TỔNG QUAN VỀ KIỂM SOÁT NỘI BỘGiới thiệu Định nghĩa Lịch sử phát triển của kiểm soát nội bộ Kiểm soát nội bộ và quản trị rủi ro Đảm bảo tính chính xác của các số liệu kế toán và báo
Trang 1KIỂM SOÁT NỘI BỘ
NỘI DUNG MÔN HỌC
Chương 1 Tổng quan về kiểm soát nội bộ
Chương 2 Gian lận và biện pháp phòng ngừa gian lận
Chương 3 Khuôn mẫu hệ thống kiểm soát nội bộ theo báo
cáo của COSO
Chương 4 Kiểm soát nội bộ đối với các tài sản và các chu
trình kinh doanh chủ yếu trong các doanh nghiệp
GIÁO TRÌNH SỬ DỤNG, TÀI LIỆU THAM KHẢO
Giáo trình:
Đường Nguyên Hưng, Giáo trình Kiểm soát nội bộ, NXB Giáo dục, 2016
Khoa Kế toán, Trường Đại học kinh tế HCM, Giáo trình Kiểm soát nội bộ, tái bản lần 3
Tàiliệu tham khảo:
Phan Trung Kiên, Kiểm toán căn bản, NXB Tài chính, 2009
Nguyễn Phú Giang, Kiểm toán nội bộ, NXB Tài Chính, 2015
Kiểm toán nội bộ hiện đại – Đánh giá các hoạt động và hệ thống kiểm soát (Victor
Z.Brink and Herbert Witt)
Brink’s Modern Internal Auditing-A Common Body of Knowledge (Robert R
Trang 2CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ KIỂM SOÁT NỘI BỘ
Giới thiệu
Định nghĩa
Lịch sử phát triển của kiểm soát nội bộ
Kiểm soát nội bộ và quản trị rủi ro
Đảm bảo tính chính xác của các số liệu kế toán và báo cáo tài chính,
Đảm bảo mọi thành viên tuân thủ nội quy của công ty cũng như các quy
định của luật pháp,
Đảm bảo sử dụng tối ưu các nguồn lực và đạt được mục tiêu đặt ra,
Bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư, cổ đông và gây dựng lòng tin đối với họ
ĐỊNH NGHĨA
Kiểm soát nội bộ là một quá trình bị chi phối bởi Hội đồng quản trị,
cấp một sự đảm bảo hợp lý nhằm đạt các mục tiêu về hoạt động, báo
cáo và tuân thủ.
Trang 35/11/2021 7
KSNB làmột quá trình, nghĩa là một hoạt động cơ bản, được duy
trì liêntục và rộng khắp trong tổ chức KSNB là một quá trình bao
gồm việc lập kế hoạch, thực hiện, giám sát và đánh giá các hoạt
động của đơn vị,
KSNBchịu sự chi phối của con người (bao gồm ban giám đốc,
hội đồng quản trị và các nhân viên của đơn vị) Mặc dù các hoạt
động kiểm soát thường được ban hành bởi ban giám đốc nhưng
sự vận hành của chúng chỉ hữu hiệu khi có sự tham gia và phối
hợp giữa mọi thành viên trong đơn vị
Kiểm soát nội bộ hữu hiệu khi từng thành viên trong đơn vị hiểu
rõvề trách nhiệm, quyền hạn của mình, và thực hiện để hướng
tới các mục tiêu của đơn vị
Trang 4KIỂM SOÁT NỘI BỘ CUNG CẤP SỰ ĐẢM BẢO HỢP LÝ
KSNBchỉ cung cấp một sự bảo đảm hợp lý trong việc đạt được
cácmục tiêu xuất phát từ những hạn chế tiềm tàng của KSNB:
Ràngbuộc của quan hệ chi phí lợi ích, sự thông đồng của các cá
nhân tronghoặc ngoài tổ chức, sai lầm của con người, sự lạm
quyền của nhà quản lý
KIỂM SOÁT NỘI BỘ GIÚP ĐẠT ĐƯỢC CÁC
KSNBđược thiết lập và duy trì để đạt được các mục tiêu của tổ
chức, bao gồm các mục tiêu về hoạt động, báo cáo và tuân thủ
Nhómmục tiêu về hoạt động: Nhấn mạnh đến sự hữu hiệu và
hiệu quả của việc sử dụng các nguồn lực
Nhómmục tiêu về báo cáo: Nhấn mạnh đến tính trung thực và
đáng tin cậy của báo cáo tài chính và phi tài chính mà đơn vị cung
cấp cho cả bên trong và bên ngoài
Nhómmục tiêu về tuân thủ: Nhấn mạnh đến việc tuân thủ pháp
luật và các quy định
LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CỦA KIỂM SOÁT NỘI BỘ
Giai đoạn hình thành và phát triển:
Thuật ngữ kiểm soát nội bộ bắt đầu xuất hiện vào cuối thế kỷ 19
Năm 1905, Robert Montgomery đưa ra ý kiến về một số vấn đề kiểm soát nội bộ trong tác
phẩm “Lý thuyết và thực hành kiểm toán”
Năm 1929, thuật ngữ kiểm soát nội bộ được đề cập chính thức trong một công bố của Cục
Dự trữ Liên bang Hoa Kỳ
Năm 1936, Hiệp hội Kế toán viên công chứng Hoa Kỳ (AICPA) đã đưa ra định nghĩa về kiểm
soát nội bộ
năm 1949 AICPA công bố công trình nghiên cứu đầu tiên về kiểm soát nội bộ
Năm 1958, 1962, 1972 Ủy ban thủ tục kiểm toán (CAP) trực thuộc AICPA ban hành các chuẩn
mực về Báo cáo về thủ tục kiểm toán
Năm 1962, Ủy ban thủ tục kiểm toán tiếp tục ban hành Báo cáo về thủ tục kiểm toán
Năm 1992, COSO đã phát hành Báo cáo chính thức, là tài liệu đầu tiên trên thế giới đã đưa ra
Khuôn5/11/2021 mẫu lý thuyết về kiểm soát nội bộ một cách đầy đủ và có hệ thống 12
Trang 5LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CỦA KIỂM SOÁT NỘI BỘ
Giai đoạn hiện đại:
Báo cáo COSO 1992 tuychưa thật sự hoàn chỉnh nhưng đi lập được
cơ sở lý thuyết rất cơ bản về kiểm soát nội bộ Sau đó loạt nghiên cứu
soátnội bộ phát triển theo hướng quản trị, kiểm so nội bộ cho doanh
nghiệp nhỏ, kiểm soát nội bộ trong môi trường có nghệ thông tin, kiểm
soátnội bộ trong kiểm toán độc lập, hay kiểm so nội bộ chuyên sâu vào
những ngành nghề cụ thể và giám sát kiểm soá nội bộ Năm 2013, báo
cáo COSOđược cập nhật cho phù hợp với những thay đổi trong môi
trường kinh doanh Báo cáo COSO (2013) đã thay thế cho báo cáo
COSO (1992), cóhiệu lực từ ngày 15 tháng 12 năm 2014
CHƯƠNG 2 GIAN LẬN VÀ BIỆN PHÁP
2.1Định nghĩa về gian lận và sai sót
2.2 Các nghiêncứu về gian lận
2.3Những gian lận phổ biến làm sai lệch thông tin trên báo cáo
tài chính
ĐỊNH NGHĨA VỀ GIAN LẬN VÀ SAI SÓT
Gian lận là việc thực hiện các hành vi không hợp pháp nhằm lừa gạt, dối trá để thu
được một lợi ích nào đó.
Thông thường, gian lận trên báo cáo tài chính phát sinh khi hội tụ đủ các yếu tố
sau:
Một cá nhân hay tổ chức cố ý trình bày sai một sự kiện, một yếu tố quan trọng.
Việc trình bày sai sẽ làm người bị hại tin vào điều đó.
Người bị hại đã dựa vào sự trình bày sai để ra quyết định và phải gánh chịu các
thiệt hại về tài sản do quyết định trên
Có ba cách thông thường nhất để đơn vị đối phó với gian lận đó là ngăn ngừa, phát
hiện và trừng phạt Việc ngăn ngừa và phát hiện gian lận sẽ đạt kết quả tốt nhất
thông qua một hệ thống kiểm soát nội bộ hữu hiệu.
Trang 6CÁC NGHIÊN CỨU VỀ GIAN LẬN CỦA CÁC
Nghiêncứu của Edwin H.Sutherland(1883 – 1950): Ông quan tâm đặc biệt
đến hành vi gian lận được thực hiện bởi những nhà quản lý đối với chủ sở
hữu
Nghiêncứu của Donald R Cressey (1919-1987): Tập trung phân tích gian
lận dưới góc độ tham ô và biển thủ Theo ông gian lận chỉ phát sinh khi hội tụ
đủ ba nhân tố là áp lực, cơ hội và sự hợp lý hóa hành vi gian lận
Nghiêncứu của D.W Steve Albrecht (1984): nghiên cứu của ông nhằm xác
định các dấu hiệu quan trọng của sự gian lận để có thể ngăn ngừa và phát
hiện chúng
Nghiêncứu của Richard C Hollinger (1983): Nghiên cứu của ông chỉ ra
nguyên nhânchủ yếu của gian lận là điều kiện làm việc Ngoài ra ông còn
tìmmột loạt những mỗi liên hệ giữa thu nhập, tuổi tác, vị trí và mức độ hài
lòng trong côngviệc với tình tạng biển thủ
HIỆP HỘI CÁC NHÀ ĐIỀU TRA GIAN LẬN HOA
KỲ (ACFE)
Mục tiêu của ACFE là thông qua nghiên cứu về gian lận để phân loại
chúng,từ đó giúp các tổ chức, nhà quản lý nhận thức được các loại
gianlận thường xảy ra để giúp họ đối phó Về các loại gian lận bao
gồm:
Gianlận liên quan đến tài sản
Tham ô
Gianlận trên báo cáo tài chính
Ngoài ra, ACFE cònđưa ra các số liệu thống kê về một số vấn đề như
người thực hiện gian lận, những đặc điểm ở tổ chức có gian lận phát
sinh(kỹ năng quản lý, cách thức tổ chức…) để nhà quản lý am hiểu
hơn về gian lận
NHỮNG GIAN LẬN PHỔ BIẾN LÀM SAI LỆCH
THÔNG TIN TRÊN BÁO CÁO TÀI CHÍNH
Qua nghiêncứu, ACFE đã thống kê các phương pháp gian lận
phổ biến thường được sử dụng trên báo cáo tài chính, trong đó
haiphương pháp thường được sử dụng nhiều nhất là:
Gianlận tài sản: Gian lận tiền, gian lận đối với tài sản phi tiền tệ
Gianlận trên báo cáo tài chính: Gian lận trên báo cáo tài chính
xảy ra ít hơn so với biển thủ tài sản Tuy nhiên tác động của
chúngđối với báo cáo tài chính lớn hơn nhiều lần so với hành vi
biển thủ tài sản Các phương pháp thực hiện gian lận trên báo
cáo tài chính baogồm che giấu nợ phải trả và chi phí, ghi nhận
doanh thu không cóthật, định giá sai tài sản, ghi nhận sai niên độ
và không côngbố thông tin quan trọng
Trang 7GIAN LẬN TIỀN
Một trong những loại gin lận phổ biến nhất theo kết quả điều tra của ACFE là gian lận về tiền Thuật
tiền gửi,… Các phương pháp gian lận như sau:
Đối với thu tiền:
Tiền bị đánh cắp trước khi ghi vào sổ (thu tiền nhưng không ghi sổ bán hàng)
Tiền bị đánh cắp sau khi ghi vào sổ (Nhận séc hoặc tiền mặt nhưng không nộp vào quỹ)
Đối với chi tiền
Chi cá nhân nhưng thanh toán bằng tiền của công ty
Sử dụng séc của cty để chi dùng cá nhân
Tính và trả lương khống
Chi khống
Biển thù tiền trong quỹ của công ty
Phần lớn gian lận thuộc nhóm này là đánh cắp hàng tồn kho hay
các tàisản hữu hình khác như:
Đánh cắp tài sản, sử dụng tài sản xho mục đích cá nhân
Nhân viênđánh cắp thông tin mật
Đánh cắp cổ phiếu, trái phiếu
Làviệc ghi nhận vào sổ sách nghiệp vụ bán hàng hay cung cấp
dịch vụ không có thực Thủ thuật thường sử dụng là:
Tạo ra các khách hàng ma và lập chứng từ giả mạo nhưng hàng
hóa khôngđược giao và đầu niên độ sau sẽ lập bút toán hàng
bánbị trả lại
Không ghinhận hàng bán bị trả lại
Khai cao doanh thu sovới thực tế
Ghinhận doanh thu khi các điều kiện giao hàng chưa hoàn tất,
chưa chuyển quyền sở hữu và rủi ro đối với hàng hóa (dịch vụ)
Trang 8ĐỊNH GIÁ SAI TÀI SẢN
Khôngđánh giá giá trị suy giảm của TS (khi hàng bị hư hỏng,
khôngsử dụng được, không có khả năng thu hồi)
Vốn hóa sai các khoản chi phí
Đánh giá sai giá trị tài sản trong các giao dịch hợp nhất, chia
tách, sápnhập, góp vốn
Phânloại TS sai
Doanh thu hay chi phíđược ghi nhận không đúng kỳ, chẳng hạn
doanh thuhoặc chi phí của kỳ này có thể chuyển sang kỳ kế tiếp
hayngược lại để làm tăng hoặc giảm thu nhập hay chi phí
Nợ tiềm tàng
Cácsự kiện sau ngày kết thúc niên độ
Thông tinvề các bên liên quan
Những thay đổi về chính sách kế toán
Thuyết minh không đầy đủ các chỉ tiêu trên báo cáo tài chính
Trang 9CHE GIẤU NỢ PHẢI TRẢ VÀ CHI PHÍ
Không ghinhận nợ phải trả và chi phí
Vốn hóa các khoản chi phí không được phép vốn hóa
Khônglập dự phòng nợ phải trả
CHƯƠNG 3 KHUÔN MẪU HỆ THỐNG KIỂM
3.1 Báo cáo COSO
3.2 Các bộ phận của hệ thống kiểm soát nội bộ theo báo cáo của COSO
3.3 Vai trò và trách nhiệm của các bên liên quan đến kiểm soát nội bộ
3.4 Kiểm soát nội bộ đối với các doanh nghiệp nhỏ
BÁO CÁO COSO
Mục tiêu của Báo cáo COSO 2013 là thiết lập các khuôn mẫu và
đưa ra các hướng dẫn về quản trị rủi ro, kiểm soát nội bộ và biện
phápđể giảm thiểu gian lận, từ đó giúp cải thiện hiệu quả hoạt
động cũng như tăng cường sự giám sát của đơn vị
Trang 10CẤU TRÚC CỦA BÁO CÁO COSO
Báo cáo COSO 2013 baogồm ba phần, đó là:
Phần 1: Tóm tắt dành cho người điều hành
Phần 2: Khuôn mẫu của kiểm soát nội bộ
Phần 3: Công cụ đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ
Ngoài ra, COSO còn ban hành thêmsổ tay về kiểm soát nội bộ
choviệc lập và trình bày báo cáo tài chính cho người bên ngoài,
trongđó trình bày về phương pháp tiếp cận kiểm soát nội bộ cho
việc lập và trình bày báo cáo tài chính và các ví dụ minh họa
COSO
Cácbộ phận của hệ thống kiểm soát nội bộ
Mối quan hệ giữa các bộ phận hợp thành hệ thống kiểm soát nội bộ
Mối quan hệ giữa mục tiêu của đơn vị và các bộ phận hợp thành của hệ
thống kiểm soát nội bộ
Sự hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ
Hạn chế tiềm tàng và tiền đề của Kiểm soát nội bộ
Trang 11MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁC BỘ PHẬN HỢP
Cácbộ phận hợp thành hệ thống kiểm soát nội bộ có quan hệ chặt chẽ
với nhau Môi trường kiểm soát tạo ra không gian và khuôn khổ cho
thực hiện đánh giá các rủi ro đe dọa đến việc đạt được các mục tiêu
các chithị của nhà quản lý nhằm xử lý rủi ro được thực hiện Trong khi
đó, các thông tin thích hợp cần phải được thu thập và quá trình trao đổi
thông tinphải diễn ra thông suốt trong toàn bộ đơn vị Quá trình trên
cần được đánh giá và điều chỉnh lại khi cần thiết (giám sát)
Cácbộ phận hợp thành của hệ thống kiểm soát nội bộ có tính linh hoạt
cao
MỐI QUAN HỆ GIỮA MỤC TIÊU CỦA ĐƠN VỊ VÀ CÁC BỘ
PHẬN HỢP THÀNH CỦA HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ
Các mục tiêu của đơn vị - là những điều cần đạt được - với các bộ phận hợp thành của
hệ thống kiểm soát nội bộ - đại diện cho những gì cần có để đạt được mục tiêu - có
mối liên hệ chặt chẽ với nhau
Theo hàng ngang, mỗi bộ phận điều cần thiết cho việc đạt được cả ba nhóm mục tiêu.
Thí dụ các thông tin tài chính và phi tài chính – một thành phần của bộ phận Thông tin
và truyền thông - cần thiết cho việc quản lý đơn vị một cách hữu hiệu và hiệu quả,
đồng thời cũng rất hữu ích để lập được báo cáo tài chính đáng tin cậy và cũng cần
thiết khi đánh giá sự tuân thủ pháp luật và các quy định.
Tương tự, mỗi cột, tức mỗi mục tiêu chỉ đạt được thông qua năm bộ phận hợp thành
của kiểm soát nội bộ Nói cách khác, cả năm bộ phận hợp thành của kiểm soát nội bộ
đều hữu ích và quan trọng trong việc giúp cho đơn vị đạt được một trong ba nhóm mục
tiêu nói trên Ví dụ để đơn vị hoạt động hữu hiệu và hiệu quả, cả năm bộ phận của
kiểm soát nội bộ đều quan trọng và góp phần tích cực vào việc đạt được các mục tiêu.
Kiểm soát nội bộ có thể áp dụng cho từng bộ phận, từng chức năng, từng hoạt động
của đơn vị hoặc toàn bộ đơn vị nói chung.
SỰ HỮU HIỆU CỦA HỆ THỐNG KIỂM
Một hệ thống kiểm soát nội bộ hữu hiệu cung cấp sự đảm bảo
hệ thống kiểm soát nội bộ hữu hiệu phải giảm thiểu rủi ro của việc
khôngđạt được một, hai hay cả ba nhóm mục tiêu xuống mức
thấp có thể chấp nhận được Do vậy, một hệ thống kiểm soát nội
bộ hữu hiệu đòi hỏi thỏa mãn đồng thời hai tiêu chuẩn sau:
Năm bộ phận cấu thành của hệ thống kiểm soát nội bộ và các
nguyêntắc kiểm soát liên quan đều phải hiện hữu và vận hành
hữu hiệu trong thực tế
Năm bộ phận cấu thành cùng hoạt động như một thể thống nhất
Trang 12TẤT CẢ CÁC BỘ PHẬN VÀ NGUYÊN TẮC
Báo cáo COSO chorằng tất cả năm bộ phận của hệ thống kiểm
soátnội bộ đều phù hợp với mọi loại hình đơn vị Các nguyên tắc
kiểm soát là các khái niệm cơ bản của từng bộ phận cấu thành
Vìthế, báo cáo COSO tin rằng 17 nguyên tắc có thể phù hợp với
mọi loại hình đơn vị Lý do được đưa ra là vì các nguyên tắc này
là quantrọng đối với sự hiện hữu và vận hành hữu hiệu của bộ
phận liên quan Nói cách khác, nếu một nguyên tắc không hiện
hữu hoặc không vận hành hữu hiệu trong thực tế thì bộ phận liên
quancũng không hiện hữu hoặc không vận hành hữu hiệu
NĂM BỘ PHẬN CÙNG HOẠT ĐỘNG NHƯ MỘT
THỂ THỐNG NHẤT
Báo cáo COSO yêucầu cả năm bộ phận cấu thành cùng hoạt
động như một thể thống nhất, nghĩa là sự vận hành của cả năm
bộ phận tạo ra tác động chung làm giảm rủi ro không đạt được
một mục tiêu nào đó xuống mức thấp có thể chấp nhận được
Năm bộ phận cấu thành của kiểm soát nội bộ phụ thuộc lẫn nhau
với các mối quan hệ và liên kết đa chiều giữa các bộ phận, nhất
làsự tương tác giữa các nguyên tắc kiểm soát trong một bộ phận
vàgiữa các nguyên tắc của các bộ phận khác nhau
Hạn chế tiềm tàng của Kiểm soát nội bộ
Kiểm soát nội bộ dù được thiết kế và vận hành một cách tốt nhất, cũng chỉ đảm bảo
luôn có các hạn chế tiềm tàng Hạn chế này có thể xuất phát từ xét đoán không hợp
lý của con người khi đưa ra quyết định, cũng có thể xuất phát từ sự thông đồng
giữa các nhân viên, hay người quản lý khống chế hệ thống kiểm soát nội bộ.
Khi xem xét các hạn chế tiềm tàng của kiểm soát nội bộ, cần phân biệt hai loại: thứ
nhất luôn có một số sự kiện xảy ra nằm ngoài thiết kế hệ thống kiểm soát và thứ hai
là các hoạt động kiểm soát không thể luôn luôn thực hiện trong thực tế theo đúng
như thiết kế.
Tuy nhiên, đảm bảo hợp lý không có nghĩa là hệ thống kiểm soát nội bộ sẽ thường
xuyên thất bại trong việc kiểm soát Việc phối hợp nhiều hoạt động kiểm soát sẽ
giúp giảm thiểu rủi ro không đạt được mục tiêu của đơn vị Hơn thế nữa, các hoạt
động kinh doanh diễn ra hàng ngày và những cá nhân chịu trách nhiệm có liên quan
luôn điều chỉnh kiểm soát hướng đến việc đạt được mục tiêu của đơn vị Trong quá
trình thiết kế và vận hành, người quản lý cần chú trọng đến các hạn chế tiềm tàng
khi lựa chọn, phát triển và mở rộng các kiểm soát để giảm thiểu các hạn chế này.
Trang 13CÁC BỘ PHẬN CỦA HỆ THỐNG KIỂM SOÁT
NỘI BỘ THEO BÁO CÁO CỦA COSO
Môi trường kiểm soát
Đánh giá rủi roCác hoạt động kiểm soátThông tin và truyền thôngGiám sát
Môitrường kiểm soát là tập hợp các tiêu chuẩn, quy định cà cấu
trúc làmnền tảng cho việc thiết kế và vận hành kiểm soát nội bộ
trongmột đơn vị
Hội đồng quản trị và các nhà quản lý cấp cao đóng vai trò quan
trọng trong việc thiết kế và duy trì một môi trường kiểm soát hữu
hiệu
MỘT MÔI TRƯỜNG KIỂM SOÁT HỮU HIỆU
CẦN ĐÁP ỨNG 5 NGUYÊN TẮC SAU:
Nguyêntắc 1: Đơn vị thể hiện sự cam kết các giá trị đạo đức
Nguyêntắc 2: Hội đồng quản trị thể hiện sự độc lập với nghề quản lý và đảm
nhiệm chức năng giám sát việc thiết kế và vận hành hệ thống kiểm soát nội
bộ
Nguyêntắc 3: Dưới sự giám sát của Hội đồng quản trị, nhà quản lý xây dựng
cơ cấu, các cấp bậc báo cáo, cũng như phân định trách nhiệm và quyền hạn
phùhợp cho việc thực hiện các mục tiêu
Nguyêntắc 4: Đơn vị thể hiện sự cam kết về việc thu hút nhân lực thông qua
tuyển dụng, phát triển và giữ chân các cá nhân có năng lực phù hợp để đạt
được mục tiêu
Nguyêntắc 5: Đơn vị chỉ rõ trách nhiệm giải trình của từng cái nhân liên
quanđến trách nhiệm kiểm soát của họ để đạt được mục tiêu của đơn vị
Trang 142 ĐÁNH GIÁ RỦI RO
Dù cho quy mô,cấu trúc, loại hình hay vị trí địa lý khác nhau, nhưng bất kỳ
công ty nàocũng có thể bị tác động bởi các rủi ro xuất hiện từ các yếu tố bên
tronghoặc bên ngoài
Rủi ro được định nghĩa là khả năng một sự kiện sẽ xảy ra có thể tác động
tiêucực đến việc đạt được mục tiêu
Đánh giá rủi ro quá trình nhận dạng và phân tích những rủi ro ảnh hưởng
đến việc đạt được mục tiêu, từ đó có thể quản trị được rủi ro
Khiđánh giá rùi ro đe dọa mục tiêu của doanh nghiệp cẩn xem xét trong
mối liên hệ với các ngưỡng chịu đựng rủi ro đã thiết lập Điều kiện tiên quyết
mức độ khác nhau và phải nhất quán Nhà quản lý cũng cần xem xét sự phù
động kinh doanh, những quy định pháp lý luôn thay đổi, nên cơ chế nhận
dạng và đổi phó rủi ro phải liên kết với sự thay đổi này
ĐÁNH GIÁ RỦI RO CẦN TUÂN THỦ 4
Nguyêntắc 6: Đơn vị xác định mục tiêu một cách cụ thể, tạo điều
kiện cho việc nhận dạng và đánh giá rủi ro liên quan đến mục tiêu
Nguyêntắc 7: Đơn vị nhận dạng các rủi ro đe dọa mục tiêu của
đơn vị và phân tích rủi ro để quản trị các rủi ro này
Nguyêntắc 8: Đơn vị cân nhắc khả năng có gian lận khi đánh giá
rủi ro đe dọa đạt được mục tiêu
Nguyêntắc 9: Đơn vị nhận dạng và đánh giá các thay đổi có thể
ảnh hưởng đáng kể đến hệ thống kiểm soát nội bộ
NHẬN DẠNG RỦI RO
Nhàquản lý cần nhận dạng rủi ro xỷ ra ở tất cả các cấp trong đơn
vị và có biện pháp phù hợp để đối phó rủi ro Doanh nghiệp cũng
cần xác định ngưỡng chấp nhận rủi ro và khả năng hoạt động
trongmức độ rủi ro đó
Nhận dạng rủi ro là một quá trình lặp đi lặp lại và thường nằm
trong quy trìnhlập kế hoạch của một đơn vị