1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đề cương ôn thi tốt nghiệp 12 và luyện thi đại học - môn văn

40 1,1K 3
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đề cương ôn thi tốt nghiệp 12 và luyện thi đại học - môn văn
Trường học Đại học Sư phạm Hà Nội
Chuyên ngành Ngữ Văn
Thể loại Đề cương ôn thi
Năm xuất bản 2024
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 40
Dung lượng 9 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cơ sở ấy là hai bản bản tuyên ngôn của Pháp, Mĩ được tác giả trích dẫn nội dung cốt lõi phần trích ở câu 1.Từ những nguyên tắc ay, HCM suy rộng ra “tất cả các dân tộc trên thế giới đều s

Trang 1

TUYỂN NGÔN ĐỘC LẬP

(Hồ Chí Minh)

1.Hoàn cảnh sáng tác:

- Hoàn cảnh lớn:

HCM viết bản tuyên ngôn khi dé quốc, thực dân đang chuẩn bị chiếm lại nước ta:

+ Dưới danh nghĩa quân đồng minh vào giải giáp quân đội Nhật, Quân đội Quốc dân Đáng TQ tiến vào phía Bắc

+ Quân Anh tiến vào phía Nam

+ Thực dân Pháp theo chân đồng minh tuyên bố “ Đông Dương thuộc quyền báo hộ của Pháp”

- Hoàn cảnh cụ thé:

Ngày 19 - 8 - 1945, chính quyền Hà Nội về tay nhân dân Ngày 26 - 8 - 1945, Hồ Chí Minh từ chiến khu trở

về Hà Nội Tại căn nhà số 48 phố Hàng Ngang - Hà Nội Ngời đã soạn bản Tuyên ngôn độc lập Ngày 2 -9

- 1945, tại quảng trờng Ba Đình -Hà Nội , Ngời thay mặt chính phủ lâm thời của Nớc Việt Nam dân chủ cộng hòa trịnh trọng đọc bản Tuyên ngôn độc lập trớc đồng bào cả nớc và thế giới

I.Đối tượng và mục đích:

+ Đối tượng: nhân dân VN, nhân dân Thé giới và bọn đề quốc Anh, Pháp, Mỹ

+ Mục đích :

- Tuyên bô và khẳng định quyền độc lập , tự do của dân tộc VN

- Bac bỏ luận điệu của bọn xâm lược trước dư luận TG

- Đồng thời khang định ý chí bảo vệ độc lập dân tộc

IIL Câu hỏi và đề văn:

1 Vì sao HCM lại chọn trích dẫn 2 bản tuyên ngôn của Pháp và Mỹ đế mớ đầu cho bản tuyên ngôn của mình? ( “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyên | bình đăng Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyến ấy, có quyền được sông, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”- MĨ và “Người ta sinh ra tự do và bình đăng về quyền lợi và phải luôn được tự do và bình đắng về quyên lợi”- PHÁP)

- Trích dẫn từ 2 bản tuyên ngôn của Mĩ ( 1776) và Pháp (1791) để Làm cơ sở pháp lí cho bản tuyên ngôn

- Mục đích:

+ Đề cao truyền thống bình đăng , tiến bộ của nhân dân Mĩ và Pháp nhằm ngăn chặn âm mưu của bọn xâm lược Dùng chiến thuật “ gậy ông đập lưng ông”

+ Đặt 3 cuộc CM của nhân loại ngang bằng nhau, CM VN cùng lúc thể hiện 2 nhiệm vụ của 2cuộc CM Pháp,

My >CM VN trở thành một bộ phận của CM thế giới

+ Từ 2 bản tuyên ngôn này, HCM suy rộng ra “tất cả các dân tộc đều có quyền hưởng tự do, độc lập” thúc đầy phong trào giải phóng dân tộc trên thế gidi

2 Chứng minh “TNĐL” không chỉ là văn kiện lịch sử trọng đại mà còn là áng văn chính luận mẫu mực?

a TNDL là một văn kiện lịch sử trọng đại:

+ Bản tuyên ngôn đánh dấu một sự kiện lịch sử trọng đại của đất nước Tuyên bố chấm dứt chế độ thực dân , đánh đổ chế độ quân chủ lập hiến, lập nên nước Việt Nam dân chủ cộng hòa

+ Tuyên ngôn độc lập còn đập tan những luận điệu xảo trá của bọn đế quốc Mi, Anh, Pháp về việc khai hóa ,

bảo hộ để nhằm tái chiếm Dong Duong

+ Tuyên ngôn độc lập vừa giải quyết được nhiệm vụ độc lập dân tộc, lại vừa giải quyết được nhiệm vụ dân chủ cho nhân dân (Đán ta lại đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỉ mà lập nên chế độ cộng hoà), tức

là bên cạnh chữ Độc lập lại có thêm chữ Tự do, mở ra một kỉ nguyên mới cho đất nước: kỉ nguyên độc lập,

tự do Đó là tư tưởng lớn , chân lí của thời đại mà sau này Bác đã đúc kết trong câu nói nổi tiếng : “Không

có gì quí hơn Độc lập, Tự do”

+ Tuyên ngôn độc lập là kết quả của bao nhiêu máu đã đổ, bao nhiêu tính mệnh đã hi sinh và là kết quả của bao nhiêu hi vọng của nhân dân VN

Trang 2

b TNĐL là áng văn chính luận mẫu mực thể hiện 6: lập luận chặt chẽ, lí lẽ đanh thép, ngôn ngữ hùng hồn vừa tố cáo mạnh mẽ tội ác của kẻ thù, ngăn chặn âm mưu tái chiếm nước ta của các thê lực thù địch vừa bộc lộ tình cảm yêu nước thương dân và khát vọng độc lập tự do cháy bỏng của tác giả và toàn dân tộc

* Trước hết, HCM xây dựng cơ sở pháp lí của chủ quyền dân tộc VN Cơ sở ấy là hai bản bản tuyên ngôn của Pháp, Mĩ được tác giả trích dẫn nội dung cốt lõi (phần trích ở câu 1).Từ những nguyên tắc ay, HCM suy rộng ra “tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyên sống, quyền sung sướng và quyên tự do” và khẳng định “đó là những lẽ phải không ai chối cãi được” Điều này có ý nghĩa vô cùng to lớn bởi Người đã:

*Tiếp đến, HCM đưa ra cơ sở thực tế của chủ quyền dân tộc VN:

Thực dân Pháp đã chiếm nước ta trên 80 năm và hiện đang lăm le tái chiếm Để dọn đường cho cuộc xâm lược mới, chung chuẩn bị dư luận, rêu rao về quyền của chúng ở VN nói riêng, ở Đông Dương nói chung Bởi

vậy, đê khăng định chủ quỳên của dân tộc, Người đã phủ nhận quyền của chúng đối với VN bằng cách chứng

minh ngược lại những lời rêu rao của chúng:

- Chúng kế công khai hóa, bán TN vạch trần những hành động tội ác “trái hắn với nhân đạo và chính nghĩa”

+ Về chính trị, chúng: thủ tiêu mọi quyền tự do dân chủ của ta; chia rẽ ba kì; tắm máu các phong trào yêu nước và cách mạng; thi hành chính sách ngu dân; đầu độc dân ta bằng thuốc phiện, rượu cồn

+ Về kinh tế, chúng: bóc lột và vơ vét đến tận xương tủy; cướp không ruộng đất, hằm mỏ, giữ độc quyền in giấy bạc ; đặt ra hàng trăm thứ thuế vô lí

- Chúng kế công “bảo hộ”, bản TN kế tội trong 5 năm chúng đã bán nước ta hai lần cho Nhật (mùa thu năm 1940, Pháp quỳ gối đầu hàng, mở cửa nước ta rước Nhật; ngày 9.3.1945, Nhật tước khí giới của quân đội Pháp, bọn chúng hoặc bỏ chạy hoặc đầu hàng )

kết quả là: gây ra nạn đói khủng khiếp làm hơn 2 triệu đồng bào ta bị chết đói

- Chúng tuyên bố Đông Dương trong đó có VN là thuộc địa và đòi lại, bán TN vạch rõ: ĐD và VN trở thành thuộc địa của Nhật từ năm 1940 và nhân dân ta đã giành độc lập từ tay Nhật chứ không phải

từ tay Pháp

- HCM khang định dân tộc VN có quyền trên đất nước cúa mình:

+ Nếu P phản bội đồng minh, hai lần bán rẻ ĐD cho Nhật thì VN đã đứng lên chống Nhật giành chủ quyền + Nếu P đê hèn, tàn bạo,và phản động ở hành động “thăng tay khủng bô Việt Minh, giết nốt số tù chính trị ở Yên Bái, Cao Bằng thì ta khoan hồng, nhân đạo

> Từ những cơ sở pháp lí và thực tế hết sức đầy đủ, chặt chẽ, rõ ràng, HCM đi đến tuyên bố độc lập Lời tuyên bố gồm:

- Thoát li hắn quan hệ thực dân với P, xóa bỏ hết những hiệp ước mà P đã kí về VN, xóa bỏ mọi đặc quyền của P trên đất nước VN

- Kêu gọi toàn dân đoàn kết một lòng chống lại âm mưu của P Khăng định ý chí, quyết tâm mạnh mẽ của toàn dân tộc (toàn thể dân tộc VN quyết đem tất cả tỉnh thần và lực lượng, tính mạng và của cải đề giữ vững quyền tự do độc lập ay)

- Kêu gọi cộng đồng quốc tê công nhận quyền tự do, độc lập của dân tộc VN

“NGUYEN DINH CHIEU-NGOI SAO SANG TRONG VĂN NGHỆ DÂN TỘC”

(Phạm Văn Đồng)

Trang 3

1 Hoàn cảnh sáng tác:

-_ Được viết nhân địp ngày mất của Nguyễn Đình Chiểu ( 3/7), được in trên tạp chí văn học số 7/1963

- Viết vào thời điểm đất nước đang xảy ra những sự kiện quan trọng, đặc biệt trên quê hương Nguyễn Đình Chiêu

2 Mục đích sáng tác:

+ Kỉ niệm ngày mất của NĐC, nhà văn tiêu biểu , người chiến sĩ yêu nước trên mặt trận văn hóa và tư tưởng

+ Định hướng và điêu chỉnh cách nhìn và chiếm lĩnh tác phẩm của NĐC

+ Thể hiện mối quan hệ giữa văn học và đời sống

+ Khoi day tinh thần yêu nước thương nồi của dân tộc

3 Cam hung va trình tự lập luận:

- Cam hứng chung: Ca ngợi cuộc đời và khang định giá trị văn chương của NĐC

- Trinh tw lap luan:

+ Khang định vị trí, ý nghĩa cuộc đời và thơ văn NĐC khi đặt trong hoàn cảnh cụ thể của lịch sử dân tộc lúc bây giờ

+ Chứng minh bằng cuộc đời và sự nghiệp văn thơ của NĐC qua việc tái hiện cuộc khởi nghĩa hào hùng của dân tộc và phân tích sự phán ánh hiện thực đó trong văn thơ của ông

+ Khang định giá trị nghệ thuật của thơ văn NĐC: lối viết giản dị, mộc mạc, gần gũi với quần chúng nên có sức truyền bá lớn

4 Theo Phạm Văn Đồng thì có những lý do nào làm ngôi sao Nguyễn Đình Chiếu chưa tỏa sáng hơn nữa trong bầu trời văn nghệ dân tộc?

-_ NĐC là ngôi sao có ”ánh sáng khác thường”, phải ”chăm chú nhìn” (phải tìm hiểu kĩ) mới phát hiện hết giá trị văn chương của ông Nhưng ít người có con mắt nhìn, ít người chịu tìm hiểu kĩ ->chưa thấy hết giá tri cua tho vin NDC

- Người ta chỉ biết NĐC là tác giả của ”Lục Vận Tiên” nhưng lại hiểu ?LVT” khá thiên lệch

- Ít người biết đến thơ văn yêu nước của NĐC , một khúc ca hùng tráng về phong trào yêu nước của nhân dân Nam Bộ

THONG ĐIỆP NHÂN NGÀY THẺ GIỚI PHÒNG CHÓNG AIDS, 1-12-2003

(CÔ PHI AN NAN)

1 Xuất xứ:

Van ban là thông điệp của Tổng thư kí Liên hợp quốc Cô- phi An- nan gửi nhân dân thế giới nhân ngày thé

giới phòng chống AIDS, 1-12-2003

IL Tóm tắt nội dung chính của bản thông điệp:

1 Bản thông điệp nêu lên tâm quan trọng và ý nghĩa cấp bách của việc phòng chống hiểm họa HIV /AIDS: Chống lại HIV/AIDS là trách nhiệm lớn của môi nhà nước và mỗi người

Tác giả cho rằng đó là van dé rat can phải đặt lên “vị trí hàng đầu trong chương trình nghị sự về chính trị và hành động thực tế của mỗi quốc gia và mỗi cá nhân là vì HIV/AIDS là một mối hiêu nguy lớn, một đại dịch đang hoành hành đe dọa toàn nhân loại chúng ta”

2 Phần điểm tình hình đã qua tuy viết không dài nhưng tác giá nhìn chung vẫn đám bảo được yêu cầu toàn diện tống hợp và bao quát Ông nêu đầy đủ cả mặt đã làm được và mặt còn chưa làm tốt tại nhiều khu vực khác nhau, với những hành động không chỉ của những quốc gia mà còn của cả những tô chức, công ty

và cả các nhóm từ thiện và cộng đồng Phần điêm tình hình đó đã thê hiện một tầm nhìn rộng lớn của một con

Trang 4

người trong cương vị lãnh đạo đứng đầu một tổ chức quốc tế lớn nhất, người đang đảm đương trọng trách tổng

thư ký liên hợp quốc

Toàn diện, tổng hợp, bao quát nhưng không hề chung chung trừu tượng, văn kiện còn có không ít những số

liệu cụ thé đi kèm với tình hình cụ thể nắm rõ cả HIV/AIDS đang lây lan với tốc độ báo động ở giới nào và

đang lan rộng nhanh nhất ở khu vực nào hay căn cứ vào đây để lo ngại “chúng ta sẽ không đạt được bat cứ mục tiêu nào vào năm 2005”

Điều nay du dé cho thay tác giả là một quan chức rất quan tâm trước tình hình cụ thể của cuộc chiến chống AIDS đã và đang diễn ra trên toàn cầu Ông cũng là người có đầu óc phân tích, nhận xét thâu đáo và đặc biệt là

có cách thê hiện dé gay an tượng đối với người đọc, người nghe

Chang han, thay vì nêu tông số người bị nhiễm HIV trong một nắm thì C.An-nan đã dùng cách nói gây an tượng mãnh liệt và tức thời đối với tâm trí mỗi người: “Trong năm qua, mỗi phút đồng hồ của một ngày trôi đi,

có khoảng 10 người bị nhiém HIV”

Những lời tổng kết tình hình vừa nói có trọng tâm dồn cá sức năng vào luận điểm: “Song hành động của chúng ta vẫn quá ít so với yêu cầu thực tế”

Người đọc, người nghe dường như đã nhận ra được cảm xúc chân thành của tác giả ở đoạn nói về dịch HIV/AIDS “có rất ít dấu hiệu suy giảm, do chúng ta “chưa hoàn thành được một số mục tiêu đề ra cho năm nay” (2003)

3 Sau khi giúp người đọc nắm vững tình hình, bản thông điệp nêu rõ nhiệm vụ của mỗi người Phần nêu tình hình găn bó chặt chẽ với phần xác định nhiệm vụ cũng là phân chủ yếu mục đích, của thông điệp này Câu cuối của phần trước: “Với tiến độ như hiện nay, chúng ta sẽ không đạt được bắt cứ mục tiêu nào vào năm 2005 Còn đây là câu đầu của phần sau

Rõ ràng, Chúng ta phải nỗ lực nhiều hơn nữa để thực hiện cam kết của mình bằng những nguồn lực và hành động cần thiết”

Nhưng bản thông điệp không chỉ đừng lại ở những lời kêu gọi chung chung như thế: “Chúng ta phải nỗ lực nhiều hơn nữa” Tác giả đã vận dụng một cách sáng tạo các thao tác so sánh và bác bỏ đê nhắn mạnh là chúng ta không chỉ vì mục tiêu của cuộc cạnh tranh mà được phép quên cái thảm họa đang ngày một nhanh chóng cướp

đi cái đáng quý nhất là mạng sống và tuổi thọ của con người Ông còn tạo ra mối tương quan giữa một phía là

sự thờ ơ trước đại dịch HIV/AIDS và một phía là cái chết dé cho quá đông cho thấy sự lên tiếng chống lại HIV/AIDS,với nhân loại van dé có ý nghĩa sinh tử, tồn vong”, sông hay không sống”

Cho đến khi kết thúc thông điệp C.An-nan vẫn còn nhắc nhở chúng ta không được quên nghĩa vụ khân cấp

ấy: “Hãy sát cánh cùng tôi, bởi lẽ cuộc chiến chống lại HIV/AIDS bắt đầu từ chính bạn

Đặc biệt là C.An-nan còn gắn nỗ lực chống HIV/AIDS với việc dỡ bỏ đi thái độ kì thị, phân biệt đối xử với

những ai không may mắn mắc phải chứng bệnh thế ki này Ông nêu lên một luận điểm hơi bất ngờ đối với nhiều người “Chúng ta còn bị chậm hơn nữa nêu sự kì thị và phân biệt đối xử vẫn tiếp tục diễn ra đối với những người

bị HIV/AIDS Sau đó ông lại gộp chung sự im lặng cùng với sự chia rẽ và phân biệt đối xử vào chung “cái thành lũy” đang vây quanh bệnh dịch này, cái thành lũy mà ông kêu gọi, hô hào mọi người trên thế giới hãy sát cánh cùng ông chung tay giật đồ

4 Trong bản thông điệp này phần có giá trị hơn cả là phần cuối bài Ở phần này, tác giả sử dụng những câu văn ngăn gọn với một cảm xúc kìm nén, không lớn tiếng khoa trương mà có một vẻ đẹp cô đúc, sâu sắc Theo hướng lời ít ý nhiều đó, có câu văn như một quy luật gọn ghẽ mà độc đáo bất ngờ: “Trong thế giới đó,

im lặng đồng nghĩa với cái chết” Cũng có câu cô đọng mà tạo hình ảnh gợi cảm xúc: “Hãy cùng tôi giật đồ các thành lũy của sự im lặng, kì thị và phân biệt đối xử trong vây quanh bệnh dịch này” Lại còn có câu vừa gọn ghẽ độc đáo vừa dễ hình dung và gợi cảm: “Hãy dừng lại đê một ai đó có ảo tưởng rằng chúng ta có thể bảo vệ được chính mình bằng cách dựng lên các bức rào ngăn cách giữa “chúng ta” và “họ” Trong thê giới AIDS khắc nghiệt này không có khái niệm chúng ta và họ

Trang 5

HI “Trong thế giới khốc liệt của AIDS, không có khái niệm chúng ta và họ Trong thế giới đó, im

lặng đồng nghĩa với cái chết” Viết một văn bản nghị luận trình bày suy nghĩ cúa anh, chị về ý

- _ Nêu ý kiến của Cô- phi An- nan

2 TB:

a Giải thích tư tưởng nêu trong lời thông điệp:

* “Trong thể giới khốc liệt của AIDS, không có khái niệm chúng ta và họ.”

- Tác giả gọi đó là “thế giới khốc liệt”:

+ Bởi theo thống kê của Tổ chức y tế thế giới, cứ mỗi phút trôi qua có khoảng 10 người bị nhiễm HIV Bệnh

đang lây lan ở những khu vực mà trước đây vẫn còn an toàn, nhất là ở Châu Á Đáng báo động là đối với

phụ nữ bởi phụ nữ chiếm tới 50 % số người nhiễm bệnh

+ Còn theo thống kê của Bộ y tế VN, trên đất nước ta cứ 15phút trôi qua lại có thêm một người mắc bệnh, như vậy sau mỗi ngày, ta lại có thêm 96 người nhiễm HIV, mỗi tuần là 672 người, mỗi tháng là 2920 người

và sau mỗi năm là 35.040 người, bằng dân số của một huyện!

+ Bởi bệnh không từ một ai, từ đàn ông, đàn bà, người già, người trẻ đến cả những thai nhi còn nằm trong bụng mẹ! Từ giới thượng lưu, trí thức, dân lao động đến bọn trộm cắp, giang hồ Nói tóm lại, ai cũng có nguy cơ mắc căn bệnh chết người này nếu không có hiểu biết về nó và không biết cách tự bảo vệ mình

- Nhung tại sao lại “không có khái niêm chúng ta và họ'”2

Cách nói “chúng ta và họ” thé hiện cái nhìn và cách ứng xử phân biệt, kì thị với những người bị lây nhiễm HIV/AIDS “chúng ta”- những người chưa bị lây nhiễm HIV/ AIDS, “họ”- những nạn nhân của căn bệnh này Nó thê hiện sự thiếu hiểu biết về HIV/AIDS Chính vì thế, con người dé a ảo tưởng, luôn nghĩ rằng mình được bảo vệ an toàn Nếu cứ giữ cách nhìn ay, quan niệm ay, cách ứng xử ấy trong cuộc đấu tranh chống lại â AIDS thì rất nguy hiểm ( Nêu dẫn chứng cụ thê) Bởi “Trong thế giới đó, im lặng đồng nghĩa với cái chết”

* “Im lặng” là gì? Và tại sao “im lặng đồng nghĩa với cái chét”?

Phải chăng im lặng chính là sự kì thị, xa lánh của người khỏe mạnh với người nhiễm bệnh? Từ đó đây họ vào tình thế cô lập, mặc cảm, tự ti, thậm chí có thái độ hận đời, giấu giém bệnh của mình và đi “trả thù đòi”

Và như thế, HIV/AIDS ngày càng lây lan nhanh hơn, cái chết sẽ có thể đến với bat kì ai

b Bàn luận, mở rộng vấn đề:

Tư tưởng mà Cô- -phi An- nan nêu lên trong thông điệp trên hoàn toàn chính xác Tác giả không ngần ngại nêu ra một thực tế đáng báo động về căn bệnh thé ki mà còn chỉ rõ sự lệch lạc, thiếu hiểu biết của con người, đồng thời phê phán thái độ kì thị, phân biệt đối xử với những nạn nhân của căn bệnh

c Bai hoc nhan thức, hành động:

- Mỗi người can trang bị cho mình những hiểu biết cơ bản về căn bệnh này Từ đó có thái độ ứng xử công bằng, chia sẻ, cảm thông đối vơi những người không may là nạn nhân của nó

- Hơn thế, cần chung tay xây dựng một thế giới khỏe mạnh bằng những hành động thiết thực như: tuyên truyền, hướng dẫn mọi người hoặc giúp đỡ những người bệnh hòa nhập với cộng đồng

3 KB:

- Khang định sự đúng dan và sâu sắc trong lời kêu gọi day tâm huyết của Tổng thư kí liên hiệp quốc

- Mỗi chúng ta cần phải sống lành mạnh, tự bảo vệ mình, cần phải tích cực góp phần vào việc thay đối thái

độ đối với những người nhiễm AIDS Bởi vì, đây là điều kiện có ý nghĩa quyết định đối với mục đích day lui dai dich nay!

IV _ Viết bài văn trình bày những hiễu biết của anh, chị về căn bệnh HIV/AIDS và kêu gọi làm

những việc cụ thé để góp phân phòng chống căn bệnh nay?

Gợi ý:

Trang 6

— HIV là virut gây suy giảm miễn dịch ở người, chúng có khả năng gây nhiễm và phá hủy một số tế bào của hệ thống miễn dịch, sự giảm số lượng các tế bào này làm mắt khả năng miễn dịch của cơ thể

— Có 3 con đường lây truyền HIV phổ biến:

+ Qua đường máu: truyền máu, tiêm chích, xăm mình, ghép tạng

+ Qua đường tình dục không an toàn

+ Mẹ bị nhiễm HIV có thể truyền qua thai nhỉ và truyền cho con qua sữa mẹ

— Các giai đoạn phát triển của bệnh HIV/AIDS:

+ Giai đoạn sơ nhiễm hay giai đoạn “cửa số”: kéo dài 2 tuần đến 3 tháng Triệu chứng bệnh thường không biểu

hiện hoặc biểu hiện nhẹ

+ Giai đoạn không triệu chứng: kéo dai 1 - 10 năm Lúc này số lượng tế bào giảm dan

+ Giai đoạn biểu hiện triệu chứng AIDS: Các bệnh cơ hội xuất hiện: tiêu chảy, viêm da, sưng hạch, lao, ung thư Kapôsi, mất trí, sốt kéo dài, sút cân cuối cùng dẫn đến cái chết

~ Hiện nay chưa có vacxin phòng HIV hữu hiệu, các thuốc hiện có chỉ có thể làm chậm tiến trình dẫn đến bệnh AIDS Do vậy, thực hiện lối sống lành mạnh, vệ sinh y tế, loại trừ tệ nạn xã hội là biện pháp tốt nhất để phòng HIV/AIDS

TÂY TIẾN - QUANG DŨNG

I Hoàn cảnh sáng tác

-“Tây Tiến” là đơn vị bộ đội được thành lập đầu năm 1947 có nhiệm vụ phối hợp với bộ đội Lào báo vệ biên

giới Việt — Lào, đánh tiêu hao lực lượng địch ở thượng Lào cũng như miền Tây Bắc bộ VN

- Địa bàn hoạt động khá rộng từ Châu Mai, Châu Mộc sang Sầm Nứa rồi vòng về ThanhHóa Lính Tây Tiến phần đông là trí thức, thanh niên Hà Nội ra đi theo tiếng gọi của Tổ quốc, Quang Dũng là đại đội trưởng

- Năm 1948, sau một năm hoạt động, đoàn binh Tây Tiến về Hoà Bình thành lập trung đoàn 52, Quang Dũng chuyển sang đơn vị khác Tại Phù Lưu Chanh,nhớ về đơn vị cũ, Quang Dũng viết bài thơ này, lúc đầu có tên

“Nhớ Tây Tiến” sau đổi thành ““Tây Tiến”

II Xuất xứ: “Tây Tiến là bài thơ tiêu biểu nhất của Quang Dũng, thể hiện rõ phong cách nghệ thụât của nhà thơ- lăng mạn, tỉnh tế, phóng khoáng và tài hoa

IIL Dé văn và gợi ý:

1.Đề I Phân tích hình ảnh thiên nhiên miền Tây Bắc và đoàn quân Tây Tiến trong hoài niệm cúa tac gia

qua đoạn thơ:

“Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!

Trang 7

Mai Châu mùa em thơm nếp xôi ” Gợi ý:

1 MB: Giới thiệu vấn đề cần nghị luận

2 TB:

14 câu đầu bài thơ là nỗi nhớ đầy xúc động, bao trùm cả không gian, thời gian Nỗi nhớ dường như nén chặt bỗng trào dâng, khiến kí niệm xôn xao hiện về:

a Hai câu mở đầu :

“ Sông Mã xa roi Tay Tién oi!

Nhớ về rừng núi nhớ chơi voi’

- _ nỗi nhớ đơn vị cũ được cát lên thành lời, thành tiếng goi vira xao xuyén, bồi hồi vừa xen lẫn tiếc nuối: + Sông Mã khơi nguồn cho nỗi nhớ vì đó là con sông từng chứng, kiến vui buồn của người lính TT

+ “Tây Tiến ơi” ba từ đơn giản nhưng thật tha thiết nghe như tiếng gọi nguời thương ấn chứa niém bang khuâng, thương nhớ

-_ Nỗi nhớ được nhân lên với nghệ thuật sử dụng điệp từ “nhớ”:

+ “nhớ về” gợi liên tưởng thời gian

+ “rừng núi” biểu tượng không gian

+ “Nhớ chơi vơi”- cách dùng từ độc đáo, như vẽ ra trạng thái cụ thể của nỗi nhớ, hình tượng hóa nỗi nhớ, khơi nguồn cho cảnh núi cao, dốc sâu, rừng dày, vực thắm

+Từ cảm “ơi” vần với từ láy “chơi vơi”, tạo âm hưởng mênh mang, da diét

23, 66, nhớ vê nhớ chơi vơi”

b 12 câu tiếp theo : Nhớ con đường hành quân của người lính qua núi rừng Tây Bắc:

* Điều kiện thời tiết khắc nghiệt: “Sài Khao đêm hơi “

- Những hình ảnh :“sương lấp”, “đoàn quân mỏï”, “đêm hơï”+ liệt kê những địa danh lạ “Sài Khao”, “Mường Lát” , gợi lên sự khắc nghiệt của thời tiết, vẽ nên con đường hành quân cụ thê mà rộng khắp Nhưng trong

“Sương lấp”, “đêm hơi” đoàn hùng binh vẫn đũng cảm vượt qua những nẻo đường chiến đấu

* Địa hình hiểm trớ, dữ dội: “Đốc lên xa kho?”

- Những từ láy: khúc khuju, thăm thắm, heo hit + những hình ảnh đôi lập: “đốc lên khúc khuỷu, dốc thăm thẳm ”,

“ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống ”

~>Những câu thơ giàu chat tạo hình vẽ ra cái thé gap ghénh, cheo leo của dốc núi như thử thách ý chí can

trường của người lính Nhưng các anh vẫn phơi phới, lạc quan, yêu đời, vẫn hồn nhiên, tỉnh nghịch trong tư thế

“Heo Init côn mây súng ngửi trời ”

-Sự phối thanh, ngắt nhịp lịnh hoạt đã tạo nên âm điệu lạ:

+Những thanh trắc: nghe nhọc nhan, vat vả, giống như con đường hành quân gian khổ mà người lính phải trải qua

+Những câu thơ phân nhịp bẻ đội, như hoạ lại con đường hành quân gian khổ ở độ cao, độ sâu chóng mặt +Những thanh bằng: nghe êm ái, nhẹ nhàng, như tâm hồn lâng lâng của người lính khi đã chiếm lĩnh được những

độ cao tuyệt đối

* Thiên nhiên hoang dại, dữ dội chứa đầy bí mật:

*Chiều chiều oai linh thác gam thet

Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người ”

- Những âm thanh ghê rợn: tiếng thác “ “gam thet” , tiếng cọp “ trêu người” + những từ láy đối ứng nhau “chiều chiều”, “đêm đêm”, „ gợi tả cái bí mật quyên uy ghê gớm của rừng thiêng, nước độc Nơi đây cái chết luôn rình rap, de doa mạng song con người

* Nhưng thiên nhiên vùng Tây Bắc cũng mang nét thơ mộng, lãng mạn cúa đại ngàn:

“Mường Lát hoa về trong đêm hơi ”

Hay “ Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi `

* Trên chặng đường hành quân gian khố, có những người lính đã hy sinh :

* Anh bạn dãi dẫu không bước nữa ”

Gục lên súng mũ bỏ quên doi”

Trang 8

- Âm điệu câu thơ trĩu xuống như một tiếng khóc thầm Trong gian khổ, dãi dầu, có đồng đội đã không bước nữa, vĩnh biệt đoàn binh, nằm lại nơi chân đèo góc núi

- Những từ: “không bước nữa”, “Gục lên súng mĩ” & “bỏ quên đời ” được dùng thay thế cho cái chết nhằm giảm đi nỗi đau đớn nhưng người đọc vẫn cảm nhận rất sâu sắc nỗi xót xa thương tiếc đồng đội như trào lên trong lòng nhà thơ

- Nhung day là những câu thơ được viết với cảm hứng bỉ tráng, nhằm ca ngợi cái chết đẹp của người chiến sĩ Tây Tiến von xuất thân từ những trí thức tiêu tư sản

c.Hai câu cuối đoạn :

“Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói

Mai Châu mùa em thơm nếp xôi”

Diễn tả những kỉ niệm am áp tình quân dân.Câu thơ chứa đựng hình ảnh đẹp, hương vị ngọt ngào, giọng điệu

êm nhẹ như xua tan không khí mệt mỏi, lạnh lẽo, chết chóc & tạo ra cảm giác êm ái, đễ chịu, âm cả lòng người 3 KB:

2.Đề 2: Cảm nhận cúa anh, chị về thiên nhiên miền Tây Bắc và tình quân dân qua đoạn thơ:

“Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa

Doan tho diễn tả một vé đẹp khác của thiên nhiên và con người miền Tây, đó là vẻ đẹp thơ mộng của

thiên nhiên và tình quân dân thắm thiết, đậm đà

a Bức tranh thứ nhất mở ra bằng đêm liên hoan lửa trại biên giới:

“Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa Kìa em xiêm áo tự bao giờ Khèn lên man điệu nàng e ấp Nhạc về Viên Chăn xây hôn thơ”

- Những động từ mạnh: “bừng lên, khèn lên, về, xây” diễn tả buổi liên hoan tưng bừng, sôi động trong ánh lửa

bập bùng, trong âm thanh rộn ràng cùng những màu sắc sặc sỡ của áo xiêm

- Dùng hô ngữ “kìa em” như cô gái trong thực tại chứ không phải trong hoài niệm Cái sống động của kí ức có tác dụng thực tại hóa, kéo quá khứ ve thực tại Chữ “kìa” như là tiếng T€O gỢi Sự ngạc nhiên, hào hứng trước cái

lạ của xứ lạ: trang phục lạ “xiêm áo”, vũ điệu lạ “man điệu”, cách giao tiếp “e ấp”

- Cái nồng âm và tình tứ của các cô pai đã biến các chàng trai, những người lính Tây Tiến thành thi sĩ “xây hồn thơ”

~>Đó là sức sống của một dân tộc, tình cảm và xúc cảm của những người lính lâu nay bị những cuộc hành quân gian khổ kìm hãm nay như được hồi sinh trước vẻ đẹp của cuộc sông

- Nghệ thuật chơi chữ “hội đuốc hoa” được sử dụng khéo léo, gợi nhiều ý nghĩa:

+ Nghĩa thực là đốt đuốc để thắp sáng trong đêm lửa trại

+ Nghĩa hàm ân: mĩ lệ hóa hình ảnh này, gợi nghỉ thức trong hôn lễ Cử chỉ “e ấp” vừa gợi thái độ thẹn thùng, e

lệ của cô gái miễn sơn cước vừa gợi thái độ của cô dâu mới

+Nét nhạc chơi vơi cùng vũ điệu Lăm vông của các cô gái Lào làm say đắm các chàng trai Hà Nội

> Đoạn thơ có giọng điệu hiền hòa êm ái phù hợp với không khí âm áp của bản làng và tình quân dân thắm thiết

b Bức tranh thứ hai diễn tả vẻ đẹp của con người và cảnh vật Tây Bắc trong cảnh hoàng hôn sông nước Châu Mộc:

“Nguoi đi Châu Mộc chiều sương ấy

Có thấy hôn lau nẻo bến bờ

Có nhớ dáng người trên độc mộc Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa ”

- Bao trùm khổ thơ là vẻ đẹp hài hòa giữa con người và thiên nhiên:

Trang 9

+ Cảnh vật như có linh hồn phảng phát trong gió, trong cây “hồn lau nẻo bến bờ” hài hòa với tâm hồn đa cảm

của những người chiến binh

+ Dáng người lái thuyền với tay chèo uyên chuyên “dáng người trên độc mộc” hài hòa với dáng “hoa đong đưa”

- Ngôn ngữ thơ cô đọng, hàm súc: ba chữ “chiều sương ây” gói trọn cả thời gian, không gian và ân tượng khó quên đối với cảnh vật và con người Tây Bắc

- Điệp từ “có thấy, có nhớ” nhắn mạnh và khẳng định tình cảm tác giả

>Ng6i but tai hoa, lang man của nha tho đã làm tiêu tan vẻ dữ dội của “dòng nước lũ”, tạo ra chất thơ cho cảnh vật

3 Đề 3: Phân tích những nét đặc sắc trong nghệ thụât khắc họa chân dung người lính Tây Tiến

vẻ đẹp bi tráng- thần thái chung của bức tượng đài

- Bút pháp lãng mạn khiến chân dung người lính Tây Tiến ánh lên vé đẹp phi thường, khác lạ:

“Tây Tiền đoàn bình không mọc tóc Quân xanh màu lá dữ oai hùm ” Mắt trừng gửi mộng qua biên giới Đêm mơ Hà Nội dáng kiểu thơm ” + Ngoại hình: “ không mọc tóc”, “quân xanh màu lá”->đầu trọc, da xanh vì gian khổ, thiếu thốn, vì bệnh sốt rét hoành hành Nhưng tư thé khi xung trận thì “dữ oai hùm”, “mắt trừng”giận dữ khiến quân thù khiếp đảm

Ba nét vẽ chính xác, dựng lên bức chân dung về người lính với vẻ đẹp hào hùng, lẫm liệt Bằng cái nhìn lãng mạn thì cái bi đã trở thành cái hùng

+ Tâm hồn:vừa bản lĩnh, can trường vừa hào hoa, lãng mạn, tình tứ Trong chiến tranh ác liệt, người lính luôn mang trong mình khát vọng lập công cháy bỏng hướng về tiền phương với giác > mong chién trường “gửi mộng qua biên giới” Đồng thời họ đã sưởi âm tâm hôn mình bằng một thoáng mơ mộng vê “dáng kiều thơm”- dáng đẹp của người con gái Hà Nội thanh lịch (Nếu người lính trong thơ Chính Hữu nhớ “gian nhà không”, ruộng nương”, 'giếng nước”, “gốc đa”; người chiến sĩ trong “Nhớ” của Hồng Nguyên thương về “ người vợ trẻ Mon chan bên cối gạo canh khuya” thì người lính Tây Tiến có cách nhớ thương riêng đầy chất trẻ trung, hào hoa lãng mạn Đó là nét khám phá của Quang Dũng khi vẽ chân dung anh bộ đội cụ Hồ tiểu tư sản thời chống Pháp)

+ Tính cách : gan dạ, đũng cảm, sẵn sàng chấp nhận hi sinh Dù phải đối mặt thường nhật với cái chét “Rai rac biên cương mồ viễn xứ” nhưng họ không lùi bước “Chiến trường đi chắng tiếc đời xanh” vì đã tâm niệm và ý thức sâu sắc về ý nghĩa của sự hy sinh “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”, coi cái chết nhẹ tựa lông hồng

- Sự mắt mát, tốn thất của chiến tranh được Quang Dũng tiếp tục khai thác bằng bút pháp lãng mạn đậm màu sắc bi trang :

+ Dùng nhiều từ Hán Việt: “đoàn binh”, “biên giới”, “biên cương”, “mồ viễn xứ”, “áo bào”, “khúc độc

hành” gợi không khí trang trọng, cổ kính đồng thời giảm bớt đau thương

+ Cái bi thương bị mờ đi trước lí tưởng quên mình cho Tổ quốc “Chiến trường đi chắng tiếc đời xanh”, mang dáng dấp của những tráng sĩ xưa

+ Họ ra đi không có manh chiều che thân nhưng lại được bọc trong những tắm “áo bào” sang trọng Cách nói trang trọng ay đã giảm đi phan thê lương của cái chết

Trang 10

+ Tác giả không dùng từ “chết”, “hi sinh”, “anh ra di” ma lai viét “anh ve dat” day sáng tạo Họ không chết mà chỉ đi tiếp con đường của tổ tiên để giữ vững sơn hà xã tắc

+ Cái bi bị át đi trong tiếng gầm thét tiễn đưa của con sông Mã, cái chết của người lính đã động lòng cá đất trời, sông núi

~>Trong âm hưởng vừa dữ dội vừa hào hùng của thiên nhiên ấy, cái chết, sự hy sinh không hề bi thương mà thẫm đẫm tỉnh thần bi tráng

~>Giọng thơ trang trọng thê hiện tình cảm đau thương và sự trân trọng, kính cân của nhà thơ trước sự hy sinh của đồng đội

3 KB:

VIỆT BẮC

(trích) - Tố Hữu

I Hoan canh sang tac bai tho “Viér Bắc”

- Chiến dịch Điện Biên Phủ kết thúc thắng lợi Tháng 7/1954, Hiệp định Giơ — ne — vơ về Đông Duong được kí

kêt Hoà bình lập lại, miên Bắc nước ta được giải phóng và bắt tay vào xây dựng cuộc sông mới Một trang sử mới của dân tộc được mở ra

- Tháng 10/1954,những người kháng chiến từ căn cứ miền núi trở về miền xuôi, Trung ương Đảng và Chính phủ rời chiên khu Việt Bắc về lại Thủ đô Nhân sự kiện thời sự có tính lịch sử ây, Tô Hữu sáng tác bài thơ Việt Bắc

II Đề tham khảo:

Để 1: Phân tích đoạn thơ sau: “Ta về mình có nhớ ta

„Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung ”

- Tháng 10-1954, những người kháng chiến từ căn cứ miễn núi trở về miền xuôi, Trung ương Đảng và Chính phủ rời chiên khu Việt Bắc về lại Thủ đô Nhân sự kiện thời sự có tính lịch sử ây, Tô Hữu sáng tác bài thơ Việt Bắc

- Nhà thơ khẳng định: “Ta về ta nhớ những hoa cùng người” Đó là nỗi nhớ đành cho những gì đẹp nhất của Việt Bắc “hoa và người”

10

Trang 11

= Hai câu thơ mở đầu đã giới thiệu chủ để của đoạn thơ: hoa (thiên nhiên) và người (nhân dân) Việt Bắc

b Tám câu thơ tiếp theo: Bộ tranh tứ bình về thiên nhiên và con người Việt Bắc

* Bức tranh thứ nhất (mùa đông):

“Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi Đèo cao nắng anh dao gai that lung”

- Việt Bắc hiện lên trong hai câu này có tính khái quát: một miễn quê thật yên bình, êm ả Thiên nhiên xôn xao, tràn ngập màu sắc: Màu xanh mênh mông, trầm tĩnh của rừng già, màu “đỏ tươi” của hoa chuối trải

đài khắp núi rừng khiến cảnh vật trở nên sống động, rạng rỡ

- Trên nên cảnh mênh mông, xanh ngắt của đại ngàn, hình ảnh con người xuất hiện với một tư thế vững chai, tự tin của người làm chủ núi rừng: “Đèo cao ắng ánh dao gài thắt lưng”

* Bức tranh thứ hai (mùa xuân):

“Ngày xuân mơ nở trắng rừng Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang”

- Thiên nhiên được bao phủ bởi màu trắng tỉnh khiết và mỏng manh của hoa mơ rừng Hai chữ “trắng rừng” làm cho núi rừng như sáng bừng và trở nên dịu dàng, đằm thắm, quyến rũ lạ lùng

- Con người Việt Bắc hiện ra trong một công việc thầm lặng: “đan nón chuốt từng sợi giang”

+ Những từ ngữ: “đan, chuốt” gợi ra dáng điệu cần mẫn, cẩn trọng, tài hoa của người lao động

+ Người đan nón không chỉ đang làm công việc đan nón đơn thuần mà như đang gửi vào từng sợi giang,

từng chiếc nón biết bao nỗi niềm, bao mơ ước thầm kín

* Bức tranh thứ ba - bức tranh đặc sắc nhất (mùa hạ):

*Ve kêu rừng phách đổ vàng Nhớ cô con gái hái măng một mình”

- Bức tranh Việt Bắc vào hè có âm thanh rộn rã của tiếng nhạc ve Ve kêu gọi hè đến, hè đến làm cho rừng

phách ngả sang màu vàng rực rỡ, nôn nao Chữ “đổ” cực kì tỉnh tế Nó vừa nhấn mạnh đến việc biến đổi mầu sắc mau lẹ của rừng phách, vừa diễn tả được những trận mưa hoa phách mỗi khi có đợt gió ào thổi

- Hình ảnh lao động đầy kiên nhẫn của một cô gái Việt Bắc “Nhớ cô em gái hái măng một mình”, hình ảnh

người phụ nữ Việt Bắc chịu thương, chịu khó, hay lam hay làm có phần âm thầm, lam lũ, nhọc nhằn

* Búc tranh thú tư (mùa thu):

“Rừng thu trăng rọi hòa bình

Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung”

- Ánh trăng rọi qua vòm lá tạo thành một khung cảnh huyển ảo Không khí se lạnh của trời thu theo ánh trăng như bao phủ vạn vật, cỏ cây, ngấm vào nỗi nhớ của những con người đã gắn bó sâu nặng với Việt

Bắc

- Câu kết đoạn khẳng định phẩm chất ân tình, thủy chung của người Việt Bắc Chữ “ai” là cách nói bóng gió, mơ hồ của dân gian khiến câu thơ trở nên tình tứ, thiết tha Cũng chính vì vậy mà nỗi nhớ của người ra

đi dành cho người ở lại cũng trở nên quyến luyến, quay quắt, cồn cao,

= Giai điệu quyến rũ đặc biệt của giọng thơ, nỗi niềm thủy chung ân tình rất đỗi đằm thắm của đoạn thơ

trên nói riêng và của “Việt Bắc” nói chung, trở thành chất men say có sức ngấm sâu vào trái tim độc giả

nhiều thế hệ Đó là sức sống của “Việt Bắc” và hồn thơ Tố Hữu

Trang 12

Dé 2: Phân tích đoạn thơ sau đây: “Tz với mình, mình với ta

~ Chày đêm, nên cối đều đều suối xa ”

(Trích “Việt Bắc ” - Tố Hữu) GỢI Ý

1 Khái quát: (Đề 1)

2 Phân tích cụ thể:

a Người ra đi khẳng định lòng chung thủy của mình:

“Ta với mình, mình với ta Lòng ta sau trước mặn mà định ninh Mình ải, mình lại nhớ mình Nguôn bao nhiêu nước, nghĩa tình bấy nhiêu”

- Ở đoạn đâu của bài thơ, người Việt Bắc trong nỗi niềm của người ở lại: Sợ người ra đi trở về thành thị sẽ quên mất mình (Sáng đèn có nhớ mảnh trăng giữa rừng) NiỀm phấp phỏng ấy được diễn tả bằng một câu hỏi: “Mình về mình có nhớ .”, “Mình đi có nhớ “ Vì vậy 4 câu thơ trên là câu trả lời, sự khẳng định của người ra đi

- Lời thơ dịu dàng, tình tứ với lối xưng hô thân mật, ngọt ngào của ca dao, dân ca “ta - mình” Nỗi nhớ của

người cách mạng về quê hương Việt Bắc giống như nỗi nhớ của những đôi lứa yêu nhau Sự sắp xếp từ liền đôi, thành cặp trong câu đã có đảo trật tự từ “Ta với mình, mình với ta” vừa gợi ra sự bịn rịn, lưu luyến, quấn quýt không muốn rời xa của “ta” và “mình”, vừa khéo léo khẳng định tấm lòng của “ta” cũng giống

như “mình”

- Những từ ngữ chỉ thời gian mãi mãi “sau, trước

A”

“đỉnh ninh”, “mặn mà

chỉ tình cảm trước sau như một, không nhạt phai,hai từ

xuất hiện liên tiếp trong một câu thơ đã khẳng định một cách chắc chắn lòng son sắt của những người kháng chiến về xuôi

- Mượn cách so sánh, ví von quen thuộc của ca dao để giãi bày nỗi nhớ da diết, không vơi cạn:

“Nguồn bao nhiêu nước, nghĩa tình bấy nhiêu”

b Nỗi nhớ Việt Bắc được diễn tả cụ thể:

(“Nhớ gì như nhớ người yêu Chay đêm nện cối đều đều suối xa”)

* Nỗi nhớ thiên nhiên Việt Bắc:

- Hàng loạt hình ảnh liệt kê, cụ thể, gần gũi, gợi cảm: trăng, núi, nắng, khói, sương, rừng nứa, bờ tre, ngòi

Thia, sông Đáy, suối Lê làm hiện lên một thiên nhiên thơ mộng, trữ tình và mang đậm nét đặc trưng của Việt Bắc

- Nỗi nhớ có hình ảnh, có thời gian và không gian Đó là một nỗi nhớ sâu đậm và quá đỗi chân thành

* Nỗi nhớ con người Việt Bắc:

- Nét đặc sắc cao quí của Việt Bắc chính là ở chỗ nghèo cực mà chân tình, rộng mở, son sắt, thủy chung với

cách mạng:

“Thương nhau chia củ sắn lùi

Bát cơm sẻ nữa, chăn sui đắp cùng”

- Thiên nhiên Việt Bắc thơ mộng, trầm tĩnh, thâm u, con người Việt Bắc giản dị, mộc mạc, dù cuộc sống lao động gian khổ nhưng họ lạc quan yêu đời

12

Trang 13

+ Hình ảnh người mẹ vất vả, nhọc nhằm nhưng ấm áp cảm động địu con trên lưng dưới cái nắng cháy da

để bẻ bắp nuôi bộ đội:

“Nhớ người mẹ nắng cháy lưng

Địu con lên rẫy, bê từng bắp ngô”

+ Trong kí ức của Tố Hữu, Việt Bắc không chỉ kiên cường trong kháng chiến chống giặc ngoại xâm mà còn nhẫn nại, cương quyết đương đầu với giặc đốt Đêm rừng Việt Bắc bập bùng đuốc sáng của những lớp học ¡

tờ Niễm vui, sự lạc quan chiến thắng sự gian nan, người Việt Bắc vẫn ca vang núi đèo:

*Nhớ sao lớp học i to Đồng khuya đuốc sớm những giờ liên hoan Nhớ sao ngày tháng cơ quan Gian nan đời vẫn ca vang núi đèo”

- Việt Bắc trở thành quê hương của những người kháng chiến - tình yêu đã “làm đất lạ hóa quê hương (Chế

Lan Viên) Cả những âm thanh của đời thường cũng đi vào nỗi nhớ của người ra đi: đó là tiếng mõ gọi trâu

về làng, tiếng chày giã gạo đêm đêm:

“Nhớ sao tiếng mỗõ rừng chiều

Chày đêm nên cối đều đều suối xa”

- Nỗi nhớ đội vào nỗi nhớ, điệp từ “nhớ” và kiểu câu bắt đầu bằng “Nhớ sao” khiến nỗi nhớ như trải dài vô

tận

Đề 3: Phân tích đoạn thơ sau:

“Minh đi, có nhớ những ngày Mưa nguồn suối lũ, những mây cùng mù

Minh về có nhớ chiến khu

Miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai

Mình về, rừng núi nhớ ai

Trám bùi để rụng, măng mai đề già Minh đi, có nhớ những nhà Hat hiu lau xám, đậm đà lòng son

Minh vẻ, có nhớ núi non

Nhớ khi kháng Nhật, thuở còn Việt Minh Minh đi, mình có nhớ mình Tân Trào, Hồng Thái, mái đình, cây đa ”

(Trích “Việt Bắc” - Tố Hữu)

GOLY

1 Khái quát: (Đề 1)

2 Phân tích:

ạ._ Những xúc động vừa tự hào vừa nghẹn ngào của người Việt Bắc về 15 năm kháng chiến gian khỗ trong

giờ phút chia tay:

* Trong cấu tứ toàn bài “Việt Bắc”, Tố Hữu đã tưởng tượng, sáng tạo ra một đôi ban tâm tình “mình — ta”, tưởng tượng người ở lại là Việt Bắc và người ra đi là những cán bộ kháng chiên đôi đáp với nhau Trong cuộc

Trang 14

đối đáp giao duyên chia tay lịch sử này, Việt Bắc lên tiếng trước, nhớ về một thời xa hơn, thời vận động CM,

đâu tranh gian khô (6 năm trước CMT8 và 9 năm kháng chiên chông Pháp)

* Lời của Việt Bắc chỉ có 12 câu lục bát nhưng tất cả đều xoáy vào kỉ niệm không thể nào quên của những ngày

CM con trứng nước:

- Kỉ niệm của một thời vận động đấu tranh cách mạng gian nan và khổ cực Những từ ngữ, những hình ảnh chỉ cân nhắc cũng gợi ra nôi nhớ cảm động:

“Mình đi, có nhớ những ngày Mưa nguôn suôi lũ, những mây cùng mù

-> Hình ảnh “mưa nguồn — suối lũ — mây mù” vừa có ý nghĩa tả thực vừa có ý nghĩa tượng trưng cho những khó khăn, thử thách, khôn khó, cơ cực mà đông bào và cán bộ đã phải chịu đựng và vượt qua

- Đó là những kỉ niệm thắm thiết nghĩa tình sâu nặng:

+ Cũng chính trong hoàn cảnh đó, Việt Bắc và con người VB càng “ đậm đà lòng son”, cưu mang cách mạng và những người con cách mạng Bốn chữ “đậm đà lòng son” cứ ấm nóng, tỏa sáng không chỉ trong bài thơ mà cả

ở trong lòng người

+ Câu thơ “Miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai” tạo ra một tiểu đối VừỪa gỢi sự gian khổ, vừa như cụ thể hóa môi thù của cách mạng: phát xít Nhật, thực dân Pháp và phong kiên tay sai Môi thù dân tộc như đè nặng lên vai của mọi người

- Kỉ niệm về những năm tháng vẻ vang, oanh liệt thời tiền khởi nghĩa

+ “Nhớ khi kháng Nhật, thuở còn Việt Minh” -> Với những người trong cuộc chỉ cần gợi nhớ như vậy là đủ Kết thúc giai đoạn lịch sử này là những ngày sôi động của Tông khởi nghĩa CMT8§

Tân Trào, Hàng Thái, mái đình, cây đa ”

-> Những địa danh, những sự kiện lịch sử, mái đìng Hồng Thái, cây đa Tân Trào được nhắc đến đã tạo nên

trong lòng mọi người niệm tự hào về những ngày tháng Tám mùa thu 1945, cách mạng bùng lên giành độc lập

b Đặc sắc nghệ thuật:

- Đoạn thơ ngắn 12 câu đã điệp 8 từ “mình” và 6 từ “nhớ, có nhớ” Những từ “mình” điệp ở đầu mỗi câu thơ đã tạo ra một giọng điệu trữ tình nghe thiết tha, êm ái, ngọt ngào Những từ “nhớ, có nhớ” gợi đến âm hưởng của

ca dao, dân ca, góp phần diễn tả một cách cảm động tràn đầy nôi nhớ về cái nôi VB — quê hương cách ‘mang

- Bang giong thơ tâm tình, ngọt ngào, tha thiết của ca dao, dân ca, của điệu thơ lục bát đậm đà bản sắc dân tộc,

Tô Hữu nhăn nhủ với chúng ta hãy nhớ mãi, hãy giữ lây cái đạo lí ân tình thủy chung quý báu của cách mạng

Đề 4: Phân tích đoạn thơ sau: “Những đường Việt Bắc của ta

Vui lên việt Bắc, đèo De, núi Hồng.”

( Trích Việt Bắc- Tố Hữu)

GỢI Ý

- Khung cảnh Việt Bắc chiến đấu và chiến thắng với không gian núi rừng rộng lớn, với những hoạt động tâp nập, những hình ảnh hào hùng, những âm thanh sôi nồi, dôn dập, náo nức:

+ Những nẻo đường chiến khu Việt Bắc, đêm dêm những bước chân hành quân ram rap, làm rung chuyền

cả đât trời: “Những đường đât rung”

+ Đẹp nhất là hình ảnh quân đội nhân dân Việt Nam: hiện lên với sức mạnh hùng hậu (điệp điệp, trùng tring) va ve dep lang man( nhấp nhô đâu súng lấp lánh những ánh sao) Câu thơ vừa có giá trị tạo hình vừa diễn tả khí thế, niềm vui của quân đội ta đang trên đà thắng lợi

14

Trang 15

+ Hình ảnh của Dân công với “Bước chân nát đá, muôn tàn lửa bay” Tác giả đã thần thoại hóa sức mạnh của con người, bước chân của họ là bước chân của người không lô, đội đá vá trời, rung chuyên càn khôn, bước chân của những con người đã làm nên chiên thắng kì diệu

-_ Mỡra viễn cánh tương lai tươi sáng: “Nghìn đêm thăm thăm sương dày

Đèn pha bật sáng như ngày mai lên”

"ẰẰ— đèo De, núi Hồng”

Câu thơ diễn tả cảm hứng tự hào, lạc quan tin tưởng về một tương lai tươi sáng Dù hôm nay và cả nghìn đêm đã qua, dân tọc ta đã chìm trong khói lửa đau thương, tăm tối, mịt mù của chiến tranh, của đói nghèo, nhưng ngày mai chúng ta sẽ chiến thắng, chúng ta sẽ được độc lập, tự do, no am

_ Nhà thơ nhắc đến những tên đất, tên làng, tên sông, tên núi của trăm miền gắn với những chiến công lừng lây cuả Việt Bắc đã đi vào lịch sử của dân tộc( Hòa Bình, Tây Bắc, Điện Biên )

- Nghệ thuật:

+ Đoạn đầu: âm điệu thơ êm ả ngọt ngào

+ Đoạn sau: giọng thơ trở nên mạnh mẽ, dồn đập như âm hưởng bước chân hành quân của quân và dân ta

ĐÁT NƯỚC

(Trích) - Nguyễn Khoa Diém

I Xuất xứ

- “Mặt đường khát vọng » là tập trường ca được Nguyễn Khoa Điềm hoàn thành ở chiến khu Trị-Thiên năm

1971 Bản trường ca việt về sự thức tỉnh của tuổi trẻ các thành thị vùng tạm chiếm miền Nam, nhận rõ bộ mặt xâm lược của đế quốc Mỹ, hướng về nhân dân, đất nước, ý thức được sứ mệnh của thế hệ mình, đứng dậy xuống đường đấu tranh hoà nhịp với cuộc chiến đấu của toàn dân tộc

- Đoạn "Đá Nước" trích phần đầu chương V của trường ca "Mặt đường khát vọng"

I Đề tham kháo :

“Khi ta lớn lên Dat Nước đã có rôi Làm nên Đât Nước muôn đòi”

(Trích Chương V — Trường ca “Mặt đường khát vọng” — Nguyễn Khoa Điềm)

GỢI Y

1 Khái quát:

- Đoạn thơ “Đất Nước” trích phần đầu chương V của bản trường ca “Mặt đường khát vọng” Tác phẩm viết

về sự thức tỉnh của tuổi trẻ các vùng thành thị miễn Nam tạm chiếm, nhận rõ bộ mặt xâm lược của đế quốc

Mĩ, hướng về nhân dân, Đất Nước, ý thức được sứ mệnh của thế hệ mình, đứng dậy xuống đường hòa nhịp với cuộc chiến đấu của toàn dân tộc Trường ca được hoàn thành ở chiến khu Trị Thiên năm 1971, in lần đầu năm 1974

- “Đất Nước” là một đoạn thơ trữ tình - chính luận Nguyễn Khoa Điểm trình bày những cảm xúc và suy tưởng về Đất Nước dưới dạng một lời tâm tình, trò chuyện đằm thắm giữa “anh” và “em” Từ tư tưởng cốt lõi “Đất Nước của Nhân dân” nhà thơ có những phát hiện mới mẻ, đặc sắc về Đất Nước

- Mỗi một thời đại có một cách hiểu, một quan niệm riêng về Đất Nước Thời trung đại, quan niệm Đất Nước gắn liền với công lao của các triều đại Còn ở thời hiện đại, chúng ta thấy rõ sức mạnh to lớn của nhân dân, thấy rằng Đất Nước là của nhân dân Điều này được các nhà văn Việt Nam ý thức sâu sắc hơn ai

Trang 16

hết khi dân tộc ta tiến hành cuộc chiến tranh nhân dân vĩ đại chống Mĩ cứu nước Tư tưởng xuyên suốt

chương V của “Mặt đường khát vọng” chính là tư tưởng ấy:

“Để Đất Nước này là Đất Nước của Nhân dân Đất Nước của nhân dân, Đất Nước của ca dao, thân thoại”

2 Phân tích:

a Đất Nước là những gì gắn bó gần gũi với đời sống của mỗi con người

- Hình tượng thơ của Nguyễn Khoa Điểm óng ánh một màu sắc đặc biệt của chất liệu văn hóa dân gian

Âm hưởng của những câu chuyện cổ tích, thần thoại, truyền thuyết, ca dao, dân ca đã tạo nên một “khí quyển” dân gian độc đáo, đầy quyến rũ của đoạn thơ Khí quyển ấy tạo nên một không gian nghệ thuật gần

gũi đến bất ngờ:

“Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi Đất Nước có trong những cái ngày xửa ngày xưa mẹ thường hay kể”

+Đất Nước là một giá trị lâu bền, vĩnh hằng, được tạo dựng, bôi đắp qua nhiều thế hệ, được truyền nối từ

đời này qua đời khác Vì vậy: “Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi”

+ Mỗi người sinh ra, ý niệm về Đất Nước đã thấm đẫm trong môi trường gia đình, qua thế giới tinh thần mà

người đó sống Đất Nước có khi bắt đầu từ những câu chuyện kể của mẹ: “Ngày xửa ngày xưa ”, là nhịp

điệu ngàn đời của lời kể cổ tích, có khả năng ngân vang trong tiểm thức của người Việt Người đọc lặng đi

trước cách định nghĩa về Đất Nước thật bất ngờ của Nguyễn Khoa Điểm

- Hình ảnh “miếng trầu bây giờ bà ăn” thật độc đáo, sâu sắc:

“Đất Nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn”

+ Câu thơ gợi lên một tập tục đã ăn sâu vào truyển thống của dân tộc: tục ăn trâu; nó gợi ra câu thành ngữ

quen thuộc: “Miếng trầu là đầu câu chuyện”; nó gợi ra không gian tình nghĩa của sự tích “Trầu cau”

+ Hình ảnh “miếng trầu bây giờ bà ăn” còn là biểu tượng thiêng liêng: mỗi miếng trầu đều gánh trong nó một phần Đất Nước, mỗi miếng trầu bà ăn hôm nay đều có bốn ngàn năm tuổi Quá khứ luôn có mặt với

hiện tại, lịch sử vẫn hiện diện với hôm nay Câu thơ là sự phát hiện bất ngờ của nhà thơ: Đất Nước được

chắt chiu, giữ gìn trong cả những sự vật bình thường, nhỏ bé

- Sự nghiệp mở mang - gây dựng luôn gắn liền với sự nghiệp hi sinh và bảo vệ bờ cõi:

*Đất Nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc”

- Đất Nước gắn bó, hiện diện trong những gì thân thuộc, bình dị của cuộc sống hàng ngày, trong mỗi gia đình:

“Tóc mẹ thì bới sau đâầu Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn Cái kèo, cái cột thành tên

Hạt gạo phải một nắng hai sương xay, giã, giần, sàng”

+ Đó là hình ảnh người mẹ “tóc bới sau đâu, tần tảo, đảm đang” Đây là hình ảnh gợi lại cội nguồn của dân

tộc, gợi đến một nét đặc thù của văn hóa Việt Nam - gắn với cách bới tóc thùy mị của người phụ nữ + Đất Nước được tạo dựng trên nền tảng thủy chung của tình chồng vợ: “Cha mẹ thương nhau bằng gừng

cay muối mặn” Trong cay đắng, gian nan của cuộc sống vất vả, nhọc nhằn cha mẹ càng gắn bó, khăng khít

chia ngọt sẻ bùi Ý thơ làm ta liên tưởng đến âm điệu tình nghĩa của bài ca dao:

16

Trang 17

“Aji di bung bat com day Dẻo thơm một hạt đắng cay muôn phần”

b Đất Nước được cảm nhận theo chiều rộng của không gian, chiều dài của thời gian và chiều sâu của lịch

sử:

- Đất Nước được cảm nhận theo chiều rộng của không gian:

+ Đất và Nước là hai yếu tố chỉ vật chất, hai yếu tố khởi nguyên của thế giới, tạo thành khái niệm chỉ Giang Sơn

Tổ Quốc Đất Nước là không gian gần gũi gắn bó với anh và em (Đất là nơi anh đến trường — Nước là nơi em tắm);

là không gian của tình yêu đôi lứa (“ là nơi ta hò hẹn là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm”) + Ở đâu trên đất nước cũng gắn với những câu chuyện kể, truyền thuyết, những câu ca đã đi vào thế giới tỉnh thần của con người: “Đất là nơi con chim phượng hoàng bay về hòn núi bạc - Nước là nơi con cá ngư

ông móng ước biển khơi”

—> Đất Nước vừa mang ý nghĩa cụ thể, gắn bó, gần gũi với từng cá nhân, vừa mang ý nghĩa khái quát là

lãnh thổ chủ, quyền của quốc gia

- Đất Nước được cảm nhận theo chiều dài của thời gian và chiều sâu của lịch sử:

+ Truyền thuyết Tiên - Rồng, Lạc Long Quân - Âu Cơ là truyền thuyết về cội nguồn của người Việt Trong truyền

thuyết này cũng như trong lịch sử phát triển “đằng đng” và “mênh mông”, mở mang bờ cõi và “đoàn tụ” đã làm nên đặc trưng của dân tộc Việt

“Thời gian đằng đẳng

Không gian mênh mông Đất Nước là nơi dân mình đoàn tụ Đắt là nơi Chim về

Nước là nơi Rong 6 Lạc Long Quân và Âu Cơ

Dé ra đồng bào ta trong bọc trứng”

+ Mỗi con người Việt Nam, bằng máu xương, mồ hôi, công sức của mình, đã chiến đấu và lao động để mở mang và hoàn thiện đất nước, để truyền lại cho con cháu một Đất Nước trọn vẹn Những giá trị tỉnh thần bên vững của đất nước gắn liền với quá khứ và - hiện tại - tương lai được nuôi dưỡng qua các thế hệ, nên

mỗi cá nhân phải có trách nhiệm giữ gìn và truyền lại cho con cháu mai sau những truyền thống tốt đẹp của

cha ông:

“Những ai đã khuất

Những ai bây giờ Yêu nhau và sinh con de cai Gánh vác phân người đi trước để lại Dặn dò con cháu chuyện mai sau Hằng năm ăn đâu làm đâu Cũng biết cúi đầu nhờ ngày giỗ Tổ”

c Đất Nước là sự thống nhất giữa cái riêng và cái chung, giữa cá nhân và dân tộc:

- Đất Nước có trong mỗi chúng ta:

“Trong anh và em hôm nay

Trang 18

Đều có một phần Đất Nước”

+ Xưng hô “anh - em” —> Lời thơ trở thành một lời trò chuyện, tâm tình đầm thắm giữa Nguyễn Khoa Điểm

và thanh niên đô thị miền Nam

+ Mỗi cá nhân sinh ra và lớn lên đều mang trong mình một phần Đất Nước Trong “anh và em” có dòng máu của Lạc Long Quân - Âu Cơ, có truyền thống của “dân mình biết trồng tre mà đánh giặc, có tình nghĩa

thủy chung của cha và mẹ .”

= Hai câu thơ vừa không lời nhắc nhở, vừa là sự khẳng định một cách trang trọng trách nhiệm của mỗi công dân đối với Tổ quốc

- Đất Nước là sự thống nhất giữa cái riêng và cái chung:

+ Đất Nước có trong tình yêu đôi lứa:

“Khi hai đứa cầm tay nhau Đất Nước trong chúng ta hài hòa nông thắm”

—> Ngay từ những dòng thơ đầu tiên của bài “Đất Nước”, hình ảnh Đất Nước đã hòa quyện, gắn bó với hình

ảnh gia đình thân thuộc: miếng trầu của bà; búi tóc, câu chuyện kể của mẹ Trong cảm nhận của Nguyễn

Khoa Điểm, gia đình là những tế bào nhỏ bé làm nên sự gắn kết của cả một cộng đồng “Anh và em câm

tay nhau” - Đất Nước sẽ “hài hòa nồng thắm” trong tình yêu đôi lứa, trong hạnh phúc gia đình Hai câu thơ

là sự phát hiện giản dị nhưng cảm động về sự hòa hợp giữa cái riêng và cái chung, giữa tình yêu đất nước

và tình yêu dân tộc

- Đất Nước có trong tình yêu cộng đồng:

“Khi chúng ta cam tay moi nguoi Đất nước vẹn tròn to lớn”

+ Ý thơ mở rộng từ cái “tôi” đến cái “chúng ta”: từ hình ảnh “hai đứa câm tay nhau” đến chúng ta cẦm tay

mọi người” - Đất Nước cũng từ “hài hòa nông thắm” chuyển thành “vẹn tròn to lớn” Đó chính là sự gắn

bó giữa cá nhân và cộng đồng

+ Tình yêu đôi lứa được mở rộng đến tình yêu đồng bào, làm nên sức mạnh đoàn kết dân tộc, tạo nên thế đứng

kiêu hùng của dân tộc trong suốt 4 ngàn năm lịch sử

- Hình ảnh Đất Nước trong tương lai:

“Mai này con ta lớn lên

Con sẽ mang Đất Nước đi xa

Đến những ngày tháng mơ mộng”

—> Đất Nước sau bao biến động thăng trầm của lịch sử đã “Rũ bùn đứng dậy sáng lòa”, đó là sự kế tục của các thế hệ nối tiếp nhau Cụm từ “tháng ngày mơ mộng” đã phác họa vẻ đẹp của Đất Nước trong tương lai Nhà thơ bộc lộ niềm tin vào thế hệ sau có đủ bản lĩnh và trí tuệ để đưa Đất Nước bay cao và bay xa

- Trách nhiệm của cá nhân đối với đất nước:

*Em ơi em Đất Nước là máu xương của mình

Phải biết gắn bó và san sẻ

Phải biết hóa thân cho dáng hình xứ sở

Làm nên Đất Nước muôn đời ”

+ Lời thơ như thủ thỉ, tâm tình: “em ơi em” cũng là lời nhắc nhở nhẹ nhàng mà sâu lắng về mối quan hệ giữa cá nhân và Đất Nước Đất Nước là “máu xương”, là sự hi sinh âm thầm của biết bao thế hệ đi trước,

họ đã “sống và chết”, “giản di và bình tâm” để làm nên Đất Nước

18

Trang 19

41% &

+ Hàng loạt những động từ “gắn bó”, “san sẻ”, “hóa thân” nhằm nhắn nhủ thế hệ trẻ phải gần gũi di sản của cha ông, phải cống hiến tâm huyết, tài năng và cả đời sống của bản thân để xây dựng đất nước Từ

“hóa thân” giàu ý nghĩa hơn từ “hi sinh”, biểu hiện sự dâng hiến, hòa nhập, sống còn cùng Đất Nước

Đề 2: Phân tích đoạn trích “Đất Nước” (Trích Chương V — Trường ca “Mặt đường khát vọng” — Nguyễn

Khoa Điềm) để làm rõ tư tướng cốt lõi “Đất Nước cúa Nhân dân”

GOLY

1,Khái quát: (Dé 1)

2 Phan tich:

a Tw twéng “Dat Nuéc ciia Nhan dan” dwoc N.K.D thé hién trwéc hét bằng một chất liệu phù hợp: chất

liệu văn hóa dân gian:

* Cá bài thơ đã được sáng tạo, tái tạo từ những gì quen thuộc nhất trong nên văn hóa lâu đời của người VN Hàng loạt các câu chuyện kể, thành ngữ, tục ngữ, ca dao, dân ca; hàng loạt các phong tục tập quán, các địa danh xuất hiện trong các câu thơ

* Những chát liệu dân gian được nhào năn bằng một cảm xúc mới, bằng ánh sáng của thời đại mới, những câu thơ vừa hiện đại vừa thám đâm chất dân gian truyền thông:

- Những câu thành ngữ, tục ngữ, ca dao, dân ca đã hóa thân thành các câu thơ của N.K.Đ:

+ “Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn”

+ “Hạt gạo phải một nắng hai suong xay, gia, gian, sang”

+ “ĐN là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm”

-> Ching ta thấy ngay trong diện mạo của các câu thơ là câu thành ngữ: “Một nắng hai sương”, câu ca dao:

“Tay nâng đĩa muôi chén gừng — Gừng cay muối mặn xin đừng quên nhan” và bài ca dao nôi tiếng: “Khăn thương nhớ ai, khăn rơi xuông đất — Khăn thương nhớ ai, khăn vắt lên vai

- Có những câu thơ rất gián đị nhưng được nhào nặn, tái tạo từ nhiều nguận chất liệu khác nhau: “ĐN bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn”

+ Câu thơ gợi lên một tap tục đã ăn sâu vào truyền thống của dân tộc (tục ăn trau), gợi lên câu thành ngữ quen thuộc “Miếng trầu là đầu câu chuyện”, gợi không gian tình nghĩa của “Sự tích trầu cau”

+ Hình ảnh “miếng trầu bây giờ bà ăn” còn là một biểu tượng thiêng liêng: Mỗi miếng trầu đều gánh trong nó một phần DN; môi miếng trầu bà ăn hôm nay đều đã có 4000 năm tuổi Quá khứ luôn có mặt với hiện tại, lịch

sử vân hiện diện với hôm nay

-> DN được chat chiu, gin gitr trong ca nhitng sy vat nho bé, binh di

=> Văn hóa dân gian đã khơi dòng cảm hứng, chảy từ hình tượng đến từng câu chữ của đoạn trích “Đất Nước”

b Đất nước được cám nhận theo chiều rộng của không gian, chiều dài thời gian và chiều sâu của lịch sứ:

* Đất nước được cảm nhận theo chiều rộng của không gian :

- Dat và Nước là 2 yếu tố chỉ vật chất, 2 yếu tố khởi nguyên của thế giới, tạo thành 1 khái niệm chỉ giang sơn tổ quốc ĐN là không gian gần gũi, gắn bó giữa anh và em, là không gian của tình yêu đôi lứa, tình yêu DN va tinh yêu đôi lứa đã hài hòa làm một:

“ Dat la noi anh đến trường Nước la nơi em tắm

DN là nơi ta hò hẹn

ĐN là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thẩm ”

- Tư duy của N.K.Ð mở rộng đề bao quát sự sinh thành, trưởng thành, mở mang bờ cõi:

“Đát là nơi “con chìm phượng hoàng bay về hòn núi bac”

Nước là nơi “con cá ngư ông móng nước biển khơi ”

Thời gian đằng đẳng

Trang 20

Không gian mênh mông Đất Nước là nơi dân mình đoàn tụ

Đất là nơi Chỉm về

Nước là nơi Rẳng ở Lạc Long Quân và Âu Cơ

Dé ra dong bào ta trong bọc trứng ”

> Truyén thuyét Tiên — Rong, Lac Long Quan — Au Cơ là truyền thuyết về cội nguồn của người Việt Nhắc đến truyền thuyết này, nhà thơ vừa thê hiện niềm tự hào về nguôn gôc cao quí của dân tộc, vừa gợi được hồn sông núi một cách thiêng liêng và trang trọng

- Song song với quá trình hình thành địa bàn cư trú của người Việt suốt may ngàn năm là sự sinh sôi của các địa danh Mỗi địa danh không phải là những dòng tên vô nghĩa Đằng sau mỗi tên đất, tên rừng, tên núi, tên sông là mỗi cuộc đời; mỗi cuộc đời là một huyền thoại Điều đó có nghĩa chính nhân dân đã gây dựng, mở mang, gìn giữ nên đất nước này:

“Và ở đâu trên khắp ruộng đông gò bãi Chắng mang một dáng hình, một ao ước, một lối sống ông cha

Ôi Đắt Nước sau bón ngàn năm đi đâu ta cũng thay Những cuộc đời đã hóa núi sông ta”

* PDN duoc cảm nhân theo chiều dài lịch sử và bê dày văn hóa:

- Điểm về lịch sử, N.K.ĐÐ không nhắc đến các triều đại nồi tiếng, những anh hùng đã lưu danh Nhà thơ thấy lịch

sử 4000 năm của dân tộc là một cuộc chạy tiêp sức không mệt mỏi của hàng ngàn thê hệ Họ là những người vô danh, là Nhân dân đã hóa thân mình cho “dáng hình xứ sở”:

“Có biết bao người con gái, con trai Trong bốn nghìn lớp người giống ta lứa tuổi

Họ đã sống và chết Gian dị và bình tâm Không ai nhớ mặt đặt tên Nhưng họ da lam ra DN”

- Nhân dân _ những con người “không ai nhớ mặt đặt tên” đã gìn giữ hồn Việt qua những việc cụ thể:

“Họ giữ và truyền cho ta hat hia ta trong

Họ chuyển lửa qua mỗi nhà, từ hòn than qua con cúi

Họ truyền giọng điệu mình cho con tập nói

Họ gánh theo tên xã tên làng trong mỗi chuyến di dân

Họ đắp đập be bờ cho người sau trằng cây hái trái

Có ngoại xâm thì chống ngoại xâm

Có nội thù thì vùng lên đánh bại

Dé DN này là ĐN của Nhân dân

ĐN của Nhân dân, ĐN của ca dao thân thoại ”

20

Ngày đăng: 06/01/2014, 14:56

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w