1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khuyết tật đối với hàng hóa công cộng của thị trường và nguyên lý can thiệp của Nhà nước. Liên hệ giải thích sự can thiệp của Nhà nước Việt Nam đối với các thị trường hàng hóa công cộng.

22 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 91,85 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khuyết tật của thị trường là những trường hợp mà thị trường cạnh tranh không thể sản xuất ra hàng hóa và dịch vụ ở mức hiệu quả xã hội. Có 4 loại khuyết tật thị trường là: • Độc quyền thị trường • Ngoại ứng • Hàng hóa công cộng • Thông tin không hoàn hảo Cùng với vai trò phân phối lại thu nhập và cơ hội kinh tế cho mọi người và bắt buộc người dân sử dụng hàng hóa khuyến dụng, những khuyết tật thị trường chính là cơ sở quan trọng để Chính phủ can thiệp thị trường nhằm giúp thị trường hoạt động có hiệu quả hơn và các kết quả kinh tế tạo ra công bằng hơn. Một trong những khuyết tật thị trường mà ai cũng biết, tiêu dùng nó hàng ngày nhưng chưa chắc đã hiểu hết về nó chính là hàng hóa công cộng (HHCC). Đó là các hàng hóa và dịch vụ hữu ích cho xã hội nhưng không thể hoặc rất khó khăn để chia nhỏ hàng hóa đó thành từng đơn vị tiêu dùng. Do đó, việc nghiên cứu những khuyết tật của nền kinh tế thị trường đặc biệt là hàng hóa công cộng đang trở thành một vấn đề cần thiết. Chính vì thế, tôi đã lựa chọn đề tài “Khuyết tật đối với hàng hóa công cộng của thị trường và nguyên lý can thiệp của Nhà nước. Liên hệ giải thích sự can thiệp của Nhà nước Việt Nam đối với các thị trường hàng hóa công cộng” để thực hiện bài tiểu luận của mình. Bài tiểu luận nhằm mục đích cung cấp một số kiến thức về hàng hóa công cộng như khái niệm, phân biệt hàng hóa công cộng, thực trạng cung cấp hàng hóa công cộng … giúp có cái nhìn đầy đủ hơn về hàng hóa công cộng và sự cần thiết của Chính phủ trong cung cấp và quản lý hàng hóa công cộng.

Trang 1

Tên đề tài tiểu luận:

Khuyết tật đối với hàng hóa công cộng của thị trường và nguyên lý can thiệp của Nhà nước Liên hệ giải thích sự can thiệp của Nhà nước Việt Nam đối với các thị trường hàng hóa công cộng.

Trang 2

 Thông tin không hoàn hảo

Cùng với vai trò phân phối lại thu nhập và cơ hội kinh tế cho mọi người và bắtbuộc người dân sử dụng hàng hóa khuyến dụng, những khuyết tật thị trường chính là cơ

sở quan trọng để Chính phủ can thiệp thị trường nhằm giúp thị trường hoạt động có hiệuquả hơn và các kết quả kinh tế tạo ra công bằng hơn

Một trong những khuyết tật thị trường mà ai cũng biết, tiêu dùng nó hàng ngàynhưng chưa chắc đã hiểu hết về nó chính là hàng hóa công cộng (HHCC) Đó là các hànghóa và dịch vụ hữu ích cho xã hội nhưng không thể hoặc rất khó khăn để chia nhỏ hànghóa đó thành từng đơn vị tiêu dùng

Do đó, việc nghiên cứu những khuyết tật của nền kinh tế thị trường đặc biệt làhàng hóa công cộng đang trở thành một vấn đề cần thiết Chính vì thế, tôi đã lựa chọn đề

tài “Khuyết tật đối với hàng hóa công cộng của thị trường và nguyên lý can thiệp của Nhà nước Liên hệ giải thích sự can thiệp của Nhà nước Việt Nam đối với các thị trường hàng hóa công cộng” để thực hiện bài tiểu luận của mình Bài tiểu luận nhằm

mục đích cung cấp một số kiến thức về hàng hóa công cộng như khái niệm, phân biệthàng hóa công cộng, thực trạng cung cấp hàng hóa công cộng … giúp có cái nhìn đầy đủhơn về hàng hóa công cộng và sự cần thiết của Chính phủ trong cung cấp và quản lý hànghóa công cộng

Trang 3

CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA KHUYẾT TẬT ĐỐI VỚI HÀNG HÓA CÔNG CỘNG CỦA THỊ TRƯỜNG VÀ VAI TRÒ CỦA CHÍNH PHỦ

1.1 Khuyết tật thị trường

1.1.1 Khái niệm thị trường:

Thị trường được hiểu là nơi gặp gỡ giữa cung và cầu của một loại hàng hoá, dịch

vụ hàng hoá hay cho một đối tác có giá trị Ví dụ như thị trường sức lao động bao gồmnhững người muốn đem sức lao động của mình để đổi lấy tiền công hoặc hàng hoá Đểcông việc trao đổi trên được thuận lợi, dần đã xuất hiện những tổ chức kiểu văn phòng,trung tâm giới thiệu, xúc tiến việc làm cho người lao động Cũng tương tự như thế, thịtrường tiền tệ đem lại khả năng vay mượn, cho vay tích luỹ tiền và bảo đảm an toàn chocác nhu cầu tài chính của các tổ chức, giúp họ có thể hoạt động liên tục được Như vậyđiểm lợi ích của người mua và người bán hay chính là gía cả được hình thành trên cơ sởthoả thuận và nhân nhượng lẫn nhau giữa cung và cầu

1.1.2 Khái niệm khuyết tật thị trường:

Nền kinh tế thị trường tự do là nền kinh tế được điều tiết bằng “bàn tay vô hình”của thị trường Mỗi cá nhân theo đuổi một mối quan tâm và xu hướng lợi ích riêng cho cánhân mình, và chính các hành động của những cá nhân này lại có xu hướng thúc đẩynhiều hơn và củng cố lợi ích cho toàn cộng đồng thông qua một “bàn tay vô hình” Mỗi

cá nhân đều muốn thu lợi lớn nhất cho mình sẽ làm tối đa lợi ích của cả cộng đồng, điềunày giống như việc cộng toàn bộ tất cả các lợi ích của từng cá nhân lại

Khuyết tật của thị trường xảy ra khi bàn tay vô hình làm cho các quyết định của cánhân không đưa đến sản lượng mà xã hội mong đợi

Có 4 lý do dẫn đến khuyết tật của thị trường:

- Độc quyền thị trường;

- Thông tin không hoàn hảo;

- Các ngoại ứng;

- Hàng hóa công cộng

1.2 Lý thuyết về hàng hóa công cộng

1.2.1 Khái niệm và thuộc tính cơ bản của hàng hóa công cộng

Trang 4

Khái niệm hàng hóa công cộng: Hàng hóa công cộng là những loại hàng hóa mà

việc một cá nhân này đang hưởng thụ những lợi ích do hàng hóa đó tạo ra không ngăncản những người khác cùng đồng thời hưởng thụ lợi ích của hàng hóa đó

Thuộc tính cơ bản của hàng hóa công cộng:

Không có tính cạnh tranh: nghĩa là khi có thêm một người cùng sử dụng hàng hóacông cộng sẽ không làm giảm lợi ích tiêu dùng của những người tiêu dùng hiện có Cóthể hiểu hàng hóa công cộng có thể đáp ứng được lợi ích của nhiều người không hạn chế

số người sử dụng Thực tế, vấn đề lợi ích của hàng hóa công không phải lúc nào cũngnhư nhau đối với nhiều người mà nó phụ thuộc vào điều kiện, hoàn cảnh của người sửdụng hàng hóa này, họ có thể khai thác được nhiều hoặc ít lợi ích từ nó, cũng có thể là dosự khác nhau trong nhu cầu của họ

Không có tính loại trừ: được hiểu ngầm là về mặt kỹ thuật là không thể hoặc là chiphí rất tốn kém để ngăn ngừa những người khác cùng sử dụng loại hàng hóa này Có thểhiểu là người tiêu dùng không bị cản trở khi có nhu cầu về nó Có những hàng hóa côngcộng mà chi phí để duy trì hệ thống quản lý nhằm loại trừ bằng giá (gọi là chi phí giaodịch) rất tốn kém, ví dụ chi phí để duy trì hệ thống các trạm thu phí trên đường cao tốc,…thì có thể sẽ hiệu quả hơn nếu cung cấp nó miễn phí và tài trợ bằng thuế

1.2.2 Phân biệt các loại hàng hóa

Hàng hóa công cộng thuần túy và hàng hóa cá nhân thuần túy:

Tất nhiên là hàng hóa cá nhân không có 2 đặc tính này Các bạn có thể thấy rất rõnếu so sánh 2 hàng hóa Ví dụ nhà ở là hàng hóa cá nhân thì cái nhà đó đã là của bạn thìngười khác không được quyền sử dụng nếu không được bạn đồng ý (đây là tính cạnhtranh), bạn có quyền không cho người khác vào (đây là tính loại trừ) Còn công viên làhàng hóa công cộng, trong cùng 1 lúc có rất nhiều người trong công viên nhưng bạn vẫn

có thể tập thể dục hoặc đi dạo mà không làm ảnh hưởng đến lợi ích của người khác, vànhân viên công viên cũng không thể cho người khác vào mà không cho bạn vào

Hàng hóa công cộng thuần túy và hàng hóa công cộng không thuần túy:

Như định nghĩa ở trên thì hàng hóa công cộng là hàng hóa có 2 thuộc tính cơ bản

là tính không cạnh tranh và tính không loại trừ Hàng hóa công cộng nào mang đầy đủ 2đặc tính trên thì là hàng hóa công cộng thuần túy Một lượng hàng hóa công cộng khicung cấp cho 1 cá nhân thì lập tức có thể tiêu dùng bởi tất cả các cá nhân khác trong cộngđồng ví dụ như :quốc phòng, đài phát thanh, đèn chiếu sáng đường,…Ngược lại là hànghóa cá nhân thuần túy thì nó chỉ tạo ra lọi ích cho người mua nó chứ không phải bất kỳ ai

Trang 5

Nói cách khác hàng hóa cá nhân thuần túy có tính cạnh tranh trong tiêu dùng, vừa dễdàng loại trừ tất cả những ai không sẵn sàng thanh toán theo mức giá thị trường.

Vì hàng hóa công cộng thuần túy không có tính cạnh tranh trong tiêu dùng nên vớimột lượng hàng hóa công cộng thuần túy nhất định, chi phí biên để phục vụ thêm mộtngười sử dụng bằng 0 Tuy nhiên chi phí biên để sản xuất hàng hóa công cộng vẫn lớnhơn 0 vì để sản xuất thêm hàng hóa công cộng đòi hỏi tốn nguồn lực của xã hội

Trong thực tế rất ít hàng hóa công cộng thỏa mãn một cách chặt chẽ hai thuộc tínhnói trên và hàng hóa công cộng chỉ có 1 trong 2 thuộc tính trên được gọi là àng hóa côngcộng không thuần túy Chúng được coi là trung gian giũa hàng hóa công cộng thuần túy

và hàng hóa cá nhân thuần túy Có 2 loại hàng hóa công cộng không thuần túy là hànghóa công cộng có thể tắc nghẽn và hàng hóa công cộng có thể loại trừ bằng giá

Hàng hóa công cộng có thể tắc nghẽn là những hàng hóa mà khi có thêm nhiềungười sử dụng thì có thể gây ra sự ùn tắc hay tắc nghẽn khiến lợi ích cưa những ngườitiêu dùng trước đó bị giảm sút

Chi phí để phục vụ cho những người tăng thêm sau một giới hạn nhất định khôngcòn bằng 0 nữa mà bắt đầu tăng lên Điểm giới hạn đó gọi là điểm tắc nghẽn Một hànghóa công cộng có thể là hàng hóa công cộng thuần túy vào thời điểm này nhưng lại làhàng hóa công cộng có thể tắc nghẽn vào thời điểm khác Ví dụ như ghế đá trong côngviên vào những ngày bình thường sẽ là hàng hóa công cộng thuần túy vì nó đủ chỗ chonhững người có nhu cầu ngồi Tuy nhiên vào những ngày lễ như 14/2 vừa qua hay nhưmùng 8/3, 20/10 rất nhiều đôi muốn đi chơi công viên với nhau vì thế nên tính cạnh tranh

để có ghế đá giữa các đôi muốn ngồi tâm sự sẽ tăng lên, chắc chắn ghế đá sẽ hết chỗ nhưvậy làm giảm lợi ích của những người trong công viên và xảy ra hiện tượng tắc nghẽn

Hàng hóa công cộng có thể loại trừ bằng giá, hay gọi tắt là HHCC có thể loại trừ,

là những hàng hóa công cộng mà lợi ích của chúng có thể định giá Việc đi lại có thể loạitrừ bằng giá, nhờ việc đặt các trạm thu phí hai bên đầu cầu…

1.3 Cung cấp hàng hóa công cộng thuần túy và hàng hóa công cộng không thuần

túy

1.3.1 Cung cấp hàng hóa công cộng thuần túy

Một trong những khó khăn khi cung cấp HHCC là không có một thị trường để trao đổimua bán hàng hóa này giống như thị trường tư nhân Chúng ta có thể cung cấp HHCC, như vậy

có thể nói ta có thể vẽ được đường cung đối với HHCC nhưng lợi ích và mức giá mà mỗi ngườisẵn sàng trả cho lợi ích mà HHCC mang lại là rất khó để đo lường Nhà kinh tế học Thụy ĐiểnErik Lindahl đã đưa ra một mô hình nhằm tạo ra một mô hình nhằm tạo ra một giải pháp theo

Trang 6

kiểu thị trường cho HHCC thuần túy Theo mô hình này, việc xác định mức độ sẵn sàng chi trảcủa các cá nhân cho HHCC, Chính phủ có thể xác định được một cơ chế đánh thuế tối ưu theomức độ lợi ích mà cá nhân nhận được từ HHCC Cân bằng Lindahl được xác định tại điểm giaogiữa đường cung về HHCC và mức thuế người dân sẵn sàng trả cho lợi ích mình được hưởng từHHCC.

Cân bằng Lindahl cho thấy một tập hợp giá Lindahl và mức cung cấp HHCC hiệu quảđược tất cả các thành viên trong xã hội nhất trí và tự nguyện đóng góp Tuy nhiên, áp dụngnguyên tắc đóng góp tự nguyện đòi hỏi tất cả các thành viên bỏ phiếu một cách trung thực theođúng lợi ích biên mà họ nhận được từ HHCC mang lại Nếu người A có thể đoán trước số tiền tối

đa mà người B sẵn sàng trả cho HHCC thì anh ta sẽ cố gắng buộc người B phải đến gần sự phân

bổ đó bằng cách bộc lộ nhu cầu của mình về HHCC thấp hơn thực tế Tương tự, người B có động

cơ như thế, hành vi tính toán của các cá nhân có thể ngăn cản việc đạt được một mức HHCC hiệuquả

Ở một mức độ cực đoan, nếu cá nhân nhận thấy rằng việc mình có trả tiền để được tiêudùng HHCC thuần túy hay không không ảnh hưởng tới việc hưởng thụ lợi ích của HHCC đó thìlúc đó họ đã trở thành những kẻ ăn không Kẻ ăn không là những người tìm cách hưởng thụ lợiích của HHCC mà không đóng góp một đồng nào cho chi phí sản xuất và phân phối HHCC đó

Nếu chỉ có một số ít người muốn trở thành kẻ ăn không thì thị trường vẫn cung cấp đượchàng hoá này mà không cầ Chính phủ Trong thực tế, ở những cộng đồng nhỏ, mọi người hầunhư đã biết hết nhau, việc che giấu lợi ích cá nhân là rất khó thì dư luận xã hội là một biện pháprất tốt để cá nhân đóng góp đầy đủ cho HHCC Vì thế ở các thôn xóm nhỏ hoặc các khu tập thể,

ta vẫn thấy cá nhân có thể tự thỏa thuận với nhau về mức đóng góp cho các công trình công cộngnhư đường làng, ngõ xóm, các công trình cui chơi cho trẻ em, đường điện, đường nước…

Tuy nhiên, khi cộng đồng càng lớn thì việc che giấu ý muốn cá nhân càng dễ dàng, sựphát hiện và trừng phạt của xã hội đối với những kẻ ăn không càng khó khăn thì động cơ trởthành kẻ ăn không càng lớn Nếu tất cả các cá nhân trong cộng đồng đều chọn chiến lược hànhđộng như những kẻ ăn không thì kết cục sẽ không có HHCC nào được cung cấp Điều này đặcbiệt khó khăn khi tư nhân đứng ra cung cấp HHCC, vì họ không có khả năng cưỡng chế các cánhân phải trả tiền sử dụng HHCC mà họ cung cấp Đây cũng chính là lý do khiến khu vực tưnhân không muốn tham gia cung cấp HHCC thuần túy

Chính phủ có thể khắc phục được vấn đề này bằng cách buộc các cá nhân phải đóng gópbắt buộc thông qua thuế

1.3.2 Cung cấp hàng hóa công cộng không thuần túy

Đối với những hàng hóa công cộng có thể loại trừ bằng giá:

Trang 7

Với những HHCC có thể loại trừ bằng giá thì quan điểm chung là nên dùng giá đểloại trừ bớt việc tiêu dùng nhằm tranh gây ra tắc nghẽn, đồng thời đảm bảo các cá nhân sẽ

sử dụng hiệu quả hàng hóa này

Tuy quan điểm này là đúng đối với những hàng hóa nhanh bị tắc nghẽn, nhưng nó

có thể vẫn gây tổn thất phúc lợi cho xã hội nếu việc tiêu dùng hàng hóa đó chưa đạt đếnđiểm tắc nghẽn Lý do là khi chưa đến điểm tắc nghẽn nghĩa là việc tiêu dùng chúngkhông có tính cạnh tranh và vẫn tạo ra phúc lợi xã hội

(Lưu ý: Qe và Q* đều chỉ lượng cầu cân bằng, E là giao điểm của đường cầu vàtrục tung, A là giao điểm của đường cầu và đường giá)

Công suất thiết kế qua cầu là Q c thì điểm tắc nghẽn là Qc Nếu số lượt qua cầu tối

đa là Qm thì không có hiện tượng tắc nghẽn, tức là chi phí phục vụ thêm một lượt quacầu là bằng 0

Nếu việc qua cầu được thực hiện miễn phí thì số lượt qua cầu sẽ đạt Qm và lợi íchthu được từ toàn bộ cây cầu là toàn bộ tam giác OEQm Nhưng nếu một hãng tư nhânđứng ra xây dựng và thu phí qua cầu tại mức P* thì số lượt qua cầu là Q* Một số lượtqua cầu mà lợi ích biên lớn hơn chi phí biên sẽ không được thực hiện (Qm – Q*), cho dùhãng tư nhân thu được một doanh thu từ phí bằng diện tích OP*AQ* Tổn thất phúc lợiđối với xã hội là diện tích tam giác AQ*Qm

Có thể nói, nếu hàng hóa mà chi phí của việc cung cấp bằng 0 thì hàng hóa đó nênđược cung cấp miễn phí, còn chi phí để sản xuất ra chúng có thể được trang trải thôngqua các nguồn thu khác, ví dụ từ thuế…

Đối với những hàng hóa công cộng có thể tắt nghẽn:

Trang 8

Trường hợp thứ hai ta xem xét ở đây là những hàng hóa công cộng có thể tắcnghẽn, do đóc nên loại trừ bớt việc tiêu dùng để tránh tình trạng tắc nghẽn, nhưng chi phí

để thực hiện việc loại trừ này quá lớn khiến chính phủ phải chấp nhận cung cấp côngcộng hàng hóa này Gọi tất cả các chi phí liên quan đến việc điều hành một hệ thống giá

cả để loại trừ việc tiêu dùng HHCC là chi phí giao dịch Đó là toàn bộ những chi phí cầnthiết để hoàn thành một giao dịch kinh tế, chẳng hạn chi phí để duy trì hệ thống trạm thuphí trên đường cao tốc

Xét một ví dụ về việc đi lại trên đường cao tốc trường hợp này được mô tả tronghình sau Trục hoành thể hiện số lượt người đi lại trên đường đó trong một ngày, trụctung thể hiện mức giá Việc đi lại trên đường cao tốc có thể gây tắc nghẽn, tức là chi phíbiên cảu việc cung cấp sẽ lớn hơn 0 trước khi đạt mức tiêu dùng tối đa Điều này được

mô tả bằng việc Qc (công suất thiết kế cảu con đường) nhỏ hơn Qm (mức tiêu dùng tối đakhi việc đi lại trên đường là miễn phí) Như vậy, mức tiêu dùng tối ưu nên dùng lại ở Q*,khi chi phí biên bắng lợi ích biên

Nếu chính phủ cung cấp công cộng dịch vụ này thì tổn thất mà xã hội phải gánhchịu là phẩn diện tích EFQm Đây là phẩn tổn thất xảy ra do tiêu dùng quá mức Đểtránh phần tổn thất này, cần dùng một cơ chế loại trừ bằng giá nào đó, chẳng hạn đặt trạmthu phí ở tất cả các ngả đường dẫn vào con đường này Tuy nhiên điều đó làm chi giaodịch để làm điều đó tăng rất cao, làm mức lệ phí tăng lên mức Po và số lượng đi lại trêntuyến đường này giảm xuống còn Qo

Việc loại trừ bằng lệ phí sử dụng đã áp đặt thêm cho xã hội một khoản tổn thất, đó

là phần diện tích EAQcQo Đây là phần lợi ích mà xã hội nhận được do tăng mức tiêudùng từ Qo lên Q*, vì chi phí biên vẫn nhỏ hơn lợi ích biên mà xã hội nhận được

Như vậy, quyết định cung cấp HHCC theo hình thức nào: Công cộng hay thu phícần phải so sánh giữa tổn thất khi cung cấp công cộng (diện tích EFQm) và tổn thất gây

ra do cung cấp tư nhân (diện tích AEQcQo) Nếu diện tích EFQm nhỏ hơn thì cung cấpcông cộng có thể là một hình thức cung cấp hiệu quả hơn

Tuy nhiên có một điểm cần lưu ý là hình thức cung cấp HHCC không liên quan gìđến việc ai là người cung cấp nó Ngay cả khi xem xét xem HHCC có nên được cung cấphay không thì cũng chỉ có nghĩa là hàng hóa đó có nên hay không nên thu phí sử dụng.Còn chính phủ cũng không nhất thiết phải là người đứng ra sản xuất mà có thể tài trợ tưnhân sản xuất HHCC

1.4 Hàng hóa công cộng: khuyết tật của thị trường

1.4.1 Tính không hiệu quả khi khu vực tư nhân cung cấp hàng hóa công cộng

Trang 9

Cây cầu – một ví dụ về hàng hóa công cộng có thể loại trừ bằng giá nhưng điều đó

là không được mong muốn

Đối với những hàng hóa công cộng có thể loại trừ bằng giá thì để ngăn chặn tìnhtrạng tắc nghẽn, cần áp dụng việc thu phí để những người tiêu dùng có thể được hưởngđầy đủ lợi ích do hàng hóa công cộng mang lại Tuy nhiên nếu mức phí quá cao (chẳnghạn do chi phí giao dịch để thực hiện cơ chế loại trừ lớn) thì số lượng người sử dụng cóthể thấp hơn điểm gây tắc nghẽn quá nhiều dẫn đến tổn thất phúc lợi xã hội Trong trườnghợp khu vực tư nhân đứng ra cung cấp hàng hóa cộng cộng thì mức phí họ thu của ngườitiêu dùng sẽ khiến cho tổn thất phúc lợi xã hội xảy ra

Hình bên là đồ thị minh họa trường hợp một cây cầu có công suất thiết kế là Qc,trong khi nhu cầu đi lại tối đa qua đó chỉ là Qm Nếu việc qua cầu miễn phí thì sẽ có Qmlượt người đi qua nhưng nếu thu phí ở mức p thì chỉ còn Qe lượt và xã hội bị tổn thất mộtlượng bằng diện tích hình tam giác bôi đậm Do vậy, đối với hàng hóa công cộng mà chiphí biên để cung cấp bằng 0 hoặc không đáng kể thì hàng hóa đó nên được cung cấp miễnphí, kể cả khi nó có thể được loại trừ bằng giá

Một nguyên nhân nữa khiến cho tư nhân cung cấp hàng hóa công cộng không hiệuquả là nó thường có xu hướng được cung cấp với số lượng ít Một người có vườn bênđường được trồng hoa thì cả khu vực gần đó sẽ tăng vẻ mỹ quan cũng như nhiều ngườicùng được thưởng thức vẻ đẹp của hoa Thế nhưng người trồng hoa sẽ cân đối thời gian,chi phí bỏ ra với nhu cầu thưởng thức vẻ đẹp của hoa của cá nhân mình chứ không tínhđến nhu cầu của những người hàng xóm, chính vì vậy người đó nhiều khả năng sẽ trồng íthoa đi

1.4.2 Hàng hóa công cộng có thể loại trừ nhưng với phí tổn rất lớn

Trang 10

Hàng hóa công cộng có chi phí giao dịch lớn

Có những hàng hóa công cộng mà chi phí để duy trì hệ thống quản lý nhằm loạitrừ bằng giá (gọi là chi phí giao dịch) rất tốn kém, ví dụ chi phí để duy trì hệ thống cáctrạm thu phí trên đường cao tốc, thì có thể sẽ hiệu quả hơn nếu cung cấp nó miễn phí vàtài trợ bằng thuế Tuy vậy, để cân nhắc việc này cần so sánh tổn thất phúc lợi xã hội tronghai trường hợp

Đồ thị bên phải mô tả việc lựa chọn này Giả sử hàng hóa công cộng có chi phíbiên để sản xuất là c và do phát sinh thêm chi phí giao dịch nên giá của nó bị đẩy lên tới

p Mức cung cấp hàng hóa cộng cộng hiệu quả nhất là khi chi phí biên bằng lợi ích biênnghĩa là Qo Tuy nhiên do giá bị đẩy lên p bởi chi phí giao dịch nên chỉ còn Qe người sửdụng hàng hóa, xã hội bị tổn thất một lượng phúc lợi bằng diện tích tam giác ABE Thếnhưng nếu hàng hóa được cung cấp miễn phí thì sẽ có Qm người sử dụng chứ không phải

Qo Trong trường hợp này lợi ích biên (chính là đường cầu) nhỏ hơn chi phí biên c nên xãhội cũng bị tổn thất một lượng phúc lợi bằng diện tích hình tam giác EFQm do tiêu dùngquá mức Trong trường hợp này chính phủ muốn quyết định xem nên cung cấp hàng hóacông cộng miễn phí hay thu phí cần phải so sánh tổn thất phúc lợi xã hội, nếu tổn thất dotiêu dùng quá mức nhỏ hơn tổn thất trong trường hợp tiêu dùng dưới mức hiệu quả thìcung cấp miễn phí và ngược lại Tuy nhiên việc cung cấp hàng hóa cộng cộng miễn phíhay thu phí hoàn toàn không liên quan đến khu vực công cộng hay khu vực tư nhân sẽsản xuất nó Nếu chính phủ thấy rằng một hàng hóa công cộng nào đó cần được cung cấpmiễn phí thì chính phủ hoàn toàn có thể đặt hàng khu vực tư nhân sản xuất rồi cung cấpnó

1.5 Nguyên lý can thiệp của nhà nước

Trang 11

Nhà nước cần xây dựng chiến lược và chính sách phát triển của các ngành cung ứng hàng hóa công cộng:

Trong điều kiện chuyển sang nền kinh tế thị trường, bên cạnh các lực lượng củaNhà nước sẽ có sự tham gia đông đảo của lực lượng tư nhân vào hàng hóa công cộng

Chiến lược và chính sách hàng hóa công cộng của Nhà nước phải bao quát cácnội dung sau:

Đề ra các mục tiêu về đảm bảo hàng hóa công cộng cho nhân dân, các chỉ tiêu sốlượng và chất lượng của các loại hàng hóa công cộng

Xác định rõ các quan điểm của Đảng và Nhà nước ta trong việc cung ứng mỗi loạihàng hóa công cộng nhất định Trong đó phải xác định rõ yêu cầu đặt ra đối việc cungứng hàng hóa công cộng tuỳ theo tầm quan trọng của loại dịch vụ đó với xã hội

Đề ra các giải pháp cơ bản để từng bước cải tiến việc cung ứng hàng hóa côngcộng, trong đó tất cả các giải pháp về xã hội hoá dịch vụ công cộng và đặc biệt là các giảipháp quản lý nhà nước đối với các cơ quan, đơn vị cung ứng hàng hóa công cộng

Hoàn thiện hệ thống văn bản quản lý hàng hóa công cộng:

Xây dựng một khuôn khổ hành lang pháp lý để quản lý hoạt động cung ứng hànghóa công cộng là một đòi hỏi tất yếu để nâng cao hiệu quả quản lý của Nhà Nước Hiệnnay, hệ thống văn bản pháp luật của Nhà nước về các loại hình hàng hóa công cộng vàviệc quản lý các hàng hóa này còn rất hạn chế

Hệ thống văn bản pháp luật về dịch vụ công cộng nói chung cũng như từng hànghóa công cộng nói riêng phải lưu ý đến các nội dung sau:

Làm rõ đặc thù của từng loại hình công cộng, tầm quan trọng của nó với đời sống

xã hội

Xác định rõ vai trò, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của hàng hóa công cộngXác định rõ vai trò của Nhà nước với việc đảm bảo cung ứng các loại dịch vụcông cộng này, các biện pháp hỗ trợ của Nhà nước đối với việc cung ứng chúng

Xác định cơ chế tài chính của các đơn vị cung ứng dịch vụ công cộng và quản lýcủa Nhà nước về chế độ tài chính với các đơn vị này để tránh hoạt động cung ứng dịch vụcông cộng thành hoạt động kinh doanh chạy theo lợi nhuận thị trường

Ngày đăng: 14/10/2021, 09:22

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w