1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phân tích chủ đề lãnh thổ quốc gia và vấn đề xâm phạm lãnh thổ biển đông nước ta của trung quốc

26 22 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 0,99 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vùng đất quốc gia Là phần mặt đất và lòng đất của đất liền lục địa, của đảo, quần đảothuộc chủ quyền của một quốc gia; bộ phận quan trọng nhất cấu thành nên lãnhthổ quốc gia, là cơ sở để

Trang 1

CHỦ QUYỀN LÃNH THỔ QUỐC GIA VÀ VẤN ĐỀ XÂM PHẠM

LÃNH THỔ CỦA TRUNG QUỐC TẠI BIỂN ĐÔNG

Trang 2

MỤC LỤC

MỤC LỤC i

DANH MỤC HÌNH ẢNH iii

LỜI MỞ ĐẦU 1

1 Chủ quyền quốc gia 2

1.1 Vùng đất quốc gia 2

1.2 Vùng trời quốc gia 2

1.3 Vùng biển quốc gia 2

1.3.1 Quần đảo Hoàng Sa 3

1.3.2 Quần đảo Trường Sa 3

1.4 Minh chứng chủ quyền 4

2 Tính phi pháp của đường lưỡi bò đối với Việt Nam và các nước trong khu vực 8

2.1 Nguồn gốc và lập luận “cùn” của Trung Quốc về đường chín đoạn 8

2.2 Những hành động phi pháp của Trung Quốc 9

2.2.1 Đối với các nước trong khu vực 9

2.2.2 Đối với Việt Nam 10

2.2.2.1 Đối với Hoàng Sa 11

2.2.2.2 Đối với Trường Sa 13

3 Đấu tranh, xây dựng chủ quyền lãnh hải quốc gia 14

3.1 Quan điểm của Đảng và nhà nước 14

3.2 Những hành động và biện pháp đấu tranh bảo vệ chủ quyền của Đảng và nhân dân 15

Trang 3

3.2.1 Những hành động đấu tranh, phản kháng của nước ta 15

3.2.2 Biện pháp bảo vệ hiện nay 16

3.2.2.1 Cải thiện đời sống cho nhân dân 16

3.2.2.2 Phát triển dịch vụ du lịch biển đảo 16

3.2.2.3 Tăng cường các hoạt động quốc phòng-an ninh 17

4 Liên hệ sinh viên 18

4.1 Vai trò, trách nhiệm của sinh viên 18

4.2 Phương pháp đấu tranh và hành động của sinh viên 18

4.2.1 Cần thúc đẩy công tác tuyên truyền: 19

4.2.2 Cần chú trọng xây dựng quyết tâm, định hướng cho thanh thiếu niên đối với nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển đảo 19

Lời kết 20

Tài liệu tham khảo 21

Trang 4

DANH MỤC HÌNH ẢNH

Hình 1.1: đảo Hoàng Sa nhìn từ trên cao 3

Hình 1.2: đảo Trường Sa lớn nhìn từ trên cao 3

Hình 2.1: Hình ảnh đường lưỡi bò 8

Hình 2.2: Người dân tưởng nhớ Gạc Ma 11

Hình 2.3: Tàu cá bên ta bị Trung Quốc đánh chìm 11

Trang 5

LỜI MỞ ĐẦU

Vấn đề chủ quyền Biển Đông luôn là vấn đề nóng trên các diễn đàn khuvực cũng như quốc tế, là chủ đề luôn được bàn luận trên các phương diện truyềnthông

Sóng Biển Đông tưởng chừng đã được xoa dịu khi các bên cùng ngồi lại,triển khai các cuộc đàm phán hòa bình và nhất trí thông qua các quy tắc hướngdẫn thực thi tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông Thế nhưng, khi bộquy tắc ứng xử Biển Đông chưa được hình thành thì hàng loạt sự kiện đáng tiếc

đã diễn ra khiến tình hình tranh chap biển đông thêm căng thẳng

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn “Ngày trước ta chỉ có đêm và rừng,ngày nay ta có ngày, có trời, có biển Bờ biển ta dài, tươi đẹp, ta phải biết giữgìn lấy nó” Biển, đảo Việt Nam là một phần thiêng liêng và không thể thiếu của

Tổ Quốc Thực hiện lời căn dặn của bác, Đảng và nhà nước ta cùng nhân dântrên mọi miền đất nước quyết tâm bảo vệ vững chắc chủ quyền, quyền chủquyền biển, đảo Việt Nam, từ 2 đảo lớn Hoàng Sa, Trường Sa cho đến nhữnghòn đảo nhỏ chưa có tên, một phần cũng không thể thiếu

Tranh chấp chủ quyền biển, đảo ở Biển Đông không phải là một đề tàimới nhưng với diễn biến phức tạp mang tính thời sự quốc tế cùng những quy tắc

và nguy cơ ẩn chứa thì BĐ đang rung những hồi chuông cảnh tỉnh, hối thúcnhững hành động khẩn trương, phù hợp nhằm bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ Đồngthời, chúng ta, cần phải phát huy hết sức mạnh đoàn kết của toàn dân tộc, của cả

hệ thống chính trị, mà trong đó thế hệ trẻ là lực lượng nòng cốt, xung kích trongbảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc

Trang 6

1 Chủ quyền quốc gia

Việt Nam là một quốc gia độc lập, có chủ quyền Lãnh thổ Việt Nam làmột chỉnh thể thống nhất, bất khả xâm phạm, với diện tích đất liền là 331.689

km2, với 4.550 km đường biên giới Đồng thời là nơi sinh sống của trên 98 triệudân thuộc 54 dân tộc anh em trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam

Lãnh thổ quốc gia là phạm vi không gian được giới hạn bởi biên giớiquốc gia, thuộc chủ quyền hoàn toàn và đầy đủ của một quốc gia Bao gồm:vùng đất quốc gia, vùng biển quốc gia, vùng trời quốc gia và lãnh thổ quốc giađặc biệt

1.1 Vùng đất quốc gia

Là phần mặt đất và lòng đất của đất liền (lục địa), của đảo, quần đảothuộc chủ quyền của một quốc gia; bộ phận quan trọng nhất cấu thành nên lãnhthổ quốc gia, là cơ sở để xác định vùng trời quốc gia, nội thủy, lãnh hải

Việt Nam là một quốc gia nằm trên bác đảo Đông Dương, ven biển TháiBình Dương, có vùng đất quốc gia vừa là đất liền, vừa là đảo và quần đảo, baogồm từ đỉnh Lũng Cú, Hà Giang đến Mũi Cà Mau; các đảo như Phú Quốc, CáiLân, và quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa

1.2 Vùng trời quốc gia

Là khoảng không gian phía trên lãnh thổ quốc gia, là bộ phận cấu thànhlãnh thổ quốc gia và thuộc chủ quyền hoàn toàn của quốc gia đó Việc làm chủvùng trời quốc gia trên vùng lãnh thổ quốc gia đặc biệt được thực hiện theo quyđịnh chung của Công ước quốc tế

1.3 Vùng biển quốc gia

Nội thủy là vùng biển nằm trong đường cơ sở để tính chiều rộng lãnh hải

Trang 7

Lãnh hải là vùng biển có chiều rộng 12 hải lý tính từ đường cơ sở, có chế

độ pháp lý như như lãnh thổ đất liền Ranh giới ngoài của lãnh hải là biên giớiquốc gia trên biển

1.3.1 Quần đảo Hoàng Sa

Hay còn có cái tên quốc tế phổ biến là Paracel islands Là nơi tập hợpkhoảng 30 đảo lớn nhỏ, bãi san hô và mỏ đá ngầm ở Biển Đông

Quần đảo Hoàng Sa cách miền Trung Việt Nam khoảng một phần baquãng đường đến những đảo phía Bắc của Philippines, cách đảo Lý Sơn, ViệtNam khoảng 200 hải lý và cách đảo Hải Nam, Trung Quốc khoảng 230 hải lý

Hình 1.1: đảo Hoàng Sa nhìn từ trên cao

1.3.2 Quần đảo Trường Sa

Có tên quốc tế là Spatly islands, là nơi tập hợp nhiều đảo san hô, cồn cát,rạn đá san hô và bãi ngầm rải rác xung quanh trên diện tích gần 160.000 km2 ởgiữa Biển Đông

Hình 1.2: đảo Trường Sa lớn nhìn từ trên cao

Trang 8

1.4 Minh chứng chủ quyền

Tập bản đồ Việt Nam do Đỗ Bá, tên chữ là Công Đạo, “Toàn Tập ThiênNam tứ chí lộ đồ thư”, được soạn vẽ vào thế kỷ thứ XVII, ghi rõ trong lời chúgỉai bản đồ vùng phủ Quảng Ngãi, xứ Quảng Nam rằng: “Giữa biển có một bãicát dài, gọi là Bãi Cát Vàng, độ dài 400 dặm, rộng 20 dặm, đứng dựng giữabiển, từ cửa Đại Chiêm đến cửa Sa Vinh (3) mỗi lần có gió Tây Nam thì thươngthuyền các nước đi ở phía trong trôi dạt ở đấy,…có gió Đông Bắc thì thươngthuyền đi ở phía ngoài cũng trôi dạt ở đấy, đều cùng chết đói cả, hàng hóa thìđều ở lại nơi đó”

Trong bản đồ xứ Đàng Trong do Đoàn quận công Bùi Thế Đạt vẽ năm

1774 “Giáp Ngọ Bình Nam đồ”, Bãi Cát vàng cũng được vẽ là một bộ phận củalãnh thổ Việt Nam

Nhà bác học Lê Quý Đôn đã biên soạn sách “Phủ biên tạp lục” vào năm

1776, viết về lịch sử, địa lý và hành chính xứ Đàng dưới thời chúa Nguyễn, cóchép rõ đảo Đại Trường Sa (tức Hoàng Sa, Trường Sa ngày nay) thuộc phủQuảng Ngãi rằng: “xã An Vĩnh, huyện Bình Sơn, phủ Quảng Ngãi, ở ngoài cửabiển có núi gọi là Cù Lao Ré, rộng hơn 30 dặm (đơn vị đo lường thời xưa,tương đương 0,5km), có phường Tứ Chính, dân cư trồng đậu, ra biển bốn canhthì đến, phía ngoài nữa lại có đảo Đại Trường Sa Trước kia có nhiều hải vật vàhóa vật của tầu, lập đội Hoàng Sa để lấy, đi ba ngày đêm mới đến, là chỗ gần xứBắc Hải”

Bản đồ nước Việt thời Nguyễn, “Đại Nam nhất thống toàn đồ”, được vẽvào khoảng năm 1838, có ghi “Hoàng Sa-Vạn lý Trường Sa” thuộc lãnh thổViệt Nam, phía ngoài các đảo ven bờ miền Trung, Việt Nam thuộc lãnh thổ ViệtNam

Năm 1882, bộ sách địa lý Việt Nam “Đại Nam nhất thống chí” do Quốc

sử quán nhà Nguyễn (1802-1845) soạn (phần viết về các tỉnh Trung Bộ được

Trang 9

soạn lại và khắc in năm 1909) đã ghi Hoàng Sa là bộ phận lãnh thổ Việt Namthuộc tỉnh Quảng Ngãi Cuốn sách viết: “Phía Đông tỉnh Quảng Ngãi, có đảocát (tức đảo Hoàng Sa) liền cát với biển làm hào, phía Tây Nam miền Sơn man

có lũy dài vững vàng, phía Nam liền với tỉnh Bình Định, có đèo Bến Đá chắnngang, phía Bắc giáp tỉnh Quảng Nam, có ghềnh Sa Thổ làm giới hạn…”

Từ những tư liệu được tìm thấy từ nhiều nhà hàng hải, giáo sĩ phương Tây cũng thể hiện được chủ quyền biển đảo Hoàng Sa, Trường Sa

Năm 1982, Bộ Ngoại giao Việt Nam đã công một cuốn sách trắng dẫn rađược các nguồn tư liệu lịch sử có ghi rõ các sự kiện như sau:

Một giáo sĩ phương Tây đi trên tàu Amphitrite từ Pháp sang Trung Quốcnăm 1701, viết trong một lá thư rằng: “Paracel là một quần đảo thuộc vươngquốc An Nam”

J.B Chaigneau, cố vấn của vua Gia Long, năm 1820 đã viết trong phầnchú thích bổ sung vào cuốn Hồi ký về nước Cochinchine: “Nước Cochinchine

mà nhà vua bấy giờ đã lên ngôi hoàng đế gồm xứ Cochinchine và xứ ĐôngKinh (5)… một vài đảo có dân cư không xa bờ biển và quần đảo Paracel donhững đảo nhỏ, ghềnh và đá không có dân cư hợp thành…”

Giám mục J.L.Taberd, trong bài “Ghi chép về địa lý nước Cochinchine”xuất bản năm 1837, cũng mô tả “Pracel hay Paracels” là phần lãnh thổ nướcCochinchine và nói rõ người Cochinchine gọi Pracel hay Paracels là “CátVàng” Trong “An Nam đại quốc họa đồ” xuất bản năm 1838, ông đã vẽ mộtphần của Paracel và ghi “Paracel hay Cát Vàng” (Paracel seu Cát Vàng) ở ngoàicác đảo ven bờ miền trung Việt Nam, vào khu vực quần đảo Hoàng Sa hiện nay

Cho đến thời chế độ thực dân cũng có những hiệp ước, hiệp định về chủ quyền của hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa:

Trang 10

Sau khi hiệp ước ngày 6/6/1884 được thiết lập, Pháp nhân danh Việt Namthực thi chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa Những nămsau đó Pháp đã liên tục thực thi các phương án xây dựng và phát triển hai quầnđảo, tuy thực quyền của ta lúc bấy giờ đang nằm trong tay Pháp nhưng chủquyền hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa vẫn thuộc về Việt Nam.

Không chỉ có bằng chứng tại khu vực, mà còn có những bằng chứngkhẳng định chủ quyền từ các hội nghị quốc tế Ví dụ như năm 1951, tại hội nghịhòa bình San Francisco với sự tham gia của 51 quốc gia, chủ quyền của ViệtNam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cũng đã được thừa nhận TạiHội nghị này, trưởng đoàn đại biểu chính quyền Bảo Đại là Trần Văn Hữu đãkhẳng định chủ quyền lâu đời của nhà nước Việt Nam đối với hai quần đảoHoàng Sa và Trường Sa mà không gặp bất cứ sự phản đối nào của 50 quốc giatham dự còn lại Sự kiện đó chứng tỏ Hội nghị San Francisco đã mặc nhiêncông nhận chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và TrườngSa

Ngoài ra còn có hội nghị Geneva năm 1954 về việc khôi phục hòa bình ởĐông Dương khẳng định các bên tham gia tôn trọng độc lập và toàn vẹn lãnhthổ của Việt Nam, bao gồm hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa đang do các lựclượng của Pháp và Quốc gia Việt Nam quản lý

Và cho đến nay, là một trong những thành viên của Công ước Luật Biển

1982, Việt Nam được quyền có lãnh hải rộng 12 hải lý, vùng đặc quyền kinh tếrộng 200 hải lý, thềm lục địa rộng ít nhất 200 hải lý Diện tích các vùng biển vàthềm lục địa mà tại đó Việt Nam được hưởng những quyền lợi đối với vùngbiển và tài nguyên theo quy định của Công ước là khoảng gần 1 triệu km2, gấp

3 lần diện tích lãnh thổ đất liền

Phù hợp với các quy định của Công ước Luật Biển 1982, Việt Nam đãban hành Luật Biển Việt Nam năm 2012 nhằm thống nhất quản lý việc hoạch

Trang 11

định, sử dụng, thăm dò, khai thác tài nguyên biển và quản lý các vùng biển,thềm lục địa, hải đảo của Việt Nam, cũng như việc giải quyết tranh chấp trênbiển giữa Việt Nam và các nước láng giềng.

Cùng với việc ban hành Luật Biển, Quốc hội Việt Nam cũng đã thôngqua Luật Biên giới quốc gia (2003), Luật Hàng hải 2015, Luật Tài nguyên, môitrường biển và hải đảo (2015)…

Trang 12

2 Tính phi pháp của đường lưỡi bò đối với Việt Nam và các nước

trong khu vực

Đường lưỡi bò hay còn gọi là đường chín đoạn là tên gọi dùng để chỉ khulãnh hải tại Biển Đông mà Trung Quốc tự chủ trương và đơn phương tuyên bốchủ quyền

Hình 2.3: Hình ảnh đường lưỡi bò

2.1 Nguồn gốc và lập luận “cùn” của Trung Quốc về đường chín đoạn

Nó xuất hiện lần đầu tiên vào tháng 2 năm 1948, trong phụ lục “Bản đồ vịtrí các đảo Nam Hải” của “ Bản đồ khu vực hành chính Trung Hoa Dân Quốc”

Sau khi Cộng hòa Nhân Dân Trung Hoa được thành lập năm 1949, họvẫn dựa theo hình vẽ vô căn cứ đó để đơn phương xác lập chủ quyền Đườngchín đoạn bao gồm 75% diện tích mặt nước của Biển Đông, nó bao trọn toàn bộbốn nhóm quần đảo, bãi đá ngầm lớn là quần đảo Đông Sa, quần đảo Hoàng Sa,quần đảo Trường Sa và bãi Macclesfield

Sau đó tháng 5 năm 2009, Trung Quốc đã gửi công hàm lên Tổng thư kýLiên Hiệp Quốc phản đối hồ sơ báo cáo của Việt Nam và Malaysia về ranh giớingoài thềm lục địa Tuy nhiên Trung Quốc đã đưa ra những hình ảnh những lậpluận vô căn cứ và có nội dung không rõ ràng về đường chín đoạn trong bản đồhành chính của Trung Quốc, thậm chí chúng còn được vẽ sai so với quy địnhcủa luật lệ quốc tế

Trang 13

Trung Quốc lập luận rằng: “Trung Quốc là nước ký Công ước Luật Biểnnăm 1982; trong khi năm 1994 Công ước Luật Biển mới có hiệu lực, thì chủquyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Trung Quốc đối với các đảo, đá

ở Nam Hải (biển Đông theo cách gọi của Trung Quốc) và vùng biển liên quanđược hình thành trong hơn 2.000 năm qua bắt đầu từ đời nhà Hán Quần đảoTây Sa (Hoàng Sa), quần đảo Nam Sa (Trường Sa) trong hơn 2.000 năm quanằm dưới sự quản hạt của Trung Quốc, đều thuộc về Trung Quốc Do đó, Côngước không thể truy nguyên và phân định lại chủ quyền, quyền chủ quyền vàquyền tài phán đối với vùng biển của các nước do lịch sử hình thành, đồng thờiCông ước thừa nhận quyền lợi mang tính lịch sử của các nước đối với biển vàđảo, đá” Nhưng khi được hỏi sau hơn về ý nghĩa và cơ sở pháp lý của đườngchín đoạn mà Trung Quốc tự vẽ ra thì Trung Quốc lại vòng vo không trả lời rõràng

2.2 Những hành động phi pháp của Trung Quốc

2.2.1 Đối với các nước trong khu vực

Đường lưỡi bò hay đường chín đoạn không chỉ gây ảnh hưởng đến ngdân Việt Nam vs chủ quyền lãnh thổ Việt Nam mà còn ảnh hưởng rất nhiều vànghiêm trọng đến các nước có địa phận trong khu vực là Indonesia, Malaysia,Brunei và Philipines Điển hình như các sự kiện sau đây:

26/3/2010, trên đảo Laut thuộc chủ quyền của Indonesia, một tàu ngưchính lớn của Indonesia đã chỉa súng trường có nòng cỡ lớn vào tàu hải quânIndonesia và yêu cầu thả tàu đánh cá của họ ra

Đầu năm 2014, Trung Quốc huy động lực lượng đặc nhiệm của hải quântrên tàu Jinggangshan cùng với sự hỗ trợ của thủy phi cơ, tàu hộ tống đổ bộ lênbãi James Shoal của Malaysia trong một chiến dịch mà Bắc Kinh khẳng định là

để "bảo vệ Nam Hải, duy trì chủ quyền quốc gia và phấn đấu đạt ước mơ TrungHoa hùng mạnh”

Trang 14

24/3/2016, Cơ quan an ninh quốc gia Malaysia phát hiện hơn 100 tàu cácủa Trung Quốc đánh bắt cá trái phép ngoài khơi bãi cạn Luconia thuộc vùngđặc quyền kinh tế của Malaysia.

6/2019, tàu cá Gemver 1 của Philipines đã bị tàu cá Trung Quốc đâmchìm giữa đêm tại bãi Cỏ Rong, sau khi gây án thì tàu cá Trung Quốc đã bỏchạy để lại 22 thuyền viên Philipines chơi vơi giữa biển và được tàu cá ViệtNam cứu giúp

12/9/2020, Cơ quan An ninh Hàng hải Indonesia Bakamla đã phát hiệnmột tàu cảnh sát biển Trung Quốc ở vùng biển Natuna của Indonesia Và BộNgoại giao Indonesia đã thông báo rằng Jakarta đã yêu cầu phía Trung Quốcgiải thích sự việc, đồng thời nhấn mạnh "EEZ của Indonesia không chồng chéovới vùng biển của Trung Quốc và chính phủ Indonesia không công nhận đường

9 đoạn của Trung Quốc vì nó vi phạm Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật biển(UNCLOS) 1982"

2.2.2 Đối với Việt Nam

Trung quốc đã có nhiều hành động xâm chiếm vùng lãnh hải thuộc chủquyền của Việt Nam, điều này đã gây ra rất nhiều các ảnh hưởng nghiêm trọngnhư:

Xâm phạm quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam, gia tăngcăng thẳng và ảnh hưởng trực tiếp tới hòa bình, ổn định an ninh, an toàn, tự dohàng hải và hàng không ở biển Đông

Trung Quốc đã sử dụng lực lượng vũ trang kèm với các vũ khí hiện đại

để gây sức ép củng như chiếm đóng các đảo, quần đạo của nước ta, chúng gâynên các tội ác, đau thương cho nhân dân, cho đất nướcnhư dùng vũ trang đểchiếm đóng quần đảo Hoàng Sa

Ngày đăng: 13/10/2021, 10:49

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1: đảo Hoàng Sa nhìn từ trên cao - Phân tích chủ đề lãnh thổ quốc gia và vấn đề xâm phạm lãnh thổ biển đông nước ta của trung quốc
Hình 1.1 đảo Hoàng Sa nhìn từ trên cao (Trang 7)
Hình 1.2: đảo Trường Sa lớn nhìn từ trên cao - Phân tích chủ đề lãnh thổ quốc gia và vấn đề xâm phạm lãnh thổ biển đông nước ta của trung quốc
Hình 1.2 đảo Trường Sa lớn nhìn từ trên cao (Trang 7)
Hình 2.3: Hình ảnh đường lưỡi bò - Phân tích chủ đề lãnh thổ quốc gia và vấn đề xâm phạm lãnh thổ biển đông nước ta của trung quốc
Hình 2.3 Hình ảnh đường lưỡi bò (Trang 12)
Hình 2.4: Người dân tưởng nhớ Gạc Ma - Phân tích chủ đề lãnh thổ quốc gia và vấn đề xâm phạm lãnh thổ biển đông nước ta của trung quốc
Hình 2.4 Người dân tưởng nhớ Gạc Ma (Trang 15)
Hình 2.5: Tàu cá bên ta bị Trung Quốc đánh chìm - Phân tích chủ đề lãnh thổ quốc gia và vấn đề xâm phạm lãnh thổ biển đông nước ta của trung quốc
Hình 2.5 Tàu cá bên ta bị Trung Quốc đánh chìm (Trang 15)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w