Lênin đã áp dụng chính sách cộngsản thời chiến là trưng thu lương thực thừa của nông dân sau khi dành lạicho họ mức ăn tối thiểu, đồng thời xóa bỏ quan hệ hàng hóa - tiền tệ ví dụnhư cấm
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nếu Mác cùng với Ăngghen là người đặt nền móng cho học thuyết lýluận về chủ nghĩa xã hội khoa học, lần đầu tiên đem khoa học thay thế chomộng tưởng, làm nên bước chuyển tiếp vĩ đại của lịch sử tư tưởng xã hộichủ nghĩa (từ không tưởng đến khoa học), thì Lênin là người đã truyền báchủ nghĩa Mác, chủ nghĩa xã hội khoa học vào nước Nga, đã sáng lập họcthuyết Đảng kiểu mới, đã lãnh đạo thành công Cách mạng tháng Mười Nga
vĩ đại, mở ra một thời đại mới trong lịch sử loài người Sau thành công củaCách mạng Tháng 10 Nga, Lênin cùng các cộng sự bắt tay vào xây dựngchủ nghĩa xã hội một cách nghiêm ngặt theo đúng nguyên lý của Mác -Angghen Sau khi giành thắng lợi trong cuộc Cách mạng Tháng mười, cuộcnội chiến nước Nga 1921 đã khiến nền kinh tế nước nhà bị khủng hoảngnghiêm trọng, nước Nga Xôviết đứng trước bờ vực thẳm, nhận thấy chínhsách "cộng sản thời chiến" không còn phù hợp, Lênin quyết định chuyểnsang "Chính sách kinh tế mới" tạo ra bước ngoặt vĩ đại của nước NgaXôViết
Một chính sách được gọi là mới, trước hết nó phải đem lại hiểu quảcho sự phát triển kinh tế - xã hội và đất nước, cải thiện đời sống phát triểndân sinh Nhằm đáp ứng những yêu cầu đó, Chính kinh tế mới (NEP) củaLênin đã ra đời trong điều kiện, hoàn cảnh hết sức đặc biệt với nước Nga lúcbấy giờ đó là sau nội chiến năm 1921, chính những sai lầm trong hoạt độngkinh tế đã gây ra những hậu quả nặng nề về kinh tế và chính trị ở nước Nga.Liên minh công nông đứng trước nguy cơ tan rã, vai trò lãnh đạo của Đảngyếu đi NEP ra đời đã làm cho nước Nga vốn bị tàn phá nặng nề trong nộichiến thì nay đã có những bước phát triển vượt bậc Nền kinh tế chuyển từ
"cộng sản thời chiến" sang "chủ nghĩa xã hội", bằng con đường, biện pháp
hướng vào nền kinh tế thị trường, phát triển hàng hóa, có sự quản lý củachính quyền Xôviết Sự thay đổi đó đã làm thay đổi hoàn toàn bộ mặt nướcNga Xôviết tạo điều kiện ban đầu cho việc xây dựng chủ nghĩa xã hội ởnước Nga Xôviết
Ngoài ý nghĩa to lớn trong nước NEP còn có ý nghĩa quốc tế đặc biệtquan trọng đối với các nước phát triển theo định hướng XHCN trong đó cóViệt Nam và điều đặc biệt là nước ta cũng có những điều kiện tiền đề rấtgiống với nước Nga thời đó Với sự nhận thức đúng đắn vai trò và ý nghĩacủa NEP Đảng ta đã vận dụng nó vào đổi mới nền kinh tế Việt Nam Nhằmđưa nước ta sớm thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu, sánh vai với các cường quốctrên thế giới như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã mong muốn Để thực hiện thành
Trang 2công chủ trương mà Đảng và Nhà nước đề ra, chúng ta không thể khôngtham khảo bài học kinh nghiệm của các nước XHCN đi trước qua đó rút rabài học cho riêng mình Thực tiễn đã chứng minh rằng: việc vận dụng sángtạo Chính sách kinh tế mới của Lênin (NEP) vào nước ta, phù hợp với xuthế chung của thế giới: hợp tác hoá, đa phương hóa, các nước xích lại vớinhau hợp tác cùng phát triển, với những nhận thức trên, tôi chọn vấn đề:
Tính biện chứng trong Chính sách kinh tế mới của V.I Lênin và ý nghĩa của nó đối với việc xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay làm đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình.
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài
Do vị trí, vai trò và ý nghĩa to lớn của NEP nói chung và vấn đề xâydựng nền kinh tế thị trường nói riêng đối với các nước đang phát triển trongthời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội Việc nghiên cứu, vận dụng đã có rấtnhiều công trình có giá trị to lớn khai thác ở những khía cạnh, góc độ khácnhau, và nhiều bài viết, bài báo, tác phẩm trong đó có những công trìnhtiêu biểu như sau:
+ Trần Ngọc Hiên: Chính sách kinh tế mới của Lênin và vận dụng vào điều kiện ở nước ta, năm 1989.
+ Nguyễn Quang Đăng: Biện chứng của NEP và thời đại.
+ Nguyễn Ngọc Thành: Tính biện chứng trong Chính sách kinh tế mới của Lênin và ý nghĩa của nó đối với công cuộc đổi mới ở Việt Nam hiện nay, năm 2007.
+ Lê Thành Sinh: Chính sách kinh tế mới của Lênin với công cuộc đổi mới ở Việt Nam.
+ Nguyễn Văn Kỷ: Kinh tế hợp tác trong nông nghiệp của nước ta hiện nay.
+ Trần Ngọc Bút: Chính sách nông nghiệp nông thôn Việt Nam nửa cuối thế kỷ XX
Ngoài ra còn nhiều công trình, các bài báo, hội thảo khoa học đượcđăng lên các tạp chí hay chuyên đề
3 Mục đính và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Mục đích của đề tài là làm rõ tính biện chứng trong nội dung củaChính sách kinh tế mới (NEP) do V.I Lênin đề xướng; từ đó chỉ ra ý nghĩacủa nó trong thực tiễn xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hộichủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay
Nhiệm vụ của đề tài:
- Khái quát hoàn cảnh ra đời của Chính sách kinh tế mới và tính biệnchứng trong nội dung của Chính sách kinh tế mới
Trang 3- Ý nghĩa của việc vận dụng Chính sách kinh tế mới trong quá trìnhxây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Namhiện nay.
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đề tài tập trung nghiên cứu những nội dung cơ bản trong NEP củaLênin, hoàn cảnh ra đời, so sánh bối cảnh nước Nga và Việt Nam cũng nhưnhững tư tưởng biện chứng của NEP Trên cơ sở đó, chỉ ra những ý nghĩa vàgiải pháp cơ bản của việc nghiên cứu Chính sách kinh tế mới vào việc xâydựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta hiện nay
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài
Đề tài dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng HồChí Minh và những quan điểm của Đảng Cộng Sản Việt Nam
Xuất phát từ phương pháp duy vật biện chứng Mácxit Sử dụngnhững phương pháp nghiên cứu: phân tích, tổng hợp, logic, lịch sử, so sánhcùng với việc tham khảo một số tài liệu, sách báo có liên quan làm cho đềtài phong phú, khoa học và có sức thuyết phục hơn
6 Đóng góp của đề tài
Đề tài góp phần làm rõ cơ sở lý luận cũng như thực tiễn của Chínhsách kinh tế mới, chỉ ra tầm quan trọng của nó đối với việc xây dựng nềnkinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam hiện nay
Đề tài còn đưa ra một số giải pháp cơ bản để phát triển NEP trong cơchế thị trường định hướng XHCN có sự quản lý của nhà nước
Đề tài góp phần một phần nhỏ vào việc nghiên cứu những vấn đề lýluận của NEP, là tài liệu có thể tham khảo cho việc nghiên cứu các vấn đềliên quan đến nội dung của đề tài
7 Kết cấu của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, khóaluận gồm có 2 chương và 6 tiết
Trang 4Chương 1
HOÀN CẢNH CỦA SỰ RA ĐỜI CHÍNH SÁCH KINH TẾ
MỚI VÀ TÍNH BIỆN CHỨNG TRONG NỘI DUNG CỦA
CHÍNH SÁCH KINH TẾ MỚI
Sau thành công của Cách mạng Tháng Mười, từ cuối năm 1918, nướcNga Xôviết ở trong hoàn cảnh nội chiến, 14 nước đế quốc bao vây hòng bópchết nhà nước Nga Xôviết trẻ tuổi, triệt tiêu chính quyền công - nông đầu
tiên trên thế giới Trong bối cảnh đó Lênin thi hành "cộng sản thời chiến" với
những nội dung chủ yếu là: Trưng thu lương thực thừa, nhà nước quản lýtập trung cao độ các nguồn lực; quốc hữu hóa các xí nghiệp tư bản chủnghĩa; cấm tự do buôn bán, xóa bỏ quan hệ hàng hóa - tiền tệ; nhà nước Xôviết nắm quyền trực tiếp phân phối sản phẩm và các nguồn lực chủ yếu bằnghiện vật trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân
Có thể nói rằng, chính sách "cộng sản thời chiến" là sự vận dụng quan
hệ chính trị vào kinh tế để giải quyết nhiệm vụ chính trị - tức là phục vụmục tiêu bảo vệ và củng cố chính quyền Sau khi nội chiến kết thúc, chínhsách đó đã hoàn thành vai trò lịch sử của mình và bộc lộ đầy đủ những điểmyếu, bất hợp lý trong điều kiện mới Nó không còn tư cách là một công cụ
có tính chất đòn bẩy thúc đẩy nền kinh tế phát triển và về cơ bản nó khôngthực hiện quan hệ hàng - tiền Do vậy, chính sách cộng sản thời chiến kìmhãm và thủ tiêu động lực kinh tế Những tác động tiêu cực của chính sách
"cộng sản thời chiến" cùng với những khó khăn chồng chất của đất nước sau
nội chiến làm cho nước Nga rơi vào khủng hoảng kinh tế - chính trị sâu sắc
và ở vào thế "ngàn cân treo sợi tóc" Trong điều kiện khó khăn phức tạp đó,
lãnh tụ Cách mạng Tháng Mười - V.I Lênin đã dựa trên cơ sở hiểu biết vàphân tích tình hình kinh tế, chính trị lúc bấy giờ để chuyển chính sách cũ chỉ
thích hợp với chiến tranh sang "Chính sách kinh tế mới" gọi tắt là NEP.
1.1 Hoàn cảnh lịch sử của sự ra đời Chính sách kinh tế mới
Ngày 8-3-1921, tại Đại hội X Đảng Cộng sản Nga XôViết, V.I Lênin
- lãnh tụ thiên tài của giai cấp công nhân Nga và cách mạng thế giới đã đềxướng với Đảng việc áp dụng Chính sách kinh tế mới và đã được Đại hộichấp thuận Ở vào thời điểm đó, thực hiện NEP tại nước Cộng hoà xã hộichủ nghĩa Xô viết Nga là một quyết định dũng cảm, táo bạo, sáng suốt củaV.I.Lê-nin và những người Cộng sản Nga
Trang 5Chính sách kinh tế mới là một khái niệm không có nghĩa như một vàichính sách cụ thể, mà ở đây nó có một nghĩa bao trùm đó chính là đường lốixây dựng CNXH ở một nước kinh tế còn lạc hậu như nước Nga.
Khi dùng khái niệm Chính sách kinh tế mới, Lênin còn có ý định đểphân biệt Chính sách kinh tế mới với chính sách cộng sản thời chiến Đồngthời Lênin muốn nhấn mạnh yếu tố kinh tế trong mối quan hệ với các yếu tốkhác Vì vậy, khi tiếp cận với nội dung của Chính sách kinh tế mới phảixuất phát từ cách nhìn nhận theo quan điểm hệ thống Quan điểm này chophép nhìn rõ các mối quan hệ tác động và ảnh hưởng lẫn nhau Nếu đemtách riêng từng nội dung, từng vấn đề ra thì không thể nhận thức được đầy
đủ nội dung của Chính sách kinh tế mới, thậm chí hiểu sai nội dung của nó Trước hết, NEP thể hiện một cách nhìn nhận mới của Lênin về conđường đi lên CNXH ở nước Nga, Lênin đã đúc rút kinh nghiệm từ thực tiễncủa nước Nga để đi đến quan điểm mới hơn, phù hợp với điểm xuất phát vềmặt kinh tế khi đi lên CNXH Đó là quá trình đi lên CNXH từ nông nghiệp,nông thôn và nông dân
Quan niệm này của Lênin được hình thành qua sự phân tích hết sứckhoa học tình hình nước Nga Xôviết tại thời điểm đó - một nước còn lạc hậu
về kinh tế, tỷ trọng nông nghiệp chiếm 51% và 82,4% dân số là nông dân Chính sách kinh tế mới được thể hiện ở việc xác lập quan niệm vềmối quan hệ biện chứng giữa yếu tố vật chất với yếu tố tinh thần, giữa lựclượng sản xuất với quan hệ sản xuất, giữa cơ sở hạ tầng với kiến trúc thượngtầng Thực hiện tốt quan niệm này có ý nghĩa to lớn, tạo ra sự phù hợp hàihòa trong xã hội, thúc đẩy xã hội phát triển không ngừng
NEP thể hiện quan niệm về việc xác lập lực lượng cách mạng, độnglực cách mạng, động lực cách mạng dưới CNXH Trong cuộc cách mạngXHCH, xây dựng thành công CHXH, việc xác lập lực lượng cách mạng,động lực cách mạng mà cốt lõi là liên minh công nông hết sức cần thiết,quyết định sự thắng lợi của CNXH
NEP còn thể hiện quan niệm về biện pháp có tính chất đòn bẩy đểthúc đẩy tiến trình cách mạng, đó là biện pháp khuyến khích bằng lợi ích vậtchất
Muốn khuyến khích người lao động tham gia hăng hái sản xuất ngoàiviệc tiến hành các biện pháp về giáo dục chính trị, tư tưởng, thì biện phápkhuyến khích bằng lợi ích vật chất có ý nghĩa hết sức quan trọng và cầnthiết
Trang 6NEP còn thể hiện quan niệm việc xây dựng mô hình về kinh tế củanước Nga lúc đó là thông qua hình thức: chủ nghĩa tư bản nhà nước và hợptác xã.
Theo nhận xét của Lênin, các hoạt động kinh tế xã hội được thôngqua hình thức CNTB nhà nước và hợp tác xã có hiểu quả to lớn Nhưng đâylại là những vấn đề rất mới mẻ cần được chứng minh trong thực tiễn và làmsáng tỏ nhiều hơn
Sau cách mạng tháng 10 Nga thành công (1917) việc thực hiện kếhoạch xây dựng chủ nghĩa xã hội của V.I Lênin bị gián đoạn bởi cuộc nộichiến 1918-1920 Trong thời kì này, V.I Lênin đã áp dụng chính sách cộngsản thời chiến là trưng thu lương thực thừa của nông dân sau khi dành lạicho họ mức ăn tối thiểu, đồng thời xóa bỏ quan hệ hàng hóa - tiền tệ (ví dụnhư cấm buôn bán lương thực trên thị trường thể hiện bằng sắc lệnh của hộiđồng tối cao 1920 đã quốc hữu hóa toàn bộ khu vực tiểu thủ công nghiệp,loại bỏ thương nghiệp bán lẻ và kết thúc bằng việc cấm chợ của các thànhphố trong đó có chợ trời ở Moscow), xóa bỏ việc tự do mua bán lương thựctrên thị trường, thực hiện chế độ cung cấp hiện vật cho quân đội và bộ máynhà nước vào nền kinh tế: cuối giai đoạn nội chiến tiền lương trả cho côngnhân còn 7,4%
Chính sách cộng sản thời chiến đã đóng vai trò quan trọng trong thắnglợi của nhà nước Xôviết nhờ đó mà quân đội đủ sức chiến thắng kẻ thù, bảo
vệ được nhà nước Xôviết non trẻ của mình
Tuy nhiên khi hòa bình lập lại, chính sách cộng sản thời chiến khôngcòn thích hợp Nó trở thành nhân tố kìm hãm sự phát triển của lực lượng sảnxuất Hậu quả chiến tranh đối với nền kinh tế rất nặng nề, thêm vào đó chínhsách trưng thu lương thực thừa đã làm mất động lực đối với nhân dân.Việcxóa bỏ quan hệ hàng hóa - tiền tệ làm mất tính năng động của nền kinh tếvốn dĩ mới bước vào giai đoạn phát triển.Vì vậy, khủng hoảng kinh tế chínhtrị diễn ra rất sâu sắc Điều đó đòi hỏi phải có chính sách kinh tế thích ứngthay thế Chính sách kinh tế mới được V.I Lênin khởi xướng để đáp ứngnhu cầu này nhằm tiếp tục xây dựng kế hoạch xây dựng chủ nghĩa xã hộitrong giai đoạn mới Trong lịch sử của nước Nga Xôviết những năm 1921-
1927, Chính sách kinh tế mới xuất hiện như một hiện tượng, lịch sử - tựnhiên, trong đó chứa đựng sự thống nhất biện chứng của các điều kiệnkhách quan và chủ quan như kinh tế, chính trị - xã hội, lịch sử phát triển củanước Nga
Như vậy, Chính sách kinh tế mới được V.I Lênin đề xướng trongnhững điều kiện sau đây:
Trang 7Trước hết, Chính sách kinh tế mới xuất hiện là do hậu quả của cáccuộc chiến tranh Vừa ra đời còn non trẻ nhưng nước Nga Xôviết phải đốiđầu với 2 cuộc chiến tranh liên tiếp: Cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất(1914-1918) và cuộc nội chiến ở nước Nga kéo dài 4 năm (1917-1921) Haicuộc chiến tranh này đã tàn phá nước Nga nặng nề cả về vật chất lẫn tinhthần
* Về công nghiệp
Công nghiệp là ngành bị tổn thất lớn nhất, ước tính mất khoảng 1/4
tài sản quốc gia, tổng sản lượng công nghiệp năm 1920 giảm bốn lần so vớinăm 1917, số lao động giảm, tỷ trọng còn 25% Đại công nghiệp giảm mạnhkéo theo các ngành khác cũng bị ảnh hưởng nghiêm trọng
* Về nông nghiệp
Sản xuất nông nghiệp tuy tập trung nhưng vẫn giảm nặng, diện tích
gieo trồng không được mở rộng, trồng trọt kém hiểu quả làm cho chăn nuôicũng bị giảm theo, tổng sản lượng đầu năm 1921 chỉ còn 146kg/ người/ năm
1921, trong khi trước đó gấp 4 lần so với hiện tại
* Về giao thông vận tải
Giao thông vận tải bị tàn phá nghiêm trọng về đường xá cơ sở hạtầng, nhà ga, đường sắt, đường bộ, kho tàng khối lượng vận chuyển năm
1920 chỉ còn đạt 20% so với năm trước
* Về tài chính - tín dụng
Ngành tài chính - tín dụng bị lâm vào tình trạng rối loạn, năm 1913bội chi ngân sách là 31 tỉ rúp đến năm 1921 tăng lên 21.837 tỉ rúp, mức tăngtrung bình toàn quốc năm 1923 lên tới 21 triệu lần so với năm 1913, đồngrúp mất giá trị nhanh gây lạm phát nghiêm trọng Ở một số địa phương thựchiện trao đổi bằng hiện vật là chủ yếu, tiền lương suy giảm công nhân gặpnhiều khó khăn, sản xuất thiếu thốn, nhà máy thu hẹp, công nhân bỏ nhàmáy ra kiếm sống ở ngoài ngày một nhiều hơn
* Về văn hóa - giáo dục - y tế
Tất cả đều bị xuống cấp một cách nhanh chóng, nạn mù chữ tăng lên
cả ở thành thị và nông thôn, hệ thống giáo dục không đủ trường lớp về y tếthường xuyên thiếu thốn thuốc men chữa trị, sức khỏe lao động xã hội bịxuống cấp Song tất cả đều "trỗi dậy" bởi lý do tất cả vì cách mạng, vì chínhquyền, mọi người cùng nhau gánh vác vượt qua mọi khó khăn, tất cả vì cáichung, còn cái riêng sẽ từng bước được giải quyết Theo nguyên lý triết họcMác (cái chung quyết định cái riêng), đứng trên cái trục chính đó mà nhândân Nga đã chiến thắng không chỉ có kẻ thù mà còn cả chính mình, đó làgiải phóng toàn thể nhân dân lao động và mở ra hướng mới cho nhân loại
Trang 8mặc dù lúc này vật chất, tinh thần chưa đáp ứng đủ nhu cầu đó, song cũngcần thấy nó để hướng tới, phấn đấu cho cái mới ra đời, đó chính là chủnghĩa xã hội.
Cùng với sự tác động và ảnh hưởng của điều kiện khách quan, về mặtchủ quan, Đảng Bônsêvich Nga còn có nhận thức chưa rõ về mặt chủ nghĩa
xã hội, từ đó đã vấp phải những sai lầm Do không nhận rõ các quy luậtkhách quan nên việc xác định các chủ trương chính sách không sát, khôngphù hợp, có phần nóng vội đốt cháy giai đoạn Cụ thể, trong những nămtháng sau Cách mạng tháng Mười năm 1917, do hoàn cảnh khách quan mànước Nga phải áp dụng chính sách cộng sản thời chiến và hiểu quả thực tếcủa nó đã làm hình thành nên quan niệm về khả năng quá độ trực tiếp đi lênchủ nghĩa xã hội Từ đó đã xuất hiện hàng loạt chủ trương, biện pháp khôngthích hợp dẫn đến cuộc khủng hoảng có tính chất toàn diện Cuộc khủnghoảng này đặt vận mệnh của nước Nga Xô viết trẻ tuổi vào tình trạng "ngàncân treo sợi tóc"
Do vậy, nhận thức lại, nhận thức đúng đắn những điều kiện kháchquan kết hợp với sự sửa chữa những sai lầm chủ quan trước đây về CNXHchính là tiền đề trực tiếp dẫn đến sự xuất hiện của Chính sách kinh tế mới
Sự ra đời của NEP phản ánh tiến trình phát triển quy luật của đời sống xãhội
NEP xuất hiện là một kết quả cụ thể trong sự nghiền ngẫm của V.I.Lênin về những biện pháp có tính chất chiến lược nhằm chỉ đạo cuộc cáchmạng dành thắng lợi Những tư tưởng chiến lược này đã hình thành ở V.I.Lênin ngay từ khi Cách mạng tháng Mười (1917) thành công Khi tình thế ởnước Nga xuất hiện những thuận lợi cho sự ra đời của xã hội XHCH Lênin
đã đón trước thời cơ, tìm tòi nghiền ngẫm để dự kiến con đường đi tới thắnglợi của cách mạng Đồng thời Người cũng chuẩn bị những biện pháp chiếnlược và sách lược để đưa nước Nga tiến lên Về sau những tư tưởng đó đượcthể hiện trong Chính sách kinh tế mới
Tóm lại, do những tác động khách quan và chủ quan trên đây, saukhoảng ba năm thực hiện chính sách cộng sản thời chiến, Lênin cùng ĐảngBônsêvích đã chuyển sang triển khai Chính sách kinh tế mới trong thực tiễnxây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước Nga Xôviết
Ngay bản thân tên gọi của chính sách cộng sản thời chiến không những đã nói lên phạm vi, giới hạn mà còn nói lên điều kiện áp dụng nó trong thời kỳ chiến tranh chống lại kẻ thù xâm lược, nhằm bảo vệ đất nước
Do sự chi phối của quy luật chiến tranh, nước Nga cũng như bất cứnước nào khác trên thế giới, trong điều kiện như vậy đều phải có những chủ
Trang 9trương, biện pháp kịp thời tập trung sức người, sức của để chiến đấu vàchiến thắng kẻ thù, giữ vững thành quả cách mạng Vì vậy, trong thời giannày, Đảng Bônsêvích Nga, đứng đầu là Lênin đã chủ trương áp dụng chínhsách cộng sản thời chiến nhằm thực hiện mục đích nói trên Nhân dân nướcNga đã thực hiện nghiêm chỉnh các chủ trương của Đảng Bônsêvích vàLênin để chiến thắng kẻ thù, bảo vệ nước Nga Xôviết non trẻ đang đứngtrước nguy cơ bị diệt vong, trước tình tạng "ngàn cân treo sợi tóc" Việcchiến thắng kẻ thù trong giặc ngoài chứng tỏ chính sách cộng sản thời chiến
đã đóng góp một phần tích cực vào cuộc chiến tranh vệ quốc nhằm bảo vệnước Nga Xôviết, bảo vệ thành quả cách mạng
Để thấy được bước phát triển mới, sáng tạo của Chính sách kinh tế
mới so với chính sách cộng sản thời chiến, phải đi sâu tìm hiểu về "Chínhsách kinh tế mới"
Thực chất của Chính sách kinh tế mới là phát triển đến mức tối đa lựclượng sản xuất và cải thiện tình cảnh của công nhân và nông dân, sử dụngchủ nghĩa tư bản tư nhân, hợp tác xã và hướng nền sản xuất của xã hội đivào con đường của chủ nghĩa tư bản nhà nước Sự phát triển của lực lượngsản xuất là tiêu chuẩn quan trọng đánh giá sự tiến bộ của nền sản xuất xãhội
Triết học Mác - Lênin đã chỉ ra rằng: Khi xem xét bất cứ sự vật hiệntượng nào cũng phải xuất phát từ quan điểm toàn diện, lịch sử - cụ thể Vớicách nhìn đó, việc V.I Lênin áp dụng chính sách cộng sản thời chiến ở nướcNga ngay sau khi Cách mạng tháng Mười thắng lợi, giai cấp vô sản ở nướcNga đã thiết lập được chính quyền, bảo vệ được thành quả của cách mạng
mà nhân dân nước Nga đã đổi bằng xương máu Thực tế đã cho thấy: Chínhsách cộng sản thời chiến đã đóng góp tích cực tạo ra sức mạnh để cho nướcNga chiến thắng thù trong giặc ngoài, bảo vệ được nước XHCN đầu tiêntrên thế giới
Cuối năm 1920 đầu năm 1921, khi cuộc nội chiến đã được giải quyết,nước Nga bước vào giai đoạn cách mạng mới - thời kỳ hòa bình xây dựngđất nước, xây dựng chế độ XHCN Việc áp dụng các biện pháp đã làm trongchính sách cộng sản thời chiến giai đoạn này tỏ ra không thích hợp nữa, vàbộc lộ nhiều nhược điểm, trước hết được biểu hiện trong vấn đề nhận thức
lý luận về con đường đi lên CNXH của nước Nga Lênin đã nhận thức thấy:khi mà những điều kiện khách quan còn bị hạn chế, cơ sở vật chất kỹ thuật
do lịch sử để lại của nước Nga còn lạc hậu, trình độ khoa học kỹ thuật cònthấp kém, công nhân lành nghề chưa đủ, lại bị mai một do không có việcphải bỏ về nông thôn Trong điều kiện đó đã đặt vấn đề chuyển ngay từ
Trang 10nước Nga của chế độ Sa Hoàng thành nước Nga XHCN thì quả là một sailầm Với tinh thần cách mạng không ngừng, V.I Lênin đã dũng cảm và kiênquyết sửa chữa những sai lầm mắc phải, khắc phục nó trong tiến trình xâydựng đất nước.
Khi mà chủ trương, biện pháp của chính sách cộng sản thời chiến đãbộc lộ những nhược điểm, yếu kém và không còn thích hợp nữa thì Lênin đãsuy ngẫm, tìm tòi đưa ra các chủ trương, biện pháp mới thích hơn, nhằmkhắc phục tình hình khủng hoảng đã diễn ra ở nước Nga và Chính sách kinh
tế mới được ra đời đáp ứng mục đích chỉ đạo cách mạng của Lênin So vớichính sách cộng sản thời chiến thì Chính sách kinh tế mới là một bước pháttriển sáng tạo, là sự đổi mới về tư duy lý luận của Lênin và những ngườicách mạng nước Nga Chính sách kinh tế mới vừa là giải pháp trước mắt đểchống khủng hoảng, vừa là một nội dung mới có tính chất chiến lược lâudài Sáng tạo của Chính sách kinh tế mới được thể hiện ở việc đổi mới vềnhận thức, đổi mới về con đường đi lên CNXH , làm cho nó phù hợp vớithực tiễn hơn Vì vậy các chủ trương, biện pháp mang tính chất trực tiếp đilên CNXH ở trong chính sách cộng sản thời chiến, được thay bằng các chủtrương, biện pháp gián tiếp, thông qua các bước đi và hình thức kinh tế quá
độ Chủ trương xóa bỏ thương nghiệp trong chính sách cộng sản thời chiến
đã chuyển sang phục hồi thương nghiệp, thực hiện trao đổi thông qua thịtrường trong Chính sách kinh tế mới Việc phân phối sản phẩm cho ngườilao động dưới hình thức trực tiếp bằng hiện vật đã chuyển sang phân phốisản phẩm thông qua lưu thông hàng hóa, sử dụng lại đồng tiền trong lưuthông
Phải nói rằng, việc mở rộng và đẩy mạnh việc phát triển nông nghiệp
và công nghiệp, cải thiện đời sống nhân dân, thông qua con đường chủnghĩa tư bản nhà nước và hợp tác xã để đi lên CNXH là một bước phát triểnmới sáng tạo về tư duy lý luận của V.I Lênin
1.2 Tính biện chứng trong nội dung Chính sách kinh tế mới
1.2.1 NEP là biểu hiện mối quan hệ biện chứng giữa mục tiêu và bước đi
Vào những năm 1920 - 1921, nước Nga vừa thoát khỏi 2 cuộc chiến
tranh kéo dài 7 năm Những hậu quả của chiến tranh rất nặng nề và khólường hết Chiến tranh đã gây ra khó khăn về nhiều mặt: kinh tế, chính trị,
xã hội, đời sống của con người Nhưng thời gian sau 2 cuộc chiến tranhcũng là một thời kỳ chuyển mình của nước Nga: nước Nga bước vào mộtthời kỳ mới, thời kỳ hòa bình xây dựng đất nước
Trang 11Cách mạng tháng Mười Nga 1917 thắng lợi, nước XHCN đầu tiêntrên thế giới ra đời, Lênin đưa CNXH từ trong lý luận của C Mác trở thànhhiện thực ở nước Nga Xôviết.
Với sự dẫn dắt khôn khéo của Lênin và những người cộng sảnBônsêvích Nga, CNXH ở nước Nga đã đứng vững trước sự bao vây củanhiều nước đế quốc với ý đồ bóp chết nước Nga Xôviết
Nhưng trong thời kỳ hòa bình xây dựng này, trước những thử tháchmới như đã nêu ở trên, nước Nga có giữ vững được hay không? Đó là câuhỏi lớn nhất đang đặt ra cho Đảng Bônsêvích Nga, cho Lênin và nhân dânnước Nga Xô viết và phải được minh chứng thông qua thực tiễn
Vì vậy, mục tiêu lớn nhất, bao trùm nhất của nước Nga Xôviết vàcũng chính là mục tiêu của Chính sách kinh tế mới là: quyết tâm bảo vệ vàxây dựng thành công CNXH ở nước Nga Đó cũng là mục tiêu chiến lượccủa cuộc cách mạng trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước Nga Nhưng đinhư thế nào? Có thể chuyển trực tiếp nước Nga lên CNXH được không?Vấn đề đặt ra và giải quyết là quan hệ giữa mục tiêu trong giai đoạn đầu đầykhó khăn và thử thách này
Chính sách kinh tế mới đã thể hiện một cách nhìn nhận mới của Lênin
về con đường đi lên CNXH, tìm ra sự phù hợp cần thiết với hoàn cảnh nướcNga Xô viết Đó là quan niệm về con đường gián tiếp đi lên CNXH
Để thực hiện mục tiêu chiến lược đó, dưới sự lãnh đạo của ĐảngBônsêvich Nga và Lênin, nước Nga đã phải trải qua nhiều khó khăn, giankhổ trong một hoàn cảnh hết sức phức tạp
Tình thế phức tạp nhất của nước Nga Xôviết lúc này là: vừa ngừngtiếng súng, cuộc khủng hoảng toàn diện đã xảy ra Khi mà nguy cơ của cuộckhủng hoảng ngày càng tăng lên thì càng đòi hỏi những người cộng sản phảinhận thức một cách sâu sắc hơn, đầy đủ hơn những vấn đề lý luận và thựctiễn của thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước Nga
Lênin đã xuất phát từ sự phân tích các mâu thuẫn đang tồn tại ở nướcNga Xô viết trong thời kỳ quá độ lên CNXH đó là:
Thứ nhất, xuất phát từ đặc điểm lịch sử của nước Nga đúng về
phương diện khách quan mà nói, nước Nga bước vào thời kỳ quá độ lênCNXH trong hoàn cảnh kinh tế gặp nhiều khó khăn Ngoài sự tàn phá dochiến tranh, bản thân nền kinh tế nước Nga ở một trình độ thấp kém: đếnnăm 1920, nước Nga là một nước mà CNTB chỉ mới phát triển ở mức trungbình, lạc hậu về mặt kinh tế, sản xuất nông nghiệp vẫn chiếm vị trí chủ yếutrong nền kinh tế quốc dân Do đó, mâu thuẫn lớn nhất của nước Nga lúcnày là mâu thuẫn giữa hiện trạng của nước Nga với yêu cầu của CNXH phải
Trang 12có một nền kinh tế phát triển toàn diện, năng suất cao Thế nhưng với khảnăng hiện có, nước Nga không thể đáp ứng được yêu cầu đó Trong quátrình chỉ đạo thực hiện chính sách kinh tế, Lênin đã thường xuyên quan tâmđến mâu thuẫn này và tìm mọi biện pháp để giải quyết, làm cho CNXHthắng lợi ở nước Nga.
Thứ hai, mâu thuẫn giữa nhận thức và hiện thực về các quy luật đi lên
CNXH Về một phương diện nào đó, chúng ta sẽ thấy hiện tượng trên làkhông tránh khỏi Bởi vì, nước Nga Xôviết như chúng ta đã biết, là nướcđầu tiên trên thế giới xây dựng CNXH
Do nhận thức còn nhiều mơ hồ nên đã dẫn tới sự chỉ đạo trong hànhđộng không đúng, không phù hợp với quy luật khách quan Điều đó đã gây
ra nhiều khó khăn cho cách mạng nước Nga Những năm tháng thực hiệnchính sách cộng sản thời chiến đã hình thành quan niệm về quá độ trực tiếplên CNXH Từ đó trong những chủ trương biện pháp ở thời gian tiếp theorơi vào tình trạng nóng vội, đốt cháy giai đoạn, tạo thêm những nguyênnhân làm tăng nguy cơ cuộc khủng hoảng ở nước Nga lúc bấy giờ
Thứ ba, một nguyên nhân khác không kém phần quan trọng, làm tăng
thêm nguy cơ của cuộc khủng hoảng ở nước Nga, đó là sự bao vây của bọn
đế quốc bên ngoài, nhằm phá hoại nước Nga Xôviết đang còn non trẻ, tạo ramâu thuẫn giữa CNXH ở nước Nga và CNTB ở các nước đế quốc Bọn đếquốc luôn cấu kết với bọn phản động ở trong nước để phá hoại cách mạngnước Nga Biểu hiện rõ ràng nhất là sự nhúng tay của bọn đế quốc bênngoài, cấu kết với bọn phản động trong nước gây ra cuộc nổi loạn ởCrônxtat
Tìm hiểu mâu thuẫn trong những năm 1920 - 1921, phân tích toàndiện các nguyên nhân gây ra cuộc khủng hoảng ở nước Nga, Lênin đã chỉra: nguyên nhân bên trong, những sai lầm về lãnh đạo quản lý, trước hết vàchủ yếu trên lĩnh vực kinh tế
Kết luận trên của Lênin đã hướng dẫn hành động của Người trongviệc thực hiện mối quan hệ biện chứng giữa mục tiêu và bước đi, tìm ra cácgiải pháp thích hợp để giải quyết tình thế cách mạng của nước Nga Ở trongChính sách kinh tế mới, Lênin đã như vậy để có CNXH hiện thực ở nướcNga Bảo vệ vững chắc thành quả Cách mạng tháng Mười vĩ đại, mở ra thời
kỳ phát triển mới cho nhân loại, đó là mục tiêu của cách mạng nước Nga,cũng là mục tiêu mà chính trong nội dung của Chính sách kinh tế mới đãđược đặt ra
Để đạt được mục tiêu đã đề ra là CNXH và chủ nghĩa cộng sản,Chính sách kinh tế mới của Lênin được cụ thể hóa bằng những bước đi sau:
Trang 13Bước đi đầu tiên, thực hiện tốt chính sách thuế lương thực
Việc thay đổi chế độ trưng thu lương thực, bằng thuế lương thực đãđáp ứng được lòng mong mỏi của nhân dân lao động, làm thay đổi bộ mặtcủa đời sống của nông dân, kích thích tái sản xuất, lòng tự giác, vì từ nay họ
có quyền định đoạt sản phẩm do mình làm ra sau khi hoàn thành thuế chonhà nước, còn sản phẩm "dư thừa" thì họ thực hiện việc trao đổi mua bánvới công nghiệp để tái sản xuất được tốt hơn, làm cho xã hội sôi động hơn Thuế lương thực có ý nghĩa chuyển từ biện pháp hành chính thuầntúy sang biện pháp hoạch toán kinh tế, kích thích sản xuất phát triển Đây
chính là biện pháp giải quyết đúng đắn giữa "cái chung" với "cái riêng" Cái
chung được biểu hiện ở cái riêng, có nghĩa là Nhà nước Nga Xôviết lớnmạnh, được thể hiện ở sự lớn mạnh của đời sống nhân dân
Tuy nhiên, đây lại là vấn đề gây nhiều tranh cãi "nghi ngờ" trongchính quyền Họ đã đặt ra nhiều câu hỏi dường như là "đúng" và đã đượcLênin trả lời một cách rất thỏa đáng Như là vấn đề : "Tại sao lại chính nôngdân mà không phải là công nhân đặt lên hàng đầu?" Với cái nhìn biệnchứng, phân tích kỹ càng của mình Lênin đã giải thích rõ ràng rằng: vì nôngdân chiếm đa số dân số, đây là thị trường lớn cho tiêu thụ công nghiệp, lúc
đó các sản phẩm công nghiệp chủ yếu là công nghiệp phục vụ nông nghiệp.Hơn nữa, muốn cải thiện đời sống của công nhân thì phải có bánh mì vànhiên liệu Đứng về phương diện toàn bộ nền kinh tế quốc dân thì đó là "trởngại" lớn nhất Vì vậy chúng ta chỉ có thể tăng thêm sản xuất và thu hoạchlúa mì, tăng thêm dự trữ và vận tải nhiên liệu bằng cách cải thiện đời sốngnông dân, bằng cách nâng cao lực lượng sản xuất của họ Phải bắt đầu từnông dân Người nào không hiểu điều đó, người nào không có ý đưa vấn đềnông dân lên hàng đầu như thế là một sự "từ bỏ" hoặc tương tự như sự từ bỏchuyên chính vô sản, thì chẳng qua chỉ vì người đó không chịu suy nghĩ kỹcàng vấn đề đó và bị lời nói trống rỗng chi phối vấn đề cấp thiết nhất hiệnnay là dùng những biện pháp có thể phục hồi ngay những lực lượng sản xuấtcủa kinh tế nông dân Như Mác nói: "con người muốn tồn tại cần phải ăn, ở,mặc, đi lại và tái sản xuất " còn Lênin thì nhấn mạnh "không vì cái lợi íchtrước mắt, mà hy sinh đi cái lợi ích lâu dài của mình được, cho nên cần phảinhanh chóng nâng cao lực lượng sản xuất của nông dân, phải bắt đầu từnông nghiệp" Một câu hỏi khác "nếu có tự do buôn bán thì sẽ có tư hữu, đó
là điều kiện cho tư sản phục hồi" Lênin thừa nhận điều này và ông cho rằng
đó là điều kiện không đáng lo ngại vì nó chịu sự kiểm soát của nhà nước dogiai cấp công nhân lãnh đạo
Trang 14Về mức thu thuế cần phải căn cứ vào điều kiện cụ thể để điều chỉnhmức thuế cho phù hợp, có thể giảm, miễn thuế khi mất mùa Đây là sự xácđịnh đúng đắn vai trò của "quần chúng nhân dân" với chính quyền mới đảmbảo được ổn định lâu dài.
Bước đi thứ hai, khôi phục và phát triển sản xuất hàng hóa nông nghiệp nông thôn, thực hiện lưu thông công nghiệp với nông nghiệp.
Dưới thời CNTB, nông dân với công trường thủ công đã có sự sảnxuất lớn tập trung, có những cánh đồng cỏ rộng vài nghìn ha phục vụ nuôicừu để sản xuất lấy bông vải, cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp dệt nhưng nó chỉ diễn ra với các nước tư bản phát triển, trong khi đại đa số nôngdân còn chịu ảnh hưởng hệ tư tưởng phong kiến lạc hậu, nước Nga là mộtminh chứng Thuộc tính cố hữu của nông dân trong sản xuất là mang tính
"tự cấp, tự túc" kinh tế tự nhiên cho nên không có nền sản xuất lớn được, và
từ đó kéo theo sự trao đổi bằng hiện vật Cái mà chủ nghĩa xã hội đang cầnlại là khác với nó, đó là sản xuất hàng hóa lớn cho xã hội, xã hội chủ nghĩa Xuất phát từ ý nghĩa kinh tế và chính trị của trao đổi hàng hóa, Lênin
đã nêu lên sự so sánh sau đây: Từ trước đến nay, người làm công tác lươngthực chỉ biết có một chỉ thị chủ yếu: thu đủ 100% mức lương thực trưng thu.Ngày nay, chỉ thị đã khác, phải thu đủ 100% thuế lương thực trong thời gianngắn nhất, rồi thu 100% nữa bằng cách đổi các sản phẩm của đại và tiểucông nghiệp
Như vậy, chính sách thuế lương thực của Lênin còn bao hàm tư tưởngchuyển sang kinh doanh lương thực, được coi như một đòn bẩy quan trọngcho sự phát triển sản xuất lương thực và sản xuất nông nghiệp nói chung.Theo hướng đó, nhà nước đã đem lại sự giúp đỡ to lớn về tài chính và kỹthuật cho nông dân
Nhờ quán triệt đầy đủ quan điểm Lênin trong chính sách lương thực,nên đến năm 1925 sản xuất nông nghiệp nước Nga đã đạt mức trước chiếntranh (1913), trong khi các nước TBCN tham gia chiến tranh thế giới lần thứnhất phải trải qua 10 năm, kể từ sau hiệp ước Vec-xây, mới khôi phục xongsản xuất nông nghiệp
Để thực hiện nhiệm vụ thứ 2 trong cơ chế NEP phải giải quyết 2 vấnđề:
Một là, lấy hàng công nghiệp ở đâu để trao đổi với nông dân?
Hai là, khôi phục và phát triển kinh tế hàng hóa bên trong nôngnghiệp mới thực hiện được NEP nhưng sẽ kéo theo sự khôi phục và kíchthích xu hướng tư bản chủ nghĩa Mâu thuẫn đó giải quyết như thế nào?
Quan điểm của Lênin về vấn đề này như sau:
Trang 15- Sự phát triển của trao đổi tư nhân, của CNTB là một sự phát triểnkhông tránh được khi có hàng triệu người sản xuất nhỏ, khi cần khôi phụckinh tế công nghiệp, nông nghiệp.
- Việc ngăn cấm, chặn đứng sự phát triển đó có hại cho cách mạng
"chính sách ấy là một sự dại dột và tự sát đối với đảng nào muốn áp dụng
nó Dại dột, vì về phương diện kinh tế, chính sách ấy là không thể nào thựchiện được; tự sát, vì những đảng nào định thi hành một chính sách như thế,nhất định sẽ phá sản"
- Nhưng không được coi thường, buông lỏng sự kiểm tra, kiểm soát
sự phát triển ấy của xu hướng tư bản chủ nghĩa, nhất là đấu tranh chống nạnđầu cơ Muốn vậy phải sử dụng hình thức kinh tế "chủ nghĩa tư bản nhànước", Lênin nói "chủ nghĩa tư bản nhà nước không đáng sợ, mà đáng mongđợi, học tập chủ nghĩa tư bản nhà nước"
- Vì lợi ích của CNXH phải phát triển tư bản nhà nước và tự do buônbán để phát triển lực lượng sản xuất nông nghiệp, công nghiệp và để chống
để đi vào "đại công nghiệp", điện khí hóa, lúc đó chúng ta có "đủ lực vàsức" để đi vào chủ nghĩa xã hội đây là bước tiến đi từ thấp tới cao với những
"bước đi" vững chắc Trong thực tiễn nhiều nước xã hội chủ nghĩa kể cả ởViệt Nam đã không nắm bắt được đầy đủ tư tưởng này của Lênin nên đã đề
ra những mục tiêu không tập trung cho phát triển công nghiệp nặng mộtcách tràn lan, không căn cứ vào thực tế, cũng như những điều kiện cụ thể,cho nên đã phải trả "giá đắt", níu kéo sự phát triển kinh tế, hàng hóa thìkhan hiếm, nguyên vật liệu thiếu thốn, gây khủng hoảng lương thực cuộcthử nghiệm này đã chiếm của chúng ta khá nhiều thời gian, làm chậm bước
đi lên chủ nghĩa xã hội
Theo Lênin để khôi phục công nghiệp sau chiến tranh cần tập trungvào 2 yếu tố:
Trang 16Thứ nhất, cần có hàng công nghiệp trao đổi với nông nghiệp trên thị
trường, đặc biệt là công nghiệp vừa và nhỏ, vấn đề này ở nước ta gọi là hàngcông nghiệp cải tiến
Thứ hai, cần thu hút công nhân có kỷ luật vào sản xuất ở các nhà
máy Để thực hiện nhiệm vụ đó cần phải có : kế hoạch chính sách, trongcông nghiệp trước hết là ưu tiên công nghiệp vừa và nhỏ, xác định ngànhmũi nhọn, then chốt, có trọng điểm để tập trung đầu tư phát triển, thích ứngvới tình hình kinh tế, ít vốn đầu tư, mang lại hiểu quả kinh tế cao, dễ tìmnguyên vật liệu, phát huy lợi thế so sánh
Khi xây dựng công nghiệp cần phải xuất phát từ nhu cầu công nghiệp,nông thôn, có khả năng tích lũy và khôi phục vốn Tập trung sản xuất hợp lý
và cân đối lao động, ngành nghề giữa công nghiệp, nông nghiệp, thành thị,nông thôn
Xây dựng công nghiệp trong nền kinh tế nhiều thành phần, kinh thị
trường là bước tiến của công nghiệp, thứ nhất, là tập trung trung được nguồn vốn cho sản xuất, thứ hai, là có thị trường rộng lớn để tiêu thụ sản phẩm, thứ ba, là tiến hành cải cách công nghiệp quốc doanh và công nghiệp
tư nhân, chủ động, năng động hơn vì lúc này nó lấy hiểu quả kinh tế làmtrọng, tăng sản lượng cho chủ nghĩa xã hội Việc tổ chức lại sản xuất, quản
lý, và cân đối ngành nghề nó không chỉ giúp cho doanh nghiệp tự chủ hoạchtoán kinh tế mà còn giảm gánh nặng cho nhà nước, mặt khác nó còn nângcao mức thu ngân sách cho nhà nước Đối với nông nghiệp thì công nghiệp,đặc biệt là công nghiệp nhẹ và công nghiệp chế biến là những khâu quantrọng để tháo gỡ khó khăn "đầu vào", "đầu ra" cho nông nghiệp, hướng vàosản xuất hàng hóa tập trung có quy hoạch
Đặt trong mối quan hệ thống nhất, toàn diện, khái quát nhất chochúng ta thấy sự dứt khoát chặt chẽ có sự gắn kết đan xen nhau, các yếu tốhợp thành nền kinh tế mới đó là nền kinh tế thị trường định hướng xã hộichủ nghĩa, cái này ràng buộc cái kia, tác động qua lại nhau, hỗ trợ cùng pháttriển
Một ví dụ đơn giản dễ thấy đó là: nếu cần muốn mở rộng sản xuất thì
sử dụng chủ nghĩa tư bản nhà nước, để nông nghiệp sản xuất hàng hóa thìcần phải có kinh tế hợp tác, hợp tác xã và có sự tác động công nghiệp hóanông nghiệp nông thôn, tạo thành một thị trường năng động, chủ động và vàtích cực, trong đó công nghiệp quốc doanh giữ vai trò chỉ đạo chi phối, điềutiết công nghiệp và ngành nghề khác ngoài quốc doanh Kết quả ở nước Nganăm 1923 tỷ trọng công nghiệp quốc doanh và tập thể chiếm 75,3% bảođảm phần lớn cho sản xuất nông nghiệp và nghành nghề khác
Trang 17Chuyển đổi cơ chế quản lý từ tập trung mệnh lệnh sang hoạch toánkinh tế theo nguyên tắc tập trung dân chủ, cũng không làm giảm đi sứcmạnh của nhà nước Nhà nước thực hiện sự quản lý vĩ mô của mình bằngđiều tiết, điều chỉnh và kiểm tra, kiểm soát sự hoạt động của các doanhnghiệp.
Kiên định tập trung dân chủ có kế hoạch và xây dựng hệ thống pháp luật
chặt chẽ, kết hợp được hai nội dung thị trường và kế hoạch hóa tạo nên sự
ổn định phát triển bình đẳng của các thành phần kinh tế Các thành phầnkinh tế ấy đều nằm trong tổng thể nền kinh tế quốc dân
Bước đi thứ tư, củng cố mở rộng thương nghiệp xã hội chủ nghĩa
Trong nền kinh tế, muốn có sự phát triển bình thường, bất cứ ở nướcnào cũng phải thực hiện tốt các khâu của chu trình sản xuất, đó là: sản xuất,phân phối, trao đổi và tiêu dùng
Thương nghiệp là một khâu quan trọng nối liền giữa sản xuất và tiêudùng Làm tốt khâu thương nghiệp sẽ thúc đẩy sản xuất và lưu thông pháttriển, xây dựng và củng cố lực lượng sản xuất Trong thời kỳ thực hiệnChính sách kinh tế mới, Lênin chủ trương đẩy mạnh việc củng cố và mởrộng thương nghiệp, với các mục tiêu như sau:
Thương nghiệp có vai trò quan trọng góp phần thực hiện mục tiêu củaChính sách kinh tế mới, nhằm thiết lập liên minh kinh tế giữa giai cấp côngnhân và nông dân
Trong điều kiện nông nghiệp lạc hậu và phân tán của nước Nga thìthương nghiệp là sợi dây ràng buộc giữa hàng chục triệu người tiểu nôngvới giai cấp vô sản, là điều kiện để cho nông nghiệp và công nghiệp tái sảnxuất được
Nếu không có sự hoạt động của thương nghiệp thì không thể sử dụngđược các hình thức quá độ trong sản xuất lưu thông
Trong thời kỳ thực hiện chính sách cộng sản thời chiến, với tư tưởngxóa bỏ thương nghiệp, coi nhẹ vai trò của thương nghiệp đã kìm hãm sựphát triển của nó, gây ảnh hưởng lớn cho sản xuất và lưu thông
Quan niệm xóa bỏ thương nghiệp là sự vi phạm quy luật phát triểnkhách quan của nền sản xuất xã hội, làm ảnh hưởng đến đời sống của nhândân Khi bước vào thời kỳ thực hiện Chính sách kinh tế mới, tình hình cơcấu của thương nghiệp nước Nga hết sức phức tạp, cụ thể là: thương nghiệp
tư nhân chiếm 26,2%, người nội trợ chiếm 28,4%, công nhân chiếm 15,5%,thợ thủ công chiếm 13,4%, các thành phần khác chiếm 11%, viên chứcchiếm 5,7%
Trang 18Vào những năm 1923, 1924 trong thương nghiệp, tư bản tư nhân nắm18% chu chuyển thương nghiệp bán buôn và bán lẻ Tình hình lĩnh vực lưuthông hàng hóa như vậy hoàn toàn không phù hợp với mục tiêu kinh tế vàchính trị mà Chính sách kinh tế mới đang đòi hỏi Cuộc đấu tranh giữa 2con đường XHCN và TBCN trên lĩnh vực thương nghiệp càng biểu hiện rõnét và gay gắt Chính vì vậy, Lênin đã chỉ ra, trong điều kiện cụ thể củanước Nga, phải nắm lấy thương nghiệp và coi thương nghiệp là một mắtxích hết sức quan trọng mà giai cấp vô sản phải nắm cho bằng được, Lêninchỉ ra rằng: "Thương nghiệp là một cái "mắt xích" trong cái xích những sựkiện lịch sử, trong những hình thức quá độ của công cuộc xây dựng CNXHcủa chúng ta vào những năm 1921 - 1922, đó là "mắt xích" mà chúng ta,chính quyền của nhà nước vô sản, mà chúng ta, đảng cộng sản đang nắmquyền lãnh đạo - "chúng ta phải đem toàn lực ra nắm lấy" Nếu ngày naychúng ta "nắm" được khá chặt mắt xích đó thì chắc chắn là một ngày gầnđây, chúng ta sẽ làm chủ được toàn bộ cái dây xích Bằng không, chúng ta
sẽ không đạt được nền móng của những mối quan hệ kinh tế và xã hội trong
xã hội XHCN" [45;279]
Để nắm chắc thương nghiệp, phát huy vai trò của thương nghiệp theotinh thần của Chính sách kinh tế mới, Lênin đã xác định bước đi cụ thể củathương nghiệp như sau:
Làm cho thương nghiệp XHCN trở lại vị trí của mình và chiếm giữcác vị trí chỉ huy trong thương nghiệp để triển khai quá trình lưu chuyểnhàng hóa, đồng thời làm chủ quá trình lưu thông đó, phải đi thẳng tới nhucầu của nông thôn và thành thị Phải xây dựng và củng cố mối liên hệ chặtchẽ giữa công nghiệp quốc doanh với thương nghiệp quốc doanh và thươngnghiệp tập thể, để nắm vững quỹ hàng hóa công nghiệp dùng nó làmphương tiện điều tiết thị trường
Nhà nước cần củng cố và phát triển nhiều hình thức thương nghiệpnhư sau:
- Tổ chức các hình thức thương nghiệp nhà nước ở các thành phố lớn(cửa hàng bách hóa tổng hợp)
- Tổ chức các Xanhđica (thương nghiệp để tiêu thụ và cung ứng)
- Tổ chức hệ thống hợp tác xã tiêu thụ
Song song với việc mở rộng, xác lập vị trí của thương nghiệp XHCN,nhà nước Xôviết đã tiến hành xây dựng, mở rộng mạng lưới giao thông vậntải để vận chuyển hàng hóa đi các nơi trong nước Đồng thời, Nhà nước phảitiến hành củng cố hệ thống tài chính, thiết lập sự cân đối về ngân sách, ổnđịnh đồng tiền, tiến tới hạch toán kinh tế trong ngành thương nghiệp
Trang 19Nhờ các biện pháp tích cực theo quan điểm của Chính sách kinh tếmới nên đến năm 1925 - 1926 thương nghiệp nước Nga, giao thông vận tảiphát triển, nền tài chính tiền tệ ổn định, góp phần thực hiện mục tiêu củaChính sách kinh tế mới là bảo vệ và xây dựng CNXH ở nước Nga
Bước đi thứ năm, củng cố nền tài chính, ổn định tiền tệ
Khôi phục kinh tế theo quan điểm NEP đã tạo điều kiện kinh tế thuận
lợi cho việc giải quyết các vấn đề tài chính, tiền tệ Các xí nghiệp đi vàohoạch toán kinh tế không đòi hỏi kinh tế từ ngân sách nhà nước, đồng thờilại nộp một phần lợi nhuận vào ngân sách nhà nước, đồng thời lại nộp mộtphần lợi nhuận vào ngân sách Hoạt động ngoại thương phục hồi, bắt đầu bổsung dự trữ vàng cho nhà nước Xôviết Đó là một mặt của tình hình, nhưngmặt khác, các hoạt động sản xuất và lưu thông càng mở rộng, kinh tế hànghóa phục hồi và phát triển thì càng đòi hỏi phải giải quyết vấn đề tài chính,tiền tệ một cách cấp bách
Việc ổn định tiền tệ, củng cố nền tài chính Xôviết được đặt trong bốicảnh đặc biệt: nước Nga trước cách mạng đã đạt trình độ phát triển kinh tếhàng hóa cao, nhưng trải qua mấy năm thi hành "chính sách cộng sản thờichiến" và những hậu quả của chiến tranh, nền kinh tế bị xáo trộn, bị tàn phá,kinh tế hàng hóa bị thu hẹp, xu hướng hiện vật hóa ngày càng tăng Bướcvào khôi phục kinh tế trong tình trạng lạm phát nặng nề, ngân sách bội chingày càng lớn, đồng rúp mất giá Nhà nước đứng trước hai vấn đề cực kỳkhó khăn: chấn chỉnh công tác tài chính và ổn định đồng tiền Hai vấn đềliên quan mật thiết với nhau, không thể tách rời nhau trong quá trình cảicách lĩnh vực quan trọng này
Vấn đề thu chi ngân sách luôn là công việc của chính phủ việc đầu tưxây dựng cơ sở vật chất, cơ sở hạ tầng, khoa học kỷ thuật, giáo dục, y tế,văn hóa Nói tóm lại, mọi mặt của đời sống xã hội là vấn đề đáng đượcquan tâm
Nguồn thu chủ yếu của nhà nước ta các loại thuế, cho nên vấn đề thuthuế phải được thực hiện nghiêm minh, rõ ràng, chính xác tránh thấtthoát cùng với đó là sự đầu tư trở lại của chính phủ đặc biệt là đầu tư xâydựng cơ bản cần phải được kiểm tra chặt chẽ tránh tệ lợi dụng tham nhũng,
vụ lợi cá nhân Cân đối tài chính nhằm tăng cường sự quản lý của nhà nước,đồng thời nó kiểm soát được tệ hàng giả, hàng lậu, trốn thuế, làm tăng thucho nhà nước ổn định thị trường
Ổn định tiền tệ tránh lạm phát "rối loạn nền kinh tế" ổn định tiền tệcòn làm cho tâm lý đầu tư sản xuất được yên tâm Để đảm bảo thực hiệnđầy đủ nội dung yêu cầu trên: trước hết cần phải có một đội ngũ cán bộ
Trang 20trong sạch vững mạnh, phẩm chất đạo đức tốt, trung thực và có năng lựctrong quản lý cũng như việc theo sát thị trường yêu cầu thực tế của nó Tómlại, công tác quản lý của nhà nước và công tác cán bộ giảm các chi phíkhông cần thiết, đầu tư cho trọng điểm, tinh giảm bộ máy quản lý nhà nướctránh chồng chéo và nhiều vấn đề khác, làm tốt công tác này góp phầnthắng lợi trong thời ký quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội.
Lênin rất quan tâm đến kế hoạch, điều tra, giám sát theo dõi thực hiện
từ trung ương đến cơ sở và huy động tài chính từ mọi phía công tác tài chínhgắn với hệ thống ngân hàng nhà nước và doanh nghiệp tạo nên sự thốngnhất ăn khớp, đồng bộ
Tất cả những nội dung trên ở Liên Xô trong thời kỳ thực hiện NEP đãthu được thành công to lớn từ năm 1923 đến 1924, tổng thu là 2.026 triệurúp, tổng chi là 2.022 triệu rúp phần lớn cho xây dựng cơ sở hạ tầng
1.2.2 Chính sách kinh tế mới là sự biểu hiện mối quan hệ biện chứng giữa kinh tế và chính trị
Trong triết học Mác - Lênin, mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị là
một nội dung được quan tâm nhiều nhất Mối quan hệ giữa kinh tế và chínhtrị thường được biểu hiện trong đời sống xã hội, trong đường lối chính sáchcủa Đảng cộng sản Nó là cơ sở phương pháp luận cho việc lãnh đạo, chỉđạo cách mạng của người lãnh đạo
Ở trong Chính sách kinh tế mới, mối quan hệ giữa kinh tế và chính trịđược biểu hiện khá đậm nét, trong quá trình chỉ đạo cách mạng nước Nga,thời kỳ đầu của nước Nga Xôviết đã coi trọng mối quan hệ này Mối quan
hệ đó được Lênin khái quát như sau: "Chính trị là biểu hiện tập trung củakinh tế" và "Chính trị không thể giữ vị trí ưu tiên so với kinh tế" [43;273]
Chính trị là biểu hiện tập trung của kinh tế
Mác từng chỉ ra rằng: Quan điểm và tư tưởng của mỗi thời kỳ lịch sửđược giải thích bằng điều kiện kinh tế của đời sống và quan hệ chính trị - xãhội do các quan hệ kinh tế của thời kỳ đó quyết định
Như vậy, với tư cách là một yếu tố của kiến trúc thượng tầng, chínhtrị sẽ do cơ sở kinh tế quyết định Cơ sở kinh tế có vai trò rất to lớn đối với
tư tưởng chính trị và hệ thống tổ chức chính trị, vai trò đó được thể hiện ởcác mặt sau đây:
Chính cơ sở kinh tế quy định sự xuất hiện, quyết định nội dung, tínhchất, mục tiêu, các nguyên tắc của chính trị Còn mạnh mẽ hơn thế nữa, cơ
sở kinh tế còn có vai trò quyết định đến sự thay đổi và phát triển của đườnglối chính trị, hệ tư tưởng chính trị và cơ cấu của hệ thống chính trị Thựctiễn của cuộc cách mạng XHCN và xây dựng CNXH ở các nước trên thế
Trang 21giới và ngay cả ở nước ta đã chứng minh một cách hùng hồn về vai trò củakinh tế có ý nghĩa quyết định đối với chính trị Vai trò quyết định của kinh
tế được biểu hiện trên các phương diện sau:
Về khách quan mà xét thì việc xây dựng và phát triển nền kinh tếXHCN đòi hỏi phải đập tan nhà nước tư sản và xây dựng chính quyền củagiai cấp vô sản - một công cụ cơ bản đảm bảo sự thống trị chính trị của quầnchúng lao động
Bản chất của nền kinh tế, cấu trúc của nó cũng quy định bản chất vànguyên tắc cơ bản của hoạt động chính trị, quyết định nội dung và cấu trúccủa hệ thống chính trị, quyết định tính chất hoạt động và phát triển củachính trị
Ra đời, tồn tại và phát triển trên nền tảng sở hữu toàn dân và sở hữutập thể đối với tư liệu sản xuất, trong khi chính quyền vẫn là chính quyềncủa một giai cấp, đó là giai cấp vô sản - thì nhà nước XHCN lại trở thành cơquan mà thông qua đó, quần chúng nhân dân thực hiện quyền làm chủ củamình đối với toàn xã hội Nhà nước không còn là công cụ quyền lực củamột nhóm nhỏ những kẻ có đặc quyền để đàn áp lại đa số nhân dân laođộng; ở đây, nhà nước thực sự là của dân, do dân và vì dân
Sự tăng trưởng về quy mô, sự phức tạp hóa của các liên hệ kinh tế vàphát triển kinh tế quy định tính tất yếu: để hoàn thiện hơn nữa hệ thốngchính trị của xã hội, phải nâng cao vai trò của nó trong quản lý các quá trìnhkinh tế
Những vấn đề nếu trên hoàn toàn phù hợp với sự chỉ dẫn của Lênin:
" qua mỗi giai đoạn, mỗi bước tiến của lực lượng sản xuất và nét văn hóacủa ta, chúng ta lại phải hoàn thiện và sửa đổi chế độ Xô viết của ta"[45;278]
Do chính trị là biểu hiện tập trung của nền kinh tế, cho nên mọi chínhsách kinh tế đúng đắn đều phải xuất phát từ tình hình hiện thực, phản ánhsát, đúng với trạng thái hiện thực của nền kinh tế và chính sách đó xét chocùng cũng do tình hình kinh tế quyết định Tình hình kinh tế là cơ sở xuấtphát cho việc lựa chọn các phương tiện, chính sách kích thích nền sản xuấtphát triển nhằm hoàn thiện nền sản xuất xã hội Đồng thời kinh tế cũng cóvai trò quyết định cả việc lựa chọn chính sách phân phối và sự dụng hợp lýtổng sản phẩm xã hội, sản phẩm thặng dư dưới hình thức giá trị và hiện vật Luận điểm về vai trò quyết định của kinh tế đối với chính trị là biểuhiện tập trung của kinh tế, đã được Lênin áp dụng để chỉ đạo việc xây dựng
xã hội mới ở nước Nga sau cách mạng tháng Mười năm 1917 Song, do tìnhhình kinh tế ở nước Nga trong những năm đầu tiên sau Cách mạng tháng
Trang 22Mười nên nhà nước đã phải áp dụng chính sách cộng sản thời chiến mà tậptrung nhất là chính sách trưng thu lương thực, phân phối vật chất theonhững tiêu chuẩn nghiêm ngặt Nhưng sau cuộc nội chiến và cuộc chiếntranh chống can thiệp của bọn đế quốc bên ngoài đã làm cho nền kinh tếnước Nga đổ nát, gặp nhiều khó khăn Cuộc khủng hoảng toàn diện bắt đầudiễn ra ở nước Nga Xôviết Tình hình kinh tế - chính trị đó đòi hỏi phải cóchính sách đúng đắn hơn, phù hợp với thực tế hơn Lênin đã chuyển sangChính sách kinh tế mới mà đặc trưng của nó là chính sách thuế lương thực,
ra sức phát triển thương nghiệp và phát huy tính chủ động của tư nhân trongviệc xây dựng và quản lý nền sản xuất xã hội, giải quyết khó khăn của đấtnước
Chính trị là biểu hiện tập trung của kinh tế Song, chính trị không phải
là sự phản ánh giản đơn, trực tiếp quá trình kinh tế, mà là sự phản ánh mộtcách sáng tạo, phản ánh tập trung các hiện tượng kinh tế Đó là:
Sự phản ánh những nhu cầu kinh tế đã được loại bỏ tất cả cái gì đó cótính ngẫu nhiên, không ổn định, nó tách ra, nêu lên cái chủ yếu, cái cơ bảnnhất của kinh tế
Trong lịch sử xã hội loài người, khi các quan hệ xã hội mang tính chấtchính trị thì điều chắc chắn là: Kinh tế không bao giờ tự nó phát triển đượchay không một thứ kinh tế nào phát triển ngoài chính trị được Tất cả sựphát triển kinh tế có sự tác động của chính trị thông qua quyền lực chính trị
và thiếu nó thì sự phát triển kinh tế chỉ có sự dẫn đến hỗn loạn mà thôi Từđây đặt ra vấn đề một giai cấp cầm quyền thì không được sai lầm về chínhtrị, nếu không nó sẽ làm đổ vỡ kinh tế
Tính chủ động của chính trị so với kinh tế là hết sức cao Nó giữ vaitrò lãnh đạo, điều khiển, quản lý, định hướng phát triển kinh tế Do thế,chính trị không phải là sự phản ánh chủ động, tập trung trở thành một hệthống điều khiển kinh tế và điều khiển toàn bộ xã hội Theo nghĩa này,chính trị đích thực là chính trị, vì vinh quang chung, vì đời sống cộng đồnglàm cho mọi người được và sống tốt hơn
Chính trị cũng không phản ánh lợi ích của cá nhân, mà của toàn giaicấp, chính trị khái quát lợi ích giai cấp
Chính trị không chỉ phản ánh về tư tưởng những nhu cầu của kinh tếtrên lập trường lợi ích chung của giai cấp, mà còn là tập trung ý chí, sức lực,hành động của giai cấp để thực hiện một cách thực tế lợi ích chung đó Sựgián tiếp của chính trị đối với kinh tế biểu hiện rõ trong cơ chế tác động củakinh tế lên chính trị
Trang 23Vị trí trung tâm trong cơ chế tác động có ý nghĩa quyết định của kinh
tế đối với chính trị là lợi ích Sự biểu hiện tập trung, khái quát của kinh tếtrong chính trị được thể hiện trước hết thông qua lợi ích kinh tế, nghĩa làthông qua những quan hệ xuất hiện một cách khách quan của các giai cấp,các tập đoàn xã hội, các tập thể và cá nhân đối với nhu cầu tồn tại của mình,đối với việc tạo ra hay duy trì những nhược điểm và phương tiện đảm bảonhững nhu cầu đó
Là sự phản ánh vị trí các giai cấp, các tập đoàn xã hội, các tập thể và
cá nhân trong hệ thống sản xuất xã hội, lợi ích kinh tế biểu hiện như là cáikích thích hoạt động thực tiễn của con người Theo Mác thì "tất cả cái gì màcon người đấu tranh đều gắn với lợi ích của nó" Phát triển tư tưởng trên củaMác, trong quá trình chỉ đạo việc xây dựng CNXH ở nước Nga Xôviết,Lênin cũng đã đi đến nhận xét: " những lợi ích thúc đẩy đời sống của cácdân tộc "
Lợi ích là sự thống nhất giữa cái khách quan và chủ quan, được thểhiện bằng một lợi ích đúng đắn phản ánh yêu cầu phát triển khách quan củakinh tế - xã hội thì sẽ hình thành một chính trị khoa học Ngược lại, sự thểhiện một lợi ích không đúng đắn thì chính trị ấy không thể phản ánh chínhxác yêu cầu kinh tế khách quan
Vì vậy, muốn cho chính trị thực sự trở thành sự biểu hiện tập trungcủa kinh tế thì phải: Có sự nhận thực một cách khoa học về thực trạng kinh
tế, hiểu thấu đáo các yêu cầu của các quy luật kinh tế Lựa chọn các hìnhthức tổ chức, chính sách phù hợp với yêu cầu kinh tế - xã hội, bảo đảm sựhoạt động tối ưu của hệ thống các quy luật kinh tế - xã hội một cách có kếhoạch Xây dựng tri thức khoa học nhằm giác ngộ quần chúng, thúc đẩyquần chúng hoạt động phù hợp với yêu cầu của quy luật kinh tế - xã hộikhách quan
Chính trị không thể không chiếm vị trí hàng đầu
Chủ nghĩa Mác - Lênin cho rằng, đời sống chính trị về cơ bản phảnánh đời sống kinh tế, chính trị bắt nguồn sâu xa từ quan hệ kinh tế, từ trình
độ và yêu cầu của lực lượng sản xuất chứ không phải do đạo đức, tinh thần,trí tuệ tạo ra Tư duy chính trị phải quán triệt rằng chính trị là phản ánh hiệntrạng kinh tế, đáp ứng yêu cầu của kinh tế và sự phát triển của lực lượng sảnxuất Chính trị phản ánh tập trung kinh tế Do đó, chính trị không thể không
ưu tiên và ổn định chính trị (lo chính trị tức là lo kinh tế) chính trị là để pháttriển kinh tế Chính trị không thể không chiếm vị trí hàng đầu trong kiếntrúc thượng tầng của xã hội
Trang 24Trong hoạt động thực tiễn ở nước Nga, Lênin đã đấu tranh kiên quyếtvới phái "kinh tế" để bảo vệ quan điểm chính trị chiếm vị trí hàng đầu.Người đã nhiều lần nhấn mạnh và bảo vệ quan điểm của mình Trong điềukiện của cách mạng XHCN, vị trí hàng đầu của chính trị so với kinh tế đượcbiểu hiện ở chỗ:
- Việc giành và củng cố quyền lực chính trị để hình thành và pháttriển nền kinh tế XHCN (vì lợi ích của nhân dân lao động) Trong mối quan
hệ đó, chính trị có vai trò quyết định và có ý nghĩa to lớn đối với kinh tế
- Trong quan điểm chính trị, khi phân tích và giải quyết các vấn đềkinh tế, không thể không đề cập đến vấn đề tổ chức và các vấn đề khác cóliên quan dưới ánh sáng của các chủ trương, đường lối của cách mạng đã đềra
- Trong sự lãnh đạo về mặt chính trị của Đảng cộng sản đối với cácquan hệ kinh tế của nhà nước nó luôn luôn được đặt trong mối quan hệ vớicác tổ chức kinh tế của quần chúng
- Trong sự lãnh đạo về mặt chính trị của Đảng cộng sản, để xác địnhchiến lược kinh tế, phương hướng xã hội của sự phát triển kinh tế
Qua những vấn đề nói trên chứng tỏ vị trí hàng đầu của chính trị đốivới kinh tế Đó là một trong những điều kiện tất yếu đảm bảo sự thống trị vềmặt chính trị của giai cấp công nhân, bảo đảm cho nhân dân lao động thựchiện có kết quả quyền lực chính trị và quản lý các quá trình hoạt động của
xã hội, trong đó có kinh tế Chính vì vậy mà vai trò hàng đầu của chính trịđối với kinh tế là nhân tố quan trọng nhất để thực hiện lợi ích căn bản củagiai cấp công nhân, là đòi hỏi của xã hội nhằm phát triển nền kinh tế có hiệuquả, vì lợi ích tất cả mọi thành viên trong xã hội
Từ cách nhìn trên chúng ta thấy rằng, nếu quan điểm chính trị mà sailầm thì nó có thể làm tiêu vong toàn bộ những thành tựu kinh tế, làm chonền kinh tế phát triển không đúng hướng XHCN, Lênin đã nói: " Cố nhiên
là tôi đã, đang và sẽ còn nói mong muốn rằng chúng ta làm chính trị ít hơn,
và làm kinh tế nhiều hơn Nhưng cũng dễ hiểu rằng muốn cho lòng mongmuốn thành sự thực thì cần phải không có những nguy cơ về chính trị vànhững sai lầm chính trị" [43; 352]
Vị trí hàng đầu của chính trị đối với kinh tế còn thể hiện ở chỗ: Chínhtrị đưa lại khả năng can thiệp một cách tự giác vào các quá trình kinh tế xãhội khách quan Điều đó có ảnh hưởng to lớn đến tiến trình khách quan Từ
vị trí hàng đầu của chính trị đối với kinh tế, chúng ta cần chống lại quanđiểm tuyệt đối hóa vai trò của chính trị, vì như thế xẽ dẫn đến chủ nghĩa duytâm chủ quan
Trang 25Trong thực tiễn, mối quan hệ biện chứng giữa kinh tế và chính trị cómột ý nghĩa hết sức to lớn Nhưng tùy theo từng giai đoạn khác nhau củacách mạng mà mối quan hệ đó có những biểu hiện khác nhau.
Ở giai đoạn đấu tranh giành chính quyền, mối quan hệ giữa đấu tranhkinh tế và đấu tranh chính trị được biểu hiện ở chỗ, ban đầu giai cấp côngnhân đấu đấu tranh để giành quyền lợi kinh tế chuyển lên đấu tranh chính trị
mà cốt lõi của vấn đề lúc này là ở chỗ giành cho được chính quyền về taygiai cấp công nhân Nếu xa rời vấn đề cốt lõi đó thì người ta rơi vào quanđiểm chính trị có tính chất cải lương tư sản
Xuất phát từ cái cốt lõi là giai cấp vô sản phải dành cho được chínhquyền về tay mình, cho nên từ đấu tranh kinh tế cho đến các hình thức đấutranh khác cũng chỉ tập trung lại và là sự biểu hiện của cuộc đấu tranh chínhtrị và chính trị không thể chiếm vị trí hàng đầu đối với kinh tế Điều đó giảithích cho chúng ta thấy một điều rõ ràng là, tại sao ngay từ tháng 2 năm
1848, trong "Tuyên ngôn của Đảng cộng sản", Mác - Angghen đã xác định
rõ nhiệm vụ chủ yếu của giai cấp công nhân là: "trước hết phải trở thànhgiai cấp thống trị, giành lấy dân chủ"
Sau khi giai cấp công nhân đã giành được chính quyền, mối quan hệbiện chứng giữa kinh tế và chính trị có một nội dung mới, và có phạm virộng lớn hơn nhiều Trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở các nước, chính trịtrở thành vấn đề bao quát toàn bộ đời sống, xã hội
Muốn có một xã hội phát triển toàn diện thì chính trị phải trở thànhphương tiện quan trọng, chính trị phải bảo đảm sự lãnh đạo đúng hướng trêntất cả mọi lĩnh vực của đời sống - xã hội Sau khi giai cấp công nhân đãgiành chính quyền, trọng tâm chính trị chuyển dần vào lĩnh vực kinh tế,chính trị ngay trong kinh tế
Sau Cách mạng tháng Mười năm 1917, để chiến thắng thù trong giặcngoài, bảo vệ thành quả cách mạng, Lênin đã chỉ ra rằng: " mỗi bước dẫnchúng ta tiến tới ngày thắng lợi bọn bạch vệ, đều chuyển dần trọng tâm đấutranh vào chính trị trong lĩnh vực kinh tế" [42;482] và người đã nhấn mạnh:
"Chính trị chủ yếu của chúng ta lúc này là xây dựng nước nhà về mặt kinh
tế để tích góp được nhiều lúa mì hơn, để sản xuất được nhiều than hơn, để
sử dụng lúa mì và than, đó là hợp lý hơn sao cho không còn người đói nữa"[42; 483]
1.2.3 NEP là biểu hiện quan hệ biện chứng giữa động lực là kích thích vật chất và động viên tinh thần cho người lao động
Kích thích vật chất
Trang 26Kích thích vật chất và tinh thần là những hình thức, phương pháp,biện pháp để thúc đẩy mọi người lao động, nâng cao tính chủ động sáng tạo
và tính tích cực lao động của họ
Con người hành động bao giờ cũng theo lợi ích Chính lợi ích là độnglực thúc đẩy, là chất men kích thích con người nhận thức và hành động Lợiích có nghĩa là: có ý nghĩa, quan trọng, là nguyên nhân hiện thực của cáchành động xã hội, các sự kiện, thành tựu ẩn giật đằng sau những sự thúc đẩytrực tiếp động cơ, ý đồ, lý tưởng của cá nhân, tập đoàn, xã hội, giai cấptham gia vào những hành động đó
Mác, Angghen đã chỉ ra cơ sở khách quan của lợi ích Lợi ích là dođịa vị kinh tế của các tập đoàn, giai cấp quy định Angghen cho rằng:
"Những quan hệ kinh tế của một xã hội nhất định nào đó biểu hiện trước hếtdưới hình thức lợi ích"
Lợi ích xã hội phong phú và đa dạng Có nhiều loại lợi ích và tùy theocách tiếp cận mà người ta có thể phân chia lợi ích theo các góc độ khácnhau Có thể phân chia lợi ích theo phạm vi cộng đồng: lợi ích cá nhân, lợiích tập đoàn, lợi ích xã hội Có thể phân chia lợi ích theo lĩnh vực: lợi íchkinh tế, lợi ích tinh thần, lợi ích chính trị Có thể phân chia lợi ích theo cácchủ thể: Đảng, nhà nước, nhân dân, dân tộc, giai cấp Chia theo trình độnhận thức như: lợi ích tác động tự giác và tự phát Có thể phân chia theo khảnăng và hiện thực sẽ có lợi ích hiện thực và lợi ích hư ảo Phân chia theo xuhướng khách quan của sự phát triển xã hội thì có lợi ích tiến bộ, lợi ích bảothủ, phản động Vấn đề lợi ích có quan hệ với nhu cầu Nhu cầu là một trongnhững khâu trung gian quan trọng nhất, hơn thế nữa là khâu trung gian đầutiên trong chuỗi nhân quả "hoàn cảnh kinh tế" đến "mục đích", tức là đếncác "động cơ tư tưởng" trực tiếp thúc đẩy con người đi vào hành động
Khi phân tích vai trò của nhu cầu trong sự phát triển của sản xuất,người ta thấy rằng, không có sản xuất thì không có nhu cầu Nhưng ngượclại, không có nhu cầu thì không có sản xuất Tuy nhiên, nhu cầu không phảichỉ là động lực mạnh mẽ kích thích sự phát triển của riêng sản xuất, mà còn
là tác động thúc đẩy toàn bộ sự hoạt động của con người nói chung
Có tình hình đó là do về phía bản thân mình, nhu cầu là những đòi hỏicủa con người, của từng cá nhân, của các nhóm xã hội khác nhau hay củatoàn bộ xã hội khác nhau hay của xã hội muốn có những điều kiện nhất định
để tồn tại và phát triển
Những nhu cầu nảy sinh trước hết là do tác động của sự sản xuất vậtchất Khi sản xuất vật chất đạt đến một trình độ phát triển nhất định thì nógây nên ở con người những nhu cầu tương ứng
Trang 27Tuy nhiên, sự nảy sinh nhu cầu còn phụ thuộc vào các trạng thái riêngcủa từng chủ thể Điều đó giải thích tại sao một hoàn cảnh bên ngoài nhưnhau lại làm nảy sinh ở những con người cụ thể khác nhau.
Như vậy, các nhu cầu nảy sinh là do kết quả tác động qua lại của hoàncảnh bên ngoài với trạng thái riêng của từng chủ thể, trong đó hoàn cảnhbên ngoài đóng vai trò là cái quyết định
Nhu cầu, sau khi nảy sinh, là động lực hết sức quan trọng thúc đẩycon người ta hành động nhằm tìm phương tiện thỏa mãn nó Ph Angghencho rằng: người ta thường quen giải thích rằng, hành vi của mình là do tưduy của mình quyết định, trong khi đó, lẽ ra người ta phải giải thích rằng,hành vi của mình là do nhu cầu của mình quyết định Ở đây ta cần chú ýmột số điểm sau:
- Khi một nhu cầu đặc biệt nào đó càng gần tới mức thỏa mãn của nóthì nhu cầu đó càng không còn là một động lực thúc đẩy nữa Chẳng hạn,nhu cầu ăn nhiều hơn, sẽ giảm đi khi điều kiện thỏa mãn chúng đã sẵn sàngrồi Khi nhu cầu đã được thõa mãn rồi thì nó không còn là một động lựcthúc đẩy hành vị ứng xử xã hội nữa
- Hầu hết mọi người đều có một hệ thống nhu cầu Khi nhu cầu này
đã được thỏa mãn thì nhu cầu khác trở thành bức thiết hơn Con ngườikhông bao giờ thỏa mãn được đầy đủ cả "Khi những điều mong muốn trướcđây đã được giải quyết thì những điều mong muốn mới sẽ phát sinh - sựmong muốn của con người là vô tận"
Vì vậy, xác định những nhu cầu hiện có tác động tới nhu cầu vừabằng cách làm thỏa mãn nhu cầu hợp lý trong các nhu cầu hiện có ấy, vừabằng cách cải tạo hoàn cảnh để làm nảy sinh ở con người những nhu cầumới theo định hướng có lợi cho sự nghiệp xây dựng CNXH là một trongnhững biện pháp quan trọng, kích thích sự hoạt động của con người nóiriêng, của cả cộng đồng nói chung theo đúng một hướng
Nhu cầu, như đã nhận xét ở trên, sau khi nảy sinh nhiều là động lựchết sức quan trọng thúc đẩy con ngừoi ta hành động nhằm tìm phương tiệnthỏa mãn nhu cầu ấy, đối với chủ thể hành động, chính là lợi ích Vậy lợiích gắn bó hết sức chặt chẽ với nhu cầu
Lợi ích không trùng hợp với nhu cầu, nhưng nó cũng không hoàntoàn tách biệt với nhu cầu Lợi ích là cái đáp ứng lại nhu cầu và vì lẽ đó nóchỉ có ý nghĩa là lợi ích khi được đặt trong mối quan hệ với nhu cầu Ngoàimối quan hệ đó, cái được coi là lợi ích sẽ không còn là lợi ích nữa
Xét về mặt bản chất, lợi ích chính là quan hệ - quan hệ giữa các sựvật, hiện tượng của thế giới bên ngoài với nhu cầu của chủ thể; còn về mặt
Trang 28nội dung, lợi ích là cái thỏa mãn nhu cầu, đáp ứng lại nhu cầu Mỗi quan hệgiữa sự vật, hiện tượng của thế giới bên ngoài này với nhu cầu của chủ thểhành động là mối quan hệ khách quan, không tùy thuộc vào ý muốn chủquan của chủ thể nhận thức Vì lẽ đó, cần tìm lợi ích thực sự của chủ thểhành động trong các mối quan hệ giữa nhu cầu của chủ thể với sự vật, hiệntượng của thế giới xung quanh, tức là trong mối quan hệ giữa chủ thế đó vớicác điều kiện tồn tại và phát triển của nó, chứ không phải ngoài mối quanhệ.
Trong mối quan hệ giữa nhu cầu và lợi ích, nhu cầu là cái quyết địnhđối với chủ thể lợi ích Do đó, nó là cơ sở của lợi ích Còn lợi ích, ngược lạixuất phát từ nhu cầu, là sự thể hiện của nhu cầu Khi nhu cầu bắt đầu xuấthiện thì còn người cũng bắt đầu hướng sự nhận thức của mình vào việc tìmkiếm cải thỏa mãn nhu cầu Và khi cái thỏa mãn nhu cầu đó - tức là lợi ích -chưa có hành động của con người nhằm đoạt lấy lợi ích ấy cũng chưa có.Nhưng một khi lợi ích ấy đã xuất hiện và đã được tìm thấy, đã được nhậnthức thì nó trở thành mục tiêu hành động của con người Nói cách khác, sựphản ánh của lợi ích trong ý thức lúc này đã biến thành mục đích, thànhđộng cơ tư tưởng và chính động cơ tư tưởng đó trực tiếp thúc đẩy con người
ta hành động nhằm giành lấy cái thỏa mãn nhu cầu Nhu cầu càng lớn thì sựhấp dẫn của lợi ích đối với chủ thể càng lớn và do đó động cơ tư tưởng nảysinh trên cơ sở của lợi ích này cũng sẽ càng cuốn hút người ta, thúc đẩyngười ta lao vào hành động
Như vậy, cùng với nhu cầu, lợi ích là một trong những động lực cực
kỳ quan trọng trực tiếp thúc đẩy con người và thông qua đó, gây nên nhữngbiến đổi trong tiến trình vận động của lịch sử Chúng không phải là nhữngđộng lực cuối cùng của sự phát triển xã hội, nhưng chúng là những động lựcmạnh mẽ nhất của sự phát triển, là khâu trung gian trực tiếp nhất trong việcchuyển hóa những cái bên ngoài thành động cơ tư tưởng bên trong, trực tiếpthúc đẩy con người ta đi đến hành động
Nếu lợi ích là khâu trung gian chuyển hóa những yêu cầu khách quanbên ngoài thành những động cơ tư tưởng bên trong, thúc đẩy con ngườihành động thì có thể nói, đó chính là khâu cần được đặc biệt quan tâm trongsợi dây chuyền dẫn tới chỗ khơi dậy và nuôi dưỡng tính tích cực của conngười và thông qua tính tích cực ấy mà thúc đẩy quá trình phát triển xã hội
Dĩ nhiên, lợi ích ở đây không phải chỉ là lợi ích cá nhân Ngoài lợi ích
cá nhân, còn có lợi ích chung của tập thể của giai cấp, của toàn xã hội Cũngnhư vậy, lợi ích kinh tế là loại lợi ích có tác dụng quyết định nhất Nhưngngoài lợi ích kinh tế còn có lợi ích khác như lợi ích chính trị, tư tưởng, văn
Trang 29hóa, xã hội Tất cả các lợi ích đó, trước hết là lợi ích kinh tế quyết dịnhđộng cơ hành động của con người Và chính thông qua cuộc đấu tranh củacon người, vì lợi ích của mình mà xuất hiện các biến cố xã hội - những biến
cố góp phần tạo nên sự phát triển của xã hội Vì lẽ đó, không phải ngẫunhiên khi người ta thấy lợi ích là khâu nhạy cảm nhất trong toàn bộ chuỗiquy định nhân quả, gây nên hoạt động của con người, là điểm huyệt mà sựtác động vào đó sẽ gây ra sự phản ứng nhanh nhạy nhất của cơ thể xã hội.Tầm quan trọng của lợi ích chính là ở chỗ ấy
Trong sự phong phú, đa dạng của lợi ích thì suy cho đến cùng, lợi íchkinh tế (vật chất) là cái quyết định các loại lợi ích khác Lợi ích kinh tế làmối quan hệ nhằm thực hiện nhu cầu kinh tế của chủ thể Nó nảy sinh mộtcách tất yếu, khách quan trong hoàn cảnh kinh tế, trực tiếp quy định khuynhhướng và động cơ hoạt động của các chủ thể kinh tế Lợi ích kinh tế (vậtchất) là những động cơ khách quan, kích thích thúc đẩy hoạt động của conngười nhằm thỏa mãn những nhu cầu vật chất đã hình thành và đang pháttriển của xã hội, của các giai cấp, các tập đoàn xã hội và các cá nhân Lợiích kinh tế phản ánh vị trí của con người hệ thống sản xuất xã hội Lợi íchkinh tế được phản ánh trong ý thức con người dưới dạng những mục tiêu đãđặt ra và những nhân tố thúc đẩy ý chí đạt tới các mục tiêu ấy Là hình thứcbiểu hiện của các quan hệ xã hội, lợi ích kinh tế là nguyên nhân sâu xa của
sự vận động xã hội và của đấu tranh giai cấp Hoạt động chính trị, xét đếncùng là nhằm thỏa mãn lợi ích kinh tế căn bản của các giai cấp Cuộc đấutranh giai cấp, suy cho đến cùng là do lợi ích kinh tế đối nghịch nhau màchính quyền là phương tiện để giải quyết chúng Lịch sử xã hội loài người làmột quá trình lịch sử - tự nhiên, đồng thời cũng như là lịch sử của quá trìnhhoạt động có ý thức của con người nhằm thực hiện lợi ích kinh tế của mình
Có thể nói, lợi ích kinh tế đóng vai trò vô cùng quan trọng, có tính chấtquyết định trong đời sống xã hội vì:
- Lợi ích kinh tế là động lực thúc đẩy con người hoạt động ở mọi quy
mô, mọi cấp độ xã hội
- Các quan hệ kinh tế biểu hiện tập trung thành quan hệ lợi ích kinh tếđược phản ánh trong nội dung chi phối đời sống chính trị, tư tưởng của xãhội
- Lợi ích kinh tế là cơ sở, là nền tảng cho việc hình thành và giảiquyết các lợi ích khác nhau của con người
Tuy nhiên, không được tuyệt đối hóa lợi ích kinh tế (vật chất) biến nóthành cái duy nhất Cái thúc đẩy con người hành động là tổng thể các loạilợi ích Không thấy lợi ích kinh tế hoặc hạ thấp vai trò của nó sẽ phụ nhận
Trang 30nguyên tắc khuyến khích vật chất, triệt tiêu động lực của con người, triệttiêu động lực phát triển xã hội Không thấy động lực kinh tế, khuyến khíchlợi ích vật chất sẽ sa vào chủ nghĩa duy tâm Nhưng nếu không coi trọngđộng lực tinh thần thì xã hội sẽ sa vào những bi kịch và đồi bại.
Động viên tinh thần người lao động
Dưới chế độ xã hội mới, không chỉ lợi ích kinh tế đóng vai trò độnglực mà các nhân tố kích thích tinh thần trong lao động cũng có một ý nghĩarất quan trọng Điều này cũng phù hợp với vai trò ngày càng tăng lên củacác nhân tố chủ quan trong quá trình phát triển lịch sử, của tính tích cực củangười lao động trong xã hội mới Một nền kinh tế hợp lý có hiệu quả, đòihỏi yêu cầu và bắt buộc trong hoạt động kinh tế phải sử dụng cả hệ thốngkích thích vật chất lẫn các nhân tố kích thích tinh thần Cần tạo ra một cơchế hoạt động để các nhân tố vật chất lẫn tinh thần tác động hài hòa, là chấtmen thúc đẩy hành động của người lao động có hiệu quả, đúng hướng Cácnhân tố vật chất, suy cho đến cùng có vai trò quyết định, nhưng như vậykhông có nghĩa là các nhân tố tinh thần chỉ là hậu quả Các nhân tố tinh thần
có đời sống riêng, có quy luật vận động riêng, có tính độc lập tương đối của
nó Tác dụng của các nhân tố kích thích tinh thần trong thực tế có phần phứctạp hơn các nhân tố vật chất Toàn bộ các hình thức khích lệ tinh thần phảiđược củng cố bằng vật chất mới có giá trị vững bền đối với đông đảo quầnchúng
Để đề ra đường lối chính sách đúng đắn, Lênin đặt tên hàng đầu việctổng kết kinh nghiệm thực tiễn nước Nga những năm sau Cách mạng thángMười, vạch ra những khuyết điểm, sai lầm, theo tinh thần "nhìn thẳng vào
sự thật, dù là sự thật đáng buồn nhất đi nữa" Vì chỉ có như vậy, theo Lênin
"chúng ta mới học được cách chiến thắng"
Từ việc tổng kết thực tiễn cách mạng nước Nga sau Cách mạng thángMười, Lênin nhận ra "sai lầm mà chúng ta mắc phải vì đem áp dụng kinhnghiệm trong thời kỳ đấu tranh quân sự và chính trị vào lĩnh vực kinh tế, đãsản sinh tác hại của nó, đó là một sai lầm nghiêm trọng nhất, một sự sai lầm
cơ bản"
Sự sai lầm ấy đã đưa đến nghịch lý phổ biến nhất trong cuộc sống ởnước Nga trước khi thực hiện Chính sách kinh tế mới "Và chúng ta sẽkhông có khả năng thoát khỏi tình trạng bế tắc đó trong nhiều năm nếuchúng ta còn cố bám lấy những phương pháp làm ăn cũ" [43;183] Vàonhững năm này theo dõi tình hình ở các địa phương, theo dõi các hội nghịnông dân không đảng phái, Lênin đã ghi các ý kiến của mình và viết thư gửicác ủy viên Ban chấp hành Trung ương và các Bộ trưởng dân ủy để họ biết
Trang 31và suy ngẫm: " Ở tỉnh Pêtơrôgrát việc trưng thu đã thúc ép bằng cách ghísúng lục vào thái dương nhân dân phẫn nộ nước Cộng hòa Kếcghiđia lúa
mì bị thu sạch trơn không còn lại gì cả nước Cộng hòa Ivanôvôdơkenxcơtrong việc trưng thu lương thực thừa cả kẻ lười nhác lẫn người cần cù đềuphải chịu như nhau, như vậy là hết sức bất công tỉnh Côxtơrôma phải làmcho nông dân quan tâm Nếu không thì sẽ không thành công được tỉnhNốpgôrốt làm thế để kích thích sự quan tâm? phải thúc kẻ lười biếng nộp đủ mức quy định tỉnh Pécmơ cần phải giải phóng khỏi roi vọt để đẩynông nghiệp lên Roi vọt bằng trưng thu lương thực Làm sao cho người cần
cù thúc ép người không cần cù" [43; 482 - 484]
Suy ngẫm từ thực tế Lênin phải thay chính sách trưng thu lương thực,
"phải cải thiện ngay lập tức đời sống nông dân" Theo Lênin "điểm yếu phảiđem lại cho người nông dân một sự khuyến kích, kích thích, một sự thúcđẩy trong hoạt động kinh doanh của anh ta" [44; 85] Lênin cho rằng, toàn
bộ vấn đề là ở chỗ đem lại cho nông dân một sự khuyến kích, kích thích vềmặt kinh tế Chúng ta cần nói với nông dân rằng: "Hãy sản xuất đi - nhànước chỉ thu thuế ở mức thấp thôi" [44; 86], chính sách thuế lương thực là
sự "thưởng bằng hiện vật" thưởng cho những người trải qua không biết baonhiêu tai họa mà vẫn biểu thị tinh thần dũng cảm trên mặt trận lao động"[42; 84] Và ở đây, Lênin đã rút ra được nguyên tắc: "nguyên tắc quan tâm
về mặt vật chất tới những kết quả lao động của các cá nhân thì sẽ không làmđược gì đâu, phải biết cách khuyến khích sự quan tâm" [54; 356]
Lênin cũng chỉ hiểu ra rằng phải biết cách kích thích, biết cách quantâm Nguồi khích thích quan trọng bậc nhất theo Lênin là sự chênh lệchtrong trả công làm tốt, hiểu quả hưởng cao phải làm cho người cần cùthúc ép người không cần cù phải làm cho người siêng năng thúc ép kẻ lườibiếng Trong công nhân, lương phải trả theo số lượng và chất lượng sảnphẩm "Trả công bằng lương thực và tiền theo số lượng và chất lượng sảnphẩm"; "trả công bằng lương thực và tiền theo năng suất" [54; 334], các xínghiệp phải hoạch toán kinh tế
Trong bức thư gửi Xôcônnhicốp ngày 1 tháng 2 năm 1922, Lênin yêucầu phải triệt để thi hành nguyên tắc quan tâm vật chất, kêu gọi kiên quyếtgiảm bớt những chi phí sản xuất, đưa hoạch toán kinh tế vào các xí nghiệpquốc doanh, đảm bảo tính sinh lợi của các xí nghiệp đó
Thậm chí, ngay từ tháng 1 năm 1922, trong thư gửi Bộ chính trị Banchấp hành Trung ương Đảng cộng sản, Lênin đề nghị thông quan nhữngbiện pháp tự trang trải các kinh phí của các nhà hát ca nhạc kịch và vũ balê
ở Matxcova và Pêtơrôgrát Như vậy, kích thích vật chất bằng sự chênh lệch
Trang 32trong trả công, trong thu nhập do kết quả lao động, bằng cách hoạch toánkinh tế Kích thích vật chất phải bằng cách khen thưởng xứng đáng giá trịvật chất mà người ta làm ra, tuy nhiên, ở đây cần hết sức chú ý khi quanđiểm của Lênin về kích thích vật chất, đó không chỉ là khen thưởng mà còn
cả phạt nữa Sẽ là "hết sức bất công nếu kẻ biếng nhác cũng được hưởngnhư người cần cù"; "phải thúc kẻ biếng nhác nộp đủ mức quy định"
Nhờ vậy, với việc chuyển sang Chính sách kinh tế mới với việc quantâm đến lợi ích cá nhân trong quan hệ biện chứng với lợi ích tập thể và xãhội, với yêu cầu không chỉ dựa vào nhiệt tình mà còn phải chú trọng đến lợiích kinh tế, Lênin đã kiên quyết bác bỏ những quan niệm về "CNXH tìnhcảm" phê phán gay gắt những biểu hiện nóng vội, những chủ trương "đốtcháy giai đoạn", muốn trực tiếp chuyển ngay sang cơ chế cộng sản chủnghĩa, dùng mệnh lệnh của nhà nước vô sản, với những sắc lệnh trực tiếpcủa nhà nước để tổ chức việc sản xuất và phân phối trong một nước mà nềnsản xuất còn ở trình độ tiểu nông
Việc chuyển từ chính sách cộng sản thời chiến sang Chính sách kinh
tế mới, với việc thay thế chính sách trưng thu mua lương thực trong nôngnghiệp bằng chính sách thuế để nông dân được mua bán tự do sản phẩm(sau khi đã nộp thuế) việc bãi bỏ phương pháp phân phối sản phẩm theokiểu cấp phát trao đổi hàng hóa trên cơ sở chấp nhận nhiều thành phần kinh
tế đang tồn tại, việc rút ra kết luận: xây dựng xã hội mới không phải bằngcách trực tiếp dựa vào nhiệt tình, mà là với nhiệt tình do cuộc cách mạng vĩđại sinh ra, bằng cách kích thích lợi ích cá nhân, bằng sự quan tâm thiết thâncủa cá nhân, bằng cách áp dụng chế độ hoạch toán kinh tế" [45; 189], tất
cả những cái đó đã giúp Lênin đi đến quan niệm: "cương lĩnh trước đây củachúng ta về mặt lý luận thì đúng nhưng trong thực tiễn thì không thể ápdụng được" [44; 83] Vì vậy, phải nhận thức lại một cách căn bản nhữngvấn đề cơ bản của CNXH, phải nhận thức lại ngay cả những quan điểmđược xem là có tính nguyên tắc trước đây về CNXH Và cũng chính ở đâycũng đã toát lên tính biện chứng của Chính sách kinh tế mới: Tính biệnchứng của động cơ vật chất và động cơ tinh thần, của kích thích vật chất vàtinh thần, của lợi ích kinh tế và lợi ích tinh thần Nếu trong quá trình cáchmạng mà lợi ích kinh tế (vật chất) của quần chúng không được cải thiện tráilại còn chậm chạp, sút kém thì nhiệt tình cách mạng sẽ giảm sút, có khi tiêutan Con người chỉ làm việc tốt khi người đó biết trân trọng việc làm củamình Và con người chỉ có thể trân trọng việc làm của mình khi công việc
đó được đáp lại những lợi ích chính đáng của họ Chính sách kinh tế mới đãchỉ ra trong xã hội mới, có một tổng thể phong phú gồm những kích thích
Trang 33vật chất tinh thần đối với người lao động Và chỉ thực hiện tốt mối quan hệgiữa kích thích vật chất và tinh thần, giải quyết hài hòa lợi ích vật chất vàtinh thần mới có thể xây dựng được tinh thần trách nhiệm, thái độ hăng saytrong lao động và tính nguyên tắc của công cuộc tạo lập xã hội mới.