1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đặc điểm nhà quản trị tác động đến lựa chọn chiến lược, sử dụng thông tin hệ thống kế toán quản trị và hiệu quả tài chính trong các doanh nghiệp sản xuất việt nam

347 17 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 347
Dung lượng 1,58 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kết quả chỉ ra rằng các đặc điểm tuổi, nền tảng học vấn và xuhướng chấp nhận rủi ro quản trị có tác động đến lựa chọn chiến lược thăm dò, hành vi sử dụng thông tin MAS và hiệu quả tài ch

Trang 1

VÕ TẤN LIÊM

ĐẶC ĐIỂM NHÀ QUẢN TRỊ TÁC ĐỘNG ĐẾN LỰA CHỌN CHIẾN LƯỢC, SỬ DỤNG THÔNG TIN HỆ THỐNG KẾ TOÁN QUẢN TRỊ VÀ HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH TRONG CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT VIỆT NAM

Chuyên ngành: Kế toán

Mã số LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

1 TS Phạm Ngọc Toàn

2 TS Nguyễn Thị Thu

TP Hồ Chí Minh – Năm 2021

Trang 2

TÓM TẮT

Thông tin MAS có thể được xem là công cụ rất ưu việt hỗ trợ đắc lực choNQT Có nhiều nghiên cứu trên thế giới dựa trên các góc độ khác nhau để tìm hiểunhững nhân tố nào có tác động đến hành vi sử dụng thông tin MAS Tuy nhiên, ởkhía cạnh dựa trên UET, những đặc điểm của chính NQT cấp cao tác động mạnh

mẽ đến hành vi lựa chọn chiến lược và hành vi sử dụng thông tin MAS để thực hiệnchiến lược đã chọn chưa được xem xét

Dựa trên khảo sát chính thức 234 CEO, Tổng giám đốc và Giám đốc thuộc các

DN sản xuất tại VN Kết quả chỉ ra rằng các đặc điểm tuổi, nền tảng học vấn và xuhướng chấp nhận rủi ro quản trị có tác động đến lựa chọn chiến lược thăm dò, hành

vi sử dụng thông tin MAS và hiệu quả tài chính Tuy nhiên, MQH giữa tuổi và xu hướngchấp nhận rủi ro quản trị tác động đến hiệu quả tài chính không có ý nghĩa

Nổi bật, ILOC có vai trò điều tiết cùng chiều trong MQH giữa tuổi, nền tảng họcvấn và xu hướng chấp nhận rủi ro quản trị đến hành vi sử dụng thông tin MAS

Về mặt lý thuyết, đặc điểm của con người xác định nhận thức và hành vi của

họ Do đó, những đặc điểm của chính những NQT cấp cao ảnh hưởng mạnh mẽ đếnhành vi lựa chọn chiến lược và hành vi sử dụng thông tin MAS Nghiên cứu nàylàm rõ vai trò và MQH của các đặc điểm NQT cấp cao ảnh hưởng đến hành vi lựachọn chiến lược thăm dò, hành vi sử dụng thông tin MAS để thực hiện chiến lượcthăm dò được họ lựa chọn, tương tác giữa chúng đến hiệu quả tài chính của DN sảnxuất VN Bên cạnh đó, về mặt thực tiễn, kết quả này cho thấy rằng một sự kết hợpthích hợp giữa đặc điểm NQT cấp cao/chiến lược/ hành vi sử dụng thông tin MASgiúp nâng cao hiệu quả tài chính của DN sản xuất trong nước, từ đó, khả năng thuhút nhà đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực sản xuất tại VN được hy vọng sẽ tăng lênnên nghiên cứu này kỳ vọng sẽ hỗ trợ thiết lập được việc kinh doanh tại VN bởi cáccông ty thuộc nền kinh tế phát triển

Từ khóa: Hệ thống kế toán quản trị, Điểm kiểm soát nội tại, Xu hướng chấp nhận rủi ro

quản trị, tuổi, nền tảng học vấn, Hiệu quả tài chính ………

Trang 3

MAS information can be seen as a very useful tool to support managers Thereare many studies around the world based on different perspectives to find out whichfactors affect the extent of using MAS information However, UET perspective, thecharacteristics of the upper managers that have a strong impact on the extent ofusing MAS information but not yet considered Besides, the characteristics of uppermanagers are believed to affect the organization's strategic planning and choice.Based on al survey of 234 CEOs, General Directors and Directors in Viet Nammanufacturers The results show that the characteristics of age, educationbackground and risk-taking propensity have an impact on the choice of prospectorstrategy, using MAS information and financial performance However, therelationships between age and risk-taking propensity impact on financialperformance is not significant Notably, ILOC has a positive moderator role in therelationships between age, education background, risk-taking propensity and theextent of using MAS information

Theoretical implications, characteristics of human determine their perceptions andbehaviors Therefore, the characteristics of upper managers is strongly influence onthe behavior of choosing strategies and using MAS information Clarifying the roleand the relationships of uppers manager‘s characteristics affect to use MASinformation to implement the prospector strategy they selected, the interactionbetween them to the financial performance in Viet Nam manufacturer Managerialimplication, the results of this study showed that an appropriate combination ofuppers managers‘s characteristics /MAS / strategy will help to improve the financialperformance Thereby, the attracting foreign investors into the manufacturing sector

in Vietnam is expected to increase So, this research is expected to help establishbusinesses in Vietnam by companies in the developed economy

Keywords: Management accounting system, Internal locus of control, managerial

risk-taking propensity, Age, Education background, Financial performance

Trang 5

PHẦN MỞ ĐẦU

1 1 Tính cấp thiết của đề tài.

Trong thời kỳ kinh tế kế hoạch hóa tập trung, NQT chủ yếu sử dụng thông tin

kế toán nhằm hỗ trợ hiệu quả quản trị của họ trong các chức năng sản xuất và phân

phối sản phẩm theo kế hoạch quốc gia (Chow & Cộng sự, 2007) Từ năm 1986, một

số hoạt động mới đã xuất hiện: tự do hóa và hội nhập vào nền kinh tế thế giới

(Farber & Cộng sự, 2006) Các luật và quy định mới đã được đưa ra để khuyến

khích kinh doanh đa ngành và trong bối cảnh này, các tổ chức VN phải chịu sự cạnhtranh từ cả trong và ngoài nước (Zhu, 2002) Ví dụ, nhiều công ty phải cạnh tranhvới cả đối thủ cạnh tranh trong nước và FDI để giành thị phần và mức độ cạnh tranhkhốc liệt càng tăng khi VN tham gia nhiều tổ chức thế giới với sự xuất hiện nhiềucường quốc kinh tế như WTO, G20…(Nguyen, 2014), cũng như cuộc cách mạngcông nghiệp 4.0 với nhiều công nghệ đột phá xuất hiện làm thay đổi mạnh mẽngành công nghiệp VN; và chiến tranh thương mại Mỹ -Trung cũng ảnh hưởng lớnđến VN về kinh tế-chính trị và DN phải thích ứng với môi trường biến đổi nhanh vànăng động (Vo & Nguyen, 2020a; 2020b; Lê, 2019) Các xu thế nói trên tạo ra cơhội lẫn khó khăn cho nền kinh tế cả nước nói chung và ngành công nghiệp sản xuấtnói riêng (Nguyen, 2014) Để ứng phó với môi trường này, các NQT cấp cao tại các

DN VN cần nhiều nguồn thông tin khác nhau để ra quyết định; trong đó thông tin từMAS rất cần thiết và hữu ích (Vo & Nguyen, 2020a; 2020b; Nguyen, 2014)

Hiện nay, các tổ chức thường theo đuổi một một chiến lược mang tính cạnhtranh (Vo & Nguyen, 2020b) Miles & Snow (1978) đã phân loại chiến lược của tổchức thành bốn loại Trong đó, chiến lược thăm dò mang nhiều khả năng cạnh tranh

do có sự linh hoạt cao (Vo & Nguyen, 2020b) Trong khi đó, nhiều nghiên cứu cho

ra kết quả đặc điểm NQT cấp cao có tác động mạnh đến lựa chọn chiến lược của tổchức: tính đồng nhất của nhóm NQT cấp cao và thay đổi chiến lược (Naranjo-Gil &Hartmann, 2007b), đặc điểm thành viên gia đình trong nhóm NQT cấp cao và thiếtlập chiến lược mục tiêu của tổ chức (Speckbacher & Cộng sự, 2012), nền tảng họcvấn nhóm NQT cấp cao và chiến lược linh hoạt (Naranjo-Gil & Hartmann, 2007a);

Trang 6

nhiệm kỳ, nền tảng học vấn CEO và chiến lược khác biệt (Goll & Cộng sự, 2008).

Việc lựa chọn một chiến lược bởi các NQT cấp cao để hướng tổ chức theo đuổi,cũng có tác động đến hành vi sử dụng thông tin MAS: như lựa chọn chiến lượcthăm dò và MAS đổi mới (ABC, BSC, Benchmarking) (Hartmann & cộng sự,2010), chiến lược đơn vị kinh doanh và MAS (Chong & Chong, 1997); chiến lượctùy chỉnh sản phẩm theo nhu cầu khách hàng và MAS (Bouwens & Abernethy(2000)

Trong các thông tin NQT có được để ra quyết định hàng ngày và thực hiệnchiến lược, thông tin MAS được xem là rất hữu ích để hỗ trợ họ đưa ra quyết định(Vo & Nguyen, 2020a; Demski, 2008) Thông tin MAS phạm vi rộng có nguồn gốc

từ bên trong và bên ngoài tổ chức, có tính chất tài chính và phi tài chính, và về các

sự kiện lịch sử và tương lai, thông tin MAS mang tính kịp thời cung cấp đúng thờiđiểm mà NQT cần, thông tin MAS mang tính tích hợp và tổng hợp cung cấp thôngtin theo chiều dọc và chiều ngang để NQT có cái nhìn bao quát (Chenhall & Morris,1986) Tuy nhiên, có nhiều nhân tố và bối cảnh tác động đến hành vi sử dụng thôngtin MAS của NQT trong việc đưa ra quyết định giúp cải thiện hiệu quả tài chính(Chenhall, 2007) Nổi bật, các nhân tố như môi trường không ổn định, cơ cấu tổchức (Gul, 1991; Mia & Chenhall, 1994), công nghệ thông tin (Mia & Winata,2008), quy mô (Mia & Winata, 2008), văn hóa (Patiar, 2005), chiến lược tổ chức(Chong & Chong, 1997) được xem là có tác động đến hành vi nhà quản trị sử dụngthông tin MAS Gần đây, nhiều nghiên cứu về hành vi con người đã bắt đầu quantâm đến đặc điểm nhân khẩu học và tâm lý, bởi nó xác định hành vi của NQT cấpcao (Wangrow & cộng sự, 2015) Tuy nhiên, số lượng các nghiên cứu về đặc điểmNQT cấp cao tác động đến hành vi sử dụng thông tin MAS vẫn còn khá hạn chế(Hiebl, 2014, Le & cộng sự, 2020, Trần & Nguyễn, 2020)

Trên thế giới, có rất ít nghiên cứu kiểm tra ảnh hưởng các đặc điểm của NQTcấp cao tác động đến việc lựa chọn một chiến lược của tổ chức (như chiến lượcthăm dò), cũng như tác động đến hành vi sử dụng thông tin MAS (Hiebl, 2014) vàtại VN (Nguyen & cộng sự, 2017; Vo & Nguyen, 2020a, 2020b) Bên cạnh đó, một

Trang 7

sự phù hợp giữa đặc điểm NQT cấp cao, lựa chọn chiến lược thăm dò, hành vi sửdụng thông tin MAS để thực hiện chiến lược sẽ có những ảnh hưởng mạnh mẽ đếnhiệu quả tài chính của tổ chức (Hambrick & Mason, 1984; Hiebl, 2014) cũng chưa

được quan tâm Như vậy, từ các đặc điểm khách quan đã nêu, cần xác định: Đặc điểm nào của NQT cấp cao có tác động đến lựa chọn chiến lược thăm dò, hành

vi sử dụng thông tin MAS? Lựa chọn chiến lược thăm dò có tác động như thế nào đến sử dụng thông tin MAS? Đặc điểm NQT cấp cao, lựa chọn chiến lược thăm dò, sử dụng thông tin MAS có tác động đến hiệu quả tài chính của tổ chức

ra sao?

Ngoài ra, Rotter (1966) chia tâm lý cá nhân thành hai nhóm có đặc điểm tâm

lý trái ngược nhau, gồm: (1) những người có điểm kiểm soát nội tại (người đó tinrằng, trong cuộc sống của họ thì các sự kiện xảy ra phần lớn là do chính hành động

và nổ lực của chính bản thân họ) và ngược lại, (2) những người có điểm kiểm soátngoại tại (những người này tin rằng số phận của họ bị định đoạt bởi may mắn, bởinhững người khác hoặc cơ hội vô tình có được) Đặc điểm tâm lý ILOC đượcHambrick & Finkelstein (1987, trang 379) cho rằng nó sẽ điều tiết MQH giữa đặcđiểm NQT cấp cao và hành vi sử dụng thông tin trong một hệ thống hành chínhphức tạp trong tổ chức MAS được Hambrick & Mason (1984) và Chenhall &

Morris (1986) xem là một hệ thống hành chính phức tạp trong tổ chức Do đó, vai trò điều tiết của ILOC trong MQH giữa đặc điểm NQT cấp cao và hành vi sử dụng thông tin MAS là như thế nào?

Từ các câu hỏi trên, luận án được xây dựng dựa vào xem xét các nghiên cứu đitrước theo các nhóm: (1) đặc điểm NQT cấp cao và lựa chọn chiến lược, (2) tácđộng của đặc điểm NQT cấp cao đến hành vi sử dụng thông tin MAS, (3) lựa chọnchiến lược tác động đến hành vi sử dụng thông tin MAS và hiệu quả tài chính, (4)vai trò điểu tiết của ILOC trong một số MQH giữa đặc điểm NQT cấp cao và hành

vi sử dụng thông tin MAS

Nghiên cứu hành vi sử dụng thông tin MAS của NQT cấp cao trong DN sản xuất VN cần được thực hiện vì :

Trang 8

Thứ nhất, VN là quốc gia với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ

nghĩa nên có nhiều đặc điểm riêng biệt VN cũng có một nền văn hóa đa dạng vì cólịch sử lâu dài về các ảnh hưởng nước ngoài (Trung Quốc, Pháp và Hoa Kỳ) trêncác lĩnh vực khác nhau (Hoang, 2008; Nishimura, 2005; Yamazawa, 2011) Do đó,hành vi sử dụng thông tin MAS của NQT cấp cao tại VN sẽ có những nét đặc trưng

riêng biệt Trong số các đặc điểm NQT cấp cao (tuổi, nền tảng học vấn, tâm lý xu hướng chấp nhận rủi ro quản trị và ILOC), và chiến lược (lựa chọn chiến lược

thăm dò) được xem xét vì (1) các nhân tố đã nêu tác động đến hành vi sử dụngthông tin MAS ít được nghiên cứu và (2) ở VN, sẽ có ảnh hưởng khác biệt so vớinhững nền kinh tế ở các nước khác đối với các nhân tố đã nêu

Thứ hai, các DN sản xuất VN cần hiểu được: (1) tác động của đặc điểm NQT

cấp cao và chiến lược thăm dò đến hành vi sử dụng thông tin MAS có thể giúp NQTcấp cao sử dụng thông tin này hiệu quả hơn trong khi đưa ra quyết định, từ đó cóthể cải thiện hiệu quả tài chính của tổ chức và (2) việc hiểu rõ được các MQH giữatuổi, nền tảng học vấn, tâm lý xu hướng chấp nhận rủi ro quản trị, ILOC, lựa chọnchiến lược thăm dò, hành vi sử dụng thông tin MAS và hiệu quả tài chính của tổchức sẽ giúp họ thiết kế được MAS phù hợp

Thứ ba, trong Sách trắng DN 2020 số lượng và đóng góp vào GDP của các

DN sản xuất là đáng kể (chiếm 22% GDP cả nước) và được cho là có vai trò quantrọng và dẫn dắt nền kinh tế (Bộ Kế hoạch và đầu tư, 2020, trang 19) Cho nên, việcnghiên cứu loại hình DN này sẽ giúp phát triển nền kinh tế chung của đất nước

Thứ tư, hiện nay, việc vận dụng MA trong DN sản xuất tại VN vẫn còn

nhiều hạn chế Hệ thống kế toán vẫn còn mang tính hỗn hợp giữa FA và MA, gâykhó khăn trong quá trình vận dụng MA một cách khoa học và hợp lý đối với DN,cũng như NQT cấp cao chưa nhận thức được tầm quan trọng của thông tin MAtrong quá trình ra quyết định (Ngô, 2019) Trong DN sản xuất, sự tham gia củaNQT cấp cao trong quá trình lựa chọn chiến lược cũng như thiết kế, xây dựng và

sử dụng thông tin từ MAS có vai trò quan trọng đối với sự thành công của mỗi DN(Nguyen, 2018) Mặt khác, hành vi lựa chọn chiến lược và sử dụng thông tin MAS

Trang 9

bị ảnh hưởng bởi chính những đặc điểm của NQT cấp cao Do đó, việc nghiên cứu các đặc điểm NQT cấp cao ảnh hưởng đến hành vi lựa chọn chiến lược thăm dò và

sử dụng thông tin MAS trong các DN sản xuất tại VN là đáng được quan tâm Việcphân tích, chọn đề tài được nhận diện qua:

• Hành vi lựa chọn chiến lược thăm dò, sử dụng thông tin MAS để thực hiệnchiến lược đã chọn có vai trò lớn và tác động mạnh mẽ đến hiệu quả tài chính của tổchức, do đó cần nghiên cứu hành vi lựa chọn chiến lược và sử dụng thông tin MAS củaNQT cấp cao

• Sự đa dạng về các đặc điểm NQT cấp cao là nhân tố tiền đề tác động đến hành

vi lựa chọn chiến lược thăm dò và sử dụng thông tin MAS, do đó việc nghiên

cứu các đặc điểm của họ là cần thiết Vì vậy, cần phải nhận dạng và đo lườngcác đặc điểm của NQT cấp cao ảnh hưởng đến hành vi lựa chọn chiến lượcthăm dò và sử dụng thông tin MAS trong DN sản xuất

• Vai trò của NQT cấp cao khi có hành vi lựa chọn chiến lược và sử dụng thôngtin MAS hết sức quan trọng, nên xem xét về hành vi lựa chọn chiến lược thăm dò và sửdụng thông tin MAS trên góc độ NQT cấp cao cần được quan tâm hơn (CEO, Tổng giámđốc và Giám đốc)

• Hiện tại, ít có nghiên cứu về hành vi lựa chọn chiến lược thăm dò và sử dụngthông tin MAS bởi NQT cấp cao trong các DN sản xuất VN nên thực hiện đề tài này làhợp xu thế và kịp thời

2 Mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu:

Đặc điểm NQT cấp cao tác động đến hành vi lựa chọn chiến lược thăm dò,

sử dụng thông tin MAS và hiệu quả tài chính của tổ chức Đặc điểm NQT cấp cao gồm hai nhóm: nhân khẩu học (tuổi và nền tảng học vấn) và tâm lý (xu hướng chấp nhận rủi ro quản trị) được chọn trong nghiên cứu này MAS được xem xét thông qua hành vi sử dụng thông tin của NQT cấp cao Hiệu quả tài chính là biến phụ thuộc chịu tác động bởi: (1 các đặc điểm NQT cấp cao, (2) hành vi lựa chọn chiến lược thăm dò và (3) hành vi sử dụng thông tin MAS Nổi bật, đặc điểm tâm

Trang 10

lý ILOC được lựa chọn là biến điều tiết trong mô hình và nó được xem xét vai trò

điểu tiết trong MQH giữa đặc điểm NQT cấp cao và hành vi sử dụng thông tin

MAS.

Hành vi lựa chọn chiến lược thăm dò và sử dụng thông tin MAS được xem xét

ở cấp độ NQT cấp cao bởi chính họ mới có tầm ảnh hưởng mạnh mẽ đến chiến lượcđược lựa chọn, hành vi sử dụng thông tin MAS Từ đó, có những ảnh hưởng mạnh mẽđến hiệu quả tài chính của tổ chức Nói như vậy, không có nghĩa là những NQT

ở cấp thấp hơn không có vai trò hoạch định chiến lược hoặc thông tin MAS đối với họkhông góp phần tạo ra hiệu quả tài chính của tổ chức Tuy nhiên, chính NQT cấp

cao sẽ gần như quyết định được chiến lược được chọn và đủ khả năng tác động, ảnhhưởng cũng như khuyến khích toàn bộ các NQT cấp thấp hơn và toàn bộ nhân viêntrong tổ chức hướng đến đạt được sự thành công của chiến lược được chọn Vàcũng chính họ sẽ sử dụng thông tin MAS để giám sát và hoạch định dài hạn thựchiện chiến lược đã được chính họ đồng ý lựa chọn Từ đó sẽ tác động mạnh đếnhiệu quả tài chính của tổ chức Do đó, luận án được đặt trong góc nhìn của NQT cấpcao

Mục tiêu cụ thể:

RO1: Xác định các đặc điểm NQT cấp cao (nhân khẩu học và tâm lý) tác động đến:

(1) hành vi lựa chọn chiến lược thăm dò, (2) sử dụng thông tin MAS và (3) hiệu quảtài chính trong các DN sản xuất VN

RO2: Đo lường mức độ tác động của các đặc điểm NQT cấp cao đến: (1) hành vi

lựa chọn chiến lược thăm dò, (2) sử dụng thông tin MAS và (3) hiệu quả tài chínhtrong DN sản xuất VN

RO3: Đo lường mức độ tác động của hành vi lựa chọn chiến lược thăm dò và sử

dụng thông tin MAS đến hiệu quả tài chính trong DN sản xuất tại VN

RO4: Xác định vai trò điều tiết của ILOC trong MQH giữa đặc điểm NQT cấp cao

và hành vi sử dụng thông tin MAS

RO5: Đo lường tác động điều tiết của ILOC trong MQH giữa đặc điểm NQT cấp

cao và hành vi sử dụng thông tin MAS

Trang 11

Câu hỏi nghiên cứu:

RQ1: Những đặc điểm nào của NQT cấp cao tác động đến hành vi lựa chọn chiến

lược thăm dò, cũng như tác động đến hành vi sử dụng thông tin MAS và hiệu quảtài chính trong các DN sản xuất VN?

RQ2: Trong những đặc điểm NQT cấp cao được lựa chọn và xác định thì những đặc

điểm đó tác động đến hành vi lựa chọn chiến lược thăm dò, hành vi sử dụng thôngtin MAS và hiệu quả tài chính như thế nào?

RQ3: Lựa chọn chiến lược thăm dò tác động đến hành vi sử dụng thông tin MAS và

hiệu quả tài chính, cũng như tác động của hành vi sử dụng thông tin MAS đến hiệuquả tài chính là như thế nào?

RQ4: Vai trò của ILOC trong MQH giữa đặc điểm NQT cấp cao và hành vi sử dụng thông tin MAS là như thế nào?

RQ5: Mức độ điều tiết của ILOC trong MQH giữa đặc điểm NQT cấp cao và hành

vi sử dụng thông tin MAS như thế nào?

3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: là các đặc điểm của NQT cấp cao, chiến lược thăm

dò, hành vi sử dụng thông tin MAS, hiệu quả tài chính, ILOC và các tác động lẫnnhau giữa chúng Trong đó, hành vi sử dụng thông tin MAS là nhân tố nghiên cứuchính trong luận án Mà hành vi sử dụng thông tin MAS bị ảnh hưởng bởi nhữngđặc điểm của NQT cấp cao và chiến lược thăm dò Đối tượng khảo sát là CEO,Tổng giám đốc và Giám đốc trong các DN sản xuất VN (người lựa chọn chiến lượcthăm dò để tổ chức theo đuổi và thực hiện, người sử dụng thông tin MAS để chỉ đạothực hiện chiến lược thăm dò đã chọn, và cũng là người hoạch định, kiểm soát và cónhững điều chỉnh hành động để chiến lược hướng tới đạt hiệu quả tài chính cao cho

tổ chức) Vì vậy, đối tượng khảo sát là CEO, Tổng giám đốc và Giám đốc (chính làNQT cấp cao) của DN sản xuất có tổ chức và thiết kế MAS

Phạm vi nghiên cứu:

+ Không gian: Phạm vi khảo sát chủ yếu trên địa bàn tập trung nhiều DN sản

xuất ở miền nam, miền trung và miền bắc VN và chỉ khảo sát các cá nhân là CEO,

Trang 12

Tổng giám đốc và giám đốc trong các DN sản xuất VN (quy mô vừa và lớn) vì các

DN này có nhu cầu cao, đủ nguồn lực để MAS được xây dựng

+ Thời gian thực hiện: từ 1/2018 đến 12/2020.

4 Phương pháp nghiên cứu

Sử dụng khung nghiên cứu thực nghiệm vì với dữ liệu thực nghiệm thì phùhợp trong quá trình xây dựng và kiểm định mô hình được đề xuất PPNC hỗn hợp

sử dụng cả hai phương pháp PPNC định tính và định lượng một cách linh hoạt đểthiết kế và kiểm định lý thuyết khoa học. PPNC hỗn hợp là phương pháp mà việc

vận dụng cả hai phương pháp nêu trên với trật tự linh hoạt để thiết kế và kiểm định

lý thuyết khoa học (Nguyễn Đình Thọ, 2013) Ở khía cạnh này, khi các giả thuyết

đề xuất khá nhiều thì PPNC định lượng là phù hợp Tuy nhiên, một số khái niệmcòn mới ở VN (như biến MAS), vì vậy cần đánh giá và xây dựng các khái niệm nàylại tại VN Với đặc điểm này, PPNC định tính là thích hợp PPNC định tính đượcvận dụng để nghiên cứu tài liệu làm căn cứ xác định khoảng trống nghiên cứu, hệthống hóa cơ sở lý thuyết nhằm xây dựng mô hình nghiên cứu một cách khoa họccũng như điều chỉnh các thang đo cho phù hợp với môi trường và đặc điểm DN sảnxuất tại VN Cụ thể hơn, việc nghiên cứu tài liệu nhằm xác định khoảng trống trong

MQH giữa: Đặc điểm NQT cấp cao (Tuổi, nền tảng học vấn, xu hướng chấp nhận

rủi ro quản trị) – Chiến lược (Chiến lược thăm dò) – hành vi sử dụng thông tin

MAS – hiệu quả tài chính và vai trò điều tiết của ILOC trong MQH giữa đặc điểm

NQT cấp cao (Tuổi, nền tảng học vấn, xu hướng chấp nhận rủi ro quản trị) – hành

vi sử dụng thông tin MAS Cũng như biện luận và lý giải việc vận dụng UET là lý

thuyết nền tảng để xây dựng mô hình nghiên cứu Và việc điều chỉnh thang đo đượcthực hiện thông qua phỏng vấn nhóm Đối với PPNC định lượng được dùng đểkiểm định các giả thuyết đề xuất nhằm trả lời cho các câu hỏi đặt ra ban đầu củanghiên cứu này

5 Đóng góp mới của Luận án

Về mặt lý thuyết:

- Xây dựng được mô hình các đặc điểm NQT cấp cao tác động đến hành vi lựa

Trang 13

chọn chiến lược thăm dò, sử dụng thông tin MAS và hiệu quả tài chính của tổ chức.Đây là một sự kết hợp giữa: đặc điểm con người/ kế toán (MAS)/ Marketing (chiếnlược thăm dò).

- Đặc điểm của NQT cấp cao sẽ tác động đến nhận thức và hành vi của họ

Do đó, những đặc điểm của chính những NQT cấp cao ảnh hưởng mạnh mẽ đến hành vi lựa chọn chiến lược và sử dụng thông tin MAS khi ra quyết định

- Làm rõ vai trò của các đặc điểm NQT cấp cao ảnh hưởng đến hành vi sửdụng thông tin MAS để thực hiện chiến lược thăm dò được họ lựa chọn, tương tác giữachúng đến hiệu quả tài chính trong DN sản xuất VN

- Kết quả thực nghiệm về hành vi sử dụng thông tin MAS để thực hiện chiếnlược với đối tượng khảo sát là NQT cấp cao, trong khi trước đây nhiều nghiên cứu vềhành vi sử dụng thông tin MAS ít quan tâm đến đối tượng này tại VN

- Mô hình được xây dựng thông qua sử dụng UET Một lý thuyết nền ít đượcchú ý thuộc lĩnh vực kế toán tại VN

- Khi NQT cấp cao ra quyết định thì tâm lý (ILOC) của NQT cấp cao đóng vaitrò quan trọng đối với hành vi sử dụng thông tin MAS

Về đóng góp thực tiễn, khi lựa chọn và thực hiện chiến lược, thông tin MAS

sẽ giúp NQT cấp cao có được những hiểu biết thích hợp Do đó, kết quả này chỉ ramột sự kết hợp hoàn hảo giữa đặc điểm NQT cấp cao/chiến lược/ MAS có thể nângcao hiệu quả tài chính của tổ chức, cũng như giúp DN sản xuất VN đang và sẽ thiết

kế một MAS phù hợp với đặc điểm của NQT cấp cao tại DN, cũng như giúp điềuchỉnh lại MAS phù hợp với đặc điểm của NQT cấp cao và đặc điểm chiến lượctrong tổ chức

6 Kết cấu luận án

Cấu trúc trình bày của luận án như sau:

Đầu tiên, là phần mở đầu Tiếp theo, là nội dung chính gồm:

Chương 1: Tổng quan các công trình nghiên cứu: Chương này sẽ tổng quan

các công trình trong và ngoài nước liên quan đến đề tài, từ đó xác định khoảngtrống

Trang 14

Chương 2: Cơ sở lý thuyết: Trình bày UET được sử dụng trong luận án Lập

luận việc sử dụng lý thuyết nền này, từ đó phát triển giả thuyết và xây dựng môhình

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu: Trình bày khung, chiến lược, phương

pháp luận và PPNC sử dụng, xây dựng thang đo, trình bày thiết kế; phương phápthu thập và phân tích dữ liệu, trình bày kết quả sơ bộ

Chương 4: Kết quả nghiên cứu: Trình bày các kết quả nghiên cứu chính của

luận án

Chương 5: Kết luận và hàm ý: Chương này sẽ tổng hợp các khám phá có ý

nghĩa, hạn chế và đề xuất các hướng nghiên cứu tiếp theo

Cuối cùng, là các công trình có liên quan đến đề tài của tác giả đã được công

bố và các phụ lục liên quan

Trang 15

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu nước ngoài.

Ở chương này, tác giả tổng quan các công trình theo các lý thuyết nền liên quanđến MAS; đặc điểm NQT cấp cao Sau đó, theo các biến trong mô hình (như chiếnlược thăm dò, hiệu quả tài chính và ILOC) Đã có nhiều nghiên cứu về MAS nóiriêng, hệ thống kiểm soát và quản trị nói chung dựa trên các góc nhìn khác nhau.Trong số đó, hai góc nhìn chính là từ lý thuyết bất định và UET sẽ được tác giả trìnhbày trong chương này Ngoài ra, tác giả cũng trình bày một số góc nhìn khác có liên

quan để xác định khoảng trống có căn cứ, đầy đủ và khoa học (Xem Phụ lục 1).

1.1.1 Đặc điểm của nhà quản trị cấp cao liên quan đến hệ thống kế toán quản trị.

1.1.1.1 Các nghiên cứu về đặc điểm bên trong, bên ngoài tổ chức và hệ thống kế toán quản trị dựa trên lý thuyết bất định.

Việc nhà quản trị sử dụng thông tin MAS dựa trên nền tảng lý thuyết bất định

đã được thực hiện từ lâu (Chenhall & Morris, 1986) Luận án này đang xem xétMAS trên cả bốn khía cạnh, cho nên phần tổng quan trong luận án sẽ có các đặcđiểm trên

Ban đầu, việc xem xét MAS trên các khía cạnh khác nhau, như thiết kế MAS,

sự hữu ích của thông tin MAS, hành vi sử dụng thông tin MAS của NQT Liên

quan đến thiết kế MAS, các học giả cho rằng các nhân tố thuộc về bối cảnh bênngoài như nhận thức môi trường không ổn định (PEU), Đơn vị kinh doanh chiếnlược (SBU), Phân quyền trong tổ chức (DEC), cơ cấu tổ chức (Chong & Chong,1997; Naranjo-Gil & Rinsum, 2006; Ajibolade & Cộng sự, 2010) có tác động đếnviệc thiết kế MAS Ngoài ra, các nhân tố liên quan đến nhận thức về sự hữu ích củaMAS cũng đã được quan tâm (Chenhall & Morris, 1986; Mia & Goyal, 1991;Soobaroyen & Poorundersing, 2008) Bên cạnh đó, hành vi sử dụng thông tin MAScũng bị ảnh hưởng bởi đặc điểm tôn giáo của NQT (Rasid & Cộng sự, 2011) hoặc

Trang 16

bị ảnh hưởng bởi nhận thức về hành vi không ổn định của môi trường (Agbejule,2005) Các nghiên cứu trên đều quan tâm đến MAS trên cả bốn khía cạnh và đa số ởcác nước phát triển, như Úc (Chenhall & Morris, 1986; Chong & Chong, 1997);New Zeland (Mia & Goyal, 1991), hoặc Tây Ban Nha (Naranjo-Gil & Rinsum,2006) và Phần Lan (Agbejule, 2005) Ngược lại, tại các nước đang phát triển thì kháhạn chế (Bangchokdee & Cộng sự, 2011; Vo & Nguyen, 2020a).

Nhiều nghiên cứu đã xem xét nhiều nhân tố thuộc các bối cảnh khác nhau tác

động đến hành vi sử dụng thông tin MAS như: nhiệm vụ không ổn định, tầm hạn

kiểm soát (Span of control) (Mia & Goyal, 1991; Soobaroyen & Poorundersing,2008), nhận thức môi trường không ổn định (Agbejule, 2005), chiến lược(Bangchokdee, 2011; Chong & Chong, 1997; Bouwens & Abernethy, 2000;Heidmann & Cộng sự, 2008), cơ cấu phân quyền trong tổ chức (Chia, 1995;Soobaroyen & Poorundersing, 2008), vòng đời sản phẩm (Bangchokdee, 2011),phong cách lãnh đạo và hình thức sở hữu (Naranjo-Gil & Rinsum, 2006), tôn giáocủa NQT (Rasid & Cộng sự, 2011), vốn tri thức của NQT (Novas, Sousa & Alves,2012), thị trường cạnh tranh (Ghasemi và cộng sự, 2016), áp dụng hệ thống sản xuấttích hợp (Ismail và cộng sự, 2018); sự hiệu quả của các trung tâm trách nhiệm(Drobyazko và cộng sự, 2019)

Như vậy, từ các nội dung trên cho thấy rằng, các nghiên cứu về MAS đãquan tâm đến các nhân tố khác nhau cả trong và ngoài tổ chức Nhiều nghiên cứu đãquan tâm đến hành vi sử dụng thông tin MAS của NQT nhưng đã bỏ quên các đặcđiểm của chính NQT cấp cao có ảnh hưởng đến hành vi nói chung, hành vi sử dụngthông tin được cung cấp bởi MAS (Vo & Nguyen, 2020a; 2020b) Theo Hambrick

& Mason (1984) thì hành vi của NQT cấp cao bị ảnh hưởng bởi chính các đặc điểm của

họ như: nhân khẩu học (ví dụ: tuổi, nền tảng học vấn, kinh nghiệm, nhiệm kỳ,…) hoặctâm lý Do đó, cách tiếp cận dựa vào UET của Hambrick & Mason (1984) đề xướng cònnhiều khoảng trống và nên được sử dụng để xem xét các nhân

tố thuộc đặc điểm NQT cấp cao ảnh hưởng đến hành vi sử dụng thông tin MAS.Tuy nhiên, hiện tại ở VN vẫn chưa được quan tâm nhiều (Vo & Nguyen, 2020a;

Trang 17

2020b; Nguyen & cộng sự, 2014; Nguyen & Cộng sự, 2017; Nguyen, 2018).

1.1.1.2 Các nghiên cứu về đặc điểm của nhà quản trị cấp cao và hệ thống kế toán quản trị dựa trên lý thuyết cấp bậc quản trị cao.

Gần đây trong lĩnh vực MA đã bắt đầu dựa vào UET để tìm hiểu MQH giữa các

đặc điểm của NQT cấp cao và MAS cũng như các MCS (Hiebl, 2014; 2017; Zor &

cộng sự, 2018) Một MAS nói riêng và MCS nói chung được xem là kết quả đầu ra

của một tổ chức hoặc được xem như một khía cạnh thuộc về cơ cấu tổ chức – nó thể

hiện một hệ thống hành chính phức tạp (Chenhall, 2003; Strauß & Zecher, 2013;

Chenhall & Morris, 1986) Và theo lý thuyết cấp bậc quản trị cao (UET - Upper Echelons Theory) thì MAS được kỳ vọng là bị ảnh hưởng bởi đặc điểm NQT cấp

cao Sau đây, tác giả xin nêu ra một số nghiên cứu tiêu biểu đã sử dụng UET tronglĩnh vực kế toán nói chung và MA nói riêng

1.1.1.2.1 Các nghiên cứu về đặc điểm nhân khẩu học của nhà quản trị cấp cao và hệ thống kế toán quản trị.

Trong mảng MA, đối tượng NQT cấp cao được nghiên cứu khi dựa trên UETrất đa dạng Trong đó, một số nghiên cứu khảo sát tác động của đặc điểm nhóm

NQT cấp cao (Naranjo-Gil & Hartmann, 2006, 2007b; Lester & Cộng sự, 2006;

Kyj & Parker, 2008; Speckbacher & Wentges, 2012; Lee & Cộng sự, 2013; Naranjo-Gil, 2015) Một số nghiên cứu nổi bật xem xét đặc điểm của cá nhân NQT

cấp cao (gồm CEO và/hoặc CFO) tới MCS hoặc MAS (Naranjo-Gil & Hartmann,

2007a; Naranjo-Gil & Cộng sự, 2009; Pavlatos, 2012; Abernethy & Cộng sự, 2010; Burkert & Lueg, 2013; Laitinen, 2014; Hiebl & Cộng sự, 2017; Zor & Cộng

sự, 2018; Kalkhouran & Cộng sự, 2015; Kalkhouran & Cộng sự, 2017; Ojeka & Cộng sự, 2019) và một số bài báo đã khảo sát đặc điểm của đồng thời hai NQT cấp

cao (CEO, CFO) và toàn bộ nhóm NQT cấp cao cũng như đặc điểm của giám đốc

công nghệ thông tin (Lee & Cộng sự, 2013) và khảo sát đồng thời hai NQT cấp cao (CEO, CFO) và Giám đốc Marketing (Pavlatos & Kostakis, 2018) Đặc biệt, mặc dù

sử dụng UET nhưng có hai bài báo nổi bật đã xem xét đặc điểm kiến thức và phongcách lãnh đạo của NQT cấp cao lẫn cấp trung tác động đến hệ thống kiểm soát và kế

Trang 18

toán quản trị (Hartmann & Cộng sự, 2010; Elbashir & Cộng sự 2011), mặc dù

NQT cấp trung không thỏa mãn điều kiện do Hambrick & Mason (1984) đề ra Một

điều thú vị, cả năm bài báo của các đồng tác giả (Naranjo-Gil & Hartmann 2006,

2007a,b; Naranjo-Gil & Cộng sự, 2009; Naranjo-Gil, 2015) có mẫu đều khảo sát

tại các bệnh viện ở Tây Ban Nha

Một số nghiên cứu đã điều tra MQH giữa các đặc điểm của nhóm NQT cấpcao và hệ thống kế toán và kiểm soát quản trị Mặc dù không đề cập rõ ràng đếnUET, Speckbacher và Wentges (2012) đã nói lên một đặc điểm trong nhóm NQTcấp cao, đó là đặc điểm thành viên gia đình trong nhóm này Họ đưa ra bằng chứngrằng, hệ thống đo lường hiệu quả trong việc thiết lập chiến lược mục tiêu và khenthưởng bị ảnh hưởng bởi số thành viên gia đình trong nhóm NQT cấp cao và bị điềutiết bởi quy mô tổ chức Speckbacher và Wentges (2012) cho rằng kết quả này là docác thành viên trong gia đình có thể dựa nhiều hơn vào mạng xã hội, hiểu biết ngầm

và các phương thức kiểm soát quản trị không chính thức, và ngược lại Kyj vàParker (2008) đã chỉ ra rằng NQT cấp cao khuyến khích nhân viên cấp dưới thamgia lập dự toán vì mục tiêu dự toán được sử dụng trong đánh giá hiệu quả của cấpdưới Hơn nữa, họ cho thấy rằng sự khuyến khích của các nhà quản trị cấp cao cũngdẫn đến sự tham gia của các cấp dưới nhiều hơn trong quá trình lập dự toán Trongmột nghiên cứu khác sử dụng mẫu bệnh viện Tây Ban Nha, Naranjo-Gil vàHartmann (2006) chỉ ra các nhóm NQT cấp cao có nhiều thành viên định hướnghành chính (trái ngược nền tảng học vấn kỹ thuật như ví dụ: học vấn về y học…) thìviệc sử dụng thông tin kế toán theo phương pháp chẩn đoán nhiều hơn (trái ngượcvới sử dụng tương tác) và dựa nhiều vào tài chính hơn là thông tin phi tài chính.Lester & Cộng sự (2006) cho thấy đặc điểm uy tín của nhóm NQT cấp cao và môitrường không ổn định ảnh hưởng đến giá trị đầu tư của các công ty IPO Trong mộtphân tích về tính không đồng nhất của nhóm NQT cấp cao (về độ tuổi, nhiệm kỳ,kinh nghiệm và giáo dục), Naranjo-Gil và Hartmann (2007b) đã đưa ra bằng chứngcho thấy MAS (thông tin phạm vi rộng và phong cách sử dụng MAS tương tác) làbiến trung gian giữa tính đồng nhất của nhóm NQT cấp cao và thay đổi chiến lược

Trang 19

Cụ thể, tính đồng nhất của nhóm NQT cấp cao có tác động tích cực trực tiếp đếnthay đổi chiến lược và thông tin MAS Elbashir & Cộng sự (2011) đưa ra bằngchứng cho thấy khả năng tiếp thu của nhóm NQT cấp cao (nghĩa là khả năng tạo rakiến thức mới) có tác động tích cực đến sử dụng cơ sở hạ tầng IT và khả năng đồnghóa hệ thống kinh doanh thông minh Cuối cùng, Naranjo-Gil (2015) cho thấy vaitrò điều tiết sự đa dạng của nhóm NQT cấp cao trong MQH giữa thay đổi chiến lược

và hiệu suất ngắn hạn của tổ chức

Mặc dù các hệ thống kế toán và kiểm soát quản trị thường rơi vào khu vựctrách nhiệm chính của CFO, các CEO cũng ảnh hưởng đến việc thiết kế và sử dụngcác hệ thống đó (Heibl, 2014) Do đó, các đặc điểm của CEO có thể được dự kiến sẽtác động đến các thiết kế, sử dụng hệ thống kiểm soát và kế toán quản trị khi chiếnlược được triển khai để hướng tới đạt được các mục tiêu ngắn và dài hạn Tuynhiên, các nghiên cứu về MQH giữa các đặc điểm của CEO và các hệ thống kiểmsoát & kế toán quản trị lại đưa ra kết quả đối nghịch Đối với mẫu gồm các CEO củacác bệnh viện Tây Ban Nha, Naranjo-Gil và Hartmann (2007a) nhận thấy rằng đặcđiểm nhân khẩu học của CEO (về giáo dục và kinh nghiệm) có ảnh hưởng đáng kểđến thiết kế hệ thống kiểm soát và MAS Trong đó, các CEO có nền tảng học vấn vềhành chính (nền tảng học vấn định hướng kinh doanh) chủ yếu liên quan đến hành

vi sử dụng thông tin tài chính một cách tích cực Đối với các bệnh viện có CEO nềntảng về y học (nền tảng học vấn định hướng y khoa) tác động đến hành vi sử dụngthông tin phi tài chính một cách tích cực Ngược lại, Burkert và Lueg (2013) khôngtìm thấy tác động đáng kể của các đặc điểm CEO đối với các hệ thống quản trịmang tính phức tạp cao trong các công ty niêm yết của Đức Bên cạnh đó, Zor &Cộng sự (2018) cho rằng đặc điểm tuổi và nền tảng học vấn của CEO không có tácđộng đến việc lập và sử dụng hệ thống dự toán trong các công ty nhỏ và vừa ở ThổNhĩ Kỳ nhưng nhiệm kỳ của CEO lại có tác động tích cực Trong mảng kế toánquản trị chiến lược, UET đã được sử dụng nhiều, Kalkhouran & Cộng sự (2017) chorằng nền tảng học vấn của CEO có tác động đến sử dụng kế toán quản trị chiến lược

và góp phần nâng cao hiệu quả tài chính Cùng quan điểm đó,

Trang 20

Pavlatos & Kostakis (2018) cho rằng đặc điểm nền tảng học vấn, nhiệm kỳ và sựsáng tạo của CEO, CFO, CMO có ảnh hưởng đến việc sử dụng kế toán quản trịchiến lược Bên cạnh đặc điểm của nhân khẩu học, Abernethy & Cộng sự (2010) đãđưa ra bằng chứng rằng phong cách lãnh đạo của CEO cũng tác động đến việc thiết

kế và sử dụng các hệ thống kiểm soát trong DN

Đối với MQH giữa các đặc điểm CFO và hệ thống kế toán, hệ thống kiểmsoát quản trị, kết quả vẫn có những mâu thuẫn Naranjo-Gil và Cộng sự (2009) đãchỉ ra rằng các CFO trẻ hơn và nhiệm kỳ ngắn hơn cũng như có giáo dục địnhhướng kinh doanh có MQH tích cực đến việc sử dụng các công cụ MA hiện đại nhưBSC, ABC (hệ thống đo lường tài chính) và hệ thống đo lường phi tài chính Cùngphát hiện của Naranjo-Gil & Cộng sự (2009), Pavlatos (2012) đã cho thấy cáckhách sạn Hy Lạp có CFO và CFO trẻ hơn cùng với nền tảng giáo dục định hướngkinh doanh thể hiện hành vi sử dụng thông tin từ các CMS nhiều hơn Tuy nhiên,trái ngược với những phát hiện của Naranjo-Gil & Cộng sự (2009), Pavlatos (2012)cho thấy nhiệm kỳ, tuổi của CFO không mang lại kết quả đáng kể trong việc sửdụng CMS Hoặc CFO với nền tảng học vấn thấp hơn (ví dụ cao đẳng thấp hơn đạihọc), CFO được thuê từ bên ngoài sẽ tác động mạnh mẽ đến chấp nhận áp dụng hệthống hoạch định nguồn lực DN (Hiebl & Cộng sự, 2017) Một góc nhìn khác củaMCS, khi thiết kế hệ thống quản trị rủi ro, đã cho thấy vai trò của CFO (Quyền lực,Kinh nghiệm, Kiến thức) tác động tích cực đến thiết kế và sử dụng hệ thống nàynhưng ở mức độ thấp (Ojeka & Cộng sự, 2019)

Như vậy, các nội dung ở trên đã tổng quan các đặc điểm nhân khẩu học của

nhóm NQT cấp cao, CEO, CFO tác động đến các hệ thống kế toán và hệ thốngkiểm soát quản trị Tuy nhiên, các đặc điểm nhân khẩu học như tuổi, nền tảng họcvấn tác động đến hành vi sử dụng thông tin MAS vẫn chưa được quan tâm

1.1.1.2.2 Các nghiên cứu về đặc điểm tâm lý của nhà quản trị cấp cao trong lĩnh vực kế toán quản trị.

Hiện nay, việc dựa trên UET để xem xét tác động tâm lý của NQT cấp cao đếnhành vi sử dụng thông tin MAS vẫn còn khá hạn chế, mà việc xem xét các yếu tố

Trang 21

tâm lý chỉ mới được sử dụng nhiều ở mảng FA và kiểm toán (Plöckinger & Cộng

sự, 2016) Các đặc điểm tâm lý thường được xem xét trong mảng FA và kiểm toánbao gồm: tâm lý quá tự tin, tính cách ích kỷ, tâm lý ác cảm với rủi ro và chấp nhậnrủi ro

Hribar & Yang (2016) đã đưa ra kết quả cho thấy tâm lý quá tự tin của CEOtác động mạnh mẽ đến hoạt động quản trị lợi nhuận và dưới tác động của loại tâm lýnày, CEO có xu hướng đưa ra phạm vi dự báo hẹp (độ chi tiết cao) Ahmed &Duellman (2013) thì cho rằng CEO có tâm lý quá tự tin sử dụng thông tin kế toántheo chủ nghĩa bảo thủ (Accounting Conservatism): yêu cầu tiêu chuẩn khắt khe đểđược ghi nhận là một dự báo tốt ít hơn đáng kể so với các CEO có tâm lý tự tinthông thường, và điều này xảy ra khi cơ chế giám sát và kiểm soát trên mức trungbình Kết quả của Presley & Abbott (2013) đã chỉ ra MQH tích cực trong MQHgiữa tâm lý quá tự tin của CEO và tỷ lệ hồi tố báo cáo tài chính Cùng hướng này,Schrand & Zechman (2012) cho rằng đối với nhóm NQT cấp cao, tâm lý quá tự tintác động tích cực đến mức độ sai sót của các báo cáo tài chính Trong khi đó,Dyreng & Cộng sự (2010) cho rằng tâm lý quá tự tin của CEO không có ý nghĩathống kê đối với khả năng tránh thuế thu nhập DN của tổ chức Hsieh & Cộng sự(2014) đã nghiên cứu hai giai đoạn trước và sau khi đạo luật Sarbanes Oxley năm

2002 ban hành, và kết quả đã cho rằng trước khi Đạo luật Sarbanes Oxley năm 2002(SOX) áp dụng, CEO có tâm lý quá tự tin có nhiều khả năng quản trị lợi nhuận hơncác CEO khác thông qua việc đẩy nhanh dòng tiền từ hoạt động và sau khi áp dụngSOX, các CEO quá tự tin sẽ tăng thu nhập thông qua các khoản dồn tích bất thường.Một tính cách khác cũng có trong mỗi con người, đó là tính cách ích kỷ, Olsen &Cộng sự (2014) cho rằng tích cách ích kỷ của CEO và thu nhập trên mỗi cổ phiếu cóMQH tích cực, còn Ham & Cộng sự (2015) thì cho rằng tính cách ích kỷ CFO cótác động tích cực đến hành vi quản trị lợi nhuận của họ theo cơ sở dồn tích, và ôngcũng chứng minh rằng tính cách ích kỷ CEO và hành vi quản trị lợi nhuận không có

ý nghĩa Bên cạnh đó, Buchholz & Cộng sự (2019) cũng cho rằng tính cách ích kỷcủa CEO có tác động ngược chiều với chất lượng lợi nhuận của công ty có được và

Trang 22

tính cách ích kỷ của CEO cũng là nguyên nhân tiềm ẩn dẫn đến gian lận trong hoạtđộng quản trị của CEO (Rijsenbilt & Commandeur, 2013).

Trong lĩnh vực quản trị, quan tâm đến tâm lý chấp nhận rủi ro của NQT cấpcao đã được nhiều học giả quan tâm (Papadakis, 2006; Francioni & Cộng sự, 2015;Kraiczy & Cộng sự, 2015; Mendes & Cộng sự, 2019) Nổi bật trong số đó, Mendes

& Cộng sự (2019) đã xác định 28 đặc điểm tâm lý khác nhau tác động đến quy trình

ra quyết định và hành vi của NQT cấp cao; trong đó, đặc điểm tâm lý xu hướngchấp nhận rủi ro quản trị vẫn còn ít được quan tâm (Vo & Nguyen , 2020a) Một sốnghiên cứu tiêu biểu như của Papadakis (2006) đã xác định tâm lý chấp nhận rủi rocủa CEO là trung gian trong MQH tích cực của môi trường không thuận lợi, cơ cấu

tổ chức và quy trình ra quyết định chiến lược của CEO Francioni & Cộng sự(2015) thì cho rằng trong điều kiện hiệu quả hoạt động quá khứ thấp thì tính cáchchấp nhận rủi ro có tác động tích cực đến quyết định chiến lược toàn cầu của cáccông ty nhỏ và vừa; tâm lý với xu hướng chấp nhận rủi ro quản trị của CEO có tácđộng đến tính sáng tạo danh mục sản phẩm mới một cách tích cực (Kraiczy & Cộng

sự, 2015)

Trong khía cạnh kiểm toán tâm lý tránh né/ chấp nhận rủi ro cũng đang đượcquan tâm nhưng còn khá hạn chế (Plöckinger & Cộng sự, 2016) Nổi bật là nghiêncứu của Hurley & Cộng sự (2019) cho rằng tâm lý tránh né rủi ro càng cao cànglàm giảm nhu cầu của CEO về chất lượng kiểm toán và MQH ngược chiều này càngmạnh khi khả năng thua lỗ của DN càng cao Ngoài ra, Hrazdil & Cộng sự (2018)thì cho rằng tâm lý chấp nhận rủi ro của CEO tác động tích cực đến phí kiểm toán

và MQH này càng mạnh hơn khi quyền lực của CEO càng cao

Có thể thấy rằng, đặc điểm tâm lý xu hướng chấp nhận rủi ro quản trị đã đượcquan tâm nhiều trong mảng quản trị và kiểm toán Tuy nhiên, đặc điểm tâm lý nàyvẫn còn rất hạn chế trong nghiên cứu về hành vi lựa chọn chiến lược và sử dụngthông tin MAS

1.1.2 Các nghiên cứu về lựa chọn chiến lược của nhà quản trị cấp cao

Về đặc điểm NQT cấp cao tác động đến chiến lược Nổi bật, Naranjo-Gil &

Trang 23

Hartmann (2007b) đã chỉ ra tác động tích cực về tính đồng nhất của nhóm NQT cấpcao đến lựa chọn thay đổi chiến lược trong các bệnh viện Tây Ban Nha.Speckbacher & Wentges (2012) cho rằng thành viên gia đình trong nhóm NQT cấpcao sẽ có tác động tích cực đến hiệu quả trong việc thiết lập chiến lược mục tiêu của

tổ chức Naranjo-Gil & Hartmann (2007a) cho rằng nền tảng học vấn về y học củaCEO tác động tích cực và hỗ trợ thực hiện chiến lược linh hoạt trong tổ chức, ngượclại, CEO với nền tảng học vấn về kinh doanh, hành chính sẽ tác động tích cực đếnlựa chọn và thực hiện chiến lược dẫn đầu chi phí Papadakis, Francioni & Cộng sự(2015) cho rằng trong điều kiện hiệu quả hoạt động quá khứ thấp thì trình độ họcvấn, thái độ hướng tới rủi ro có tác động tích cực đến quy trình ra quyết định chiếnlược quốc tế của các NQT trong các công ty nhỏ và vừa tại Ý; ngược lại, tuổi lại cótác động tiêu cực đến quy trình ra quyết định chiến lược mang tính quốc tế của tổchức Nghiên cứu của Strandholm & Cộng sự (2004) đã chỉ ra khi CEO, CFO và cảNQT cấp trung trong tổ chức nhận thức tốt về môi trường biến động, đặc điểm vềquản trị (định hướng về chức năng quản trị, thời gian làm việc lâu trong ngành và

xu hướng càng chấp nhận rủi ro) có ảnh hưởng đến theo đuổi các chiến lược đãchọn tích cực, ngoài ra khi kết hợp lại (nhận thức thay đổi về môi trường- chiếnlược- đặc điểm quản trị) theo các khía cạnh hợp lý sẽ tạo ra hiệu quả tài chính cho tổchức cao hơn Goll & Cộng sự (2008) cho rằng những NQT cấp cao với nhiệm kỳngắn hơn, nền tảng học vấn cao hơn và trẻ hơn đặt trọng tâm vào chiến lược tạo sựkhác biệt so với chiến lược dẫn đầu về chi phí, và tác động này được điều tiết tíchcực khi các quy định điều tiết của chính phủ trong ngành hàng không bị bãi bỏ.Finkelstein & Hambrick (1990) cho rằng tác động của nhiệm kỳ nhóm NQT cấp caođến sự kiên định và thực hiện chiến lược đã chọn sẽ càng mạnh hơn khi các công tymáy tính có đặc điểm tùy quyền cao đối với nhóm NQT cấp cao Papadakis (2006)cho rằng tác động trực tiếp và tích cực của đặc điểm tâm lý (mong muốn đạt thànhcông trong công việc cao, thái độ chấp nhận rủi ro) và đặc điểm nhân khẩu học(nhiệm kỳ dài, nền tảng học vấn cao) đến quyết định chiến lược của các CEO tại HyLạp

Trang 24

Bên cạnh đó, một số nghiên cứu đã quan tâm về tác động của chiến lược đến MAS, MCS Như Naranjo-Gil & Cộng sự (2009) cho rằng CFO tại các bệnh viên

công Tây Ban Nha có độ tuổi nhỏ hơn, nhiệm kỳ ngắn hơn và nền tảng học vấnđịnh hướng kinh doanh thì có tác động trực tiếp đến hành vi sử dụng thông tin MASđổi mới (ABC, BSC, Benchmarking) một cách tích cực, chiến lược thăm dò cũngtrực tiếp và tích cực tác động đến sử dụng MAS đổi mới David Naranjo-Gil &Hartmann (2006) cho rằng nhóm NQT cấp cao hành chính sẽ sử dụng thông tinMAS (phong cách sử dụng tương tác, tài chính, thông tin phân bổ nguồn lực vàđánh giá hiệu quả) nhiều hơn so với NQT chuyên môn y học trong các bệnh việnTây Ban Nha Chong & Chong (1997) chỉ ra rằng chiến lược đơn vị kinh doanh vànhận thức môi trường không ổn định hỗ trợ trong việc thiết kế MAS và sử dụngthông tin MAS có vị trí ảnh hưởng đến hiệu quả của đơn vị kinh doanh chiến lượcmạnh mẽ Bouwens & Abernethy (2000) cho rằng MQH trực tiếp giữa tùy chỉnhsản phẩm theo nhu cầu và sử dụng thông tin MAS tác động yếu hơn MQH gián tiếpthông qua trung gian là sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các phòng ban

Dòng nghiên cứu về chiến lược đến hiệu quả tổ chức được nhiều học giả

quan tâm Trong đó, Naranjo-Gil (2015) thì cho rằng thay đổi chiến lược có tác

động tiêu cực đến hiệu quả ngắn hạn nhưng lại có kết quả tích cực về hiệu quả trongdài hạn Soltanizadeh & Cộng sự (2016) khi khảo sát các CFO và CRO tại Malaysiacho rằng thực hiện quản trị rủi ro DN có vai trò trung gian giữa chiến lược dẫn đầuchi phí và hiệu quả tổ chức nhưng không có vai trò trung gian giữa chiến lược khácbiệt và hiệu quả tổ chức Bangchokdee (2011) khi khảo sát 51 NQT tổng hợp ngànhcông nghiệp điện và 57 NQT tổng hợp ngành chế biến thức ăn tại Thái Lan đã chỉ

ra rằng NQT theo đuổi chiến lược tạo sự khác biệt và/hoặc sản xuất sản phẩm ở giaiđoạn đầu của vòng đời sản phẩm cần nhiều thông tin MAS ở phạm vi rộng, từ đótác động tích cực đến hiệu quả tài chính

Từ phần tổng quan trên, các nhóm nghiên cứu về chiến lược đã được thựchiện Tuy nhiên, các đặc điểm nhân khẩu học (tuổi, nền tảng học vấn) và đặc điểmtâm lý (xu hướng chấp nhận rủi ro quản trị) tác động đến hành vi lựa chọn chiến

Trang 25

lược thăm dò và sử dụng thông tin MAS chưa được quan tâm.

1.1.3 Các nghiên cứu liên quan đến mối quan hệ giữa đặc điểm nhà quản trị chiến lược – MAS - Hiệu quả tài chính.

-Dựa trên lý thuyết bất định, các nghiên cứu liên quan đến MQH giữa đặc điểm

điểm DN – Chiến lược - MAS – Hiệu quả tài chính của DN đã được nghiên cứu

nhiều Trong số đó, nhóm nghiên cứu về: Đặc điểm DN – Chiến lược - MAS – Hiệu quả tài chính nổi bật với nghiên cứu của Naranjo-Gil và Cộng sự (2009) đã

chỉ ra tác động tiêu cực của hiệu quả quá khứ thấp đến sử dụng MAS đổi mới(ABC, BSC, benchmarking) càng tăng khi vai trò điều tiết của CFO có độ tuổi nhỏhơn, ít nhiệm kỳ hơn và nền tảng học vấn định hướng kinh doanh Pavlatos & cộng

sự (2018) đã chỉ ra hiệu quả tài chính thấp trong quá khứ tác động tích cực đến hành

vi sử dụng thông tin kế toán quản trị chiến lược Hành vi sử dụng thông tin MAS cótác động trực tiếp và tích cực đến hiệu quả tổ chức (Naranjo-Gil & cộng sự, 2006),cũng như độ phức tạp trong thiết kế MAS càng cao càng có tác động nâng cao hiệu

quả tổ chức (Ajibolade & cộng sự, 2010) Bên cạnh đó, nhóm nghiên cứu về MQH

chiến lược – MAS –Hiệu quả tài chính thì nổi bật với nghiên cứu của

Bangchokdee (2011) đã khẳng định về việc chọn và theo đuổi chiến lược khác biệt

có tác động trực tiếp và tích cực đến hành vi sử dụng thông tin MAS ở phạm virộng, hiệu quả tổ chức

Dựa trên UET, các nghiên cứu về hiệu quả tài chính trong lĩnh vực MA khá hạn

chế (Hiebl, 2014; Vo & Nguyen, 2020a; 2020b) Về MQH đặc điểm NQT cấp cao – Hành vi sử dụng thông tin MA – Hiệu quả tài chính có nghiên cứu của

Kalkhouran và Cộng sự (2015, 2017) chỉ ra hành vi sử dụng thông tin kế toán quảntrị chiến lược có vai trò trung gian trong MQH giữa đặc điểm nhân khẩu học của

CEO và hiệu quả tổ chức Bên cạnh đó, MQH giữa đặc điểm NQT cấp cao – Chiến lược- Hiệu quả tài chính nổi bật nghiên cứu của Strandholm và cộng sự

(2004) đã nghiên cứu về tâm lý chấp nhận rủi ro của CEO, CFO không có tác độngtrực tiếp đến hiệu quả tài chính của DN nhưng lại có ý nghĩa khi tác động qua trunggian là nhân tố chiến lược của doanh nghiệp và khi sự kết hợp của đặc điểm NQT

Trang 26

cấp cao – Chiến lược một cách phù hợp sẽ làm tăng hiệu quả tài chính của tổ chức.Đặc điểm tâm lý (gồm cảm xúc ổn định, dễ chịu, hướng ngoại, sẵn sàng cởi mở)không tác động trực tiếp đến hiệu quả tài chính nhưng thông qua trung gian là chiếnlược linh hoạt, đồng thời chiến lược linh hoạt cũng có tác động trực tiếp và tích cựcđến hiệu quả tài chính của DN (Nadkarni & cộng sự, 2010) Đặc điểm công việcquản trị của CEO có tác động trực tiếp đến hiệu quả tài chính và cũng thông quatrung gian là hành vi sử dụng thông tin từ hệ thống quản trị (Laitinen, 2014) Đặcđiểm CFO (gồm: kinh nghiệm, nền tảng học vấn, giới tính, nhiệm kỳ) có tác độngtrực tiếp đến hiệu quả tổ chức và tác động thông qua trung gian là hệ thống quản trịrủi ro DN, nhưng mức tác động ở mức thấp (Ojeka & Cộng sự, 2019) Tốc độ tăngdoanh thu của ngành điều tiết cùng chiều trong MQH tích cực giữa sự thay đổi nhân

sự của nhóm NQT cấp cao và hiệu quả tổ chức Theo Crossland & Chen (2013) thìhiệu quả tổ chức kém tác động tích cực đến khả năng bị sa thải của CEO và khảnăng này cao nhất tại Hoa kỳ (trong số sáu nước tham gia nghiên cứu) Trong MQH

giữa Chiến lược – MAS –Hiệu quả tài chính nổi bật nghiên cứu của Naranjo-Gil

(2015) đã chỉ ra thay đổi chiến lược tác động tiêu cực đến hiệu quả ngắn hạn nhưngtích cực trong dài hạn và MQH này bị điều tiết bởi sự đa dạng của nhóm NQT cấpcao Thực hiện hoạt động quản trị rủi ro trong DN có vai trò trung gian trong MQHgiữa chiến lược khác biệt và hiệu quả tài chính, đồng thời chiến lược khác biệt cũng

có tác động trực tiếp tích cực đến hiệu quả tài chính của tổ chức (Soltanizadeh &cộng sự, 2016)

Như vậy, hiệu quả tài chính dựa trên góc nhìn của lý thuyết bất định đã đượcquan tâm và nghiên cứu nhiều Tuy nhiên, dựa trên UET, MQH giữa đặc điểm NQTcấp cao – Hành vi lựa chọn chiến lược thăm dò – Hành vi sử dụng thông tin MAS –Hiệu quả tài chính chưa được thực hiện

1.1.4 Các nghiên cứu về vai trò điều tiết của tùy quyền quản trị.

Tùy quyền quản trị thể hiện hành vi và mức độ ảnh hưởng đến tổ chức của cácnhà điều hành Đây là một yếu tố cơ bản trong UET (Hambrick và Mason, 1984) và

nó giải thích các vấn đề quan trọng trong nhận thức và hành vi của NQT cấp cao

Trang 27

Nếu một CEO có nhiều điều kiện để đưa ra hành động táo bạo hoặc theo phong cáchriêng biệt của họ để giải quyết các vấn đề, thì CEO này sẽ có một kết quả rõ rệt hơntheo hướng tốt hoặc xấu; và có nghĩa vụ giải trình và chịu trách nhiệm cao về hànhđộng của họ, với đặc điểm này thể hiện mức tùy quyền quản trị cao của NQT cấpcao (Crossland và Hambrick, 2011) Ngược lại, nếu một CEO bị hạn chế về cáchành động mà họ muốn thực hiện thì lúc này CEO sẽ bị giới hạn hành động đáng kể

và thể hiện một mức tùy quyền quản trị thấp (Hambrick, 2007) Do đó, tùy quyềnquản trị tập trung vào việc xem xét khi nào, như thế nào và khả năng, mức độ màcác CEO có thể thực hiện các quyết định theo phong cách riêng của họ (Crossland,2008)

Tùy quyền quản trị ban đầu được Hambrick (2007) trình bày qua ba nhómnhân tố: (1) các đặc điểm thuộc về môi trường; (2) các đặc điểm thuộc về tổ chức;(3) các đặc điểm thuộc cá nhân NQT cấp cao (Hambrick & Finkelstein, 1987, trang 379)

Nhóm đặc điểm thuộc về môi trường khá đa dạng trong lĩnh vực quản trị

(Wangrow & Cộng sự, 2015) Nổi bật trong số đó, Datta & Cộng sự (2005); Goll &Cộng sự (2008); Haleblian & Finkelstein (1993); Messersmith & Cộng sự (2014).Datta & Cộng sự (2005) đã chỉ ra rằng vai trò điều tiết của sự năng động trongngành công ngiệp không có ý nghĩa trong MQH giữa hệ thống làm việc hiệu quảcao (high performance work system_HPWS) và hiệu suất lao động Goll & Cộng sự(2008) đã chỉ ra rằng bãi bỏ sự can thiệp của chính phủ trong ngành hàng khôngđiều tiết tích cực MQH giữa đặc điểm NQT cấp cao (nhiệm kỳ ngắn hơn, nền tảnghọc vấn cao hơn) và chiến lược khác biệt Haleblian & Finkelstein (1993) chỉ ra vaitrò điều tiết của môi trường với đặc điểm mức độ quảng cáo, mức độ tăng trưởngdoanh thu ở mức cao trong MQH cùng chiều giữa quy mô nhóm NQT cấp cao, ưuthế của CEO và hiệu quả tổ chức Cùng hướng đó, môi trường với đặc điểm không

ổn định trong ngành công nghiệp, tốc độ tăng doanh thu của ngành, sự phức tạp củangành công nghiệp, Messersmith & Cộng sự (2014) cho rằng các đặc điểm môitrường nêu trên sẽ điều tiết MQH giữa tốc độ thay đổi nhân sự trong nhóm NQT cấp

Trang 28

cao (nhóm NQT cấp cao Turnover) và hiệu quả tổ chức.

Nhóm đặc điểm thuộc về đặc điểm tổ chức nổi bật với nghiên cứu của

Rajagopalan (1997); Finkelstein & Hambrick (1990); Campbell & Cộng sự (2012).Rajagopalan (1997) cho rằng vai trò điều tiết cùng chiều của chiến lược thăm dòtrong MQH giữa hoạch định tiền thưởng hàng năm và hiệu quả của tổ chức vàngược lại, chiến lược phòng thủ không giữ vai trò điều tiết trong MQH giữa tiềnthưởng hàng năm và hiệu quả của tổ chức Finkelstein & Hambrick (1990) cho rằngnhiệm kỳ nhóm NQT cấp cao tác động đến sự kiên định và thực hiện chiến lược đãchọn sẽ càng mạnh hơn khi các công ty máy tính này có đặc điểm phân quyền caohay nói cách khác, tổ chức có đặc điểm phân quyền cao sẽ điều tiết MQH giữanhiệm kỳ nhóm NQT cấp cao và sự kiên định, thực hiện chiến lược đã chọn

Nhóm đặc điểm cá nhân NQT cấp cao nổi bật với nghiên cứu của Crossland

& Chen (2013); Crossland & Hambrick (2011); Fisher (1996) và Chong & Eggleton(2003) Crossland & Chen (2013) thông qua khảo sát các hội đồng chuyên gia ở một sốquốc gia đã cho rằng hành vi tùy quyền đối với CEO sẽ điều tiết MQH tích cực giữa hiệuquả tổ chức tác động đến khả năng sa thải hoặc tiếp tục vị trí của một

CEO, nghĩa là hành vi tùy quyền của CEO càng cao thì tác động tích cực của hiệuquả tài chính đến việc tiếp tục giữ vị trí của CEO càng cao Ngoài ra, trong lĩnh vực

kế toán đã quan tâm đến ILOC (Fisher, 1996; Chong & Eggleton, 2003) Trong đó,xem ILOC có vai trò điều tiết là với kết quả của Fisher (1996) và xem ILOC là biến

độc lập với kết quả của Chong & Eggleton (2003) và một điểm nổi bật là cả hai đều dựa trên lý thuyết bất định Chong & Eggleton (2003) cho rằng NQT với ILOC càng cao thì càng sử dụng thông tin MAS và sẽ tác động đến hiệu quả quản

trị một cách tích cực và hoàn toàn ngược lại đối với NQT có điểm kiểm soát ngoạitại (External locus of control) khi càng sử dụng thông tin MAS sẽ có tác động tiêucực đến hiệu quả quản trị Đặc biệt, Fisher (1996) đã chỉ ra vai trò điều tiết củaILOC trong MQH giữa nhận thức sự không ổn định của môi trường và sự hữu íchcủa thông tin MAS trên cả bốn khía cạnh và kết quả đã chỉ ra MQH là tích cực (tiêucực) giữa nhận thức sự không ổn định của môi trường và nhận thức sự hữu ích của

Trang 29

thông tin MAS bị điều tiết bởi tâm lý có điểm kiểm soát nội tại (ngoại tại) (Internal /External Locus of control).

Như vậy, từ các tổng quan trên cho thấy ILOC có MQH với hành vi sử dụngthông tin MAS nhưng ở góc nhìn của lý thuyết bất định Trong nghiên cứu này, dựatrên góc nhìn UET, các biến điều tiết khác nhau thuộc ba nhóm của biến điều tiếttùy quyền quản trị đã được tổng quan Tuy nhiên, ILOC với vai trò điều tiết MQHgiữa đặc điểm NQT cấp cao và hành vi sử dụng thông tin MAS chưa được thựchiện

1.2 Các nghiên cứu trong nước về hệ thống kế toán quản trị.

1.2.1 Các nghiên cứu liên quan đến kế toán quản trị

Hai khía cạnh thường được quan tâm nhiều trong mảng MA tại VN, đó là: (1)Xây dựng, thiết kế và hoàn thiện MA và (2) Vận dụng MA Sau đây, tác giả sẽ sơlược một số nghiên cứu theo hai hướng này

Về xây dựng, thiết kế và hoàn thiện MA như nghiên cứu của Nguyễn (2014)bằng PPNC định tính (phỏng vấn sâu), tác giả đã chỉ ra những khó khăn, đưa ra giảipháp trong quá trình xây dựng và hoàn thiện một hệ thống thông tin kế toán nóichung và hệ thống thông tin MA tại VN Về thiết kế MAS và chấp nhận thực hành

MA (Đoàn, 2012; Huỳnh, 2008; Wang & Huynh, 2013) được thực hiện tại VNnhưng chưa được công bố trên các tạp chí có uy tín trên thế giới mà chỉ dừng lại ởcác tạp chí trong nước Kết quả chỉ ra vai trò điều tiết của quy mô, tuổi của DN vàhình thức sở hữu có tác động đến chấp nhận thực hành MA trong các DN VN(Đoàn, 2012), chấp nhận hệ thống kế toán bằng máy tính (Wang & Huynh, 2013)hoặc chứng minh rằng việc thực hiện thiết kế một MAS để cung cấp thông tin hỗ trợNQT ra quyết định là hữu ích và quan trọng (Huỳnh, 2008) Với DN logistics vàtrong môi trường ERP, Tạ (2019) đã xác định được một số nhân tố (Tư vấn thiết kế,kiểm soát đảm bảo tính tin cậy của hệ thống, chất lượng phần mềm…) tác động đếnxây dựng hệ thống thông tin kế toán Về thiết kế MAS, Trần và Cộng sự (2017) đãchỉ ra nhận thức của NQT, sự phụ thuộc giữa các phòng ban và cơ cấu tổ chức lànhững nhân tố tác động đến việc thiết kế MAS

Trang 30

Về vận dụng MA, Thái (2018) đã xác định được một số nhân tố (áp lực cạnhtranh, hành vi phân quyền, quy mô, công nghệ…) có ảnh hưởng đến vận dụng MAtrong DN VN, đồng thời đưa ra kiến nghị nhằm tăng hành vi vận dụng MA HoặcTrần (2016) đã xác định các nhân tố tác động đến vận dụng MA, từ đó đưa ra cácchính sách nhằm nâng cao tính khả thi và tăng năng lực cạnh tranh của việc vậndụng MA hoặc nghiên cứu của Nguyễn và cộng sự (2020) đã chỉ ra rằng mức độ sửdụng thông tin MA góp phần phát triển năng lực tâm lý tích cực, từ đó tác động tíchcực đến thành quả công việc của nhà quản lý Gần đây, nhiều hướng mới nổi lênnhư vận dụng kế toán quản trị chiến lược (Đoàn, 2012) hoặc hệ thống quản trị chiphí (Nguyễn, 2019; Vũ, 2017; Huỳnh, 2009) và thực hiện kế toán quản trị môitrường (Nguyễn, 2019) hoặc xem xét các nhân tố tác động đến chấp nhận áp dụngphương pháp chi phí dựa trên cơ sở hoạt động (Vo & Nguyen, 2018) hoặc các nhân

tố cản trở triển khai phương pháp chi chí dựa trên cơ sở hoạt động (Nguyễn, 2016).Như vậy, về xây dựng, tổ chức, thiết kế, hoàn thiện và vận dụng MA đã đượcthực hiện nhiều tại VN, và gần đây cũng đã xuất hiện một số nghiên cứu liên quanđến MAS như kế toán quản trị chiến lược, kế toán quản trị môi trường và phươngpháp chi phí dựa trên cơ sở hoạt động

1.2.2 Các nghiên cứu liên quan đến hệ thống kế toán quản trị.

Hành vi sử dụng thông tin MAS tại VN hiện tại khá hạn chế, một số nghiêncứu nổi bật như Nguyen & Cộng sự (2017) chỉ quan tâm đến hành vi sử dụng thôngtin MAS phạm vi rộng trong MQH giữa phong cách lãnh đạo chuyển đổi và hệthống khen thưởng đến hiệu quả quản trị hoặc Nguyen (2018) dựa trên lý thuyếtquan điểm nhìn từ nguồn lực nội tại và lý thuyết bất định xem xét hành vi sử dụngthông tin MAS trên cả 4 khía cạnh bị ảnh hưởng bởi định hướng thị trường và tácđộng đến hiệu quả tài chính Đặc biệt, gần đây, Trần & Nguyễn (2019) và Lê &Nguyễn (2020) đã xem xét hành vi sử dụng thông tin MAS trong các tổ chức tại

VN Trong đó, Trần & Nguyễn (2019) đã chỉ ra (1) MQH giữa học tập tổ chức vànăng lực đổi mới bị điều tiết bởi hành vi sử dụng thông tin MAS; (2) Năng lực đổimới và hành vi sử dụng thông tin MAS tác động tích cực đến kết quả hoạt động

Trang 31

DN Và Lê & Nguyễn (2020) đã chỉ ra năng lực động đóng vai trò trung gian choMQH giữa thông tin MAS và lợi thế cạnh tranh Ngoài ra, các nghiên cứu định tính

để hoàn thiện MAS đã được một số nghiên cứu gần đây thực hiện như: NguyễnKiều Giang (2020); Lê Thị Ngọc Hằng (2019) hoặc nghiên cứu các nhân tố tác độngđến sử dụng MAS của Lê Châu Xuân Mai (2017)

Như vậy, gần đây, hành vi sử dụng thông tin MAS đã được quan tâm Tuy

nhiên, các nghiên cứu về MAS vẫn chưa quan tâm đến đặc điểm của NQT cấp caoảnh hưởng đến hành vi sử dụng thông tin MAS

1.3 Khoảng trống nghiên cứu.

1.3.1 Đặc điểm nhà quản trị cấp cao tác động đến lựa chọn chiến lược thăm

dò và sử dụng thông tin MAS.

Đặc điểm nhân khẩu học đóng một vai trò quan trọng đối với hiệu quả ra quyếtđịnh của NQT cấp cao và mức độ thành công của chiến lược (Jespersen & Bysted,2016) Hiện nay, tại VN, các DN sản xuất đều đang không ngừng đổi mới và sángtạo ra các sản phẩm để đáp ứng nhu cầu thị trường nhằm gia tăng khả năng cạnhtranh cũng như để tồn tại và phát triển bền vững trong một môi trường biến động vàchịu nhiều áp lực cạnh tranh tại VN (Dương, 2019) Do đó, một chiến lược mangnhiều tính đổi mới và sáng tạo như chiến lược thăm dò đang được nhiều DN lựa

chọn và áp dụng (Vo & Nguyen, 2020a; 2020b) Tuy nhiên, việc xem xét các đặc điểm nào của NQT cấp cao có tác động đến lựa chọn chiến lược thăm dò vẫn chưa được quan tâm.

Mặt khác, việc sử dụng MAS theo phong cách tương tác, sử dụng MAS đổimới (như phương pháp chi phí dựa trên cơ sở hoạt động, thẻ điểm cân bằng,Benchmarking) đã được xem xét, cũng đã xác định các đặc điểm về giáo dục(Wijesinghe & Samudrage, 2016) và nhiệm kỳ, giáo dục (Wijesinghe & Samudrage,2016; Naranjo-Gil & Cộng sự, 2009) có tác động đến sử dụng MAS theo các phânloại trên Tuy nhiên, tại VN, với nguồn lực giới hạn (Vo & Nguyen, 2020a; 2020b),việc sử dụng MAS đổi mới không phù hợp bằng MAS truyền thống (MAS đượcphân loại thành bốn nhóm: phạm vi rộng, tích hợp, tổng hợp và kịp thời) Hambrick

Trang 32

& Mason (1984) đã đưa ra đề xuất rằng các đặc điểm của NQT cấp cao có những ảnhhưởng nhất định đối với chiến lược mang tính đổi mới như chiến lược thăm dò cũng nhưtác động đến việc thiết kế và hành vi sử dụng thông tin từ các hệ thống hành chính phứctạp như MAS, nhưng dòng nghiên cứu này chưa được quan tâm.

Về đặc điểm nhân khẩu học của NQT cấp cao đối với quy trình ra quyết định

chiến lược, tuổi của NQT cấp cao mặc dù đã được Hambrick & Mason (1984) chỉ ra

là có tác động mẽ đến hành vi lựa chọn chiến lược và sử dụng một hệ thống hànhchính phức tạp như MAS của tổ chức nhưng đặc điểm này vẫn chưa được quan tâmtrong mảng MA trên thế giới (Hiebl, 2014) và tại VN (Vo & Nguyen, 2020a,

Nguyen & cộng sự, 2017; Nguyen, 2014) Bên cạnh đó, nhiều học giả xem xét đặcđiểm nền tảng học vấn theo hai hướng: nền tảng học vấn theo định hướng kinhdoanh hoặc phi kinh doanh chưa quan tâm đến việc lựa chọn một chiến lược mangnhiều đổi mới và rủi ro như chiến lược thăm dò Và với đặc điểm nền tảng học vấntheo hai hướng này tác động đến MAS thì có đặc điểm như sau: nền tảng học vấntheo định hướng phi kinh doanh mặc dù đã thực hiện nhưng xem xét các đặc điểm

này tác động đến sử dụng MAS theo khía cạnh phong cách sử dụng (tương tác hoặc dự đoán) hoặc tác động đến sử dụng MAS đổi mới (ABC, BSC, Benchmarking); mà ít có nghiên cứu xem xét đặc điểm nền tảng học vấn định hướng học vấn kinh doanh/phi kinh doanh tác động đến MAS trên bốn khía cạnh

và tại VN với nhiều giới hạn thì MAS như vậy sẽ phù hợp hơn (Vo & Nguyen,2020a; Nguyen, 2014; Nguyen và cộng sự, 2017)

Về đặc điểm tâm lý của NQT cấp cao đã được xem xét trong mảng FA như:

tâm lý quá tự tin, tính cách ích kỷ, tâm lý ác cảm với rủi ro, khả năng chấp nhận rủi

ro (Plöckinger & cộng sự, 2016) Trong đó, xu hướng chấp nhận rủi ro quản trị đãđược thực hiện nhiều trong lĩnh vực quản trị chiến lược (Wangrow & cộng sự,2015) Tuy nhiên, đặc điểm tâm lý này của NQT cấp cao vẫn còn hạn chế trong lĩnhvực MA Thay vào đó, các nghiên cứu hiện tại chỉ đang tập trung vào đặc điểmnhân khẩu học của các NQT cấp cao ảnh hưởng đến lựa chọn chiến lược, hành vi sửdụng MCS, MAS (tương tác, dự đoán, ABC, BSC, Benchmarking) hoặc CMS và kế

Trang 33

toán quản trị chiến lược (Hambrick & Mason, 1984; Heibl, 2014; Zor & cộng sự,2018) Do đó, khoảng trống về đặc điểm tâm lý xu hướng chấp nhận rủi ro quản trịcủa NQT cấp cao tác động đến hành vi lựa chọn chiến lược thăm dò của tổ chức và

sử dụng thông tin MAS vẫn đầy hứa hẹn (Hiebl, 2014; 2017; Zor & cộng sự, 2018;, 2020a) Do đó, đặc điểm tâm lý này đáng được quan tâm hơn, đặc biệt là tại môitrường VN luôn chịu nhiều tác động bất ổn từ bên ngoài

1.3.2 Vai trò điều tiết của tùy quyền quản trị.

Hambrick & Finkelstein (1987) đưa ra khái niệm tùy quyền quản trị (Managerial discretion) đầu tiên Họ xác định tùy quyền quản trị là phạm vi hành

động của NQT cấp cao (Hambrick & Finkelstein, 1987, trang 371) Hay nói cáchkhác, tùy quyền quản trị là hành vi ảnh hưởng của NQT cấp cao (dựa vào phạm vihành động trong việc quản trị) đối với một vấn đề phát sinh cụ thể (Hambrick &Finkelstein, 1987) Tùy quyền quản trị cao sẽ đưa đến nhiều lựa chọn để quyết địnhmột vấn đề (Campbell & Cộng sự, 2012) và phạm vi hành động rộng hơn(Hambrick & Abrahamson, 1995) và tùy quyền quản trị không chỉ định hướng choNQT cấp cao khi chọn một chiến lược mà thậm chí là khi sử dụng và thiết kế một

hệ thống hành chính phức tạp (Hambrick, 2007) Ban đầu, tùy quyền quản trị gồmđặc điểm môi trường, đặc điểm bên trong tổ chức và đặc điểm thuộc cá nhân NQTcấp cao hoặc là sự kết hợp của ba đặc điểm nêu trên

Dựa vào mô hình gốc ban đầu của Hambrick & Mason (1984), Hambrick(2007) đã cập nhật bổ sung vai trò của các biến điều tiết trong UET, nhưng gần đâytrong lĩnh vực MA vẫn chưa quan tâm đến hai biến điều tiết này (gồm tùy quyềnquản trị và nhu cầu công việc) (Wangrow & cộng sự, 2015) Hambrick &Finkelstein (1987) đưa ra khái niệm tùy quyền quản trị đầu tiên Họ xác định tùyquyền quản trị là phạm vi hành động của NQT cấp cao (Hambrick & Finkelstein,

1987, trang 371) Hay nói cách khác, tùy quyền quản trị là hành vi ảnh hưởng củaNQT cấp cao (dựa vào phạm vi hành động trong việc quản trị) đối với một vấn đềphát sinh cụ thể (Hambrick & Finkelstein, 1987) Tùy quyền quản trị cao sẽ đưa đếnnhiều lựa chọn để quyết định một vấn đề (Campbell & Cộng sự, 2012) và phạm vi

Trang 34

hành động rộng hơn (Hambrick & Abrahamson, 1995) và tùy quyền quản trị khôngchỉ định hướng cho NQT cấp cao khi chọn một chiến lược mà thậm chí là khi sửdụng và thiết kế một hệ thống hành chính phức tạp (Hambrick, 2007) Trong UET,ILOC là một nhân tố thuộc tùy quyền quản trị.

Dựa trên lý thuyết bất định, ILOC đóng các vai trò khác nhau: biến độc lập tácđộng trực tiếp đến sử dụng MAS bốn khía cạnh (Chong & Eggleton, 2003), hoặcđóng vai trò điều tiết giữa môi trường và hành vi sử dụng thông tin MAS (Fisher,1996) Qua các nghiên cứu nổi bật kể trên, chứng minh rằng ILOC có MQH vớihành vi sử dụng thông tin MAS của NQT cấp cao Tuy nhiên, nghiên cứu hiện tạiđứng trên góc nhìn khác, dựa vào quan điểm của UET

Mặt khác, ILOC góp phần giải thích và ảnh hưởng đến hành vi của NQT cấpcao liên quan đến sử dụng thông tin một cách hiệu quả (Lefcourt, 1982) Đặc biệt,ILOC đã được Hambrick và Finkelstein (1987, trang 379) khẳng định là có vai tròđiều tiết trong MQH giữa đặc điểm NQT cấp cao và hệ thống hành chính phức tạpcủa tổ chức (MAS được xem là một hệ thống hành chính phức tạp), nhưng vai tròđiều tiết của ILOC vẫn chưa được nghiên cứu (Wangrow & Cộng sự, 2015; Hiebl,2014; Vo & Nguyen, 2020a; 2020b)

Xuất phát từ mục tiêu và câu hỏi đặt ra, và dựa vào UET, nghiên cứu này chorằng vai trò điểu tiết của ILOC trong MQH giữa đặc điểm NQT cấp cao và hành vi

sử dụng thông tin MAS đang là khoảng trống cần được xem xét

1.3.3 Hiệu quả tài chính trong mô hình nghiên cứu.

Hiệu quả tài chính của DN cũng bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi đặc điểm của NQTcấp cao, chiến lược được chọn và hệ thống hành chính phức tạp (Hambrick & Mason,1984; Hiebl & Cộng sự, 2014; 2017) Mặc dù, dựa trên UET, có đề xuất hiệu quả DNvới vai trò của là biến phụ thuộc (Hambrick & Mason, 1984), biến kiểm soát (Burkert

và Lueg 2013) hoặc là tiền đề của việc sử dụng các MAS (Naranjo-Gil & Cộng sự,2009) Tuy nhiên, đến hiện tại ít có nghiên cứu phân tích hiệu quả tài chính của tổ chức(biến phụ thuộc) bị ảnh hưởng bởi đặc điểm của NQT cấp cao hoặc bị tác động bởi hệthống hành chính phức tạp/ chiến lược của tổ chức

Trang 35

(Vo & Nguyen, 2020b) Hiebl (2014) cũng gợi ý rằng một sự phù hợp cao giữa:

Đặc điểm NQT cấp cao - chiến lược - hệ thống hành chính phức tạp sẽ dẫn đến hiệu quả tài chính tốt hơn cho tổ chức Một minh chứng, Speckbacher & Wentges

(2012) đã chỉ ra rằng NQT cấp cao là thành viên trong gia đình mới có thể xử lý và

có biện pháp kiểm soát không chính thức hoặc tạo ra văn hóa tổ chức tác động tốtđến hiệu quả của tổ chức Trong khi, NQT cấp cao không phải là thành viên giađình không thể đạt được hiệu quả tương đương Do đó, các nghiên cứu xem xét đếnhiệu quả như vậy sẽ có giá trị trong việc đánh giá thành công của DN thông quađánh giá hiệu quả tài chính liên quan đến việc sử dụng các hệ thống kế toán và khiđưa ra đề xuất cho thực tiễn sẽ rất có ích

Liên quan đến MAS, Hiebl (2014) chỉ ra rằng các nghiên cứu dựa vào UET đểkhảo sát hành vi sử dụng thông tin MAS (Đổi mới và phong cách sử dụng tươngtác) cũng chưa quan tâm đến hiệu quả tài chính đạt được trong mô hình (Naranjo-Gil & Hartmann, 2006; Wijesinghe & Samudrage, 2016) Do đó, Hiebl cho rằng

nên xem xét tác động tích hợp giữa những đặc điểm của NQT cấp cao trong tổ chức - lựa chọn chiến lược hợp lý - hệ thống kiểm soát trong tổ chức sẽ có giá trị mạnh mẽ đến Hiệu quả tài chính Ông cũng cho rằng, trong tương lai nên xem xét

toàn bộ các nhân tố tiền đề, trung gian và hiệu quả tài chính của tổ chức dựa trênUET để có được những hướng đi mới Với những phân tích trên, các nghiên cứu vềMAS dựa trên UET nên kết hợp với kết quả cuối cùng là hiệu quả tài chính của tổchức bởi vẫn còn khoảng trống Bởi lẽ, một nghiên cứu thực sự có ý nghĩa khi nóđóng góp cho hoạt động thực tiễn, giúp DN đạt được hiệu quả tài chính tối ưu(Hiebl, 2014)

1.3.4 Thiếu các nghiên cứu tại Việt Nam về đặc điểm nhà quản trị cấp cao trong lĩnh vực kế toán quản trị.

Đặc điểm NQT cấp cao ảnh hưởng hành vi lựa chọn chiến lược thăm dò, sử dụngthông tin MAS, cũng như tác động đến hiệu quả tài chính Tuy nhiên, tại VN vẫncòn rất hạn chế ở khía cạnh này Đặc biệt, tại VN mặc dù quan tâm đến hành vi sửdụng thông tin MAS, nhưng đang dựa vào lý thuyết nền khác như lý thuyết cơ sở

Trang 36

nguồn lực, dựa trên kiến thức và quan điểm năng lực động mà chưa sử dụng UET.

Do đó, việc sử dụng UET để xem xét về hành vi lựa chọn chiến lược thăm dò và sửdụng thông tin MAS tại VN đang là một khoảng trống lớn cần được hoàn thiện

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Chương 1 đã tổng quan các công trình liên quan đến đặc điểm của NQT cấp

cao và chiến lược, MAS và hiệu quả tài chính của tổ chức, cơ sở xác định khoảngtrống Trong chương 2, lý thuyết nền sử dụng cho luận án và đặt giả thuyết, xâydựng mô hình nghiên cứu được trình bày

Trang 37

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT

Các nghiên cứu liên quan đến đặc điểm của NQT cấp cao (về mặt nhân khẩuhọc và tâm lý) đến sử dụng hệ thống kiểm soát và kế toán quản trị cũng như các đặcđiểm NQT cấp cao tác động đến lựa chọn chiến lược và hiệu quả tài chính dựa trênnhiều góc nhìn khác nhau Để giải thích lý do lựa chọn các đặc điểm NQT cấp caotác động đến hành vi lựa chọn chiến lược thăm dò, sử dụng thông tin MAS; và hiệuquả tài chính trong các DN sản xuất; chương này sẽ trình bày đầy đủ, có hệ thống về

lý do lựa chọn các đặc điểm NQT cấp cao, định nghĩa và giải thích rõ các biến cóliên quan

Lý thuyết nền được vận dụng để nghiên cứu về MAS rất đa dạng (Phụ lục 1), bao

gồm:

- Lý thuyết bất định

- Lý thuyết cấp bậc quản trị cao

- Lý thuyết năng lực động

- Lý thuyết dựa trên kiến thức

Các lý thuyết nền trên đã được sử dụng nhiều khi nghiên cứu về MAS Tuynhiên, xuất phát từ mục tiêu là xem xét đặc điểm NQT cấp cao tác động đến hành vi

sử dụng thông tin MAS để triển khai chiến lược đã được chọn bởi các NQT cấp cao

Do đó, nghiên cứu này sẽ trình bày về UET, là lý thuyết nền sử dụng trong luận án.Chương này bao gồm các nội dung sau: (1) trình bày về đặc điểm của NQTcấp cao và giải thích lý do lựa chọn các đặc điểm này; đặc điểm chiến lược thăm dò(2) trình bày về MAS (3) trình bày về hiệu quả tài chính, (4) trình bày về UET, (5)dựa vào UET để dự đoán và đưa ra các MQH ban đầu, giả thuyết, (6) vai trò điều

tiết của ILOC và (7) đề xuất mô hình nghiên cứu

2.1 Đặc điểm nhà quản trị cấp cao.

Trong phần này, tác giả sẽ nhận diện như thế nào là nhà quản trị cấp cao vàviệc xác định NQT cấp cao trong nghiên cứu này Sau đó, tác giả trình bày các đặcđiểm nhân khẩu học và tâm lý của họ, đồng thời lập luận chọn các đặc điểm để thựchiện nghiên cứu

Trang 38

2.1.1 Nhận diện nhà quản trị cấp cao.

Khái niệm liên minh thống trị hay còn gọi là liên minh các thành viên cấp caotrong tổ chức là một khái niệm đáng chú ý, và nó nhận được nhiều nhận định khácnhau; do đó, trong việc khẳng định thành viên nào có thể thuộc một liên minh thốngtrị (hay các thành viên cấp cao) đã được nhiều học giả nhìn nhận ở nhiều góc độkhác nhau (Abatecola & Cristofaro, 2018) Nhiều học giả cho rằng thành phần nàychỉ bao gồm những người điều hành trên vai trò chủ tịch hoặc phó chủ tịch HĐQT;hoặc gồm tất cả các thành viên hội đồng quản trị (Abatecola & Cristofaro, 2018).Nổi bật, nghiên cứu của Carpenter (2011) cho rằng NQT cấp cao là người có tầmảnh hưởng đặc biệt đến hoạt động quản trị trong một tổ chức hoặc một công ty (Vídụ: CEO, CFO, giám đốc thông tin, giám đốc quản trị rủi ro…) Do nghiên cứu nàytập trung vào hành vi lựa chọn chiến lược và sử dụng thông tin MAS để triển khaichiến lược, mà hành vi tham gia lựa chọn chiến lược ở mỗi tổ chức lại dựa vào mức

độ phân quyền trong mỗi tổ chức (Chenhall & Morris, 1986) Tuy nhiên, CEO,Giám đốc và Tổng giám đốc là chắc chắn không thể thiếu và rất quan trọng(Hambrick & Mason, 1984) Vì vậy, họ được chọn là NQT cấp cao sẽ lựa chọn vàtriển khai chiến lược của tổ chức

2.1.2 Đặc điểm nhân khẩu học của nhà quản trị cấp cao.

Tập hợp các đặc điểm nhân khẩu học - xã hội của NQT cấp cao lần đầu đượccông bố năm 1984 và số lượng nghiên cứu về những khía cạnh này tăng dần theothời gian, nhiều đặc điểm mới xuất hiện như chủng tộc, giới tính và nhiệm kỳ quốctế… Mặc dù đã có nhiều đặc điểm nhân khẩu học mới đã được chỉ ra theo thời giannhưng những đặc điểm ban đầu được Hambrick & Mason (1984) chỉ ra vẫn đangđược quan tâm nhiều (Lee & Cộng sự, 2016; Pavlatos & Kostakis, 2018, Vo &Nguyen, 2020b) Dựa trên UET, hành vi lựa chọn chiến lược và sử dụng thông tinMAS từ những NQT cấp cao bị ảnh hưởng và xuất phát từ đặc điểm nhân khẩu học.Các đặc điểm nhân khẩu học bao gồm nền tảng học vấn, tuổi, kinh nghiệm, phongcách lãnh đạo… tác động đến lựa chọn chiến lược và dự đoán sự thành công khithực hiện chiến lược cũng như hành vi sử dụng thông tin MAS (Hiebl, 2014)

Trang 39

Do đó, một vấn đề khác lại đặt ra, những đặc điểm nhân khẩu học của NQTcấp cao thì rất nhiều Nổi bật trong số đó, tuổi (Colombelli, 2015; Yunlu & Murphy,2012), trình độ học vấn (Damanpour & Schneider, 2006; Qian & Cộng sự, 2013;Wiklund & Shepherd, 2003) được xem là những nhân tố thuộc đặc điểm cá nhân dễquan sát và đo lường nhất nhưng lại có tầm ảnh hưởng mạnh mẽ đến hành vi củacon người cũng như của các NQT cấp cao (Hambrick & Mason, 1984).

Bên cạnh đó, theo lý thuyết hành vi về quản trị (Behavioral Theory ofManagement) được Petit đề xuất năm 1967, ông đã phân loại NQT thành ba nhóm:(1) NQT với định hướng kỹ thuật với đặc điểm luôn nổ lực để sản xuất các sảnphẩm chất lượng tốt nhất với nguồn lực tối thiểu của tổ chức và mục tiêu chính của

họ là tính hợp lý về mặt kỹ thuật và (2) NQT với định hướng mang tính hành chính,kinh tế với đặc điểm luôn tìm giải pháp để ứng phó với sự không ổn định của môitrường và (3) nhóm các NQT mang các đặc điểm trung dung giữa nhóm NQT kỹthuật và hành chính, kinh tế Ba nhóm NQT này sẽ khác nhau về quan điểm,phương pháp làm việc cũng như hành vi ra quyết định chiến lược Do đó, dẫn đếnhành vi trong quản trị chiến lược và sử dụng thông tin là khác nhau giữa các nhóm(Petit, 1967, trang 347) Nhóm NQT có xu hướng kỹ thuật áp dụng các nghiên cứu

kỹ thuật vào nhiệm vụ quản trị của họ nhiều hơn so với các nhóm còn lại, chủ yếuquan tâm đến các giải pháp giải quyết vấn đề ngay lập tức và mang tính chất địnhlượng (ví dụ: sự kết hợp tốt nhất của các nguồn lực để tạo ra một sản lượng tối ưu;tối ưu giữa lượng sản xuất và tiêu thụ; tiêu chí để đầu tư vào một thiết bị phải rõràng) và họ thường ra quyết định chiến lược dựa trên máy tính (Petit, 1967, trang344) Ngược lại, các NQT có xu hướng hành chính, kinh tế sẽ xem xét môi trường

để tìm các cơ hội và các mối đe dọa, họ đưa ra các chiến lược để đối phó với cácyếu tố trong môi trường và do đó giảm sự không chắc chắn (Petit, 1967, trang 348)

Họ phải có tầm nhìn xa để chuyển đổi những quan sát về những thay đổi nhỏ trongmôi trường thành những ước tính định lượng về tác động của chúng đối với tổ chức

và phải hành động để đối phó với chúng Nhưng những dự đoán rất khó chính xác;

do đó nó được giải thích một cách chủ quan Vì vậy, việc ra quyết định chiến lược

Trang 40

của các NQT có xu hướng hành chính, kinh tế mang tính phán đoán Họ phải dựavào trí tuệ, kinh nghiệm và cái nhìn sâu sắc từ những thông tin họ có được để đưa racác quyết định quan trọng mang tính vận mệnh của tổ chức Petit (1967, trang 344)cho rằng NQT bị hạn chế về khả năng thu thập và xử lý thông tin để dự đoán kếtquả của các hành vi ra quyết định chiến lược khác nhau Do đó, để chiến lược đượcchọn và triển khai thành công, tổ chức phải phát triển các hệ thống cung cấp thôngtin hữu ích nhằm có được thông tin định hướng tương lai về môi trường bên ngoài,được tổng hợp và tích hợp chính xác cũng như kịp thời để NQT ra quyết định thựchiện chiến lược và các hành vi đúng đắn khi đối mặt với sự không ổn định Vì vậy,

có thể thấy rằng NQT với định hướng hành chính, kinh tế sẽ lựa chọn các chiếnlược mang tính đổi mới và nhu cầu sử dụng thông tin cao hơn để ứng phó với môitrường bất ổn cao hơn so với các nhóm còn lại Nhóm các NQT mang tính trungdung thường bị mâu thuẫn về mục tiêu giữa định hướng kỹ thuật và hành chính,kinh tế thì tổ chức sẽ thường rơi vào tình trạng hỗn loạn do xung đột về lợi ích giữacác NQT cấp cao theo các định hướng khác nhau (Petit, 1967, trang 348) Do đó,nhiệm vụ của các NQT thuộc nhóm này giữ vị trí trung gian và dùng phương pháphòa giải để giải quyết xung đột về mục tiêu giữa hai nhóm kỹ thuật và hành chínhtrong tổ chức

Mặt khác, nền tảng học vấn được xem là nhân tố đại diện để xây dựng nênnhận thức mà từ đó ảnh hưởng đến cách mà các NQT cấp cao nhận thức xungquanh và có cách xử lý thông tin thích hợp (Hambrick & Mason, 1984; Finkelstein

& Hambrick 1996; Carpenter & Cộng sự, 2004) Nền tảng học vấn khác biệt giữanhững NQT cấp cao theo định hướng kinh doanh (kinh tế, kinh doanh, luật v.v.) sovới những NQT có nền tảng học vấn định hướng phi kinh doanh (ví dụ như về kỹthuật, vật lý và y học …) (Bacharach & Cộng sự, 1991) đã giải thích lý do tại saonhiều NQT cấp cao biết rõ các vấn đề, có nhiều kiến thức hoặc cách giải quyết vấn

đề tốt hơn người khác (Song 1982; Michel & Hambrick, 1992), hay tại sao họ hiểu

và sử dụng thông tin theo những cách khác nhau (Hambrick & Mason, 1984, trang195; Carpenter & Cộng sự 2004) Tuy nhiên, cũng có nghiên cứu đưa ra ý kiến trái

Ngày đăng: 13/10/2021, 14:45

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w