1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tài liệu biện pháp giáo dục hành vi ứng xử xã hội cho trẻ mẫu giáo 5 6 tuổi qua trò chơi đóng vai theo chủ đề

131 53 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 131
Dung lượng 3,12 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngành giáo dục nước ta đã xác định được mục tiêu và tầm quan trọng của việc giáo dục hành vi ứng xữ xã hội- một bộ phận của giáo dục hành vi đạo đức cho con người trong quyết định số 55/

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phố Hồ Chí Minh - 2018

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan công trình nghiên cứu này là của riêng tôi Các số liệu, kết quả trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận văn

Trần Thị Thanh Thanh

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin chân thành cảm ơn Thầy Cô Khoa Giáo dục Mầm non Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, Phòng Sau đại học đã giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập Đặc biệt xin chân thành cảm ơn đến PGS.TS Lê Thị Minh Hà – giáo viên hướng dẫn khoa học, đã luôn tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi rất nhiều trong suốt quá trỉnh tôi thực hiện đề tài nghiên cứu này

Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các Thầy Cô tại thư viện trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, thư viện Trường Cao đẳng Trung ương Thành phố

Hồ Chí Minh, Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Nhà Bè, Ban Giám hiệu và các Giáo viên lớp Lá Trường Họa Mi huyện Nhà Bè Thành phố Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện cho tôi thực hiện nghiên cứu thực trạng và áp dụng chương trình thực nghiệm

Và cuối cùng tôi xin gửi lời cám ơn đến gia đình, bạn bè và các đồng nghiệp gần xa đã động viên tinh thần và giúp đỡ để tôi hoàn thành luận văn này

Xin chân thành cảm ơn

TP Hồ Chí Minh, tháng 10 năm 2018

Trần Thị Thanh Thanh

Trang 5

MỤC LỤC

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Lời cảm ơn

Mục lục

Danh mục các ký hiệu, các chữ cái viết tắt

Danh mục các bảng

Danh mục các biểu đồ

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 LÝ LUẬN VỀ BIỆN PHÁP GIÁO DỤC HÀNH VI ỨNG XỬ XÃ HỘI CHO TRẺ 5-6 TUỔI QUA TRÒ CHƠI ĐÓNG VAI THEO CHỦ ĐỀ 7

1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 7

1.1.1 Những nghiên cứu ở nước ngoài 7

1.1.2 Những nghiên cứu ở Việt Nam 9

1.2 Lý luận về hành vi ứng xử xã hội và đặc điểm hành vi ứng xử xã hội của trẻ 5-6 tuổi 13

1.2.1 Khái niệm hành vi và hành vi ứng xử xã hội 13

1.2.2 Khái niệm hành vi ứng xử xã hội của trẻ MG 5-6 tuổi 16

1.2.3 Biểu hiện hành vi ứng xử xã hội của trẻ MG 5-6 tuổi 16

1.2.4 Đặc điểm hành vi ứng xử xã hội của trẻ MG 5-6 tuổi 17

1.2.5 Nội dung giáo dục hành vi ứng xử xã hội cho trẻ MG 5-6 tuổi 19

1.2.6 Nhiệm vụ giáo dục hành vi ứng xử xã hội cho trẻ 5-6 tuổi 21

1.3 Lý luận về trò chơi đóng vai theo chủ đề 22

1.3.1 Khái niệm trò chơi đóng vai theo chủ đề 22

1.3.2 Bản chất của trò chơi đóng vai theo chủ đề 23

1.3.3 Đặc điểm trò chơi đóng vai theo chủ đề 25 1.3.4 Vai trò của trò chơi đóng vai theo chủ đề đối với sự phát triển

Trang 6

hành vi ứng xử xã hội cho trẻ MG 5-6 tuổi 27

1.3.5 Ý nghĩa của trò chơi đóng vai theo chủ đề đối với việc giáo dục hành vi ứng xử xã hội cho trẻ MG 5-6 tuổi 28

1.4 Biện pháp giáo dục hành vi ứng xử xã hội cho trẻ MG 5-6 tuổi qua trò chơi đóng vai theo chủ đề 29

1.4.1 Khái niệm biện pháp, biện pháp giáo dục 29

1.4.2 Biện pháp giáo dục hành vi ứng xử xã hội qua trò chơi đóng vai theo chu đề cho trẻ MG 5-6 tuổi 30

Tiểu kết chương 1 39

Chương 2 THỰC TRẠNG GIÁO DỤC HÀNH VI ỨNG XỬ XÃ HỘI CHO TRẺ MG 5-6 TUỔI QUA TRÒ CHƠI ĐÓNG VAI THEO CHỦ ĐỀ 40

2.1 Vài nét về địa bàn và khách thể nghiên cứu 40

2.2 Tổ chức nghiên cứu thực trạng giáo dục hành vi ứng xử xã hội cho trẻ MG 5-6 tuổi qua trò chơi đóng vai theo chủ đề 40

2.2.1 Khái quát tổ chức nghiên cứu thực trạng 40

2.2.2 Kết quả nghiên cứu thực trạng giáo dục hành vi ứng xử xã hội cho trẻ MG 5-6 tuổi 43

Tiểu kết chương 2 60

Chương 3 BIỆN PHÁP GIÁO DỤC HÀNH VI ỨNG XỬ XÃ HỘI CHO TRẺ 5-6 TUỔI QUA TRÒ CHƠI ĐÓNG VAI THEO CHỦ ĐỀ 61

3.1 Cơ sở đề xuất biện pháp 61

3.1.1 Cơ sở thực tiễn 61

3.1.2 Cơ sở lý luận 61

3.2 Một số biện pháp giáo dục hành vi ứng xử xã hội cho trẻ MG 5-6 tuổi qua trò chơi đóng vai theo chủ đề 61 3.2.1 Biện pháp 1: Sử dụng đầy đủ một quy trình tổ chức trò chơi

Trang 7

đóng vai theo chủ đề để giáo dục hành vi ứng xử xã hội cho trẻ 61

3.2.2 Biện pháp 2 Đưa ra tình huống chơi 64

3.2.3 Biện pháp 3: Đánh giá thực hiện hành vi ứng xử của trẻ qua lời khen, động viên, khích lệ của cô 67

3.3 Thực nghiệm các biện pháp GD HVUXXH cho trẻ MG 5-6 tuổi qua TC ĐVTCĐ đã được đề xuất 69

3.3.1 Mục đích thực nghiệm 69

3.3.2 Nội dung thực nghiệm 69

3.3.3 Tiến hành thực nghiệm 70

3.1 Kết quả thực nghiệm 71

Tiểu kết chương 3 93

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 94

TÀI LIỆU THAM KHẢO 96 PHỤ LỤC

Trang 8

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 Tiêu chí đánh giá mức độ thể hiện HVUXXH của trẻ 5-6 tuổi 34

Bảng 1 2 Thang điểm đánh giá mức độ biểu hiện HVUXXH 38

Bảng 2.1 Mẫu khách thể khảo sát 41

Bảng 2.2 Trình độ chuyên môn của GVMN ở các trường khảo sát 41

Bảng 2 3 Mức độ cần thiết của GD HVUXXH cho trẻ 5-6 tuổi qua TC ĐVTCĐ 44

Bảng 2.4 Vai trò của TC ĐVTCĐ đối với việc GD HVUXXH cho trẻ MG 5-6 tuổi qua TC ĐVTCĐ 44

Bảng 2 5 Hiệu quả của TC ĐVTCĐ đối với việc GD HVUXXH cho trẻ MG 5-6 tuổi 46

Bảng 2.6 Nội dung GD HVUXXH cho trẻ MG 5-6 tuổi trong TC ĐVTCĐ 48

Bảng 2.7 Biện pháp GVMN GD HVUXXH cho trẻ MG 5-6 tuổi qua TC ĐVTCĐ 52

Bảng 2.8 Khó khăn khi GD HVUXXH cho trẻ MG 5-6 tuổi qua TC ĐVTCĐ 55

Bảng 2.9 Đề xuất BP GD HVUXXH qua TC ĐVTCĐ cho trẻ MG 5-6 tuổi của GVMN 58

Bảng 3.1 So sánh HVUXXH của NĐC và NTN trước TN 71

Bảng 3.2 Biểu hiện “Trẻ có mối quan hệ tích cực với bạn bè” giữa NĐC và NTN trước TN 72

Bảng 3.3 Biểu hiện “Trẻ thể hiện sự hợp tác với bạn bè”giữa NĐC và NTN trước TN 73

Bảng 3.4 Biểu hiên “Trẻ có các hành vi thích hợp trong UXXH” giữa NĐC và NTN trước TN 74

Bảng 3.5 So sánh HVUXXH của NĐC trước và sau TN 76

Bảng 3.6 Biểu hiện “Trẻ có mối quan hệ tích cực với bạn bè” NĐC trước và sau TN 76

Bảng 3.7 Biểu hiện “Trẻ thể hiện sự hợp tác với bạn bè” NĐC trước và sau TN 78

Trang 10

Bảng 3.8 Biểu hiện “Trẻ có các HV thích hợp trong UXXH” NĐC trước và

sau TN 79Bảng 3.9 Nhóm đối chứng và nhóm thực nghiệm sau TN 81

Bảng 3.10 Biểu hiện “Trẻ có mối quan hệ tích cực với bạn bè” giữa NĐC và

Trang 11

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 2.1 Căn cứ GVMN sử dụng khi tổ chức TC ĐVTCĐ GD HVUXXH

cho trẻ 5-6 tuổi 51 Biểu đồ 3.1 Điểm trung bình biểu hiện “Trẻ thể hiện sự hợp tác với bạn bè”

NTN trước và sau TN 89 Biểu đồ 3.2 Điểm trung bình biểu hiện “Trẻ có HV thích hợp trong UXXH”

NTN trước và sau TN 91

Trang 12

giáo dục thích hợp từ phía người lớn như A.X.Macarenco từng nói “Tôi không

hề biết một trường hợp tính cách tốt đẹp xuất hiện mà lại không có hoàn cảnh giáo dục lành mạnh hoặc ngược lại” (A.I.Xôrôkina, 1977)

Trong những điều kiện sống phù hợp cũng như được thụ hưởng sự giáo dục đúng đắn thì trẻ em sẽ có những biểu hiện rõ rệt về mặt nhân cách và đó là một chỉ số quan trọng của qúa trình hình thành hành vi đạo đức cho trẻ Ngành giáo dục nước ta đã xác định được mục tiêu và tầm quan trọng của việc giáo dục hành vi ứng xữ xã hội- một bộ phận của giáo dục hành vi đạo đức cho con người trong quyết định số 55/QĐ ngày 03 tháng 02 năm 1990 của Bộ trưởng

Bộ Giáo dục là: “Hình thành ở trẻ những cơ sở đầu tiên của nhân cách con người mới xã hội chủ nghĩa Việt Nam giàu lòng thương yêu, biết quan tâm, nhường nhịn, giúp đỡ những người gần gũi: bố mẹ, bạn bè, giáo viên, thật thà,

lễ phép, mạnh dạn, hồn nhiên”

Trong sự nghiệp đổi mới giáo dục hiên nay thì một trong những nhiệm

vụ của ngành giáo dục mầm non nước ta là hình thành cho trẻ hành vi ứng xử, giao tiếp theo quy tắc, chuẩn mực phù hợp với lứa tuổi thì việc giáo dục hành

vi ứng xử xã hội cho trẻ càng trở nên quan trọng Hành vi ứng xử xã hội không phải bẩm sinh đã có mà phải trải qua một quá trình giáo dục và rèn luyện lâu dài Qúa trình hình thành hành vi đạo đức cho mỗi đứa trẻ luôn phải gắn liền

Trang 13

với việc giáo dục hành vi ứng xử xã hội phù hợp, đặc biệt đối với trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi chính là giáo dục cho trẻ những hành vi ứng xử, cử chỉ, lời nói đúng đắn ban đầu từ trong các mối quan hệ xã hội hằng ngày Qúa trình giáo dục hành vi ứng xử xã hội được kéo dài xuyên suốt bậc học mầm non đến khi đứa trẻ trưởng thành và chính thức trở thành một thành viên của xã hội chứ không đơn thuần chỉ nằm trong một khoảng thời gian ngắn ngủi Chính vì thế, giáo dục hành vi ứng xử xã hội cho trẻ mẫu giáo lớn là một trong những nhiệm vụ quan trọng không thể tách rời trong quá trình hình thành hành vi đạo đức cho trẻ mầm non

Có rất nhiều phương tiện, cách thức khác nhau để giáo dục hành vi ứng

xử xã hội cho trẻ tại trường mầm non Tuy nhiên, việc sử dụng hoạt động chủ đạo của lứa tuổi là hoạt động vui chơi nói chung và trò chơi đóng vai theo chủ

đề nới riêng chính là phương tiện phù hợp và đạt được hiệu quả so với các hoạt động còn lại Các công trình nghiên cứu của các nhà Tâm lý học và Giáo dục học Xô Viết như A.P.Uxova, Đ.B.Enconhin, Đ.V.Mendgierinxkaia, R.M.Rimburg, R.I.Giucopxkaia … đã chỉ rõ ra rằng thông qua trò chơi đóng vai thì trẻ em được tái hiện lại mối quan hệ xã hội của chính người lớn Khi trẻ

mô phỏng lại các hành động của nhân vật mình đóng vai thì đồng thời trẻ cũng phải tuân theo những chuẩn mực đời sống của nhân vật, những chuẩn mực đó dần chuyển vào đời sống tâm lý bên trong của trẻ và hình thành nên những hành vi ứng xử xã hội , những phẩm chất của cá nhân từng trẻ

Có thể thấy rằng, hiện nay việc giáo dục hành vi ứng xử xã hội nói chung và giáo dục hành vi ứng xử xã hội qua trò chơi đóng vai theo chủ đề nói riêng vẫn còn nhiều hạn chế và chưa được chú ý một cách đúng mức Đặc biệt hầu hết trường mầm non hiện nay nhìn chung vẫn chưa sử dụng có hiệu quả vai trò của trò chơi đóng vai theo chủ đề trong giáo dục hành vi ứng xử xã hội cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi Lý do cho hạn chế nêu trên là giáo viên chưa đánh giá đúng mức tầm quan trọng của việc giáo dục hành vi ứng xử xã hội cũng

Trang 14

như xây dựng được các biện pháp để giáo dục hành vi ứng xử cho trẻ phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí của mỗi lứa tuổi

Vì vậy với vai trò là một người giáo viên, tôi muốn sử dụng trò chơi đóng vai theo chủ đề như một phương tiện để giúp trẻ lứa tuổi mẫu giáo 5-6 tuổi hình thành và phát triển nhân cách nói chung và hành vi ứng xử xã hội nói riêng với tư cách chính trẻ là một thành viên của xã hội Với những lí do trên,

tôi chọn đề tài nghiên cứu: “Biện pháp giáo dục hành vi ứng xử xã hội cho

trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi qua trò chơi đóng vai theo chủ đề”

Qúa trình GD HVUXXH cho trẻ MG 5-6 tuổi qua TC ĐVTCĐ

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Biện pháp GD HVUXXH cho trẻ MG 5-6 tuổi qua TC ĐVTCĐ

4 Giả thuyết nghiên cứu

Đề tài đã làm rõ thực trạng sử dụng BP GD HVUXXH cho trẻ MG 5-6 tuổi qua TC ĐVTCĐ của GVMN và lý giải được nguyên nhân gây ra hạn chế

để làm cơ sở đề xuất BP GD HVUXXH cho trẻ 5-6 tuổi

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1 Nhiệm vụ nghiên cứu lý luận

Tổng hợp và hệ thống hóa các vấn đề lý luận về HVUXXH, TC ĐVTCĐ

và BP GD HVUXXH qua TC ĐVTCĐ cho trẻ MG 5-6 tuổi

Trang 15

5.2 Nhiệm vụ nghiên cứu thực tiễn

Khảo sát thực trạng BP GD HVUXXH cho trẻ MG 5-6 tuổi qua TC ĐVTCĐ

Đề xuất và thực nghiệm BP GD HVUXXH qua TC ĐVTCĐ cho trẻ MG 5-6 tuổi

6 Giới hạn nghiên cứu

6.1 Nội dung nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu BP GD HVUXXH cho trẻ MG 5-6 tuổi qua TC ĐVTCĐ theo chương trình giáo dục Mầm non 2016, Bộ chuẩn phát triển trẻ 5 tuổi

6.2 Địa bàn nghiên cứu

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận

Phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa và phân loại các văn bản, các tài liệu

khoa học có liên quan nhằm làm cơ sở lý luận cho đề tài

Trang 16

7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

7.2.3 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi nhằm thu thập các thông tin liên quan đến HVUXXH, GD HVUXXH cho trẻ MG 5-6 tuổi, nội dung, hình thức, khó khăn trong GD HVUXXH và những BP GV lớp Lá sử dụng để GD HVUXXH qua TC ĐVTCĐ cho trẻ MG 5-6 tuổi

7.2.4 Phương pháp nghiên cứu hồ sơ

Thu thập và phân tích kế hoạch giáo dục, kế hoạch tổ chức hoạch động vui chơi và các tài liệu có liên quan đến BP GD HVUXXH cho trẻ qua TC ĐVTCĐ của GVMN

7.2.5 Phương pháp toán thống kê

Phương pháp xử lý số liệu (định tính)

- Xác định chủ đề phân tích

- Đọc dữ liệu và lập cơ sở mã hóa

- Thiết lập tiêu chuẩn để chọn lọc dữ liệu

- Sắp xếp dữ liệu theo chủ đề

- Đếm dữ liệu ở mỗi chủ đề, chọn lọc dữ liệu

- Liên hệ kết quả với lý thuyết, phân tích và lý giải kết quả Phương pháp xử lý số liệu (định lượng)

Trang 17

- Sử dụng phần mềm Excel để xử lý số liệu kết quả khảo sát thực trạng

- Sử dụng phần mềm SPSS 20.0 để xử lý số liệu thu thập và hệ số T-test

để kiểm nghiệm hiệu quả khác biệt giữa NĐC và NTN

7.2.6 Phương pháp thực nghiệm sư phạm

Tiến hành thực nghiệm BP GD HVUXXH qua TC ĐVTCĐ cho trẻ MG 5-6 tuổi nhằm đánh giá tính hiệu quả của BP đã đề xuất và kiểm chứng tính đúng đắn của giả thuyết nghiên cứu của đề tài đã đưa ra

Trang 18

Chương 1 LÝ LUẬN VỀ BIỆN PHÁP GIÁO DỤC HÀNH VI ỨNG XỬ

XÃ HỘI CHO TRẺ 5-6 TUỔI QUA TRÒ CHƠI ĐÓNG VAI THEO

CHỦ ĐỀ 1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

1.1.1 Những nghiên cứu ở nước ngoài

Trong lý thuyết Tương tác biểu trưng được phát triển vào những năm

1910-1920 ở Châu Âu và Mỹ do Mead, James, Deway đề xướng đã đề cập “Xã hội được tạo ra từ tương tác của vô số cá nhân và bất kì hành vi nào của con người cũng có

vô số ý nghĩa khác nhau.” (Nguyễn Thị Hồng Nga, 2011, p 121) Có thể thấy từ

trong thuyết Tương tác biểu trưng HV con người và môi trường XH luôn có mối quan hệ mật thiết với nhau, không thể tách rời

Nhà sư phạm dân chủ nổi tiếng người Tiệp Khắc I.A Cômenxki (1592- 1670) cho rằng: TC là một hình thức hoạt động cần thiết phù hợp với bản chất và khuynh hướng của một đứa trẻ Trò chơi là hoạt động trí tuệ mà trong đó mọi khả năng của mọi đứa trẻ được phát triển, các biểu tượng về thế giới xung quanh cũng được mở rộng và phong phú thêm Trong quá trình tham gia vào TC cùng nhau thì đứa trẻ được tiếp xúc gần gũi với bạn bè cùng lứa tuổi Với quan điểm TC là niềm vui sướng của tuổi thơ, là phương tiện phát triển toàn diện I.A Cômenxki đã khuyên người lớn cần chú ý đến TC của trẻ để từ đó xây dựng được các hướng dẫn phù hợp và đúng đắn

Quan điểm TC là phương tiện phát triển toàn diện cho trẻ không chỉ được I.A Cômenxki nghiên cứu mà còn được các tác giả nổi tiếng ở thế kỷ XVIII – XIX như Đ.Lokk, J.J.Rutxo, Saclo.Phure… đề cập đến trong các tác phẩm của mình Từ các nghiên cứu trên có thể nhận thấy rằng đây là những quan điểm đầu tiên rõ ràng nhất

về việc sử dụng TC như một phương tiện phát triển toàn diện cho trẻ em lứa tuổi

MG

Trong cuốn “Đồ chơi- trò chơi và kỷ luật” Bearrit Tudor Gard đã chứng minh

được TC có khả năng GD cho trẻ em tính sạch sẽ, ngăn nắp, tình bạn bè, tính công bằng và tính kỷ luật Hay một số nhà xã hội học của Mỹ cũng có các nghiên cứu TC trẻ sẽ tích lũy được những kinh nghiệm về đạo đức, về các mối quan hệ của người

Trang 19

lớn nhằm hình thành các HV của cá nhân trong UXXH để dễ dàng bước vào cuộc sống con người

Quan điểm của K.Đ Usinxki về TC có ý nghĩa đặc biệt, ông đã chỉ rõ TC của trẻ em phụ thuộc vào môi trường xã hội xung quanh đứa trẻ Ông cũng cho rằng:

“Các TC mang tính chất xã hội và chúng có ý nghĩa to lớn vì trong các TC đó trẻ sẽ hình thành được những mối quan hệ xã hội đầu tiên” (P.G.Xamarukova, 1986)

Những tư tưởng tiến bộ của các nhà giáo dục học kinh điển ở Nga về việc GD các HV cho trẻ thông qua TC được kế thừa và phát triển sâu sắc hơn trong những công trình nghiên cứu của các nhà Tâm lý – Giáo dục học như N.K.Krupxkaia: thông qua TC thì trẻ có thể dễ dàng hiểu được các quy định và hiểu được sự cần thiết khi thực hiện các quy định ấy Tác giả rất quan tâm đến vấn đề sử dụng TC để GD trẻ

MG phát triển toàn diện và chuẩn bị cho cuộc sống trong tương lai Sau N.K.Krupxkaia thì A.X.Makarenco đã có những quan điểm tiến bộ hơn như trong

cuộc sống của đứa trẻ thì TC có ý nghĩa như ý nghĩa của việc làm ở người lớn Trong

TC sẽ giúp GD ở trẻ những phẩm chất của người lao động trong tương lai Vì vậy khi tiến hành tổ chức TC cho trẻ người lớn cần phải có mục đích cụ thể, phải luôn quan sát, theo dõi quá trình trẻ chơi để kịp thời gợi ý, giúp đỡ trẻ khắc phục khó khăn và điều chỉnh HV phù hợp với yêu cầu chơi chung

Trong một loạt công trình nghiên cứu của các nhà Tâm lý học- Giáo dục học Nga như Đ.B.Enkonhin, A.N.Leonchev, A.Đ.Liublinxkaia, A.V.Petrovxki, A.I.Xorokina, A.V.Zaporozet… đều đã khẳng định TC, đặc biệt là TC ĐVTCĐ có vai trò quan trọng to lớn trong việc hình thành những phẩm chất, những HVUXXH cho trẻ MG Họ nhận định TC của trẻ MG phản ánh bản chất của mối quan hệ XH, của việc thực hiện các quy tắc XH từ vốn kinh nghiệm của trẻ Thông qua chơi trẻ thiết lập được mối quan hệ bạn bè và cả mối quan hệ giữa người lớn với nhau bằng việc mô phỏng, bắt chước hành động của họ Vì thế họ cho TC là một loại trường học, trong loại trường học thì trẻ em tích cực, sáng tạo, nắm vững các quy tắc, chuẩn mực HV của XH con người TC giúp hình thành ở trẻ các HVUXXH, hình thành thái

độ của trẻ đối với cuộc sống xung quanh

Trong cuốn “Trò chơi và sự phát triển đạo đức của trẻ Mẫu giáo” của

Trang 20

C.N.Karpova và L.G.Luxioc đã chỉ ra được sự tương quan giữa mối quan hệ thực và mối quan hệ vai chơi của trẻ trong TC ĐVTCĐ tạo điều kiện để trẻ nắm bắt được các phương diện khác nhau trong các mối quan hệ XH

1.1.2 Những nghiên cứu ở Việt Nam

Nhiều nhà Tâm lý học trên thế giới và cả Việt Nam nhận định Tâm lý học là khoa học nghiên cứu HV người vì vậy phải lấy HV người làm đối tượng nghiên cứu

Tác giả Nguyễn Ánh Tuyết trong quyển Giáo dục hành vi văn hóa cho trẻ dưới 6 tuổi năm 2006 cũng đồng ý với quan điểm của các nhà tâm lý học trên thế giới khi nhận định rằng “Đây là một quan điểm đúng đắn, vì vậy giáo dục con người thì trước hết là cần phải giáo dục về hành vi” (Nguyễn Ánh Tuyết, 2006) Theo tác giả, đối

với trẻ nhỏ cũng thế, việc GD trẻ thì cần phải bắt đầu từ việc GD các HVUXXH cho trẻ với mọi người xung quanh Trong quá trình hình thành nhân cách của một đứa trẻ thì ở lứa tuổi từ 3 đến 6 HV sẽ có sự thay đổi đáng kể, có sự phát triển rõ rệt qua từng giai đoạn MG bé, MG nhỡ, và cuối cùng là ở MG lớn Ban đầu chỉ là HV mang tính bộc phát sau đó dần được thay đổi thành HV có ý thức HV có ý thức ở đây chính là những HV mang tính nhân cách, sau này sẽ dần phát triển thành HV văn hóa

ở con người nói chung và HVUXXH nói riêng được diễn ra xuyên suốt cuộc đời mỗi con người

Ở Việt Nam, vấn đề GD đạo đức nói chung và GD HV cho trẻ MG luôn được chú ý và coi trọng Ông cha ta đã có câu “Tiên học lễ, hậu học văn”, “Học ăn học nói, học gói học mở”… vì vậy việc GD cho trẻ dưới 6 tuổi lại càng được quan tâm chú trọng hơn Các nhà Tâm lý, Giáo dục học Việt Nam cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu về TC trẻ em có tầm quan trọng đối với việc hình thành và phát triển nhân cách, phát triển HV đạo đức cho trẻ lứa tuổi mầm non

Tác giả Ngô Công Hoàn trong quyển “Tâm lý học trẻ em” đã nêu đặc điểm

nhân cách trẻ 5-6 tuổi và trong đó vấn đề về GD HVUX cho trẻ MG 5-6 tuổi cũng được đề cập Tác giả đã khẳng định: Vui chơi là hoạt động chủ đạo của trẻ trong độ tuổi MG, trong các loại TC, TC phản ánh sinh hoạt XH có ý nghĩa lớn lao trong việc giúp trẻ chuẩn bị vào lớp một và hòa nhập vào cuộc sống XH TC phản ánh sinh hoạt

XH hay còn gọi là TC ĐVTCĐ giúp trẻ nhận thức được các mối quan hệ XH Sự

Trang 21

thay đổi vai chơi linh hoạt, mềm dẻo trong TC chính là cơ sở nển tảng phát triển các đặc điểm UX phù hợp với các tình huống, hoàn cảnh của trẻ

Tác giả Nguyễn Ánh Tuyết trong quyển “Giáo dục hành vi văn hóa cho trẻ dưới 6 tuổi” đã nêu lên các đặc điểm phát triển về HV văn hóa của trẻ mẫu giáo 5-6

tuổi và các phương pháp để GD HV văn hóa cho trẻ mẫu giáo dưới 6 tuổi Nguyễn

Ánh Tuyết xuất bản quyển “Giáo dục trẻ trong nhóm bạn bè” năm 1987 đã đề cập

đến ý nghĩa của hoạt động nhóm, hoạt động trong tập thể giữa trẻ với các các bạn cùng chơi đối với việc GD HVUXXH phù hợp cho trẻ tại trường mầm non Các tác

phẩm “Tâm lý học trẻ em lứa tuổi mầm non” và “Tâm lý học trẻ em” của tác giả

Nguyễn Ánh Tuyết cũng đã phân tích vai trò quan trọng chủ đạo của TC ĐVTCĐ đối với việc phát triển các phẩm chất nhân cách như tính có chủ định, phẩm chất đạo đức, HV phù hợp với các chuẩn mực xã hội cho trẻ em Đồng thời tác giả cũng khẳng định vai trò chủ đạo của người lớn trong việc lựa chon nội dung cho trẻ chơi

để đảm bảo rằng TC là một phương tiện GD hiệu quả

Trong quyển “Giáo dục đạo đức cho trẻ mẫu giáo” tác giả Trần Thị Trọng đã

xem TC là còn đường, là hình thức quan trọng để hình thành ở trẻ những phẩm chất đạo đức, những HV XH

Tác giả Lê Minh Thuận đã phân tích vai trò của TC ĐVTCĐ trong việc hình

thành phát triển nhân cách cho trẻ MG trong quyển “Trò chơi phân vai theo chủ đề

và việc hình thành nhân cách cho trẻ mẫu giáo”, theo tác giả thì TC ĐVTCĐ chính

là một phương tiện hữu hiệu và quan trọng trong việc GD lòng nhân ái, một phẩm chất cơ bản trong nhân cách của con người Bên cạnh đó tác giả cũng đã nêu ra được các cách thức hướng dẫn tổ chức TC ĐVTCĐ với mục đích giúp phát triển nhân cách cho trẻ MG

Tạp chí Giáo dục mầm non số 2/1995, tác giả Nguyễn Thị Thanh Hà với bài

“TC ĐVTCĐ và vai trò của nó đối với sự phát triển của trẻ em”, “Giáo dục chuẩn mực đạo đức hành vi cho trẻ mẫu giáo thông qua hoạt động vui chơi” của tác giả Đinh Thị Kim Thoa, tác giả Nguyễn Thị Thanh Bình với bài “Hình thành hành vi đạo đức cho trẻ mẫu giáo thông qua hoạt động vui chơi” trong Kỷ yếu Khoa học của đề tài “Xây dựng những giáo trị đạo đức cho trẻ mầm non” (1997)… Những

Trang 22

nghiên cứu trên đã thể hiện được một cách nhìn khái quát hơn của các tác giả về sự cần thiết của việc xem TC ĐVTCĐ là một phương tiện quan trọng để hình thành và phát triển nhân cách cho trẻ MG

Trong tài liệu “Giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mẫu giáo” của tác giả Lê Thị

Bích Ngọc cũng đã đề cập đến hình thành, phát triển kỹ năng XH cũng như thực hiện

các quy tắc xã hội chính là một trong những kỹ năng sống cơ bản cần thiết giáo dục trẻ em (Lê Thị Bích Ngọc, 2010)

Nhóm tác giả Trần Thị Lan Hương, Trần Thị Nga, Nguyễn Thị Thanh Thủy,

Nguyễn Thị Thu với tác phẩm “Hướng dẫn các hoạt động phát triển tình cảm và quan hệ xã hội cho trẻ mầm non” dựa trên cơ sở là “Bộ chuẩn phát triển trẻ 5 tuổi”

để đưa ra các gợi ý cho việc tổ chức các hoạt động cho giáo viên và phụ huynh nhằm giúp trẻ phát triển quan hệ xã hội qua 4 chuẩn và 17 chỉ số

Tác giả Hoàng Thị Phương (2003) đã nghiên cứu đề tài “Một số biện pháp giáo dục hành vi có văn hóa cho trẻ Mẫu giáo 5-6 tuổi” đã đề cập đến vấn đề sử

dụng kỹ năng giao tiếp như một HV văn hóa cơ bản và đặc trưng cho lứa tuổi mẫu giáo 5-6 tuổi Từ đó xây dựng nền tảng cơ sở để GD giúp trẻ chuẩn bị vào trường

tiểu học

Chương trình GDMN (2016) và Bộ chuẩn phát triển trẻ 5 tuổi (2010) của Bộ Giáo dục và Đào tạo là tài liệu đóng vai trò quan trọng trong quá trình GD HVUXXH phù hợp cho trẻ mẫu giáo Bộ tài liệu này đóng vai trò nền tảng nhằm giúp trẻ hình thành và phát triển các kỹ năng sống, các phẩm chất cá nhân như tôn trọng, hợp tác, quan tâm…, giúp trẻ hiểu và thực hiện được một số quy tắc, quy định trong sinh hoạt hàng ngày, các HVUX phù hợp XH phù hợp với lứa tuổi Góp phần

hoàn thành mục tiêu của GDMN chính là “Giúp trẻ em phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ vào lớp một; hình thành và phát triển ở trẻ em những chức năng tâm sinh lý, năng lực và phẩm chất mang tính nền tảng, những kỹ năng sống cần thiết phù hợp với lứa tuổi, khơi dậy và phát triển tối đa những khả năng tiềm ẩn, đặt nền tảng cho việc học tập ở các cấp học tiếp theo và cho việc học tâp suốt đời” (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2017)

Trang 23

Theo Công văn số: 463/BGDĐT-GDPT V/v hướng dẫn triển khai thực hiện

GD kỹ năng sống tại các cơ sở GDMN (giáo dục mầm non), GDPT (giáo dục phổ thông) và GDTX (giáo dục thường xuyên) ngày 28 tháng 2 năm 2015 với mục đích:

“Một là đẩy mạnh hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh theo định hướng phát triển toàn diện phẩm chất, năng lực học sinh gắn với định hướng nghề nghiệp; hai là giúp giáo viên chủ động, tích cực trong việc bồi dưỡng kỹ năng sống cho bản thân và giáo dục kỹ năng sống cho học sinh; ba là tăng cường sự phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội tạo môi trường thuận lợi để giáo dục kỹ năng sống cho học sinh” Cụ thể đối với trẻ mầm non là: “Giúp trẻ nhận thức về bản thân: sự tự tin,

tự lực, thực hiện những quy tắc an toàn thông thường, biết làm một số việc đơn giản; hình thành và phát triển những kỹ năng xã hội cần thiết: thể hiện tình cảm, sự chia

sẻ, hợp tác, kiên trì, vượt khó; hình thành một số kỹ năng ứng xử phù hợp với gia

đình, cộng đồng, bạn bè và môi trường”

Trong Chương trình GDMN (2016) và Bộ Chuẩn phát triển trẻ 5 tuổi, Bộ GD&ĐT xây dựng được các nội dung thực hiện tốt hơn và đồng bộ hơn trong các hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng và GD trẻ theo từng giai đoạn lứa tuổi tại trường

MN Lĩnh vực tình cảm và kỹ năng xã hội đã được trở thành một lĩnh vực chuyên biệt trong năm lĩnh vực cần phát triển cho trẻ lứa tuổi MN hiện nay Trong lĩnh vực phát triển tình cảm và kỹ năng xã hội thì vấn đề GD các HVUXXH cho trẻ cũng được đề cập và nhấn mạnh Để GD HVUXXH cho trẻ đạt được hiệu quả, người GV cần nắm rõ đặc điểm tâm sinh lý của từng lứa tuổi khác nhau Ở lứa tuổi MG hoạt động vui chơi đóng vai trò chủ đạo trong đời sống tâm lý của trẻ, đặc biệt là đối với tuổi MG lớn thì TC ĐVTCĐ luôn khơi nên sự hứng thú và kích thích trẻ tham gia hăng say nhất trong các hoạt động mà GV tổ chức ở trường Khi trẻ tham gia vào TC ĐVTCĐ, trẻ sẽ được ướm mình vào các vai chơi khác nhau, được chơi cùng nhau nhằm mô phỏng lại hoạt động của người lớn trong XH Trong XH người lớn, cách ứng xử giữa con người với nhau luôn được trẻ phản ánh lại thông qua vai chơi mà mình đảm nhận trong TC ĐVTCĐ, kể cả những HV đúng và HV chưa đúng Những

HV của trẻ MG dần được tuân theo những chuẩn mực đạo đức do xã hội quy định thông qua TC ĐVTCĐ bởi khi chơi cùng nhau trong nhóm bạn bè thì trẻ đã bắt đầu

Trang 24

quan tâm, nhận xét về HV của bạn cùng chơi hoặc của chính mình, từ đó hình thành nên ý kiến chung, dư luận chung trong nhóm chơi, chính điều này có ảnh hưởng rất lớn đối với việc lĩnh hội các chuẩn mực, quy tắc xã hội một cách nhẹ nhàng và tự nhiên nhất Chính vì vậy, trong đề tài này tôi sử dụng TC ĐVTCĐ như một phương tiện nhằm GD HVUXXH cho trẻ 5-6 tuổi

1.2 Lý luận về hành vi ứng xử xã hội và đặc điểm hành vi ứng xử xã hội của trẻ 5-6 tuổi

1.2.1 Khái niệm hành vi và hành vi ứng xử xã hội

1.2.1.1 Khái niệm hành vi

Thuật ngữ hành vi (behavior) được sử dụng nhiều từ các công trình nghiên cứu từ

đầu TK XX và được giải thích bằng nhiều quan điểm khác nhau như:

Khi bàn về mô hình S- R thì J.Piaget đã nhấn mạnh đến tính tích cực của

hành vi con người Ông cho rằng: “Hành vi – đó là sự tìm kiếm những hoàn cảnh hay đối tượng còn thiếu hoặc còn chưa tồn tại Hành vi được hiểu là tính tích cực có định hướng.” (Lưu Song Hà, 2008)

Theo A.N.Leonchev thì: “Hành vi không phải là những phản ứng máy móc của một cơ thể sinh vật mà hành vi phải được hiểu là hoạt động.” (Phạm Minh Hạc,

2002)

Theo quan điểm của J.Watson thì: “Hành vi con người tức là mọi từ ngữ ứng

xử của con người cả những cái di truyền lẫn những cái tự tạo làm đối tượng nghiên cứu Đó là việc nghiên cứu con người sẽ làm gì bắt đầu từ trong bào thai đến lúc chết.” (Nguyễn Ánh Tuyết, 2006)

Đại diện cho các nhà Sinh học thì E.L.Thorndike (1874-1958) cho rằng:

“Hành vi là cách sống và hoạt động trong một môi trường nhất định của một cá thể

để thích nghi với môi trường đó và nhằm đảm bảo cho nó được tồn tại” (Nguyễn

Ánh Tuyết, 2006)

Theo X.L.Rubinshtein thì HV là kết quả của hành động tích cực của chủ thể đối với đối tượng mà chủ thể tương tác trong hoàn cảnh nào đó (Huỳnh Văn Sơn, 2012)

Trang 25

Theo nhà Tâm lý học Liên Xô L.X Vưgotxky thì ông cho rằng có sự khác

biệt rõ rệt giữa HV động vật và HV con người Ông khẳng định rằng: “Cấu trúc hành vi ở con người bao gồm kinh nghiệm lịch sử, kinh nghiệm xã hội và kinh nghiệm kép” (Phạm Minh Hạc, 1983)

Hành vi con người được các nhà tâm lý học phân loại thành HV có nguồn gốc bên trong và HV có nguồn gốc bên ngoài Theo bản chất mà HV lại có thể được phân ra

3 loại là HV bản năng, HV kỹ xảo và HV lý trí Trong giáo dục học thì các nhà nghiên cứu thường chú tâm đến 2 loại HV là HVvăn hóa và HV đạo đức Bởi lẽ không phải cứ HV văn hóa nào cũng được coi là HV đạo đức, mà chủ có những HV

văn hóa mang tính thẩm mỹ mới là HV văn hóa

Theo từ điểm Tâm lý học do A.V Pêtrôvxki và M.G.Ia rôsevxki chủ biên thì:

“Hành vi được xác định là mối tương tác giữa cơ thể sống với môi trường xung quanh Vậy có thể hiểu rằng hành vi không chỉ là những phản ứng cử động của cơ thể mà còn là cả những hoạt tính tâm lý bên trong liên quan đến các quá trình nhận thức, mục đích, động cơ… của chủ thể.” (Lưu Song Hà, 2008)

Trong tâm lý học Xô Viết thì: “Hành vi con người được hiểu là hoạt động có tiền đề tự nhiên về bản chất có tính quy định xã hội Hành vi được thực hiện thông qua ngôn ngữ và hệ thống các ký hiệu có ý nghĩa khác Đặc điểm hành vi của mỗi cá nhân phụ thuộc vào mối quan hệ qua lại của cá nhân đó với nhóm mà anh ta là thành viên, phụ thuộc vào các chuẩn mực nhóm, vào định hướng giá trị, vào vai trò của anh ta trong nhóm.” (Lưu Song Hà, 2008)

Theo từ điển Tiếng Việt thì “Hành vi nói chung là toàn bộ những phản ứng, cách cư xử, biểu hiện ra ngoài của một người trong một hoàn cảnh cụ thể nhất định.” (Huỳnh Văn Sơn, 2012)

Theo Đại từ điển tiếng Việt do Nguyễn Như Ý chủ biên thì “Hành vi được hiểu là cách ứng xử trong một hoàn cảnh nhất định được biểu hiện bằng lời nói, cử chỉ nhất định” (Nguyễn Như Ý, 1999)

Trong Từ điển tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học do Hoàng Phê chủ biên thì

“Hành vi là toàn bộ nói chung những phản ứng, cách cư xử biểu hiện ra bên ngoài của một người trong một hoàn cảnh cụ thể nhất định” (Hoàng Phê, 2001)

Trang 26

Theo từ điển Tâm lý học của Việt Nam thì: “Hành vi là toàn bộ những phản ứng, cách cư xử biểu hiện ra bên ngoài của một người trong một hoàn cảnh cụ thể nhất định” (Nguyễn Thị Hồng Nga, 2011)

Theo từ điển Tâm lý học của Mỹ thì: “Hành vi là một thuật ngữ khái quát nhằm chỉ những hoạt động, hành động, phản ứng, phản hồi, những di chuyển, tiến trình có thể đo lường được của bất kỳ một cá thể đơn lẻ nào” (Nguyễn Thị Hồng

Nga, 2011)

- Qua các ý kiến trên có thể thấy rằng vẫn chưa có một khái niệm thống nhất

về HV Một số tác giả cho rằng HV là tất cả phản ứng của con người một cách máy móc, vô ý thức Một số khác lại cho rằng HV là những phản ứng có ý thức và được điều khiển bởi ý thức Tuy mỗi tác giả có một cách lý giải khác nhau về HV nhưng trong phạm vi đề tài nghiên cứu chúng tôi sử dụng thuật ngữ HV là những biểu hiện

ra bên ngoài như cử chỉ, lời nói, ánh mắt, nét mặt… nhưng lại phải thống nhất với cấu trúc bên trong của nhân cách, phải là sự thống nhất giữa hình thức bên ngoài với tâm lý bên trong

1.2.1.2 Khái niệm hành vi ứng xử xã hội

Từ định nghĩa trên có thể thấy rằng HV đươc hiểu như một yếu tố mang tính

XH, được hình thành và phát triển trong quá trình hoạt động và giao tiếp của con

người trong XH “Trong mỗi hoàn cảnh khác nhau thì con người cần phải có những hành vi ứng xử phù hợp Không thể nào có cách ứng xử chung cho tất cả mọi cá nhân trong xã hội bởi vì tùy thuộc vào từng hoàn cảnh, tâm trạng, mục đích của mỗi người thì sẽ thể hiện mỗi hành vi, cách ứng xử hoàn toàn khác nhau” (Nguyễn Thị Hồng Nga, 2011)

Trong từ điển Tiếng Việt thì ứng xử có thể hiểu là phản ứng của con người trong các mối quan hệ xã hội và chịu sự chi phối của các mối quan hệ XH, dư luận

XH, phong tục tập quán truyền thống- của các tổ chức XH Như vậy, phản ứng của con người không thuần túy là phản ứng tự nhiên và ngay cả chính bản thân mình cũng mang tính chất XH Khái niệm ứng xử bao hàm cả bản chất tự nhiên và bản chất XH của con người Ứng xử bao giờ cũng được thực hiện trong mối quan hệ nhất định và chịu sự chi phối bởi chuẩn mực của một khuôn mẫu

Trang 27

Từ những ý kiến trên, chúng tôi xác định khái niệm HVUXXH là những phản ứng của cá nhân với cộng đồng xung quanh theo các chuẩn mực đã được xã hội quy định Nói cách khác HVUXXH là cách ứng xử của cá nhân trong một hoàn cảnh cụ thể được biểu hiện ra bên ngoài bằng lời nói, cử chỉ, điệu bộ, nét mặt phù hợp với chuẩn mực XH

1.2.2 Khái niệm hành vi ứng xử xã hội của trẻ MG 5-6 tuổi

Trong phạm vi nghiên cứu đề tài chúng tôi sử dụng khái niệm về HVUXXH của trẻ MG 5-6 tuổi là những phản ứng của trẻ với mọi người xung quanh dựa trên các chuẩn mực phù hợp với độ tuổi đã được xã hội quy định như: khi khi gặp người lớn hơn thì phải chào, khi được người lớn cho gì phải biết nhận bằng hai tay và nói lời cảm ơn…

1.2.3 Biểu hiện hành vi ứng xử xã hội của trẻ MG 5-6 tuổi

Trong xã hội người lớn, HVUXXH của một cá nhân sẽ được thể hiện trong mối quan hệ giữa cá nhân đó đối với xã hội xung quanh họ Trong mỗi bối cảnh, tình huống khác nhau thì ở mỗi cá nhân sẽ hình thành nên các HVUX hoàn toàn khác nhau Bên cạnh đó HVUXXH của cá nhân và HVUXXH của tập thể lại có sự khác biệt rõ rệt Trong khi HVUXXH của tập thể luôn có chung mục đích, có cùng tổ chức, cùng cơ chế điều hành và hiệu quả của HVUXXH tập thể lại phụ thuộc vào HVXXH của từng cá nhân trong chính tập thể đó Các chuẩn mực HVUXXH là một trong những phương tiện có nhiệm vụ định hướng và kiểm soát các HVUXXH của

cá nhân hay của tập thể Chuẩn mực XH chính là yếu tố quan trọng trong việc quản

lý XH

Trong xã hội thu nhỏ của trẻ em cũng có những nét tương đồng như trong XH người lớn, việc tham gia vào các hoạt động cùng nhau thì trẻ sẽ tự mình thiết lập nên các mối quan hệ XH khác nhau để đáp ứng yêu cầu chung trong TC Các mối quan

hệ XH của trẻ cũng phải tuân theo một hệ thống quy tắc, luật lệ do chính thành viên thỏa thuận cùng nhau trước đó Chính sự thỏa thuận này đã mang bóng dáng của các chuẩn mực XH của người lớn sau này và dần giúp cho trẻ tuân thủ một cách dễ dàng

và mang tính tự nguyện cao Tuy nhiên HVUXXH của trẻ MG 5-6 tuổi vẫn còn

Trang 28

nhiều thiếu sót, chưa hoàn thiện bởi chúng chỉ là nền móng ban đầu trong việc hình thành nhân cách của trẻ và cần có các BP GD đúng đắn, phù hợp từ phía người lớn

Các HVUXXH được trẻ MG 5-6 tuổi được biểu hiện qua ứng xử của cá nhân trẻ đối với gia đình, với họ hàng, với vật nuôi xung quanh, với khách đến chơi, hoặc với một số tình huống giao tiếp mà trẻ phải xử lý qua việc bộc lộ các cử chỉ, điệu bộ, nét mặt, thái độ khác nhau… Biểu hiện cụ thể về HVUXXH của trẻ MG 5-6 tuổi: thực hiện quy định ở lớp, trường, gia đình, nơi công cộng như biết dọn dẹp đồ dùng

đồ chơi sau khi đã sử dụng xong, giữ trật tự nơi công cộng, nhường ghế ngồi cho người lớn tuổi hoặc phụ nữ có em bé nhỏ; trẻ biết chào hỏi, cảm ơn, xin lỗi; biết xếp hàng chờ đến lượt mình, chú ý lắng nghe khi cô giáo hoặc bạn đang nói, không ngắt lời người khác; trẻ biết lắng nghe ý kiến, trao đổi, thỏa thuận, chia sẻ kinh nghiệm với bạn; trẻ biết cách giải quyết mâu thuẫn qua nhiều cách khác nhau

1.2.4 Đặc điểm hành vi ứng xử xã hội của trẻ MG 5-6 tuổi

Đặc điểm về HVUXXH của trẻ MG 5-6 tuổi có những biểu hiện như:

Tính hợp lý trong hành vi của trẻ MG 5-6 tuổi Nghiên cứu của Nguyễn Ánh

Tuyết đã chỉ ra “Trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi xuất hiện kiểu tư duy trực quan hình tượng mới và những yếu tố của tư duy logic” (Nguyễn Ánh Tuyết, 1994) Những yếu tố của

tư duy logic xuất hiện khiến cho khả năng suy luận của trẻ trở nên hợp lý hơn so với lứa tuổi MG nhỡ và bé trước đây Với sự hướng dẫn của người lớn kết hợp vốn kinh nghiệm phong phú của bản thân qua các trải nghiệm thực tế cũng như sử dụng các yếu tố ban đầu của tư duy logic thì trẻ MG 5-6 tuổi sẽ dần nắm bắt được các quy luật của thế giới khách quan dễ dàng Và TC chính là phương tiện hữu hiệu nhất để trẻ trải nghiệm và tiếp thu những quy định chung của nhóm chơi, nhận ra nhiệm vụ, trách nhiệm của từng người trong tập thể, nghĩa vụ và quyền lợi của cá nhân trong quá trình tham gia vào TC

Động cơ xã hội rõ nét và tương đối ổn định: Nếu ở cuối tuổi MG 3-4 tuổi trong HV của trẻ đã dần hình thành các loại động cơ khác nhau nhưng vẫn còn mang tính mờ nhạt và tản mạn thì khi bước sang tuổi MG 5-6 tuổi đã có một bước phát triển khá dài Cuối tuổi MG 4-5 tuổi đã có sự phát triển về động cơ khi những động

cơ XH chiếm vị trí ngày càng lớn, biểu hiện ở việc trẻ đã quan tâm đến HV mang lại

Trang 29

lợi ích gì cho những người khác Sang tuổi MG 5-6 tuổi, trẻ bắt đầu thực hiện công việc vì người khác theo ý kiến của riêng mình Do trẻ 5-6 tuổi đã có sự hình thành hệ thống thứ bậc động cơ khá rõ ràng Động cơ HV của trẻ MG 5-6 tuổi là rất đa dạng như động cơ muốn tự khẳng định mình, động cơ nhận thức, muốn khám phá về thế giới xung quanh động cơ thi đua, động cơ xã hội… trong số đó động cơ XH có sự phát triển nhanh chóng, tương đối ổn định hơn Vào thời gian cuối tuổi MG 4-5 và

đầu MG 5-6 tuổi bắt đầu hình thành “quan hệ phụ thuộc theo thứ bậc của các động

cơ được gọi là hệ thống thứ bậc các động cơ” (Nguyễn Ánh Tuyết, 1994) Trong hệ

thống thứ bậc, các động cơ được sắp xếp theo ý nghĩa quan trọng với chính bản thân mỗi trẻ Ví như việc làm trực nhật sẽ có những động cơ HV khác nhau như vì trẻ thích làm những công việc bưng bê thức ăn, bày bàn; vì trẻ thương cô cấp dưỡng phải vất vả nên muốn làm phụ cô; hay chỉ vì trẻ muốn được lựa chọn chỗ ngồi hay bát đĩa đẹp cho riêng mình…Như vậy chỉ với một công việc bất kỳ thì ở từng trẻ khác nhau lại tồn tại những một hệ thống thứ bậc các động cơ thúc đẩy khác nhau Điểm khác biệt giữa trẻ chính là trong hệ thống thứ bậc động cơ ấy thì động cơ nào chiếm ưu thế Nếu động cơ HV nhằm thỏa mãn quyền lợi cá nhân chiếm ưu thế thì trẻ sẽ có những HV ích kỷ, dẫn đến những sai phạm nghiêm trọng các quy tắc đạo đức XH Còn ngược lại nếu động cơ xã hội chiếm ưu thế thì trẻ có thể nhận ra HV của mình mang lại lợi ích hay ảnh hưởng đến người khác để từ đó thực hiện HV mang tính đạo đức tốt đẹp

Trẻ MG có tính tò mò và thường quan tâm đến những HVUX của người lớn với nhau để tiếp thu bắt chước Trong các HV mà trẻ quan sát được có cả HV đúng

và HV chưa đúng từ người lớn Vì vậy người lớn cần phải chú ý đến HVUX của các

nhân để GD được cho trẻ những HV tốt đẹp

Biết đánh giá và tự đánh giá HV: Phải đến cuối tuổi MG thì trẻ mới có thể hiểu được mình như thết nào, có những phẩm chất gì, mọi người xung quanh đối xử mới mình ra sao…đây chính là ý thức bản ngã của trẻ Trẻ tự đánh giá về thành công thất bại, ưu nhược điểm của bản thân hay những khả năng khác biệt của mình so với mọi người Để có thể đánh giá bản thân, trẻ trước hết phải đánh giá người khác cũng như mọi người đánh giá bản thân mình như thế nào Sự đánh giá của trẻ vào thời

Trang 30

gian đầu sẽ bị chi phối nhiều bởi thái độ, tình cảm của trẻ dành cho người ấy nên sẽ không mang tính khách quan và công bằng Ví dụ như mọi đứa trẻ đều cho rằng cô giáo hiền thì sẽ rất xinh đẹp và cô giáo dữ thì sẽ xấu xí Đến khi trẻ nắm được kỹ năng so sánh mình với người khác thì khả năng tự đánh giá của trẻ sẽ dần được cải thiện và mang tính công bằng, chuẩn xác hơn Trẻ có thể mạnh dạn nhận xét hành động của bạn cùng chơi là sai quy định và đáng bị phê bình mặc dù đó là bạn thân nhất của trẻ Khả năng tự đánh giá giúp trẻ điều khiển và điều chỉnh HV của mình dần phù hợp với các quy định chung khi cùng tham gia vào nhóm chơi nói riêng và các chuẩn mực, quy XH nói chung

Sự phát triển ý chí của trẻ 5-6 tuổi có một bước tiến dài so với trẻ MG 4-5 tuổi Bởi vì trẻ MG 5-6 tuổi đã có khả năng làm chủ được phần lớn các HV của mình nên cũng được người lớn giao cho nhiều công việc phù hợp với khả năng của mình hơn Trẻ có thể điều khiển HV của mình nhằm phục tùng nhiệm vụ đã được giao một cách nghiêm túc Điều này đã dần khiến trẻ xác định được mục đích của hành động, tách biệt động cơ của cá nhân ra khỏi mục đích với sự cố gắng để hoàn thành được nhiệm vụ cũng như khẳng định được bản thân mình với người lớn Tuy nhiên đôi khi trẻ cũng có thể bị dao động, đó là lúc cần sự khuyến khích, ủng hộ từ phía người lớn

để trẻ vượt qua khó khăn, thử thách

Có thể nhận định rằng lứa tuổi MG là thời kỳ phát triển đặc biệt, tất cả những thành tựu trẻ đạt được đều là cơ sở cho sự phát triển nhân cách sau này Những HVUXXH hình thành ở tuổi này chính là nền tảng cho hệ thống HV khi đã trưởng

thành mà vai trò GD của người lớn là không thể thiếu được

1.2.5 Nội dung giáo dục hành vi ứng xử xã hội cho trẻ MG 5-6 tuổi

Mục tiêu và nội dung GD HVUXXH cho trẻ MG 5-6 tuổi dựa trên Bộ Chuẩn phát triển trẻ 5 tuổi của Bộ Giáo dục và Đào tạo, HVUXXH được xác định ở các chuẩn và chỉ số sau:

Chuẩn 10: Trẻ có mối quan hệ tích cực với bạn bè và người lớn

a) Chỉ số 42: Dễ hòa đồng với bạn bè trong nhóm chơi;

b) Chỉ số 43: Chủ động giao tiếp với bạn và người lớn gần gũi;

c) Chỉ số 44: Thích chia sẻ cảm xúc, kinh nghiệm, đồ dùng, đồ chơi với

Trang 31

những người gần gũi;

d) Chỉ số 45: Sẵn sàng giúp đỡ người khác khi gặp khó khăn;

e) Chỉ số 46: Có nhóm bạn chơi thường xuyên;

f) Chỉ số 47: Biết chờ đến lượt khi tham gia vào các hoạt động

Chuẩn 11: Trẻ thể hiện sự hợp tác với bạn bè và những người xung quanh

a) Chỉ số 48: Lắng nghe ý kiến của người khác;

b) Chỉ số 49: Trao đổi ý kiến của mình với các bạn;

c) Chỉ số 50: Thể hiện sự thân thiện, đoàn kết với bạn bè;

d) Chỉ số 51: Chấp nhận sự phân công của nhóm bạn và người lớn;

e) Chỉ số 52: Sẵn sàng thực hiện nhiệm vụ đơn giản cùng người khác

Chuẩn 12: Trẻ có các hành vi thích hợp trong ứng xử xã hội

a) Chỉ số 53 Nhận ra việc làm của mình có ảnh hưởng đến người khác;

b) Chỉ số 54: Có thói quen chào hỏi, cảm ơn, xin lỗi và xưng hô lễ phép với người lớn;

c) Chỉ số 55: Đề nghị sự giúp đỡ của người khác khi cần thiết;

d) Chỉ số 56: Nhận xét được một số HV đúng hoặc sai của con người đối với môi trường;

e) Chỉ số 57: Có HV bảo vệ môi trường trong sinh hoạt hằng ngày

Chương trình Giáo dục mầm non của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành năm

2017, mục tiêu giáo dục HVUXXH cho trẻ MG 5-6 tuổi gồm:

Một số quy định ở lớp và nơi công cộng (để đồ dùng, đồ chơi đúng chỗ; trật tự khi ăn, khi ngủ; đi bên phải lề đường)

- Lắng nghe ý kiến của người khác, sử dụng, lời nói, cử chỉ, lễ phép, lịch sự

- Yêu mến, quan tâm đến người thân trong gia đình

- Quan tâm chia sẻ, giúp đỡ bạn

- Nhận xét và tỏ thái độ với HV “đúng” - “sai”, “tốt” - “xấu”

Tài liệu Bồi dưỡng thường xuyên cho cán bộ quản lý và GVMN của Bộ Giáo dục và Đào tạo năm học 2013-2014 thì kỹ năng xã hội của trẻ MG 5-6 tuổi được chia thành 3 nội dung chính là: Ý thức bản thân, HV và quy tắc ứng xử xã hội, quan tâm

Trang 32

đến môi trường Trong ba nội dung trên thì GD HVUXXH cho trẻ MG 5-6 tuổi gồm những đề mục là:

- Biết được một số quy định ở lớp, gia đình và nơi công cộng

- Lắng nghe ý kiến của người khác, sử dụng cử chỉ, lời nói lễ phép, lịch sự

- Tôn trọng, hợp tác, chấp nhận,

- Yêu mến, quan tâm, chia sẻ, giúp đỡ bạn

- Nhận xét và tỏ thái độ với HV “đúng”- “sai”, “tốt”- “xấu”

1.2.6 Nhiệm vụ giáo dục hành vi ứng xử xã hội cho trẻ 5-6 tuổi

GD HVUXXH cho trẻ MG 5-6 tuổi nói riêng và trẻ MG nói chung là một nhiệm vụ quan trọng bởi đây chính là nền móng ban đầu cho việc xây dựng HV nhân cách tốt đẹp cho trẻ ở những giai đoạn sau này Nội dung GD HVUXXH cho trẻ MG 5-6 tuổi bao gồm những nội dung chủ yếu sau:

Giáo dục hành vi ứng xử xã hội cho trẻ đối với những người xung quanh:

Việc GD HVUXXH cho trẻ MG nên được bắt đầu từ những người thân gần gũi trong gia đình trẻ như cha mẹ, ông bà, anh chị em… vì đây là môi trường văn hóa đầu tiên mà trẻ được tiếp xúc trong cuộc đời mình Sau đó sẽ là GD HVUXXH cho trẻ đối với những người ngoài xã hội

 Đối với người lớn:

- Biết kính trọng, lễ phép, yêu quý với ông bà, cha mẹ, thầy cô giáo…

- Biết quan tâm, giúp đỡ người khác khi gặp khó khăn

- Biết vâng, dạ, cảm ơn khi được người lớn cho quà

- Lễ phép, tự giác chào hỏi khách đến nhà, lớp

- Biết xin phép khi muốn đi chơi

 Đối với bạn bè:

- Biết nhường nhịn đồ chơi, đồ dùng cùng bạn

- Biết thể hiện sự đoàn kết với bạn bè

- Chờ đến lượt khi tham gia hoạt động

- Chú ý lắng nghe ý kiến của bạn cùng chơi

- Biết trao đổi ý kiến và thỏa thuận với bạn cùng chơi

- Nhận xét và tỏ thái độ đối với HV “đúng”- “sai”, “tốt”- “xấu”

Trang 33

 Đối với bản thân:

Trong ăn mặc, vệ sinh cá nhân, tư thế đi đứng nằm ngồi như thế nào trong các hoàn cảnh khác nhau, cư xử một cách lịch sự và tử tế, để thể hiện mình là người có

văn hóa, người độc lập tự tin

 Giáo dục hành vi ứng xử xã hội cho trẻ với trường, lớp, nơi công cộng:

Giáo dục cho trẻ biết và tuân thủ các luật lệ, quy định chung tại trường lớp, tại những nơi công cộng như: Khi ở trường thì biết giữ trật tự khi ngồi trên bàn bàn ăn hay khi ngủ, biết xếp hàng chờ đến lượt mình tham gia hoạt động; khi ở nơi công cộng thì biết thực hiện những quy định chung thông thường là giữ gìn vệ sinh nơi công cộng bằng việc bỏ rác đúng nơi quy định, đi bên phải lề đường, không hái hoa

bẻ cành hay đi giẫm lên cỏ, biết nhường chỗ ngồi cho người lớn tuổi, phụ nữ có em

bé nhỏ… Kỹ năng giao tiếp có văn hóa cũng nên được giáo viên quan tâm chú trọng

vì đây là một trong những thành tố quan trọng trong việc GD HVUXXH cho trẻ lứa tuổi 5-6 tuổi đạt hiệu quả

1.3 Lý luận về trò chơi đóng vai theo chủ đề

1.3.1 Khái niệm trò chơi đóng vai theo chủ đề

TC ĐVTCĐ hay còn gọi là TC giả bộ có cốt truyện là TC đặc trưng của lứa tuổi MG Với mỗi cách nhìn nhận TC ở góc độ khác nhau như theo nguồn gốc, theo cấu trúc hay theo ý nghĩa của từ khi được phiên âm từ tiếng nước ngoài mà loại TC này có các tên gọi khác nhau như TC giả bộ có cốt chuyện, TC phân vai theo chủ đề

- đây là hai cách gọi này thường được sử dụng ở Việt Nam; TC biểu trưng- cách gọi được J.Piaget sử dụng; TC có cốt chuyện- cách gọi của S.Smilanxki…

Theo từ điển Tâm lý học thì “TC ĐVTCĐ là hình thức TC gồm những thành phần, những đặc điểm của TC có chủ đề và TC đóng vai” (Vũ Dũng, 2000)

Theo tác giả Đào Thanh Âm trong quyển Giáo dục học mầm non tập 3 thì

“TC ĐVTCĐ là loại TC trong đó trẻ đóng một vai cụ thể để tái tạo lại những ấn tượng, cảm xúc mà trẻ thu nhận được từ môi trường xã hội của người lớn nhờ sự tham gia tích cực của trí tưởng tượng.” (Đào Thanh Âm, Trịnh Dân, Nguyễn Thị

Hòa, Đinh Văn Vang, 1997)

Trang 34

Theo tác giả Nguyễn Ánh Tuyết thì: “TC ĐVTCĐ là một loại TC mà khi chơi trẻ mô phỏng một mảng nào đó của cuộc sống người lớn trong xã hội bằng việc nhập vào (hay còn gọi là đóng vai) một nhân vật nào đó để thực hiện chức năng xã hội của họ bằng những hành động mang tính tượng trưng” (Nguyễn Ánh Tuyết, Nguyễn

Thị Như Mai, Đinh Kim Thoa, 1994)

Vậy có thể hiểu rằng TC ĐVTCĐ là một dạng TC sáng tạo, đặc trưng của tuổi

MG TC ĐVTCĐ phản ánh lại một mảng hiện thực đời sống, các mối quan hệ giữa người với người Trẻ thực hiện các vai của người lớn theo một chủ đề nhất định và trẻ thực hiện hành động theo chức năng XH mà chúng đảm nhận

1.3.2 Bản chất của trò chơi đóng vai theo chủ đề

Trò chơi ĐVTCĐ mang bản chất xã hội Tính XH của TC ĐVTCĐ được thể hiện ở nguồn gốc xuất hiện, lịch sử phát triển, nội dung TC và đồ chơi của trẻ Sự xuất hiện TC ĐVTCĐ nhằm mô phỏng lại đời sống XH của người lớn, thông qua TC trẻ sẽ được thỏa mãn ước muốn của bản thân mình chính là được sống và làm việc như người lớn TC ĐVTCĐ không chỉ là phương tiện giúp trẻ giải trí, mà thông qua

TC ĐVTCĐ trẻ còn hiểu biết thêm về thế giới, về những phương thức hoạt động của loài người để từ đó rèn luyện và phát triển những HV người

Bản chất xã hội của TC còn được biểu hiện trong nội dung chơi Trong TC ĐVTCĐ, trẻ em mô phỏng lại một cách sinh động XHngười lớn với các mối quan hệ khác nhau, với những chuẩn mực đạo đức, phong tục tập quán, với cách thức lao động, hoạt động của người lớn trong một XH nhất định Vì vậy, TC của trẻ em ở các dân tộc, ở mọi thời đại đều mang trong mình những dấu ấn sâu sắc về sự phát triển của xã hội Nhà Tâm lý học người Pháp Henri Wallon (1879-1962) trong khi nghiên cứu về tâm lý trẻ em đã xác định rằng động cơ vui chơi của trẻ em chính là sự cố gắng tích cực của đứa trẻ để tác động lại thế giới bên ngoài nhằm lĩnh hội những kinh nghiệm của con người trong thế giới đó

Nếu như hoạt động chủ đạo ở lứa tuổi nhà trẻ chính là hoạt động với đồ vật, trẻ chỉ chơi một mình với đồ vật mà không chơi cùng bạn thì khi sang lứa tuổi lớn hơn trẻ sẽ dần có sự thay đổi rõ rệt Bước sang lứa tuổi MG, hoạt động chủ đạo của trẻ chính là hoạt động vui chơi, từ việc chỉ chơi một mình, chuyển đến chơi cạnh

Trang 35

nhau và sau cùng sẽ là chơi cùng nhau Từ sự thay đổi đó hình thành nên một dạng

TC mới nhằm mục đích đáp ứng được nhu cầu chơi cùng nhau giữa các trẻ chính là

TC ĐVTCĐ

+ TC ĐVTCĐ ở trẻ MG 3-4 tuổi có nội dung là tái tạo lại những hành động thực đơn giản của người lớn với các đối tượng trong TC Chẳng hạn như hành động

mẹ đút cơm cho con ăn hay bác sĩ khám bệnh cho bệnh nhân

+ Bước sang lứa tuổi MG 4-5 tuổi nội dung chơi lại thay đổi là mô phỏng lại các mối quan hệ XH bên ngoài của người lớn trong các hoạt động khác nhau Ví dụ như trong trò chơi “Bác sĩ” thì ai đóng vai y tá, ai đóng vai bác sĩ, ai sẽ là bệnh nhân,

và các quan hệ của họ ra sao Tuy nhiên mối quan hệ đó chỉ dừng lại ở hình thức bên ngoài thông qua hành động thực hiện HVquan hệ như bác sĩ thì chỉ có nhiệm vụ khám bệnh cho bệnh nhân hay y tá thì chỉ biết tiêm thuốc cho bệnh nhân chứ không

có những HV thể hiện tình cảm khác …

+ Cuối cùng là khi bước sang lứa tuổi MG 5-6 tuổi thì trong nội dung chơi của trẻ có thêm sự quan tâm đến những mối quan hệ XH bên trong như mặt tình cảm, đạo đức của chính những nhân vật mình đảm nhiệm Ví dụ như bác sĩ thì phải ân cần chăm sóc, an ủi bệnh nhân khi học đến khám bệnh hay bác sĩ kênh kiệu, phách lối, nạt nộ bệnh nhân chứ không chỉ đơn thuần là khám bệnh cho bệnh nhân thôi…

Từ đó có thể thấy thấy được rằng nội dung của TC ĐVTCĐ cũng thể hiện rất

rõ bản chất xã hội của TC Vì vậy, nhà giáo dục cần phải xem xét đến khía cạnh tích cực hay tiêu cực trong những mảng hiện thực mà đứa trẻ tái tạo lại trong TC bởi vì đời sống XH của người lớn là hết sức phong phú và phức tạp

Ngoài nội dung chơi thì bản chất XH của TC ở trẻ em còn được thể hiện trong nguồn gốc xuất hiện, chức năng, cấu trúc và hình thái bên ngoài của đồ chơi Đồ chơi chính là vật thay thế cho vật thật, giúp trẻ tạo ra hoàn cảnh chơi, nhập vào vai chơi, thực hiện và phối hợp được hành động chơi tương ứng với hành động thực Từ đó trẻ

sẽ quen dần với thế giới đồ vật, nắm bắt được đặt điểm, công dụng, chức năng, phương thức sử dụng của chúng Bên cạnh đó thì đồ chơi xuất hiện cũng như bạn đồng hành của trẻ, cũng phản ánh được nền văn hóa của mỗi dân tộc và cũng thay

Trang 36

đổi theo sự phát triển của mỗi thời đại Có thể thấy rằng đồ chơi phản ánh đời sống

xã hội của thời đại cũng như đặc trưng riêng của mỗi dân tộc

Khi tham gia vào TC ĐVTCĐ thì yêu câu bắt buộc ở trẻ là phải hoạt động cùng nhau, khi đó sẽ hình thành hai mối quan hệ qua lại giữa những trẻ cùng tham

gia, đó chính là mối quan hệ thực và quan hệ chơi Với mối quan hệ thực: “Đó là những mối quan hệ giữa những trẻ là những người cùng tham gia vào TC, những người bạn cùng thực hiện một công việc chung.” (Nguyễn Ánh Tuyết, 1994) Lần

đầu tiên trẻ được tham gia vào một mối quan hệ XH, qua đó trẻ biết thỏa thuận cùng nhau các quy tắc HV của vai này với vai khác, chọn đồ chơi, vị trí chơi, giải quyết các mâu thuẫn xảy ra trong quá trình chơi nhằm mục đích rút kinh nghiệm cho lần

sau chơi tốt hơn Còn những quan hệ chơi: “Đó là mối quan hệ giữa các vai trong trò chơi tùy theo một chủ đề nhất định, mô phỏng lại mối quan hệ của người lớn trong xã hội” (Nguyễn Ánh Tuyết, 1994) như quan hệ mẹ - con trong gia đình, cô

giáo - học sinh trong lớp học, người bán hàng - người mua hàng trong cửa hàng, hay bác sĩ - bệnh nhân trong bệnh viện

Từ các mối quan hệ chơi và thực đó thì trẻ sẽ hình thành các kỹ năng XH như biết thống nhất ý kiến trong hoạt động chung, biết nhường nhịn, bộc lộ cảm xúc phù hợp, biết tôn trọng ý kiến của bạn cùng chơi hoặc bảo vệ ý kiến cá nhân của mình, biết chấp hành các quy định chung khi cùng chơi, biết chờ đến lượt…

Điều quan trọng nhất TC ĐVTCĐ là ý nghĩa xã hội của loại TC này, bất cứ cá nhân nào tham gia vào quá trình chơi cũng phải tuân theo những HV, quy tắc xã hội; những luật lệ, được gọi là “luật chơi” Vì vậy có thể thấy rằng, thông qua các vai chơi, hành động chơi, nội dung chơi thì trẻ được tự ướm mình vào vị trí của một người lớn thực thụ để trải nghiệm các hành động, các mối quan hệ một cách tự nhiên, thoải mái Qua đó trẻ dần tự nguyện chấp nhận những chuẩn mực của đời sống XH

và chuyển những quan hệ XH khách quan bên ngoài vào trong nhân cách của mình nhằm mục đích điều khiển HV cá nhân cho phù hợp với XH

1.3.3 Đặc điểm trò chơi đóng vai theo chủ đề

- Khác với học tập và lao động, vui chơi là một dạng hoạt động không mang tính bắt buộc Bởi vì hoạt động vui chơi không phải là hoạt động đòi hỏi tạo ra sản

Trang 37

phẩm và hành động chơi thì không nhất thiết phải tuân theo một phương thức chặt chẽ

- Động cơ của hoạt động vui chơi nằm ngay trong quá trình chơi chứ không phải nằm ở kết quả của hành động chơi bởi vì nguyên nhân thúc đẩy trẻ tham gia TC

chính là sức hấp dẫn của bản thân TC chứ không phải kết quả của sự vui chơi đó Vì vậy có nghĩa là TC mang tính tự nguyện rất cao

- Vui chơi ở trẻ MG là một hoạt động mang tính tự tập vì trẻ hoạt động hết mình, tích cực, độc lập, chủ động trong suốt quá trình chơi Hơn bất cứ hoạt động nào, trong khi tham gia vào TC thì trẻ MG thể hiện rõ nhất ý thức làm chủ

- TC ĐVTCĐ là một dạng hoạt động đòi hỏi phải có sự phối hợp giữa các thành viên trong trò chơi với nhau Nếu ở lứa tuổi nhà trẻ thì trẻ thường chơi một mình với đồ vật, có chơi cạnh nhau thì cũng không quan tâm xem bạn bên cạnh đang chơi gì, hoặc nếu có quan tâm thì cũng chỉ quan tâm đến đồ chơi của bạn mà thôi Đến tuổi MG thì trẻ mới thật sự có nhu cầu chơi cùng nhau Các TC của trẻ không còn mang tính chất riêng lẻ, đơn độc mà có liên quan đến người khác, điều này có nghĩa là trẻ đã có tính hợp tác với bạn cùng chơi Bởi vì TC đối với trẻ MG bao giờ cũng phản ánh một mặt nào đó trong đời sống XH của người lớn xung quanh, mà hoạt động trong XH người lớn thì không thể nào mang tính chất đơn độc hay riêng lẻ được Hoạt động của một người lớn trong XH luôn có sự liên quan đến hoạt động của nhiều người khác, nghĩa là hoạt động của con người bao giờ cũng mang tính XH Đặc trưng của XH loài người chính là nằm ở sự hợp tác giữa nhiều người trong một cộng đồng Do vậy, để tiến hành một TC nhằm mô phỏng lại đời sống XH thì buộc phải có nhiều trẻ cùng tham gia, cùng hoạt động với nhau, nghĩa là phải có bạn cùng chơi

Tính hợp tác chính là một nét mới phát triển, một đặc điểm tiêu biểu trong TC ĐVTCĐ của trẻ MG Như vậy thì TC ĐVTCĐ là cơ sở, là hoạt động đầu tiên trong việc thiết lập một cách tự nhiên “xã hội trẻ em” Nhờ vào các môi quan hệ trong chính “xã hội trẻ em” đó mà ở trẻ dần hình thành nên những phẩm chất tâm lý mới Khi hoạt động cùng nhau trong XH trẻ em thì trẻ MG bắt đầu biết quan tâm đến nhau, nhận xét về nhau hay về một sự vật, một HV bất kì xung quanh mình Từ đó

Trang 38

dần hình thành nên những ý kiến chung hay những dư luận trong nhóm chơi Nhờ vào những “dư luận” này mà mỗi trẻ tự nhận ra mình, biết tự điều chỉnh HV của mình để phù hợp với những yêu cầu chung của nhóm chơi mà trước hết của là XH trẻ em mình đang tham gia, rồi sau đó rộng ra là của XH người lớn sau này

- Hoạt động vui chơi của trẻ MG mang tính chất ký hiệu - tượng trưng Trong khi chơi, mỗi đứa trẻ sẽ nhận cho mình một vai bất kỳ và thực hiện hành động của vai chơi, nhưng đây chỉ là hành động giả vờ, bắt chước người lớn mà thôi Hơn nữa trong khi chơi thì trẻ còn lấy vật này để thay thế cho vật kia, rồi hành động với đồ vật thay thế ấy cho đúng với tên gọi của nó nữa Ví dụ như trẻ đóng vai “Bác sĩ” thì cần phải dùng kim tiêm cho bệnh nhân, nhưng khi không có kim tiêm thật thì trẻ dùng que tính thay thế và cầm que ấy chích vào tay bệnh nhân Vậy thì trong trường hợp

đó que tính chính là vật thay thế, và hành động dùng que tính tiêm cho bệnh nhân cũng chính là hành động với đồ vật thay thế phù hợp với đúng tên gọi của trẻ MG

Khi trẻ ướm mình vào một nhân vật khác và hành động ngụ ý vào hành động thay thế ấy tất cả đều là giả vờ Tuy nhiên hành động giả vờ lại mang ý nghĩa rất thực

vì chúng phản ánh lại những việc có thực xảy ra trong cuộc sống sinh hoạt hằng ngày

mà trẻ đã quan sát hoặc tự mình trải nghiệm được Đó là sự ra đời một chức năng mới của ý thức- chức năng ký hiệu tượng trưng Điều này có nghĩa là trẻ MG đã biết dùng những ký hiệu tượng trưng để nhận thức thế giới khách quan Qua đó thì các

chức năng tâm lý khác như tư duy, tưởng tượng… đều được phát triển hơn

1.3.4 Vai trò của trò chơi đóng vai theo chủ đề đối với sự phát triển hành

vi ứng xử xã hội cho trẻ MG 5-6 tuổi

Về mặt tình cảm TC ĐVTCĐ giúp trẻ hóa thân thành những nhân vật với những vai trò khác nhau, qua đó trẻ được tự do thể hiện những tình cảm, cảm xúc của bản thân mình vào nhân vật ấy Trẻ có thể bày tỏ tình cảm âu yếm, thương yêu đối với con cái khi hóa thân thành nhân vật mẹ trong trong TC gia đình

Qua đó, có thể thấy TC ĐVTCĐ tạo cơ hội cho việc GD tình cảm đạo đức, lòng nhân ái, tình cảm thẩm mỹ cho trẻ MG một cách hiệu quả nhất Đây chính là cơ

sở cho sự phát triển nhân cách sau này cho trẻ Không dừng lại ở đó, TC ĐVTCĐ còn hình thành ở trẻ những thái độ, HV đúng đắn khi đối xử với mọi người xung

Trang 39

quanh Với vai chơi của mình đảm nhận thì mình phải thực hiện như thế nào cho tròn vai, qua đó nhằm lĩnh hội các chuẩn mực, các quy tắc, các HVUXXH phù hợp Trẻ biết tự ý thức được HV của mình là đúng hay là sai, biết vui sướng tự hào hay xấu hổ

e dè với các bạn mà không cần người lớn có mặt nhận xét Chính từ những luật lệ trong nhóm bạn cùng chơi đặt ra mà trẻ có thể tự điều khiển hành động và cảm xúc của bản thân cho phù hợp với quy định chung của cả nhóm như cử chỉ, nét mặt phải

như thế nào, giọng nói phải ra sao cho phù hợp với vị trí của vai chơi trong TC

Phẩm chất, ý chí của trẻ MG được hình thành và phát triển mạnh mẽ trong TC đặc biệt là TC ĐVTCĐ Khi tham gia vào TC, nhập vào vai chơi và quan hệ với với các bạn cùng chơi đòi hỏi trẻ phải đem những hành động của mình phục tùng những yêu cầu nhất định đã được xây dựng từ ý kiến chung trong nhóm chơi Do đó trẻ phải biết điều tiết HV của mình theo quan hệ giữa các vai mình đảm nhận khác nhau sao cho phù hợp với những quy tắc mà nhóm đã đặt ra từ trước.Việc thực hiện các quy tắc của TC một cách nghiêm túc chính là yếu tố cơ bản của TC, từ đó khiến cho các thành viên hợp tác chặt chẽ với nhau hơn để cùng tiến hành hoạt động chơi với nhau Thông qua đó trẻ sẽ biết điều tiết HV của mình theo chuẩn mực XH thông qua vai chơi mình đang đóng, biết điều khiển HV của mình bằng ý chí, biết đặt ý muốn riêng

phục tùng mục đích chung của nhóm chơi

Nhờ có TC ĐVTCĐ mà trẻ em không tự coi mình chỉ có một mình như dưới 3 tuổi nữa mà trẻ đã nhận ra mình như một nhân vật trong đời sống XH, đảm nhiệm một chức năng XH Trẻ tự biến mình thành một nhân vật của XH, một con người như mọi người thông qua bất kỳ vai chơi nào mà trẻ đảm nhận trong TC ĐVTCĐ

1.3.5 Ý nghĩa của trò chơi đóng vai theo chủ đề đối với việc giáo dục hành vi ứng xử xã hội cho trẻ MG 5-6 tuổi

Nhà giáo dục N.K.Krupxkaia đã nhận định TC có ý nghĩa đặc biệt trong việc

GD tình cảm XH, HV đạo đức cho trẻ Trong TC ĐVTCĐ cần trẻ phải tham gia cùng nhau, không thể chơi một các riêng lẽ Vì vậy TC chơi rèn luyện được cho trẻ biết hành động cùng nhau, tính tự chủ, tự kiềm chế Theo N.K Krupxkaia thì trong quá trình vui chơi thì trẻ được học tính vượt khó khăn, nhận thức được thế giới xung quanh và tìm ra cách thức giải quyết vấn đề Thông qua TC ĐVTCĐ thì trẻ sẽ được

Trang 40

rèn luyện dần trở thành một con người có tính tổ chức, biết kiên trì vượt tới mục đích

Những tư tưởng của N.K.Krupxkaia đã được A.X.Makarenco phát triển trong quan điểm của mình Ông đánh giá TC có ý nghĩa to lớn đối với công tác GD trẻ

“Trong TC đứa trẻ như thế nào thì sau này cũng sẽ như thế trong công việc, vì vậy cho nên việc giáo dục người công dân trong tương lai được tiến hành trước hết trong chính trò chơi” (Nguyễn Ánh Tuyết, 1996, pp 150-188)

Trong việc hình thành và GD HVUXXH cho trẻ MG 5-6 tuổi thì TC ĐVTCĐ giữ một vai trò đặc biệt quan trọng Nhờ vào sự tích cực hoạt động thông qua các mối quan hệ chơi và quan hệ thực trong TC ĐVTCĐ mà trẻ được trải nghiệm, thực

hành các HVUX khác nhau và dần dần chuyển hóa thành HV bên trong của trẻ

1.4 Biện pháp giáo dục hành vi ứng xử xã hội cho trẻ MG 5-6 tuổi qua trò chơi đóng vai theo chủ đề

1.4.1 Khái niệm biện pháp, biện pháp giáo dục

- Theo Đại từ điển tiếng Việt của tác giả Nguyễn Như Ý chủ biên thì “Biện

pháp là cách làm, cách thức tiến hành, giải quyết một vấn đề cụ thể” (Nguyễn Như

Văn Văn Tảo, 2001, Hà Nội)

- Tác giả Nguyễn Thị Hòa định nghĩa “Biện pháp giáo dục mầm non là cách làm, cách thức cụ thể trong hoạt động hợp tác cụ thể cùng nhau giữa cô và trẻ nhằm thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ đã đặt ra ở lứa tuổi mầm non” (Nguyễn Thị Hòa,

2013)

Ngày đăng: 12/10/2021, 22:48

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w