1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Triết học thực tiễn của chủ nghĩa hiện sinh và những giá trị, hạn chế của nó

159 2,5K 45

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Triết học thực tiễn của chủ nghĩa hiện sinh và những giá trị, hạn chế của nó
Tác giả Trần Thị Điểu
Người hướng dẫn PGS. TS. Đỗ Minh Hợp, PGS. TS. Nguyễn Đình Tường
Trường học Học viện Khoa học Xã hội
Chuyên ngành Lịch sử Triết học
Thể loại Luận án tiến sĩ triết học
Năm xuất bản 2013
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 159
Dung lượng 757 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì vậy, tìm hiểu và đi sâu nghiên cứu chủ nghĩa hiện sinh nói chung vàtriết học thực tiễn của chủ nghĩa hiện sinh nói riêng có giá trị tích cực đểchúng ta nhìn nhận và xây dựng chân dung

Trang 3

LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: 1 PGS TS Đỗ Minh Hợp

2 PGS TS Nguyễn Đình Tường

HÀ NỘI - 2013

Trang 5

Tác giả xin cam đoan Luận án này là do tự bản thân thực hiện và khôngsao chép các công trình nghiên cứu của người khác để làm sản phẩm củariêng mình Các thông tin thứ cấp sử dụng trong Luận án có nguồn gốc vàđược trích dẫn rõ ràng Tác giả hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính xác thực vànguyên bản của Luận án.

Tác giả

Trần Thị Điểu

Trang 6

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ

TÀI “TRIẾT HỌC THỰC TIỄN CỦA CHỦ NGHĨA HIỆN SINH VÀ

NHỮNG GIÁ TRỊ, HẠN CHẾ CỦA NÓ” 6

1.1 Các công trình nghiên cứu chung về triết học hiện sinh 6

1.1.1 Các công trình nghiên cứu trong nước 6

1.1.2 Các công trình nghiên cứu ngoài nước 11

1.2 Các công trình nghiên cứu bàn về nội dung cơ bản trong triết học thực tiễn của chủ nghĩa hiện sinh 13

1.2.1 Các công trình nghiên cứu bàn về tư tưởng đạo đức 13

1.2.2 Các công trình nghiên cứu bàn về tư tưởng giáo dục 24

Chương 2 BỐI CẢNH RA ĐỜI TRIẾT HỌC THỰC TIỄN CỦA CHỦ NGHĨA HIỆN SINH 33

2.1 Điều kiện kinh tế - xã hội, chính trị và văn hóa cho sự ra đời triết học thực tiễn của chủ nghĩa hiện sinh 33

2.1.1 Điều kiện kinh tế - xã hội và chính trị 33

2.1.2 Điều kiện văn hóa 38

2.2 Tha hóa tinh thần của con người phương Tây hiện đại như đối tượng phản tư trong triết học thực tiễn của chủ nghĩa hiện sinh 45

2.2.1 Thực chất của tha hóa tinh thần 46

2.2.2 Hệ quả của tha hóa tinh thần 49

2.3 Tiền đề lý luận 51

2.3.1 Phê phán triết học duy lý 51

2.3.2 Hiện tượng học Husserl 54

2.3.3 Đạo đức học chuẩn tắc 61

2.3.4 Triết lý giáo dục truyền thống 66

Chương 3 TƯ TƯỞNG ĐẠO ĐỨC TRONG TRIẾT HỌC THỰC TIỄN CỦA CHỦ NGHĨA HIỆN SINH 70

3.1 Các nội dung cơ bản của tư tưởng đạo đức trong triết học thực tiễn của chủ nghĩa hiện sinh 70

Trang 7

3.2 Giá trị và hạn chế của tư tưởng đạo đức trong triết học thực tiễn của

chủ nghĩa hiện sinh 95

3.2.1 Các giá trị 96

3.2.2 Các hạn chế 106

Chương 4 TƯ TƯỞNG GIÁO DỤC TRONG TRIẾT HỌC THỰC TIỄN CỦA CHỦ NGHĨA HIỆN SINH 111

4.1 Các nội dung cơ bản của tư tưởng giáo dục trong triết học thực tiễn của chủ nghĩa hiện sinh 111

4.1.1 Quan niệm về mục đích giáo dục 111

4.1.2 Quan niệm về chương trình học 116

4.1.3 Quan niệm về phương pháp giáo dục 119

4.1.4 Quan niệm về quan hệ thầy trò 124

4.2 Giá trị và hạn chế của tư tưởng giáo dục trong triết học thục tiễn của chủ nghĩa hiện sinh 131

4.2.1 Các giá trị 131

4.2.2 Các hạn chế 138

KẾT LUẬN 143

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 145

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 146

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Đại bộ phận loài người nhìn chung luôn “thức” mà không “tỉnh”, họsuy nghĩ và hành động theo các lược đồ (nguyên tắc, giá trị) có sẵn như mộtcái máy cho tới khi các lược đồ ấy đem lại những hệ quả tai hại, thậm chí đedọa bản thân sự sinh tồn của họ Khủng hoảng giá trị xuất hiện, hay nhưHegel ưa thích nói, “buổi hoàng hôn bắt đầu”, Nietzsche thì diễn tả là “Ngàytàn của châu Âu”, Husserl thì nói rõ hơn “Khủng hoảng của loài người” Bảnthân họ không thể tự mình luận giải thực trạng ấy và tìm ra lối thoát ra khỏithực trạng ấy Triết học xuất hiện như “cứu cánh”, như “đấng cứu thế” Bắtđầu từ thời cận hiện đại, toàn bộ loài người ở phương Tây hào hứng bước vào

và sống trong kỷ nguyên khải hoàn của lý tính khoa học cùng với nhữngchuẩn mực tương ứng được triết học duy lý tạo dựng và luận chứng Có cảmtưởng là con người đã đạt được tất cả mọi mong ước của mình, trở thành chủnhân của thế giới, có được một cuộc sống thật sự dư thừa của cải vật chất,được giải phóng khỏi mọi lực lượng đã từng nô dịch họ Song, họ lại phải đốimặt với một sự thực phũ phàng là “lý tính kiêu ngạo vô cùng nguy hiểm”, lốisuy nghĩ và hành động duy lý cực đoan đem lại nhiều hệ quả tai hại, triệt tiêunhững gì cao quý nhất, mà chính là tự do và trách nhiệm của con người Triếthọc hiện sinh là một trào lưu triết học dành những suy tư của mình cho chínhvấn đề cốt tử này của loài người phương Tây hiện đại

Hơn nữa, trong bối cảnh hiện nay, tiếp biến văn hóa toàn cầu được diễn

ra trên cả hai khía cạnh: bộc lộ văn hóa dân tộc ra với thế giới và tiếp nhậnvăn hóa chung nhân loại Trong quá trình ấy, tiếp nhận văn hóa phương Tây

là xu hướng tất yếu Trong đó, triết học hiện sinh là một trong những trào lưutriết học biểu hiện rất rõ diện mạo văn hóa tinh thần của con người phươngTây hiện đại Bối cảnh văn hóa tinh thần cho sự ra đời chủ nghĩa hiện sinhđang bắt gặp sự tương đồng với nó ở xã hội Việt Nam hiện nay, cũng như bốicảnh đó vẫn đang tiếp diễn trong hoàn cảnh hậu hiện đại của thế giới hôm

Trang 9

nay Vì vậy, tìm hiểu và đi sâu nghiên cứu chủ nghĩa hiện sinh nói chung vàtriết học thực tiễn của chủ nghĩa hiện sinh nói riêng có giá trị tích cực đểchúng ta nhìn nhận và xây dựng chân dung văn hóa Việt.

Thứ nhất, triết học hiện sinh là học thuyết triết học dành những suy tư

về con người cá nhân và số phận của con người cá nhân trong điều kiện thahoá và nô lệ tinh thần sâu sắc của con người phương Tây hiện đại, vì vậy,những vấn đề giá trị đạo đức, giáo dục được đặt ra gay gắt Nghiên cứu triếthọc hiện sinh, đặc biệt là những tư tưởng về triết học thực tiễn của trườngphái triết học này là việc làm cần thiết và có ý nghĩa trong bối cảnh tiếp biếnvăn hoá toàn cầu nhằm phòng tránh những mối nguy hiểm đến từ nền vănminh duy lý phương Tây và tiếp thu những giá trị tích cực hiển nhiên của nó

Thứ hai, trong quá trình hiện đại hoá, mở rộng hợp tác, chủ động hội

nhập quốc tế, bên cạnh những cơ hội to lớn về mở rộng thị trường, tiếp thunhanh khoa học công nghệ, kinh nghiệm quản lý kinh tế - xã hội, v.v., chúng

ta cũng phải đối mặt với không ít nguy cơ, như gia tăng xung đột, chiến tranh,bạo lực, khủng bố, khủng hoảng sinh thái toàn cầu, đánh mất bản sắc văn hoádân tộc, suy đồi đạo đức và tan vỡ các giá trị truyền thống Một bộ phận dân

cư, nhất là lớp trẻ dễ đánh mất bản thân mình, đánh mất năng lực cá nhân màcao hơn là đánh mất nhân cách của mình Bài học kinh nghiệm từ sự ra đờicủa triết học hiện sinh ở phương Tây đã chỉ rõ, nếu chỉ chạy theo những giátrị vật chất, quá tin đến mức phó mặc cuộc sống của mình cho những tiến bộcủa kỹ thuật, thì sớm muộn gì con người cũng rơi vào tình trạng tha hoá, conngười bị phụ thuộc vào chính những lực lượng mà con người sáng tạo ra.Theo nghĩa đó, nghiên cứu triết học hiện sinh nói chung, triết học thực tiễncủa nó nói riêng, cũng chính là học tập kinh nghiệm của người đi trước, tranhthủ nắm bắt thời cơ, đề phòng nguy cơ, để tiến hành hiện đại hóa ở Việt Nammột cách chủ động và tích cực Hơn nữa, việc tìm hiểu triết học thực tiễn củachủ nghĩa hiện sinh, dựa trên cơ sở gạn lọc tinh hoa và vượt bỏ hạn chế, sẽgóp phần xây dựng và phát triển một nền văn hóa tinh thần thực sự nhân văn

ở nước ta hiện nay

Trang 10

Thứ ba, triết học hiện sinh là trường phái đi đầu trong suy nghĩ về con

người cá nhân và trách nhiệm của con người cá nhân trong những điều kiệncách mạng khoa học - kỹ thuật hiện đại Tinh thần chung của chủ nghĩa hiệnsinh được triển khai trong những tâm hồn nhân văn, cá tính mạnh mẽ và đầysáng tạo, những con người của hành động với sự quan tâm thực sự đầy tráchnhiệm đến thời cuộc, dám đưa ra ánh sáng những vấn đề đặt ra cho lương tâmloài người trong thời đại ngày nay Những điều này làm cho triết học gần hơnvới cuộc sống và những vấn đề của thời đại hiện nay Ngày nay, triết học hiệnsinh được nhìn nhận chính là những suy ngẫm về tồn tại người như một trongnhững đề tài cơ bản của triết học và nhận được sự hưởng ứng xã hội rộng rãi,

vì nó ẩn chứa một nội dung nhân văn sâu sắc

Tuy nhiên, ở Việt Nam, triết học hiện sinh chưa được quan tâm thỏađáng, không những thế, triết học này còn bị hiểu sai lệch Do vậy, nghiên cứuchủ nghĩa hiện sinh nói chung, và triết học thực tiễn của nó nói riêng, giúpchúng ta hiểu rõ trào lưu triết học này, qua đó, góp phần xây dựng, đảm bảođời sống tinh thần, đặc biệt là đời sống tinh thần của tầng lớp thanh thiếu niênluôn lành mạnh trước sự du nhập của văn hoá và lối sống phương Tây hiện đại

Thứ tư, một nội dung nhân văn quan trọng khác trong triết học thực tiễn

của chủ nghĩa hiện sinh là tư tưởng triết học giáo dục Có thể coi đây là giảipháp của triết học hiện sinh nhằm làm con người thoát khỏi tình trạng tha hóa

và nô lệ tinh thần khi sống trong xã hội hiện đại Chính vì vậy, việc nghiêncứu tư tưởng triết học giáo dục hiện sinh nhằm mục đích tiếp thu có sàng lọcnhững mặt mạnh và gạt bỏ những hạn chế của nó, để góp phần xây dựng triếthọc giáo dục vừa mang tính hiện đại, vừa mang đậm sắc thái văn hóa Việt làmột việc làm vừa có ý nghĩa lý luận, vừa có ý nghĩa thực tiễn cấp bách

Với ý nghĩa đó, tôi lựa chọn đề tài “Triết học thực tiễn của chủ nghĩa

hiện sinh và những giá trị, hạn chế của nó’’ làm đề tài cho luận án tiến sĩ

của mình

Trang 11

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

* Mục đích: Luận án làm rõ những nội dung cơ bản trong triết học thực

tiễn của chủ nghĩa hiện sinh, qua đó, đánh giá những giá trị và hạn chế củachúng

* Nhiệm vụ: Để thực hiện mục đích trên, luận án tập trung giải quyết

những nhiệm vụ cơ bản sau đây:

Thứ nhất, làm sáng tỏ bối cảnh xuất hiện tư tưởng triết học thực tiễn

của chủ nghĩa hiện sinh

Thứ hai, phân tích tư tưởng đạo đức trong triết học thực tiễn của chủ

nghĩa hiện sinh và đánh giá những giá trị, hạn chế của nó

Thứ ba, giới thiệu tư tưởng giáo dục trong triết học thực tiễn của chủ

nghĩa hiện sinh và đánh giá những giá trị, hạn chế của nó

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

*Đối tượng nghiên cứu: là nội dung đạo đức và giáo dục trong triết

học thực tiễn của chủ nghĩa hiện sinh

*Phạm vi nghiên cứu: trong khuôn khổ của luận án, tác giả tập trung

vào hai nội dung cơ bản nhất trong triết học thực tiễn của chủ nghĩa hiện sinh

đó là tư tưởng đạo đức và tư tưởng giáo dục Hai nội dung cơ bản, nổi bật nàytrong triết học thực tiễn đều được các nhà hiện sinh quan tâm và khai thác,phản ánh dưới nhiều góc độ và hình thức khác nhau Tuy nhiên, trong luận án,tác giả chỉ tập trung giới thiệu quan điểm của các triết gia hiện sinh tiêu biểuviết về đề tài này một cách sâu sắc nhất như Nietzsche, M Heidegger,K.Jaspers, J.P.Sartre, A Camus

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

* Cơ sở lý luận: Luận án dựa trên học thuyết của chủ nghĩa duy vật lịch

sử về tồn tại xã hội và ý thức xã hội, những quan điểm của chủ nghĩa Mác Lênin trong việc nghiên cứu lịch sử tư tưởng

-* Phương pháp nghiên cứu: Luận án sử dụng phương pháp luận

nghiên cứu lịch sử triết học, nguyên tắc thống nhất giữa triết học và lịch sử

Trang 12

triết học Đồng thời, luận án cũng sử dụng các phương pháp nghiên cứu khác,như phân tích và tổng hợp, thống nhất lịch sử và lôgíc, so sánh, khái quát hoá,văn bản học, nhân học văn hóa, v.v.

5 Những đóng góp mới của luận án

Thứ nhất, luận án nêu cách hiểu đúng đắn về khái niệm “triết học thực

tiễn” của chủ nghĩa hiện sinh và những nội dung cơ bản của nó

Thứ hai, luận án trình bày có hệ thống và phân tích sâu sắc nội dung cơ

bản trong triết học thực tiễn của chủ nghĩa hiện sinh theo một lôgic chặt chẽ: làm

rõ khủng hoảng tinh thần, nguyên nhân, thực chất và biện pháp khắc phục nó

Thứ ba, luận án không chỉ dừng lại ở việc phân tích các phạm trù đạo

đức cơ bản trong triết học thực tiễn của chủ nghĩa hiện sinh như cái thiện, cái

ác, tự do, trách nhiệm, lương tâm, lo âu, cái chết, v.v., mà còn chỉ ra phạm trùnền tảng, cơ sở sinh ra cái thiện, cái ác là phạm trù tự do, trách nhiệm Tự do

và trách nhiệm là hai hiện sinh thể quan trọng nhất, là hai phạm trù cơ bản củađạo đức học hiện sinh, đồng thời qua đó, luận án đánh giá những mặt tích cực

và hạn chế của tư tưởng đạo đức này

Thứ tư, giới thiệu tư tưởng giáo dục trong triết học thực tiễn của chủ

nghĩa hiện sinh và đánh giá những giá trị, hạn chế của nó

6 Ý nghĩa của luận án

Luận án cung cấp những kiến thức đầy đủ hơn về triết học hiện sinh, và

có thể được sử dụng làm tài liệu cho công việc giảng dạy và nghiên cứutrường phái triết học này Đồng thời, luận án cũng đưa ra những gợi ý về địnhhướng giá trị trong điều kiện hiện đại hóa đất nước

7 Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và nhữngcông trình đã công bố của tác giả có liên quan đến đề tài luận án, nội dungluận án gồm 4 chương, 9 tiết

Trang 13

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

“TRIẾT HỌC THỰC TIỄN CỦA CHỦ NGHĨA HIỆN SINH

VÀ NHỮNG GIÁ TRỊ, HẠN CHẾ CỦA NÓ”

Là một trào lưu chủ yếu của triết học phương Tây hiện đại, có ảnhhưởng rộng rãi và lâu dài, cho nên, ngay từ khi ra đời cho đến những năm gầnđây, triết học hiện sinh vẫn luôn được giới nghiên cứu trong và ngoài nướcquan tâm sâu sắc

Các công trình dù được tiếp cận ở những góc độ khác nhau, được trìnhbày ở hình thức khác nhau như giáo trình, sách, bài báo, luận án, luận văn,v.v., nhưng có thể khái quát kết quả nghiên cứu của các tác giả ở một số điểm

cơ bản dưới đây

1.1 Các công trình nghiên cứu chung về triết học hiện sinh

1.1.1 Các công trình nghiên cứu trong nước

1.1.1.1 Các công trình nghiên cứu bàn về điều kiện ra đời của chủ nghĩa hiện sinh

Trong cuốn “Một số học thuyết triết học phương tây hiện đại” (Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin, năm 2001) [25], tác giả Nguyễn Hào Hải khi viết

về chủ nghĩa hiện sinh đã tập trung chủ yếu để nói về nguồn gốc và cơ sởhình thành trào lưu triết học này Theo tác giả, chủ nghĩa hiện sinh ra đời từ 4nguồn gốc, một là, nguồn gốc bản thể luận, hai là, cơ sở nhận thức luận, ba là,hiện tượng luận Husserl - tiền đề hình thành triết học hiện sinh, bốn là, chiếntranh, đặc biệt là hai cuộc đại chiến thế giới khốc liệt - là hoàn cảnh quyếtđịnh để hình thành và phát triển mạnh mẽ chủ nghĩa hiện sinh Khi viết vềnguồn gốc chiến tranh, nguồn gốc gây nhiều sự tranh cãi của các nhà khoahọc, tác giả cũng cho rằng, chiến tranh không phải là nguyên nhân duy nhất

mà là nguyên nhân chín muồi thúc đẩy sự ra đời của chủ nghĩa hiện sinh mộtcách nhanh hơn

Trang 14

Trong cuốn “Lược khảo triết học phương Tây hiện đại” (Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội, 2003) [12], các tác giả Bùi Đăng Duy, Nguyễn Tiến Dũng

không phân tích các điều kiện kinh tế xã hội đưa đến sự ra đời của triết họchiện sinh, chỉ nói về tiền đề lý luận cho sự ra đời của triết học hiện sinh trên cơ

sở phân tích quan điểm của Socrate, thánh Augustin, đặc biệt B.Pascal,F.Nietzsche và Husserl Tuy nhiên, các tác giả chỉ dừng lại giới thiệu một cáchvắn tắt tư tưởng của các nhà triết học được coi là tiền bối của chủ nghĩa hiệnsinh này mà không có sự phân tích, đánh giá và khái quát sâu hơn Do đó, cáctác giả cũng chưa chỉ ra được những điểm tích cực mà chủ nghĩa hiện sinh kếthừa, phát triển, cũng như những hạn chế mà các triết gia sau này khắc phục

Khi nói về điều kiện ra đời của chủ nghĩa hiện sinh tác giả Nguyễn

Tiến Dũng trong cuốn "Chủ nghĩa hiện sinh, lịch sử, sự hiện diện của nó ở

Việt Nam" (Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 2006) [14], đã phân tích điều kiện

lịch sử - xã hội cho sự ra đời của chủ nghĩa hiện sinh Theo tác giả, chủ nghĩahiện sinh ra đời từ 2 điều kiện cơ bản, một là sự sùng bái khoa học - kỹ thuậtmột cách thái quá đã làm cho xã hội phương Tây sa vào khủng hoảng, suyđồi, bởi vì nó phi nhân vị hóa con người; hai là, sự phản ứng, đối lập lại chủnghĩa duy lý thống trị trong xã hội phương Tây hiện đại Bàn về chiến tranh,

tác giả Nguyễn Tiến Dũng quan niệm, chiến tranh không phải là nguyên nhân

trực tiếp dẫn tới sự ra đời của Chủ nghĩa hiện sinh “Chiến tranh chỉ là mộtđiều kiện” [14, tr.10]

Tác giả Nguyễn Thị Thường trong bài viết: “Sự hình thành, phát triển

và đặc điểm cơ bản của chủ nghĩa hiện sinh” in trong cuốn “Những vấn đề triết học phương Tây thế kỷ XX” (Kỷ yếu hội thảo Quốc tế, Nxb Đại học

Quốc gia Hà Nội, 2007) [88] cũng cho rằng, chiến tranh chỉ là một điều kiện

cho sự ra đời của chủ nghĩa hiện sinh Theo tác giả, chủ nghĩa hiện sinh ra đời

do hai nguyên nhân trực tiếp Thứ nhất là do phương thức sản xuất tư bản chủnghĩa chạy theo lợi nhuận tối đa đã đẩy con người vào tình trạng tha hóa cùngcực, lấy đi của họ cái vị thế làm người đích thực Thứ hai, là phản ứng trướcviệc phương Tây tuyệt đối hóa vai trò của khoa học, sùng bái kỹ thuật, hạ

Trang 15

thấp, bỏ rơi con người hoặc chỉ quan tâm tới mặt vật chất mà xem nhẹ mặttâm hồn, đời sống, tình cảm của họ Trong bối cảnh đó, chủ nghĩa hiện sinh rađời như một sự phản ứng, đối lập lại chủ nghĩa duy lý Chủ nghĩa hiện sinhđặt lên vị trí hàng đầu tính đặc thù độc đáo của tồn tại người.

Đóng góp đáng kể cho phác họa một bức tranh khá toàn diện về triết

học hiện sinh là cuốn sách "Triết học phương Tây hiện đại (phần thứ nhất:

cuối thế kỷ XIX - nửa đầu thế kỷ XX)” (Nxb Đại học Tổng hợp tp Hồ Chí

Minh, 2008) của tập thể tác giả Đỗ Minh Hợp, Nguyễn Thanh, Nguyễn Anh

Tuấn [45] Trong tác phẩm này, các tác giả đã đi vào phân tích và làm sáng tỏ

các tiền đề tư tưởng cho sự ra đời của triết học hiện sinh - đó là tư tưởng triếthọc của Dostoevski như nhà tiền khởi của triết học hiện sinh, củaS.Kierkegaard như ông tổ của triết học hiện sinh và của E.Husserl như ngườiđặt nền móng lý luận cho chủ nghĩa hiện sinh

Cũng bàn về điều kiện ra đời của triết học hiện sinh, tác giả Lê Kim

Châu trong luận án Phó tiến sĩ triết học “Chủ nghĩa hiện sinh và một vài ảnh hưởng của nó ở miền Nam Việt Nam” (Viện Triết học, Hà Nội 1996) [7] đã

nghiên cứu cơ sở hình thành chủ nghĩa hiện sinh ở hai nguồn gốc chính, một

là, nguồn gốc xã hội và nhận thức của chủ nghĩa hiện sinh; hai là, nguồn gốc

tư tưởng của chủ nghĩa hiện sinh Khi phân tích về nguồn gốc xã hội của chủnghĩa hiện sinh, hầu hết các nhà nghiên cứu trước đây đều cho rằng, chủnghĩa hiện sinh có nguồn gốc xã hội từ những cuộc khủng hoảng xã hội vàchiến tranh Tuy nhiên, tác giả đã cho rằng, khủng hoảng xã hội và chiếntranh chỉ là những nguyên nhân xã hội trực tiếp của chủ nghĩa hiện sinh.Nguồn gốc đích thực và nguyên nhân sâu xa của nó là những mâu thuẫnkhông thể điều hòa được của các xã hội bóc lột và bất công Khi nói về nguồngốc tư tưởng của chủ nghĩa hiện sinh tác giả phân tích các quan điểm của cácnhà tư tưởng được cho là đặt nền móng cho triết học hiện sinh như Socrate,Descartes, Pascal, đặc biệt là Kierkegaard với tư tưởng về “tư duy hiện sinh”,Nietzsche mở đầu cho một dòng hiện sinh mới - hiện sinh vô thần, Husserlvới “phương pháp hiện tượng luận”

Trang 16

Trong luận văn thạc sĩ triết học “Quan niệm đạo đức học trong chủ

nghĩa hiện sinh” (Khoa Triết học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân

Văn, Hà Nội 2004) [29], tác giả Nguyễn Thị Như Huế đã phân tích bối cảnh

và nguyên nhân xã hội cho sự ra đời của chủ nghĩa hiện sinh Theo tác giả,triết học hiện sinh ra đời do hai nguyên nhân chiến tranh và sự phản ứng đốivới chủ nghĩa duy lý Tác giả viết: “Ra đời trong bối cảnh xã hội với nhữngcuộc chiến tranh tàn khốc xảy ra liên tiếp, chủ nghĩa hiện sinh còn là sự phảnứng đối với chủ nghĩa duy lý thống trị trong xã hội phương Tây” [29, tr.8].Tuy nhiên, tác giả mới phân tích một cách mờ nhạt, chưa khắc sâu và cắtnghĩa sự tất yếu xuất hiện chủ nghĩa hiện sinh trong điều kiện xã hội đó vớinhững tư tưởng nổi bật mang tính đặc trưng của trường phái triết học này

Như vậy, có thể khẳng định, khi nghiên cứu về điều kiện ra đời của triết

học hiện sinh, các công trình nghiên cứu trên thống nhất ở bốn nguyên nhân

cơ bản: thứ nhất, điều kiện kinh tế xã hội; thứ hai, khủng hoảng của triết họcduy lý; thứ ba, chiến tranh là nhân tố thúc đẩy sự ra đời của chủ nghĩa hiệnsinh; thứ tư, tiền đề tư tưởng Tuy nhiên, trong các công trình nghiên cứu đó,các tác giả khắc họa chưa thật sâu sắc tính tất yếu khách quan cho sự ra đờicủa chủ nghĩa hiện sinh cũng như những ảnh hưởng, chi phối của các nguyênnhân trên đến nội dung cơ bản trong trường phái triết học này

1.1.1.2 Các công trình nghiên cứu bàn về thực chất của triết học hiện sinh

Trong tác phẩm “Phê phán văn học hiện sinh chủ nghĩa” (Nxb Văn

học, Hà Nội 1978), tác giả Đỗ Đức Hiểu trên cơ sở phân tích quan điểm của

J.P Sartre đi đến định nghĩa hiện sinh như sau: “Tôi muốn nói rằng hiện sinh,

về định nghĩa của nó, không phải là cái tất yếu Hiện sinh có nghĩa là tồn tạiđấy, có thế thôi, tức là cái vô thường, cái ngẫu nhiên hoàn toàn” [32, tr.65]

Bùi Đăng Duy, Nguyễn Tiến Dũng trong cuốn “Lược khảo triết học phương Tây hiện đại” (Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội, 2003), cho rằng:

“Con người lấy hiện sinh, mặt cơ bản của hiện hữu để làm nhân vị của mình.

Cách hiện hữu của nó là hiện sinh” [12, tr.135] Các ông viết: “Hiện sinh làcuộc sống nội tâm, cuộc sống của tâm linh mang tính thứ nhất, tính ưu tiên”

Trang 17

[12, tr.136] Tuy nhiên, các tác giả chỉ dừng lại ở đó mà không có sự phântích sâu hơn

Trong cuốn "Chủ nghĩa hiện sinh" của Trần Thái Đỉnh (Nxb Văn học,

2005), ngay từ chương 1, trên cơ sở phân tích điểm khác nhau giữa triết học

cổ truyền (triết học về thiên nhiên, triết học tìm hiểu về vũ trụ), và triết họchiện sinh (triết học về con người), tác giả khẳng định: “Triết hiện sinh là triếthọc về ý nghĩa cuộc nhân sinh và nói tắt là triết học về con người” [16, tr.22].Tác giả nhấn mạnh: “Triết học hiện sinh dạy ta suy nghĩ về thân phận làmngười” Hay nói cách khác, chủ nghĩa hiện sinh vạch ra cho ta thấy vẻ buồnnôn của con người tầm thường, hòng thức tỉnh con người trỗi dậy, bỏ cáchsống của sự vật để khai mạc một đời sống nhân vị, nhân vị của con người là

tự do Tác giả cũng đưa ra cách hiểu về khái niệm hiện sinh Theo tác giả

“hiện sinh là ý nghĩa của đời sống; người ta chỉ vươn tới hiện sinh khi nàongười ta đã ý thức được rằng mình sống để làm gì: sống để thể hiện cái địnhmệnh cao quý và độc đáo của mình, không sống để mà sống: đó là hiện sinh”[16, tr.207]

Nguyễn Tiến Dũng trong tác phẩm "Chủ nghĩa hiện sinh, lịch sử, sự hiện diện của nó ở Việt Nam" (Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 2006) đã khái

quát: “Triết học hiện sinh là triết học về nhân vị mà chủ thể tri thức chính lànhân vị con người” [14, tr.124] Khi nói về phạm trù hiện sinh tác giả viết:

“Nhân vị của con người chính là hiện sinh của nó mang bộ mặt riêng biệt, đặcthù xa lạ với mọi tính cách phổ quát Hiện sinh là một tư chất, một đặc ândành riêng cho con người - “hữu thể - người”, bởi vì chỉ có con người mới tự

do lựa chọn cách thức, thái độ sống, tức có ý thức để trở thành hiện sinh, chonên hiện sinh chính là một mặt của tồn tại” [14, tr.80]

Trong bài viết: “Tư tưởng triết học cơ bản của Martin Heidegger và

ảnh hưởng của nó đến các trào lưu triết học phương Tây thế kỷ XX” in trong

cuốn “Những vấn đề triết học phương Tây thế kỷ XX” (Kỷ yếu hội thảo Quốc

tế, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2007), tác giả Nguyễn Vũ Hảo định nghĩa

hiện sinh là phương thức sống, thái độ sống của con người với tư cách là tồn

Trang 18

tại người, là cốt lõi bên trong của tồn tại người Theo đó, tác giả chỉ ra rằng,với tư cách là cái cốt lõi, là mặt cơ bản của tồn tại người, hiện sinh có tính ưutiên, tính thứ nhất Hiện sinh và tồn tại người có trước bản chất Hiện sinh tựlựa chọn và tự xác định bản chất của con người Không có hiện sinh thì không

có bản chất, bản thể Bản chất của con người chỉ có được từ hiện sinh Hiệnsinh chỉ có ở con người, chứ không thể có ở các loài sinh vật hay ở bất cứhiện hữu nào khác

Khác với các trình bày trên, các tác giả Đỗ Minh Hợp, Trần Thị Điểu,

Nguyễn Thị Như Huế, Phạm Thanh Tùng trong cuốn “Triết học Hiện sinh”

(Nxb Tôn Giáo 2010), đã chỉ rõ cách tiếp cận để nghiên cứu Chủ nghĩa hiệnsinh, tiếp cận từ góc độ văn hóa học Từ quan điểm “phải nhìn nhận chủ nghĩahiện sinh từ góc độ văn hóa học, tức là từ góc độ văn hóa sinh tồn của conngười phương Tây, mà sự chuyển biến của nó tất yếu sẽ dẫn tới chủ nghĩahiện sinh như một lối sống và một kiểu tư duy” [47, tr.34], các tác giả đi đếnđịnh nghĩa khái niệm hiện sinh: là "khả năng tồn tại làm người" Do vậy, sựhiện sinh không phải là bản chất, không phải là một cái gì đó có sẵn trong tựnhiên, mang tính bẩm sinh, được định trước và bất biến” [47, tr.17] Từ đó cáctác giả đưa ra một số đặc điểm chung của chủ nghĩa hiện sinh

Như vậy, dù định nghĩa bằng cách này hay cách khác các tác giả đều

khẳng định rằng, triết học hiện sinh là triết học về con người, về thế giới nộitâm bên trong của mỗi con người Tuy nhiên, các tác giả chỉ dừng lại ở việcđưa ra những cách hiểu cụ thể mà không chỉ rõ góc độ tiếp cận khi nghiên cứutrường phái triết học này

1.1.2 Các công trình nghiên cứu ngoài nước

Trong phần này, luận án chủ yếu khảo sát các công trình nghiên cứucủa các học giả nước ngoài đã được dịch ra tiếng Việt

Đầu tiên phải kể đến tác phẩm “Chủ nghĩa hiện sinh” của tác giả

Jacques Colette, (do Hoàng Thạch dịch, Nxb Thế Giới, 2011) [5] Tác phẩm

đã giới thiệu một cách ngắn gọn về lý thuyết và thực hành suy tư thông quacác tác giả tiêu biểu như Kierkegaard, Marcel, Jaspers, Husserl, Heidegger,

Trang 19

Sartre, Merleau - Ponty Đồng thời, tác phẩm cũng bàn đến các vấn đề nhưhiện sinh, tự do, siêu việt, thời gian, thế giới, giao tiếp và tương lai của chủnghĩa hiện sinh Theo tác giả, khái niệm chủ nghĩa hiện sinh được các tác giảthuộc trường phái triết học hiện sinh hiểu đó là triết học về sinh tồn VàSchelling mới là người mở đường của tư tưởng hiện sinh, được thể hiện ở tácphẩm chủ chốt năm 1809 bàn về bản chất của tự do, mà căn bản hơn chính làbản chất của sự sinh tồn Schelling hiểu sinh tồn như là quyền lực, như là mốiquan hệ với bản thân, bao hàm giả định về bản thân đưa ra bởi chính bản thânmình Khái niệm hiện sinh theo tác giả đó là trạng thái thấu hiểu về mình và

về sự tồn tại của mỗi người Bởi vì, tác giả luôn đề cao những khả năng conngười có được để tồn tại theo cách này hoặc cách kia, để lựa chọn trở thànhnhư thế này hoặc như thế khác, để được hoặc để mất Căn cứ vào những khảnăng tồn tại riêng của mình, con người biết rõ mình xuất phát từ cuộc sốngcủa mình Trạng thái thấu hiểu đó, tác giả gọi là hiện sinh Hiện sinh chỉ làchính mình, không có khả năng chấp nhận sự thật cuối cùng qua người khác

và với người khác

Trong "Giáo trình hướng tới thế kỷ XXI - Triết học phương Tây hiện

đại" của tác giả Lưu Phóng Đồng (do Lê Khánh Trường dịch từ "Triết học

phương Tây hiện đại tân biên", Nxb Lý luận chính trị, 2004) [23] đã trình bàykhái luận về chủ nghĩa hiện sinh và phân tích tư tưởng của các nhà triết họchiện sinh: M Heidegger, K.Jaspers, J.P.Sartre Khi nói về nguồn gốc ra đờicủa chủ nghĩa hiện sinh, tác giả chỉ giới thiệu một cách vắn tắt các quan điểmcủa các nhà triết học tiền bối có ảnh hưởng lớn nhất tới sự ra đời của trườngphái triết học này như: Descartes, Augustinus, Pascal, S Kierkeggard,W.Nietzscher, Heidegger, Jasper, Husserl Tuy nhiên, tác giả cũng nhấn mạnhrằng, triết học hiện sinh ra đời gắn liền với các mâu thuẫn xã hội và cuộckhủng hoảng của chế độ tư bản chủ nghĩa và hiện tượng tha hóa nghiêm trọngbắt đầu từ thế kỷ XX Triết học hiện sinh miêu tả và vạch ra sự đánh mất cátính con người, sự tước đoạt tự do của con người, sự chi phối của các lựclượng phi nhân trong xã hội hiện đại đầy rẫy mâu thuẫn và khủng hoảng; luận

Trang 20

chứng làm thế nào cho con người được tự do thực sự, thoát khỏi tình trạng thahóa, khôi phục cá tính và sự tôn nghiêm nơi con người

Như vậy, trong các công trình nghiên cứu của mình, các tác giả đã đánh

giá chủ nghĩa hiện sinh ở những khía cạnh khác nhau, nhưng đều thống nhấtcho rằng, chủ nghĩa hiện sinh là một trong những trào lưu triết học lớn, nổibật nhất của thế kỷ XX, nó đã ghi dấu đậm trong lịch sử triết học Chủ nghĩahiện sinh vẫn có những đóng góp và vị trí quan trọng trong nền triết học nóichung, sẽ tiếp tục ảnh hưởng trong nhiều thế kỷ tới, đặc biệt triết học hiệnsinh có một ý nghĩa rất quan trọng đối với việc cảnh báo những mối nguyhiểm rình rập con người khi sống trong thế giới văn minh, hiện đại

1.2 Các công trình nghiên cứu bàn về nội dung cơ bản trong triết học thực tiễn của chủ nghĩa hiện sinh

1.2.1 Các công trình nghiên cứu bàn về tư tưởng đạo đức

1.2.1.1 Các công trình nghiên cứu trong nước

Cho đến nay vẫn chưa có một tác giả nào đề cập đến một cách có hệthống Hầu hết các tác giả khi bàn về vấn đề đạo đức chỉ quan tâm, nghiêncứu một lĩnh vực cụ thể, nhất định, như đạo đức học của một tác gia nào đó,hay những phạm trù đạo đức cụ thể trong chủ nghĩa hiện sinh

Tác giả Nguyễn Đức Nam trong bài viết “quan điểm của chủ nghĩa

hiện sinh” in trong cuốn “Các chủ nghĩa: Cấu trúc, Hiện sinh, Phân tâm” do

Bộ Văn hóa, trường Chính trị xuất bản năm 1973 đã khẳng định về vị trí củaphạm trù tự do: “khái niệm “bản chất”, “tồn tại”, “tự do” là những khái niệmrất cơ bản của chủ nghĩa hiện sinh” [87, tr.4] Tác giả nhấn mạnh: “Khái niệm

“tự do lựa chọn” là khái niệm rất lớn của chủ nghĩa hiện sinh” [87, tr.6] Trên

cơ sở đó, tác giả đi phân tích quan điểm của Sartre về tự do với những ngườilàm văn học nghệ thuật

Tác phẩm Phê phán văn học hiện sinh chủ nghĩa, (Nxb Văn học Hà Nội, 1978) Đỗ Đức Hiểu đã phân tích triết học hiện sinh trên tinh thần chính

là phê phán Tuy nhiên, tác giả bàn nhiều đến các khái niệm cơ bản của đạo

đức học hiện sinh như: “buồn nôn, cái phi lý, hư vô, tự do, lo âu, cái người ta,

Trang 21

cái chết, thân phận con người, v.v.” Trong đó, tự do là phạm trù cơ bản, “lànguồn gốc của mọi giá trị” [32, tr.95] Ông cho rằng, “hiện sinh, chính là tựdo” [32, tr.69]

Mặc dù không đi sâu phân tích tư tưởng đạo đức nói chung hay cácphạm trù đạo đức cơ bản trong quan niệm của các nhà triết học hiện sinh, tuy

nhiên, tác giả Nguyễn Hào Hải trong tác phẩm “Một số học thuyết triết học

phương Tây hiện đại” (Nxb Văn hóa Thông tin, 2001) cũng phân tích phạm

trù cơ bản nhất trong quan niệm của các nhà đạo đức hiện sinh là phạm trù tự

do Ông cho rằng, chỉ cần con người sống là con người có tự do, tự do là mộtđiều con người không thể thoát khỏi “Tự do, đó là cái được phán quyết chocon người” [26, tr.142] Trên cơ sở đó, tác giả phân tích các điều kiện pháttriển tự do của con người Tuy nhiên, phạm trù tự do chỉ được tác giả bàn đến

sơ bộ khi nói về tồn tại người, không chỉ ra những giá trị và hạn chế của tưtưởng này trong quan niệm của các nhà đạo đức hiện sinh

Khác với Nguyễn Hào Hải, trong tác phẩm “Những chủ đề cơ bản của

triết học phương Tây”, (Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 2003), tác giả Phạm Minh Lăng đã tìm hiểu các phạm trù của đạo đức học hiện sinh khi

nghiên cứu dòng chảy chung của triết học phương Tây hiện đại Ông quantâm nhiều nhất đến phạm trù tự do Theo ông, trở thành tự do là thực hiện lờimời gọi của chính mình Tự do là cái Tôi của mỗi người được thể hiện và lựachọn Tự do gắn với hư vô Ông đã diễn tả quan niệm của Sartre: “hư vôkhông phải là cái gì khác là giá trị tỏa ra từ một dự định tự do và xuất hiện

như là một ý tưởng làm cho thế giới không hiện diện bởi sự từ chối của chính

ta” [52, tr.390].

Tác giả Bùi Đăng Duy, Nguyễn Tiến Dũng cũng trình bày về phạm trù đạo đức trong chủ nghĩa hiện sinh trong cuốn “Lược khảo triết học phương

Tây” do nhà xuất bản chính trị Quốc gia xuất bản năm 2003 Mặc dù không

phân tích sâu những nội dung chủ yếu trong các phạm trù đạo đức này, chưachỉ ra những giá trị và hạn chế cụ thể của nó, nhưng các tác giả đã đưa đếncho người đọc những suy nghĩ mới về các phạm trù đạo đức như buồn nôn,

Trang 22

tha hóa, cô đơn, cái chết, lo âu, xao xuyến, tự do Các tác giả cũng cho rằng,phạm trù tự do là nền tảng để xem xét các phạm trù đạo đức khác như cáichết, lo âu “Cái chết cũng là một nguồn gốc lo âu Lo âu có nguồn gốc ở tự

do Lo âu là tâm tính đầy đam mê mở ra sự sáng tạo” [12, tr.139] Cùng vớiphạm trù lo âu, các tác giả cũng nhắc đến phạm trù trách nhiệm nhưng chỉdừng lại ở việc chỉ ra mà không đi vào phân tích cụ thể Trách nhiệm “cũng làmột tâm tính mang màu sắc đặc biệt hiện sinh Người hiện sinh không phảichịu trách nhiệm về sự phán quyết của thượng đế hay của lý tưởng nào cả màcủa hành vi của mình” [12, tr.140] Từ đó, các tác giả cho rằng, “trách nhiệm

là tất cả những gì mà ta “đảm nhận” chúng” [12, tr.140]

Năm 2005, nhà xuất bản văn học thành phố Hồ Chí Minh đã tái bản

cuốn “Chủ nghĩa hiện sinh” của tác giả Trần Thái Đỉnh Trong tác phẩm này,

tác giả cũng bàn đến những phạm trù của tư tưởng đạo đức trong triết họchiện sinh như buồn nôn, phóng thể, tỉnh ngộ, ưu tư, vươn lên, tự quyết, độcđáo, cô đơn Tuy nhiên, trong các phạm trù đó, tác giả đặc biệt nhấn mạnhđến hai phạm trù tự do và trách nhiệm, và giới thiệu một cách khái quát nhấtcác phạm trù này thông qua tư tưởng của một số nhà triết học hiện sinh nhưMarcel, Sartre, Jaspers “Tự do và định mệnh” là “hai đặc điểm làm conngười khác sự vật, và làm cho một người đã vươn tới hiện sinh khác mộtngười sống trong tình trạng sự vật” [16, tr.281] Ông cho rằng, “nhân cách

mới thực là cái do ta làm ra nhờ cái vốn mà trời phú bẩm cho mỗi người, cho

nên tự do (do chính ta làm ra) mới thực là thước đo giá trị nhân bản của conngười” [16, tr.281] Con người có tự do lựa chọn nhưng lựa chọn của conngười là không có lý do: “Sự lựa chọn của ta không bao giờ có lý do Sự lựa

chọn đó bao giờ cũng đi trước lý do Không phải vì lý mà ta chọn, nhưng vì ta

chọn cho nên có lý” [16, tr.325]

Bàn về tư tưởng đạo đức trong triết học hiện sinh nhưng Nguyễn Tiến

Dũng trong tác phẩm “Chủ nghĩa hiện sinh, lịch sử, sự hiện diện của nó ở Việt Nam" (Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 2006) cũng không bàn đến đạo

đức học hiện sinh như một đối tượng nghiên cứu Sau khi phân tích vấn đề

Trang 23

trung tâm của triết học hiện sinh, tác giả bàn về các phạm trù xoay quanh vấn

đề trung tâm đó như hữu thể, hư vô, hiện hữu, buồn nôn, tự do, cái chết, lo âu,tuyệt vọng, nhập cuộc, trách nhiệm Tuy nhiên, trong tác phẩm này, hai phạmtrù “tự do” và “trách nhiệm” được tác giả trình bày một cách cụ thể hơn “Tự

do hiện sinh là tự do con người do tôi đảm nhận, do tôi quyết định Hànhđộng tự do là hành động xuất phát từ hữu thể con người tôi” [14, tr.85] Tự do

là thuộc tính của nhân vị, chắp cánh cho nhân vị, bộ mặt đặc hữu không lắplại của con người Con người bị kết án bởi tự do Do vậy, “tự do của conngười là tuyệt đối” [14, tr.93] Với chủ nghĩa hiện sinh “vấn đề trách nhiệmchính là vấn đề lựa chọn bản chất của cá nhân” [14, tr.117] Tác giả viết: “tôiphải có trách nhiệm về tất thẩy, không chỉ với hành động cá nhân của tôi màcòn trách nhiệm về tất cả, cả về chiến tranh như chính tôi là người tuyênchiến Nghĩa là hiện sinh phải có trách nhiệm với cả những biến cố ở bênngoài” [14, tr.116]

Tác giả Đỗ Minh Hợp trong bài "Tư tưởng đạo đức của Gi.P.Xáctơrơ"

(Tạp chí Triết học số 11/2005) cũng đã chỉ ra nguyên lý đầu tiên của chủnghĩa hiện sinh là: hiện sinh là hư vô, là lựa chọn trong tình huống cụ thể.Khái niệm về tự do là đặc trưng bản thể cơ bản, tự do là tính thứ nhất của hiệnsinh, là điểm xuất phát khi nghiên cứu đạo đức học của Sartre Tự do lànguyên tắc chủ đạo của tồn tại người, là cái phân biệt con người với mọi cái

tự nhiên Khi bàn về tự do, tác giả cho rằng có thể đưa ra định nghĩa duy nhất

về tự do là sự tự chủ lựa chọn Lần đầu tiên tác giả cũng phân biệt sự khác

nhau giữa khái niệm tự do theo nghĩa triết học và tự do theo nghĩa luật học.Tuy nhiên, tác giả cũng khẳng định rằng, tự do không thể tách rời được vớitrách nhiệm Với các nhà hiện sinh thì, tự do và trách nhiệm là hai hiện sinhthể quan trọng nhất Xuất phát từ tự do người ta có thể hiểu được các phạmtrù khác như thiện, ác, lo âu, v.v Tác giả cũng cho rằng, người có trách nhiệm

là người luôn lo âu trước mỗi lựa chọn của mình Lo âu được hiểu là trạngthái tự nhiên của con người đã gánh vác trách nhiệm Trên cơ sở đó, tác giảkhái quát thành các đặc điểm cơ bản trong quan niệm của Sartre về đạo đức

Trang 24

Phân tích phạm trù tự do và trách nhiệm như hai phạm trù trung tâm,

nổi bật trong triết học hiện sinh của J.P.Sartre, tác giả Đặng Hữu Toàn trong bài viết: “Về chủ nghĩa hiện sinh vô thần của Gi.P.Xáctơrơ” in trong cuốn

“Những vấn đề triết học phương Tây thế kỷ XX” (Kỷ yếu hội thảo Quốc tế,

Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2007), cho rằng, J.P.Sartre lấy sự tự do củacon người làm chủ đề trung tâm của ông, nhìn nhận tự do con người như nétđặc trưng phân biệt con người với mọi thực thể khác trong vũ trụ Tự do làbản chất của hành vi con người, là cội nguồn của hoạt động của con người, làkhả năng tồn tại duy nhất của con người Bằng sự lựa chọn tự do của mình,con người làm ra chính mình Tác giả cho rằng, lựa chọn hiện sinh là một đặctrưng vinh quang của con người, bởi nó cho phép con người phân biệt mìnhvới mọi thực thể khác trong vũ trụ Tự do mang lại phẩm giá cho con người

Điều đáng chú ý là, tác giả Đặng Hữu Toàn cũng gắn phạm trù trách nhiệm

trong mối quan hệ với phạm trù tự do

Trong kỷ yếu hội thảo quốc tế "Những vấn đề triết học phương Tây hiện

đại thế kỷ XX”, (Nxb Đại học Quốc Gia Hà Nội, 2007), tác giả Đỗ Minh Hợp

cũng đã có bài viết về "Tư tưởng đạo đức học của F.Nietzsche" Ở đó, tác giả

đã khẳng định quan điểm của Nietzsche khi cho rằng, hạt nhân sống độngđích thực của mỗi một triết học tạo thành các mục đích đạo đức hay phi đạođức của nó Tác giả chỉ ra sự suy đồi về đạo đức trong triết học, 3 cơ sở dẫntới sự suy đồi đạo đức đó và lối thoát duy nhất cho đạo đức khỏi bế tắc làquay trở lại quá khứ với cảm xúc và cảm giác sinh lý Nietzsche đã hướngnhãn quan của mình vào những con người hiện thực, và chỉ ra “trách nhiệm”

là nội dung đích thực của lịch sử đạo đức kéo dài Trên cơ sở luận chứng về

đạo đức học giá trị của Nietzsche và những giá trị, hạn chế của nó, tác giả Đỗ

Minh Hợp đã rút ra 7 tư tưởng đạo đức cơ bản của Nietzsche

Cũng trong kỷ yếu hội thảo này, tác giả Bùi Thị Tỉnh có bài viết “Quan

niệm về tự do trong triết học hiện sinh của Simone de Beauvoir” Tác giả bài

viết tập trung bàn về quan niệm tự do của Simone de Beauvoir trong tác phẩm

“Vì một nền luân lý của sự hàm hồ” Ở đó Simone de Beauvoir ra sức xây

Trang 25

dựng một luân lý hiện sinh mà nền tảng của nó là tự do Tự do là chủ đề trung

tâm của triết học Simone de Beauvoir, là khái niệm nổi bật nhất trong chủ nghĩa hiện sinh Pháp, trước hết là ở Sartre Giống như tác giả Đặng Hữu

Toàn, Đỗ Minh Hợp, tác giả Bùi Thị Tỉnh cũng cho rằng, tự do và trách nhiệm

là hai hiện sinh thể quan trọng nhất của triết học hiện sinh, tự do hiện sinh chỉthực sự có ý nghĩa khi gắn với trách nhiệm hiện sinh, chủ nghĩa hiện sinhđồng nghĩa với tự do căn bản và trách nhiệm căn bản Con người chỉ đạt đến

tự do khi nhận thấy trách nhiệm của mình Trên cơ sở phân tích về tự do vàtrách nhiệm, tác giả cũng chỉ ra những ưu điểm và hạn chế trong quan điểmnày của Simone de Beauvoir

Sẽ là khiếm khuyết nếu không nhắc đến bài báo: “Tự do và trách nhiệm

trong đạo đức học hiện sinh” của tác giả Đỗ Minh Hợp đăng trên tạp chí Triết

học số 12 năm 2007 Giống như phần lớn tác giả khác, khi nghiên cứu về các

phạm trù đạo đức cơ bản trong triết học hiện sinh, tác giả Đỗ Minh Hợp cho

rằng, tự do và trách nhiệm (đối với tự do) là hai hiện sinh thể quan trọng nhất.Điều đáng chú ý là, tác giả chỉ ra tự do là cơ sở nghiên cứu các phạm trù đạođức trong triết học hiện sinh Tất cả những gì có nội dung đạo đức đều đượcđặt dưới ánh sáng phê phán của tự do Không những thế, tác giả cũng khẳngđịnh vai trò, vị trí của trách nhiệm trong mối liên hệ với tự do Nếu tự dođược coi là nguyên tắc cơ bản của tồn tại người, là cái phân biệt con ngườivới mọi cái tự nhiên, thì trách nhiệm là thái độ của con người đối với tự do.Trách nhiệm không phải là sự sao chép lại tự do, mà là luận điểm cơ bản thứhai của triết học hiện sinh Không chỉ bàn đến các phạm trù như tự do, tráchnhiệm, thiện, ác, tác giả bài viết còn đề cập đến các phạm trù đạo đức khácnhư lo âu, sợ hãi, thất vọng, v.v qua việc làm rõ quan niệm của các nhà triếthọc hiện sinh tiêu biểu như E.Husserl, M.Heidegger, K.Jaspers, J.P.Sartre vàA.Camus Từ đó, tác giả đưa ra những ý kiến đánh giá về đóng góp của triếthọc hiện sinh trong lĩnh vực đạo đức học

Tác giả Hoàng Văn Thắng trong bài viết: “Tìm hiểu quan niệm của

Jean Paul Sartre về hiện sinh” in trong cuốn “Những vấn đề triết học phương

Trang 26

Tây thế kỷ XX” (Kỷ yếu hội thảo Quốc tế, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội,

2007), đã phân tích quan niệm của J.P.Sartre về hiện sinh Trên cơ sở đó tácgiả cũng đưa ra quan điểm của mình về phạm trù tự do Không phân tích sâu

về phạm trù này, nhưng theo tác giả, con người hiện hữu là khi có tính sángtạo và tự do Khi mới sinh ra, con người không là gì cả, còn trong cuộc sốngcon người là tổng thể những cái do mình tạo nên Con người tự tạo nên sốphận của chính bản thân mình, tự mình làm nên bản chất mình Do đó, conngười phải chịu trách nhiệm và thực hiện những lựa chọn

Cũng bàn về các phạm trù đạo đức trong triết học hiện sinh, nhưng tác

giả Đặng Thị Lan trong bài viết “Vài nét về chủ nghĩa hiện sinh ở miền Nam

Việt Nam những năm 60 - 70 của thế kỷ XX” in trong cuốn “Những vấn đề triết học phương Tây thế kỷ XX” (Kỷ yếu hội thảo Quốc tế, Nxb Đại học

Quốc gia Hà Nội, 2007) lại cho rằng, tự do là cái thiện cao nhất, tự do xuấthiện cùng với hiện hữu của con người Sự hiện hữu đích thực đòi hỏi conngười phải có tự do Con người có quyền tự do lựa chọn, sự lựa chọn đó làkhông có nguyên tắc, không có căn cứ nào để phán đoán đúng sai Tự do làcái nền của lo âu hiện sinh, một cảm giác bi thiết nhưng rất cao cả

Một trong những đóng góp quan trọng khi nghiên cứu về vấn đề đạo

đức trong triết học hiện sinh, ở chương: “Một số đại diện tiêu biểu của chủ

nghĩa hiện sinh” trong cuốn “Triết học hiện sinh” (Nxb Tôn Giáo 2010), các

tác giả Đỗ Minh Hợp, Trần Thị Điểu, Nguyễn Thị Như Huế, Phạm Thanh

Tùng sau khi trình bày có hệ thống các quan điểm cơ bản của các nhà hiện

sinh, các tác giả đã trình bày tư tưởng đạo đức của các triết gia này như mộtnội dung chủ yếu, nổi bật Các tác giả đã đi sâu phân tích làm rõ các phạm trùđạo đức cơ bản của các nhà triết học hiện sinh như tự do, trách nhiệm, lo âu,

sợ hãi, v.v Điều đáng nói là, các tác giả phân tích làm nổi bật phạm trù tự do

và trách nhiệm như một luận điểm chủ yếu trong quan điểm của tác giả hiệnsinh về đạo đức Tuy nhiên, việc nghiên cứu phạm trù tự do và trách nhiệmchỉ dừng lại ở một số triết gia tiêu biểu như A.Camus, J.P.Sartre, v.v Sau khi

Trang 27

phân tích các quan điểm của Sartre về tự do, tự do là bản tính của con người,con người buộc phải có tự do, bị quẳng vào tự do, v.v., các tác giả đưa ra

“định nghĩa duy nhất về tự do - là tự chủ lựa chọn” [47, tr.410] Tự do gắn

với trách nhiệm Các tác giả cho rằng: “trách nhiệm là tuyệt đối giống như tựdo” [47, tr.411]

Không phân tích đạo đức như một nội dung cơ bản của chủ nghĩa hiện

sinh, nhưng trong luận án Phó tiến sĩ triết học “Chủ nghĩa hiện sinh và một

vài ảnh hưởng của nó ở miền Nam Việt Nam” (Viện Triết học, Hà Nội 1996),

tác giả Lê Kim Châu cũng đã phân tích một số phạm trù cơ bản như: nhảy vọt,

tha hóa, độc đáo, thất vọng, tham gia, tha nhân, thượng đế, v.v Không phântích sâu và chỉ ra những mặt tích cực và hạn chế của phạm trù tự do, tráchnhiệm, nhưng tác giả cũng khẳng định: “Tự do là tự mình lựa chọn, tự quyếtđịnh” [7, tr.57] hay: “Con người tự do lựa chọn mình và hoàn toàn chịu tráchnhiệm về mình” [7, tr.58]

Khác với phần lớn các tác giả trước đây khi nghiên cứu về triết học

hiện sinh, tác giả Nguyễn Thị Như Huế trong luận văn thạc sĩ “Quan niệm

đạo đức học trong chủ nghĩa hiện sinh” (Khoa Triết học, Trường Đại học

Khoa học Xã hội và Nhân văn, Hà Nội 2008) đã lấy đạo đức hiện sinh làm đốitượng nghiên cứu Trên cơ sở phân tích nền tảng của quan niệm đạo đức họctrong chủ nghĩa hiện sinh là thân phận con người và tồn tại người tác giả đãphân tích những quan niệm cơ bản của đạo đức học trong chủ nghĩa hiện sinhnhư: quan niệm về thiện và ác, trách nhiệm, về sự không trung thực và sự hènnhát, về lương tâm và tội lỗi Từ đó tác giả đưa ra những đánh giá sơ lược vềgiá trị và hạn chế của quan niệm đạo đức trong chủ nghĩa hiện sinh Tuynhiên, tác giả chỉ dừng lại ở việc trình bày những nội dung cơ bản của cácquan niệm đạo đức này mà không khái quát thành các đặc điểm cơ bản củatừng phạm trù, sắp xếp theo mạch lôgic xác định

Như vậy, trong các công trình trên, các tác giả đều nghiên cứu đạo đức

với tư cách là nội dung cơ bản của triết học hiện sinh Hai phạm trù tự do và

Trang 28

trách nhiệm được các tác giả phân tích và làm nổi bật với tư cách là phạm trùtrung tâm trong tư tưởng đạo đức của các nhà hiện sinh Tự do là cái thiện caonhất, là cơ sở để nghiên cứu các phạm trù đạo đức khác Tự do và trách nhiệm

là hai hiện sinh thể quan trọng nhất, tự do gắn với trách nhiệm Tự do đượccoi là nguyên tắc cơ bản của tồn tại người, là cái phân biệt con người với mọicái tự nhiên, thì trách nhiệm là thái độ của con người đối với tự do Con ngườichỉ thực sự tự do khi nhận thấy trách nhiệm của mình Tuy nhiên, các tác giảchỉ dừng lại ở việc nêu ra những đặc điểm của các phạm trù này qua việcphân tích tư tưởng của từng triết gia tiêu biểu mà chưa có sự khái quát thànhnhững đặc điểm cơ bản theo trật tự lôgic trong toàn hệ thống, chưa có sự đánhgiá khái quát về những giá trị và hạn chế trong tư tưởng đạo đức của trườngphái triết học này

1.2.1.2 Các công trình nghiên cứu ngoài nước

Tác phẩm “Chủ nghĩa hiện sinh” của tác giả Jacques Colette, (do

Hoàng Thạch dịch, Nxb Thế Giới, 2011) không chỉ bàn về thực chất của kháiniệm hiện sinh, khái quát chung về triết học hiện sinh, tác giả còn bàn về cácphạm trù cơ bản trong tư tưởng đạo đức của các nhà hiện sinh Khi nói vềphạm trù tự do, tác giả cho rằng, theo các triết gia hiện sinh thì hiện sinh cótrước bản chất, hiện sinh đồng nghĩa với tự do Tự do là khả năng kêu gọi chotồn tại, tồn tại vì chính nó, được ở phía trước mình, được tồn tại vì những tínhkhả năng hiện sinh riêng biệt nhất của nó, ở cấp cuối cùng, được tồn tại mộtcách cương quyết hướng về hoặc vì cái chết Tự do có thể thấy được trongkhoảnh khắc, trong tình thế luôn đổi mới, theo hướng tương lai không thể dựliệu trước Tự do là lựa chọn tồn tại của con người, chứ không phải là cơ sởtồn tại của họ

Trong tác phẩm "Giáo trình hướng tới thế kỷ XXI - Triết học phương

Tây hiện đại", tác giả Lưu Phóng Đồng (do Lê Khánh Trường dịch từ "Triết

học phương Tây hiện đại tân biên", Nxb Lý luận chính trị, 2004) đã giớithiệu về tư tưởng giáo dục và đặc biệt là tư tưởng đạo đức qua quan điểm của

Trang 29

ba triết gia tiêu biểu là M.Heidegger, K.Jaspers, J.P.Sartre Dù phân tích cácphạm trù đạo đức khác nhau như lo âu, siêu việt, cái chết, lương tâm, v.v.,nhưng phạm trù tự do vẫn là phạm trù trung tâm mà tất cả các tác giả đềuquan tâm phân tích Nếu như Heidegger cho rằng, tự do là đặc tính tiên thiêncủa con người, con người sinh ra là đã có tự do, tự do lựa chọn, trong đó quantrọng nhất là coi tự do là việc con người lựa chọn tính khả năng, thì tự do củaJaspers lại gắn liền với hiện sinh và siêu việt Hiện sinh và tự do là đồng nhất.Nói hiện sinh có tự do, hoặc nói tự do là một nhân tố của hiện sinh đều khôngchính xác vì bản thân hiện sinh là tự do, hai cái đó có thể thay thế lẫn nhau.Jaspers quy tự do của con người là tự do cá nhân, tức là cá nhân có khả năng

tự lựa chọn, sáng tạo quyết định hành động của mình Tuy nhiên, tự do củaJaspers không có nghĩa là con người thích làm gì cũng được mà phải tuântheo sự chỉ dẫn của Thượng đế Sự chỉ dẫn của thượng đế không phải là sựphục tùng sức mạnh ở bên ngoài mà là tự mình hiểu lấy Người nào hiểu được

tự do tức là đã vượt qua giới hạn cá nhân mà hòa hợp với Thượng đế Cũngnói về tự do nhưng Sartre cũng đồng nhất giữa tự do và hiện sinh Tự do làkhái niệm tất nhiên phải có Tự do của con người có trước bản chất, làm chocon người khác biệt với vật Con người khác với vật ở chỗ, con người khôngngừng tự trù tính, tự lựa chọn, tự sáng tạo Mọi đặc tính của con người khôngphải sinh ra là có sẵn hay do Thượng đế ban cho, mà là do con người tự dotạo nên theo nguyện vọng của mình

Heidegger gắn tự do với cái chết Chỉ có tâm trạng sợ chết, con ngườimới có thể siêu thoát tình trạng trầm luân, hiểu ra tồn tại thực sự của mình,giữ gìn tính độc lập và tự do cho mình Tự do của con người hiện sinh là tự dotrong nỗi sợ chết Trong khi đó, Jaspers lại gắn tự do với giao tiếp Theo ông,

cá nhân chỉ được tự do khi giao tiếp với tha nhân Khi nhấn mạnh tính độclập, tự chủ là đặc trưng cơ bản của tự do, Jaspers khẳng định rằng, sự giaotiếp với tha nhân là điều kiện tất yếu để thực hiện tự do cá nhân Ngược lại,Sartre lại gắn liền tự do với trách nhiệm đạo đức Sartre nhiều lần nhấn mạnh

Trang 30

rằng, mỗi cá nhân khi đưa ra lựa chọn, đều phải có ý thức trách nhiệm trướcbản thân mình, trước người khác và toàn thế giới Con người phải tự chịutrách nhiệm mà không đổ lỗi được cho bất cứ ai hay hoàn cảnh khách quannào và cũng không thể dựa vào Thượng đế Sartre cũng gắn trách nhiệm cánhân khi lựa chọn với sự buồn phiền, cô đơn và tuyệt vọng Buồn phiền làcảm giác trách nhiệm tồn tại bản thân mình trước người khác và thế giới.Người ta cảm thấy cô đơn vì khi người ta lựa chọn ngoài bản thân mình ra,người ta chẳng thể dựa vào Thượng đế hay lực lượng bên ngoài nào khác.Người ta cảm thấy tuyệt vọng vì cá nhân chỉ có thể dựa vào mình không thểnhờ vả người khác và xã hội Do đó, Sartre đồng nhất sự hiện hữu của conngười với tự do lựa chọn, lấy tâm trạng ưu phiền, cô đơn và tuyệt vọng làmphương thức cơ bản lĩnh hội tự do.

Không trình bày về triết học hiện sinh một cách hệ thống nhưng cuốn

“Nhập môn triết học phương Tây” của Samue Enach Stumpt và Donald C.Abel (Nxb Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh, 2004, do Lưu Văn Hy biên

dịch) cũng bàn về đạo đức, trong đó, phạm trù tự do được phân tích như phạmtrù trung tâm Các tác giả đi sâu phân tích đạo đức học của Nietzsche là đảolộn các giá trị, đạo đức học của Sartre là tạo ra chính mình hay nói cách khác

là đạo đức học cá nhân Khi nói về chủ đề cơ bản của toàn thể triết học Sartre,các tác giả khẳng định rằng, một trong những chủ đề cơ bản đó là triết họcđạo đức của ông mà phạm trù tự do là phạm trù trung tâm của đạo đức Sartrenhìn tự do như nét đặc trưng phân biệt con người với mọi thực thể khác trong

vũ trụ Con người thì tự do, con người là tự do Vì con người là tự do, nên conngười có thể làm mình trở thành loại hữu thể mà chúng ta chọn Đạo đứckhông phải là vấn đề chọn các giá trị đúng, bởi vì, ngoại trừ tự do, không cógiá trị nào tồn tại độc lập với các chọn lựa của chúng ta Chính hành vi chọnlựa của chúng ta tạo cho nó giá trị, làm cho nó thành tốt Nhiệm vụ đạo đứccủa chúng ta là nhìn nhận tự do hoàn toàn của mình và sử dụng nó để tạo rachính mình Theo các tác giả, con người theo các nhà hiện sinh quan niệm, là

Trang 31

không xác định, đó là vì ban đầu nó không là gì cả Chỉ sau đó nó mới và sẽ làcái gì, và tự nó sẽ làm nó thành cái gì Theo các tác giả, tự do hiện sinh theoquan điểm của Sartre luôn gắn với trách nhiệm của họ Vì con người tự dolàm ra chính mình thành loại hữu thể mà chúng ta chọn, do đó chúng ta phảihoàn toàn chịu trách nhiệm về việc chúng ta là con người nào Người hiệnsinh không dễ chấp nhận người trốn tránh trách nhiệm và cho đó là nhữngngười không thành thật Theo Sartre, một người hèn nhát phải chịu tráchnhiệm về sự hèn nhát của mình Đối với những người nói rằng, họ không thểkhông hành động như thế, bởi vì họ bị lôi kéo bởi đam mê, Sartre cho rằng,con người cũng phải chịu trách nhiệm về sự đam mê đó của mình Khôngnhững thế, các tác giả còn nhấn mạnh đến trách nhiệm của mình với nhữngngười xung quanh Con người không chỉ chịu trách nhiệm với bản thân mình

mà mỗi người còn phải chịu trách nhiệm về mọi người, vì khi tôi làm một lựachọn, tôi đưa mình như một mẫu mực cho con người xem, tôi tạo ra một địnhnghĩa về bản tính con người, một hình ảnh mà tôi đã quyết định là một conngười phải là thế nào Tất nhiên, không có bản tính con người, không hề cóđịnh nghĩa đúng về bản tính con người Nhưng chính không có sẵn một địnhnghĩa nên các chọn lựa của tôi có thể tự giới thiệu cho thế giới như là mộtmẫu mực để noi theo Không chỉ bàn về phạm trù tự do và trách nhiệm, cáctác giả còn bàn đến phạm trù lo âu và cô đơn như một trong các phạm trù cơbản của đạo đức học hiện sinh Lo âu là một trạng thái tích cực khi con ngườigánh vác trách nhiệm Lo âu là trạng thái cảm xúc thường trực trong conngười trách nhiệm, con người bằng mọi cách cũng sẽ không thể thoát khỏitrạng thái cảm xúc này

1.2.2 Các công trình nghiên cứu bàn về tư tưởng giáo dục

1.2.2.1 Các công trình nghiên cứu trong nước

Tác giả Trần Thái Đỉnh trong tác phẩm “Triết học hiện sinh” (Nxb.Văn

học, 2005) cũng bàn đến một số tư tưởng giáo dục

Thứ nhất, mỗi con người sinh ra bị giới hạn bởi một thân xác có những

Trang 32

khả năng, sức khỏe hữu hạn, sức chịu đựng có hạn, v.v.; bị giới hạn bởinhững khả năng suy nghĩ có hạn, nhớ có hạn, chú ý có hạn, v.v.; do đó, mỗingười có những phản ứng khác nhau đối với những hoàn cảnh cụ thể tùy theonhững tâm tình và giáo dục của ta Vì vậy, giáo dục không được đưa rachương trình học chung cho tất cả mọi người Vì “tâm tình và giáo dục cũng

là những điều kiện đã đúc lên con người của chúng ta” [16, tr.227]

Thứ hai, quá trình giáo dục phải biết kích thích sự ham muốn của ngườihọc Sartre coi ham muốn là hình thức tự phát và nguyên thủy của mỗi hành

vi con người Thiếu sức thúc đẩy đó, con người không thể trở thành người chíkhí, không thể đạt tới tự do hiện sinh “Những người hiền như cừu và lànhnhư nắm bông không thể trở thành những nhân vị phong phú và giúp ích cho

xã hội Fénelon kinh nghiệm rằng những đứa trẻ thiếu ham mê và thiếu tínhkhí sẽ không nên người: giáo dục chúng vừa mệt vừa buồn vừa uổng công”[16, tr.211]

Thứ ba, về mối quan hệ thầy trò, tác giả phân tích qua quan điểm củaNietzsche Đối với thầy, dạy làm người là phải dạy trò biết vượt qua và vượttrên ông thầy Đối với trò, trò cần phải biết vượt qua thầy

Các tư tưởng giáo dục cũng được tác giả Nguyễn Tiến Dũng nhắc tới trong tác phẩm “Chủ nghĩa hiện sinh lịch sử, sự hiện diện ở Việt Nam” (Nxb.

Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh, 2006) Khi nói về điều kiện ra đời của tưtưởng giáo dục trong triết học hiện sinh, sau khi phân tích về sự phản ứng củachủ nghĩa phi duy lý đối với chủ nghĩa duy lý, chống lại lối tập trung độcquyền Nhà nước, chống lại sự quan liêu hóa và sự đàn áp dân chủ tác giả đãtrình bày quan điểm của các nhà hiện sinh đòi hỏi đưa đến “Phương pháp giáodục đối chọi” để thay cho nền giáo dục chỉ quan tâm tới việc làm cho laođộng chỉ còn là phương tiện kiếm sống chứ chưa phải là một hành vi sáng tạo,một giá trị tinh thần” [14, tr.12]

Tác giả cũng đưa ra phương pháp đối thoại làm nền tảng cho quan hệgiữa Tôi và Anh của M.Buber “Ông bác bỏ sự tương giao buồn tẻ giữa con

Trang 33

người, tức Tôi và cái Nó và khẳng định chỉ có sự tương giao linh động giữangười với người, giữa Tôi và Anh mới là tương giao thân ái và lý tưởng, ở đóhai bên cùng nói, cùng đối thoại, ở đó hai bên đều tự do thể hiện nhân vị độcđáo của mình không phải chỉ trong cuộc chiến tương khắc mà còn tươngđồng, tương ái” [14, tr.49].

Trong websile Tạp chí Tia sáng của Bộ khoa học Công nghệ ngày

17/11/2008 đã giới thiệu bài viết “Giáo dục hiện sinh” của tác giả Huy

Đường tổng hợp theo tài liệu nước ngoài Trong bài viết này tác giả giới thiệu

một cách khái quát về những nội dung cơ bản về tư tưởng giáo dục trong triếthọc hiện sinh như: mục đích giáo dục, chương trình học, quan hệ thầy trò

Thứ nhất, về mục đích giáo dục, cần làm cho mỗi người nhận thức được sự

tồn tại của chính mình và hình thành cách sống riêng của mình Kết quả tốtnhất của giáo dục là trau dồi cho học sinh thái độ đúng đắn đối với cuộc đờimình, trong đó quan trọng nhất là lòng chân thành, lựa chọn và quyết định,

tinh thần trách nhiệm Thứ hai, về chương trình học không phải là bản thân hệ

thống tri thức khách quan mà là nhu cầu tự thực hiện của học sinh; cho rằngviệc quy định một chương trình học cố định bất biến cho học sinh là khôngthích hợp, vì nó không xét tới thái độ của học sinh đối với tri thức Chương

trình học có trọng điểm là “thế giới nhân cách” Chú trọng các môn học nhân văn như lịch sử, văn học, nghệ thuật, tôn giáo Thứ ba, về mối quan hệ thầy -

trò, đa số nhà giáo dục hiện sinh tán thành quan điểm của Buber: quan hệ thầy

trò là mối quan hệ “tôi và anh”, chứ không phải “tôi và nó” (I - you; I - it)

Tác giả Phạm Minh Hạc trong tác phẩm “Triết lý giáo dục thế giới và

Việt Nam” (Nxb Giáo dục Việt Nam, 2011), khi đề xuất một phương án xây

dựng triết lý giáo dục “giá trị bản thân”, trong đó, ông nhấn mạnh đến giá trịquan trọng nhất của quyền sống đó là “giá trị sống còn” (trong Triết học gọi

là giá trị “hiện sinh” - giá trị được sinh ra và sống được trên đời này Giá trị

“hiện sinh” là giá trị đầu tiên, quan trọng nhất, là “cột trụ” thứ tư trong bốncột trụ giáo dục thế giới Tác giả khẳng định “giá trị “tồn tại” là giá trị cực kỳquan trọng, đây là giá trị ban đầu nhất - giá trị “sống còn”- của con người, bắt

Trang 34

đầu từ giá trị này mới có thể nói tới “giá trị bản thân” như một hệ giá trị củacon người” [24, tr.269] Nếu mục đích của giáo dục hiện sinh hướng đến xây

dựng con người chân thành thì tác giả Phạm Minh Hạc lại hướng đến xây

dựng con người “sống thật” “Giá trị “tồn tại” có thể ở các mức độ khác nhau.Chẳng hạn, “tồn tại” ở mức độ “tồn tại cho tôi”, như thuyết hiện sinh nêu lên,thì có thể đề cập đến phạm trù “sống thật” trong “hoàn cảnh sống thật” tạonên bản sắc của bản ngã: con người tự tạo ra bản thân, nó là cái nó muốn tồntại, con người tồn tại chính là sự tự thể hiện mình Từ đây, con người có tinhthần trách nhiệm với mình Tất cả tồn tại thực trong bản thân con người tạonên vốn trải nghiệm, từ đó hình thành nên các giá trị và thái độ giá trị - hệ giátrị bản thân” [24, tr.269]

1.2.2.2 Các công trình nghiên cứu ngoài nước

Tác phẩm “Schopenhauer nhà giáo dục” của tác giả Friedrich

Nietzsche (Nxb Văn học, 2006 do Mạnh Tường và Tố Liên dịch) là phần 3

của cuốn sách “Quan điểm phi thời gian” của Nietzsche Cuốn sách lật lại những luận điểm triết học, giáo dục học quan trọng nhất của nhà triết học,

nhà giáo dục lỗi lạc người Đức Athur Schopenhauer - người thầy của

Nietzsche Thông qua đó, Nietzsche cũng thể hiện một số quan điểm riêngcủa mình Khi nói quan điểm về giáo dục, trên cơ sở phân tích, phê phán quanđiểm giáo dục mà ông gọi là “mẫu mực”, truyền thống của xã hội thời đó,Nietzsche đưa ra hai nguyên tắc mà giáo dục cần hướng đến Ông khước từvới lối giáo dục mang tính áp đặt, làm cho con người mất đi giá trị đạo đứcđích thực của mình Con người chủ yếu sống bằng giả đạo đức Ông đặt câuhỏi, tất cả các xã hội tiến bộ, ở bất cứ thời nào, miệt mài với nỗi ưu tư đạođức trước kia rồi cuối cùng mang lại kết quả gì? Những mẫu mực sáng ngời

đó, những nỗi ưu tư đạo đức đó không còn nữa, sự thực là hiện nay chúng tasống nhờ vào vốn liếng đạo đức do ông cha ta để lại và chúng ta chỉ biết phântán nó chứ không làm tăng thêm mảy may nào, chúng là những điều ta khôngnói lên được ở cuộc sống hiện tại, hay chỉ nói bằng vụng về, bằng kinhnghiệm non nớt chẳng gợi nên được gì hơn là chán ghét, là không ưa Trường

Trang 35

học và thầy giáo của chúng ta đã rất giản dị, tiêu hủy đạo đức giáo dục, đề caochủ nghĩa hình thức, và nơi đây, đạo đức chẳng tiêu biểu gì cho thầy, cho trò

cả, nó là một thứ tiếng lỗi thời, chỉ làm cho người ta cười thôi, và nếu khôngdám cười, còn tệ hơn nữa, là giả đạo đức Do đó, theo ông, giáo dục phải xuất

phát từ cái vốn có của mỗi người, mỗi cá nhân Ông đưa ra hai nguyên tắc

giáo dục; nguyên tắc thứ nhất, đòi hỏi nhà giáo dục phân biệt đâu là điểm

mạnh của học trò mình và tập trung tất cả năng lực, tất cả nhựa sống, tất cảánh sáng vào điểm đó để đạt được sự trưởng thành và phát triển sung mãn

phẩm tính duy nhất kia Ngược lại, nguyên tắc thứ hai đòi hỏi nhà giáo dục

phải khơi gợi tất cả các khả năng đang có, khai thác chúng và thiết lập một tỷ

lệ hòa hợp giữa chúng với nhau Nguyên tắc thứ nhất, theo ông hiểu đơn giản

là, nơi mỗi con người phải có một trung tâm, trong khi nguyên tắc thứ hai lại

nói nơi mỗi con người phải có một ngoại diện Nhà giáo dục mà Nietzsche mơ

tưởng không những phải khám phá ra được năng lực cơ bản mà còn để nókhông thể tiêu diệt năng lực khác nữa Như thế, giáo dục sẽ đạt được mụcđích là biến đổi toàn thể con người thành một hệ thống sinh động và lưuchuyển như mặt trời và các hành tinh, cùng khám phá ở đó quy luật thay đổi

tuyệt vời của các thiên thể Và Nietzsche đã tìm thấy điều này ở người thầy

của mình là Schopenhauer Khác với những nhà triết học đưa ra hàng loạt các

khái niệm mô phạm và các luân lý, Nietzsche hoàn toàn đồng ý với quan điểm của thầy là Schopenhauer khi gắn liền giáo dục với phần bản năng của con

người Quan điểm của ông có thể gói gọn trong mấy chữ “thuận theo lẽ tựnhiên” trong Đạo giáo Trung Hoa Trong khi con người tự trói buộc mình bởicác xiềng xích và giáo lý khô cứng thì Schopenhauer đã chỉ dạy, và rao giảngcho một lối sống tự do, tự tại, khai thác những yếu tố bản thể nguyên thủytrong sáng của thuở hồng hoang Lý thuyết của Schopenhauer là nền tảng cho

triết học hiện sinh, lý thuyết phân tâm học, v.v., được phát triển mạnh mẽ để

nhắc nhở con người nhớ tới quyền tự do mà sự lười biếng đã khiến họ lãngquên Nietzsches cho rằng, Schopenhauer là nhà giáo dục vĩ đại nhất sau đấngJesus cho nền triết học và tư tưởng Tây Âu

Trang 36

Không bàn về giáo dục như một nội dung chủ đạo, tuy nhiên, trên tinh

thần phê phán quan điểm của Nietzsche về triết học, Gilles Deleuze trong tác phẩm “Nietzsche và triết học” (Nguyễn Thị Từ Huy dịch, Bùi Văn Nam Sơn

hiệu đính, Nxb Tri thức, 2010) cũng trình bày một số nội dung cơ bản củaNietzsche về giáo dục

Thứ nhất, về mục đích giáo dục, Nietzsche đề cao việc rèn luyện khả

năng tư duy của người học “Tư duy có nghĩa là: khám phá, sáng tạo những

khả năng mới của đời sống” [68, tr.139] Hệ thống giáo dục cần rèn luyện

cho người học thói quen không bao giờ mặc nhiên công nhận điều gì mà chưa

có cơ sở chắc chắn và luôn ý thức rằng: không có gì là tuyệt đối Giáo dụccũng cần rèn luyện cho học sinh bản lĩnh ứng xử với những trở ngại có thể có

từ cộng đồng mà tinh thần phê phán và tư duy phản biện còn chưa cao Giáodục cần giúp học sinh nuôi dưỡng “bản năng hướng về tri thức bị buộc khôngngừng phải từ bỏ mảnh đất nơi con người quen sống và lao vào cái khôngchắc chắn” để “tư duy vượt lên trên những giới hạn mà đời sống ấn định chonó” Khi đó, “tư duy không còn là một hệ số, đời sống không còn là một phảnứng” [68, tr.140]

Thứ hai, khi nói về phương pháp giáo dục, Deleuze xác định rõ quanniệm của Nietzsche về sự phê phán Giáo dục cần hướng đến rèn luyện chongười học có tư duy phê phán một cách khoa học “Phê phán không phải làmột phản ứng của sự phẫn hận, mà là biểu hiện tích cực của một lối sống tíchcực: tấn công nhưng không trả thù: tính xâm hấn tự nhiên của một phươngthức tồn tại, sự độc ác thần thánh mà không có nó ta không thể hình dung

được sự hoàn thiện” [68, tr.3 - 4]

Thứ ba, khi nói về mối quan hệ thầy trò, Nietzsche lấy hình ảnh siêunhân để diễn tả Sức mạnh của siêu nhân là ở chỗ có khả năng phê phán vàchấp nhận sự phê phán, sự phê phán nhằm vào những mặt cần phê phán và cótác dụng hoàn thiện con người Nietzsche quan niệm: “siêu nhân, con người

bị vượt qua, bị vượt lên” Có nghĩa là, với Nietzsche, siêu nhân không phải là

kẻ mang sức mạnh siêu nhiên, mà siêu nhân xuất hiện khi con người “muốn

Trang 37

bị vượt qua, bị vượt lên” [38, tr.130] Giáo dục cần làm cho cả người dạy và

người học phải biết chấp nhận sự phê phán tức là chấp nhận rằng bản thân cónhững khuyết điểm, những sai lầm cần phải sửa chữa Thái độ này đòi hỏimột sự dũng cảm đặc biệt mà không phải ai cũng có Deleuze viết: “Đừngnghĩ rằng siêu nhân của Nietzsche là một sự đấu giá cao hơn: về bản chất, nókhác con người, khác với cái tôi” Con người có bản năng tự bảo vệ, đối với ýthức của mình cũng vậy, thật khó để con người phủ định bản thân, thật khó đểcho cái tôi tự lên án chính nó [68, tr.232] Đặc biệt, người thầy không nênđứng cao hơn học sinh mà phải là người bạn đồng hành với người học Cónhư vậy thì những ý kiến đóng góp của học sinh về mặt chưa tốt, chưa đúngcủa thầy mới được coi là bình thường Thầy phê trò thì cũng nên có chiềungược lại Siêu nhân là “sản phẩm tích cực của bản thân sự phê phán” [68,tr.130] Mục đích của sự phê phán “không phải là cứu cánh của con người,hay của lý tính, mà rốt cuộc đó là siêu nhân, con người bị vượt qua, bị vượtlên Trong sự phê phán, vấn đề không phải là bào chữa, mà là cảm nhận theomột cách khác: một năng lực cảm giác khác” [68, tr.131]

Tóm lại, các công trình nghiên cứu tư tưởng giáo dục trong triết học

thực tiễn của chủ nghĩa hiện sinh chủ yếu tập trung bàn đến mục đích giáodục, chương trình giáo dục, phương pháp giáo dục, đặc biệt là mối quan hệthầy trò Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu trên còn mang tính rời rạc hoặckhông cắt nghĩa rõ cơ sở hình thành tư tưởng giáo dục đó, chưa đánh giá đượcnhững giá trị và hạn chế của nó

Các tác phẩm cũng tập trung nghiên cứu về mục đích, phương phápgiáo dục, đặc biệt là đưa ra cách nhìn mới về quan hệ thầy - trò Tuy nhiên,trong các công trình nghiên cứu mà tác giả khảo sát, tư tưởng đạo đức và tưtưởng giáo dục chưa trở thành đối tượng chủ đạo khi nghiên cứu về chủ nghĩahiện sinh

Trang 38

Kết luận chương 1

Thông qua các công trình nghiên cứu được tác giả khảo sát ở trên, có

thể thấy rằng, triết học thực tiễn của chủ nghĩa hiện sinh được các tác giảtrong nước cũng như ngoài nước bàn đến khá nhiều trong các công trìnhnghiên cứu của mình Dù rằng, ở mỗi công trình nghiên cứu, các tác giả tiếpcận và bàn đến nội dung cơ bản trong triết học thực tiễn của chủ nghĩa hiệnsinh theo những cách khác nhau Tuy nhiên, có thể khái quát thành những nộidung cơ bản sau:

Thứ nhất, trong các công trình nghiên cứu trên, trên cơ sở chỉ ra bốn

điều kiện ra đời của chủ nghĩa hiện sinh, các tác giả phân tích nội dung cơ bảntrong triết học thực tiễn của chủ nghĩa hiện sinh là tư tưởng đạo đức và tưtưởng giáo dục Khi nghiên cứu tư tưởng đạo đức các tác giả thường bàn đếncác phạm trù như hư vô, tự do, buồn nôn, độc đáo, lo âu, sáng tạo, cái chết,v.v trong quan điểm của từng triết gia hiện sinh Phạm trù tự do và tráchnhiệm được các tác giả khẳng định là hai hiện sinh thể quan trọng nhất, khôngtách rời nhau, là cơ sở để nghiên cứu các phạm trù đạo đức khác, là phạm trùtrung tâm của đạo đức học hiện sinh Tư tưởng giáo dục được các nhà nghiêncứu khái quát ở những nội dung cơ bản và chủ yếu như mục đích, chươngtrình, phương pháp giáo dục, đặc biệt là đưa ra cách nhìn mới trong mối quan

sinh Hai là, chưa có công trình nghiên cứu nào lấy triết học thực tiễn của chủ

nghĩa hiện sinh làm đối tượng nghiên cứu chủ đạo, xuyên suốt như một tưtưởng nổi bật trong hệ thống của trường phải triết học này Các nội dung cơbản trong triết học thực tiễn như tư tưởng đạo đức, tư tưởng giáo dục đượctrình bày một cách sơ lược, chưa khái quát thành những đặc điểm cơ bảntrong nội dung, chưa cắt nghĩa rõ được phạm trù nào là trung tâm trong các

Trang 39

phạm trù đạo đức, chưa làm rõ nền tảng, cơ sở xuất hiện của các tư tưởng

giáo dục Ba là, chưa đánh giá được những điểm tích cực và hạn chế trong tư

tưởng của các nhà hiện sinh khi bàn về đạo đức hay các tư tưởng giáo dục

Kế thừa và phát triển những điểm tích cực, khắc phục những hạn chế ở các công trình nghiên cứu trước đó về chủ nghĩa hiện sinh là mục tiêu cơ bản

mà tác giả đặt ra cho luận án của mình Mặc dù chưa có công trình nghiên

cứu nào ở trên bàn về khái niệm triết học thực tiễn, triết học thực tiễn của chủnghĩa hiện sinh, tuy nhiên có thể hiểu khái niệm triết học thực tiễn thông quamối quan hệ của con người với thế giới

Trong sự tồn tại của mình, con người luôn đặt mình trong mối quan hệvới thế giới: thế giới tự nhiên, thế giới xã hội; do đó, quan hệ với thế giới củacon người có thể được biểu hiện ở hai hình thức cơ bản, đó là quan hệ về nhậnthức lý luận và quan hệ về hoạt động thực hành (thực tiễn) Khi nghiên cứu vềmối quan hệ của con người với thế giới, triết học luôn đóng vai trò là sự phản

tư về những cơ sở, căn cứ, nguyên tắc chuẩn mực trong quan hệ giữa con ngườivới thế giới Ở đó, triết học lý thuyết nghiên cứu những cơ sở, căn cứ, nguyêntắc của quan hệ lý luận (lý thuyết) giữa con người với thế giới Để giải quyếtvấn đề này, triết học lý thuyết phải làm sáng tỏ các cơ sở quan trọng của thếgiới: thế giới tự nhiên, thế giới xã hội Đây chính là bản thể luận triết học

Ngược lại, triết học thực tiễn (thực hành) nghiên cứu những cơ sở, căn cứ,

nguyên tắc của quan hệ thực tiễn (thực hành) giữa con người với thế giới

Triết học hiện sinh chủ yếu quan tâm đến những cơ sở, căn cứ của dạngtồn tại đặc biệt là tồn tại người Đây chính là cơ sở bản thể luận (triết học lý

thuyết) của chủ nghĩa hiện sinh Triết học thực tiễn của chủ nghĩa hiện sinh

nghiên cứu quan hệ thực tiễn giữa người với người nhờ xuất phát từ bản thể luận hiện sinh, đây chính là đạo đức học hiện sinh Không những thế, triết học thực tiễn của chủ nghĩa hiện sinh còn nghiên cứu các chuẩn mực, căn cứ, nguyên lý của quan hệ giữa người với người, đây chính là triết học giáo dục

của chủ nghĩa hiện sinh Đây là hai nội dung cơ bản và độc đáo nhất trong triếthọc hiện sinh Do đó, trong luận án của mình, tác giả sẽ tập trung phân tíchnhững nội dung cơ bản này trong triết học thực tiễn của chủ nghĩa hiện sinh

Trang 40

Chương 2 BỐI CẢNH RA ĐỜI TRIẾT HỌC THỰC TIỄN

CỦA CHỦ NGHĨA HIỆN SINH

2.1 Điều kiện kinh tế - xã hội, chính trị và văn hóa cho sự ra đời triết học thực tiễn của chủ nghĩa hiện sinh

Trước khi đi sâu phân tích những nhân tố quyết định sự ra đời và pháttriển triết học thực tiễn của chủ nghĩa hiện sinh, cần khẳng định rằng, chủnghĩa hiện sinh trước hết và trên hết là trào lưu tư tưởng phản tư về nhữngmặt tiêu cực xét trên phương diện nhân văn của xã hội công nghiệp hiện đạinhư những hệ quả bắt nguồn từ văn hóa duy lý, lối sống duy lý Nói cáchkhác, chủ nghĩa hiện sinh thể hiện là sự đối lập, sự phản kháng chống lại chủnghĩa duy lý thái quá dẫn tới hình thức hiện đại của “tha hóa”, của “nô lệ” -

“tha hóa”, “nô lệ” về tinh thần, về ý thức Đây là chủ đề chung của hàng loạttrào lưu tư tưởng triết học phương Tây hiện đại (triết học cuộc sống, hiệntượng học, triết học ngôn ngữ, v.v.) bắt nguồn từ triết học Kierkegaard Dovậy, tìm hiểu thực chất của chủ nghĩa hiện sinh nói chung và triết học thựctiễn của nó đòi hỏi phải làm rõ vấn đề then chốt quy định hệ đề tài và nội

dung của nó Cũng vì vậy, việc phân tích các điều kiện và tiền đề cho sự ra

đời triết học thực tiễn của chủ nghĩa hiện sinh cần phải làm sáng tỏ cội nguồn dẫn tới “tha hóa tinh thần” của con người phương Tây hiện đại, cũng như thực chất của tha hóa ấy

2.1.1 Điều kiện kinh tế - xã hội và chính trị

Có thể nhận thấy, trong các công trình nghiên cứu về chủ nghĩa hiệnsinh, khi đề cập tới điều kiện kinh tế - xã hội, chính trị và văn hóa cho sự rađời của nó, các tác giả thường thiên về hai quan điểm sau đây: hoặc là quy tất

cả mọi nguyên nhân xuất hiện của chủ nghĩa hiện sinh về các điều kiện kinh

tế - xã hội và chính trị của chủ nghĩa tư bản, hoặc là coi nhẹ các điều kiện ấy.Chúng tôi cho rằng, đúng là nhiều trào lưu tư tưởng triết học khác nhau, thậmchí đối lập nhau, đã xuất hiện và phát triển trong cùng các điều kiện kinh tế -

Ngày đăng: 06/01/2014, 15:03

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Tường Bách (2004), Lưới trời ai dệt, Nxb. Trẻ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lưới trời ai dệt
Tác giả: Nguyễn Tường Bách
Nhà XB: Nxb. Trẻ
Năm: 2004
2. Albert Camus (1995), Sa Đọa, Trần Thiện Đạo dịch và chú giải, Nxb.Hội nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sa Đọa
Tác giả: Albert Camus
Nhà XB: Nxb.Hội nhà văn
Năm: 1995
3. Albert Camus (2001), Kẻ xa lạ, Lê Hoàng Dân dịch, Nxb. Hội nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kẻ xa lạ
Tác giả: Albert Camus
Nhà XB: Nxb. Hội nhà văn
Năm: 2001
4. Albert Camus (2006), Ngộ nhận, Bùi Giáng dịch, Nxb. Văn nghệ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngộ nhận
Tác giả: Albert Camus
Nhà XB: Nxb. Văn nghệ
Năm: 2006
5. Jacques Colette (2011), Chủ nghĩa hiện sinh, do Hoàng Thạch dịch, Nxb. Thế Giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ nghĩa hiện sinh
Tác giả: Jacques Colette
Nhà XB: Nxb. Thế Giới
Năm: 2011
6. Phạm Như Cương, Hoàng Việt, Phong Hiền (1982), Triết học và cuộc đấu tranh ý thức tiến bộ: về một số trào lưu triết học tư sản hiện đại, Nxb. Thông tin Lý luận, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triết học và cuộcđấu tranh ý thức tiến bộ: về một số trào lưu triết học tư sản hiện đại
Tác giả: Phạm Như Cương, Hoàng Việt, Phong Hiền
Nhà XB: Nxb. Thông tin Lý luận
Năm: 1982
7. Lê Kim Châu (1996), Chủ nghĩa hiện sinh và một vài ảnh hưởng của nó ở miền Nam Việt Nam, Luận án Phó tiến sĩ, Viện Triết học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ nghĩa hiện sinh và một vài ảnh hưởng của nóở miền Nam Việt Nam
Tác giả: Lê Kim Châu
Năm: 1996
8. Gilles Deleuze (2010), Nietzsche và triết học, Nguyễn Thị Từ Huy (dịch), Bùi Văn Nam Sơn (hiệu đính), Nxb. Tri thức Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nietzsche và triết học
Tác giả: Gilles Deleuze
Nhà XB: Nxb. Tri thức
Năm: 2010
9. John Dewey (2010), Dân chủ và giáo dục, Phạm Anh Tuấn (dịch), Nxb.Tri thức Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân chủ và giáo dục
Tác giả: John Dewey
Nhà XB: Nxb.Tri thức
Năm: 2010
10. Vũ Trọng Dung (chủ biên) (2006), Giáo trình đạo đức học Mác-Lênin, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình đạo đức học Mác-Lênin
Tác giả: Vũ Trọng Dung (chủ biên)
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia
Năm: 2006
11. Nguyễn Tiến Dũng (1996), “Các xu hướng trong Triết học phương Tây hiện đại”, Tạp chí Sinh hoạt lý luận, (4) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các xu hướng trong Triết học phương Tâyhiện đại”", Tạp chí Sinh hoạt lý luận
Tác giả: Nguyễn Tiến Dũng
Năm: 1996
12. Bùi Đăng Duy, Nguyễn Tiến Dũng (2003), Lược khảo triết học phương Tây hiện đại, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lược khảo triết họcphương Tây hiện đại
Tác giả: Bùi Đăng Duy, Nguyễn Tiến Dũng
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia
Năm: 2003
13. Bùi Đăng Duy, Nguyễn Tiến Dũng (2005), Lịch sử triết học phương Tây hiện đại, Nxb. Tổng hợp Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử triết học phươngTây hiện đại
Tác giả: Bùi Đăng Duy, Nguyễn Tiến Dũng
Nhà XB: Nxb. Tổng hợp Tp. Hồ Chí Minh
Năm: 2005

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w