Xuất phát từ thực tế đó, trong các cuộc cách mạng tư sản buổi đầu thời cận đại, giai cấp tư sản đã lập ra những tổ chức hay đảng phái chính trị dưới những hình thức khác nhau để từng bướ
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành bài tập lớn này, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến giảng viên hướng dẫn- TS Lê Thành Nam đã giúp đỡ tôi trong quá trình đề xuất đề tài và nghiên cứu, viết và hoàn thiện
Tôi cũng muốn gửi lời cảm ơn đến các bạn sinh viên cùng khóa trong khoa Lịch sử, trường Đại học Sư phạm- ĐH Huế đã giúp đỡ tôi trong quá trình tìm kiếm và xử lý tài liệu
Người viết
Trương Đình Tý
Trang 2MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Theo quan niệm của chủ nghĩa duy vật lịch sử, lịch sử nhân loại phát triển qua 5 hình thái kinh tế - xã hội khác nhau, đó là: Cộng sản nguyên thuỷ; Chiếm hữu nô lệ; Phong kiến; Tư bản chủ nghĩa; Xã hội chủ nghĩa Từng hình thái kinh tế - xã hội là một bước tiến trong lịch sử phát triển của nhân loại Mỗi hình thái là một nấc thang phát triển nên sự chuyển biến từ hình thái kinh tế xã hội này sang hình thái kinh tế
-xã hội khác là một quá trình đấu tranh quyết liệt bằng các cuộc cách mạng -xã hội và quá trình chuyển biến từ hình thái kinh tế xã hội phong kiến sang hình thái kinh tế
-xã hội tư bản chủ nghĩa cũng không nằm ngoài quy luật đó mà trước hết biểu hiện cụ thể nhất thông qua các cuộc cách mạng tư sản buổi đầu thời cận đại, đó là cách mạng
tư sản Hà Lan (thế kỷ XVI), cách mạng tư sản Anh (thế kỷ XVII), cuộc chiến tranh giành độc lập của 13 bang thuộc địa Anh ở Bắc Mĩ và cách mạng tư sản Pháp vào nửa sau thế kỷ XVIII
Để một cuộc cách mạng tư sản diễn ra, điều kiện cần là phải có sự hình thành và phát triển của giai cấp tư sản Trên thực tế, giai cấp tư sản vốn xuất thân từ tầng lớp thương nhân Trong lòng xã hội phong kiến, giai cấp tư sản ngày càng lớn mạnh về mặt kinh tế nhưng quyền lợi về chính trị thì hoàn toàn ngược lại Dưới chế độ phong kiến, giai cấp tư sản chỉ là giai cấp bị trị nên họ vấp phải sự đèn nén, kiềm toả của chế
độ phong kiến mà trước hết là nhà vua và quý tộc phong kiến thông qua các sắc lệnh kinh tế, chính trị chỉ có lợi cho bản thân chế độ Đó là chưa kể hệ thống thuế chồng chéo ở các lãnh địa
Đứng trước tình thế đó, để tồn tại và phát triển, giai cấp tư sản nhận thấy cần phải tiến hành cách mạng để lật đổ chế độ phong kiến, xác lập quyền lợi về mặt nhà nước đối với họ Tuy nhiên, để tiến hành cách mạng, giai cấp tư sản cần phải có lực lượng,
tổ chức để có thể tập hợp, lãnh đạo nhân dân đứng lên đấu tranh Điều quan trọng hơn, những tổ chức hay đảng phái đại diện cho giai cấp tư sản lập ra cần phải có những quyết sách chính trị, phương pháp đấu tranh sao cho phù hợp với thực tế đặt ra Xuất phát từ thực tế đó, trong các cuộc cách mạng tư sản buổi đầu thời cận đại, giai cấp tư sản đã lập ra những tổ chức hay đảng phái chính trị dưới những hình thức khác nhau
để từng bước xác lập quyền lực của mình thông qua các cuộc cách mạng
Trang 3Chính vì những lý do trên, tôi quyết định chọn vấn đề “Tổ chức chính trị của giai cấp tư sản trong cuộc chiến tranh giành độc lập của 13 bang thuộc địa Anh ở Bắc Mỹ thế kỷ XVIII” làm đề tài cho bài tập lớn của mình
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Tổ chức chính trị của giai cấp tư sản trong các cuộc cách mạng buổi đầu thời cận đại đã được nhiều người quan tâm nghiên cứu và đề cập đến Trong quá trình thu thập tài liệu, tôi đã tiếp cận được một số nhóm công trình nghiên cứu đề cập đến vấn đề này, tiêu biểu như:
Nhóm thứ nhất, các sách và giáo trình lịch sử như: Sách “Lịch sử thế giới cận đại” của Vũ Dương Ninh – Nguyễn Văn Hồng (NXB Giáo dục Hà Nội, 2001); Sách “Lịch
sử thế giới thời cận đại (1640 – 1900), (Tập 3)” của Lưu Tộ Xương – Quang Nhân
Hồng – Hàn Thừa Văn (ĐCB) – Phong Đảo (dịch) (NXB TP.Hồ Chí Minh, 2002);
Sách “Lịch sử thế giới cận đại (Tập I)” của Phan Ngọc Liên (CB) (NXB Đại học Sư
phạm Hà Nội, 2008) Các công trình trên trình bày khá chi tiết quá trình phát triển của các cuộc cách mạng tư sản buổi đầu thời cận đại ở Hà Lan, Anh, Bắc Mĩ và Pháp cũng như đề cập đến các đảng phái chính trị của giai cấp tư sản trong các cuộc cách mạng này
Nhóm thứ hai, các giáo trình pháp luật như: “Lịch sử nhà nước và pháp luật thế
giới” của Khoa Luật, Trường Đại học Luật Hà Nội (NXB Đại học Quốc gia Hà Nội,
1995); “Chính trị học” của Nguyễn Đăng Dung – Nguyễn Thị Thu Hà – Phạm Hồng Tung (NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2010); “Lịch sử nhà nước và pháp luật thế
giới” của Nguyễn Minh Tuấn (NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội, 2014) Đây là những
công trình đề cập đến những mô hình nhà nước trong lịch sử, trong đó có đề cập đến những khái niệm tổ chức chính trị từ thời cận đại trở đi cũng như sự vận động của mô hình đảng phái chính trị của giai cấp tư sản trong lịch sử
Nhóm thứ ba, các công trình chuyên sâu về lịch sử mỗi quốc gia Âu – Mĩ như:
“Đại cách mạng Pháp 1789” của A.Manfrết (NXB Khoa học Hà Nội, 1960); “Hà Lan – Đất nước và con người” của Phan Ngọc Liên (Chủ biên) (NXB Đại học Quốc
Trang 4gia Hà Nội, 1997); “Lịch sử nước Anh” của Bùi Đức Mẫn (NXB Tổng hợp TP.Hồ Chí Minh, 2004); “Lịch sử nước Pháp” của Đặng Thanh Tịnh (NXB Văn hoá thông tin, 2006); “Lịch sử Hoa Kỳ – giai đoạn lập quốc đến thế kỷ XIX” của Nguyễn Thái Yên Hương (NXB Giáo dục Hà Nội, 2015); “Lịch sử cách mạng Pháp” của Will và Ariel
Durant (NXB Đại học Quốc gia TP.Hồ Chí Minh, 2016) Đây là những công trình phản ánh thông sử của các nước, trong đó có đề cập sơ lược đến lịch sử đảng phái chính trị của giai cấp tư sản
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là đảng phái chính trị của giai cấp tư sản trong cuộc chiến tranh giành độc lập của 13 bang thuộc địa Anh ở Bắc Mỹ thế kỷ XVIII 3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về thời gian: vào cuối thế kỷ XVIII
- Về không gian: 13 bang thuộc địa Anh ở Bắc Mỹ, nơi diễn ra cách mạng.
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
4.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích của đề tài là khôi phục một cách hệ thống về các đảng phái chính trị của giai cấp tư sản trong cuộc chiến tranh giành độc lập của 13 bang thuộc địa Anh ở Bắc
Mỹ thế kỷ XVIII
4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục đích nói trên, đề tài tập trung giải quyết những nhiệm vụ sau: Thứ nhất, hệ thống hoá các tổ chức chính trị của giai cấp tư sản trong cuộc chiến tranh giành độc lập của 13 bang thuộc địa Anh ở Bắc Mỹ thế kỷ XVIII
Thứ hai, phân tích bối cảnh và phương thức hoạt động của các tổ chức chính trị của giai cấp tư sản trong cuộc chiến tranh giành độc lập của 13 bang thuộc địa Anh ở Bắc Mỹ thế kỷ XVIII
Trang 5Thứ ba, rút ra những nhận xét, đánh giá về tổ chức chính trị của giai cấp tư sản trong cuộc chiến tranh giành độc lập của 13 bang thuộc địa Anh ở Bắc Mỹ thế kỷ XVIII
5. Phương pháp nghiên cứu đề tài
- Đọc, sắp xếp, nghiên cứu cụ thể các tài liệu
- So sánh, phân tích, đánh giá nội dung mà tài liệu phản ánh
- Tổng hợp kiến thức, tổng hợp các nguồn tài liệu
- Xây dựng đề cương sơ lược, dàn ý chi tiết, bổ sung sửa chữa, viết bản thảo, và hoàn thành đề tài
6 Đóng góp của đề tài
Đề tài góp phần hệ thống hoá tư liệu liên quan đến tổ chức chính trị của giai cấp tư sản trong cuộc chiến tranh giành độc lập của 13 bang thuộc địa Anh ở Bắc Mỹ thế kỷ XVIII
7.Bố cục bài tập lớn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung đề tài gồm 5 phần:
1/ Khái niệm “tổ chức chính trị”
2/ Tình hình Bắc Mỹ trong các thế kỷ XVII-XVIII
3/ Tổ chức chính trị và chính sách thống trị của Anh
4/ Phong trào chống thực dân Anh của nhân dân 13 bang thuộc địa Bắc Mỹ dâng cao Đại hội lục địa lần thứ nhất được tiến hành
5/ Đại hội lục địa lần thứ hai (1775)
Trang 6TỔ CHỨC CHÍNH TRỊ CỦA GIAI CẤP TƯ SẢN TRONG CUỘC CHIẾN TRANH GIÀNH ĐỘC LẬP CỦA 13 BANG THUỘC ĐỊA ANH Ở BẮC MỸ THẾ
KỶ XVIII
1. Khái niệm “tổ chức chính trị”
Cho đến nay, đã có rất nhiều định nghĩa về tổ chức chính trị như:
B.Konstan – người đại diện cho các trường phái bảo thủ ở Anh cho rằng: Đảng phái là tập hợp những người theo những học thuyết chính trị giống nhau
Nhà triết học chính trị Xô viết Anatôli Butenkô đưa ra định nghĩa: Chính đảng là
tổ chức chính trị đoàn kết những đại diện tích cực nhất của các giai cấp xã hội nhất định (hay một nhóm xã hội) và thể hiện (trong văn kiện cương lĩnh và các văn kiện khác) những lợi ích cơ bản của giai cấp đó Chức năng quan trọng nhất của đảng là tìm ra những phương hướng và phương tiện thực hiện những lợi ích đó, là người tổ chức những hoạt động của giai cấp và của các đồng minh của nó [3, 107].
J.LaPalombara (người Mỹ) – một trong những chuyên gia có uy tín về đảng phái chính trị đã đưa ra một số tiêu chuẩn nhất định để trở thành một đảng phái chính trị,
đó là: Thứ nhất, đảng phái về bản chất là người đại diện cho hệ tư tưởng hoặc ít nhất cũng phải thể hiện một định hướng nhất định về thế giới quan hoặc nhân sinh quan; Thứ hai, đảng là một tổ chức, nghĩa là có một sự liên kết con người tương đối lâu dài theo thời gian thành các thành viên (đảng viên) hợp thành, là một thiết chế mà nhờ đó đảng khác với các tập hợp người khác; Thứ ba, mục tiêu của đảng là giành và thực hiện quyền lực nhà nước; Trong hệ thống đa đảng tự thân, đảng khó có thể trở thành đảng cầm quyền Muốn trở thành đảng cầm quyền, đảng đó phải có chương trình vận động tranh cử, phải được nhân dân tín nhiệm Vì vậy, yếu tố thứ tư là mỗi đảng phái phải cố gắng bảo đảm cho mình một sự ủng hộ rộng rãi của nhân dân [3, 108]
Dựa trên cơ sở các yếu tố xác định các đảng phái của J.LaPalombara
Quaermonne đã đưa ra định nghĩa về các đảng phái như sau: Các đảng là lực lượng
chính trị có tổ chức, liên kết công dân có cùng khuynh hướng chính trị nhằm động viên ý kiến về một số mục tiêu nhất định và để tham gia vào các cơ quan quyền lực để
hướng quyền lực đến chỗ đạt được những yêu cầu đó [3, 109].
Tựu chung lại, có thể định nghĩa “Đảng phái chính trị” một cách khái quát như
sau: Đảng phái chính trị là tổ chức chính trị đoàn kết những công dân có cùng khuynh hướng chính trị của các giai cấp xã hội nhất định với mục tiêu đấu tranh để tham gia
Trang 7vào việc thể hiện các quan điểm chính trị, đấu tranh để giành quyền đại diện cho nhân dân trong Quốc hội hoặc để đạt được một quyền lực chính trị nhất định trong Chính quyền, thường là bằng cách tham gia các chiến dịch vận động tranh cử để có được sự tín nhiệm của nhân dân Các đảng thường có một hệ tư tưởng, một đường lối hoạt động nhất định (được thể hiện trong văn kiện cương lĩnh và các văn kiện khác của đảng) nhưng cũng có thể đại diện cho một liên minh giữa các lợi ích riêng rẽ và các đảng thường có mục tiêu thực hiện một nhiệm vụ, lý tưởng của một tầng lớp, giai cấp, quốc gia để bảo vệ quyền lợi cho tầng lớp, giai cấp, quốc gia đó
2 Tình hình Bắc Mỹ trong các thế kỷ XVII-XVIII
Là quốc gia đi tiên phong trong việc xác định quyền lợi của mình ở châu lục mới Tiếp đó là người Pháp, Hà Lan, Anh… Thực dân Anh đã chiếm được nhiều thuộc địa nhất Đến năm 1752, thực dân Anh đã thành lập được ở miền Đông Bắc Mỹ 13 thuộc địa, phía Đông giáp Đại Tây Dương, phía Tây giáp dãy núi Applachian, chạy dài từ bang Massachuset đến phía Nam giáp Florida thuộc Tây Ban Nha Tính đến trước khi xảy ra cuộc xung đột quân sự với chính quốc, số cư dân của 13 thuộc địa Anh ở Bắc
Mỹ đã lên tới 2,5 triệu người (năm 1690 mới chỉ có 250.000 người) Tiếng Anh được thông dụng ở khu vực này Người Indian đã đấu tranh anh dũng chống sự xâm lược của thực dân da trắng; song vì lực lượng còn non yếu, lại chia rẽ giữa các bộ lạc nên
đã thất bại
Người châu Âu khi di cư sang Bắc Mỹ để lập thuộc địa đã mang theo quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa Tuy nhiên, ở các vùng đất này, vẫn còn tồn tại những yếu tố của các phương thức sản xuất tiền tư bản Vì vậy, nền kinh tế của 13 thuộc địa Anh ở Bắc
Mỹ có tính chất phức tạp (tồn tại song song nhiều quan hệ sản xuất, trong đó quan hệ
tư bản chủ nghĩa chiếm vị trí thống trị), thành phần xã hội cũng rất đa dạng (bên cạnh chủ công trường thủ công, chủ xưởng, thương nhân, nông dân, thợ thủ công, còn có rất nhiều nô lệ da đen) Chỉ trong một thời gian ngắn, số lượng người da đen ở Bắc
Mỹ đã tăng lên rất nhanh Nếu năm 1619, chỉ có 20 người da đen đầu tiên được mang đến Virginia thì đến năm 1782, riêng ở thuộc địa này, đã có 260.000 người da đen, bị cưỡng bức lao động đến mức kiệt sức tại các đồn điền trồng thuốc lá, lúa, bông
Các thuộc địa miền Bắc và miền Trung thường kinh doanh theo phương thức tư bản chủ nghĩa, nhưng tại miền Trung, ruộng đất tập trung thành các trang viên lớn của đại địa chủ và quan lại triều đình Anh Ở vùng New York, khoảng 2.500.000 ha nằm trong tay một số đại địa chủ Riêng địa chủ- thực dân Anh Andrew Johnson đã chiếm 50.000 ha Nhưng ruộng đất này đều do nhà vua và chính phủ Anh ban tặng cho địa
Trang 8chủ, quý tộc, tư sản Anh có công đánh chiếm vùng đất này Vì vậy, hầu hết cư dân trong vùng đều là tá điền bị bóc lột tô và các kiểu lao dịch, thuế có tính chất nửa phong kiến Trong khi đó, ở miền Bắc, chế độ tư hữu nhỏ kiểu tư bản chủ nghĩa lại chiếm địa vị thống trị Những người nông dân tư hữu nhỏ (trại chủ), thường tự lao động, khai khẩn một lô đất nhỏ, tạo thành trang trại, trồng các loại cây lương thực và chăn nuôi gia súc Bên cạnh nông nghiệp, họ còn làm thêm cả nghề thủ công Các trại chủ phải chịu thuế má nặng nề của chính quyền thực dân, bị thương nhân bắt bí khi mua nông phẩm, bị chế độ sở hữu ruộng đất lớn của đại địa chủ chi phối nên thường xuyên đứng trước nguy cơ bị phá sản Khi bị bần cùng hóa, họ chạy về miền Tây rộng lớn, tiếp tục chiếm đất lập trang trại mới
Một số thợ thủ công, công nhân cũng chạy về miền Tây để chiếm đất Khuynh hướng phát triển tư bản chủ nghĩa tư bản trong nông nghiệp Mỹ đã được V.I Lenin gọi là “con đường kiểu Mỹ” Nhờ biện pháp chiếm đất tự do, nông dân Bắc Mỹ chống lại sự du nhập chế độ bóc lột phong kiến vào đây
Ở các bang thuộc địa miền Nam, chế độ sở hữu ruộng đất lớn chiếm vị trí chủ đạo, dưới hình thức các đồn điền lớn, sử dụng chủ yếu lao động nô lệ da đen Vào khoảng giữa thế kỷ XVIII, tại Bắc Mỹ có khoảng 1 triệu nô lệ Họ bị cưỡng bức làm việc, chịu nhiều hình phạt dã man Kinh tế đồn điền ở đây, tuy dựa vào sức lao động của người nô lệ, nhưng lại gắn liền với phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa Chế độ
nô lệ đồn điền ở Bắc Mỹ khác hẳn về tính chất so với chế độ chiếm hữu nô lệ thời cổ đại Bởi vì ở các đồn điền Anh ở Bắc Mỹ có hai loại nô lệ, thứ nhất là nô lệ khế ước
da trắng (gồm những người không trả được nợ, những người không có tiền sang châu
Mỹ, trẻ con, những tội phạm ở Anh), sau một thời gian làm công không lương cho chủ (từ 5-7 năm) được trả tự do Thứ hai, chủ yếu là nô lệ da đen từ châu Phi đem sang bán phải lao động nặng nhọc, bị đối xử tàn tệ (bán, đánh đập, giết chết…) là sở hữu của chủ đồn điền Đến giữa thế kỷ XVIII, chế độ nô lệ da đen dần dần thay thế cho chế độ nô lệ khế ước của người da trắng Karl Marx nhận xét rằng, trong điều kiện lịch sử cụ thể của Bắc Mỹ, nhà tư sản và địa chủ thống nhất lại thành một nhân vật duy nhất là chủ nô
Sự phát triển của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa
Đến giữa thế kỷ XVIII, kinh tế công- nông- thương nghiệp tư bản chủ nghĩa của
13 thuộc địa đã có sự khởi sắc
Nhờ có những điều kiện thuận lợi, như đất đai phì nhiêu, khí hậu đa dạng (ôn đới, cận nhiệt đới), tài nguyên thiên nhiên phong phú (quặng, rừng, thuốc lá, bông, lúa), cộng thêm sự du nhập sớm của quan hệ sản xuất mới- tư bản chủ nghĩa- mà nền kinh
tế của các thuộc địa Anh ở Bắc Mỹ phát triển tương đối nhanh chóng Các bang không những chỉ tự túc được nhu cầu lương thực, thực phẩm của mình, mà còn có thừa để
Trang 9xuất khẩu sang châu Âu, với số lượng ngày càng lớn, các mặt hàng như: ngũ cốc, súc vật, thuốc lá, rượu ruhm…
Tại 4 thuộc địa miền Bắc đã xuất hiện nhiều công trường thủ công tư bản chủ nghĩa, dưới hai hình thức tập trung và phân tán, nằm rải rác dọc các miền ven biển, chuyên sản xuất rượu, làm bột, thủy tinh, luyện sắt… Phát triển mạnh nhất là ngành đóng tàu, nhờ tận dụng nguồn lợi thiên nhiên về gỗ khá phong phú (có tới 1/3 trọng tải của hạm đội Anh được đóng tại Bắc Mỹ) Cùng với sự phát triển của công nghiệp, nền thương nghiệp Bắc Mỹ cũng ngày một phát triển Nhiều hàng hóa công nghiệp, nông phẩm được xuất khẩu sang châu Âu và Đông Ấn Độ (các loại nông cụ, vũ khí, sắt, đồng, da thú quý, bát đĩa tráng men…) Giữa các thuộc địa cũng có sự trao đổi hàng hóa ngày càng nhộn nhịp, ví dụ hàng công nghiệp ở các bang miền Bắc được đem sang các bang miền Nam để đổi lấy các cây công nghiệp Boston trở thành trung tâm công, thương nghiệp của các thuộc địa Vì quyền lợi của thương nhân Anh, chính quyền thực dân còn khuyến khích việc buôn bán nô lệ da đen tại các hải cảng của Bắc Mỹ
Nhìn chung, nền kinh tế công thương nghiệp của 13 bang thuộc địa phát triển nhanh, nhưng vẫn có tới 9/10 dân số sống bằng nghề nông Ở 4 thuộc địa miền Trung, ruộng đất vẫn nằm trong tay các trại chủ và nông dân tự do Đất đai màu mỡ rất thuận lợi cho họ trồng các loại cây lương thực, cây công nghiệp để cung cấp cho các thành phố lớn và xuất khẩu Tại 5 thuộc địa ở miền Nam, các chủ nô sử dụng sức lao động của nô lệ da đen để sản xuất nông phẩm, trồng cây công nghiệp (bông, thuốc lá, đay)
Ở các thuộc địa phía Bắc, chủ nghĩa tư bản phát triển khá mạnh
Sự phát triển của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa của 13 bang thuộc địa đã đưa đến những hệ quả lớn về kinh tế, chính trị, xã hội Do yêu cầu của nội thương, sự liên lạc giữa các bang thuộc địa từ Bắc chí Nam ngày một được tăng cường và mở rộng Nhiều đường lớn nối liền các bang được xây dựng, cầu sắt thay cho phà, hệ thống bưu điện được thiết lập rộng khắp Thị trường thống nhất trong nước đang dần được hình thành
Giai cấp tư sản non trẻ của 13 thuộc địa đang tăng cường thế lực kinh tế, cạnh tranh với tư sản chính quốc Chính sự phát triển của kinh tế và chính sách thống trị của chính quyền Anh đã làm nảy sinh và thúc đẩy sự phát triển của tinh thần dân tộc đưa đến sự thai nghén của một dân tộc tư sản mới ở châu lục mới
Đồng thời cuộc đấu tranh của nhân dân lao động nổ ra mạnh mẽ, bao gồm cuộc đấu tranh của tá điền chống địa chủ; của những tiểu nông chống thương nhân, cho vay lãi; của công nhân chống chủ công trường thủ công; chủ yếu của nô lệ chống chủ đồn điền Nhiều cuộc khởi nghĩa vũ trang đã được tiến hành, như cuộc khởi nghĩa của nô
lệ ở New York năm 1712
Trang 103 Tổ chức chính trị và chính sách thống trị của Anh
Về tổ chức chính trị, chính quyền Anh đã chia các thuộc địa thành hai loại: Loại thứ nhất gồm 5 bang, được hưởng quyền tự trị rộng rãi và loại thứ hai gồm 8 bang, do chính phủ Anh cử người cai trị trực tiếp
Loại thứ nhất gồm 5 bang: Marylan, Delaware, Pennsylvania, Connecticut và Rhode Island- Đây là những thuộc địa do nhà vua nhượng cho một hay nhiều địa chủ, hay được hưởng đặc quyền theo một hiến chương Loại thứ hai gồm 8 bang còn lại-New Hampshire, Massachussets, Virginia, Carolina Bắc, Carolina Nam, lại-New Jersey, Georgia và New York
Tất cả 13 thuộc địa đều phải tuân theo luật pháp của nước Anh Quyền hành tối cao ở trong tay Toàn quyền đại diện chính phủ Anh Ở mỗi bang, Thống đốc nắm quyền chỉ huy quân đội, hải quân, chọn nhân viên hành chính… Chỉ có đại địa chủ và đại thương nhân mới có quyền bầu cử, số cử tri chỉ chiếm từ 2 đến 9% dân số Người Indian, nô lệ da đen và nô lệ da trắng đều không có quyền công dân; quyền chính trị của thợ thủ công, công nhân, trại chủ cũng rất hạn chế
Ngay từ cuối thế kỷ XVII, giai cấp thống trị chính quốc đã coi 13 thuộc địa Bắc
Mỹ là một nguồn cung cấp dồi dào tài nguyên nhiên liệu, thị trường tiêu thụ cho nền công nghiệp Anh đang phát triển Bởi vậy, chúng tìm mọi cách để lệ thuộc nền kinh tế các thuộc địa vào nền kinh tế chính quốc Nhưng đến giữa thế kỷ XVIII, sự phát triển kinh tế của thuộc địa lại trở thành mối đe dọa đối với Anh Vì vậy, để bảo vệ quyền lợi của chính quốc, Anh đã ra lệnh cấm Bắc Mỹ sản xuất nhiều loại hàng hóa công nghiệp, cấm mở doanh nghiệp, thậm chí còn cấm cả việc đem máy móc và thợ lành nghề từ Anh sang và không được tự do buôn bán trực tiếp với các nước khác Anh nắm giữ độc quyền xuất- nhập khẩu ở 13 thuộc địa, dân thuộc địa phải mua hàng công nghiệp Anh, những mặt hàng chủ yếu của thuộc địa thì chỉ được phép bán sang chính quốc Anh còn giữ cả độc quyền buôn bán nô lệ da đen đưa sang Bắc Mỹ
Những chính sách hạn chế nói trên đã làm tổn hại nghiêm trọng đến quyền lợi của
tư sản, chủ nô và các tầng lớp nhân dân thuộc địa Tuy nhiên mọi lệnh cấm đoán đó hầu như không được thực hiện triệt để vì gặp phải sự chống đối của các cư dân thuộc địa, chúng chỉ làm cho mâu thuẫn giữa chính phủ Anh và 13 thuộc địa thêm sâu sắc
Từ đầu những năm 70-80 của thế kỷ XVIII, trong bối cảnh nước Anh đang bắt đầu tiến hành cuộc cách mạng công nghiệp, mọi sự cạnh tranh của nền công nghiệp trẻ tuổi Bắc Mỹ đều khiến cho giai cấp tư sản Anh lo lắng, tìm cách đối phó Sau cuộc chiến tranh tranh giành thuộc địa kéo dài bảy năm giữa Anh và Pháp kết thúc (1756-1763), mà thắng lợi thuộc về Anh, Chính phủ Anh ban hành hàng loạy chính sách mới
để ngăn chặn sự cạnh tranh của các thuộc địa Bắc Mỹ với chính quốc: kiểm soát chặt chẽ hoạt động của thương nhân; cấm dân thuộc địa không được tự do di dân và chiếm