1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Khóa luận tốt nghiệp 1 (hợp tác nga việt trong lĩnh vực năng lượng)

64 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hợp Tác Nga Việt Trong Lĩnh Vực Năng Lượng
Tác giả Trương Đình Tý
Người hướng dẫn TS. Bùi Thị Thảo
Trường học Đại Học Sư Phạm Huế
Chuyên ngành Lịch Sử
Thể loại Khóa Luận Tốt Nghiệp
Năm xuất bản 2018
Thành phố Huế
Định dạng
Số trang 64
Dung lượng 1,41 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một trong những giải pháp quan trọng trong vấn đềnăng lượng của Việt Nam hiện nay đó là tăng cường hợp tác năng lượng với Liên bangNga LB Nga, bởi Nga là một trong những cường quốc năng

Trang 1

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thiện đề tài khóa luận này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt thành từnhiều cá nhân, đơn vị Qua những trang đầu tiên của khóa luận tốt nghiệp đại học, tôixin gửi lời cảm ơn chân thành đến quý thầy, cô giáo khoa Lịch sử, trường ĐHSP Huế,

đã dày công dạy bảo, cung cấp cho tôi nguồn kiến thức quý báu

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đặc biệt đến giảng viên hướng dẫn – TS Bùi Thị Thảo

đã tận tình góp ý, chỉnh sửa và nhắc nhở tôi trong quá trình thực hiện đề tài, giúp tôi

có thêm kinh nghiệm trong việc nghiên cứu và rút ra nhiều bài học bổ ích

Đề tài được hoàn thiện cũng phần nào đạt được những mục tiêu mà bản thân tôi đề

ra khi bắt tay vào nghiên cứu vấn đề và để thực hiện được điều đó, lời tri ân cuối, tôixin cảm ơn sự ủng hộ, giúp đỡ từ những người thân trong gia đình, họ hàng và bạn bècủa tôi

Đề tài khóa luận chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót, tôi rất mong nhậnđược sự góp ý, phê bình của quý thầy, cô để hoàn thiện hơn và có thể phát triển trongthời gian sắp tới

Tôi xin trân trọng cảm ơn !

Huế, ngày 4 tháng 5 năm 2018

Sinh viên thực hiệnTrương Đình Tý

Trang 2

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT IV DANH MỤC CÁC BẢNG SỐ LIỆU IV

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

5 Phương pháp nghiên cứu 4

6 Những đóng góp mới của đề tài 4

7 Bố cục của khóa luận 4

NỘI DUNG 6

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA HỢP TÁC NĂNG LƯỢNG NGA – VIỆT NAM ĐẦU THẾ KỶ XXI 6

1.1 Xu thế hợp tác kinh tế quốc tế trong bối cảnh toàn cầu hóa 6

1.2 Chủ trương hội nhập kinh tế quốc tế của Liên bang Nga và Việt Nam 7

1.3 Tiềm năng và vai trò của năng lượng trong nền kinh tế - chính trị của Nga và Việt Nam 10

1.3.1 Đối với Nga 10

1.3.2 Đối với Việt Nam 12

CHƯƠNG 2 HỢP TÁC GIỮA NGA VÀ VIỆT NAM TRONG LĨNH VỰC NĂNG LƯỢNG TỪ 2000 ĐẾN 2012 18

2.1 Những nhân tố tác động đến hợp tác năng lượng giữa Nga và Việt Nam (2000 – 2012) 18

2.1.1 Những chuyển biến của quan hệ kinh tế quốc tế đầu thế kỷ XXI 18

2.1.2 Quan hệ Nga – Việt và truyền thống hợp tác năng lượng giữa Liên Xô/Liên bang Nga và Việt Nam trước năm 2000 19

2.1.3 Thực trạng công nghiệp năng lượng của Nga, Việt Nam và nhu cầu hợp tác với nhau của mỗi nước 25

2.2 Những nội dung chủ yếu trong hợp tác năng lượng Nga – Việt Nam (2000 – 2012) 28

Trang 3

2.2.1 Trong lĩnh vực thủy điện và nhiệt điện 28

2.2.2 Trong lĩnh vực thăm dò và khai thác dầu khí 31

2.2.3 Trong lĩnh vực phát triển năng lượng hạt nhân 36

CHƯƠNG 3 MỘT SỐ NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ VỀ HỢP TÁC NGA – VIỆT NAM TRONG LĨNH VỰC NĂNG LƯỢNG TỪ 2000 ĐẾN 2012 45

3.1 Kết quả hợp tác năng lượng giữa Nga và Việt Nam từ 2000 đến 2012 45

3.2 Tác động của hợp tác năng lượng Nga – Việt Nam đối với mỗi nước 47

3.3 Triển vọng hợp tác năng lượng Nga – Việt trong thời gian tới 48

KẾT LUẬN 51

TÀI LIỆU THAM KHẢO 53

PHỤ LỤC 57

Trang 4

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

STT Chữ viết tắt Nghĩa tiếng Việt

DANH MỤC CÁC BẢNG SỐ LIỆU

1 Bảng 1 Các nhà máy thủy điện lớn (>100 MW) của Việt

Nam

14

2 Bảng 2 Kim ngạch và phần trăm tăng trưởng thương mại

Việt Nam- LB Nga và giá trị xuất, nhập khẩu củaViệt Nam

22

3 Bảng 3 Nội dung và kết quả đàm phán về Hiệp định xây

dựng NMĐHN Ninh Thuận 1 giữa Việt Nam vàNga

36

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Năng lượng là một dạng vật chất quan trọng có vai trò thiết yếu đối với cuộcsống Trong lịch sử phát triển của loài người, năng lượng luôn đóng một vai trò quantrọng Từ xa xưa, con người đã biết khai thác các nguồn tài nguyên năng lượng đểphục vụ các hoạt động sản xuất, đi lại, xây dựng và đời sống hàng ngày Ngày nay,năng lượng đang trở thành vấn đề cấp thiết, mang tính toàn cầu khi mà các nguồn tàinguyên năng lượng trên thế giới bị con người khai thác quá mức và dần trở nên cạnkiệt trong khi nhu cầu sử dụng ngày càng tăng cao Chúng ta có thể thấy rõ tác độngsâu sắc từ vấn đề khủng hoảng năng lượng đối với các vấn đề chính trị, kinh tế và xãhội của các nước trên thế giới Do vậy nhiều nước đã đưa vấn đề năng lượng thànhquốc sách, đặt thành vấn đề an ninh năng lượng đối với sự phát triển của quốc gia.Việt Nam có nguồn tài nguyên năng lượng đa dạng với đầy đủ các chủng loạinhư than, dầu khí, thủy điện và các nguồn năng lượng tái tạo Trong những năm vừaqua, Việt Nam đã tiến hành khai thác tích cực các nguồn tài nguyên sẵn có và quantâm phát triển ngành năng lượng nhưng đến nay, về cơ bản nước ta vẫn chưa thể tựcung ứng đủ nhu cầu năng lượng trong nước Bên cạnh việc xuất khẩu than và dầu thô,Việt Nam vẫn phải nhập khẩu các nguồn năng lượng từ bên ngoài Theo nghiên cứu

của Viện Chiến lược Chính sách tài nguyên và môi trường [27], từ năm 2025 đến năm

2030, khả năng thiếu hụt năng lượng đáp ứng nhu cầu tăng trưởng kinh tế là khôngtránh khỏi, đòi hỏi ngay từ bây giờ chúng ta phải có chiến lược đáp ứng tổng cầu nănglượng phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế, xã hội lâu dài, góp phần đảm bảo an ninhchính trị, trật tự an toàn xã hội Một trong những giải pháp quan trọng trong vấn đềnăng lượng của Việt Nam hiện nay đó là tăng cường hợp tác năng lượng với Liên bangNga (LB Nga), bởi Nga là một trong những cường quốc năng lượng hàng đầu thế giới.Việt Nam có thể tận dụng được nguồn vốn lớn và công nghệ tiên tiến của Nga để thúcđẩy phát triển ngành năng lượng quốc gia

Đối với LB Nga, từ sau khi Liên Xô tan rã, Nga đã dần khôi phục vị thế cườngquốc trong trật tự thế giới mới trên mọi lĩnh vực kinh tế, xã hội, chính trị, quân sự Đặcbiệt, sự trở lại của Nga còn được nhìn nhận với tư cách cường quốc năng lượng doNga đã tận dụng tối đa tiềm lực năng lượng của mình Công cụ năng lượng không chỉgiúp vực dậy nền kinh tế Nga mà còn trở thành một công cụ ngoại giao đắc lực Ngoạigiao năng lượng của LB Nga hướng đến nhiều đối tượng khác nhau như Mỹ, Liênminh châu Âu (EU), các nước trong Cộng đồng các quốc gia độc lập (SNG), cáccường quốc mới nổi ở châu Á và các nước đang phát triển Với Việt Nam, Liên Xôtrước đây cũng như LB Nga hiện nay luôn có mối quan hệ hữu nghị truyền thống tốtđẹp Kế thừa những kết quả hợp tác quan trọng trong lĩnh vực dầu khí, thủy và nhiệt

Trang 6

điện thời Liên Xô, hợp tác năng lượng giữa LB Nga và Việt Nam hiện nay ngày càngđược mở rộng và tăng cường

Thật vậy, LB Nga và Việt Nam có quan hệ hợp tác trên lĩnh vực năng lượng lâuđời Việc hợp tác về năng lượng giữa Nga – một cường quốc thế giới với Việt Nam –một quốc gia đang trên đà phát triển mạnh, không chỉ tác động đến tình hình kinh tế-

xã hội của Nga và Việt Nam nói riêng, mà còn ảnh hưởng đến tình hình an ninh nănglượng các quốc gia khác trong khu vực và thế giới Hơn nữa hợp tác trong lĩnh vựcnăng lượng LB Nga – Việt Nam còn tác động lớn đến chính sách đối ngoại của hainước và của khu vực Đông Nam Á cũng như châu Á – Thái Bình Dương

Có thể nói, năng lượng luôn là một vấn đề sống còn đối với nền kinh tế mỗi quốcgia Việt Nam luôn coi việc phát triển ngành công nghiệp năng lượng là một mũinhọn LB Nga đã có quan hệ hợp tác về năng lượng với Việt Nam và mối quan hệ nàyđang tiến triển tốt đẹp Chính vì tầm quan trọng ấy và vì bản thân muốn tìm hiểu sâu

kỹ vấn đề này, chúng tôi mạnh dạn chọn “Hợp tác giữa Nga và Việt Nam trong lĩnh vực năng lượng từ 2000 đến 2012” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp Qua vấn đề này,

chúng tôi muốn góp thêm một phần tư liệu về vấn đề hợp tác năng lượng trong quan

hệ quốc tế, từ đó giúp nhìn nhận những hướng đi tương lai cho ngành công nghiệpnăng lượng của Việt Nam

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Tuy không mới, nhưng hợp tác giữa Nga và Việt Nam luôn là vấn đề được nhiềungười quan tâm nghiên cứu Tuy nhiên, tới nay, hầu như chưa có công trình nghiêncứu nào thực sự đi sâu về vấn đề hợp tác năng lượng giữa hai nước từ 2000 đến 2012.Mặc dù vậy, trong quá trình nghiên cứu đề tài này, chúng tôi đã tiếp cận được một sốcông trình có đề cập các nội dung có liên quan Có thể nêu ra một số công trình tiêubiểu dưới đây:

Tác giả Nguyễn Công Khanh và Nguyễn Quốc Minh (2010) trong nghiên cứu về

“Triển vọng quan hệ hợp tác Việt – Nga về lĩnh vực dầu khí trong khuôn khổ xínghiệp liên doanh Vietsovpetro” đã đề cập khá sâu sắc về vấn đề hợp tác năng lượngViệt Nam và LB Nga trong lĩnh vực dầu khí, tuy nhiên nghiên cứu lại bị gói gọn tronghợp tác hai nước trong lĩnh vực dầu khí và chỉ trong khuôn khổ xí nghiệpVietsovpetro

Viết về mối quan hệ Nga – Việt Nam, có thể kể đến các công trình như: Nhìn lại

10 năm chính sách đối ngoại của Liên bang Nga và quan hệ Việt Nam – Liên bang Nga những năm đầu thế kỷ XXI của tác giả Nguyễn An Hà (2010); “Thử phân tích chiến lược mới của Nga đối với ASEAN và những vấn đề đặt ra đối với Việt Nam sau Thông điệp Liên bang ngày 12/11/2009 của Tổng thống D Medvedev” của tác giả Nguyễn Cảnh Toàn; bài viết “Quan hệ Việt – Nga: Một mô hình của quan hệ truyền

Trang 7

thống và đối tác chiến lược” của tác giả Lê Quỳnh Nga (2010); bài viết “Quan hệ đối tác chiến lược Việt – Nga” của tác giả Đinh Công Tuấn (2010); sách “Quan hệ kinh tế Việt Nam – LB Nga, hiện trạng và triển vọng” của tác giả Bùi Huy Khoát, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội, 1995; sách “Quan hệ Việt – Nga trong bối cảnh quốc tế mới” của tác giả Võ Đại Lược – Lê Bộ Lĩnh, Nhà xuất bản Thế giới, năm 2005; bài viết “Quan hệ kinh tế Việt Nam – LB Nga (2000 – 2010)” của Nguyễn Sinh Cúc.

Ngoài ra còn có nhiều bài viết có liên quan được đăng trên các báo, tạp chí như:Nghiên cứu châu Âu, Nghiên cứu Đông Nam Á, Kinh tế đối ngoại, và nhiều bài báotrên các trang Dân trí, Nhân dân, Tuổi trẻ

Nghiên cứu chuyên sâu về hợp tác năng lượng giữa Nga và Việt Nam, cũng có

các công trình, bài viết đáng chú ý Tác giả Trần Khánh Linh với Thực trạng và triển vọng trong hợp tác năng lượng giữa Việt Nam và Liên bang Nga, luận văn thạc sỹ

kinh tế đối ngoại, trường đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội Nguyễn An Hà

với “Chiến lược dầu khí của Liên bang Nga và triển vọng hợp tác Việt – Nga đến 2020”, tạp chí Nghiên cứu châu Âu, số 3 (126) năm 2011 Tác giả Bùi Thị Thảo với bài viết “Tác động của chính sách năng lượng “hướng Đông” của Nga đối với hợp tác năng lượng Nga – Việt Nam đầu thế kỷ XXI”, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á,

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Khóa luận nghiên cứu về tiến trình và kết quả hợp tác năng lượng giữa LB Nga

và Việt Nam từ 2000 đến 2012 Trên cơ sở đó, khóa luận đánh giá tác động, dự báotriển vọng hợp tác năng lượng giữa hai nước và đưa ra một số giải pháp nhằm gópphần thúc đẩy mối quan hệ hợp tác này trong thời gian tới

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu trên, khóa luận tập trung giải quyết các nhiệm vụ sau:

- Trình bày cơ sở lý luận và thực tiễn của hợp tác năng lượng Nga – Việt Nam đầuthế kỷ XXI

Trang 8

- Trình bày và phân tích tiến trình, kết quả, triển vọng hợp tác năng lượng Nga –Việt Nam từ 2000 đến 2012.

- Đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm thúc đẩy mối quan hệ hợp tác trong lĩnhvực năng lượng giữa hai nước

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hợp tác giữa LB Nga và Việt Nam trong lĩnhvực năng lượng từ 2000 đến 2012

- Phạm vi nghiên cứu: Với mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu được xác định nhưtrên, phạm vi nghiên cứu của khóa luận tập trung vào nghiên cứu tiến trình, kết quả vàtriển vọng trong hợp tác năng lượng giữa LB Nga và Việt Nam trong các lĩnh vựcnhư: thủy điện, nhiệt điện, dầu khí, năng lượng hạt nhân từ năm 2000 đến 2012

5 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài khóa luận này, chúng tôi đã sử dụng quan triệt phương phápluận sử học Mác xít trong nghiên cứu lịch sử, cụ thể là nghiên cứu lịch sử thế giới Vềphương pháp cụ thể, chúng tôi đã sử dụng kết hợp phương pháp lịch sử, phương pháplogic, cùng với đó là phương pháp sưu tầm, so sánh, phân tích, tổng hợp, hệ thống hóacác tài liệu nghiên cứu…

6 Những đóng góp mới của đề tài

Trong bối cảnh hiện tại, khi trữ lượng tài nguyên dầu mỏ, than đá trên thế giớiđang ngày càng trở nên cạn kiệt, năng lượng đã và sẽ là vấn đề cấp thiết và nóng bỏngđối với các quốc gia, đặc biệt là đối với những nước đang phát triển như Việt Nam,việc nghiên cứu “Hợp tác giữa Nga và Việt Nam trong lĩnh vực năng lượng từ 2000đến 2012” không chỉ có ý nghĩa khoa học mà còn mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc

Về mặt khoa học, đề tài đã tập hợp, lựa chọn và xử lý một khối lượng tư liệu lớn,rời rạc để dựng thành một bức tranh tổng thể về thực trạng và triển vọng trong hợp tácnăng lượng giữa LB Nga và Việt Nam từ 2000 đến 2012, góp phần cung cấp một tưliệu tham khảo cho việc tìm hiểu, nghiên cứu về vấn đề này ở Việt Nam Về mặt thựctiễn, trên cơ sở những thuận lợi, khó khăn, hạn chế trong quá trình hợp tác năng lượnggiữa hai nước, tác giả bước đầu đưa ra những kiến nghị, giải pháp có thể khắc phục vàthúc đẩy hợp tác năng lượng giữa LB Nga và Việt Nam, góp phần vào mục tiêu đảmbảo an ninh năng lượng quốc gia

7 Bố cục của khóa luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, khóa luận gồm có 3chương:

Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn của hợp tác năng lượng Nga – Việt Nam đầuthế kỷ XXI

Trang 9

Chương 2 Hợp tác giữa Nga và Việt Nam trong lĩnh vực năng lượng từ 2000 đến2012

Chương 3 Một số nhận xét, đánh giá về hợp tác Nga – Việt Nam trong lĩnh vựcnăng lượng từ 2000 đến 2012

Trang 10

NỘI DUNG

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA HỢP TÁC NĂNG

LƯỢNG NGA – VIỆT NAM ĐẦU THẾ KỶ XXI 1.1 Xu thế hợp tác kinh tế quốc tế trong bối cảnh toàn cầu hóa

Hợp tác kinh tế có vai trò then chốt, và là mũi nhọn có ý nghĩa quyết định đối với

sự phát triển và hưng thịnh của mỗi quốc gia Ngày nay, hợp tác kinh tế được đaphương hóa, đa dạng hóa và quan hệ kinh tế quốc tế càng trở nên quan trọng hơn baogiờ hết Đó là chìa khóa để đảm bảo tiến trình phát triển cho mỗi quốc gia, dân tộc.Quan hệ kinh tế quốc tế là tổng thể các mối quan hệ kinh tế đối ngoại của các quốcgia Nói cách khác, đó là tổng thể các mối quan hệ vật chất và tài chính, các mối quan

hệ kinh tế, thương mại, khoa học và công nghệ giữa các quốc gia

Một cách tổng thể, hợp tác kinh tế quốc tế là một hình thức, trong đó diễn ra quátrình xã hội hóa có tính chất quốc tế đối với quá trình tái sản xuất giữa các chủ thểkinh tế quốc tế Đó là sự thành lập một tổ hợp kinh tế quốc tế của một nhóm thànhviên nhằm tăng cường phối hợp và điều chỉnh lợi ích giữa các bên tham gia, giảm bớt

sự khác biệt về điều kiện phát triển giữa các bên và thúc đẩy quan hệ kinh tế quốc tếphát triển cả về chiều rộng và chiều sâu Liên kết, hợp tác kinh tế quốc tế được xem làmối quan hệ kinh tế vượt ra khỏi lãnh thổ của một quốc gia, được hình thành dựa vào

sự thỏa thuận hai bên hoặc nhiều bên, ở tầm vĩ mô hoặc vi mô, nhằm tạo điều kiệnthuận lợi cho hoạt động kinh tế và thương mại phát triển Quá trình liên kết kinh tếquốc tế đưa tới việc hình thành một thực thể kinh tế mới ở cấp độ cao hơn với các mốiquan hệ kinh tế phức tạp và đa dạng Các bên tham gia liên kết kinh tế quốc tế có thể

là các quốc gia hoặc các tổ chức, doanh nghiệp thuộc các nước khác nhau

Ngày nay, quan hệ kinh tế quốc tế được thực hiện chủ yếu thông qua các liên kếtkinh tế quốc tế nhà nước Đó là những liên kết kinh tế được hình thành trên cơ sở cáchiệp định được ký kết giữa hai hay nhiều chính phủ, nhằm lập ra các liên minh kinh tếsong phương, đa phương, để tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh tế đối ngoạimỗi nước được phát triển

Trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, hợp tác kinh tế quốc tế càng trở nên sôiđộng và phong phú mà không một quốc gia nào có thể đứng ngoài Hiện nay, quátrình toàn cầu hóa đang diễn ra trên tất cả các lĩnh vực của cuộc sống và lĩnh vực nănglượng cũng không nằm ngoài quy luật này Thật vậy, sự ràng buộc giữa các quốc gia

về năng lượng ngày càng trở nên rõ ràng hơn, nhất là khi hiện nay mọi biến động(như: tăng, giảm giá sản phẩm hay sản lượng khai thác hàng năm, tình hình chínhtrị…) trên thị trường năng lượng đều tác động tới các nền kinh tế lớn, nhỏ trên thếgiới, không chỉ tới các nước nhập khẩu năng lượng như Trung Quốc, Nhật Bản, HànQuốc… mà còn tới các nước xuất khẩu như Nga, Iran… Chính vì vậy, nhu cầu hợp

Trang 11

tác về năng lượng trên thế giới để đảm bảo sự thống nhất chính sách giữa các quốc giatrong lĩnh vực này nhằm tạo ra sự ổn định thị trường năng lượng thế giới là nhu cầu tấtyếu trong thời đại hiện nay Một số tổ chức quốc tế được lập ra đang điều hành và chiphối các hoạt động trong lĩnh vực năng lượng như Tổ chức các nước xuất khẩu dầu

mỏ (OPEC),Cơ quan năng lượng nguyên tử quốc tế (IEEA), Hội đồng năng lượng thếgiới (WEC)…

Bên cạnh đó, trong bối cảnh hiện nay, nhu cầu về năng lượng của xã hội ngàycàng tăng trong khi các nguồn năng lượng tự nhiên sẵn có đang dần cạn kiệt; việcnghiên cứu, tìm kiếm các nguồn năng lượng mới vẫn còn nhiều khó khăn, hạn chế, đòihỏi sự đầu tư tích cực về vốn, lao động, công nghệ của xã hội; việc tranh giành cácnguồn năng lượng trên thế giới ngày càng nghiêm trọng, đe doạ tới an ninh, hòa bìnhquốc tế… đã cho thấy năng lượng đang trở thành vấn đề có tính chất toàn cầu, nóngbỏng mà không một quốc gia đơn lẻ nào – ngay cả đối với những cường quốc nănglượng thế giới, có thể tự giải quyết được Nó đòi hỏi sự liên kết, phối hợp giữa cácnước, khu vực trên thế giới

Chính vì những lý do trên, xu hướng hợp tác kinh tế quốc tế, đặc biệt là trong lĩnhvực năng lượng trở thành xu hướng tất yếu hiện nay Hợp tác giúp các nước có thểđảm bảo được nguồn cung năng lượng để phát triển, phát huy hết lợi thế so sánh vàtận dụng được các nguồn lực bên ngoài để đầu tư, thúc đẩy nội lực bên trong; giảm chiphí khai thác và đầu tư công nghệ, nâng cao hiệu quả khai thác và sản xuất Ngoài ra,hợp tác giữa các nước trên thế giới về năng lượng cũng tạo ra những cơ chế giúp đảmbảo sự ổn định, thống nhất trên thị trường năng lượng cũng như việc hoạch định cácchính sách năng lượng hợp lý, từ đó góp phần giảm nguy cơ xung đột, mâu thuẫn toàncầu; tạo động lực hợp tác khoa học kỹ thuật, tìm kiếm các nguồn năng lượng thay thế.Trong bối cảnh đó, LB Nga và Việt Nam đã tăng cường hợp tác trong lĩnh vực nănglượng như một xu hướng tất yếu

1.2 Chủ trương hội nhập kinh tế quốc tế của Liên bang Nga và Việt Nam

1.2.1 Đối với Nga

Để đưa đất nước thực sự trở lại vị trí siêu cường mà Nga đã từng có trong thời kỳLiên Xô trước đây, Tổng thống V Putin trong nhiệm kỳ II (2004 – 2008) đã nhấnmạnh chủ trương từng bước củng cố vị thế quốc tế của Nga Chiến lược an ninh quốcgia của nước Nga trong thế kỷ mới được thể hiện rất rõ nét trong báo cáo của chínhphủ liên bang mang tên Quan điểm an ninh của Liên bang Nga Theo đó, Nga đã xácđịn ba vấn đề then chốt cần phải làm là (1) “thúc đẩy đa cực hóa”, (2) “ngăn chặn tìnhtrạng suy yếu của nước Nga” và (3) “đóng vai trò nước lớn ở hai châu lục Á – Âu”

Về lợi ích quốc gia, Nga xác định cần phải giải quyết bốn vấn đề: bảo toàn chủ quyền

và lãnh thổ; giữ vững ổn định kinh tế, chính trị và xã hội; duy trì trật tự pháp luật(chống khủng bố); thúc đẩy hợp tác quốc tế dựa trên cơ sở bình đẳng cùng có lợi

Trang 12

Những tiến triển tích cực trong quá trình cải cách trên các lĩnh vực kinh tế, chínhtrị, đối ngoại, an ninh – quốc phòng và các lĩnh vực khác gần một thập niên qua (2000– 2008) đã tạo nên một nước Nga với diện mạo mới, so với những năm đầu thập niên

90 của thế kỷ XX Nước Nga đã và đang dần lấy lại được vị trí cường quốc hàng đầucủa mình Nước Nga đã khai thông được cánh cửa vào châu Âu, mở rộng con đườnghợp tác – hội nhập với châu Âu kể từ sau khi Chiến tranh lạnh kết thúc Hơn thế nữa,nước Nga còn hướng mạnh về phía Đông, về châu Á – Thái Bình Dương, trong đó cókhu vực Đông Nam Á Thành tựu rất đáng khích lệ của công cuộc cải cách ở nướcNga trong những năm đầu thế kỷ XXI và sự hướng mạnh các hoạt động đối ngoạisang châu Á – Thái Bình Dương đã tạo điều kiện cho việc củng cố, tăng cường quan

hệ giữa LB Nga và Việt Nam

Để đẩy mạnh hoạt động ngoại thương, chính phủ Nga đã đưa ra và thực hiện tíchcực các biện pháp cụ thể để hội nhập kinh tế quốc tê Bên cạnh việc điều chỉnh nghiệp

vụ như biểu thức thuế hải quan, số lượng các hạn ngạch, giấy phép xuất nhập khẩu,hoàn thiện các bộ luật liên quan đến kinh tế đối ngoại, chính phủ Nga đã thông quanhiều văn bản làm cơ sở pháp lý thúc đẩy hội nhập kinh tế quốc tế vào đầu thế kỷXXI Trong đó, Thông điệp Liên bang của Tổng thống V Putin (năm 2004), Chươngtrình phát triển kinh tế - xã hội trung hạn giai đoạn 2004 – 2008 của chính phủ và cácvăn kiện tương tự đều nhấn mạnh mục tiêu nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tếNga, tăng cường hội nhập vào nền kinh tế thế giới…1

1.2.2 Đối với Việt Nam

Ý tưởng về mở cửa và hội nhập quốc tế của Việt Nam đã được Chủ tịch Hồ ChíMinh nêu lên từ rất sớm, trong Lời kêu gọi Liên hợp quốc tháng 12/1946, trong đónêu rõ chính sách đối ngoại của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa: “Đối với các nướcdân chủ, Việt Nam sẵn sàng thực thi chính sách mở cửa và hợp tác trong mọi lĩnh

vực” [12, tr 523] Từ đó, Đảng và nhà nước Việt Nam luôn chú trọng việc hội nhập

quốc tế Điều này được minh chứng qua văn kiện các kỳ đại hội Đảng

Trên cơ sở phân tích, đánh giá tình hình trong nước và quốc tế, Đại hội đại biểutoàn quốc lần thứ VI của Đảng (tháng 12/1986) cùng với tuyên bố đổi mới toàn diện

đã đưa ra chính sách “thêm bạn bớt thù”, “mở rộng quan hệ với tất cả các nước trênnguyên tắc cùng tồn tại hòa bình”, đồng thời nhấn mạnh tầm quan trọng của việc mởrộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại Đảng ta chủ trương: “Phải tham gia vào

sự phân công lao động quốc tế,… tranh thủ mở mang quan hệ kinh tế và khoa học kỹthuật với các nước thế giới thứ ba, các nước công nghiệp phát triển, các tổ chức quốc

tế và tư nhân nước ngoài trên nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi” [1, tr 81]

1 Xem Nguyễn Thị Huyền Sâm (2009), Kinh tế - xã hội Liên bang Nga thời kỳ hậu Xô viết, Nhà xuất bản chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội, trang 42- 43 và 290 – 291.

Trang 13

Để phá thế bị bao vây cấm vận và phát triển quan hệ đối ngoại, Đại hội đại biểutoàn quốc lần thứ VII của Đảng (tháng 6/1991) đã đưa ra quyết sách mới về đối ngoại.Chúng ta đã chuyển từ phương châm “thêm bạn bớt thù” của giai đoạn trước sangđường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa theo phương châm

“Việt Nam muốn là bạn của tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hòa

bình, độc lập và phát triển” [2, tr 147] Về quan hệ kinh tế quốc tế, Đảng ta chủ

trương: “Gắn thị trường trong nước với thị trường thế giới, giải quyết tốt mối quan hệ

giữa tiêu dùng trong nước với xuất khẩu” [2, tr 69], đồng thời xác định rõ phương

châm và nguyên tắc trong lĩnh vực quan hệ kinh tế đối ngoại: “Mở rộng, đa dạng hóa

và đa phương hóa quan hệ kinh tế đối ngoại trên nguyên tắc giữ vững độc lập, chủ

quyền, bình đẳng, cùng có lợi” [2, tr 119] Chủ trương này đánh dấu một bước ngoặt

quan trọng cho tiến trình tham gia ngày càng sâu rộng vào phân công lao động vàquan hệ kinh tế quốc tế

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng khẳng định, Việt Nam thực hiệnnhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, mở rộng, đa dạng hóa, đa phương hóacác quan hệ quốc tế, sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồngquốc tế, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển Chủ động hội nhập kinh tế quốc

tế và khu vực theo tinh thần phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc

tế, đảm bảo độc lập, tự chủ và định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích dân tộc, anninh quốc gia, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, bảo vệ môi trường

Ngày 27/11/2001, Bộ Chính trị đã thông qua Nghị quyết số 07/NQ – TW về hộinhập kinh tế quốc tế, cụ thể hóa chủ trương và phương châm hội nhập mà Đại hội IX

đã đề ra Nghị quyết số 07/NQ – TW xác định rõ mục tiêu của hội nhập kinh tế quốc

tế là “nhằm mở rộng thị trường, tranh thủ thêm vốn, công nghệ, kiến thức quản lý đểđẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo định hướng xã hội chủ nghĩa, thực hiệndân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”

Nghị quyết Trung ương 9 khóa IX (tháng 1/2004) đã đánh giá tình hình thực hiệnNghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nghị quyết số 07/NQ – TW của BộChính trị và chỉ rõ nhiệm vụ hội nhập kinh tế quốc tế trong nửa nhiệm kỳ còn lại củaĐại hội IX là chủ động và khẩn trương hơn nữa trong hội nhập kinh tế quốc tế, thựchiện đầy đủ các cam kết quốc tế mà nước ta đã ký và chuẩn bị tốt các điều kiện đểsớm gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO)

Mở rộng nội dung hội nhập, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI đã chỉ rõ:

“Thực hiện nhất quán đường lối đổi ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và pháttriển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; làbạn, là đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế; vì lợi íchquốc gia, dân tộc, vì một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa giàu mạnh; nâng cao vị thế

Trang 14

của đất nước; góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân

chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới” [3, tr 235 - 236].

Trên cơ sở chủ trương của nhà nước và chính phủ hai nước, LB Nga và Việt Nam

đã thúc đẩy hợp tác kinh tế quốc tế dựa trên xu thế chung hiện nay và nhu cầu kinh tếhiện thực của mỗi nước Ở đó, tăng cường hợp tác năng lượng là một trong nhữngđịnh hướng quan trọng của hội nhập kinh tế quốc tế mỗi nước

1.3 Tiềm năng và vai trò của năng lượng trong nền kinh tế - chính trị của Nga và Việt Nam

1.3.1 Đối với Nga

Mặc dù chỉ chiếm 3% dân số thế giới nhưng Nga có nguồn năng lượng lớn nhất,chiếm tới 13% tổng trữ lượng dầu mỏ và 34% trữ lượng khí đốt đã được phát hiện,đồng thời cũng là một trong những nước hàng đầu thế giới về doanh thu trong lĩnhvực năng lượng Hiện nay, Nga đang tích cực tham gia vào mạng lưới thương mại thếgiới và hợp tác quốc tế trong lĩnh vực này

Trong những năm gần đây, Nga luôn là một trong những quốc gia dẫn đầu về sảnxuất dầu thô, chiếm 12% thương mại dầu mỏ thế giới Hơn 4/5 lượng dầu của Ngađược xuất khẩu sang châu Âu – điểm đến chính cho xuất khẩu dầu của Nga Thị phầncủa Nga trong thị trường này là khoảng 30% Sản lượng khai thác khí đốt hàng nămcủa Nga chiếm 25% tổng sản lượng thế giới, thống trị cả trong các thị trường khí đốtchâu Âu và thị trường của các nước thuộc Cộng đồng các quốc gia độc lập (SNG).Trong đó, khối lượng khí đốt tiêu thụ của châu Âu ( bao gồm cả Thổ Nhĩ Kỳ) chiếmkhoảng 30% trong tổng số khí đốt xuất khẩu ra nước ngoài của Nga Ngoài ra, Ngađóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo hành lang trung chuyển cung cấp khí đốt

từ khu vực Trung Á đến châu Âu và SNG

Nga đứng thứ hai thế giới về dự trữ than (chiếm 19% trữ lượng than của toàn thếgiới), xếp thứ 5 toàn thế giới về sản lượng khai thác hàng năm (chiếm 5% sản lượngcủa thế giới ) và cung cấp khoảng 12% than cho thị trường thế giới Trong lĩnh vựcnăng lượng nguyên tử, Nga chiếm 5% thị phần toàn cầu, trong đó, chiếm 15% thịtrường thế giới xây dựng lò phản ứng hạt nhân; 45% các chương trình làm giàuuranium thế giới; 15% chuyển đổi, tái sử dụng nhiên liệu hạt nhân và cung cấp 8%uranium tự nhiên toàn cầu

Đối với nền kinh tế Nga, công nghiệp năng lượng chiếm giữ vị trí đặc biệt quantrọng Đã từng có nhận định của chính các nhà kinh tế uy tín Nga cho rằng: “sự ổnđịnh của nền kinh tế Nga được xây dựng trên một cục diện bề ngoài may mắn, trên giá

năng lượng” [13, tr 194] Điều này được chứng thực trong suốt thời gian được xem là

hồi sinh của kinh tế Nga (1999 – 2007) Trong giai đoạn này, Nga đạt mức tăngtrưởng khá cao: 8,1% và sức mua sắm đứng thứ 7 trên thế giới nhưng thực tế, sự tăng

Trang 15

trưởng này rất bấp bênh do phụ thuộc lớn vào giá dầu mỏ, với hơn 80% giá trị xuất

khẩu quốc gia và 32% thu nhập của chính phủ có được từ xuất khẩu dầu thô [18, tr 216] Năm 2012, khi phân tích về những nhiệm vụ kinh tế của Nga trong thời gian tới,

Tổng thống V Putin một lần nữa thừa nhận “Hơn ¼ tổng thu nhập quốc nội của nướcNga là kết quả bán khí đốt, dầu mỏ, kim loại, rừng, nhiều sản phẩm nguyên liệu khác

hoặc sản phẩm chỉ có giá trị đầu vào ra thị trường thế giới” [15, tr 137-138] Trong

đó, dầu mỏ và khí đốt tự nhiên chiếm 50% nguồn thu ngân sách và 68% tổng kimngạch xuất khẩu của toàn Liên bang Rõ ràng, vai trò của công nghiệp năng lượng đốivới sự thịnh vượng kinh tế Nga là không thể chối cãi

Hiện tại, năng lượng là một trong những lĩnh vực có hoạt động sản xuất ổn địnhnhất ở Nga; có tác động tích cực đến hiện trạng và triển vọng phát triển nền kinh tếNga Số nhân lực làm việc trong lĩnh vực này chỉ chiếm 3 – 4% của toàn bộ nền kinh

tế, nhưng mang lại 25% GDP, 30% sản phẩm công nghiệp, 54% cho ngân sách Liênbang Đối với Nga, năng lượng không đơn thuần là một ngành hoạt động vì mục tiêulợi nhuận, mà còn là một trong các trụ cột cho sự ổn định và tăng cường sức mạnh củanước này Với tư cách là nhà cung cấp năng lượng hàng đầu thế giới, Nga đã thiết kế

hệ thống an ninh năng lượng như một nhân tố có tầm quan trọng hàng đầu đối với anninh quốc gia, sử dụng xuất khẩu năng lượng như một công cụ cho chính sách kinh tếđối ngoại để khống chế các nước trong khối SNG và tăng cường ảnh hưởng của mìnhtại châu Âu Công nghiệp năng lượng còn là một “vũ khí” chính trị lợi hại của nước

Nga [19, tr 22] Ngay từ thời Liên Xô, người Nga đã ý thức sâu sắc về tầm quan

trọng của khí đốt và xem việc xây dựng đường ống dẫn khí đốt quan trọng ngang bằngviệc chế tạo bom nguyên tử Bởi thế, từ năm 1963, Tổng thống Mỹ John Kennedy đãkhẩn khoản yêu cầu Thủ tướng Cộng hòa Liên bang (CHLB) Đức Konrad Adenauerkhông được bán cho Liên Xô loại ống dẫn có tiết diện lớn; nhưng 10 năm sau, năm

1973, dòng khí đốt Nga đã theo đường ống của Đức sang châu Âu, đánh dấu mộtthắng lợi ngoại giao ngoạn mục của Liên Xô và mở ra thời kỳ mới trong lịch sử quan

hệ Nga – châu Âu Thập niên 1980, trong bối cảnh Chiến tranh lạnh đi vào giai đoạncuối, người Mỹ lại thuyết phục CHLB Đức từ bỏ việc xây dựng đường ống dẫn khíđốt từ Liên Xô bởi họ lo sợ “người Nga có thể trực tiếp nạp nhiên liệu cho xe tăngngày từ đường ống khí đốt và lần theo mạng ống dẫn khí của mình mà chiếm được

toàn bộ châu Âu chỉ trong vài ngày” [14, tr 10-11] Mặc dù lo ngại trên khá cường

điệu so với thực tế song cũng cho thấy nỗi ám ảnh của Mỹ và Tây Âu về sức mạnhnăng lượng của người Nga

Hiện nay, năng lượng, đặc biệt là dầu mỏ và khí đốt, vẫn chiếm vị trí đặc biệtriêng trong nền chính trị Nga Công nghiệp năng lượng được mệnh danh là “đột phákhẩu” và là “xương sống” cho hệ thống kinh tế và chính trị Liên bang Trong lịch sửnước Nga đương đại, các chính trị gia hàng đầu đều có mối liên hệ mật thiết và từnggiữ trọng trách tối cao ở công ty năng lượng Nga lớn nhất thế giới – Gazprom Không

Trang 16

những thế, ảnh hưởng của ngành năng lượng còn vươn ra ngoài lãnh thổ Nga, trởthành yếu tố then chốt quyết định vị thế địa chính trị cường quốc của Liên bang Ngatrong quan hệ kinh tế quốc tế Hiện nay, cùng với Iran và Qatar, hai nước có trữ lượngkhí đốt lần lượt đứng thứ 1 và thứ 3 thế giới, Nga – với vai trò Tổng thư ký của “Diễnđàn các nước xuất khẩu khí đốt” (GECF) và là quốc gia cung cấp năng lượng hàngđầu thế giới (cùng với Saudi Arabia, Mỹ) – đang thao túng thị trường năng lượng vàchi phối sâu sắc an ninh năng lượng toàn cầu Năng lượng còn là “cây gậy” và “củ càrốt” của Nga trong quan hệ quốc tế, nhất là với châu Âu cũng như với không gian

“hậu Xô viết” trong mục tiêu duy trì ảnh hưởng cường quốc

1.3.2 Đối với Việt Nam

Ngành năng lượng Việt Nam đã có đóng góp đáng kể cho phát triển kinh tế, tăngtrưởng công nghiệp và xuất khẩu của đất nước Việt Nam có nguồn năng lượng đadạng như dầu khí, than, thủy điện, năng lượng sinh khối, năng lượng mặt trời, gió…nhưng không thật dồi dào

Than là nguồn dự trữ năng lượng sơ cấp lớn nhất của Việt Nam Theo Tập đoànCông nghiệp Than khoáng sản Việt Nam (Vinacomin), trữ lượng than Việt Nam rấtlớn: Quảng Ninh khoảng 10,5 tỷ tấn, trong đó đã tìm kiếm thăm dò 3,5 tỷ tấn, chủ yếu

là than antraxit Đồng bằng sông Hồng dự báo tổng trữ lượng 210 tỷ tấn than atbitum.Các mỏ than ở các tỉnh khác chiếm khoảng 400 triệu tấn và riêng than bùn phân bốhầu hết ở 3 miền với trữ lượng khoảng 7 tỷ m3, chủ yếu tập trung ở miền Nam ViệtNam Ngành than được điều khiển bởi Vinancomin Vinacomin nắm giữ 51% cổ phần

ở hầu hết các công ty than nên các hoạt động xuất khẩu hay bán cho một số kháchhàng, khối lượng cũng như giá cả của các công ty này bị phụ thuộc vào đơn vị chủquản Vinacomin

Sản lượng than sản xuất ra trong các năm trở lại đây khá đều, không có sự độtbiến, nhưng lượng than xuất khẩu gần bằng 50% lượng sản xuất được là một thựctrạng đáng lo ngại cho ngành than Việt Nam Trung Quốc vẫn là đối tác nhập khẩuthan lớn nhất, chiếm đến 81% tổng khối lượng than và 70% tổng giá trị than xuất khẩucủa Việt Nam

Những năm gần đây, sản lượng tiêu thụ than của Việt Nam tăng 119,89% Đặcbiệt, nhu cầu tiêu thụ than của Việt Nam được dự đoán tăng trong những năm tiếptheo, do trong thời gian vừa qua, Chính phủ đã phê duyệt quy hoạch xây dựng nhiềunhà máy nhiệt điện tại các địa phương Từ những năm 90 của thế kỷ XX, Việt Namchủ yếu sản xuất than để xuất khẩu, tuy nhiên do yếu kém trong công tác quản lý, đầu

tư, tạo nhiều kẻ hở, việc xuất khẩu than tràn lan nên đến năm 2011, Việt Nam từ mộttrong những nước xuất khẩu than hàng đầu của châu Á, trở thành một nước phải nhậpkhẩu than Hiện nay, nước ta đã hạn chế xuất khẩu than, khối lượng than trong nướctập trung đáp ứng nhu cầu nội địa

Trang 17

Bên cạnh than, thủy điện là nguồn năng lượng lớn và quan trọng của Việt Nam.Tiềm năng thủy điện của hệ thống sông ngòi Việt Nam rất phong phú, phân bố tươngđối đều trên lãnh thổ với đầy đủ các dạng nhà máy và quy mô công suất Việt Nam cóhơn 3.000 km bờ biển, bình quân cứ 23km lại có 1 cửa sông và khoảng 2360 sôngsuối chiều dài trên 10 km, trong đó hệ thống sông chính có tiềm năng thủy điện đáng

kể Tổng tiềm năng thủy điện Việt Nam dự tính khoảng 14.000 đến 17.000 MW, trong

đó có khoảng 3.000 MW đã được phát triển và khoảng 800 MW đang được xây dựng.Công suất của thủy điện hiện nay chiếm khoảng 55% của tổng công suất lắp đặt toàn

hệ thống liên kết, khoảng 5.300 MW Các nghiên cứu từ trước tới nay đã xác địnhđược tiềm năng lý thuyết của các sông ngòi Việt Nam vào khoảng 300 tỷ kWh vàđược phân theo các vùng như sau: miền Bắc (181 tỷ kWh), miền Trung (89 tỷ kWh),miền Nam (30 tỷ kWh) Thủy điện là một nguồn năng lượng có thể khai thác được,phù hợp với trình độ kỹ thuật của Việt Nam và có hiệu quả về phương diện kinh tếtrong tình hình hiện nay

Trang 18

Bảng 1 Các nhà máy thủy điện lớn (>100 MW) của Việt Nam

A Đang vận hành

C Chuẩn bị

D Quy hoạch

Trang 19

1 Đông Phù Yên 1200 Sơn La

(Nguồn: Hội đập lớn và phát triển nguồn nước Việt Nam năm 2010)

Về dầu khí, Việt Nam được xếp thứ ba trong khu vực Đông Nam Á và thứ 31 trênthế giới về sản lượng dầu thô và khí đốt, có mức đóng góp khoảng 20 – 25% GDPhàng năm của Việt Nam Tuy nhiên, ngành dầu mỏ của Việt Nam chỉ mới đi vào khaithác và chế biến nên vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu sử dụng trong nước Hiện nay, ViệtNam chủ yếu vẫn là khai thác và xuất khẩu dầu thô, nhập khẩu dầu tinh để phục vụcho nhu cầu nội địa Một số nhà máy lọc dầu đã đi vào hoạt động như nhà máy lọcdầu Dung Quất, nhà máy lọc dầu Nghi Sơn… nhưng chỉ mới cung cấp được khoảng30% nhu cầu nội địa Sản lượng dầu khí Việt Nam từ năm 2001 đến năm 2005 có sựtăng trưởng khá cao và đều Tuy nhiên, giai đoạn 2006 - 2008, sản lượng sụt giảm dodiễn biến ở các mỏ phức tạp, thời tiết xấu, sản lượng khai thác không đạt mức dự kiếnkhi thăm dò…

Giai đoạn từ 2009 đến nay, công tác khai thác dầu khí đã có những bước tiếntriển tốt Tập đoàn dầu khí quốc gia Việt Nam (PVN) liên tiếp hoàn thành vượt mức

kế hoạch đề ra PVN đã ký được 87 hợp đồng dầu khí với các công ty dầu khí của Mỹ,Nhật, Nga, Anh, Malaysia, Singapore, Canada, Úc… và được phân bổ theo các bểnhư: bể Sông Hồng, bể Phú Khánh, bể Tư Chính - Vũng Mây, bể Nam Côn Sơn, bểCửu Long, và bể Ma Lay - Thổ Chu Ngoài ra, PVN đã triển khai thành công hoạtđộng tìm kiếm, thăm dò khai thác ở nước ngoài PVN tham gia đầu tư vào 13 dự ánthăm dò khai thác dầu khí ở các nước Cuba, Indonesia, Iran, Tunisia, Myanmar, Lào,Campuchia, Congo, và ở Madagasca Bên cạnh đó, còn có các dự án phát triển khaithác ở các nước Nga, Venezuela, Algeria, và Malaysia

Theo PVN, trữ lượng dầu mỏ của Việt Nam ước đạt 4,1 – 4,9 tỷ tấn, theo BP Anh

là 4,4 tỷ thùng vào cuối năm 2009 Mặc dù các con số chỉ mang tính tương đối nhưngcũng cho thấy trữ lượng dầu khí Việt Nam vẫn còn nhiều và là cơ sở để ngành tiếp tụcphát triển lâu dài Ngành dầu khí cũng đóng góp nhiều ngoại tệ nhất cho quốc gia.Xuất khẩu dầu thô trong những năm 2004 – 2008 luôn đứng đầu trong các mặt hàngxuất khẩu của nước ta với tốc độ tăng trưởng cao và ổn định, đóng góp trung bìnhkhoảng 15% kim ngạch xuất khẩu cả nước Tuy nhiên, xu hướng xuất khẩu dầu thôđang có chiều hướng giảm dần và tỷ trọng này đã giảm xuống mức 11% năm 2009 và6,9% năm 2010, đứng sau các sản phẩm như dệt may (15,6%), giày dép (7,1%) vàthủy sản (6,9%) Năm 2011, ngành đã vươn lên giành lại vị trí thứ hai với mức đónggóp 7,6% kim ngạch xuất khẩu chỉ sau ngành dệt may Trong 6 tháng đầu năm 2013,nhờ hoạt động của ba giếng dầu khí mới, cụ thể là Hải Sư Trắng, Hải Sư Đen và ThỏTrắng, khối lượng dầu thô xuất khẩu tăng 1,3% so với năm 2012 và đạt 4,29 triệu tấn.Tuy nhiên, về mặt giá trị lại giảm 4,3% so với năm ngoái, tương đương 3,68 tỷ đô la,

do giá dầu thô xuất khẩu giảm xuống mức 78 đô la/tấn, cùng với xu hướng đi xuống

Trang 20

của giá dầu thế giới từ đầu tháng 3 đến cuối tháng 6 Ngành dầu khí Việt Nam hiệnnay vẫn đặt khai thác xuất khẩu là chủ lực nên phụ thuộc khá nhiều vào giá dầu thếgiới Trong tương lai, ngành vẫn sẽ tiếp tục đóng vai trò rất quan trọng trong việc pháttriển kinh tế đất nước.

Về năng lượng hạt nhân, xác định đây sẽ là nguồn năng lượng chính của Việt Namtrong tương lai, Việt Nam đã khẩn trương triển khai thăm dò uranium, phát hiện được

11 mỏ, điểm quặng phóng xạ phát hiện trên toàn quốc, trong đó chủ yếu tập trung ởQuảng Nam (7 mỏ) Song song với dự án triển khai thăm dò uranium, Việt Nam đã kýkết với Nga và Nhật Bản tiến hành xây dựng nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận (làtên gọi chung của chuỗi hai Nhà máy điện hạt nhân I và II đang trong dự án xây dựngtại Ninh Thuận, Việt Nam) với tổng công suất trên 4.000 MW Theo quy hoạch pháttriển điện lực quốc gia, NMĐHN I và II được khởi công vào tháng 12/2014 và hoànthành vào cuối năm 2020, phát điện vào cuối năm 2022 Dự án được tiến hành theokiến nghị của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trên cơ sở ước tính về nhu cầu điện năngcủa Việt Nam đến năm 2020 và đã được Quốc hội Việt Nam thông qua Về nguồn kinhphí, Nga đồng ý cho Việt Nam vay 10,5 tỷ đô la, Nhật Bản cũng đồng ý cho vay nguồnvốn ODA làm điện hạt nhân Tổng mức đầu tư dự toán khoảng 200.000 tỷ đồng tạithời điểm cuối năm 2008 Theo các chuyên gia, Việt Nam thiếu cán bộ trong lĩnh vựccông nghệ điện hạt nhân trầm trọng Bộ Giáo dục và Đào tạo Việt Nam đã ký hợpđồng đào tạo nhân lực với Tập đoàn nhà nước Nga về điện hạt nhân Thủ tướng chínhphủ nhấn mạnh và yêu cầu cơ quan chuyên ngành nhanh chóng hoàn thiện các văn bảnpháp quy, đào tạo nguồn nhân lực cho các nhà máy điện nguyên tử đầu tiên ở khu vựcĐông Nam Á Nga bắt đầu đào tạo nhóm sinh viên Việt Nam đầu tiên tại trường đàotạo thuộc Rosatom với dự định tăng dần số lượng trong tương lai Ba trung tâm đào tạocho sinh viên đang được xây dựng, dự kiến hoàn thành và hoạt động trước khi vậnhành nhà máy điện hạt nhân 2 năm Bên cạnh đó, trong năm 2010, Nhật Bản cũng đãđào tạo cho Việt Nam 50 - 60 lượt cán bộ trong lĩnh vực điện hạt nhân và sẽ tiếp tụcgiúp đào tạo nhân lực để bảo đảm an toàn vận hành điện hạt nhân Đại diện ban quản

lý dự án cho biết theo kế hoạch đến năm 2020 sẽ có khoảng 200 kỹ sư được đào tạo,huấn luyện về điện hạt nhân cho hai nhà máy

Về năng lượng tái tạo, Việt Nam có tiềm năng rất lớn về nguồn năng lượng táitạo phân bổ rộng khắp trên toàn quốc Sinh khối từ các sản phẩm hay chất thải nôngnghiệp có sản lượng tương đương 10 triệu tấn dầu/năm Tiềm năng khí sinh học xấp

xỉ 10 tỉ m3/năm có thể thu được từ rác, phân động vật và chất thải nông nghiệp Tiềmnăng kỹ thuật của thuỷ điện nhỏ (<30MW) hơn 4000MW Nguồn năng lượng mặttrời phong phú với bức xạ nắng trung bình là 5kWh/m2/ngày phân bổ trên khắp đấtnước Vị trí địa lý của Việt Nam với hơn 3400km đường bờ biển cũng giúp Việt Nam

có tiềm năng rất lớn về năng lượng gió với tiềm năng ước tính khoảng 500-1000kWh/m2 /năm Những nguồn năng lượng thay thế này có thể được sử dụng giúp Việt

Trang 21

Nam đáp ứng nhu cầu năng lượng ngày càng tăng nhanh Mặc dù Việt Nam đã triểnkhai sớm và thành công một số dự án nhưng việc ứng dụng năng lượng tái tạo ở nước

ta vẫn hạn chế chưa khai thác hết tiềm năng sẵn có

Theo nghiên cứu của Viện Chiến lược Chính sách tài nguyên và môi trường,Việt Nam đang trong giai đoạn phát triển kinh tế cao, nhu cầu năng lượng phục vụsản xuất và đời sống ngày một tăng trong khi khả năng sản xuất và cung ứng nănglượng còn hạn chế Từ năm 2025 đến năm 2030, khả năng thiếu hụt năng lượng đápứng nhu cầu tăng trưởng kinh tế là không tránh khỏi, đòi hỏi ngay từ bây giờ, chúng

ta phải có chiến lược đáp ứng tổng cầu năng lượng phục vụ nhu cầu phát triển kinh

tế, xã hội lâu dài, góp phần đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội

Để đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia, Việt Nam đã đưa ra chiến lược pháttriển năng lượng đến năm 2020 Theo đó, ưu tiên phát triển đồng bộ các nguồn nănglượng trong đó nhấn mạnh phát triển thủy điện và khuyến khích sử dụng nguồn nănglượng mới, tái tạo; khai thác và sử dụng tiết kiệm các nguồn năng lượng trong nước;giảm bớt phụ thuộc vào các sản phẩm dầu mỏ nhập khẩu; xuất nhập khẩu than hợplý; liên kết hệ thống năng lượng trong khu vực; mở rộng kho dự trữ xăng dầu; kếthợp an ninh năng lượng với bảo đảm quốc phòng, an ninh quốc gia

CHƯƠNG 2 HỢP TÁC GIỮA NGA VÀ VIỆT NAM TRONG LĨNH VỰC

NĂNG LƯỢNG TỪ 2000 ĐẾN 2012 2.1 Những nhân tố tác động đến hợp tác năng lượng giữa Nga và Việt Nam (2000 – 2012)

2.1.1 Những chuyển biến của quan hệ kinh tế quốc tế đầu thế kỷ XXI

Quan hệ Nga – Việt Nam được hình thành và vận động trong bối cảnh quốc tế vàkhu vực có nhiều biến động rất nhanh chóng và phức tạp, nhất là từ đầu thế kỷ XXI ,thời kỳ có nhiều biến chuyển mới Bởi vậy, hợp tác Nga – Việt cũng luôn chịu sự chiphối mạnh mẽ từ bối cảnh đó

Trang 22

Đặc điểm nổi bật và dễ nhận thấy nhất trong bối cảnh quốc tế những năm đầu thế

kỷ XXI là tính phức tạp của quá trình hình thành trật tự thế giới mới do những biếnđổi sâu sắc về tương quan lực lượng thế giới, đặc biệt sau sự kiện 11/9/2001 Sau gầnnửa thế kỷ tồn tại kể từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai, trật tự thế giới hai cực trongvai trò là hình thái biểu hiện của cuộc đối đầu Đông – Tây khốc liệt đã chấm dứt saukhi chế độ xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô sụp đổ, khiến cho cơ cấu địa –chính trị và sự phân bố quyền lực toàn cầu bị đảo lộn, tương quan lực lượng thế giớinghiêng hẳn về phía có lợi cho chủ nghĩa tư bản, nhất là các nước tư bản phát triển

hàng đầu [7, tr 47] Quá trình hình thành trật tự thế giới mới chứa đựng nhiều yếu tố

bất trắc, khó đoán định, trong đó nổi lên hai khuynh hướng đối nghịch: Mỹ chủ trươngthiết lập một thế giới đơn cực, trong khi các trung tâm quyền lực khác như Nga, TrungQuốc, Liên minh châu Âu (EU), Nhật Bản lại đấu tranh cho một trật tự thế giới đa cực

mà ở đó vị trí bá quyền của Mỹ bị kiềm chế, quyền lãnh đạo thế giới được chia sẻ chocác nước lớn Thực tế này chi phối mạnh mẽ đến xu hướng phát triển của quan hệkinh tế quốc tế, làm cho khuynh hướng hợp tác và cạnh tranh trở thành xu thế chủđạo Theo đó, hợp tác hóa, liên kết hóa diễn ra sâu rộng, làm tăng tính tùy thuộc lẫnnhau giữa các nền kinh tế lớn cũng như giữa các quốc gia trên thế giới

Mặc khác, bước sang thế kỷ mới, cuộc cách mạng khoa học – công nghệ tiếp tục

có bước tiến nhảy vọt tác động sâu sắc tới tình hình kinh tế, chính trị, xã hội và quan

hệ quốc tế Đây là một đặc điểm quan trọng của tình hình thế giới trong giai đoạn hiệnnay Cách mạng khoa học – công nghệ hiện đại làm bùng nổ những thành tựu trongcác ngành mũi nhọn như điện tử - tin học, vật liệu mới, năng lượng mới, công nghệsinh học, tự động hóa…, thúc đẩy lực lượng sản xuất của thế giới phát triển mạnh mẽchưa từng thấy; đồng thời đưa đến sự phát triển, biến đổi theo chiều sâu các lĩnh vựcđời sống xã hội Cách mạng khoa học – công nghệ khiến cho sự phát triển kinh tếngày càng phụ thuộc vào nhân tố tri thức – trí tuệ, tạo ra bước ngoặt mang ý nghĩa lịch

sử hình thành nền kinh tế tri thức Trong xu hướng phát triển kinh tế tri thức hiện nay,thông tin tri thức khoa học – kỹ thuật, công nghệ và quản lý ngày càng đóng vai tròchủ đạo Vì lẽ đó, bất kỳ quốc gia nào nếu không thực sự chú trọng lĩnh vực này, sẽkhông thể có cơ may tham gia đầy đủ vào nền kinh tế tri thức và tất yếu bị đẩy tới

thách thức nghiệt ngã của nguy cơ tụt hậu ngày càng xa về mọi phương diện [7, tr 50] Trong thập niên đầu thế kỷ XXI, xu thế phát triển kinh tế tri thức đang ngày càng

lôi cuốn và tác động mạnh mẽ đến tất cả các quốc gia, dân tộc tạo ra những thay đổicăn bản không chỉ trong đời sống kinh tế - xã hội, mà cả trong so sánh lực lượng cũngnhư ngôi vị của mỗi quốc gia trên trường quốc tế Mức độ phát triển kinh tế tri thứctrở thành một tiêu chí, thước đo hàng đầu của trình độ phát triển mỗi quốc gia hiệnnay Do vậy, Việt Nam và LB Nga cũng như nhiều quốc gia khác đang phải chạy đua

để gia tăng phát triển khoa học – công nghệ Việt Nam quyết tâm thực hiện côngnghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, rút ngắn khoảng cách với các nước phát triển Đểthực hiện nhiệm vụ này, việc phát triển quan hệ với Nga có một vị trí khá quan trọng,

Trang 23

bởi tiềm năng to lớn của Nga về nhiều mặt, nhất là trên lĩnh vực khoa học – kỹ thuật

và công nghệ hiện đại

Một đặc điểm khác của thế giới trong kỷ nguyên cách mạng khoa học – công nghệhiện đại là toàn cầu hóa kinh tế trở thành một xu thế khách quan lôi cuốn ngày càngnhiều nước tham gia Tuy nhiên, xu thế này đang bị một số nước phát triển và các tậpđoàn tư bản xuyên quốc gia chi phối, chứa đựng nhiều mâu thuẫn, vừa có mặt tíchcực, vừa có mặt hạn chế, vừa có hợp tác, vừa có đấu tranh

Toàn cầu hóa không chỉ tạo ra những biến đổi mạnh mẽ về kinh tế, mà còn thúcđẩy mối quan hệ liên quốc gia gia tăng cả về bề rộng lẫn chiều sâu Tự do hóa kinh tế

và cải cách thị trường trên toàn cầu diễn ra phổ biến Các nền kinh tế dựa vào nhau,liên kết với nhau, xâm nhập lẫn nhau, khiến cho tính tùy thuộc lẫn nhau giữa các nướcngày càng tăng Toàn cầu hóa thúc đẩy hợp tác, phân công lao động quốc tế sâu rộng,kích thích tăng trưởng kinh tế Các hình thức hợp tác, liên kết kinh tế trở nên nhiều vẻ

và rất phong phú về nội dung Mặt khác, những lợi ích và bất lợi do toàn cầu hóa tạo

ra không được chia sẻ một cách đồng đều, làm trầm trọng thêm khoảng cách phát triểngiữa các quốc gia và trong từng quốc gia

Đứng trước xu thế toàn cầu hóa, cả Việt Nam và LB Nga đều phải chủ động, tíchcực hội nhập kinh tế quốc tế nhằm tranh thủ cơ hội, tìm kiếm vị trí có lợi nhất chomình, đồng thời hạn chế thấp nhất những nguy cơ, thách thức Những chuyển biếnquan trọng của quan hệ quốc tế đầu thế kỷ XXI như đã nêu trên như là một yếu tố tácđộng đến hợp tác năng lượng Nga – Việt, làm cho mối quan hệ này cũng có những nộisung mới

2.1.2 Quan hệ Nga – Việt và truyền thống hợp tác năng lượng giữa Liên Xô/Liên bang Nga và Việt Nam trước năm 2000

2.1.2.1 Khái quát quan hệ Nga – Việt Nam

Quan hệ Việt - Nga có từ lâu, vào giữa thế kỷ XIX, khi tàu thủy của Nga cập cảngSài Gòn Cách mạng tháng Mười thắng lợi, mở ra thời đại mới trong lịch sử loài người

và ảnh hưởng trực tiếp đến phong trào cách mạng Việt Nam Đi theo đường lối củachủ nghĩa Mác - Lênin, của Cách mạng tháng Mười 1917, cách mạng Việt Nam đã

giành được thắng lợi [31] Trải qua nhiều thăng trầm, do những tác động của tình hình

thế giới, cùng với những điều chỉnh trong chính sách đối ngoại của cả hai phía, quan

hệ hợp tác toàn diện Nga – Việt trải qua nhiều biến chuyển

Từ 1950 đến 1991, quan hệ giữa hai nước chủ yếu diễn ra trong khuôn khổ liênminh Xô – Việt, dựa trên Hiệp ước hữu nghị Việt – Xô (1978) Ngày 30/01/1950, ViệtNam Dân chủ Cộng hòa và Liên bang Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô viết (Liên Xô)chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao Trong thời kỳ kháng chiến chống thực dânPháp và đế quốc Mỹ (1945 – 1975), Liên Xô đã có những giúp đỡ to lớn, thiết thực về

Trang 24

người và của cho nhân dân Việt Nam, góp phần quan trọng đưa đến thắng lợi của cuộckháng chiến Sau khi Việt Nam hoàn toàn thống nhất (1975), nhà nước và nhân dânLiên Xô đã có những viện trợ, giúp đỡ to lớn cho Việt Nam trong công cuộc xâydựng, phát triển kinh tế.

Sau khi chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ, quan hệ giữa

LB Nga và Việt Nam cũng có những biến chuyển mới Từ năm 1991 đến năm 1993,Nga hoàn toàn hướng về châu Âu với xác định của B.Yeltsin: “Nhiệm vụ trung tâmbao trùm mọi hoạt động quốc tế của Nga là xây dựng quan hệ bạn bè ổn định với cácnước dân chủ trên thế giới nhằm bảo đảm cho nước Nga gia nhập khối cộng đồng cácquốc gia văn minh một cách hoàn toàn hợp pháp và hài hòa” Định hướng đối ngoạinày tác động sâu sắc đến chính sách của Nga đối với phương Đông và Việt Nam.Trong những năm 1991 - 1993, chính sách đối với Việt Nam hầu như bị bỏ ngỏ, quan

hệ Nga - Việt rơi vào tình trạng “đóng băng”

Từ năm 1994, do những thay đổi trong chính sách đối ngoại của Nga, quan hệ hainước có những bước phát triển mới Tháng 1/1994, Tổng thống B.Yeltsin phê chuẩn

“Những nguyên tắc cơ bản trong chính sách đối ngoại của Liên bang Nga”, khẳngđịnh “tăng cường chính sách đối ngoại Châu Á – Thái Bình Dương có thể cân bằngcác mặt đối với phương Tây Như thế càng thể hiện địa vị nước Âu - Á của Nga”2.Định hướng này đánh dấu sự quay lại châu Á của Nga và tác động lớn đến quan hệhợp tác giữa LB Nga và Việt Nam Ngày 16/06/1994, Việt Nam và LB Nga kí Hiệpước về những nguyên tắc cơ bản của quan hệ hữu nghị giữa Cộng hòa xã hội Chủnghĩa Việt Nam và LB Nga, đặt nền móng và cơ sở pháp lý cho quan hệ song phươngtrong giai đoạn phát triển mới Hiệp ước khẳng định hai nước tiếp tục duy trì và pháttriển quan hệ hữu nghị trên nguyên tắc tôn trọng chủ quyền quốc gia, độc lập và toànvẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng và cùng cólợi Trong Tuyên bố chung Việt Nam - Liên bang Nga ngày 25/8/1998, Chủ tịch nướcTrần Đức Lương và Tổng thống B.Yeltsin khẳng định tiếp tục phát triển quan hệ hữunghị và hợp tác giữa hai nước, đặc biệt coi trọng sự phối hợp hành động có hiệu quảtrong khuôn khổ cuộc đối thoại của Nga với các nước ASEAN mà Việt Nam là điềuphối viên Trong tuyên bố này, hai nước thỏa thuận “củng cố các cơ chế tiếp xúc củacác nhà lãnh đạo hai nước, các cuộc gặp gỡ thường xuyên giữa hai Thủ tướng, cáccuộc trao đổi ý kiến của hai Bộ trưởng Ngoại giao nhằm làm sâu sắc thêm sự hiểu biếtlẫn nhau, tăng cường sự hợp tác toàn diện giữa hai nước, đẩy mạnh việc phối hợp lậptrường về các vấn đề quốc tế then chốt ” Về phía Việt Nam, trong chuyến thăm Ngatháng 8/1998, Chủ tịch nước Trần Đức Lương nhấn mạnh: “Một lần nữa, tôi khẳngđịnh rằng, việc củng cố và phát triển quan hệ hữu nghị truyền thống và hợp tác nhiềumặt trên cơ sở lâu dài, ổn định và cùng có lợi với Liên bang Nga là hướng ưu tiên

2 Xem trong Hồ Châu (1997), Sự điều chỉnh chính sách của các nước lớn đối với Châu Á - Thái Bình

Dương từ sau Chiến tranh Lạnh và vấn đề đặt ra với Việt Nam, Luận án Phó Tiến sĩ Khoa học Lịch

sử, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, trang 69.

Trang 25

trong chính sách đối ngoại của Việt Nam Đây là chủ trương nhất quán và lâu dài củaNhà nước chúng tôi”3 Định hướng chính trị nêu trên thể hiện chính sách hợp tác giữahai nước và đặt nền tảng cho sự phát triển mối quan hệ toàn diện

Về kinh tế: Trong chính sách của Nga đối với Việt Nam, việc khôi phục quan hệkinh tế được xác định là mục tiêu trọng tâm Trên cơ sở Ủy ban liên Chính phủ về hợptác kinh tế, thương mại được thiết lập từ năm 1992, trong những năm 1994 - 1999,Nga và Việt Nam tiếp tục xây dựng cơ sở pháp lý và các cơ cấu tổ chức cho sự hợptác hai nước trên lĩnh vực này Tuyên bố chung Việt Nam - Liên bang Nga ngày25/8/1998 đã đưa ra 9 hướng chính để tăng khối lượng thương mại và mở rộng hợptác song phương Bên cạnh đó, Nga còn đẩy mạnh chính sách hợp tác với Việt Namtrên nhiều lĩnh vực khác như an ninh - quốc phòng, văn hóa - giáo dục, khoa học - kỹthuật

Theo đánh giá của Bộ Ngoại giao Việt Nam [23; tr 24], quan hệ chính trị hai

nước đang phát triển rất tốt đẹp với độ tin cậy cao và không ngừng được củng cố, hợptác kinh tế thương mại ngày càng hiệu quả, trao đổi đoàn cấp cao diễn ra thườngxuyên, tạo động lực mạnh mẽ cho việc phát triển quan hệ đối tác chiến lược giữa hainước

Hơn 50 năm quan hệ Việt - LB Nga đã trải qua nhiều thử thách, hai nước có nềntảng quan hệ truyền thống vững chắc từ những năm tháng khó khăn nhất của ViệtNam trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc trước đây và trong công cuộc xâydựng, phát triển đất nước ngày nay cũng như bảo vệ chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ

Bảng 2 Kim ngạch và phần trăm tăng trưởng thương mại

Việt Nam - LB Nga và giá trị xuất, nhập khẩu của Việt Nam

(triệu đôla)

Tăngtrường kimngạch (%)

Xuất khẩucủa Việt Nam(triệu đôla)

Nhập khẩucủa Việt Nam(triệu đôla)

(Nguồn: Tổng cục Hải quan năm 2012)

2.1.2.2 Truyền thống hợp tác năng lượng giữa Liên Xô/ Nga và Việt Nam trước năm 2000

3 Xem trong Cơ quan Trung ương của Đảng Cộng sản Việt Nam (1998), “Tuyên bố chung giữa Việt Nam - Liên bang Nga ngày 25/8/1998”, Nhân dân ngày 26/8/1998, tr 1 & 7.

Trang 26

Quan hệ hợp tác giữa Liên Xô và Việt Nam trong lĩnh vực năng lượng đã diễn ratốt đẹp ngay từ thời kỳ chống Mỹ cứu nước Hợp tác trong lĩnh vực thủy và nhiệt điệnvới Liên Xô (Nga) đã gắn liền với cuộc chiến tranh giải phóng vĩ đại của đất nước ta.Xác định điện là một trong những yếu tố sống còn, quyết định tới thắng lợi của cuộcchiến, với sự giúp đỡ lớn lao từ Liên Xô về vốn và công nghệ, cung cấp thiết bị và đàotạo cán bộ, công nhân Việt Nam đã xây dựng thành công những công trình thủy, nhiệtđiện lớn, phục vụ hiệu quả giai đoạn vừa sản xuất vừa chiến đấu của đất nước trongthời kỳ chiến tranh cam go, góp phần vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ,cứu nước của Việt Nam.

Thật vậy, ngày 19/5/1961, với sự tư vấn và giúp đỡ của Liên Xô, Việt Nam đãkhởi công xây dựng nhà máy nhiệt điện Uông Bí (Quảng Ninh) với công suất 48 MW.Năm 1963, nhà máy đã khánh thành và đi vào hoạt động Đây là nhà máy nhiệt điện

có công suất lớn nhất miền Bắc trong thời kỳ đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội, là mộttrong những nguồn cấp điện chủ lực trong công cuộc xây dựng công nghiệp hóa ởmiền Bắc

Liên Xô cũng đã giúp Việt Nam xây dựng nhà máy thủy điện Thác Bà (Yên Bái)công suất 108 MW; khánh thành (đợt 1) và đưa vào vận hành ngày 5/10/1971 Đây làcông trình thủy điện có công suất lớn đầu tiên của Việt Nam và cũng là công trìnhtrọng điểm trong kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm lần thứ nhất của nước ta(1960 - 1965), nhằm tạo nền móng cơ sở vật chất, kỹ thuật cho công cuộc xây dựngchủ nghĩa xã hội của đất nước Sau chiến tranh phá hoại miền Bắc, thủy điện Thác Bàđược khôi phục hoàn chỉnh và đầu năm 1973, cả 3 tổ máy đã được đưa vào tiếp tụcvận hành

Cùng với sự hợp tác ngày càng phong phú, sự giúp đỡ ngày càng to lớn của Liên

Xô dành cho Việt Nam, từ tháng 1/1972, đường liên lạc hai chiều bằng vô tuyến điệngiữa cơ quan Thông tấn xã Việt Nam ở Hà Nội và hãng thông tấn nhà nước TASS ởMoscow đã được thiết lập Trên cơ sở đó, Liên Xô đã ký với Chính phủ Việt Nam

Hiệp định hợp tác trong lĩnh vực điện năng và bưu điện [22, tr.323] Từ năm 1973,

hai Đảng và hai chính phủ quyết định thành lập Ủy ban hợp tác kinh tế và khoa học –

kỹ thuật hỗn hợp Xô – Việt Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để Liên Xô và Việt Namđẩy mạnh hợp tác trong các lĩnh vực kinh tế, khoa học – kỹ thuật, trong đó có ngànhnăng lượng

Sau khi Việt Nam hoàn toàn được giải phóng, với vai trò là đối tác truyền thốngtin cậy, Liên Xô tiếp tục hỗ trợ nước ta xây dựng những công trình thủy và nhiệt điện

có ý nghĩa quan trọng, làm nền tảng cho giai đoạn xây dựng, phát triển mới, thời kỳ

Trang 27

công nghiệp hóa và hiện đại hóa của Việt Nam.

Trong số các nhà máy thủy điện, nhà máy thủy điện Hòa Bình (11/1979 12/1994) là công trình thủy điện lớn nhất Việt Nam vào thời điểm đó với 8 tổ máy cótổng công suất 1.920 MW Với sự tham gia của hàng vạn cán bộ công nhân viên ViệtNam và hàng nghìn chuyên gia Xô viết tham gia xây dựng, nhà máy đã hoàn thànhsau 15 năm Việc hoàn thành thủy điện Hòa Bình đánh dấu một bước phát triển mớicủa ngành năng lượng và sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Việt Nam

-Nhà máy thủy điện Trị An được xây dựng trên sông Đồng Nai có 4 tổ máy, vớitổng công suất thiết kế 400 MW, sản lượng điện trung bình hàng năm 1,7 tỉ KWh.Nhà máy được xây dựng với sự hỗ trợ về tài chính và công nghệ của Liên Xô từ năm

1984, khánh thành và đưa vào sử dụng từ năm 1991 Nhà máy thủy điện Trị An đã rađời rất đúng lúc, trước hết giải quyết kịp thời sự thiếu hụt năng lượng trầm trọng của

hệ thống điện ở Việt Nam trong thời kỳ căng thẳng nhất vào cuối những năm 80 củathế kỷ trước, góp phần tích cực cho sự phát triển kinh tế - xã hội miền Nam Việt Nam

Nhà máy nhiệt điện Phả Lại là công trình hợp tác hữu nghị Việt - Xô thuộc địaphận huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương, sản xuất điện năng từ nhiên liệu than thiênnhiên được khởi công xây dựng tháng 5/1980 và hoàn thành vào năm 1986 với côngsuất thiết kế là 400 MW, gồm 4 tổ tua bin máy phát và 8 lò hơi theo khối 2 lò 1 máyphát Nhà máy nhiệt điện Phả Lại là nhà máy điện lớn nhất trong hệ thống điện miềnBắc lúc bấy giờ, có các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật cao, đáp ứng kịp thời tốc độ tăngtrưởng phụ tải điện trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Liên Xô và Việt Nam cũng có truyền thống hợp tác trong lĩnh vực dầu khí Ngaysau khi miền Bắc được giải phóng (1954), Đảng và Chính phủ ta luôn quan tâm đếnviệc thăm dò, đánh giá các tiềm năng khoáng sản, năng lượng để chuẩn bị cho côngcuộc xây dựng đất nước Tháng 7/1959, trong chuyến đi thăm hữu nghị Liên Xô củaChủ tịch Hồ Chí Minh, khi đến thành phố Bacu, nước Cộng hòa Xô viết Azerbaijan,gặp gỡ, trò chuyện với công nhân dầu khí ở đây, Người đã nói “…Sau khi Việt Namkháng chiến thắng lợi, Azerbaijan nói chung và Bacu nói riêng phải giúp đỡ nhân dânViệt Nam khai thác và chế biến được dầu khí, xây dựng được khu công nghiệp dầu

khí mạnh như Bacu…” [10, tr 66] Từ nửa sau những năm 70 của thế kỷ XX, khi nền

kinh tế Việt Nam gặp rất nhiều khó khăn do sự cấm vận của Mỹ, Liên Xô đã giúp đỡViệt Nam trên nhiều lĩnh vực, đặc biệt là sự giúp đỡ về vốn, kỹ thuật trong công tácthăm dò, khai thác dầu khí ở miền Bắc Sự kết tinh tình hữu nghị giữa hai nước đượcthể hiện thông qua việc ký kết Hiệp định về Thăm dò và Khai thác dầu khí vào ngày3/7/1980, Hiệp định liên chính phủ về việc thành lập Xí nghiệp liên doanhVietsovpetro được ký kết vào ngày 19/6/1981 Chỉ sau đó 5 tháng, ngày 19/11/1981,

Trang 28

chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Việt Nam ra quyết định số 136-HĐBT cho phépVietsovpetro hoạt động trên toàn lãnh thổ Việt Nam Trong giai đoạn hợp tác với Liên

Xô, xí nghiệp Vietsovpetro đã nhanh chóng tìm ra dầu, đặc biệt là ở tầng móng mỏ

Bạch Hổ và mỏ Rồng – hiện tượng hiếm thấy trên thế giới [10, tr 66] Tấn dầu đầu

tiên được khai thác ngày 26/6/1986 Xí nghiệp đã xây dựng được những cơ sở vật chất

cơ bản và đào tạo được đội ngũ đông đảo cán bộ, công nhân có chuyên môn cao vềdầu khí Mặc dù kết quả khai thác dầu khí giai đoạn này không nhiều, nhưng những gìđạt được là cơ sở vững chắc, đặt nền tảng cho Vietsovpetro phát triển ở giai đoạn sau.Cuối những năm 80 của thế kỷ XX, do sự phát triển của xí nghiệp liên doanhVietsovpetro, sự thay đổi của tình hình Việt Nam và Liên Xô, chính phủ hai nước đãđưa sự hợp tác về dầu khí lên một bước phát triển mới bằng việc ký Hiệp định ngày19/6/1991 Hiện nay, Vietsovpetro vẫn là biểu tượng thành công và ý nghĩa nhất cho

sự hợp tác kinh tế nói chung, hợp tác năng lượng nói riêng giữa Liên Xô/ Nga với ViệtNam

Từ sau Chiến tranh lạnh đến trước năm 2000, quan hệ giữa LB Nga và Việt Nam

có nhiều biến động Nguyên nhân là do sự thay đổi của tình hình thế giới, và tình hìnhnội tại mỗi nước Tuy nhiên, hợp tác trong lĩnh vực năng lượng giữa Nga và Việt Namvẫn tiếp tục được duy trì và đạt những thành tựu đáng kể Tiêu biểu là việc xây dựngnhà máy thủy điện Yaly có 4 tổ máy, với tổng công suất thiết kế 720MW, được đặt ởthượng lưu Sông Sê San thuộc tỉnh Gia Lai Nhà máy gồm bốn tổ máy loại tua binFrancis trục thẳng đứng được lắp đặt với cột áp hiệu dụng bình thường là 190m và lưulượng xả qua tua bin là 417,6 m3 Tổ máy số 1 được đưa vào vận hành năm 1999 và tổmáy cuối cùng được đưa vào vận hành năm 2001 với sự giúp đỡ của Nga và Ucraina.Nhà máy thủy điện Yaly là nhà máy thủy điện lớn thứ hai ở Việt Nam và đóng mộtvai trò rất quan trọng không chỉ cung cấp điện mà còn điều chỉnh tần số và điện áp của

hệ thống lưới điện ở Việt Nam

Có thể nói, hợp tác năng lượng giữa Nga và Việt Nam có truyền thống tốt đẹpngay từ thời kỳ Liên Xô (trước 1991) Với hiệp ước tương trợ Xô – Việt (1978), Liên

Xô đã có những giúp đỡ to lớn và chí tình đối với Việt Nam trong nhiều lĩnh vực kinh

tế then chốt, trong đó có ngành năng lượng Đây là di sản đặc biệt quan trọng, là cơ sởvững chắc cho sự hợp tác năng lượng của hai nước trong giai đoạn hiện nay

2.1.3 Thực trạng công nghiệp năng lượng của Nga, Việt Nam và nhu cầu hợp tác với nhau của mỗi nước

Dù được thừa nhận là một cường quốc năng lượng thế giới, tuy nhiên ngành công nghiệp năng lượng LB Nga hiện nay cũng tồn tại một số vấn đề chưa được giải quyết bao gồm:

Trang 29

- Phụ thuộc quá nhiều vào lĩnh vực dầu khí, hậu quả là thu nhập của ngành nănglượng bị lệ thuộc vào cục diện của thị trường dầu khí thế giới;

- Tỷ trọng của ngành năng lượng Nga trong nền kinh tế quá lớn (gấp 3- 4 lần sovới của các nước phát triển khác);

- Thiết bị, công nghệ cũ chiếm tỷ lệ cao, mức hao mòn vốn cố định rất cao: trungbình của toàn ngành là 50%, riêng của lĩnh vực dầu khí là 80% Đây là yếu tố tiềmtàng, có thể gây nên “thảm họa công nghệ” Chính vì vậy Nga tích cực nhập khẩu máymóc, thiết bị thuộc nhóm công nghệ cao Bình quân một năm kim ngạch nhập khẩucủa Nga là 48.7%, khoảng 200 tỷ đô la Trong đó, nguyên liệu chiếm 75%, máy móc

thiết bị 10%, dịch vụ 10% [11, tr 22].

- Sự mất cân đối trong sản xuất và tiêu thụ năng lượng giữa các vùng lãnh thổ:Miền Tây Siberia khai thác 90% khối lượng khí thiên nhiên, 60% dầu mỏ, chế biếnthành các sản phẩm dầu thực hiện ở khu vực sông Volga (tới 60%), trong khi tiêu thụcác sản phẩm dầu và khí lại chủ yếu tập trung ở các khu vực phía Tây, Bắc và Đôngcủa nước Nga;

- Hoạt động của ngành năng lượng còn gây ảnh hưởng nặng cho môi trường, cho

dù mức độ đã được cải thiện đáng kể so với trước năm 1990

Để tiếp tục duy trì thế mạnh và quyền lực của mình trong lĩnh vực này, Nga đã

đưa ra “Chiến lược năng lượng của Nga đến năm 2020” [39] Xuyên suốt của chiến

lược này là “hình thành cán cân nhiên liệu – năng lượng hợp lý, cân đối cho nướcNga” Trên cơ sở các thông số kinh tế vĩ mô đã dự báo, ngành năng lượng tiến hànhxác định khối lượng cần thiết và cơ cấu tiêu thụ năng lượng, mức xuất khẩu, đảm bảocho tăng trưởng kinh tế như đã dự báo đến năm 2020

Về hoạt động kinh tế đối ngoại trong lĩnh vực năng lượng, nước Nga sẽ thực hiệntheo các định hướng sau:

- Tăng xuất khẩu nhiên liệu;

- Vận tải quá cảnh nguồn năng lượng;

- Nghiên cứu áp dụng, khai thác nguồn năng lượng trên lãnh thổ của các nướckhác;

- Củng cố, cải thiện vị thế của Nga ở các thị trường nước ngoài, hòa nhập vào khuvực năng lượng của nước bản địa, tham gia phát triển cơ sở hạ tầng năng lượng củacác nước;

- Thu hút đầu tư nước ngoài vào sản xuất, vận chuyển và chế biến nguồn nănglượng ở Nga

Trang 30

Một trong những mục tiêu chiến lược để củng cố vị thế và vai trò của Nga trên thếgiới là tăng cường vị trí của Nga trên thị trường dầu mỏ và khí thiên nhiên thế giới Đểđảm bảo an ninh kinh tế và an ninh năng lượng, Nga sẽ thực hiện đa dạng hóa thịtrường xuất khẩu năng lượng (với các nước Bắc Mỹ, Tây Âu và Đông Bắc Á) Mỹ vẫn

là thị trường lớn và lâu dài của Nga Tuy nhiên, trong tương lai, thị trường lớn nhất vàquan trọng nhất mà Nga tính tới là khu vực châu Á – Thái Bình Dương và Nam Á.Những đối tác lớn nhất sẽ là Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ Đây là nhữngthị trường có tiềm năng lớn trong việc tiêu thụ khí thiên nhiên, dầu mỏ, điện, côngnghệ và nhiên liệu hạt nhân của Nga

Bên cạnh những hạn chế trong công nghiệp năng lượng, việc phát triển hợp tácnăng lượng của Nga với các nước trên thế giới, nhất là với Mỹ và phương Tây vẫnđang gặp trở ngại Chính vì vậy, việc mở rộng hợp tác năng lượng với các nước châu

Á – Thái Bình Dương có vai trò ngày càng quan trọng đối với Nga, trong đó ViệtNam là một đối tác tin cậy và đạt được nhiều thành tựu

Từ năm 1990, Việt Nam bắt đầu xuất khẩu năng lượng, chủ yếu là than đá và dầuthô Tuy nhiên tiêu thụ năng lượng ở Việt Nam tăng nhanh (12%/năm) hơn cả mứctăng GDP (khoảng 7,3%/năm từ 1998 – 2008), là kết quả của quá trình công nghiệphóa, điện khí hóa nông thôn và phát triển giao thông mạnh mẽ Sự kết hợp của cường

độ năng lượng tăng, cùng với sự tăng trưởng kinh tế dẫn tới mức tăng trưởng khổng lồ

về sử dụng năng lượng trong vòng 10 năm qua: sử dụng than tăng 15,7%/năm, tiêu thụđiện tăng 15,1%, và sử dụng sản phẩm dầu tăng 8,7%/năm Nhu cầu năng lượng củaViệt Nam dự báo sẽ tăng gấp 3 lần trong vòng 10 năm tới (12% mỗi năm) trong khicung cấp năng lượng nội địa sẽ không thể duy trì tăng được Việt Nam được dự báo sẽtrở thành nước nhập khẩu điện vào năm 2015, và từ năm 2025 đến 2030 khả năngthiếu năng lượng đáp ứng nhu cầu tăng trưởng kinh tế là không tránh khỏi, đòi hỏingay từ bây giờ chúng ta phải có chiến lược đáp ứng tổng nhu cầu năng lượng sớm.Các dạng năng lượng hóa thạch như than, dầu khí của Việt Nam vẫn còn trữ lượnglớn, những cũng sắp cạn kiệt, đặc biệt trước sức ép của quá trình toàn cầu hóa, cácnguồn năng lượng này càng trở nên khủng hoảng Không những vậy, đây là nhữngnguồn năng lượng tạo ra các loại khí gây ô nhiễm môi trường, và trong một tương laigần sẽ không còn là lựa chọn cho chiến lược phát triển năng lượng của thế giới nóichung và Việt Nam nói riêng Vì vậy hướng phát triển hiện nay được chuyển sang cácnguồn năng lượng sạch, có khả năng tái tạo như: thủy điện, điện nguyên tử, điện mặttrời, năng lượng gió… Tuy nhiên, việc khai thác các nguồn năng lượng này đòi hỏicông nghệ cao, vốn đầu tư ban đầu khá lớn trong khi điều kiện thực tiễn của Việt Namhiện nay, nơi mà nền kinh tế đang trong quá trình phát triển và khả năng ứng dụngkhoa học công nghệ còn nhiều hạn chế

Trang 31

Để đảm bảo nguồn cung năng lượng trong tương lai phục vụ công cuộc xây dựng

và phát triển đất nước, việc tăng cường hợp tác năng lượng với Nga là một trongnhững giải pháp tối ưu, mang tính thiết thực cao bởi:

- Nga là một cường quốc năng lượng hàng đầu thế giới, Việt Nam có thể tận dụngđược nguồn vốn lớn và công nghệ tiên tiến của Nga để thúc đẩy phát triển ngành nănglượng quốc gia

- Hai nước là những đối tác lâu đời, tin cậy, có nhiều kinh nghiệm và thành côngtrong lĩnh vực năng lượng, tuy nhiên hiện nay mức độ hợp tác hai bên chưa xứng vớitiềm năng

- Tăng cường hợp tác năng lượng với Nga, không chỉ làm sâu đậm thêm quan hệchính trị giữa hai nước mà việc tham gia khai thác của Nga trong khu vực thềm lục địatại biển Đông đã gián tiếp khẳng định chủ quyền biển đảo của Việt Nam tại đây

2.2 Những nội dung chủ yếu trong hợp tác năng lượng Nga – Việt Nam (2000 – 2012)

2.2.1 Trong lĩnh vực thủy điện và nhiệt điện

Từ năm 2000 đến năm 2012, Việt Nam và Nga tiếp tục tăng cường và mở rộngcác hình thức hợp tác trong lĩnh vực thủy và nhiệt điện, ký kết những hiệp định quantrọng mang tính định hướng trong hợp tác giữa hai nước Việt Nam xác định Nga làđối tác quan trọng phục vụ chương trình của nhà nước về phát triển lưới điện quốc gia

Trang 32

đến năm 2020 Các lĩnh vực hợp tác giữa hai bên như sau:

Cung cấp tín dụng để mua máy móc, thiết bị thủy, nhiệt điện và Đầu tư xây dựng công trình thủy điện

Để mở rộng thương mại và hợp tác kinh tế song phương, hỗ trợ các tập đoàn củaNga và hỗ trợ các hoạt động kỹ thuật trong quá trình phát triển tổng thể về năng lượngcủa Việt Nam, tháng 3/2002, Việt Nam và LB Nga đã ký kết Hiệp định liên chính phủ

về việc Nga hỗ trợ tín dụng cho một số dự án thủy điện tại Việt Nam 4 Theo Hiệp

định ký kết, Nga sẽ cho Việt Nam vay 100 triệu đôla với mức lãi suất ưu đãi là 4,25%

và thời hạn trả năm 2008 - 2015, để mua các máy móc thiết bị của Nga phục vụ 02 dự

án thủy điện là Sê San 3 (được khởi công từ năm 2002 và hoàn thành năm 2006 tạiGia Lai - Kon Tum, có công suất lắp máy 130 MW, điện lượng 611,23 triệuKwh/năm, do Tổng công ty Sông Đà làm tổng thầu dự án theo phương thức EPC – môhình quản lý tiên tiến lần đầu tiên đưa vào áp dụng ở nước ta) và Pleikrông (Côngtrình do Tập đoàn Điện lực Việt Nam làm chủ đầu tư với tổng vốn đầu tư khoảng3.000 tỷ đồng, với 2 tổ máy với tổng công suất 100MW, sản lượng điện bình quânhàng năm 417,2 triệu kWh)

Tháng 10/2010, Ngày 29/10/2010, Tổng giám đốc PVN và Chủ tịch Hội đồngQuản trị Công ty RusHydro5 đã ký Thỏa thuận khung theo đó RusHydro sẽ khẩntrương đánh giá để quyết định tham gia đầu tư đến 51% trong Dự án Nhà máy thủyđiện Đakdring (Dự án thuỷ điện Đakdring ở huyện Sơn Tây, Quảng Ngãi có công suấtthiết kế 125MW với tổng vốn đầu tư trên 3.000 tỷ đồng) Đây là nhà máy thuỷ điệnlớn nhất Quảng Ngãi hiện nay với mục tiêu nhằm góp phần cung cấp nguồn điện phục

vụ khu kinh tế Dung Quất

Cung cấp các thiết bị, dịch vụ sửa chữa, nâng công suất những nhà máy thủy và nhiệt điện:

Năm 2003, Tập đoàn hàng đầu thế giới trong lĩnh vực sản xuất và cung cấp thiết

bị giành cho các nhà máy thủy và nhiệt điện, các nhà máy điện nguyên tử cũng nhưthiết bị tải và phân phối điện của Nga Sylovye Mashiny6 đã ký kết với tập đoàn xâydựng Sông Đà và Tập đoàn Điện lực Việt Nam hợp đồng cung cấp máy móc, thiết bịcho Dự án nhà máy thủy điện Sê San 3 và Nhà máy thủy điện Pleikrông gồm các tubinthủy lực Francis với công suất 132,65 MW và 152,94 МW và các máy phát thủy điệnW và các máy phát thủy điện

4 Theo Cổng thông tin allmedia.ru

5 RusHydro là một công ty lớn của Nga, được thành lập vào năm 2004 nhằm thực hiện chương trình cải cách ngành điện của chính phủ Nga

Ngày đăng: 13/10/2021, 07:58

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (1987), Nhà xuất bản Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI
Nhà XB: Nhà xuất bản Sự thật
Năm: 1987
2. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII (1991), Nhà xuất bản Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII
Nhà XB: Nhà xuất bản Sự thật
Năm: 1991
3. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI (2011), Nhà xuất bản Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia - Sự thật
Năm: 2011
4. Nguyễn An Hà (2010), “Nhìn lại 10 năm chính sách đối ngoại của Liên bang Nga và quan hệ Việt Nam – Liên bang Nga những năm đầu thế kỷ XXI”, tạp chí Nghiên cứu châu Âu, số 3 (114) năm 2010, trang 13 – 21 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhìn lại 10 năm chính sách đối ngoại của Liên bangNga và quan hệ Việt Nam – Liên bang Nga những năm đầu thế kỷ XXI
Tác giả: Nguyễn An Hà
Năm: 2010
5. Nguyễn An Hà (2011), “Chiến lược dầu khí của Liên bang Nga và triển vọng hợp tác Việt – Nga đến 2020”, tạp chí Nghiên cứu châu Âu, số 3 (126) năm 2011, trang 62– 67 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược dầu khí của Liên bang Nga và triển vọnghợp tác Việt – Nga đến 2020
Tác giả: Nguyễn An Hà
Năm: 2011
6. Nguyễn An Hà (2011), “Quan hệ đối tác chiến lược Việt Nam – Liên bang Nga:tiềm năng và những bước phát triển mới”, tạp chí Nghiên cứu châu Âu, số 6 (129) năm 2011, trang 28 – 36 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan hệ đối tác chiến lược Việt Nam – Liên bang Nga:"tiềm năng và những bước phát triển mới
Tác giả: Nguyễn An Hà
Năm: 2011
7. Vũ Đình Hòe, Nguyễn Hoàng Giáp (2008), Hợp tác chiến lược Việt – Nga, những quan điểm, thực trạng và triển vọng, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hợp tác chiến lược Việt – Nga,những quan điểm, thực trạng và triển vọng
Tác giả: Vũ Đình Hòe, Nguyễn Hoàng Giáp
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia - Sự thật
Năm: 2008
8. Nguyễn Thanh Hương, An ninh năng lượng và chiến lược năng lượng của Liên bang Nga đến 2030, tạp chí Nghiên cứu châu Âu, số 11(158) năm 2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: An ninh năng lượng và chiến lược năng lượng của Liênbang Nga đến 2030
9. Học viện Ngoại giao Việt Nam (2012), giáo trình Kinh tế đối ngoại, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế đối ngoại
Tác giả: Học viện Ngoại giao Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuấtbản Chính trị quốc gia - Sự thật
Năm: 2012
10. Nguyễn Công Khanh, Nguyễn Quốc Minh, “Triển vọng quan hệ hợp tác Việt – Nga về lĩnh vực dầu khí trong khuôn khổ xí nghiệp liên doanh Vietsovpetro”, tạp chí Nghiên cứu châu Âu, số 8(119) năm 2010, trang 66 – 71 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triển vọng quan hệ hợp tác Việt –Nga về lĩnh vực dầu khí trong khuôn khổ xí nghiệp liên doanh Vietsovpetro
11. Trần Khánh Linh (2014), Thực trạng và triển vọng trong hợp tác năng lượng giữa Việt Nam và Liên bang Nga, luận văn thạc sỹ kinh tế đối ngoại, trường đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng và triển vọng trong hợp tác năng lượnggiữa Việt Nam và Liên bang Nga
Tác giả: Trần Khánh Linh
Năm: 2014
12. Hồ Chí Minh: Toàn tập (2011), Nhà xuất bản Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, tập 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: Hồ Chí Minh: Toàn tập
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia - Sự thật
Năm: 2011
13. Nhikolai và Marina Svanhidze (2009), “Medvedev”, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Medvedev
Tác giả: Nhikolai và Marina Svanhidze
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trịquốc gia Sự thật
Năm: 2009
14. Velerij Panyushkin, Mikhail Sygar (2010), Gazprom – vũ khí lợi hại của nước Nga, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, trang 10 – 11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gazprom – vũ khí lợi hại của nướcNga
Tác giả: Velerij Panyushkin, Mikhail Sygar
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia - Sự thật
Năm: 2010
31. Hồ Tố Lương, Viện sử học, trang tin tức sự kiện;http://www.bulletin.vnu.edu.vn/ttsk/Vietnamese/C2088/2007/11/N19889/?35 Link
33. Tập đoàn Sylovye Mashiny của Nga, www.power-m.ru, http://www.power- m.ru/press/news.aspx?news=437 Link
34. Tập đoàn Gazprom của Nga, www.gazprom.ru, http://www.gazprom.ru/about/production/projects/deposits/vietnam/ Link
35. Tập đoàn Sylovye Mashiny của Nga, www.power-m.ru, http://www.power- m.ru/press/news.aspx?news=1168 Link
36. Tập đoàn Sylovye Mashiny của Nga, www.power-m.ru, http://www.power- m.ru/press/news.aspx?news=1192 Link
37. Tập đoàn Sylovye Mashiny của Nga, www.power-m.ru, http://www.power- m.ru/press/news.aspx?news=584 Link

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

DANH MỤC CÁC BẢNG SỐ LIỆU - Khóa luận tốt nghiệp 1 (hợp tác nga việt trong lĩnh vực năng lượng)
DANH MỤC CÁC BẢNG SỐ LIỆU (Trang 3)
Bảng 1. Các nhà máy thủy điện lớn (&gt;100 MW) của ViệtNam - Khóa luận tốt nghiệp 1 (hợp tác nga việt trong lĩnh vực năng lượng)
Bảng 1. Các nhà máy thủy điện lớn (&gt;100 MW) của ViệtNam (Trang 17)
Bảng 2. Kim ngạch và phần trăm tăng trưởng thương mại Việt Nam - LB Nga và giá trị xuất, nhập khẩu của Việt Nam - Khóa luận tốt nghiệp 1 (hợp tác nga việt trong lĩnh vực năng lượng)
Bảng 2. Kim ngạch và phần trăm tăng trưởng thương mại Việt Nam - LB Nga và giá trị xuất, nhập khẩu của Việt Nam (Trang 24)
Bảng 3. Nội dung và kết quả đàm phán về Hiệp định xây dựng NMĐHN Ninh Thuận 1 giữa Việt Nam và Nga - Khóa luận tốt nghiệp 1 (hợp tác nga việt trong lĩnh vực năng lượng)
Bảng 3. Nội dung và kết quả đàm phán về Hiệp định xây dựng NMĐHN Ninh Thuận 1 giữa Việt Nam và Nga (Trang 39)
MỘT SỐ HÌNH ẢNH VỀ HỢP TÁC NĂNG LƯỢNG NGA – VIỆT NAM - Khóa luận tốt nghiệp 1 (hợp tác nga việt trong lĩnh vực năng lượng)
MỘT SỐ HÌNH ẢNH VỀ HỢP TÁC NĂNG LƯỢNG NGA – VIỆT NAM (Trang 60)
Hình 1. Chủ tịch nước Trần Đức Lương và Tổng thống Nga V.Putin ký kết Tuyên bố   chung   về   quan   hệ   đối   tác   chiến   lược   Việt   –   Nga   (tháng   3/2001) - Khóa luận tốt nghiệp 1 (hợp tác nga việt trong lĩnh vực năng lượng)
Hình 1. Chủ tịch nước Trần Đức Lương và Tổng thống Nga V.Putin ký kết Tuyên bố chung về quan hệ đối tác chiến lược Việt – Nga (tháng 3/2001) (Trang 60)
Hình 3. Lễ khánh thành nhà máy thủy điện Hòa Bình (Nguồn: Internet) - Khóa luận tốt nghiệp 1 (hợp tác nga việt trong lĩnh vực năng lượng)
Hình 3. Lễ khánh thành nhà máy thủy điện Hòa Bình (Nguồn: Internet) (Trang 61)
Hình 4. Mỏ Bạch Hổ ở vùng biển Bà Rịa Vũng Tàu. (Nguồn: kyluc.vn) - Khóa luận tốt nghiệp 1 (hợp tác nga việt trong lĩnh vực năng lượng)
Hình 4. Mỏ Bạch Hổ ở vùng biển Bà Rịa Vũng Tàu. (Nguồn: kyluc.vn) (Trang 61)
Hình 5. Giàn khoan tự nâng nước sâu hiện đại thuộc xí nghiệp Vietsovpetro (Nguồn: kyluc.vn) - Khóa luận tốt nghiệp 1 (hợp tác nga việt trong lĩnh vực năng lượng)
Hình 5. Giàn khoan tự nâng nước sâu hiện đại thuộc xí nghiệp Vietsovpetro (Nguồn: kyluc.vn) (Trang 62)
Hình 6. Lễ khởi công xây dựng hệ thống điện phục vụ thi công NMĐHN Ninh Thuận 1 (Nguồn: VietQ.vn) - Khóa luận tốt nghiệp 1 (hợp tác nga việt trong lĩnh vực năng lượng)
Hình 6. Lễ khởi công xây dựng hệ thống điện phục vụ thi công NMĐHN Ninh Thuận 1 (Nguồn: VietQ.vn) (Trang 62)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w