Hiện nay, vấn đề đánh giá các cuộc chiến tranh diễn ra chủ yếu ở miền Nam Việt Nam giai đoạn 19541975 là cuộc chiến tranh xâm lược hay cuộc nội chiến vẫn còn gây nhiều tranh cãi. Thực tế, các thế lực phản động đã dựa vào chuyện này để đăng tải, lan truyền những thông tin sai lệch về bản chất các cuộc cách mạng, do Đảng Cộng Sản Việt Nam lãnh đạo trong hơn 30 năm giành giật lại độc lập, tự do cho đất nước, nhằm mục đích chính trị đen tối. Xét thấy tính cấp thiết của vấn đề và ý thức về vai trò, trách nhiệm của bản thân với cơ đồ của dân tộc ta hiện nay, em đã lựa chọn đề tài “Cuộc chiến tranh diễn ra chủ yếu ở miền Nam Việt Nam giai đoạn 19541975 là một cuộc chiến tranh xâm lược chứ không phải là một cuộc nội chiến” để hoàn thành bài thi cuối kỳ cho môn Lịch Sử Đảng Cộng Sản Việt Nam.
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
VIỆN QUẢN TRỊ KINH DOANH
-*** -BÀI TẬP LỚN
MÔN LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
Đề tài: Cuộc chiến tranh diễn ra chủ yếu ở miền Nam Việt Nam (1954-1975) là cuộc chiến tranh xâm lược chứ không
phải là cuộc nội chiến
Sinh viên thực hiện: Lưu Diễm Quỳnh
Mã sinh viên: 19051571 Lớp: QH 2019-E QTKD CLC 04
Mã lớp học phần: 203_HIS1001 2 Giảng viên: TS Nguyễn Thị Hoàn
Hà Nội, Tháng 8 năm 2021
Trang 2MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 3
PHẦN 1 BỐI CẢNH LỊCH SỬ VÀ ĐƯỜNG LỐI CỦA CÁCH MẠNG VIỆT NAM SAU THÁNG 7-1954 4
1 Bối cảnh lịch sử của cách mạng VN sau tháng 7-1954 4
a ) Bối cảnh trong nước 4
b ) Bối cảnh quốc tế 4
2 Đường lối cách mạng Việt Nam sau tháng 7-1954 5
PHẦN 2 CÁC CHIẾN LƯỢC CHIẾN TRANH MÀ MỸ ĐÃ TRIỂN KHAI Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1954-1975 5
1 Chiến tranh đơn phương (1954-1960) 5
a) Hoàn cảnh của chiến tranh đơn phương 5
b ) Âm mưu chiến tranh đơn phương của Mỹ tại Việt Nam 6
c ) Thủ đoạn của Diệm trong cuộc chiến tranh 6
2 Chiến tranh đặc biệt (1960-1965) 6
a ) Hoàn cảnh của chiến tranh đặc biệt 6
b ) Âm mưu của Mỹ 7
c ) Thủ đoạn của Mỹ 7
3 Chiến lược “Chiến tranh cục bộ” (1965-1968) 8
a ) Hoàn cảnh của chiến tranh cục bộ 8
b ) Âm mưu của Mỹ 8
c ) Thủ đoạn của Mỹ 8
4 Chiến lược “Việt Nam hoá chiến tranh” (1969-1975) 9
PHẦN 3 KHẲNG ĐỊNH BẢN CHẤT CỦA CUỘC CHIẾN TRANH DIỄN RA CHỦ YẾU Ở MIỀN NAM VIỆT NAM 1954-1975 LÀ CHIẾN TRANH CHỐNG XÂM LƯỢC 10
PHẦN 4 Ý THỨC VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA BẢN THÂN ĐỐI VỚI CƠ ĐỒ ĐẤT NƯỚC HIỆN NAY 13
KẾT LUẬN 14
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
Ngày 29-10-2020, một bài viết của nhà báo Aleksey Syunnerberg được đăng trên Sputnik (phiên bản tiếng Việt) có nêu ý kiến của chuyên gia người Nga Vadim Larin, nghiên cứu viên tại Viện Viễn Đông (Viện Hàn lâm Khoa học Liên bang Nga) Trong bài báo, ông Vadim Larin có phát biểu: “Tôi cho rằng tính chất cơ bản của các sự kiện ở Việt Nam trong giai đoạn 1945-1975 vẫn nên được đánh giá như là cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, nhưng thuật ngữ “nội chiến” dù sao vẫn có thể kết cấu vào tính chất của giai đoạn này, đặc biệt là sau khi người Mỹ chuyển sang “Việt Nam hóa” cuộc chiến ở địa bàn miền Nam Việt Nam Xác nhận điều này là những tổn thất đáng kể mà các bên tham chiến
ở Việt Nam gây ra cho nhau khi đó Theo tôi thấy, nội dung này đáng được nghiên cứu nghiêm túc và cần có đánh giá của tập thể chuyên gia Tôi nghĩ rằng các đồng nghiệp Việt Nam cũng sẽ quan tâm xem xét vấn đề này” Hiện nay, vấn đề đánh giá các cuộc chiến tranh diễn ra chủ yếu ở miền Nam Việt Nam giai đoạn 1954-1975 là cuộc chiến tranh xâm lược hay cuộc nội chiến vẫn còn gây nhiều tranh cãi Thực tế, các thế lực phản động đã dựa vào chuyện này để đăng tải, lan truyền những thông tin sai lệch về bản chất các cuộc cách mạng, do Đảng Cộng Sản Việt Nam lãnh đạo trong hơn 30 năm giành giật lại độc lập, tự
do cho đất nước, nhằm mục đích chính trị đen tối Xét thấy tính cấp thiết của vấn đề và ý thức về vai trò, trách nhiệm của bản thân với cơ đồ của dân tộc ta hiện nay, em đã lựa chọn đề tài “Cuộc chiến tranh diễn ra chủ yếu ở miền Nam Việt Nam giai đoạn 1954-1975 là một cuộc chiến tranh xâm lược chứ không phải là một cuộc nội chiến” để hoàn thành bài thi cuối kỳ cho môn Lịch Sử Đảng Cộng Sản Việt Nam
Em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến cô Nguyễn Thị Hoàn, giảng viên phụ trách
bộ môn, đã tận tình, nhiệt huyết dẫn dắt em trong suốt kỳ học vừa qua Các buổi học của cô đã giúp em trong quá trình tích lũy kiến thức và xây dựng tình cảm
Trang 4với môn học để có thể hoàn thiện tốt nhất đề tài này Chúc cô và gia đình luôn mạnh khỏe, vui vẻ, bình an trước tình hình Covid-19 đang diễn biến phức tạp!
PHẦN 1 BỐI CẢNH LỊCH SỬ VÀ ĐƯỜNG LỐI CỦA CÁCH MẠNG
VIỆT NAM SAU THÁNG 7-1954
1 Bối cảnh lịch sử của cách mạng VN sau tháng 7-1954
a ) Bối cảnh trong nước
Sau hiệp định Genève, miền Bắc giải phóng hoàn toàn và chuyển sang giai đoạn cách mạng xã hội chủ nghĩa, trở thành căn cứ địa chung cho cả nước Khó khăn
là nền kinh tế lạc hậu, và bị tàn phá nặng nề sau 15 năm chiến tranh Nhưng thuận lợi là tài nguyên vẫn còn phong phú, có nhà nước dân chủ nhân dân và Đảng lãnh đạo giúp đỡ
Đất nước bị chia cắt làm 2 miền: kinh tế miền Bắc nghèo nàn, lạc hậu Miền Nam trở thành thuộc địa kiểu mới của Mỹ Đảng Cộng Sản Việt Nam xác định
Đế quốc Mỹ trở thành kẻ thù trực tiếp của nhân dân ta
b ) Bối cảnh quốc tế
Hệ thống xã hội chủ nghĩa tiếp tục lớn mạnh cả về kinh tế, quân sự, khoa học
-kỹ thuật, nhất là Liên Xô
- Phong trào giải phóng dân tộc tiếp tục phát triển ở Châu Á, Châu Phi và khu vực Mỹ Latinh
- Phong trào hòa bình, dân chủ lên cao ở các nước tư bản
- Đế quốc Mỹ có tiềm lực kinh tế, quân sự hùng mạnh, âm mưu bá chủ thế giới với các chiến lược toàn cầu phản cách mạng
- Thế giới bước vào thời kỳ chiến tranh lạnh, chạy đua vũ trang giữa hai phe xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa
Trang 5- Xuất hiện sự bất đồng trong hệ thống xã hội chủ nghĩa, nhất là Liên Xô và Trung Quốc
2 Đường lối cách mạng Việt Nam sau tháng 7-1954
Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng (tháng 9-1960) xác định đường lối cách mạng của nước ta:
Một là, tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc
Hai là, giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của Đế quốc Mỹ và bọn tay sai, thực hiện nhiệm vụ thống nhất nước nhà, hoàn thành độc lập và dân chủ trong cả nước
PHẦN 2 CÁC CHIẾN LƯỢC CHIẾN TRANH MÀ MỸ ĐÃ TRIỂN KHAI
Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1954-1975
1 Chiến tranh đơn phương (1954-1960)
a) Hoàn cảnh của chiến tranh đơn phương
Sau khi hất cẳng Pháp, trực tiếp can thiệp vào miền Nam Việt Nam, đế quốc Mỹ
đã biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới Ngày 7/11/1954, Mỹ cử tướng Cô-lin sang làm đại sứ ở miền Nam, lập phòng tuyến để ngăn chặn ảnh hưởng của chủ nghĩa xã hội xuống Đông Nam Á, thiết lập căn cứ quân sự để tiến công miền Bắc xã hội chủ nghĩa
Để thực hiện những âm mưu đó, đế quốc Mỹ đã nhanh chóng thiết lập bộ máy chính quyền đứng đầu là Ngô Đình Diệm, xây dựng lực lượng quân sự gần nửa triệu người cùng hàng vạn cảnh sát, mật vụ được trang bị vũ khí, phương tiện chiến tranh hiện đại của Mỹ
Bộ máy chính quyền, quân đội Sài Gòn trở thành công cụ tay sai đắc lực nhằm thi hành chính sách thực dân mới của Mỹ Giữa năm 1954, Ngô Đình Diệm lập
ra đảng Cần Lao nhân vị làm đảng cầm quyền Cuối năm 1954, thành lập
Trang 6“phong trào cách mạng quốc gia” Chúng ráo riết thi hành quốc sách “tố cộng”,
“diệt cộng”, “chống cộng, đả thực, bài phong”, lập “khu trù mật”, “khu dinh điền” nhằm mục đích bắt bớ, trả thù những người yêu nước kháng chiến cũ; thẳng tay đàn áp phong trào đấu tranh đòi thi hành Hiệp định Giơ-ne-vơ của các tầng lớp nhân dân; gây ra nhiều vụ thảm sát đẫm máu
b ) Âm mưu chiến tranh đơn phương của Mỹ tại Việt Nam
Chiến lược chiến tranh đơn phương được diễn ra từ năm 1954 cho đến năm
1960 với âm mưu đó là tìm diệt các cán bộ và cơ sở cách mạng của ta ở miền Nam.Tuy nhiên, âm mưu chính của cuộc chiến tranh này đó là muốn biến miền Nam Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới Sau đó sẽ dùng nó để làm bàn đạp tiến công trực tiếp ra miền Bắc với mục đích ngăn chặn làn sóng cách mạng XHCN đang bùng nổ ở Đông Nam Á Do vậy, cuộc chiến này được diễn ra trong tình hình vô cùng bất lợi cho cách mạng Việt Nam
c ) Thủ đoạn của Diệm trong cuộc chiến tranh
Chính quyền Ngô Đình Diệm ra sắc lệnh “đặt cộng sản ngoài vòng pháp luật” và
ra đạo luật 10/59 vào tháng 5/1959, lê máy chém khắp miền Nam giết hại những người vô tội Chính quyền Diệm còn thực hiện chương trình cải cách điền địa nhằm lấy lại ruộng đất mà cách mạng đã giao cho nhân dân, lập ra các khu dinh điền, khu trù mật để kìm kẹp nhân dân Từ đó, khiến cho nhân dân ta buộc phải tách hoàn toàn khỏi mối liên hệ với cách mạng, giúp chúng dễ dàng thực hiện chiến tranh đơn phương của Mỹ tại Việt Nam
2 Chiến tranh đặc biệt (1960-1965)
a ) Hoàn cảnh của chiến tranh đặc biệt
Cuối năm 1960, sau phong trào “Đồng khởi” ở miền Nam, do thất bại trong
“Chiến tranh đơn phương” nên ngay sau khi lên làm Tổng thống Hoa Kỳ, Ken-nơ-đi đã chuyển sang chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” (1960 - 1965) ở miền Nam Việt Nam Trong khi đó, trên thế giới, phong trào giải phóng dân tộc dâng
Trang 7lên mạnh mẽ đe doạ hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc Chiến lược
“Chiến tranh đặc biệt” là một trong 3 loại chiến tranh của chiến lược toàn cầu
“phản ứng linh hoạt” của đế quốc Mỹ
b ) Âm mưu của Mỹ
Chiến lược “chiến tranh đặc biệt” là hình thức chiến tranh xâm lược thực dân kiểu mới, được tiến hành bằng quân đội tay sai dưới sự chỉ huy của hệ thống “cố vấn” Mỹ, dựa vào vũ khí, trang bị kỹ thuật, phương tiện chiến tranh của Mỹ, nhằm chống lại phong trào cách mạng của nhân dân ta Âm mưu cơ bản của chúng hết sức thâm hiểm: “Dùng người Việt đánh người Việt” Chính vì vậy, không ít người nhầm tưởng, hoặc các thế lực thù địch dựa vào lí do này để tuyên truyền những thông tin sai lệch nhằm chống phá lực lượng Đảng Cộng Sản Việt Nam
c ) Thủ đoạn của Mỹ
Trong chiến lược chiến tranh này, Mỹ đã dùng hai thủ đoạn chủ yếu:
Một là, tăng cường lực lượng quân đội ngụy quyền Sài Gòn (chính quyền Ngô Đình Diệm) và khả năng cơ động của chúng với vũ khí, phương tiện chiến tranh hiện đại của Mỹ, do cố vấn quân sự Mỹ trực tiếp chỉ huy Chúng đề ra kế hoạch Staley – Taylor : Bình định miền Nam trong 18 tháng
Hai là, đẩy mạnh quốc sách “Ấp chiến lược” nhằm dồn dân, tách lực lượng cách mạng ra khỏi nhân dân theo hình thức “tát nước, bắt cá” để bình định miền Nam với trang bị hiện đại, sử dụng phổ biến các chiến thuật mới như “trực thăng vận”
và “thiết xa vận” Chúng thành lập Bộ chỉ huy quân sự Mỹ ở miền Nam (MACV) và mở nhiều cuộc hành quân càn quét nhằm tiêu diệt lực lượng cách mạng, tiến hành nhiều hoạt động phá hoại miền Bắc, phong tỏa biên giới, vùng biển nhằm ngăn chặn sự chi viện của miền Bắc cho miền Nam
Với hai thủ đoạn đó, Mỹ-Diệm hy vọng sẽ nhanh chóng làm thay đổi tương quan lực lượng để dễ bề tiêu diệt cách mạng miền Nam
Trang 83 Chiến lược “Chiến tranh cục bộ” (1965-1968)
a ) Hoàn cảnh của chiến tranh cục bộ
Chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của Mỹ ở miền Nam phát triển đến mức cao nhất đã căn bản bị thất bại Với bản chất xâm lược ngoan cố, Mỹ đã chuyển sang thực thi chiến lược “Chiến tranh cục bộ”, ồ ạt đưa quân viễn chinh của Mỹ và các nước đồng minh vào miền Nam, đồng thời mở rộng cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân đối với miền Bắc nước ta
b ) Âm mưu của Mỹ
“Chiến tranh cục bộ” là một loại hình chiến tranh xâm lược nhằm thực hiện chủ nghĩa thực dân kiểu mới Song, cuộc chiến tranh từ chỗ dựa vào lực lượng quân đội chính quyền Sài Gòn là chủ yếu thì lúc này Mỹ đã ngang nhiên công khai đem quân đội viễn chinh Mỹ ồ ạt tiến vào nước ta, cuộc chiến được tiến hành bằng quân đội Mỹ, quân một số nước đồng minh và quân đội Sài Gòn; nhằm nhanh chóng tạo ra ưu thế về quân sự, giành lại thế chủ động trên chiến trường, buộc ta phải phân tán lực lượng để cách mạng lụi tàn dần Như vậy, Mỹ vừa tập trung lực lượng chủ yếu trên chiến trường miền Nam, vừa mở rộng chiến tranh phá hoại đối với miền Bắc, tạo ra tình hình cả nước có chiến tranh với Mỹ, với mức độ khác nhau
c ) Thủ đoạn của Mỹ
Quân viễn chinh Mỹ, quân các nước thân Mỹ và phương tiện chiến tranh hiện đại ồ ạt đổ vào miền Nam Đến năm 1968, số quân viễn chinh Mỹ ở miền Nam lên tới hơn 50 vạn
Chúng tiến hành hai cuộc phản công chiến lược mùa khô (1965-1966) và (1966-1967) bằng hàng loạt các cuộc hành quân “tìm diệt” và “bình định” vào “Đất thánh Việt Cộng” hòng tiêu diệt cơ quan đầu não và lực lượng kháng chiến của ta
Trang 9Bên cạnh đó, chúng kết hợp với việc tiến hành chiến tranh phá hoại miền Bắc nhằm phá hoại công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, tiêu huỷ tiềm lực kinh tế -quốc phòng miền Bắc, ngăn chặn sự chi viện từ bên ngoài vào miền Bắc và từ Bắc vào Nam, đồng thời làm lung lay quyết tâm chống Mỹ của nhân dân Việt Nam
4 Chiến lược “Việt Nam hoá chiến tranh” (1969-1975)
a ) Hoàn cảnh của chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”
Cuộc tổng tiến công và nổi dậy của quân dân ta vào Tết Mậu Thân năm 1968 đã làm phá sản chiến lược “Chiến tranh cục bộ”, gây ra chấn động trên khắp nước
Mỹ và thế giới, buộc Mỹ phải xuống thang chiến tranh và ngồi vào bàn đàm phán với ta tại Hội nghị Paris ngày 13/5/1968 Đến tháng 1/1969, đế quốc Mỹ phải chấp nhận cuộc đàm phán với Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Paris, có sự tham gia của đoàn đại biểu Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam Tuy nhiên, đầu năm 1969, Tổng thống Ních-xơn vừa lên nắm chính quyền đã đề ra chiến lược toàn cầu mới mang tên “Học thuyết Ních-xơn” với ba nguyên tắc trụ cột là: “cùng chia sẻ”, “sức mạnh của Mỹ” và “sẵn sàng thương lượng” Chúng tiếp tục cuộc chiến tranh ở miền Nam bằng cách thực hiện chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” và mở rộng chiến tranh ra toàn Đông Dương với tên gọi “Đông Dương hóa chiến tranh”
b ) Âm mưu của Mỹ
Đây là một chiến lược rất thâm độc của Mỹ nhằm “Dùng người Việt Nam đánh người Việt Nam” và “Dùng người Đông Dương đánh người Đông Dương” để tiếp tục cuộc chiến tranh xâm lược thực dân mới
c ) Thủ đoạn của Mỹ
Quá trình triển khai chiến lược mới, Mỹ đã áp dụng một loạt biện pháp như: ra sức củng cố ngụy quyền; xây dựng đội quân tay sai dông và hiện đại; ráo riết thực hiện chương trình bình định; tiến hành chiến tranh phá hoại miền Bắc nhằm
Trang 10cắt nguồn chi viện cho miền Nam; tìm mọi cách thỏa hiệp với Trung Quốc, hòa hoãn với Liên Xô hòng cắt giảm nguồn viện trợ chủ yếu của Việt Nam
* Giai đoạn 1969-1972
- Rút dần quân Mỹ và quân đồng minh khỏi chiến tranh
- Tăng cường quân đội ngụy Sài Gòn trên chiến trường để “thay màu da trên xác chết”
- Mở rộng xâm lược Lào (1970) và Campuchia (3/1970), thực hiện âm mưu
“Dùng người Đông Dương đánh người Đông Dương”
- Mỹ tăng viện trợ giúp quân số ngụy tăng lên 1 triệu người cùng với trang thiết
bị hiện đại để quân ngụy tự gánh vác được chiến tranh
- Thực hiện thủ đoạn ngoại giao xảo quyệt, lợi dụng mâu thuẫn Trung - Xô, thoả hiệp với Trung Quốc, hoà hoãn với Liên Xô nhằm hạn chế sự giúp đỡ của các nước đó đối với cuộc kháng chiến của nhân dân ta
- Tăng cường đánh phá miền bắc bằng không quân
* Giai đoạn từ sau Hiệp định Paris đến năm 1975
- Mỹ rút khỏi chiến trường nhưng vẫn giữ lại 2 vạn cố vấn và vẫn viện trợ cho quân ngụy để tiếp tục cuộc chiến tranh ra sức phá hoại Hiệp định Paris
- Tiến hành chiến dịch “tràn ngập lãnh thổ”, mở nhiều cuộc hành quân “bình định”, “lấn chiếm” vùng giải phóng của ta
PHẦN 3 KHẲNG ĐỊNH BẢN CHẤT CỦA CUỘC CHIẾN TRANH DIỄN
RA CHỦ YẾU Ở MIỀN NAM VIỆT NAM 1954-1975 LÀ CHIẾN TRANH
CHỐNG XÂM LƯỢC.
Trong hơn 20 năm từ 1954-1975 (thực tế là lâu hơn bởi Mỹ đã nhúng tay vào các cuộc chiến tranh ở Việt Nam từ sớm, kể từ cuộc xâm lược của Pháp), nhân dân Việt Nam phải cầm súng chiến đấu chống đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai để giành độc lập, tự do, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Do vậy, ở Việt Nam
Trang 11(1954-1975) không có nội chiến, chỉ có chiến tranh giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc Bởi vì, “Chống Mỹ, cứu nước là nhiệm vụ thiêng liêng của cả dân tộc từ Nam chí Bắc Kiên quyết đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ trong bất kỳ tình huống nào, nhằm bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước, tiến tới thực hiện hòa bình thống nhất nước nhà.”
Nhiều người cho rằng, trong trận chiến 1954-1975, người Việt Nam đánh người Việt Nam cho nên đấy được xem là cuộc nội chiến Trận Bailén năm 1808 trong chiến tranh Napoleon, tham chiến phía Pháp có lính Thụy Sĩ (mặc đồ đỏ) còn Tây Ban Nha đưa ra các trung đoàn Thụy Sĩ (mặc đồ xanh) Đây là ví dụ điển hình cho việc các phe đối lập tuyển lính đánh thuê của cùng một quốc gia Thực
tế, cuộc chiến này không phải nội chiến mà là cuộc chiến giữa Pháp và Tây Ban Nha Vậy nên không thể chỉ vì lực lượng tham gia cùng là một quốc gia mà kết luận là nội chiến được Bản chất của một cuộc chiến, cũng là xét về lực lượng tham gia, nhưng cần xem về vai trò quyết định trên chiến trường Nếu lực lượng chủ lực của 2 hay nhiều phe tham chiến là người trong quốc gia đó, vậy đây là cuộc nội chiến (Ví dụ: Nội chiến Mỹ 1861-1865, Cách mạng Pháp 1978, Cách mạng Tân Hợi 1911 của Trung Quốc ) Nếu có binh sĩ nước ngoài tham gia nhưng chỉ có vai trò hỗ trợ, đó vẫn là nội chiến Còn nếu chủ lực một phe hoàn toàn là một hay nhiều đội quân nước ngoài, vậy thì cuộc xung đột vũ trang đó không phải nội chiến nữa
Trong Chiến tranh Việt Nam, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (miền Bắc Việt Nam) và Mỹ là hai lực lượng chính, Việt Nam Cộng hòa (miền Nam Việt Nam) chỉ là lực lượng đóng vài trò hỗ trợ Vì vậy đây là cuộc chiến của người Việt với
Mỹ chứ không phải người Việt với người Việt Thực tế ngay từ “Chiến tranh cục bộ” đã cho thấy chính thể “Việt Nam Cộng hòa” do Ngô Đình Diệm (sau