu hôn Mỵ Nương, cùng nhau xây dựng nên cơ nghiệpmới trên vùng đất mới Đó là cuộc hôn nhân một vợ một chồng đánh dấu

sự hình thành của những gia đình cá thể, những lứa đôi gắn kết với nhaumột cách ổn định và hạnh phúc Sau lễ cưới, Mỵ Nương theo Sơn Tinh vềNúi Tản sinh sống đã nói lên sự thay đổi sâu sắc trong xã hội của người dânVăn Lang Người con gái phải theo về nhà chồng đây là một bước tiến hếtsức quan trọng đánh dấu sự thắng lợi bước đầu của tổ chức gia đình và xãhội phụ quyền Những tục lệ cưới xin này đã biểu hiện một phong cách dântộc rất độc đáo đã được bảo lưu và kế thừa mãi về sau như một giá trị vănhóa tinh thần không bao giờ phai nhạt theo năm tháng thời gian

Tóm lại, qua các hình thức lễ hội cũng như các dịp sinh hoạt văn hóathì các thành viên trong công xã Văn Lang đều được tham gia một cáchbình đẳng cả nam lẫn nữ Thể hiện ý nguyện cầu mong việc làm ăn thịnhvượng, sự sinh sôi nảy nở dồi dào và gợi nhớ tới tổ tiên, nguồn gốc dân tộcđồng thời giáo dục và rèn luyện kĩ năng, tinh thần sản xuất chiến đấu củangười dân Văn Lang Ngoài ra, các lễ hội này ở thời đại Hùng Vương đãtrở thành một nét văn hóa nổi bật, bền vững và có tác dụng quan trọng vềnhiều mặt trong đời sống sinh hoạt và tinh thần của người dân Việt Namtrải dài trong suốt thời kỳ lịch sử

Trang 31

Đời sống của con người không chỉ được thể hiện trong các hình thức

lễ hội, sinh hoạt cộng đồng mà đời sống tinh thần của người dân còn đượcthể hiện qua tín ngưỡng của họ

Ở thời đại Hùng Vương hình thức tín ngưỡng được thể hiện hết sức đadạng và phong phú Tín ngưỡng thờ vật tổ được ra đời từ truyền thuyết LạcLong Quân - Âu Cơ đó là tôn tờ hai loài vật: Chim - Rồng Hai loài vật này

đã trở thành Tôtem của người dân Văn Lang, được người dân tôn sùng vàthờ phụng Và việc thực hiện tín ngưỡng thờ vật tổ đóng một vị trí hết sứcđặc biệt trong đời sống tinh thần của người dân Người dân Văn Lang đãthể hiện tín ngưỡng này trong hầu hết các sinh hoạt đời sống của mình nhưnhảy múa trong lễ hội, hóa trang giống như loài chim, hay tục săm mìnhtheo hình thủy quái khi đi săn…Tín ngưỡng này được ra đời, và gắn liềnvới đời sống của người dân, được nhân dân gìn giữ và tôn sùng

Đời sống của người dân Văn Lang gắn liền với một nền nông nghiệp lúanước do vậy họ rất tôn sùng tự nhiên như thờ Thần Mặt Trời, Thần Nước,Thần Núi…Trong nông nghiệp thì nước đóng vai trò hàng đầu, nước gắn liềnvới việc làm ăn mà chủ yếu là làm ruộng Cầu được nước khi thiếu nước, luiđược nước khi thừa nước là những hình thức tín ngưỡng tổng hợp quan trọnghàng đầu của người dân thời đại Hùng Vương Tín ngưỡng này thể hiện mốiquan hệ khăng khít giữa con người với tự nhiên Đời sống của con người gắnliền với tự nhiên Mà sức lực của con người thì lại có hạn không thể nàochống chọi lại hết những hiện tượng do thiên tai gây ra Điều đó cũng phầnnào đã lý giải việc tín ngưỡng đa thần của người dân Văn Lang

Ngoài việc tôn thờ tự nhiên, người dân Văn Lang còn tôn thờ các vịthần đại diện cho sức mạnh đoàn kết của nhân dân như: Vua Hùng, SơnTinh, Thánh gióng, Chử Đồng Tử… đã trở thành một hình thức tín ngưỡng

ở thời đại Hùng Vương Người dân Văn Lang với ý thức về giống nòi, tinhthần đoàn kết, yêu thương giữa các thành viên trong cộng đồng đã dẫn tớiviệc sùng bái tổ tiên và những người có công với đất nước

Trang 32

Vị thần lớn nhất mà người dân sùng bái lúc bấy giờ đó chính là VuaHùng Vua Hùng là người có quyền lực cao nhất trong xã hội Vua Hùngđược người dân Văn Lang tôn thờ như những vị thần tồn tại sẵn trong quanniệm từ trước đấy của con người thời Hùng Vương như: chim - cá( rắnnước, cá sấu) Bên cạnh đó người dân còn sùng kính, tôn thờ những anhhùng văn hóa và anh hùng giữ nước như Sơn Tinh, Thánh Gióng…cùnghàng loạt hình tượng người phụ nữ mà ngay tên gọi thôi đã nói lên vai trò

và công lao của của họ trong sản xuất nông nghiệp như: Bà Đậu, Bà Dâu,

Bà Nành…

Như vậy, qua việc nghiên cứu tín ngưỡng thời đại Hùng Vương đãphản ánh rõ đời sống tinh thần hết sức phong phú của người dân Văn Lang.Tuy các hình thức tín ngưỡng còn pha trộn, chằng chéo lên nhau, chưa đúckết, tập hợp để nảy sinh ra và hình thành nên một hệ thống tín ngưỡngchung, chủ đạo, nhất quán Nhưng ở đây, chúng ta vẫn thấy được dấu ấncủa một phong cách tư duy và tình cảm riêng của người dân Văn Langdành cho những con người mà họ yêu mến Tình cảm này cùng với sự bảolưu một cách đặc biệt, bền bỉ các hình thức tín ngưỡng thời đại HùngVương trong suốt quá trình lịch sử đã làm nên một đặc trưng độc đáo trongđời sống tinh thần ở Việt Nam

Đến đây chúng ta có thể khẳng định rằng đời sống của người dân VănLang thời đại Hùng Vương rất phong phú và đa dạng được thể hiện dướinhiều hình thức kể cả trong lao động sản xuất cũng trong sinh hoạt đờisống tinh thần Con người đã có những bước phát triển mới trên cả sản xuất

và tư duy Người dân Văn Lang đã thấy được vai trò của lao động đối đờisống con người Chỉ có thông qua lao động thì con người mới có thể tồn tạiđược Lao động chính là yếu tố quyết định giúp người dân Văn Lang pháttriển một cách hoàn thiện về bản thân con người thông qua đời sống vậtchất cũng như đời sống tinh thần, để từ đó xây dựng nên đất nước VănLang ổn định và thịnh trị

Trang 33

2.1.3 Quan hệ giữa con người với con người

Thời đại Hùng Vương dựng nước là thời đại sơ khai nhất của conngười, là thời đại mới bắt đầu hình thành nên các quan niệm về con người,

về cuộc sống, về nhà nước, về xã hội Thời đại này họ đã biết sử dụng cáccông cụ lao động, sáng tạo ra các vũ khí như Nỏ Thần (truyền thuyết AnDương Vương), gậy sắt, ngựa sắt, nón sắt( truyền thuyết Thánh gióng)…đểchống giặc ngoại xâm xâm lược Họ cũng đã biết sử dụng tinh thần đoànkết của toàn dân để cùng nhau bảo vệ đất nước, chống lại giặc ngoại xâm.Vai trò của con người trong xã hội ngày càng trở nên quan trọng Do vậy,người dân Văn Lang đã đặc biệt quan tâm tới mối quan hệ giữa con người -con người với nhau để làm cho mối quan hệ giữa con người với con ngườingày càng trở nên bền vững và gắn bó với nhau Chúng ta có thể tóm tắt lạinhững nét đặc trưng trong mối quan hệ giữa con người với con người trongthời đại Hùng Vương như sau:

Thứ nhất: Người dân Văn Lang luôn yêu thương, đùm bọc che chở

cho nhau, sẵn sàng hy sinh vì nhau.

Trong thời đại Hùng Vương, đời sống cộng đồng của cư dân sống rấthòa thuận với nhau, cùng nhau giúp đỡ, cùng nhau đoàn kết với nhau đểchinh phục tự nhiên, để chống giặc ngoại xâm Điều này xuất phát từ hìnhảnh “ bọc trăm trứng” hình ảnh tượng trưng cho tinh thần đoàn kết, yêuthương đùm bọc lẫn nhau Đây cũng chính là truyền thống văn hóa quý giácủa cha ông ta để lại cho thế hệ sau, của thời đại Hùng Vương nói riêng vàcủa dân tộc Việt Nam nói chung xuyên suốt từ ngàn xưa và trở thành nétvăn hóa không thể thiếu trong đời sống của con người Việt Nam thời nay.Thời đại Hùng Vương, trong xã hội đã có sự phân chia giai cấp Xãhội bao gồm ba giai cấp cơ bản là giai cấp quý tộc, giai cấp nô lệ và thànhviên công xã Tuy xã hội Văn Lang đã bắt đầu có sự phân chia giai cấpnhưng sự phân chia giai cấp không có sự nghiệt ngã như trong xã hội chiếmhữu nô lệ, xã hội phong kiến mà các tầng lớp trong xã hội vẫn có sự bình

Trang 34

đẳng với nhau, sống chan hòa với nhau Giai cấp quý tộc mà điển hình làVua vẫn sống gần gũi và chan hòa với nhân dân Vua Hùng tuy là ngườiđứng đầu giai cấp thống trị nhưng lại phảng phất vai trò của một vị tùtrưởng, luôn luôn gần gũi với nhân dân và thấu hiểu được cuộc sống củanhân dân Vua Hùng là người đã dạy nhân dân ta biết trồng lúa, trồngkhoai, ăn trầu, săn bắn, trị thủy…Không chỉ thông qua các hình thức truyềnđạt bằng miệng mà Vua Hùng còn trực tiếp xuống đồng để cấy lúa dạy dânhay cùng với nhân dân tiến hành công việc đắp đê, trị thủy để bảo vệ mùamàng cho nhân dân, bảo vệ thành quả lao động của nhân dân trước sứcmạnh của tự nhiên Hình ảnh Sơn Tinh không phải là hình ảnh của ngườithuộc tầng lớp thống trị mà trong cuộc sống cũng như trong lao động sảnxuất thì Sơn Tinh luôn cùng lao động, cùng chiến đấu như mọi người trong

xã hội Ông cũng gánh đất, cũng đánh cá như những người dân bìnhthường, cùng ăn, cùng ở với nhân dân

Như vậy, mặc dù có địa vị được tôn quý nhưng cả Vua Hùng và SơnTinh không hề chiếm một đặc quyền đặc lợi nào cho riêng mình cả mà họluôn quan tâm tới đời sống của nhân dân, sống cùng với nhân dân để hiểuđược những tâm tư, nguyện vọng của nhân dân Điều này phần nào đã phảnánh được tinh thần bình đẳng, dân chủ trong xã hội con người lúc bấy giờ.Mọi người trong xã hội đều được hưởng hạnh phúc, công bằng như nhau, aicũng yêu thương đùm bọc nhau, sống chan hòa và gần gũi với nhau

Đây cũng chính là đích hướng đến của những giá trị đạo lý của thờiđại Hùng Vương mà đỉnh cao của nó là sự hòa hợp tâm hồn trong tình yêuthương giữa con người với con người tràn đầy tính nhân văn sâu sắc

Thứ hai: Người dân Văn Lang rất quan tâm tới mối quan hệ tình

cảm, gắn bó keo sơn giữa các thành viên trong gia đình đó là mối quan hệ tốt đẹp giữa cha mẹ với con cái, giữa vợ với chồng, giữa anh em ruột thịt với nhau.

Trang 35

Người dân Văn Lang đã thể hiện sâu sắc quan điểm của mình về cuộcsống gia đình thông qua các truyền thuyết thời đại Hùng Vương Cụ thể: Trong truyền thuyết Chử Đồng Tử hình ảnh một chàng trai trần truồngxấu hổ phải giấu mình trong cát khi có người đi qua phát hiện Gia đìnhchàng quá nghèo, không có tiền để mua quần áo mặc, hai cha con phải mặcchung nhau một chiếc khố Khi cha chàng qua đời, không nỡ để cha phải

“lạnh lẽo” chàng đã chôn chiếc khố duy nhất theo cha còn mình thì để mìnhtrần Hình ảnh Chử Đồng Tử nhường chiếc khố cho cha mặc khi qua đời đãthể hiện “ tấm gương hiếu nghĩa” của mình đối với bậc sinh thành ra mình

đó chính là cha mẹ Đối với cha mẹ thì con cái phải biết quý trọng cha mẹ,biết phụng dưỡng khi cha mẹ về già hay lúc ốm đau, bệnh tật, biết thờphụng khi cha mẹ qua đời Đó chính là đạo lý làm người mà mỗi người concần phải có và phải tôn trọng nó trong mối quan hệ giữa con người với conngười trong xã hội Văn Lang thời đại Vua Hùng

Còn trong truyền thuyết Trầu Cau, mặc dù đây là một truyền thuyếtkết thúc không có hậu khi cả ba nhân vật trong câu chuyện đều bị chếtnhưng thực chất cái chết của cả ba nhân vật này lại để một hình ảnh đẹp thểhiện tình cảm anh em phải yêu thương nhau, vợ chồng phải thủy chung sonsắc Tác giả dân gian đã xây dựng cho hình ảnh dây trầu (sự hóa thân củangười vợ) quấn quanh phiến đá (sự hóa thân của người chồng) và cây cau(sự hóa thân của người em) thể hiện tình cảm vợ chồng thủy chung, gắn bó.Trầu cau là đã trở thành một di sản văn hóa thể hiện những giá trị tinhthần và mơ ước của người dân Lạc Việt Lá trầu tượng trưng cho sự sinhsản, cái bắt đầu và nguồn cội Buồng cau nặng trĩu chi chít những quả notròn tượng trưng cho sự phú túc và phát triển Vôi tượng trưng cho sự trongsạch, thanh cao Và khi tất cả hòa lại làm một làm thành một vị cay nồng,

ấm áp, màu đỏ tượng trưng cho tình máu mủ anh - em, tình vợ chồng nồngthắm Dù có trải qua hiểu lầm, nghi kị ghen tuông hay những biến cố trongđời sống thì tình cảm gắn bó giữa anh - em, vợ - chồng cũng không thể nào

Trang 36

thay đổi được Và cũng chính từ đây, nhân dân Văn Lang đã hình thành nêntục lệ ăn trầu trong ngày cưới và tục thắp hương trầu cau lên bàn thờ tổ tiêntượng trưng cho tình cảm son sắc của những thành viên trong gia đình vớinhau, cùng yêu thương nhau, chung sống hòa thuận với nhau tạo nên một

xã hội Văn Lang ổn định thịnh vượng và cùng nhau phát triển

Như vậy, trong mối quan hệ giữa con người với con người, người dânVăn Lang rất đề cao mối quan hệ giữa con người với con người trong giađình Sống phải có tình nghĩa, con cái phải biết phụng dưỡng cha mẹ, anh

em phải biết thương yêu nhau, vợ chồng phải thủy chung son sắt… Cácthành viên trong gia đình phải yêu thương, đùm bọc nhau để tạo nên một xãhội ổn định Những quan niệm này đã trở thành truyền thống đạo đức quýbáu và tự hào của dân tộc Việt Nam ta

Thứ ba: Trong đời sống của người dân Văn Lang, họ không chỉ quan

tâm tới mối quan hệ giữa con người với con người khi con đang sống, đang tồn tại mà ngay cả khi họ qua đời thì người dân cũng thể hiện mối quan tâm của mình với người đã chết

Cư dân Văn Lang quan niệm rằng cái chết là sự di chuyển của linhhồn đi từ cõi dương (dương gian, trần thế) sang cõi âm (âm ty, địa phủ).Thế giới trần gian và thế giới âm phủ được ngăn cách nhau bởi chín consông và để sang được thế giới bên kia thì người chết phải đi bằng thuyềncho nên người Văng Lang có tục chôn người chết trong những chiếc quantài làm bằng thân cây, đẽo theo hình thuyền Khi có người lìa đời tục lệ đầutiên và mặt tang ma của người Hùng Vương là giã cối Tiếng chày cối ởđây chính là tín hiệu thông báo cho mọi người xung quanh biết là đã cóngười vừa chết Và những nghi thức lễ tiết, tang ma trước khi chôn ngườichết như: cầu cúng, than khóc, nhắc nhở, khuyên nhủ người chết về nguồngốc bổn phận và cách sống ở thế giới bên kia… được tiến hành bởi nhữngnhân vật được coi là có khả năng giao tiếp với thần linh đó là thầy cúng.Các hình thức chôn cất người chết cũng hết sức đa dạng và phong phú

Ngày đăng: 06/01/2014, 15:03

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Vũ Kim Biên (2009), “ Truyền thuyết Hùng Vương - Thần thoại vùng đất tổ”, Nxb Sở Văn hóa Thể Thao và Du Lịch Phú Thọ, Tỉnh Phú Thọ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyền thuyết Hùng Vương - Thần thoại vùng đất tổ”
Tác giả: Vũ Kim Biên
Nhà XB: Nxb Sở Văn hóa Thể Thao và Du Lịch Phú Thọ
Năm: 2009
2. Cao Huy Đỉnh (1974), “ Tìm hiểu tiến trình văn học dân gian Việt Nam”, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “ Tìm hiểu tiến trình văn học dân gian Việt Nam”
Tác giả: Cao Huy Đỉnh
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1974
3. “ Giáo trình triết học Mác – Lê Nin” (2002), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình triết học Mác – Lê Nin
Tác giả: “ Giáo trình triết học Mác – Lê Nin”
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2002
4. “Giáo trình triết học” (2011), Nxb Chính trị - Hành chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình triết học
Tác giả: “Giáo trình triết học”
Nhà XB: Nxb Chính trị - Hành chính
Năm: 2011
5. Lê Văn Lan, “ Tìm hiểu nguồn gốc của những chiếc trống đồng cổ”, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 42, 1962 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu nguồn gốc của những chiếc trống đồng cổ”
6. Nguyễn Linh, “ Vài suy nghĩ về việc tìm hiểu thời đại Hồng Bàng”, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 100 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “ Vài suy nghĩ về việc tìm hiểu thời đại Hồng Bàng”
7. Trần Thị Thanh Mai, “ Bảo tồn truyền thuyết dân gian Hùng Vương trong không gian văn hóa Hùng Vương”, Bộ văn hóa, thể thao và du lịch Tỉnh Phú Thọ Sách, tạp chí
Tiêu đề: “ Bảo tồn truyền thuyết dân gian Hùng Vương trong không gian văn hóa Hùng Vương”
8. Trương Hữu Quýnh, Phan Đại Doãn, Nguyễn Cảnh Minh, “ Đại cương lịch sử Việt Nam”, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2007, tập 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “ Đại cương lịch sử Việt Nam”
Nhà XB: Nxb Giáo dục
9. Văn Tân, “ Xã hội nước Văn Lang và xã hội nước Âu Lạc”, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 20, 1960 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “ Xã hội nước Văn Lang và xã hội nước Âu Lạc
10. Đặng Xuân Tuyên (2008), “ Thời đại Vua Hùng - Truyền thuyết và lịch sử”, Nxb Khu di tích lịch sử Đền Hùng, Tỉnh Phú Thọ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thời đại Vua Hùng - Truyền thuyết và lịch sử”
Tác giả: Đặng Xuân Tuyên
Nhà XB: Nxb Khu di tích lịch sử Đền Hùng
Năm: 2008
11. Lê Tượng, Nguyễn Anh Tuấn, Phạm Hùng Oanh (2009), “ Nước Văn Lang thời đại các Vua Hùng”, Nxb Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch Tỉnh Phú Thọ Sách, tạp chí
Tiêu đề: “ Nước Văn Lang thời đại các Vua Hùng”
Tác giả: Lê Tượng, Nguyễn Anh Tuấn, Phạm Hùng Oanh
Nhà XB: Nxb Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch Tỉnh Phú Thọ
Năm: 2009
12. Viện Khảo Cổ Học,“ Hùng Vương dựng nước”, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1970, tập1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “ Hùng Vương dựng nước”
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
13. Viện Khảo Cổ Học, “ Hùng Vương dựng nước”, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1970, tập 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “ Hùng Vương dựng nước”
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
14. Viện Khảo Cổ Học, “ Hùng Vương dựng nước”, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1970, tập 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “ Hùng Vương dựng nước”
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
15. Viện Khảo Cổ Học, “ Hùng Vương dựng nước”, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1970, tập 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “ Hùng Vương dựng nước”
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
16. Hoàng Ngọc Vĩnh (2009), “ Tôn giáo học đại cương”, Nxb Đại học Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: “ Tôn giáo học đại cương
Tác giả: Hoàng Ngọc Vĩnh
Nhà XB: Nxb Đại học Huế
Năm: 2009

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w