Ở nước ta, trong các cuộc hội thảo khoa học về môi trường và giáo dục môi trường, các nhà lãnh đạo cũng như các nhà khoa học đều thống nhất ý kiến: Bên cạnh những biện pháp xử lí hành ch
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Hoàn thành đề tài này tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy giáo hướng dẫn khoa học PGS.TS Nguyễn Đình Nhâm đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Sinh học - Trường Đại học Vinh, cán bộ trung tâm thư viện trường Đại học Vinh, giáo viên và học sinh trường THPT Anh Sơn I (Nghệ An) và THPT Dân Tộc Nội Trú tỉnh Thanh Hóa
Cuối cùng tôi xin được cảm ơn gia đình, bạn bè đã động viên và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Vinh, tháng 05 năm 2010
Trang 2MỤC LỤC
Trang
LỜI CẢM ƠN
CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG ĐỀ TÀI
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 3
3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 3
4 Giả thiết khoa học 3
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
6 Phạm vi nghiên cứu 3
7 Phương pháp nghiên cứu 4
8 Những đóng góp mới của đề tài 6
9 Cấu trúc luận văn 6
NỘI DUNG 8
Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài 8
1.1 Cơ sở lý luận 8
1.1.1 Tổng quan về môi trường 8
1.1.2 Bảo vệ môi trường 24
1.1.3 Giáo dục môi trường 25
1.1.4 Vận dụng tích hợp GDMT vào giảng dạy sinh học phần sinh thái học, sinh học 12 - THPT 35
1.2 Cơ sở thực tiễn 41
1.2.1 Tình hình nghiên cứu nội dung GDMT trên thế giới và Việt Nam 41
1.2.2 Thực trạng giáo dục môi trường ở trường THPT 43
Chương 2 Vận dụng tích hợp giáo dục môi trường vào giảng dạy kiến thức phần sinh thái học thuộc sinh học 12 - THPT 50
2.1 Phân tích mục tiêu, cấu trúc nội dung của phần Sinh thái học 50
2.1.1 Mục tiêu phần Sinh thái học 50
2.1.2 Phân tích nội dung cấu trúc phần Sinh thái học 51
Trang 32.2 Thiết kế một số giáo án thuộc phần Sinh thái học lớp 12 THPT có vận
dụng tích hợp GDMT 53
Chương 3 Thực nghiệm sư phạm 80
3.1 Mục đích nghiên cứu 80
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 80
3.3 Nội dung thực nghiệm 80
3.4 Phương pháp thực nghiệm 80
3.4.1 Chọn đối tượng thực nghiệm 80
3.4.2 Bố trí thực nghiệm 81
3.4.3 Tiến hành kiểm tra 81
3.5 Xử lí số liệu 81
3.6 Kết quả thực nghiệm 82
3.6.1 Phân tích định lượng 82
3.6.2 Phân tích định tính 91
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 93
1 Kết luận 93
2 Kiến nghị 93
TÀI LIỆU THAM KHẢO 95
PHỤ LỤC 96
Trang 4CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
Trang 5MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Con người và môi trường luôn có mối quan hệ chặt chẽ với nhau thông qua nhiều hoạt động Để đáp ứng mọi nhu cầu của mình, con người ngày càng tác động sâu sắc vào tự nhiên, nhiều khi làm cho tự nhiên ngày càng biến đổi theo chiều hướng xấu đi và bất lợi hơn
Hiện nay, đã đến lúc con người phải đứng trước hai con đường: một là mặc cho số phận, hai là có thể tiếp tục cuộc sống bền vững Muốn có cuộc sống bền vững, con người phải có sự thay đổi về thái độ và hành vi đối với môi trường
Những vấn đề nóng bỏng về môi trường và cuộc sống bền vững đang diễn ra khắp nơi trên Trái Đất và bất cứ nơi nào cũng có những vấn đề cần giải quyết Xã hội loài người đang đứng trước thách thức: hiện tượng khai thác bừa bãi tài nguyên rừng, khoáng sản, đất, nước, làm cho rừng bị tàn phá nhanh chóng; ô nhiễm môi trường ở các đô thị, các khu công nghiệp kéo theo sự ô nhiễm đất, nước, không khí, biển; sự tàn phá các di tích, các cảnh quan thiên nhiên đã gây nên sự mất cân bằng sinh thái cục bộ, làm cho môi trường cũng biến đổi nhanh chóng
Ở nước ta, trong các cuộc hội thảo khoa học về môi trường và giáo dục môi trường, các nhà lãnh đạo cũng như các nhà khoa học đều thống nhất ý kiến: Bên cạnh những biện pháp xử lí hành chính cần làm ngay trước mắt, thì vấn đề tuyên truyền giáo dục môi trường cho mọi tầng lớp nhân dân là điều có ý nghĩa quan trọng, trong đó việc giáo dục cho các thế hệ học sinh ở trường phổ thông là một chiến lược lâu dài, vì các em đang ngồi trên ghế nhà trường hôm nay sẽ là những chủ nhân tương lai của đất nước sẽ tiếp tục có trách nhiệm bảo vệ những di sản do thiên nhiên ban tặng
Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn Đảng và Nhà nước đã có nhiều kế hoạch hành động quốc gia về môi trường và phát triển bền vững của Việt Nam như luật môi trường năm 1993 đã chỉ rõ: "Nhà nước có trách nhiệm tổ chức thực hiện việc GD - Đào tạo, nghiên cứu khoa học - công nghệ, phổ biến kiến thức khoa học và pháp luật về BVMT", GDMT là một trong những biện pháp cơ bản của những hoạt động BVMT
Trang 6Chỉ thị 36-CT/TW của Bộ Chính trị ngày 25/6/1998 về "Tăng cường công tác BVMT trong thời kì công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước" đã coi vấn đề GDMT là giải pháp đầu tiên, chỉ thị đã đưa ra 8 giải pháp lớn về BVMT trong thời gian tới ở nước ta, trong đó giải pháp thứ nhất là: "Thường xuyên GD, tuyên truyền, xây dựng thói quen, nếp sống và phong trào quần chúng BVMT ", giải pháp thứ 7 là: "Đẩy mạnh việc ngiên cứu khoa học, đào tạo cán bộ chuyên gia về lĩnh vực môi trường"
Công văn 1320/CP-KG của thủ tướng chính phủ về việc tổ chức triển khai thực hiện chỉ thị số 36/CT-TW giao cho Bộ GD ĐT phối hợp với Bộ khoa học công nghệ và môi trường xây dựng đề án "Đưa các nội dung BVMT vào hệ thống GD quốc dân" để trình Chính Phủ phê duyệt
Vì vậy, lồng ghép nội dung GDMT trong các môn học ngày càng được chú trọng và trở nên phổ biến
Trong thực tiễn để giúp HS có thái độ và hành vi đúng đắn để BVMT và các vấn đề liên quan thì có rất nhiều biện pháp, trong đó có tích hợp giáo dục môi trường - là biện pháp vừa đảm bảo cung cấp đủ kiến thức cơ bản, vừa thực hiện được mục đích giáo dục môi trường Vậy sử dụng phương pháp tích hợp GDMT như thế nào cho hiệu quả? Đặc biệt trong phần kiến thức Sinh thái học là vấn đề rất được quan tâm
Năm học 2009 – 2010 sách giáo khoa Sinh học 12 mới bắt đầu được áp dụng trên toàn quốc, nhưng chưa có một công trình nghiên cứu nào hoàn thiện được đưa
ra để phục vụ cho việc tích hợp GDMT Đặc biệt là phần Sinh thái học, một phần có nội dung tương đối khó nhưng kiến thức mà nó cung cấp lại có ý nghĩa đặc biệt quan trọng Không chỉ dừng lại hiểu biết cơ bản mà còn là cơ sở giải thích các hiện tượng, các quá trình sinh học, giúp HS hiểu rõ vai trò của thiên nhiên đối với sự tồn tại và phát triển của sự sống trên Trái Đất
Từ các lí do trên chúng tôi chọn đề tài:“Vận dụng tích hợp giáo dục môi trường vào việc dạy học một số bài thuộc phần Sinh thái học, Sinh học lớp 12 - THPT” làm đề tài nghiên cứu
Trang 72 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
- Dựa trên cấu trúc chương trình, nội dung chương trình, mục tiêu giảng dạy,
kế hoạch giảng dạy phần Sinh thái học, Sinh học 12 - THPT chúng tôi xây dựng
một số bài giảng để tích hợp việc GDMT cho HS
- Tập làm quen với nghiên cứu khoa học, giúp có kinh nghiệm trong giảng dạy
3 ĐỐI TƢỢNG VÀ KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tƣợng nghiên cứu
Tích hợp GDMT vào việc dạy một số bài thuộc phần Sinh thái học, Sinh học lớp 12 THPT
3.2 Khách thể nghiên cứu
- GV và HS lớp 12 ở một số trường THPT
- Nghiên cứu các hoạt động học tập của HS trong giảng dạy phần kiến thức các vấn đề về Sinh thái học bằng việc sử dụng tích hợp GDMT
4 GIẢ THIẾT KHOA HỌC
Nếu xây dựng được phương pháp tích hợp GDMT và sử dụng hợp lý không những nâng cao được chất lượng dạy học phần Sinh thái học, Sinh học 12 cơ bản – THPT mà còn giúp học sinh ý thức được tầm quan trọng của việc bảo vệ môi trường để qua đó có các biện pháp thiết thực
5 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
- Nghiên cứu các tài liệu liên quan đến đề tài để xây dựng cơ sở lí luận của
Trang 87 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
7.1 Phương pháp nghiên cứu lí thuyết
- Nghiên cứu các tài liệu và đường lối GD, các Chủ trương, Nghị quyết của Đảng và Nhà nước về GD
- Nghiên cứu phân tích nội dung chương trình Sinh học 12 phần Sinh thái học, các tài liệu hướng dẫn giảng dạy hiện hành
- Các chương trình nghiên cứu theo hướng đề tài và các tài liệu liên quan để làm cơ sở cho việc xác định mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
và thực nghiệm tại một điểm thực tập còn điểm thực nghiệm khác nhờ đồng nghiệm giúp đỡ Giáo án thực nghiệm là giáo án có vận dụng tích hợp GDMT còn giáo án đối chứng là giáo án của GV của trường sở tại
- Các bước thực nghiệm bao gồm:
+ Thiết kế giáo án cho lớp thực nghiệm và lớp đối chứng
+ Tổ chức thực nghiệm ở trường THPT:
* Liên hệ với nhà trường và GV THPT
* Chọn lớp đối chứng và lớp thực nghiệm phù hợp
* Tiến hành thực nghiệm
* Phân tích, xử lý và thống kê số liệu thực nghiệm
7.2.3 Kiểm tra HS sau thực nghiệm
- Phương pháp kiểm tra: Test câu hỏi trắc nghiệm
- Thời gian kiểm tra: 10 phút
- Thu thập, phân tích số liệu và rút ra kết luận từ những số liệu đã qua kiểm
tra, xử lí
Trang 97.3 Phương pháp thống kê toán học
Chấm bài rồi qui ra thang điểm 10, phân tích kết quả bằng phương pháp thống kê toán học xác định tham số:
- Định tính: Phân tích và nhận xét khái quát những kiến thức của HS thông qua các bài kiểm tra nhằm xác định rõ mức độ lĩnh hội về tri thức và thái độ đối với môi trường của HS ở nội dung nghiên cứu
- Định lượng: Phân tích kết quả thực nghiệm bằng thống kê toán học
+ Biểu diễn bằng đồ thị: xi là trục tung, ni là trục hoành
+ Tính trung bình cộng (X ): Là tham số xác định giá trị trung bình của dãy
số thống kê, được tính theo công thức:
1
1 k
i i i
Độ lệch chuẩn càng nhỏ số liệu càng đáng tin cậy
+ Hệ số biến thiên (Cv%) : Biểu thị mức độ biến thiên trong nhiều tập hợp có
X khác nhau
(%) 100%
V
S C
Trang 10+ Hiệu trung bình (đTN – ĐC ): So sánh điểm trung bình cộng (X) của nhóm lớp TN và ĐC trong các lần kiểm tra
- n1,, n2 là số bài kiểm tra làm theo phương án thực nghiệm và đối chứng
Tα : Tra bảng phân phối student tìm xác suất độ tin cậy với α = 0.05, bậc tự
do là f = n1 + n2 - 2
Nếu Td > Tα thì sự khác nhau giữa X TN và X ĐC là có ý nghĩa
Nếu Td < Tα thì sự khác nhau giữa X TN và X ĐC là không có ý nghĩa
Kết quả xử lí các số liệu sẽ cho phép chúng ta đi đến kết luận mức độ đáng tin giữa lớp đối chứng và thực nghiệm
8 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA ĐỀ TÀI
- Xây dựng được bộ giáo án có tích hợp nội dung GDMT thuộc phần Sinh thái học, Sinh học 12 - THPT
- Qua thực nghiệm xác định được giá trị của giáo án có tích hợp nội dung GDMT đã xây dựng
9 CẤU TRÚC LUẬN VĂN
Phần I: Mở Đầu
Phần II: Nội dung nghiên cứu
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài
Trang 11Chương 2: Vận dụng tích hợp GDMT vào giảng dạy kiến thức phần Sinh thái học ở trường THPT
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Phần III: Kết luận và đề nghị
Trang 12NỘI DUNG Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1.1 Tổng quan về môi trường
1.1.1.1 Khái niệm môi trường
Thuật ngữ “môi trường” trong những năm gần đây đã được sử dụng rộng rãi trong các sách vở, tài liệu nghiên cứu và thông tin đại chúng trên thế giới, nhưng nội dung của khái niệm đó trong nhiều tài liệu không hoàn toàn thống nhất
Hiểu theo nghĩa rộng nhất thì môi trường bao gồm tất cả những gì có ở xung quanh một đối tượng, mà người ta nói tới và có những mối quan hệ nhất định với
nó Nếu đối tượng đó là một thể sinh vật thì môi trường là tất cả những gì trực tiếp hoặc gián tiếp ảnh hưởng đến sự sinh trưởng, sự phát triển và tồn tại của cơ thể đó Môi trường đó đồng nghĩa với môi trường sống hay môi trường tự nhiên ở xung quanh cơ thể sinh vật
Con người cũng là một sinh vật, nhưng là một sinh vật đặc biệt, do biết chế tạo và sử dụng công cụ lao động, con người không những thoát khỏi sự lệ thuộc vào các qui luật sinh học, vào môi trường, mà còn tác động trở lại môi trường một cách mạnh mẽ Vì thế, khái niệm môi trường của con người cũng mang theo những đặc điểm xã hội của nó I.V sautakin cũng cho rằng: Trong giai đoạn hiện nay của sự phát triển xã hội và tuần hoàn vật chất của xã hội với tự nhiên, định nghĩa môi trường chỉ bao gồm những thành phần tự nhiên đã trở nên hẹp Vì rằng “ngày nay không còn một bộ phận nào của bề mặt trái đất, diện tích nào của đại dương thế giới, tầng lớp nào của khí quyển mà không chịu tác động này khác của các sản phẩm công nghiệp hiện đại”
Năm 1991 UNESCO đã đưa ra khái niệm về môi trường như sau:
“Là toàn bộ các hệ thống tự nhiên và hệ thống xã hội do con người tạo ra ở xung quanh mình, trong đó con người sinh sống bằng lao động, đã khai thác những tài nguyên tự nhiên hoặc nhân tạo cho phép thỏa mãn những nhu cầu của con người”
Trang 13Khái niệm về môi trường tương đối rõ ràng và đầy đủ được đề cập đến trong
“luật BVMT” của nước ta mới được ban hành năm 1994: “Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có tính hướng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người
và thiên nhiên”
Như vậy, dù định nghĩa thế nào đi nữa thì môi trường sống của con người cũng bao hàm: môi trường tự nhiên, môi trường nhân tạo, môi trường kinh tế - xã hội và con người sống, quan hệ chặt chẽ với cả ba loại môi trường này
- Môi trường tự nhiên: Chính là khoảng không gian nguyên sinh của bề mặt Trái Đất, trong đó có chứa các thành phần vật chất của tự nhiên tạo cơ sở đầu tiên cho sự sống của con người
Các thành phần vật chất của tự nhiên gồm: nham thạch, đất, nước, không khí nhiệt, ánh sáng, âm thanh, năng lượng, thực vật, động vật, vi khuẩn Các thành phần này có quan hệ qua lại chặt chẽ với nhau tạo thành một tổng thể tự nhiên đặc trưng riêng của Trái Đất, nó tồn tại một cách khách quan không tuỳ thuộc vào ý muốn của con người, hoặc ít chịu sự chi phối của con người Tuỳ theo từng phạm vi
sử dụng và nghiên cứu lại có thể chia ra: môi trường nước, môi trường không khí, môi trường đất, môi trường sinh vật
- Môi trường nhân tạo: Là tất cả những nhân tố vật lí, sinh học, xã hội do con người tạo ra và chịu sự chi phối của con người như: thành phố, làng mạc, đường sá, nhà máy, đồng ruộng, trường học, bệnh viện, công viên Trình độ khoa học ngày càng phát triển, xã hội ngày càng phát triển thì môi trường nhân tạo càng thay đổi nhanh chóng để thoả mãn nhu cầu ngày càng tăng của con người
- Môi trường kinh tế - xã hội: Là bao gồm các hệ thống tổ chức xã hội và kinh tế cùng các mối quan hệ của chúng như: các hoạt động kinh tế, hoạt động chính trị, hoạt động xã hội, hoạt động văn hoá, hoạt động giáo dục
Thực ra sự phân chia nói trên chỉ để phục vụ cho mục đích nghiên cứu và phân tích các hiện tượng phức tạp trong môi trường Trong thực tế, ba loại môi trường này cùng tồn tại, đan xen vào nhau, chúng có mối quan hệ qua lại với nhau hết sức mật thiết và chặt chẽ; con người cùng tồn tại và cũng có mối quan hệ chặt chẽ với ba loại môi trường trên
Trang 14Hình 1.1 : Mối quan hệ giữa các loại môi trường
Gần đây, khái niệm môi trường được mở rộng Đó là khái niệm: “môi trường
và phát triển bền vững” Khái niệm này muốn nhấn mạnh đến việc giải quyết mâu thuẫn giữa sự tiếp tục phát triển kinh tế - xã hội mà không làm tổn hại đến môi trường sống của con người sao cho đạt tới sự hài hòa lâu dài, bền vững giữa sự phát triển sản xuất và BVMT
1.1.1.2 Vai trò của môi trường đối với con người
a Môi trường là nơi sinh sống và phát triển của xã hội loài người
Theo tài liệu khảo cổ học con người xuất hiện trên trái đất cách đây khoảng 2 triệu năm tại châu Phi, sau đó phân tán ra khắp các châu lục trên thế giới Con người là một sinh vật, tuy xuất hiện cuối cùng trong thang tiến hóa của các loài nhưng con người là sinh vật đặc biệt với muôn loài Nhờ có trí tuệ phát triển, con người biết sử dụng và sáng tạo công cụ lao động, có tiếng nói và biết tổ chức xã hội, biết truyền những kinh nghiệm hiểu biết cho các thế hệ sau, nhờ đó con người có sức mạnh, chiếm lĩnh và thống trị được toàn bộ sinh vật trên Trái Đất
Trong môi trường, con người cũng như mọi sinh vật không bao giờ sống riêng lẻ mà tập hợp thành gia đình, thành các cộng đồng từ thấp đến cao Khi con người mới xuất hiện số dân đang ít nên không gian sinh sống của họ rất rộng lớn
Về sau, dân số ngày càng tăng, phạm vi sống của con người ngày càng thu hẹp Tuy nhiên, trong quá trình phát triển dù ở mức độ này hay mức độ khác tình trạng nguồn tài nguyên luôn bị cạn kiệt Bởi vậy, để có một môi trường thuận lợi
Con người
MT tự nhiên
MT nhân tạo
MT Kinh tế
- Xã hội
Trang 15cho sinh sống và phát triển, việc hạn chế phát triển dân số là một vấn đề bức thiết của toàn xã hội
b Môi trường là nơi cung cấp các nguồn tài nguyên và năng lượng cho cuộc sống của con người
Để tồn tại và phát triển, con người phải dựa vào các nguồn tài nguyên có sẵn trong thiên nhiên Tùy theo trình độ phát triển của xã hội, số lượng các loại tài nguyên được sử dụng ngày càng tăng Ở giai đoạn đầu, con người chỉ mới sử dụng các nguồn tài nguyên thực vật làm thức ăn như: Lá, nấm, hoa quả…và thịt trứng của các loài động vật Đó là thời kì săn bắt và hái lượm Từ khi con người phát minh ra lửa, con người biết sử dụng các loại năng lượng cổ điển như: than, củi… và từ đó nhu cầu sử dụng năng lượng ngày càng tăng Để bước sang giai đoạn nông nghiệp, con người có nhu cầu sử dụng thêm các tài nguyên khác như: đất, nước để phục vụ cho trồng trọt và chăn nuôi Đến thời kì công nghiệp hóa, và đặc biệt trong giai đoạn hiện nay - giai đoạn loài người bước vào nền văn minh trí tuệ, hầu như mọi nguồn năng lượng trên trái đất này đều được con người khai thác
Hiện nay, do dân số ngày càng đông nên nhu cầu khai thác nguồn tài nguyên ngày càng lớn Đó là nguyên nhân làm cho nguồn tài nguyên bị cạn kiệt hoặc suy thoái
c Môi trường là khung cảnh nghỉ ngơi, vui chơi, giải trí của con người
Lao động là hoạt động quan trọng nhất của con người nhằm tạo ra của cải vật chất và giá trị tinh thần để nuôi sống gia đình và phát triển xã hội Đồng ruộng, nhà máy, trường học…là nơi làm việc của các tầng lớp lao động khác nhau Các hoạt động lao động phải được tiến hành trong những khoảng không gian và môi trường thích hợp để đạt được hiệu quả cao và giữ được sức khỏe ổn định cho người lao động Sau thời gian lao động con người cần được nghỉ ngơi để phục hồi sức khỏe, đảm bảo khả năng làm việc lâu dài Ngày nay, việc đi đến các nhà nghỉ có phong cảnh đẹp, không khí trong lành, nhìn chung, là cách nghỉ ngơi tốt nhất
Nhiều công trình nghiên cứu của các nhà y học, tâm lí - xã hội học đều nhận thấy rằng, vẻ đẹp của thiên nhiên, khung cảnh đất trời bao la, muôn hình muôn vẻ
có ảnh hưởng rất lớn đến trạng thái tâm hồn, sức khỏe của con người Ngoài ra,
Trang 16phong cảnh đẹp kết hợp với các tài nguyên chữa bệnh như nước khoáng, cây xanh… có tác dụng diều dưỡng đối với các bệnh nhân hoặc những người mới khỏi bệnh
Hầu hết các nước trên thế giới bên cạnh việc xây dựng các đô thị, các khu vực sản xuất, người ta chú ý xây dựng các khu, điểm du lịch, các nhà an dưỡng ở nước ta, các khu nghỉ ngơi du lịch đang được xây dựng và phát triển Vì vậy, việc gìn giữ các môi trường trong lành, cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp, các di tích lịch
sử sẽ có tác dụng to lớn cho sự nghiệp du lịch và nghỉ ngơi
d Môi trường là nơi phát triển trí tuệ và những phẩm chất tốt đẹp của con người
Có thể khẳng định rằng, mọi sự hiểu biết về thế giới tự nhiên cũng như sự phát triển của khoa học nói chung đều bắt nguồn từ thiên nhiên Ở giai đoạn đầu của
xã hội loài người, do trình độ thức thấp nên mọi hiện tượng tự nhiên đều trở thành
bí hiểm đối với con người và người ta cho rằng đó là do các thượng đế và thần linh tạo nên Nhưng với thời gian thông qua lao động và quan sát thiên nhiên, con người dần tìm ra và giải thích được các hiện tượng tự nhiên như: mưa, gió, mây mù, thay đổi nước trong các dòng sông… Từ đó con người biết nguyên nhân của các hiện tượng và mối quan hệ giữa chúng Đó là cơ sở cho các ngành khoa học ra đời Trong việc đào tạo các thế hệ trẻ, thiên nhiên cũng là cơ sở để phát triển trí tuệ của
họ
Mặt khác, thiên nhiên còn là cơ sở cho GD thẩm mĩ và những phẩm chất tốt đẹp của con người Thẩm mĩ là năng lực cảm nhận, thưởng thức cái đẹp, là phẩm chất không thể thiếu được của con người có văn hóa Vậy cơ sở nào để nói thiên nhiên có khả năng đó? Trước thiên nhiên con người cảm nhận được vẻ đẹp đó rồi đưa vào cuộc sống Các đồ dùng trong đời sống cũng như các công trình kiến trúc xây dựng con người luôn luôn chú ý cả hai mặt bền và đẹp Cái đẹp là yếu tố không thể thiếu trong cuộc sống con người Đối với mỗi người bằng các hoạt động lao động, du lich tham quan… có thể quan sát và cảm nhận được vẻ đẹp của thiên nhiên, từ đó hình thành khả năng cảm nhận cái đẹp, xây dựng cho mình tình yêu thiên nhiên, tình yêu quê hương đất nước Nhiều HS, nhờ quan sát, tìm hiểu thiên
Trang 17nhiên đã hình thành ở họ các chí hướng cho cuộc đời của mình như: mong muốn trở thành nhà nghiên cứu về khí tượng, thủy văn hay thực vật, động vật…
Vẻ đẹp thiên nhiên còn là nhu cầu cần thiết đối với cuộc sống của con người
Đã là con người, bất kì ở tầng lớp nào, tuổi tác nào, ai cũng yêu thích cái đẹp, muốn vươn tới cái đẹp Cùng với vẻ đẹp của bản thân (hình dáng, ăn mặc, tâm hồn…) con người ai cũng thích các đồ đạc, nhà ở và phong cảnh xung quanh nơi mình ở đều đẹp Ngày nay, để làm đẹp và phong phú cho khung cảnh sống, trong kiến trúc học người ta chú ý đến mối quan hệ giữa thiên nhiên với công trình kiến trúc hài hòa, gắn quyện với nhau Do đó, môn kiến trúc cảnh quan đã ra đời
e Môi trường là nơi tiếp nhận và biến đổi các chất thải
Trong quá trình sinh sống và phát triển xã hội, con người một mặt, khai thác các nguồn tài nguyên, sản xuất, chế biến lương thực, thực phẩm và các loại hàng hóa khác nhau, nhưng mặt khác lại thải vào môi trường các phế liệu, các cặn bã của quá trình sinh sống và sản xuất Tất cả các loại đó được gọi là chất thải
Các chất thải thuộc nhiều nguồn gốc khác nhau:
- Các chất thải công nghiệp: thải ra từ các xí nghiệp nhà máy, bao gồm: + Các loại bụi, khí thải từ các ống khói
+ Các phế liệu, gồm: kim loại, đồ gỗ, chất dẻo, giấy, cao su, đồ thủy tinh, gốm…
+ Các loại nước thải trong đó có hòa tan các chất hữu cơ, các hóa chất, kim loại và dầu mỡ
- Các chất thải công nghiệp gồm: các loại phân hóa học, thuốc trừ sâu diệt
cỏ, thuốc kích thích sinh trưởng…tồn dư trong đất, trong nước; phân, nước tiểu của các động vật nuôi…
- Các chất thải sinh hoạt: bao gồm nước thải, rác sinh hoạt, các loại khí, bụi của lò bếp
- Các khí thải dầu mỡ của các phương tiện giao thông vận tải như: ôtô, máy bay, xe máy, tàu thủy…
Trong xã hội thời kì trước đây, các chất thải phóng thải vào môi trường (vào không khí, nước, đất) không nhiều, nên được môi trường đồng hóa nhanh chóng
Trang 18Ngày nay, do dân số ngày càng tăng, trình độ khoa học kĩ thuật phát triển cao, nền sản xuất lớn nên lượng chất thải đổ vào môi trường cũng ngày càng lớn, vượt quá khả năng đồng hóa của môi trường Mặt khác, trong chất thải có nhiều hóa chất độc hại, nhiều kim loại nặng, nhiều chất khó phân hủy gây nên ô nhiễm môi trường, làm cho môi trường bị suy thoái, gây tác hại đối với sản xuất, sức khỏe và đời sống của con người Bởi vậy, việc nghiên cứu các biện pháp để hạn chế lượng chất thải, nhất
là các chất thải gây độc hại, gây suy thoái môi trường như các khí nhà kính, khí phá hủy tầng ozon, các hóa chất độc…nhằm giữ cho môi trường được trong lành và một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của việc BVMT
Tóm lại, môi trường tự nhiên có vai trò rất lớn đối với con người Một môi trường trong lành, sạch đẹp, phong phú và đa dạng, đó là điều kiện cần thiết cho cuộc sống của mỗi người Ngày nay môi trường sống của chúng ta đang bị biến đổi xấu đi, không khí, nước, đất đang bị ô nhiễm, các nguồn tài nguyên ngày càng bị cạn kiệt, suy thoái Bởi vậy, việc BVMT để giữ gìn nơi ở, các nguồn lợi và các điều kiện cho cuộc sống và sự phát triển của xã hội là nhiệm vụ cấp bách và trách nhiệm của mỗi chúng ta
1.1.1.3 Những hậu quả gây nên do sự tác động của con người vào môi trường
Các tác động của con người thông qua các hoạt động sản xuất xã hội đã làm cho môi trường biến đổi rất nhanh chóng và sâu sắc Chính những biến đổi đó gây nên nhiều hậu quả nghiêm trọng đối với con người và môi trường Những hoạt động
có tác động mạnh nhất đến môi trường hiện nay là:
a) Hoạt động công nghiệp
Là một trong những hoạt động tác động mạnh nhất đến môi trường và gây nhiều hậu quả xấu nhất đối với môi trường như: công nghiệp khai thác mỏ, loài người hiện nay đã khai thác hầu hết các mỏ có trên Trái Đất Hậu quả trước hết của việc khai thác mỏ là phá huỷ môi trường tự nhiên và tạo nên các công trường lộ thiên, các dạng địa hình âm do bị đào đất đá đi, các dạng địa hình dương do các bãi thải, các đống đất đá, Hậu quả phụ là sự hình thành các hố sụp, đất lún, trượt đất
và làm thay đổi mạng lưới thuỷ văn, thay đổi các hệ sinh thái Ngoài ra, có tới 95%
Trang 19tổng lượng vật liệu lấy đi từ Trái Đất là các chất thải chứa các kim loại nặng như đồng, thiếc, thuỷ ngân thoát vào sông, suối nước ngầm, đất Tất cả các ngành công nghiệp đã sử dụng một khối lượng nguyên liệu và năng lượng khổng lồ Hàng năm công nghiệp sử dụng khoảng 37% năng lượng toàn cầu, khoảng 20 tấn nguyên liệu khoáng vật và cứ 10 đến 12 năm nhu cầu lại tăng gấp đôi Đồng thời với việc sử dụng nguyên liệu, năng lượng là thải ra khoảng 50% khí CO2 của thế giới và nhiều loại chất độc khác như lưu huỳnh, flo, nitơđioxit, các loại axit khác nhau, phê non
Thí dụ: Năm 1993 việc đốt nguyên liệu hoá thạch đã thải vào khí quyển 5,9 tỉ tấn các bon dưới dạng CO2 riêng việc đốt dầu mỏ đã thải vào khí quyển khoảng 2,4
tỉ tấn cacbon
Các nhà máy điện nguyên tử là nguồn thải các chất phóng xạ độc hại nhất đầu độc môi trường và con người Các chất thải công nghiệp cùng với nhiều khí nhà kính khác đã làm Trái Đất nóng lên, huỷ hoại tầng ôzôn, nguy cơ tan băng ở hai cực làm cho nước đại dương dâng lên, ảnh hưởng rất lớn đến đời sống của con người
b) Hoạt động giao thông vận tải
Cùng với hoạt động công nghiệp thì hoạt động giao thông vận tải cũng gây nhiều hậu quả cực kì quan trọng, nhất là trong thời đại công nghiệp hoá, hiện đại hoá ngày nay Giao thông vận tải phát triển rất nhanh chóng ở tất cả mọi phương tiện, nó tiêu thụ khoảng 30% năng lượng toàn cầu và đồng thời cũng thải ra một khối lớn các khí thải như CO2, NOx, hyđrô cacbon cùng với tiếng ồn và bụi cũng gây ô nhiễm môi trường rất nặng nề
c) Hoạt động nông nghiệp
Để mở mang diện tích đất trồng, con người đã phải khai phá bao nhiêu vùng đất hoang, và hơn 40% diện tích rừng nhiệt đới cũng bị mất đi, các cảnh quan tự nhiên hoàn toàn bị thay thế bởi cảnh quan đồng ruộng Với mức độ tăng dân số như hiện nay của thế giới để đảm bảo cái ăn, cái mặc và tăng cường chất lượng cuộc sống, con người càng chú trọng đầu tư khoa học kĩ thuật vào quá trình sản xuất nông nghiệp Máy móc đã xâm nhập vào đồng ruộng ( các loại phân hoá học, các chất kích thích sinh trưởng phát triển, các loại thuốc trừ sâu ), hàng năm đồng ruộng trên thế giới nhận được gần 300 triệu tấn phân bón, 4 triệu tấn hoá chất độc,
Trang 20một phần đáng kể hoá chất độc này lọt vào nước mặt đất và nước ngầm, thấm vào đất, ngấm vào nông sản gây ô nhiễm môi trường đất, nước và gây nhiễm độc cho con người
Cùng với nhiều biện pháp kĩ thuật như chọn giống, lai tạo, xử lí hạt giống tất cả đều nhằm tăng hệ số sử dụng đất, tăng năng suất lao động, tạo ra nhiều sản phẩm cho xã hội Đó là những thành công lớn của khoa học kĩ thuật và công nghệ phục vụ nông nghiệp Nhưng mặt trái của nó cũng không phải là nhỏ: Các giống ngắn ngày làm tăng hệ số sử dụng đất, làm cho đất không đủ thời gian để kịp hồi phục độ phì, do đó năng suất các vụ sau thường kém hơn, muốn tăng năng suất lên thì lại phải sử dụng nhiều loại phân hoá học Phân hoá học có tác dụng tức thời đối với cây trồng nhưng không có tác dụng làm tăng độ phì cho đất, trái lại làm cho đất dần dần bị bạc màu Giống mới cho tăng năng suất cao nhưng sức chống chịu kém,
dễ bị sâu bệnh Để diệt sâu bệnh phải sử dụng thuốc trừ sâu, thuốc diệt sâu thì diệt luôn cả những thiên địch có ích đối với cây trồng , và cứ thế tạo nên một vòng luẩn quẩn dẫn đến những hậu quả lớn:
- Làm đảo lộn cân bằng sinh thái đồng ruộng
- Làm mất cân bằng dinh dưỡng của đất
- Đất đai bị xói mòn, thoái hoá
- Phá huỷ cấu trúc đất và thay đổi độ pH
- Độ phì giảm, năng suất cây trồng giảm
- Ảnh hưởng tới môi trường đất, nước, và nước ngầm
Không những thế các loại phân hoá học, thuốc trừ sâu, chất kích thích còn ảnh hưởng trực tiếp đến sản phẩm nông nghiệp gây nguy hại cho người tiêu dùng
Đó là những hậu quả rất trực tiếp và sâu sắc mà con người tự tạo ra cho mình và cho môi trường
d) Hoạt động khai thác rừng
Đến nay, đã có hơn 40% diện tích rừng nhiệt đới nguyên thuỷ bị hủy diệt do hoạt động khai thác của con người Theo đánh giá về tài nguyên rừng của tổ chức FAO năm 1990, diện tích rừng hiện nay trên thế giới chỉ còn 3,4 tỉ ha, bao phủ 27% diện tích đất trên thế giới và diện tích rừng vẫn đang tiếp tục bị thu hẹp do dân số ngày càng tăng và nhu cầu của con người cũng càng tăng
Trang 21Năm 1960 diện tích rừng trên đầu người là 1,2 ha, năm 1990 còn 0,6 ha, năm
2000 chỉ còn 0,2 ha Vai trò của rừng rất to lớn đối với tự nhiên và con người, nó bảo vệ và làm giàu đất, điều chỉnh các quá trình khí, thuỷ, sinh học, góp phần ổn định và điều hoà khí hậu, điều tiết dòng chảy và bảo tồn giống loài Mất rừng cũng
là mất đi những vai trò to lớn đó, đồng thời còn gây nên nhiều hậu quả nghiêm trọng như đất đai bị xói mòn, rửa trôi dữ dội Trên thế giới trong vòng 40 năm qua
đã mất đi 1/5 lớp đất màu mỡ ở các vùng nông nghiệp, trung bình hằng năm khoảng
6 - 7 triệu ha đất trồng bị mất khả năng sản xuất do nạn xói mòn
Tình trạng thiếu nước, mặn hoá, chua phèn làm tăng diện tích đất giảm khả năng sản xuất nông nghiệp, quá trình hoang mạc hoá tăng lên Dự kiến đến năm
2000 thế giới sẽ mất đi 225 triệu ha đất trồng trọt Rừng mất, cân bằng nước bị thay đổi, lũ lụt, hạn hán xảy ra ở khắp nơi trên thế giới, khí hậu có nhiều biến động xấu: những đợt nóng kéo dài trên 4000C xuất hiện ở Trung Ấn Độ, Tây nước Mĩ, Nhật Bản, Thượng Hải Rừng mất, trữ lượng gỗ giảm nhanh, các loài bị tiêu diệt, bị mất
đi ngày càng tăng lên Ước tính 5 - 10% số loài trên thế giới bị biến mất vào giữa những năm 1990 - 2000 và số loài bị tiêu diệt cũng sẽ tăng lên 25% Đặc biệt, diện tích rừng nhiệt đới ẩm giảm nhanh chóng là một trong những nguyên nhân gây nên khủng hoảng sinh thái môi trường toàn cầu hiện nay
e) Hoạt động sinh đẻ
Dân số thế giới tăng gấp đôi từ năm 1950 - 1987 ( từ 2,5 tỉ người → 5 tỉ người ), năm 2000 dân số sẽ là 6,4 tỉ, dự kiến năm 2050 sẽ là 10 - 12 tỉ người Sự bùng nổ dân số là một trong những nguyên nhân quan trọng cản trở tốc độ phát triển kinh tế - xã hội, gây khó khăn lớn cho việc cải thiện đời sống, hạn chế điều kiện phát triển trí tuệ, văn hoá và thể lực của giống nòi Đồng thời kéo theo một loạt các vấn đề và hậu quả về môi trường Gây sức ép lớn trong việc sử dụng tài nguyên đất, nước, không khí, năng lượng, khoáng sản và các nguồn tài nguyên khác Hàng năm dân số thế giới tăng 2,2% thì việc sử dụng đại đa số loại tài nguyên khoáng sản và nước là 5%, sản lượng điện năng là 8% Nhịp độ tăng như vậy tạo nên mối đe dọa thực sự về tình trạng cạn kiệt ngay trong vòng mấy chục năm tới của một số loại tài nguyên thiên nhiên quan trọng như dầu mỏ, trữ lượng nuớc, nhiều kim loại, lượng
Trang 22sinh trưởng gỗ Về tài nguyên thực phẩm để nuôi dưỡng đầy đủ dân cư Trái Đất vào những năm đầu thế kỉ XXI thì cần tăng sản lượng ngành trồng trọt lên ít nhất 3 lần, chăn nuôi 5 lần, trong khi đó tài nguyên đất đai không tăng mà ngày càng hạn hẹp Đồng thời với việc cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên là lượng chất thải của con người cũng thật khổng lồ Ở Mỹ, một thành phố với dân số 1 triệu người tiêu thụ trong một ngày đêm 625.000 tấn nước, 2000 tấn thực phẩm, 9.500 tấn nhiên liệu và thải
ra 500.000 tấn nước thải, 2000 tấn vật thải và rác rưởi, 1000 tấn các phần tử rắn và các loại khí Sự bùng nổ dân số đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến môi trường và cuộc sống của con người Nếu không có những biện pháp ngăn chặn hữu hiệu làm giảm tối thiểu sự gia tăng dân số thì loài người sẽ rơi vào hiểm hoạ diệt vong
Như vậy, việc tăng dân số của xã hội loài người gây nên sự thiệt hại kép đối với xã hội - kinh tế và sinh thái Sự thiệt hại thứ nhất biểu hiện ở sự mất vật liệu, nghĩa là sự biến mất không bao giờ trở lại của các tài nguyên quý giá cũng như sự sút kém đi của điều kiện sản xuất, sự cần thiết của những khoản chi tiêu phụ để làm sạch nước, để sử dụng nguyên liệu kém phẩm chất, sự bắt buộc phải khai thác những mỏ khó đi tới Sự thiệt hại thứ hai là sự thiệt hại sinh thái, môi trường sống của loài người bị sút kém về phảm chất ( gọi là khủng hoảng sinh thái ), các chất độc chứa trong khí thải, nước thải, các chất phóng xạ, các loại khí nitơrát từ phân bón hoá học lọt vào nước ăn, thức ăn gây nguy hại cho sức khoẻ, đòi hỏi con người phải tính đến con đường tối ưu hoá sự can thiệp của mình vào các quá trình tự nhiên Tối ưu hoá sự tác động của con người vào tự nhiên là một vấn đề liên ngành lớn mà việc giải quyết, ngoài các nhà kĩ thuật học, phải có sự tham gia của nhà kinh
tế học, xã hội học, vệ sinh học, sinh vật học, địa lí học và cả nhà giáo dục học Đó chính là những gì để trả lời câu hỏi tại sao cần phải giáo dục môi trường và bảo vệ môi trường
1.1.1.4 Tình hình môi trường ở Việt Nam hiện nay
Nước ta là nước giàu về tài nguyên thiên nhiên, có thể tóm tắt trong một câu rất lí tưởng “Nước ta rừng vàng, biển bạc, đất phì nhiêu, khí hậu nóng ẩm tạo điều kiện cho cây trồng và vật nuôi sinh trưởng, phát triển quanh năm Tài nguyên khoáng sản đa dạng và phong phú” cùng với truyền thống cần cù và sáng tạo nhân
Trang 23dân ta đã xây dựng một Việt Nam vững mạnh và không ngừng phát triển Tuy nhiên cùng nằm trong tình trạng chung của thế giới, các hoạt động của nhân dân ta cũng gây không ít những hậu quả xấu đến tự nhiên và môi trường Trong cả một thời gian dài xây dựng và phát triển đất nước, đặc biệt trong thời kì hiện nay để thực hiện những mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá chúng ta lại càng tác động mạnh mẽ hơn bao giờ hết đến tài nguyên và môi trường
Tiềm năng đất đai, rừng, biển, khoáng sản được huy động mạnh cả về chiều rộng lẫn chiều sâu làm cho môi trường biến đổi sâu sắc Nước ta cũng đang đứng nguy cơ suy thoái về môi trường, trong các báo cáo tại Hội nghị Quốc tế về môi trường và phát triển tại Hà Nội tháng 12 - 1990 đã nêu ra những biểu hiện cụ thể về suy thoái môi trường ở Việt Nam, mà thể hiện rõ nhất ở các mặt sau:
- Rừng, nguồn tài nguyên vô giá, một nhân tố cơ bản của chất lượng môi trường trong điều kiện của một nước nhiệt đới gió mùa đã bị suy tàn quá mức cho phép và đang tiếp tục bị suy giảm với tốc độ đáng sợ
- Tài nguyên đất đang tiếp tục bị giảm sút và thoái hoá, cùng với dân số tăng nhanh làm cho diện tích đất bình quân đầu người xuống tới mức thấp nhất thế giới
- Tài nguyên thuỷ sản và hải sản ở vùng cửa sông và ven biển đang cạn kiệt
và suy thoái do khai thác bừa bãi quá mức phục hồi
- Tài nguyên di truyền trong các loài động vật, thực vật quý hiếm của nước ta đang bị mai một nhanh chóng khó có bề phục hồi
- Môi trường không khí, nước, đất, các đô thị, các khu dân cư, các trung tâm công nghiệp đang bị ô nhiễm, có hiện tượng ô nhiễm nặng nề làm ảnh hưởng rõ rệt đến sức khoẻ nhân dân
- Ở một số vùng công nghiệp đã có hiện tượng ô nhiễm hoá học gây nguy hiểm đối với đời sống nhân dân
- Một số hậu quả chiến tranh đối với tài nguyên và môi trường chậm được khôi phục Thật vậy, một số liệu sau đây về các nguồn tài nguyên thiên nhiên của nước ta sẽ chứng minh cho những tổng kết trên
a) Tài nguyên rừng
Ở nước ta đã và đang giảm sút nghiêm trọng Theo Đại Nam nhất thống chí, năm 1864 rừng rậm nước ta phủ gần hết đồng bằng Bắc bộ và Nam bộ, năm 1905
Trang 24ngay tại Hà Nội vẫn còn rừng Đến năm 1943 rừng vẫn còn 14.352 triệu ha (chiếm gần 1/2 diện tích lãnh thổ) Nhưng đến năm 1984 rừng chỉ còn lại 7,8 triệu ha (chiếm 23,6% diện tích lãnh thổ cả nước), ở những năm 90 này còn số trên còn giảm sút rất nhiều, cứ tốc độ như trên thì chỉ 40 năm sau nước ta sẽ không còn rừng
Do diện tích rừng ngày càng thu hẹp nên khu vực phân bố của nhiều loại động, thực vật cũng bị thu hẹp và thay đổi Một số loài thực, động vật quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng Nhiều vùng rừng trước kia nay có khả năng trở thành hoang mạc, điều kiện khí hậu cũng thay đổi theo chiều hướng xấu đi
b) Tài nguyên đất
Tổng diện tích đất của nước ta là 33 triệu ha, chia bình quân đầu người diện tích này chỉ được 0,51ha/ người (năm 1990) và 0,44ha/ người (năm 2000), trong khi
đó bình quân diện tích đất đầu người trên thế giới là 3,36ha/người Trong 33 triệu
ha đất của nước ta thì đất sử dụng vào nông nghiệp chỉ chiếm khoảng 7 triệu ha (20,84%) chia bình quân đầu người là 0,11ha/ người Diện tích đất canh tác đã quá
ít, thì quá trình canh tác lại chưa hợp lí nên đất bị thoái hoá, bạc màu nhiều, dân số
ở các vùng nông thôn lại tăng nhanh nên diện tích đất canh tác tính trên đầu người lại càng giảm đi
Diện tích đồi núi chiếm khoảng 22 triệu ha, đất đồi núi thì dốc, địa hình phức tạp hiểm trở nên sử dụng khó khăn Nạn đốt nương làm rẫy, khai thác lâm sản bừa bãi cũng làm cho diện tích đồi trọc và đất trống tăng nhanh, hiện nay lên tới 10 triệu
ha Đất là tài nguyên cơ bản và quý giá nhất của nước ta, tất cả các loại đất đều có giá trị lâu dài và mang lại hiệu quả kinh tế nếu như con người sử dụng một cách hợp
lí và đúng quy luật
c) Tài nguyên khoáng sản
Nước ta có khoảng 3.500 mỏ quặng và trên 80 loại khoáng sản, trong đó có nhiều loại quý và quan trọng như: than, dầu mỏ, khí đốt, sắt, thiếc, đồng, vàng, bô xít, apatít, quặng phóng xạ Nhưng do trình độ khoa học còn thấp, lại thiếu sót trong quá trình thăm dò, thiết kế mỏ và quá trình khai thác, chế biến mà làm tổn thất, lãng phí nặng nề bằng 2 – 3 lần chỉ tiêu cho phép Tình trạng chỉ khai thác các quặng giàu hoặc chỉ lựa chọn quặng cần thiết, bỏ loại quặng nghèo, không tổng hợp lợi dụng toàn bộ quặng đã khai thác xảy ra ở khắp nơi trong các khu mỏ gây lãng
Trang 25phí 1/3 lượng tài nguyên tiềm tàng Có những nơi để đáp ứng nhu cầu trước mắt đã
sử dụng những quặng quý dùng vào những việc bình thường như: lấy đá dùng làm vật liệu ốp lát, trang trí, làm đá rải đường, xây hồ chứa nước trên các vùng có trữ lượng lớn về khoáng sản , các bãi thải bừa bãi, bố trí tuỳ tiện vừa làm ô nhiễm môi trường vừa làm biến đổi cảnh quan tự nhiên
d) Tài nguyên sinh vật
Cho đến nay nước ta đã thống kê hơn 7.000 loài thực vật bậc cao có mạch, nhưng theo dự đoán của các nhà khoa học thực vật thì nước ta có tới 12.000 loài Nhân dân ta cũng đã biết được nhiều loại thực vật có ích, ít nhất là 2.300 loài đã được sử dụng làm nguồn lương thực, thực phẩm, dược phẩm, thức ăn cho chăn nuôi, lấy gỗ, lấy dầu và nhiều nguyên liệu khác Hệ động vật nước ta cũng rất phong phú, chúng ta thống kê được 273 loài thú, 773 loài chim, 1.801 loài bò sát, 80 loài ếch nhái Chủ yếu những loài thực, động vật sống ở rừng Nước ta lại có hệ thống sông, suối, hồ, đầm dày đặc, ở đây lại chứa một lượng cá và các sản phẩm nước ngọt rất lớn khoảng 20.000 đến 30.000 tấn/năm Đặc biệt là sinh vật biển ở nước ta rất đa dạng, có nhiều loại đặc sản quý giá Biển nước ta có khoảng 2000 loài
cá, 70 loài tôm, 650 loài rong tảo biển, và nhiều loài đặc sản quý khác Thế nhưng việc sử dụng và khai thác chưa được là bao, và cũng chưa hợp lí, phương tiện khai thác thô sơ, không đúng quy cách nên đã làm cho nhiều loài bị mất đi, hoặc phải di
cư làm tổn hại lớn tới tài nguyên sinh vật
e) Vấn đề ô nhiễm môi trường sống
Ở nước ta, nguồn gây ô nhiễm chủ yếu là các quá trình sản xuất, đặc biệt là sản xuất công nghiệp Công nghiệp nước ta đang ở thời kì đầu chưa phát triển mạnh, nhưng do kĩ thuật còn lạc hậu, các thiết bị còn cũ kĩ, chắp vá nên nên vấn đề rác thải là nguy cơ gây ô nhiễm hàng đầu Các loại khí độc, bụi, bụi độc, các loại nước thải độc gây ô nhiễm cho bản thân người lao động và các khu dân cư lân cận Bên cạnh công nghiệp là các hệ thống phương tiện giao thông Ở các thành phố lớn lưu lượng ô tô lên tới 6.000 → 8.000 ôtô và 40.000 → 50.000 xe gắn máy/ngày, thử tính số bụi, khói và tiếng ồn trong một ngày sẽ thấy mức độ ô nhiễm Trong nông nghiệp, người ta sử dụng một cách thiếu khoa học hàng loạt các loại thuộc trừ
Trang 26sâu, và số lượng sử dụng ngày càng tăng nhanh, năm 1959 khoảng 100 tấn/năm, năm 1978 là 22.000 tấn/năm Hiện nay khoảng 50 % diện tích đất canh tác được phun các loại thuốc trừ sâu Nhiều vùng thâm canh rau nồng độ phun thuốc cao hơn nồng độ cho phép 2 - 3 lần, có khi gấp 10 lần Tình hình trên đã gây ô nhiễm môi trường nặng, đặc biệt là môi trường sinh thái đồng ruộng, nước ngầm bị nhiễm độc , không những thế còn gây nhiễm độc cho con người, hàng năm có tới hàng nghìn người bị nhiễm độc, ngộ độc và có hàng trăm người chết
f) Hậu quả môi trường của chiến tranh
Nước ta chịu 30 năm chiến tranh khốc liệt với đế quốc Mỹ Chỉ riêng 10 năm
từ năm 1961 đến năm 1971 Đế quốc Mỹ đã ném xuống lãnh thổ Việt Nam hơn 13 triệu tấn bom đạn, phá hoại đồng ruộng, làng mạc, rừng cây Đặc biệt là chiến tranh hoá học của Mỹ, 72 triệu lít hoá chất rải xuống Việt Nam làm cho 44 % tổng diện tích rừng và 45% tổng diện đất chịu ảnh hưởng của chất hoá học, chưa kể tới súng đạn, xe tăng, xe ủi đã tạo ra những khu “trắng” quanh các căn cứ quân sự Hậu quả của chiến tranh là phá hoại môi trường, đảo lộn hệ sinh thái, rừng bị phá trụi rất khó hồi phục, đất đai, nguồn nước ngầm bị nhiễm độc, môi trường sống của các địa phương bị phá hoại để lại những hậu quả rất đau đớn cho cả tự nhiên và con người không phải một mà là nhiều thế hệ trong tương lai Những vấn đề trên đây thể hiện ở từng địa phương với những mức độ khác nhau, nhưng Việt Nam đã phải rung chuông báo động: hãy bảo vệ môi trường sống của chính người dân Việt Nam
Tình hình nghiêm trọng này đòi hỏi nước ta phải có những chính sách quốc gia hợp lí, có những biện pháp hữu hiệu, tích cực để bảo vệ tài nguyên thiên nhiên
và bảo vệ môi trường, ngăn chặn kịp thời sự suy thoái của môi trường, sử dụng hợp
lí các nguồn tài nguyên tái tạo được để đảm bảo cân bằng sinh thái và sử dụng một cách tiết kiệm, có tiết chế để dự trữ lâu dài các nguồn tài nguyên không tái tạo được Bảo vệ và không ngừng cải thiện các tài nguyên thiên nhiên và môi trường để
sử dụng một cách lâu dài có hiệu quả vào sự nghiệp phát triển đất nước Đó cũng chính là câu trả lời vì sao phải tiến hành giáo dục môi trường, và giáo dục môi trường trở thành vấn đề cấp bách
Trang 271.1.1.5 Môi trường và sự phát triển
a) Quan hệ giữa môi trường và sự phát triển
Sự phát triển kinh tế - xã hội hay nói gọn lại sự phát triển là một quá trình sử dụng các tài nguyên sống và không sống để sản xuất ra mọi của cải vật chất nhằm đáp ứng các yêu cầu cải thiện cuộc sống của con người Tuy nhiên, trong quá trình phát triển, nhìn chung ở mức độ này hay mức độ khác đều có tình trạng nguồn tài nguyên ngày càng bị cạn kiệt, môi trường bị biến đổi, bị suy thoái và tác động trở lại đối với sự phát triển và đời sống của con người
Ngày nay, để giải quyết vấn đề đó người ta đưa ra quan điểm “phát triển bền vững” Sự phát triển bền vững hay lâu bền có nghĩa là trong việc phát triển kinh tế -
xã hội phải đặt nhiệm vụ cho các cấp, các ngành quản lí kinh tế phải chỉ đạo thực hiện được việc khai thác, sử dụng các tài nguyên sao cho có hiệu quả cao mà vẫn giữ được sự cân bằng sinh thái, tránh được sự cạn kiệt tài nguyên và sự suy thoái về môi trường Nói cách khác, phát triển bền vững là sự phát triển đáp ứng được những nhu cầu của hôm nay mà không làm tổn hại đến nhu cầu của các thế hệ mai sau Sự phát triển phải tính đến khả năng của môi trường và nguồn tài nguyên Không thể tách sự phát triển kinh tế khỏi môi trường Môi trường và phát triển có mối quan hệ khăng khít với nhau Trong báo cáo: Sự phát triển thế giới năm 1992 của ngân hàng thế giới đã chỉ rõ: “Nếu không BVMT một cách thích đáng, phát triển sẽ bị suy yếu dần Ngược lại, không có phát triển, BVMT sẽ thất bại”
Để cho sự phát triển đảm bảo được tính lâu bền, việc xây dựng và phát triển kinh tế của đất nước đòi hỏi mỗi quốc gia phải có tính toán, phải căn cứ vào tình hình nguồn tài nguyên và trình độ phát triển của đất nước mình mà định ra chiến lược chung của quốc gia Dựa vào chiến lược phát triển chung đó, Nhà nước sẽ định
ra kế hoạch hành động của từng thời kì và xây dựng các luật pháp để điều hành trong quá trình phát triển Ở nước ta, trong quá trình khôi phục và phát triển kinh tế, Đảng và Chính phủ đã thực hiện các bước đi cần thiết, đó là: Soạn thảo chiến lược quốc gia từ năm 1985; xây dựng kế hoạch hành động quốc gia thời kì 1991- 2000
và luật BVMT năm 1993
Trang 28b) Phát triển bền vững
Phát triển bền vững là một phạm trù được hình thành do nhu cầu của việc BVMT Thực chất của quá trình phát triển bền vững là sự kết hợp giữa phát triển với việc duy trì môi trường
Theo ủy ban Quốc tế về môi trường và phát triển (WCED), thuật ngữ phát triển bền vững là sự phát triển thỏa mãn những nhu cầu trong hiện tại mà không xâm phạm đến khả năng làm thỏa mãn nhu cầu của thế hệ tương lai
Phát triển bền vững có thể được xem là một tiến trình đòi hỏi sự phát triển đồng thời tất cả các lĩnh vực của xã hội, tự nhiên Một “xã hội bền vững” phải có nền “kinh tế bền vững”, đó là sản phẩm của sự phát triển bền vững
1.1.2 Bảo vệ môi trường
1.1.2.1 Khái niệm bảo vệ môi trường
Trong các tài liệu của Liên Xô (trước đây) thuật ngữ “bảo vệ tự nhiên” chỉ mới được sử dụng trong những năm đầu thế kỉ XX Trong định nghĩa lần đầu tiên (1913) khái niệm này được giải thích là “ý muốn chung hướng tới việc bảo tồn những di sản của thiên nhiên và việc chăm sóc chúng” Về sau nội dung của khái niệm được mở rộng và được cụ thể hóa thêm Bảo vệ tự nhiên không chỉ là sự bảo tồn những đối tượng hiếm đặc hữu của tự nhiên để chúng khỏi bị tiêu diệt, mà còn
là việc sử dụng một cách hợp lí nguồn tài nguyên thiên nhiên, BVMT khỏi bị ô nhiễm, làm giàu thêm các tài nguyên thiên nhiên, cải tạo tình trạng của môi trường, giữ gìn và bảo tồn các phong cảnh, các di tích văn hóa lịch sử…Như vậy, khái niệm
“bảo vệ tự nhiên” được thay thế bằng khái niệm “ BVMT” Khái niệm này rộng hơn bởi vì trong khái niệm môi trường có cả môi trường tự nhiên và nhân tạo Đó là môi trường sống, lao động, nghỉ ngơi và giải trí của con người
1.1.2.2 Sự cần thiết phải bảo vệ môi trường
Trong quá trình sinh sống, lao động và tiến hành các hoạt động của mình trong xã hội, con người vốn có nhiều mối quan hệ mật thiết với môi trường Các mối quan hệ đó không ngừng biến đổi và phát triển qua các thời đại
Tuy nhiên, những thay đổi đặc biệt lớn lao do con người tác động vào thiên nhiên đều gắn liền với cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật Sự phát triển công
Trang 29nghiệp đò hỏi phải đưa vào chu trình sản xuất những nguồn tài nguyên mới Quy
mô sử dụng đất đai, rừng, thực vật, động vật, các nguồn khoáng sản và nguồn nước cũng tăng
Sự bùng nổ về dân số trong những năm gần đây đã kéo theo việc tăng nhu cầu về lương thực, thực phẩm, nguyên liệu, không gian sản xuất…Tất cả những cái
đó đều dẫn đến việc khai thác một cách gia tốc các nguồn tài nguyên thiên nhiên, chất lượng môi trường do đó dễ bị suy thoái
Vấn đề suy thoái môi trường hiện nay đang diễn ra trên quy mô hành tinh Nếu như các nước công nghiệp phát triển, suy thoái môi trường chủ yếu do các chất thải công nghiệp làm ô nhiễm các nguồn nước, bầu không khí…thì sự suy thoái môi trường ở các nước đang phát triển lại do sự tăng nhanh dân số, khai thác tài nguyên không hợp lí để phục vụ cho các nhu cầu trước mắt của mình
Đất nước ta cũng đang đứng trước tình trạng suy thoái môi trường, một số tài nguyên thiên nhiên có nguy cơ bị cạn kiệt, hiện tượng ô nhiễm môi trường có nhiều biểu hiện
Vấn đề BVMT đã trở nên cấp bách, khả năng chịu đựng của trái đất là có giới hạn: “Mãi mãi không bao giờ có sự lựa chọn hợp lí nào khác cả, nếu chúng ta không biết sử dụng tài nguyên của trái đất một cách lâu bền và thông minh thì tương lai của loài người sẽ bị hủy hoại”
1.1.3 Giáo dục môi trường
1.1.3.1 Quan niệm về giáo dục môi trường
Trong phần lớn các tài liệu trên thế giới hiện nay, thì GDMT không có định nghĩa cụ thể theo kiểu: "GDMT là ", mà nó được xem như là: "Một quá trình giác ngộ và hành động thường xuyên, qua đó con người nhận thức về MT của họ, thu được những kiến thức, giá trị, kỹ năng, kinh nghiệm, sự đoàn kết trong hành động, giải quyết các vấn đề MT hiện tại và tương lai, để đáp ứng các yêu cầu của các thế
hệ hiện nay mà không vi phạm đến khả năng đáp ứng các nhu cầu thế hệ tương lại" (VIE) Trong các tài liệu quốc tế như "Chương trình 21", "Cứu lấy trái đất", "Chiến lược cho cuộc sống bền vững" thì GDMT được tiếp cận theo hướng thực tiễn Theo
đó, người ta quan tậm đến mục tiêu, các chính sách và chiến lược thực hiện trong
Trang 30nhà trường, các chương trình hành động, các sản phẩm GD, đánh giá các tác động, xây dựng các nguồn lực
GDMT nói chung (không phân biệt GD cho đông đảo nhân dân, cho các HS phổ thông hay GD cho sinh viên Đại học, Cao đẳng, trung học chuyên nghiệp) có mục tiêu đem lại cho đối tượng được GD các vấn đề sau:
- Hiểu biết bản chất các vấn đề MT: Tính phức tạp, quan hệ nhiều mặt, nhiều chiều, tính hạn chế của tài nguyên thiên nhiên và khả năng chịu tải của MT, quan hệ chặt chẽ giữa MT và PT, giữa MT địa phương, vùng, quốc gia, khu vực và toàn cầu Mục tiêu này thực chất là trang bị cho các đối tượng được GD các kiến thức về MT
- Nhận thức được ý nghĩa, tầm quan trọng của các vấn đề MT như một nguồn lực để sinh sống, lao động và PT, đối với bản thân họ cũng như đối với cộng đồng, quốc gia của họ và quốc tế, từ đó có thái độ, cách ửng xử đúng đắn trước vấn đề
MT, xây dựng cho mình quan niệm đúng đắn và ý thức trách nhiệm, về giá trị nhân cách để dần hình thành các kỹ năng thu nhập số liệu và phát triển sự đánh giá thẩm
mỹ Như vậy, mục tiêu này có định hướng xây dựng thái độ, cách đối xử thân thiện với MT
- Tri thức, kỹ năng, phương pháp hành động để nâng cao năng lực trong việc lựa chọn phong cách sống thích hợp với việc sử dụng một cách hợp lí và khôn ngoan các nguồn tài nguyên thiên nhiên để họ có thể tham gia có hiệu quả vào việc phòng ngừa và giải quyết các vấn đề MT nơi họ ở và làm việc Đây là mục tiêu về khả năng hành động cụ thể
Ba mục tiêu trên được biểu diễn theo sơ đồ 1.2 dưới đây:
Hình 1.2: Ba mục tiêu giáo dục môi trường
1.1.3.2 Tại sao cần giáo dục môi trường
- Thế giới đã trải qua 4 thời kì phát triến kinh tế, đó là Kinh tế nguyên thuỷ, Kinh tế nông nghiệp, Kinh tế công nghiệp và hiện nay, thế kỷ 21 đang bắt đầu của
Hiểu biết về môi
Trang 31giai đoạn kinh tế tri thức, cùng với sự phát triển của kinh tế thì dân số trên Thế gới cũng biến đổi, dân số càng tăng cao, áp lực lên môi trường sống của họ càng lớn, việc nông nghiệp hoá, đặc biệt là cuộc "cách mạng xanh" đã làm suy thoái hàng trăm triệu ha đất, việc công nghiệp hoá thải ra MT một số lượng chất thải quá lớn, kết quả dẫn đến thủng tầng ôzôn, tăng nhiệt độ Trái Đất, nâng cao mực nước biển, tăng nhiều bệnh tật nguy hiểm
- Thực tế đã cho chúng ta thấy rằng các công cuộc phát triển kinh tế trong quá khứ đã để lại nhiều hậu quả to lớn đến nguồn tài nguyên và MT Vì thế phát triển bền vững là mục tiêu mà cả thế giới đều quan tâm và phấn đấu, phát triển kinh
tế - xã hội nhưng làm sao vẫn bảo vệ được MT, vẫn bảo tồn được những nguồn tài nguyên quí giá mà chúng ta có
Hình 1.3: Biểu đồ tỷ lệ dân số qua các giai đoạn
- Mối quan hệ giữa MT và PT đang ở trong tình trạng gay cấn giữa khát vọng muốn cải thiện chất lượng cuộc sống hôm nay và nhu cầu duy trì nguồn tài nguyên
MT cho thế hệ mai sau Sự phát triển đã làm cho tình trạng MT của Thế kỷ 20 chứa
đầy mâu thuẫn:
+ Một bên là:
Con người đã tạo ra hàng loạt các cảnh quan văn hoá, tinh thần, y tế, giáo dục,
Bên cạnh đó, con người cũng đã có ý thức bảo tồn, xây dựng các khu
du lịch sinh thái, khu sinh quyển, khu bảo tồn, khu di tích lịch sử văn hoá
Giai đoạn 1: Kinh tế nguyên thuỷ Giai đoạn 2: Kinh tế Nông nghiệp Giai đoạn 3: Kinh tế Công nghiệp Giai đoạn 4: Kinh tế tri thức
Hình 1: Sự tăng dân số theo các giai đoạn phát triển kinh tế
Trang 32+ Một bên là: Các hoạt động của con người nhằm vào thoả mãn các nhu cầu
về kinh tế, chính trị làm:
Những cánh rừng nguyên sinh bị tàn phá
Suy thoái đất ngiêm trọng
Những vùng biển váng dầu và chứa đầy chất thải độc hại
Suy giảm đa dạng sinh học
Ô nhiễm không khí, thủng tầng ôzôn
Nhiệt độ trái đất tăng lên
Chính mâu thuẫn này đã đẩy môi trường đến bờ vực của 2 hiểm hoạ:
Cạn kiệt tài nguyên
Ô nhiễm MT
- Năm mục tiêu cho kế hoạch phát triển bền vững đều nhấn mạnh đến việc bảo vệ giá trị của MT sống của con người:
+ Bảo tồn tài nguyên: Nhằm đảm bảo việc cung cấp nguồn tài nguyên cho
các thế hệ hiện nay và mai sau bằng việc sử dụng đất một cách hiệu quả, giảm bớt việc sử dụng lãng phí các nguồn tài nguyên tái tạo và không tái tạo
+ Xây dựng MT: Nhằm đảm bảo sự tôn trọng và hoà hợp với MT tự nhiên,
và với sự phát triển của MT nhân tạo
+ Quản lý chất lượng MT: Nhằm tránh hoặc giảm những quá trình làm suy
thoái và ô nhiễm MT, bảo vệ các khả năng phát sinh của các hệ Sinh thái, tránh các hành động làm nguy hại đến sức khoẻ con người và chất lượng cuộc sống
+ Công bằng xã hội: Nhằm tránh bất cứ sự phát triển nào tạo ra sự cách biệt
giữa người giàu với người nghèo, khuyến khích sự phát triển nhằm giảm đi sự bất công
+ Sự tham gia có tính chính trị: Nhằm thay đổi những giá trị thái độ và hành
vi bằng cách khuyến khích sự tham gia tiến hành cải thiện MT ở mọi cấp, từ cộng đồng địa phương trở lên cơ bản dựa vào các quyết định của chính phủ
- GDMT là một việc làm rất quan trọng, nhằm nâng cao ý thức và trách nhiệm của các nhân trong việc BVMT và GDMT, vì:
Trang 33+ Không một chương trình GD nào lại có thể thành công mà tách rời khỏi sự quan tâm và trách nhiệm của các cá nhân Kể từ khi 2 thuật ngữ GD và MT được sử dụng vào năm 1948 thì sự kết hợp hai từ đó luôn đặt ra các câu hỏi cốt yếu là tại sao
và mục đích gì mà chúng được kết hợp với nhau Đó chính là sự quan tâm của các
cá nhân đến vấn đề MT, mỗi sự quan tâm của họ sẽ góp một phần vào sự thành công cho sự nghiệp GDMT
+ Nếu GDMT lấy mục đích cuối cùng là giữ gìn hành tinh của chúng ta và các nguồn tài nguyên mà chúng ta đang và sẽ sử dụng, thì phải xây dựng một chương trình GD mà trong đó mỗi cá nhân được khuyến khích phát huy năng lực và trách nhiệm của mình để đạt được mục đích đó Và chắc chắn rằng chỉ có GDMT mới có thể làm cho các cá nhân tích cực, có kiến thức, có trách nhiêm, thái độ và khả năng hành động vì MT, không chỉ trong chốc lát hay một vài thời điểm, mà trong suốt cả cuộc đời họ, và họ còn tác động đến những người xung quanh họ, đến
cả thế hệ tương lai của họ
1.1.3.3 Mục tiêu giáo dục môi trường
Năm mục tiêu có quan hệ tương hỗ với nhau trong GDMT (UNESCO và UNDP, 1977):
- Nhận thức: Giúp cho các đoàn thể xã hội và cá nhân đạt được một sự nhận
thức và nhạy cảm đối với MT và những vấn đề có liên quan
- Kiến thức: Giúp các đoàn thể XH và cá nhân tích luỹ được nhiều kinh
nghiệm khác nhau, và có được sự hiểu biết cơ bản về MT và những vấn đề có liên quan
- Thái độ: Giúp các đoàn thể XH và cá nhân hình thành được những giá trị về
MT, có ý thức quan tâm đến các vấn đề MT, có những hành động tham gia tích cực vào việc BV và cải thiện MT
- Kỹ năng: Giúp các đoàn thể XH và cá nhân có được những kỹ năng trong
việc xác định và giải quyết các vấn đề MT
- Tham gia: Tạo cơ hội cho các đoàn thể XH và các cá nhân tham gia một
cách tích cực vào việc BVMT và giải quyết những vấn đề MT ở mọi cấp
Trang 341.1.3.4 Mục đích và nội dung giáo dục môi trường ở trường phổ thông
GDMT không những là một yêu cầu của xã hội, mà thực ra là một vấn đề rất cấp thiết đối với bản thân từng người Bởi vì, môi trường gắn bó mật thiết với sự sống của con người Con người không phải chỉ biết sử dụng, khai thác hợp lí môi trường, mà còn phải biết chăm sóc và bảo vệ nó, làm cho nó ngày càng tối ưu đối với cuộc sống lao động Điều đó đòi hỏi mọi người đều phải có ý thức rõ ràng và sâu sắc trong việc đối xử một cách dúng mực đối với môi trường
Biện pháp lâu dài và có hiệu quả là nhà GD phải GD ý thức đó cho những người chủ tương lai của xã hội Đó là những HS đang ngồi trên ghế nhà trường
1.1.3.4.1 Mục đích giáo dục môi trường trong nhà trường phổ thông
Mục đích chủ yếu của việc GDMT trong nhà trường phổ thông là phải làm cho HS không những hiểu rõ khái niệm môi trường và những mối quan hệ của nó đối với hoạt động sinh sống của con người mà còn phải có sự chuyển biến về thái
độ, hành vi đối với môi trường và BVMT
Để tạo nên sự chuyển biến các mặt trên thì trong nhà trường phải đồng thời chú ý cả các mặt GD, kiến thức, kĩ năng, thái độ và hành vi Kiến thức là cơ sở để
hình thành thái độ và hành vi Do vậy, mục đích GDMT ở trường phổ thông phải:
a Cung cấp cho HS những kiến thức nhất định về môi trường:
+ Hiểu và nắm được các chủ trương, chính sách và luật lệ cơ bản của Nhà nước về vấn đề BVMT
b Trên cơ sở những kiến thức đó, bồi dưỡng cho HS thái độ và hành vi cư xử đúng đắn đối với môi trường
+ Trước hết, phải xây dựng cho HS từng bước tình cảm trân trọng tự nhiên, lòng yêu quí tự nhiên, tha thiết muốn BVMT sống, bảo tồn những phong cảnh đẹp, các di tích văn hóa, lịch sử của dân tộc
Trang 35+ Sau đó, phải làm cho việc BVMT trở thành phong cách, nếp sống của HS
Họ phải có thái độ thích hợp chống các hoạt động phá hoại môi trường, làm ô nhiễm môi trường một cách vô ý thức hoặc có ý thức
c Trang bị cho HS một số kĩ năng và giúp cho họ nắm được những biện pháp BVMT thông thường ở địa phương để sau này họ có thể tham gia một cách có hiệu quả vào công cuộc xây dựng đất nước
Như vậy, mục đích cuối cùng của GDMT là tiến tới xã hội hoá các vấn đề môi trường, tạo ra những công dân có nhận thức, có trách nhiệm về môi trường và biết sống vì môi trường theo những nấc thang sau đây:
Hình 1.4: Mục đích của giáo dục môi trường
1.1.3.4.2 Nội dung giáo dục môi trường trong nhà trường phổ thông
Với các mục đích trên, nội dung GDMT ở trường phổ thông phải đề cập đến các vấn đề cấu trúc của môi trường, mối quan hệ giữa con người và môi trường, các biện pháp bảo vệ, phục hồi và làm giàu môi trường, chống ô nhiễm môi trường Cụ thể :
- GDMT mang tính liên ngành rộng, xem xét MT như một tổng thể hợp thành bởi nhiều thành phần
- Nhấn mạnh nhận thức về giá trị nhân cách, đạo đức, trong thái độ ứng xử
và hành động về các vấn đề MT
- Bên cạnh việc cung cấp những kiến thức cụ thể cho người học, còn phải có
cả những kĩ năng thực hành, phương pháp phân tích và đánh giá và đưa ra các quyết định phù hợp
Con người giác
ngộ MT
Người công dân
có trách nhiệm với MT
Nhà chuyên môn thấu hiểu
về MT
Trang 36- Phải đề cập dến vấn đề MT và phát triển bền vững của địa phương, vùng, quốc gia, khu vực, quốc tế của người được GDMT
- Giáo dục liên hệ giữa MT hiện nay và tương lai
- Toàn bộ những nội dung trên là một hệ thống kiến thức bao gồm nhiều khái niệm có liên quan đến nhiều môn học khác nhau trong nhà trường phổ thông Nội dung đó được tích hợp chủ yếu trong những môn học mà đối tượng nghiên cứu của chúng có nhiều mối quan hệ với môi trường như các môn: tìm hiểu tự nhiên và xã hội ở tiểu học, sinh học, kĩ thuật nông nghiệp, hóa học, vật lí…
Mỗi bộ môn đều có thế mạnh riêng của mình về GDMT Ví dụ: để HS hiểu
và nắm được luật BVMT thì môn GD công dân có nhiều ưu thế, để HS hiểu và nắm được các tác nhân lí học có hại đối với môi trường lao động và môi trường sống thì không có môn nào thuận lợi hơn môn vật lí Nếu muốn cung cấp cho HS những hiểu biết rõ ràng về môi trường, về những thành phần của nó, về tác động của môi trường đến sản xuất và vai trò của con người trong việc làm biến đổi môi trường thì không môn nào thuận lợi bằng môn địa lí
Trên thế giới, có nhiều cách giải quyết khác nhau ở một số nước nội dung GDMT thường được tích hợp (lồng ghép) vào chương trình các môn sinh, địa lí, hóa học ở một số nước khác nội dung GDMT lại được tích hợp vào tất cả các môn nhưng có tập trung vào một số vấn đề có liên qua đến thực tế môi trường của họ Ví dụ: Trong chương trình các môn học trong trường phổ thông Indonexia GDMT tập trung vào 8 vấn đề lớn: chống nạn phá rừng, chống nạn để diện tích đất hoang hóa, chống hiện tượng xói mòn đất, sử dụng hợp lí các dòng chảy, chống ô nhiễm các nguồn nước và nước đại dương, bảo vệ động thực vật và sức khỏe con người Trong chương trình các môn học của Nhật Bản GDMT được tập trung vào các vấn đề: sự gia tăng ô nhiễm môi trường do sự phát triển kinh tế, sự phá hoại môi trường tự nhiên, nạn thiếu năng lượng, thiếu tài nguyên cho công nghiệp, tình trạng thiếu lương thực, môi trường và đời sống nhân dân Tại Liên Xô (cũ), GDMT được dạy thành môn riêng (môn tự chọn) và được quán triệt một cách toàn diện trong chương trình tất cả các môn
Trang 37Ở nước ta, vấn đề GDMT cho HS phổ thông cũng được chú ý ngay từ đầu thập niên 80, nhưng do thời gian trong kế hoạch dạy học bị hạn chế, nên chưa bao giờ nó được coi là một môn học riêng mà chỉ được lồng ghép vào nội dung các môn học khác, đặc biệt là trong các môn Sinh học, Địa lí và GD công dân Ở tiểu học có môn tìm hiểu tự nhiên và xã hội Trong quá trình cải cách GD (từ năm 1981 đến nay), nội dung GDMT đã được thể hiện trong các sách giáo khoa cho HS và sách hướng dẫn cho GV Tuy nhiên, mức độ tích hợp GDMT vào các tài liệu này còn rất tùy tiện và thiếu chặt chẽ Vì vậy, trong các sách giáo khoa Sinh học các lớp có cuốn đã đề cập đến vấn đề môi trường và BVMT khá đầy đủ, nhưng có cuốn cũng còn sơ sài, chưa được quan tâm đúng mức Về bồi dưỡng GV cũng chưa có một hội nghị chuyên đề chính thức nào bàn thật kĩ về vấn đề này, nhất là các hình thức và phương pháp GDMT trong môn Sinh học
1.1.3.5 Các phương thức GDMT
Hình 1.5: Khối kiến thức và tính liên thông các bậc học trong GDBVMT
(Nguồn: Đưa các nội dung BVMT vào hệ thống GDQD Bộ GD & ĐT, 2002)
- Đưa GDMT vào các bậc học: thông qua bài giảng các môn học trong nhà trường và thông qua cách tổ chức các hoạt động độc lập Các môn học thường được lồng ghép trong các trường phổ thông là: Sinh học, Địa lí, Hoá học, Vật lí, Khoa học tự nhiên, Khoa học xã hội, tiếng Anh, Ngôn ngữ (Văn - Tiếng Việt), Kỹ thuật nông nghiệp, Còn ở bậc Đại học thì GDMT được tiến hành như một môn học mới
MT
Thái
độ, hành vi tốt với
MT
Kĩ năng, hàng động
cụ thể vì
MT
Kĩ năng, khả năng cải tạo
MT
Trong MT, về MT và vì MT
PTTH, THCN
và DN Tiểu học
Trang 38Ngoài ra số cử nhân, thạc sỹ, tiến sỹ chuyên về MT ngày được đào tạo nhiều hơn, chuyên sâu hơn
- GDMT cho cán bộ quản lí: Đối với cán bộ quản lí, GDMT cố gắng cho họ thấy được một cách tổng quan các khối kiến thức về MT - Khoa học – Kinh tế - Xã hội trong nước và trên TG, để họ đưa ra được cách quản lí hài hoà hợp lí
- GDMT cho cộng đồng: Nâng cao nhận thức về MT cho công đồng thường thông qua các hoạt động xã hội, các tổ chức quần chúng, các đoàn thể chính trị - xã hội
1.1.3.6 Các phương pháp giáo dục bảo vệ môi trường
Là lĩnh vực giáo dục liên nghành, giáo dục BVMT sử dụng nhiều phương pháp dạy học của các bộ môn như:
- Phương pháp tham quan, điều tra khảo sát, nghiên cứu thực địa
- Phương pháp thí nghiệm
- Phương pháp khai thác kinh nghiệm thực tế để giáo dục
- Phương pháp hoạt động thực tiễn
- Phương pháp giải quyết vấn đề cộng đồng
- Phương pháp học tập theo dự án
- Phương pháp nêu gương
- Phương pháp tiếp cận kĩ năng sống BVMT
1.1.3.7 Các nguyên tắc GDMT thông qua môn sinh học ở trường trung học phổ thông
Để đạt được mục đích GDMT, trong quá trình dạy học, chúng tôi thấy cần quán triệt các nguyên tắc sau đây:
- Nhà nước Việt Nam coi GDMT là một bộ phận hữu cơ của sự nghiệp GD toàn dân Để thực hiện GDMT, nhà nước có hệ thống tổ chức từ Trung ương đến địa phương và các cơ sở GD thông qua quản lý nhà nước của Bộ Giáo dục và Đào tạo
- GDMT được thực hiện vì MT, về MT và trong MT, trong đó hiệu quả cao nhất sẽ đạt được khi tạo ra được thái độ và tình cảm của tất cả mọi cá nhân vì MT
GD về MT cung cấp những kiến thức thực tế về MT và những kiến thức về tác động
Trang 39của con người lên MT GD vì MT khêu gợi sự quan tâm thực sự đối với chất lượng
MT sống, thừa nhận và hiểu biết về trách nhiệm và vai trò của con người trong chăm sóc, cải tạo và BVMT GD trong MT là sử dụng MT như một nguồn lực cho việc dạy học, như một phòng thí nghiệm tự nhiên cung cấp những kiến thức, kinh nghiệm và kỹ năng về kiến thức MT, kinh nghiệm và hành động MT
- GDMT là một thành phần bắt buộc trong chương trình Giáo dục và Đào tạo, nó phải được thực hiện trong kế hoạch dạy học và giáo dục hiện hành Tạo cơ hội bình đẳng về GDMT cho tất cả mọi người, mội cấp học Đưa GDMT vào hoạt động nhà trường một cách thích hợp với MT của trường học Những vấn đề trọng tâm của GDMT phải liên quan trực tiếp đến các vấn đề MT của địa phương và của địa bàn nhà trường và quanh trường
- GDMT làm cho người học và người dạy nhận biết được giá trị của MT đối với chất lượng của cuộc sống, sức khoẻ và hạnh phúc của loài người Phải hiểu được rằng, một trong những quyền cơ bản của tất cả mội người trên Trái Đất là được quyền sống trong một MT lành mạnh, có đủ nước và không khí trong sạch để dùng
- Triển khai GDMT bằng các hoạt động mà học sinh là người thực hiện, thầy giáo là người tổ chức các hoạt động GDMT dựa trên chương trình qui định và cách vận dụng phù hợp với địa phương
1.1.4 Vận dụng tích hợp GDMT vào giảng dạy sinh học phần sinh thái học, sinh học 12 - THPT
1.1.4.1 Khái niệm tích hợp
Tích hợp có nghĩa là sự hợp nhất, sự hòa nhập, sự kết hợp Khái niệm tích hợp có thể hiểu một cách khái quát là sự hợp nhất, sự nhất thể hóa đưa tới một đối tượng mới như là một thể thống nhất chứ không phải là phép cộng giản đơn những thuộc tính của các thành phần
Tích hợp có hai tính chất cơ bản liên hệ mật thiết với nhau, quy định lẫn nhau là tính liên kết và tính toàn vẹn Không thể gọi là tích hợp nếu các tri thức, kĩ năng chỉ được cộng lại, không có sự liên kết, tác động, phối hợp với nhau trong lĩnh hội nội dung hay giải quyết một vấn đề, giải quyết một tình huống nào đó
Trang 401.1.4.2 Khái niệm dạy học tích hợp
Trong lý luận dạy học, tích hợp được hiểu là sự kết hợp một cách hữu cơ, có
hệ thống ở những mức độ khác nhau các kiến thức, các kĩ năng thuộc các môn học khác nhau hoặc các hợp phần của bộ môn thành một nội dung thống nhất dựa trên
cơ sở các mối liên hệ lí luận và thưc tiễn được đề cập đến trong các môn học hoặc các hợp phần của bộ môn đó Quá trình học tập góp phần hình thành ở HS những năng lực rõ ràng, góp phần hình thành và phát triển tư duy cho HS năng lực này là hoạt động phức tạp đòi hỏi sự tích hợp các kiến thức và kĩ năng để giải quyết những tình huống cụ thể
Tích hợp GDMT trong môn Sinh học là kết hợp một cách có hệ thống các kiến thức Sinh học với GDMT, làm cho chúng hòa quyện vào nhau hợp thành một thể thống nhất
1.1.4.3 Các phương thức tích hợp các môn học
Tuỳ theo quan điểm mà có những phương thức khác nhau trong việc thực hiện tích hợp các môn học Theo D’Hainaut, có thể chấp nhận bốn quan điểm tích hợp khác nhau :
- Quan điểm “trong nội bộ môn học”: Trong đó ưu tiên các nội dung khái quát cốt lõi của môn học Quan điểm này nhằm duy trì các môn học riêng
- Quan điểm “đa môn”: Đề nghị những tình huống, những “đề tài” có thể được nghiên cứu theo những quan điểm khác nhau Ví dụ, giáo dục công nghệ môi trường có thể được thực hiện thông qua nhiều môn học khác nhau (Sinh học, Địa lý, Vật lý, Hoá học) v.v Theo quan điểm này, giáo dục công nghệ môi trường được tiếp cận một cách riêng rẽ và chỉ gặp nhau ở một số thời điểm trong quá trình nghiên cứu các đề tài Nó không thực sự được tích hợp
- Quan điểm “liên môn”: Đề xuất những tình huống chỉ có thể được tiếp cận một cách hợp lí qua sự soi sáng của nhiều môn học Ví dụ, câu hỏi “Tại sao cần chống ô nhiễm nguồn nước? và chống ô nhiễm nguồn nước như thế nào? Tại sao cần khai thác hợp lý tài nguyên thiên nhiên và phương pháp bảo vệ các nguồn lợi thiên nhiên như thế nào?” chỉ có thể được xem xét từ nhiều góc độ bằng cách huy động kiểu tích hợp và phương pháp của một số môn học như: Sinh học, Vật lý, Hoá