Bảng hỏi đềcập đến vấn đề thu nhập, chi tiêu của các hộ gia đình, các ngành nghề, trình độ họcvấn và các điều kiện sinh hoạt, các phương tiện sinh hoạt trong các hộ gia đình.Ngoài ra bản
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Cùng với sự phát triển của quá trình toàn cầu hóa, nền kinh tế thế giới đã cóbước chuyển biến mạnh mẽ, đời sống của người dân hầu khắp các quốc gia đã đượcnâng lên rõ rệt Nhưng bên cạnh đó đói nghèo vẫn là vấn đề xã hội bức xúc của cácquốc gia trên thế giới Số liệu điều tra cho thấy mỗi ngày trên thế giới có đến 35000trẻ em phải chết vì những căn bệnh có thể chữa khỏi bằng các phương pháp dinhdưỡng và sự chăm sóc y tế sơ đẳng nhất Các quốc gia phát triển, giàu có cũngkhông tránh khỏi điều đó Liên minh châu âu (EU) có 12% số hộ sống dưới mứcnghèo Tại Hợp chủng quốc Hoa Kỳ những năm 80 của thế kỷ 20 đã có thêm 4triệu trẻ em rơi vào cảnh bần hàn Nhưng nạn nghèo đói đặc biệt nghiêm trọng ởcác quốc gia đang phát triển Việt Nam cũng nằm trong bối cảnh như vậy Trênthực tế, từ sau đại hội đại biểu lần thứ VI (T12/1986) toàn Đảng, toàn dân tiến hànhcông cuộc đổi mới và đã đạt được thành tựu đáng kể Cũng chính sự thay đổi đó đãkhiến nhiều người Việt Nam có thể cải thiện được cuộc sống của mình hay bắt đầu
sự cải thiện đó Các cá nhân, hộ gia đình và các tổ chức kinh tế, xã hội cũng nhưcác công ty ngày càng kiểm soát được nguồn lực phát triển Song song với điều đó
là sự có mặt ngày càng tăng của các loại hàng hóa dịch vụ Tuy vậy ở nước ta vẫntồn tại những yếu kém nhất định về kinh tế xã hội: một số nhóm lại không ở vị thếtốt để có thể tận dụng được các thị trường và kiểm soát nguồn lực Sự thay đổi củanền kinh tế đã gây nên sự chênh lệch ngày càng lớn giữa các giai tầng xã hội Vìvậy trong xã hội xuất hiện sự chênh lệch giữa nhóm giàu và nhóm nghèo Nhómgiàu tập chung chủ yếu ở đô thị Nhóm nghèo tập chung chủ yếu ở nông thôn, trung
du, miền núi Hiện nay ở Việt Nam mức nghèo vẫn chiếm tỷ lệ cao Theo báo cáo
về tình hình phát triển quốc tế của ngân hàng thế giới (WB), Việt Nam vẫn đứngthứ 19 kể từ nước nghèo nhất (1999) Qua nguồn số liệu điều tra mức sống dân cư
Trang 2ở Việt Nam các năm 1993 và 1998, WB đã xác định ngưỡng nghèo chung theomức chi tiêu tối thiểu 96.700đ (1993) và 149.156đ (1998) 1người/tháng Theo cáchtính này thì Việt Nam năm 1993 có58,1% và 1998 vẫn còn 37,4% dân cư nghèođói Tỷ lệ này cao hơn nhiều so với một số nước lân cận như Trung Quốc (10%),Inđônêxia (15%), Philipin (21%), Thái lan (16%) Ở Việt Nam, trong những nămgần đây Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu trong việc xóa đói giảm nghèo.Trong 10 năm qua, hầu như 1/3 tổng dân số đã thoát khỏi cảnh nghèo đói Vậy thì
để tiến tới xóa bỏ dần vấn đề này phải cần nhìn nhận thực trạng của nó đúng về bảnchất và xem xét nó trong bối cảnh mới Như Vivien Wee- Giám đốc chương trìnhEngender và Neoleen Heyer Giám đốc Quỹ phát triển phụ nữ của Liên Hiệp Quốc
đã viết: “Chúng ta không thể giải quyết nạn nghèo đói mà không hiểu các quá trình
đã làm cho người nghèo thành nghèo và người giàu thành giàu”
Phú Thọ là tỉnh trung du miền núi, ở đây không có điều kiện phát triển dudịch, thông thương buôn bán Do điều kiện địa hình điều kiện kinh tế chưa đượcphát triển Diện tích đất trống đồi núi trọc nhiều, diện tích đất quảng canh khôngcao Người dân sống bằng nông nghiệp chủ yếu với phương thức tự cung tự cấp
Do vậy ở tỉnh có tỷ lệ hộ nghèo cao Nhiều vùng xa xôi hẻo lánh, sống xa rời đôthị, có nhiều xã sống trong cảnh nghèo Thái Ninh là một xã như vậy Mặc dù trongnhững năm gần đây, chính quyền xã đã có nhiều biện pháp và phương thức trongviệc xóa đói giảm nghèo nhưng tình trạng nghèo vẫn là vấn đề bức xúc
Tất cả những vấn đề trên đã gợi nên trong tôi ý tưởng nghiên cứu đề tài: “Tìmhiểu thực trạng nghèo đói của người dân xã Thái Ninh huyện Thanh Ba, tỉnh PhúThọ hiện nay”
2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
2.1.Ý nghĩa khoa học:
Kết quả nghiên cứu làm sáng tỏ hệ thống lý thuyết của xã hội học đại cươngnhư bất bình đẳng xã hội, cơ cấu xã hội, phân tầng xã hội, biến đổi xã hội và các
Trang 3chuyên ngành xã hội học: Xã hội học kinh tế như lý thuyết tăng trưởng kinh tế, lýthuyết về phân hóa giàu nghèo.
3 Mục tiêu nghiên cứu
- Tìm hiểu thực trạng nghèo đói nghèo của xã Thái Ninh huyện thanh ba tỉnhPhú Thọ
- Phân tích những nguyên nhân ảnh hưởng đến tình hình nghèo đói của xãThái Ninh huyện Thanh Ba tỉnh Phú Thọ
Xu hướng đề xuất và đề xuất những khuyến nghị mang tính khả thi
4 Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu:
Thực trạng nghèo đói của người dân xã Thái Ninh huyện Thanh Ba tỉnh PhúThọ
4.2 Khách thể nghiên cứu:
Hộ gia đình xã Thái Ninh huyện Thanh Ba tỉnh Phú Thọ
4.3 Phạm vi nghiên cứu:
Trang 4Xã Thái Ninh huyện Thanh Ba tỉnh Phú Thọ
5 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp phỏng vấn bằng bảng hỏi
Tổng số bảng hỏi được phát ra là 100 bản và thu về đủ 100 bản Bảng hỏi đềcập đến vấn đề thu nhập, chi tiêu của các hộ gia đình, các ngành nghề, trình độ họcvấn và các điều kiện sinh hoạt, các phương tiện sinh hoạt trong các hộ gia đình.Ngoài ra bảng hỏi còn đề cập đến nguyên nhân của thực trạng nghèo đói, đánh giácủa người dân về mức sống và kinh tế của mỗi hộ gia đình Quá trình điều tra bằngbảng hỏi được tiến hành như sau: Trước tiên việc chọn mẫu căn cứ vào cơ cấu nghềnghiệp chính trên địa bàn, người trả lời chủ yếu là những đối tượng có khả năngđánh giá về dời sống vật chất cũng như tinh thần của gia đình Trong quá trìnhphỏng vấn hầu hết các câu hỏi và câu trả lời được đưa ra một cách khách quan rõràng, sau đó ghi chép chính xác phương án lựa chọn của người trả lời Vì vậy,phần lớn kết quả thu được từ bảng hỏi là ý kiến đánh giá thực tế của người dân địaphương Tuy nhiên trong quá trình nghiên cứu tại địa bàn, bên cạnh sự giúp đỡ của
bà con nhân dân và chính quyền địa phương thì tôi vẫn gặp một số khó khăn sau:Một số người dân ngại trả lời các câu hỏi vì họ sợ liên lụy, ảnh hưởng đến lợi ích
cá nhân Đồng thời về một số mặt thì do tâm lý người dân ngại nêu điều kiện khókhăn, họ lại trả lời khiêm tốn ở một số câu hỏi về đời sống, mức thu nhập Và mộtkhó khăn khác là có một số câu hỏi không phù hợp với thực tế tại địa bàn.Qua thực
tế điều tra và xử lý số liệu tôi thu được cơ cấu mẫu sau:
Trang 55.2 Phương pháp phân tích bảng hỏi:
Dựa trên số liệu đã xử lý, tiến hành phân tích số liệu để từ đó thấy được số liệuđịnh lượng cho đề tài nghiên cứu Đồng thời đọc qua sách báo, internet nhằm làmphong phú vấn đề nghiên cứu
- Mức thu nhập, chi tiêu của các gia đình còn ít
- Gia đình nghèo đói thường đông con
- Đói nghèo ở xã Thái Ninh có xu hướng giảm dần
Trang 6Nhà nước
Nhận thức và hành động của người dân xã Thái Ninh trong sản xuất
Mức sống của người dân xã
Thái Ninh
Hệ thống dịch
vụ xã hội
Trang 7+ Nhận thức không chỉ bên ngoài sự vật hiện tượng mà phải nhận thức đượcbản chất bên trong cũng như vận động và kết quả của nó.
+ Khi xem xét các hiện tượng cần đặt chúng trong mối liên hệ biện chứng vớinhau Bởi vì mọi sự vật hiện tượng nảy sinh không do một nguyên nhân xảy ra + Cần phải nhìn nhận xem xét đối tượng nghiên cứu trong điều kiện lịch sửriêng biệt của nó chứ không nhìn nhận một cách siêu hình
Các lý luận và phương pháp này đòi hỏi khi nghiên cứu các sự kiện, các quátrình xã hội phải đặt trong hoàn cảnh, điều kiện lịch sự cụ thể hay các sự kiện, hiệntượng, quá trình đó phải đặt trong một phạm vi không gian nhất định, khoảng thờigian cụ thể và trong một mạng lưới các quan hệ xã hội xác định Lý luận và phươngpháp luận Mác xít ngoài yêu cầu nghiên cứu các sự vật hiện tượng trong mối liên
hệ biện chứng, còn đòi hỏi xem xét chúng trong sự vận động biến đổi Có nghĩa làchúng ta phải nghiên cứu vấn đề từ trong mối liên hệ qua lại đến những biểu hiệnđang diễn ra và xu thế vận động biến đổi của chúng trong tương lai
Trang 8Áp dụng vào đề tài ta thấy để hiểu rõ được thực trạng nghèo đói thì không thểxem xét bên ngoài thực trạng mà phải xem xét được bản chất bên trong của hànhđộng đó, tức là tìm hiểu nguyên nhân Đó là quy luật của cuộc sống Và khi xemxét thực trạng đó ta phải đặt chúng trong mối liên hệ biện chứng bởi vì tìm hiểumột vấn đề nhất là thực trạng nghèo đói không chỉ do một nguyên nhân Xem xétvấn đề nghèo đói trong quá trình thay đổi của thời kỳ mới và trong xu thế vận độngbiến đổi của nó ở tương lai Và phải đặt chúng trong bối cảnh lịch sử riêng biệt củaPhú Thọ
Nhìn nhận quan điểm lịch sử khi tìm hiểu vấn đề nghèo đói ở nông thôn xãThái Ninh ta sẽ có được các chỉ báo kinh tế xã hội, phong tục tập quán và đặc trưngvăn hóa rất cụ thể của nó Trong bối cảnh Việt Nam thực hiện công nghiệp hóa,hiện đại hóa đất nước, toàn cầu hóa thì thực trạng nghèo được đặt ra là hết sức bứcthiết không chỉ một quốc gia nào Nhất là Việt Nam- Nước có nền kinh tế kém pháttriển Thực trạng nghèo cần được quan tâm hơn nữa
1.1.2 Lý thuyết áp dụng
Xuất phát từ lý luận chung đó, người viết sử dụng một số lý thuyết xã hội học
để tiếp cận vấn đề nghiên cứu: Tăng trưởng kinh tế, lý thuyết cơ cấu xã hội, bấtbình đẳng xã hội, phân tầng xã hội
Lý thuyết kinh tế của Marx: Lý thuyết kinh tế của Marx không tách biệt rakhỏi xã hội Trong lý luận của mình, Marx coi kinh tế là nền tảng, là huyết mạchchi phối và làm biến đổi toàn bộ toàn bộ xã hội Marx chỉ ra vai trò quyết định củayếu tố vật chất, của lực lượng sản xuất và phương thức sản xuất đối với hành động
và ý thức của cá nhân, nhóm xã hộ Điều này được phản ánh rõ trong luận điểm củaMarx: Tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội
Trang 9Khái niệm phân tầng được xã hội học sử dụng thuật ngữ này để nói tới trạngthái phân chia xã hội ra thành các tầng lớp Tuy nhiên xét vào bản chất thì kháiniệm này nhấn mạnh yếu tố “tĩnh” trong khi xã hội luôn luôn biến đổi Hơn nữa,trong xã hội không có sự phân biệt rạch ròi giữa các tầng lớp mà thường xuyên có
sự chuyển hóa lẫn nhau do tính cơ động tạo nên Mặc dù vậy, thuật ngữ phân tầngcũng mô tả được trạng thái nhiều tầng lớp của xã hội trong điều kiện thời gian vàkhông gian nhất định Đề tài nghiên cứu thực trạng nghèo cũng thể hiện rõ sự phântầng Trong xã hội, có thể tạm chia tầng lớp giàu và tầng lớp nghèo Tuy nhiên khixem xét tầng lớp nghèo thì không thể xét chúng trong trật tự “tĩnh”, tức là không có
sự biến đổi Khi xã hội phát triển đến một mức độ nào đó, tầng lớp nghèo có thể sẽthay đổi Họ sẽ không còn ở vị trí nghèo nữa mà có thể di chuyển đến tầng lớpgiàu Đó là sự thay đổi về thời gian Sự biến đổi giàu nghèo cũng thể hiện ngaytrong chính không gian vùng địa lý nào đó, vùng này với vùng khác Hay sự biếnđổi đó diễn ra ngay trong lòng vùng nghèo Có thể nói phân tầng xã hội dựa vào sựbiến đổi, sự vận động của xã hội
- Nhìn chung nói đến phân tầng xã hội, một số tác giả đề cập đến bất bìnhđẳng xã hội Bất bình đẳng là sự không bình đẳng (không bằng nhau) về cơ hộihoặc lợi ích đối với những cá nhân khác nhau nằm trong một nhóm hoặc nhiềunhóm xã hội Phân hóa giàu nghèo gắn liền với sự phân hóa xã hội, phân tầng xãhội và bất bình đẳng xã hội Tất cả các hiện tượng này với các nguyên nhân, hìnhthức biểu hiện, hậu quả và xu hướng biến đổi của chúng đều là những chủ đề trọngtâm của nghiên cứu xã hội nói chung và xã hội học kinh tế nói riêng Học thuyếtMarx nhấn mạnh các nguyên nhân kinh tế của sự phân chia giai cấp và sự phântầng xã hội Lý thuyết của Weber vạch ra các nhân tố kinh tế, phi kinh tế và tìnhhuống thị trường của sự phân tầng xã hội Thuyết chức năng của Davis và Moore
và thuyết hệ thống xã hội của Parsons nhấn mạnh các yếu tố chức năng của sự phântầng xã hội và bất bình đẳng xã hội Thuyết mâu thuẫn của Dahrendorf và Collinstập trung làm rõ vai trò của mầu thuẫn quyền lực đối với bất bình đẳng xã hội
Trang 10Bất bình đẳng xã hội là sự phân hóa xã hội đến mức làm tăng lợi ích của tầnglớp xã hội này với cái giá của sự phương hại lợi ích của nhóm xã hội khác trongcấu trúc phân tầng xã hội nhất định Sự phân hóa xã hội luôn dẫn đến sự khác nhauthậm chí sự phân tầng xã hội nhưng không phải là phân tầng xã hội nào cũng là bấtbình đẳng xã hội Ví dụ sự khác nhau về năng lực và trình độ học vấn và tay nghề
có thể dẫn đến sự khác nhau về thu nhập giữa các nhóm người Nhưng ở đây chưachắc đã là sự bất bình đẳng xã hội bởi vấn đề còn nằm ở chỗ xã hội học tập và cơhội việc làm cũng như nhiều yếu tố khác
Bất bình đẳng xã hội diễn ra trên cấp độ cá nhân, hộ gia đình, nhóm xã hội,trong phạm vi một cộng đồng, một vùng, một quốc gia Đồng thời giữa các quốcgia, giữa các khu vực trên thế giới cũng xảy ra sự phân tầng xã hội, trong đó một sốnước lâm vào cảnh đói nghèo, lạc hậu và một số nước trở nên phồn vinh
Nhìn chung quan điểm của các nhà khoa học quanh vấn đề kinh tế, bất bìnhđẳng và phân tầng xã hội là khác nhau, thậm chí độc lập nhau Chẳng hạn nhưKuznets với giả thuyết cho rằng: Trong lịch sử phát triển nhiều nước, sự bất bìnhđẳng thường tăng dần ở giai đoạn đầu, đến giai đoạn phát triển kinh tế phát triểnđạt trình độ nhất định thì sự bất bình đẳng sẽ giảm đi Những phân tích gần đây củaAdelman và Moris (1987) ở một số nước đang phát triển lại cho thấy giả thuyếttrên không hoàn toàn đúng Các ông cho rằng phát triển kinh tế và công bằng xãhội là 2 mục tiêu không hoàn toàn mâu thuẫn và có thể giải quyết được bình đẳng
xã hội ngay trong giai đoạn đầu của sự phát triển
- Cách tiếp cận chu trình cuộc sống: Theo quan niệm này, hành vi cá nhân bịtác động bởi nhiều yếu tố mà cá nhân đó sống trong xã hội Khi xã hội biến đổi thìnhu cầu của mỗi người sẽ biến đổi theo từng thời điểm lịch sử cụ thể Theo cáchtiếp cận này thì thực trạng nghèo ở mỗi vùng, mỗi nơi sẽ không giống nhau Khikinh tế của tỉnh nói chung và xã nói riêng thay đổi sẽ làm cho thực trạng nghèo
Trang 11thay đổi: Số lượng nghèo sẽ ít đi, đời sống của đại bộ phận dân cư xã Thái Ninh sẽkhá lên
1.2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Vấn đề nghèo đói trước khi đổi mới không được quan tâm nhiều Theo cơ chếtập chung bao cấp, mọi người cùng làm cùng hưởng theo cách “ Bình quân chủnghĩa” hầu như các hộ gia đình có điều kiện kinh tế đều như nhau hay nói cáchkhác là “ Chia đều sự nghèo đói”.Từ ngày đổi mới, kinh tế đất nước phát triểnnhưng kéo theo đó là hàng loạt vấn đề xã hội nảy sinh, trong đó sự phân hóa giàunghèo Trên thực tế, chỉ đầu thập niên 90 của thế kỷ 20 vấn đề nghèo đói mới đượcnghiên cứu 1 cách khoa học Hiện nay vấn đề xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam đangđược quan tâm chú ý
Chúng ta có thể kể ra rất nhiều chương trình tiêu biểu được thực hiện bởi cácnhà khoa học thuộc các cơ quan, đơn vị có uy tín như: Trung tâm khoa học xã hội
và nhân văn quốc gia, Bộ lao động, thương binh xã hội, tổng cục thống kê… Đó là
“khảo sát Xã Hội Học về phân tầng xã hội” đề tài KX 04-02 do PGS Tương lai làmchủ nhiệm; “ Về phân tầng xã hội ở nước ta giai đoạn hiện nay” đề tài KX 07-05 doPGS PTS Đỗ Nguyên Phương làm chủ nhiệm; “Khảo sát XHH về nhà ở của ngườinghèo ở Hà Nội” Viện Xã Hội Học, tháng 12 -1994; “Chương trình xóa đói giảmnghèo ở Hà Nội” Viện Xã Hội Học, tháng 12 -1994; “ Chương trình xóa đói giảmnghèo” của Bộ lao động thương binh xã hội (1992); Điều tra tình trạng nghèo ởViệt Nam, tổng cục thống kê, 1993; Ngân hàng thế giới (WB) 1998, “Việt Nam:Proverty Assessment” an Stategye”; Save the children UK ( 1999); Chương trìnhphát triển nông thôn miền núi Lào Cai (MRDP): “ Báo cáo đánh giá về nghèo khổvới sự tham gia của cộng đồng ( 1999); Nhóm nghiên cứu Trịnh Duy Luân, VũTuấn Anh, Nguyễn Xuân Mai: “ Nghèo khổ và các vấn đề xã hội ở Hải Phòng” Những công trình tiêu biểu kể trên đã đặt nền móng , là cơ sở cho các nghiêncứu tiếp theo Trên tinh thần đó đề tài này chỉ là một nghiên cứu bổ xung với hy
Trang 12vọng góp phần bé nhỏ làm cho việc nghiên cứu vấn đề nghèo đói được nhìn nhậnhoàn chỉnh hơn, mới mẻ hơn
1.3 Một số khái niệm liên quan
1.3.1 Nghèo đói
Một số học giả người nước ngoài cho rằng: nghèo đói là tình cảnh mà trong đó
sự tăng lên chậm chạp của thu nhập đẩy các cá nhân hoặc gia đình tới chỗ tồi tệhơn bao giờ hết, như là hậu quả của sự mất những quyền lợi và lợi ích khác nhau.Chẳng hạn những người có thu nhập thấp ở Anh, họ không chỉ được chọn cho trợcấp an toàn xã hội mà còn được giảm tiền đóng thuế thu nhập và bảo hiểm quốcgia Thu nhập tăng lên không đáng kể có thể dẫn đến mất an toàn xã hội và đặt họvào chỗ phải trả tiền thuế thu nhập và bảo hiểm quốc gia cao Sự tăng lên chậmchạp của thu nhập có thể xem là ít hơn khoản phụ trội mà họ phải trả cho thuế thunhập, bảo hiểm xã hội và sự mất an toàn xã hội của họ
Sự tồn tại nghèo đói dường như là không thể tránh khỏi ở những nơi mà cómột hệ thống phương tiện kiểm soát các lợi ích cộng đồng xã hội
Tương tự như vậy, đối với các bà mẹ cô đơn có thể coi là nghèo đói khi họphải làm việc liều lĩnh để có thêm thu nhập chỉ vì một lý do chính đáng là chi trảcho chăm sóc con cái bằng cách kiếm thêm việc ngoài giờ hoặc từ bỏ mọi việclàm Bà ta có thể chăm sóc con cái nhưng chắc chắn sẽ mất đi những lợi ích nghềnghiệp, gồm cả lương hưu (trợ cấp) cũng như tiền đồ sự nghiệp
Hội nghị quốc tế về xóa đói giảm nghèo tổ chức tại Băng Cốc (Thái Lan),tháng 9/1993 đã đưa ra định nghĩa “Nghèo” như sau: nghèo là tình trạng của một
bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của conngười, mà nhu cầu này được xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế xãhội và phong tục tập quán địa phương
Trang 13Từ đó ta có định nghĩa về nghèo đói:
* Nghèo đói là khái niệm chỉ nấc thang đầu tiên (dưới cùng) trong hệ thốngthang bậc của mức sống Những người có mức sống nằm trong giới hạn của nấcthang này được coi là nghèo đói
* Hiện nay những người dễ phải nghèo đói là người già, người ốm, người tàntật, gia đình lớn, gia đình một cha một mẹ, người thất nghiệp và lương thấp vớinghề không đảm bảo
1.3.2 Nghèo tương đối, nghèo tuyệt đối
* Nghèo tương đối:
Giáo sư Tương Lai: “ Nói chung những người được coi là nghèo tương đối lànhững người trong số 40% dân số xã hội có mức thu nhập thấp nhất”
Ngân hàng Châu Á lại cho rằng: nghèo tương đối là tình trạng dân cư có mứcsống dưới trung bình của một cộng đồng trên một địa bàn và trong thời điểm đangxem xét
Nhà kinh tế học người Mỹ Galbraith cho rằng: “Con người bị nghèo khó khi
mà thu nhập của họ ngay dù thích đáng để họ có thể tồn tại rơi xuống rõ rệt dướimức thu nhập của cộng đồng Khi đó họ không thể có những gì mà đa số trongcộng đồng coi như cái cần thiết tối thiểu để sống một cách đúng mực”
Đề tài về cơ bản thống nhất với cách xác định của Giáo sư Tương Lai Nghèotương đối là nhóm người trong con số những chục, phần trăm dân số xã hội có mứcthu nhập thấp nhất Tuy nhiên, không nên quy định một con số chính xác là phải
“40%” mà tùy thuộc vào mục đích và hoạt động thực tiễn, ta có thể nâng nhữngchục đó lên hoặc đẩy xuống miễn sao đạt hiệu quả cao nhất cho việc giải quyết cácvấn đề xã hội đang đặt ra
* Nghèo tuyệt đối: Theo ngân hàng Châu Á thì nghèo tuyệt đối là tình trạngmột bộ phận dân cư không có khả năng thỏa mãn nhu cầu tối thiểu nhằm duy trì
Trang 14cuộc sống Nhu cầu tối thiểu là những đảm bảo ở mức tối thiểu nhu cầu thiết yếu về
ăn, mặc ở và nhu cầu sinh hoạt hàng ngày gồm văn hóa, y tế, giáo dục, đi lại vàgiao tiếp
1.3.3 Hộ, gia đình , hộ gia đình
* Hộ theo Tổ chức giáo dục, khoa học và văn hóa Liên hiệp quốc (UNESCO):
“Là những người sống chung dưới một mái nhà, cùng ăn chung và có chung mộtngân quỹ”
Hội thảo quốc tế về quản lý nông thôn tại Hà Lan (1980) đã đưa ra định nghĩa
Hộ như sau: “Hộ là đơn vị cơ bản của xã hội có liên quan đến sản xuất, tái sản xuấtđến tiêu dùng và các hoạt động xã hội khác”
Ông Mc Gee - giám đốc viện nghiên cứu châu Á thuộc đại học tổng hợpBritiah Columbia lại xác định: “Ở các nước châu Á hầu hết người ta quan niệm hộ
là một nhóm người cùng chung huyết thống hay không cùng chung huyết tộc, ởchung trong một mái nhà, ăn chung một mâm cơm và có chung một ngân quỹ”
* Khái niệm gia đình, đa số các nhà nghiên cứu đều thống nhất rằng gia đình
là một nhóm người mà các thành viên gắn bó với nhau bằng quan hệ hôn nhân,quan hệ huyết thống hoặc nhận con nuôi, vừa nhằm đáp ứng những nhu cầu riêng
tư của họ, vừa thỏa mãn nhu cầu xã hội về tái sản xuất dân cư theo cả nghĩa thể xáclẫn tinh thần
* Khái niệm hộ gia đình, theo giáo sư Phan Đại Doãn: “Hộ gia đình là kháiniệm chỉ một hình thức tồn tại của một kiểu nhóm xã hội lấy gia đình làm nền tảng
Hộ gia đình trước hết là một tổ chức kinh tế có tính chất hành chính và địa lý”.Như vậy, khái niệm hộ, gia đình và hộ gia đình đã được giới khoa học đưa racác định nghĩa để xác định nội hàm và ngoại diên của chúng Nhìn chung, kháiniệm hộ được hiểu nghiêng về phía kinh tế học, trong khi khái niệm gia đình lạinghiêng về xã hội học Trong đề tài sử dụng khái niệm hộ gia đình vừa như là đơn
Trang 15vị kinh tế tự chủ, vừa là đơn vị với những điểm riêng của nó Điều này được xácđịnh bởi tính chất liên ngành của xã hội học và kinh tế học Nói cách khác có thểgọi đề tài này là xã hội học về kinh tế.
* Khái niệm nghèo khổ là khái niệm dùng để chỉ trạng thái thiếu một cáchtuyệt đối và các phương tiện để thỏa mãn các nhu cầu thiết yếu của các cá nhân,nhóm xã hội
* Nghèo khổ tuyệt đối là tình trạng không có đủ phương tiện sinh hoạt để tồntại với tư cách là một con người
* Nghèo khổ tương đối là tình trạng thiếu một cách tương đối các phương tiệnsinh hoạt so với mức cần thiết để đáp ứng nhu cầu tối thiểu của con người trongmột xã hội nhất định (Xã hội học kinh tế)
1.3.4 Các chỉ tiêu xác định tiêu chuẩn nghèo đói
- Nghiên cứu về nghèo, xóa đói giảm nghèo như chúng ta đã trình bày đang làmột trào lưu lớn Tuy nhiên lại khó sử dụng kết quả để so sánh cũng như theo dõinhững biến động về tỉ lệ và khoảng cách các nhóm mức sống Có một số lý donhưng trước hết cần phải nói là sự không thống nhất về chỉ tiêu (tiêu chuẩn) xácđịnh giàu nghèo Các cuộc khảo sát về giàu nghèo ở Việt Nam thường sử dụngnhững chỉ tiêu sau:
* Tiêu chuẩn nghèo đói tính bằng tiền gạo: Nguyễn Văn Tiêm (chủ biên)1993; Tổng cục thống kê, 1993; Viện xã hội học, 1992-1994
* Tiêu chuẩn tương đối 20% thu nhập hoặc chỉ tiêu được áp dụng rộng rãi , ủyban kế hoạch nhà nước và tổng cục thống kê, 1999-2000
* Tiêu chuẩn đánh giá tổng hợp mức sống: Trịnh duy Luận, 1992;Đỗ thiênkính (chủ biên 1994)
- Bộ lao động thương binh và xã hội ( Molis đã 4 lần điều chỉnh tiêu chuẩnnghèo đói, 2 lần gần đây nhất
Trang 16* Năm 1997 theo Molis, hộ đói là hộ có thu nhập bình quân dưới 13 kg gạo/người/ tháng tương đương với 45 ngàn VNĐ Còn nghèo lại chia các vùng với cáctiêu chuẩn khác nhau Nông thôn, hải đảo, miền núi: Dưới 15kg gạo/ người/tháng( 55ngàn VNĐ); Nông thôn đồng bằng trung du: Dưới 20 kg gạo/ người /tháng( 70 ngàn VNĐ) ; Thành thị: <25 kg gạo/ người/ tháng( 90 ngàn VNĐ).
* Giai đoạn 2001-2005 Molis cho rằng Việt Nam không còn hộ đói, do vậyđưa ra chỉ tiêu cho hộ nghèo theo 3 vùng này: Nông thôn, miền núi, hải đảo: 80ngàn VNĐ/ người/ tháng; Nông thôn đồng bằng: < 100 ngàn VNĐ/ người/ tháng;Thành thị: 150 ngàn VNĐ/ người/ tháng
Ngân hàng thế giới và tổng cục thống kê đã xây dựng ngưỡng nghèo cho cácnước đang phát triển Giới hạn 2100 kcalorie/ người/ ngày được chọn làm ngưỡngnghèo lương thực thực phẩm, khi đó nghèo chung( nghèo đói) sẽ bằng ngưỡngnghèo lương thực thực phẩm cộng ngưỡng nghèo phi lương thực thực phẩm Đốivới các nước đang phát triển thì ngưỡng này là 1 USD/ người/ ngày
Trong nghiên cứu của mình, chúng ta sử dụng kết hợp giữa đánh giá tổng hợpmức sống và tiêu chuẩn giàu nghèo tuyệt đối tính bằng tiền Cụ thể chúng tôi sẽ sửdụng tiêu chuẩn giàu nghèo tuyệt đối tính bằng tiền (theo thu nhập) để xác định tỷ
lệ các nhóm mức sống Nhưng để đưa ra nhận xét, kết luận cho thực trạng nghèođói, chúng tôi dựa vào tiêu chuẩn đánh giá tổng hợp mức sống
Về tiêu chuẩn nghèo tuyệt đối trong nghiên cứu này, chúng tôi không sử dụnggiới hạn nghèo đói của ngân hàng thế giới và tổng cục thống kê vì nó đưa ra kếtluận quá chung chung, không thấy rằng các nhóm nghèo ở Việt Nam đang trongquá trình biến chuyển và phân hóa Đề tài cũng không sử dụng chỉ tiêu của Molis vì
nó tỏ ra quá thấp không phù hợp với giá cả hiện hành và nó cho ta đánh giá khá lạcquan về tình hình nghèo đói, làm giảm ý chí chiến đấu với thảm họa toàn cầu này
Trang 17Trên cơ sở kết hợp và phân tích đó, chúng ta sử dụng một số chỉ tiêu (ngưỡng)nghèo hợp lý hơn cho nghiên cứu của mình Giới hạn nghèo đói là nhóm có thunhập dưới 200 ngàn VNĐ/ người/ tháng Tính theo cách tính mới năm 2004.
Trang 18CHƯƠNG 2: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
2.1 Vài nét về địa bàn nghiên cứu
Phú Thọ là tỉnh trung du miền núi nằm ở đỉnh tam giác châu thổ sông Hồng,cách thủ đô Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh - Những trung tâm công nghiệp,thương mại hàng đầu của cả nước khoảng 100km nằm trong hành lang kinh tế CônMinh - Hải Phòng Đồng thời Phú Thọ có vị trí tiếp giáp với các tỉnh miền núinhiều tiềm năng phát triển kinh tế như Tuyên Quang, Hà Giang, Lào Cai, Yên Bái,lại có hệ thống giao thông đường bộ, đường sắt, đường thủy rất thuận lợi nối vớicác vùng này nên Phú Thọ có nhiều cơ hội để phát triển kinh tế và giao lưu vănhóa
Phú Thọ sau gần 20 năm đổi mới và hơn 7 năm tái lập vẫn là một tỉnh cònnhiều khó khăn nhưng một diện mạo mới thì đã được định hình với 2 tiểu vùngkinh tế rõ rệt: Tiểu vùng thuộc các huyện Thanh Sơn, Yên lập và phía tây huyệnCẩm Khê là vùng có cơ sở hạ tầng còn kém phát triển Tuy nhiên , ở vùng này cótiềm năng về lâm nghiệp và khoáng sản Còn tiểu vùng đồi gò, bát úp xen kẽ đồngruộng, dải đồng bằng ven các triền sông Hồng, hữu ngạn sông Lô, tả ngạn sông đà
và đồng bằng tương đối tập chung ở huyện Lâm Thao là vùng được khai thác từ lâuđời, có khả năng phát triển thành nguồn nguyên liệu giấy, cây công nghiệp và chănnuôi
Mặc dù mới tái lập, song kinh tế Phú Thọ thời gian qua đã có mức tăng trưởngkhá Thu nhập quốc nội tăng bình quân giai đoạn 2000-2004 đạt 9,5% Giá trị nôngnghiệp có nhịp độ tăng trưởng khoảng 4,2%/ năm An ninh lương thực được đảmbảo Diện tích cây ăn quả, trồng rừng, chăn nuôi gia súc, gia cầm đều có bước pháttriển Các ngành dịch vụ luôn vượt kế hoạch đề ra so với mức tăng trưởng bìnhquân giai đoạn khoảng 12,5% Hoạt động thương mại, tài chính, ngân hàng và cácngành dịch vụ khác đều đảm bảo và có bước nhảy vọt nhanh chóng Cơ cấu kinh tếcủa Phú Thọ đang chuyển dịch đúng hướng, tạo điều kiện thúc đẩy kinh tế phát
Trang 19triển Sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp vượt qua giai đoạn khó khăn đểđạt tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2000-2004 là 20%/ năm Các thànhphần kinh tế được khuyến khích, tạo điều kiện để sản xuất kinh doanh Đặc biệt sauhơn 7 năm tái lập, Phú Thọ đã thu hút được hàng trăm doanh nghiệp có vốn đầu tưnước ngoài vào hoạt động trên địa bàn tỉnh Phú Thọ cũng chủ trương đẩy mạnhhợp tác với các nước trong khu vực và châu Á, ban hành các chính sách ưu đãi đầu
tư và tạo môi trường thông thoáng để thu hút đầu tư
Nếu như năm 1997 - năm đầu chia tách tỉnh, tỷ lệ hộ đói nghèo toàn tỉnhchiếm 17,4% thì đến năm 2004 chỉ còn 7,2% Đời sống vật chất, tinh thần của đại
bộ phận dân cư được cải thiện đáng kể Các chương trình văn hóa - xã hội như giáodục đào tạo, y tế, văn hóa, thể dục thể thao, dân số - kế hoạch hóa gia đình đượctích cực triển khai Tỉnh đã đầu tư nâng cấp kết cấu hạ tầng khu vực đô thị, nângcấp một số tuyến đường giao thông, hệ thống điện và cấp thoát nước, mạng lướithông tin liên lạc được đầu tư hiện đại, đáp ứng nhu cầu của nhân dân
Tuy nhiên, cho đến này Phú Thọ vẫn là một tỉnh nghèo Cơ sở vật chất - kỹthuật còn khó khăn, trình độ kỹ thuật công nghệ còn lạc hậu, khả năng cạnh tranhtrên thị trường còn hạn chế Mặt khác Phú Thọ có điểm xuất phát thấp, các tiềmnăng chưa phát huy hết, Như vậy năm 2005 và những năm tiếp theo Đảng bộ ,chính quyền nhân dân Phú Thọ sẽ phải nỗ lực nhiều hơn nữa Từ nay đến năm
2010, Phú Thọ cần khoảng 23000 tỷ đồng vốn đầu tư, trong đó dự kiến thu hút vốnđầu tư trong và ngoài nước chiếm khoảng 60% Chiến lược phát triển kinh tế củatỉnh trong giai đoạn 2006-2010 là đẩy mạnh hợp tác kinh tế, xúc tiến đầu tư Đồngthời lựa chọn những nhiệm vụ mới Vấn đề nghèo đang được tỉnh quan tâm đầu tư
và có nhiều chính sách, tuy vậy ở một số huyện thì tỷ lệ nghèo vẫn còn cao Việcgiải quyết vấn đề nghèo trong từng tỉnh là nhân tố quyết định sự thành công những
kế hoạch đặt ra Để Phú Thọ: “ Hướng tới một trung tâm vùng cấp quốc gia
Trang 20Thái Ninh là một xã miền núi của huyện Thanh Ba thuộc tỉnh Phú Thọ Về vịtrí địa lý: Phía đông giáp xã Năng Yên - Quảng Nạp Phía bắc giáp xã Đông Lĩnh,Đại An Phía tây giáp thị trấn Thanh Ba Phía nam giáp xã Ninh dân Về giaothông: Có trạm đường tỉnh lộ 2 với thị trấn của huyện, tuyến đường này mới đượcnâng cấp 2004, sự thay đổi về chất lượng của tuyến quốc lộ này tạo điều kiện pháttriển kinh tế của toàn huyện nói chung và xã Thái Ninh nói chung Các ngành dịch
vụ buôn bán phát triển, các ngành công nghiệp nặng và công nghiệp có điều kiệnlưu thông thuận lợi sản phẩm hàng hóa Nhìn chung, ở huyện Thanh Ba dân cư của12/26 xã, thị trấn sống nhờ cây chè, với tổng diện tích 2000 ha và sản lượng hàngnăm có thể lên tới hàng triệu tấn Xã Thái Ninh là nơi có diện tích trồng chè và sảnlượng thu hoạch sản phẩm chè lớn cho toàn huyện
Diện tích tự nhiên của xã có 737 ha Trong đó đất để sản xuất nông nghiệp là
308 ha Diện tích đất lúa: 88ha Dân số : 2.451 khẩu có 630 hộ Người dân ở đâysống chủ yếu bằng nông nghiệp chiếm 96% Các ngành nghề chậm phát triển, xãThái Ninh không có nơi trao đổi buôn bán ( chợ) , ở xã không có nghề truyềnthống, mức sống bình quan thấp so với huyện, bình quân thu nhập năm 2005 là4,21 triệu đồng/ năm
Đời sống người dân còn gặp nhiều khó khăn, theo tiêu chuẩn xác định nghèomới nhất ( 2004) là dưới 200 ngàn đồng/ tháng thì vẫn còn 157 hộ chiếm 26,5 %
2.2 Thực trạng nghèo đói
Phú Thọ vẫn là một tỉnh nghèo so với cả nước Tỉ lệ hộ nghèo năm 2005 là5% Trong đó xã Thái Ninh có tỷ lệ hộ nghèo là 26,5% Sau đây chúng ta đi vàonghiên cứu tình hình nghèo đói của các hộ gia đình trên cơ sở thu nhập, chi tiêu,điều kiện sinh hoạt để thấy rõ hơn mức độ nghèo đói của các hộ gia đình
2.2.1 Thu nhập
Trang 21Các số liệu đo lường nghèo đói ở Việt Nam cho thấy một xu hướng tích cực là
tỉ lệ số hộ sống dưới mức nghèo liên tục giảm trong suốt thời gian qua, kể từ khichính sách của Đảng và Nhà nước đi vào cuộc sống Tỷ lệ nghèo trong bối cảnhmới đã khác trước Trung du miền núi cũng vậy, để thấy rõ được thực trạng nghèohiện nay chúng ta xem xét trước tiên về thu nhập của các hộ gia đình.Qua điều tra,
ta có bảng tần suất về thu nhập của các hộ gia đình Với đơn vị tính là trđ/hộ/ năm
Biểu đồ 1: Thu nhập của các hộ gia đình
Nhìn vào biểu đồ ta thấy số hộ có mức thu nhập từ 5-10 triệu/năm ,và số hộ
có mức thu nhập 1-5 triệu/ năm chiếm tỷ lệ cao nhất (37%) Số hộ có mức thu nhập10-15 chiếm tỷ lệ thấp hơn Từ đó ta có thể thấy sự chênh lệch giữa các mức thu số
hộ có thu nhập 10-15 triệu chiếm tỷ lệ thấp nhất(21%), những hộ có mức thu 5-10triệu chiếm tỷ lệ cao(37%) Như vậy có thể thấy những hộ chiếm tỷ lệ ít đó lànhững hộ gia đình có mức thu nhập cao và những hộ gia đình chiếm tỷ lệ cao là
Trang 22những hộ có thu nhập thấp Trong toàn xã, người dân ở đây sống chủ yếu bằngnông nghiệp, cuộc sống của họ chỉ dựa vào trồng lúa, trồng hoa màu nên mức thunhập hàng năm của họ không cao Nếu tính theo tháng thì có thể thấy thu nhập của
họ rất thấp Trong các hộ có mức thu nhập từ 5 triệu thì bình quân theo tháng của
họ là 416 nghìn/ tháng Để chi tiêu cho cuộc sống hàng ngày với một số tiền nhưthế không thể đáp ứng hết nhu cầu của họ Qua bảng tần suất trên còn có những hộthu nhập rất thấp từ 1-5 triệu, có những gia đình mỗi năm chỉ có 1,2 triệu như vậy
là mỗi tháng các hộ đó có khoảng 100 nghìn đồng một tháng Một mức thu nhập cóthể nói là quá thấp cho chi tiêu tối thiểu trong cuộc sống Khi phỏng vấn một ngườidân về thu nhập của họ:
“Chị cũng chả biết nữa nhưng mỗi năm 2 vụ, trừ hoa màu đi có khoảng 1 triệucho 2 vụ cấy Mà vụ mùa được nhiều hơn, mỗi lần bán thóc được 600, vụ chiêmkhoảng 500”
Nữ 30 tuổi, làm ruộng
Như vậy là tính theo tháng khi quy đổi ra tiền chỉ có 100 nghìn gia đình ấyphải lo các khoản khác và lương thực cũng rất khó khăn Đó là chưa kể mất mùa dothiên tai, dịch bệnh Nếu so sánh với mức nghèo tối thiểu bình quân đầu người mộttháng theo cách tính năm 2004 là 200nghìn đồng/ người một tháng thì những hộ giađình trên thuộc vào diện nghèo đói Hiện nay cùng với sự phát triển của cả nước thìkinh tế toàn tỉnh Phú Thọ đã phát triển hơn trước, kéo theo đó nền kinh tế xã TháiNinh cũng dần thay đổi Tỷ lệ hộ nghèo cũng giảm đi đáng kể
Trong bối cảnh chung của cả nước các số liệu đo lường nghèo đói ở Việt Namcho thấy, một xu hướng tích cực là tỉ lệ số hộ sống dưới mức nghèo liên tục giảmtrong suốt thời gian qua, kể từ khi có chính sách của Đảng và Nhà nước Các tiêuchuẩn nghèo đói liên tục được thay đổi cho phù hợp với diễn biến kinh tế, tỷ lệnghèo đói ở Việt Nam vẫn có xu hướng giảm rõ rệt Xã Thái Ninh cũng vậy Nhìnvào bảng số liệu ta thấy số hộ có mức thu nhập 10-15 triệu và trên 15 triệu có tỷ lệ
Trang 23cũng khá cao: 18% và 21% Tuy nhiên, xét trên bình diện chung các hộ gia đình cóthu nhập từ 1-5 triệu và 5-10 triệu thì vẫn chiếm tỷ lệ cao hơn Khi nhìn vào thựctrạng thu nhập ta có kết luận là hộ này giàu, hộ này nghèo là không chính xác, danhgiới rất mong manh, bởi vì để xác định được hộ nghèo ta phải dựa vào mối tươngquan thu nhập của hộ đó với số người trong gia đình để có thể chia bình quân đầungười theo tiêu chuẩn nghèo đói hiện nay Phần sau của bài sẽ phân tích rõ hơn vềvấn đề này
Chúng ta đều biết, dưới khái niệm xã hội học, phân tầng được hiểu là phânchia xã hội thành các tầng lớp Ở đây yếu tố “ tĩnh” được nhấn mạnh trong khi xãhội luôn luôn biến đổi và trong xã hội không có sự phân biệt rạch ròi giữa các tầnglớp mà thường xuyên có sự chuyển hóa lẫn nhau do tính cơ động tạo nên Mặc dùvậy, thuật ngữ phân tầng cũng mô tả được trạng thái nhiều tầng lớp của xã hộitrong điều kiện thời gian và không gian nhất định Đề tài nghiên cứu thực trạngnghèo cũng thể hiện rõ sự phân tầng Trong xã hội, có thể tạm chia tầng lớp giàu vàtầng lớp nghèo Tuy nhiên khi xem xét tầng lớp nghèo thì không thể xét chúngtrong trật tự “ tĩnh”, tức là không có sự biến đổi Khi xã hội phát triển đến một mức
độ nào đó, tầng lớp nghèo có thể sẽ thay đổi Họ sẽ không còn ở vị trí nghèo nữa
mà có thể di chuyển đến tầng lớp giàu Đó là sự thay đổi về thời gian Sự biến đổigiàu nghèo cũng thể hiện ngay trong chính không gian vùng địa lý nào đó hay vùngnày so với vùng khác Có thể nói phân tầng xã hội dựa vào sự biến đổi, sự vận độngcủa xã hội Áp dụng vào đề tài ta thấy trong một xã có sự phân chia giàu nghèonhưng xã hội luôn biến đổi không ngừng các tầng lớp này sẽ hoán đổi cho nhautrong quá trình phát triển Những hộ gia đình nghèo năm nay nhưng có thể đến nămsau họ lại thoát nghèo, và ngược lại Nhưng theo chiều tiến của xã hội thì hiện trạngnghèo của các hộ gia đình sẽ giảm đi Như vậy là khi mà xã hội phát triển thì hiệntrạng nghèo sẽ không còn nữa Nhưng tất cả là cả một quá trình lâu dài, nó đòi hỏikhông chỉ 1,2 năm mà còn kéo dài hàng thế kỷ với sự cố gắng của tất cả cá nhântrong xã hội
Trang 24Để hiểu rõ hơn về mức độ nghèo đói, chúng ta đi tìm hiểu tương quan giữa thunhập và số người hiện có trong gia đình
2.2.1.1.Tương quan thu nhập với số người hiện có trong gia đình
Bảng 1: Bảng tương quan thu nhập và số người hiện có trong gia đình
Số người hiện có trong gia đình Tổng
24 hộ, bởi vì nếu chia bình quân đầu người trong khoảng này cao nhất chỉ có 138nghìn đồng/ người/ tháng Mức thu nhập ở khoảng này có thể nói là các hộ sốngdưới mức nghèo Bởi vì theo chuẩn nghèo hiện nay bình quân một người dưới 200ngàn là thuộc diện nghèo đói và trong khoảng 3-5 hiện có trong gia đình thì vẫncòn 3 hộ sống dưới mức nghèo rất thấp, chỉ có 83 ngàn/ người/ tháng Trongkhoảng thu nhập 5triệu đến 10 triệu đồng thì khoảng 1-3 người hiện có trong giađình chiếm tỷ lệ cao nhất 19%, sau đó đến khoảng 3-5 người chiếm 15%, ở đâymức chênh lệch không đáng kể Nếu tính bình quân đầu người ở khoảng 3 nhânkhẩu thì các hộ có thể thoát nghèo, nhưng nếu trong gia đình có 5 nhân khẩu thì thunhập bình quân đầu người cao nhất chỉ có 166 ngàn đồng/ người/ tháng Trongkhoảng thu nhập 10-15 triệu/ năm chiếm tỷ lệ không nhiều Ở khoảng thu nhập trên
15 triệu/ năm thì lại chiếm tỷ lệ cao ở những gia đình có từ 3-5 nhân khẩu và chiếm17% Đây là con số đáng mừng cho việc thoát nghèo ở địa phương Nếu tính bìnhquân đầu người thì các hộ gia đình đều vượt qua ngưỡng nghèo