1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

HỢP ĐỒNG DS VÀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG buổi thảo luận thứ hai vấn đề chung của hợp đồng

11 39 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 188,66 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đầu tiên, Tòa xét bên đề nghị chưa nhận được chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng vì C không thừa nhận đã nhận được chấp nhận giao kết hợp đồng của D và D cũng không chứng minh được mình

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ

HỒ CHÍ MINH KHOA QUẢN TRỊ

MÔN: HỢP ĐỒNG DS VÀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG

THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG

Buổi thảo luận thứ hai: Vấn đề chung của hợp đồng Nhóm 7:

Trang 2

Vấn đề 1: Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng

Nghiên cứu:

- Điều 394, Điều 400 BLDS 2015 và các quy định liên quan khác (nếu có);

- Tình huống:

Tháng 1 năm 2018, A (pháp nhân), B (cá nhân) và C (cá nhân) gửi cho D một đề nghị giao kết hợp đồng (là điều khoản về phương thức giải quyết tranh chấp, bằng văn bản và có chữ ký của cả

3 chủ thể) Tháng 1 năm 2020 và tháng 2 năm 2020, D đã gửi cho A và B chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng của mình nhưng D không chứng minh được đã gửi chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng cho C (C không thừa nhận đã nhận được chấp nhận đề nghị giao kết của D)

Sau đó, các bên có tranh chấp về sự tồn tại của Hợp đồng (thỏa thuận về giải quyết tranh chấp)

và Tòa án đã xét rằng: (1) bên đề nghị chưa nhận được chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng theo quy định của Điều 400 BLDS 2015; (2) chấp nhận chưa được thực hiện trong thời hạn hợp lý theo quy định của Điều 394 BLDS 2015 và (3) chấp nhận trên của D là đề nghị giao kết mới

Và cho biết: Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết của Tòa án đối với 3 vấn đề trên.

Theo nhóm em:

Hướng giải quyết của Tòa án đối với 3 vấn đề trên dựa theo các Điều 394, 400 BLDS 2015 là hợp lý

Đầu tiên, Tòa xét bên đề nghị chưa nhận được chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng

vì C không thừa nhận đã nhận được chấp nhận giao kết hợp đồng của D và D cũng không chứng minh được mình đã gửi bản chấp nhận cho C và các bên cũng không có thỏa thuận

về việc chấp nhận giao kết thông qua sự im lặng theo khoản 2 Điều 393 BLDS 2015 

Và theo Điều 400 BLDS2015 thì hợp đồng vẫn chưa được xác lập, tức hợp đồng chưa có tồn tại

Từ tháng 1/2018 bên đề nghị giao kết hợp đồng (A, B, C) đã gửi cho D (bên được đề nghị) một đề nghị giao kết hợp đồng bằng văn bản và có chữ ký của cả 3 chủ thể Nhưng tới tháng 1, tháng 2/2020 D mới gửi lại cho A, B chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng của mình, xét thấy thời hạn thực hiện chấp nhận đề nghị của D không hợp lý vì đã hơn 2 năm (2) nên theo khoản 1 Điều 394 BLDS 2015 thì chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng của D là đề nghị giao kết mới (3) Như vậy, việc D chấp nhận đã không còn xem là sự chấp nhận lời đề nghị giao kết với A,B,C mà lời này được xem là D đang đề nghị giao kết với A,B

Vấn đề 2: Sự ưng thuận trong quá trình giao kết hợp đồng

Nghiên cứu:

 Điều 393, Điều 396 BLDS 2015 (Điều 404 BLDS 2005) và các quy định liên quan khác (nếu có);

Trang 3

 Án lệ số 04/2016/AL ngày 06/4/2016 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao;

 Tình huống : Năm 2001, bà Chu và ông Bùi chuyển nhượng quyền sử dụng đất

của hộ (gồm 7 nhân khẩu) cho ông Văn Năm 2004, ông Văn đã xây dựng chuồng trại trên đất chuyển nhượng, các bên làm thủ tục chuyển nhượng để ông Văn được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và gia đình bà Chu, ông Bùi không ai có ý kiến gì Tuy nhiên, nay các con bà Chu và ông Bùi yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch chuyển nhượng vô hiệu vì chưa có sự đồng ý của họ

và Tòa án đã áp dụng Án lệ số 04/2016/AL

Và cho biết:

- Điểm mới của BLDS 2015 so với BLDS 2005 về vai trò của im lặng trong giao kết hợp

đồng?

- Việc Tòa án áp dụng Án lệ số 04/2016/AL để công nhận hợp đồng chuyển nhượng trong tình

huống trên có thuyết phục không? Vì sao?

Theo nhóm em:

- Điểm mới của BLDS 2015 so với BLDS 2005 về vai trò của im lặng trong giao kết hợp đồng là:

+ BLDS 2015 đã bổ sung chế định về im lặng trong giao kết hợp đồng Tại Khoản 2 Điều

393 BLDS 2015: “Sự im lặng của bên được đề nghị không được coi là chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng, trừ trường hợp có thỏa thuận hoặc theo thói quen đã được xác lập giữa các bên.” So với Khoản 2 Điều 404 BLDS 2005 “Hợp đồng dân sự cũng xem như được giao kết khi hết thời hạn trả lời mà bên nhận được đề nghị vẫn im lặng, nếu có thoả thuận

im lặng là sự trả lời chấp nhận giao kết.”

 Thì ở BLDS 2015 đã sửa đổi rằng im lặng không được xem chấp nhận đề nghị

mà ở BLDS 2005 thì chưa làm rõ được việc này và BLDS 2015 cũng đã mở rộng phạm vi, đối tượng điều chỉnh, phù hợp với thói quen, tập quán giao kết hợp đồng, mua bán hàng hóa.

- Việc Tòa án áp dụng Án lệ số 04/2016/AL để công nhận hợp đồng chuyển nhượng trong tình huống trên có thuyết phục không? Vì sao?

+ Khái quát nội dung của án lệ:

Trường hợp nhà đất là tài sản chung của vợ chồng mà chỉ có một người đứng tên ký hợp đồng chuyển nhượng nhà đất đó cho người khác, người còn lại không ký tên trong hợp đồng; nếu có đủ căn cứ xác định bên chuyển nhượng đã nhận đủ số tiền theo thỏa thuận, người không ký tên trong hợp đồng biết và cùng sử dụng tiền chuyển nhượng nhà đất; bên nhận chuyển nhượng nhà đất đã nhận và quản lý, sử dụng nhà đất đó công khai; người không ký tên trong hợp đồng biết mà không có ý kiến phản đối gì thì phải xác định là người đó đồng ý với việc chuyển nhượng nhà đất

+ Việc Tòa án áp dụng Án lệ số 04/2016/AL trong tình huống trên là không thuyết phục Vì Án

lệ số 04/2016/AL có nói đến “trường hợp nhà đất là tài sản chung của vợ chồng mà chỉ có một người đứng tên ký hợp đồng chuyển nhượng nhà đất đó cho người khác, người còn lại không

Trang 4

ký tên trong hợp đồng.” Ở tình huống trên mảnh đất được xem là tài sản chung của ông Bùi và

bà Chu thì hai người đều đã đồng ý chuyển nhượng lại quyền sử dụng đất nên Tòa áp dụng Án

lệ số 04/2016/AL này là không hợp lý

Vấn đề 3: Đối tượng của hợp đồng không thể thực hiện được

Nghiên cứu:

 Điều 408 BLDS 2015 (Điều 411 BLDS 2005) và các quy định liên quan (nếu có);

 Tình huống: Ông A thế chấp quyền sử dụng đất của mình cho Ngân hàng Hợp đồng thế chấp đã được xác lập phù hợp với quy định về hình thức, đăng ký nhưng trên đất có căn nhà thuộc sở hữu của người khác (không thuộc tài sản thế chấp) Khi có tranh chấp, Toà

án cấp sơ thẩm tuyên bố hợp đồng thế chấp vô hiệu do đối tượng không thể thực hiện được

Và cho biết:

 Những thay đổi và suy nghĩ của anh/chị về những thay đổi giữa BLDS 2015 và BLDS 2005 về chủ đề đang được nghiên cứu;

 Thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố vô hiệu hợp đồng do đối tượng không thể thực hiện được được xác định như thế nào? Vì sao?

 Toà án tuyên bố hợp đồng thế chấp trên vô hiệu do đối tượng không thể thực hiện được có thuyết phục không? Vì sao?

Theo nhóm em

- Những thay đổi và suy nghĩ của anh/chị về những thay đổi giữa BLDS 2015 và BLDS 2005 về chủ đề đang được nghiên cứu;

Thứ nhất : Khoản 1 Điều 408 BLDS 2015 đã bỏ cụng từ “ vì lí do khách quan” trong khoản 1 Điều 411 BLDS 2005.

Khoản 1 Điều 411 BLDS quy định trường hợp hợp đồng vô hiệu do không thể thực hiện được nhưng chỉ khoanh vùng ở trường hợp “ vì lí do khách quan” trong khi đó, thực tiễn vận dụng điều luật này cả cho trường hợp không thể thực hiện vì lí do “ chủ quan” như trường hợp các bên không thỏa thuận về các mặt tiếp giáp của mãnh đất được chuyển nhượng (đối với hợp đồng chuyển nhượng đất) hay đời máy cụ thể ( đối với hợp đồng mua bán máy móc, thiết bị) nên hợp đồng không thể thực hiện được

Thực ra, việc khoanh vùng như hiện nay không thuyết phục vì nếu áp dụng luật thì không thể thực hiện được vì lí do chủ quan không thể thực hiện được vì lí do chủ quan không làm cho hợp đồng vô hiệu, nhưng nếu hợp đồng không vô hiệu thì hợp đồng cũng không thể thực hiện được và trong trường hợp này vẫn không có câu trả lời thuyết phục

Do đó, BLDS 2015 bỏ đi cụm từ “vì lí do chủ quan” là hoàn toàn thuyết phục

Trang 5

Lí do khách quan hay chủ quan không ảnh hưởng đến khả năng vô hiệu hoá của hợp đồng mà chỉ ảnh hưởng tới lỗi lầm phát sinh trách nhiệm bồi thường

Thứ hai: Khoản1 Điều 408 BLDS 2015 thay từ “kí kết” trong Khoản 1 Điều 411 BLDS

2015 bằng từ “ giao kết

- Việc BLDS 2005 dùng từ “kí kết” hợp đồng và thuật ngữ này là không có tính bao quát

vì từ “kí kết” chỉ dùng cho hợp đồng văn bản có chữ kí trong khi đó hợp đồng có thể được hình thành mà không có chữ kí ( như hợp đồng miệng, hợp đồng giao kết thông qua

im lặng ) Để có tính bao quát hơn, BLDS 2015 đã dùngn từ “giao kết”, và việc thay đổi này là hoàn toàn chính xác, khắc phục được khuyết điểm của BLDS 2015

- Thứ ba: Khoản 3 Điều 408 BLDS 2015 đã thay cụm từ “giá trị pháp lý” trong khoản 3 Điều 411 BLDS 2005 bằng từ “hiệu lực”

- Hợp đồng vô hiệu thì chắc chắn là hợp đồng không có hiệu lực pháp lý, nhưng ngược lại, hợp đồng không có hiệu lực pháp lý đã phải là hợp đồng vô hiệu, mà có thể là hợp đồng chưa đực ký kết, đã ký kết nhưng bị đình chỉ hiệu lực hoặc đã hết hiệu lực Như vậy, dùng cụm từ “hiệu lực” sẽ tạo sự khái quát, bao quát hơn so với việc dùng cụm từ “ giá trị pháp lý” vì giá trị pháp lý chỉ mang ý nghĩa luật định, còn “hiệu lực” có ý nghĩa trong việc thực thi

( Tham khảo : “Bình luận khoa học những điểm mới của BLDS 2015” NXB Hồng Đức- Hội luật gia Việt Nam 2016 của PGS.TS Đỗ Quang Đại)

- Thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố vô hiệu hợp đồng do đối tượng không thể thực hiện được được xác định như thế nào? Vì sao?

Theo quy định tại Điều 408, BLDS 2015 thì “trường hợp ngay từ khi giao kết, hợp đồng

có đối tượng không thể thực hiện được thì hợp đồng này bị vô hiệu Nguyên nhân dẫn đến hợp đồng vô hiệu có đối tượng không thể

- Tòa án tuyên bố hợp đồng thế chấp trên vô hiệu do đối tượng không thực hiện được

có thuyết phục không? Vì sao?

Việc Tòa án tuyên bố hợp đồng trên vô hiệu do đối tượng không thực hiện được là có thuyết phục và đúng với quy định của pháp luật Vì:

+ Theo Khoản 1 Điều 408 BLDS 2015 quy định: “Trường hợp ngay từ khi giao kết, hợp đồng có đối tượng không thể thực hiện được thì hợp đồng này bị vô hiệu.” như vậy quyết định của Tòa án là phù hợp với quy định của pháp luật

+ Hơn nữa, nếu xét theo tính trung thực, tuy ông A thế chấp mảnh đất của mình cho ngân hàng nhưng căn nhà xây rên mảnh đất đó lại thuộc quyền sở hữu của chủ thể khác Vậy nếu trong trường hợp ông A không thực hiện nghĩa vụ với ngân hàng thì ngân hàng cũng không thể xác lập bất kỳ quan hệ nào đối với mảnh đất trên do căn nhà là tài sản không phải của ông A và cũng không phải là đối tượng của hợp đồng thế chấp giữa ông A và ngân hàng Như vậy, dù xét theo quy định của pháp luật hay xét theo tình huống giải quyết thực tế thì mảnh đất của ông A đều không có giá trị sử dụng nên không thể được dùng để thế chấp với ngân hàng

Trang 6

Vấn đề 4: Xác lập hợp đồng có giả tạo và nhằm tẩu tán tài sản.

Nghiên cứu:

 Điều 124 BLDS 2015 (Điều 129 BLDS 2005) và các quy định liên quan (nếu có);

 Bản án số 06/2017/DS-ST ngày 17/01/2017 của Toà án nhân dân TP Thủ Dầu Một tỉnh Bình Dương;

 Quyết định số 259/2014/DS-GĐT ngày 16/06/2014 của Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao

Và cho biết:

* Đối với vụ việc thứ nhất

Thế nào là giả tạo trong xác lập giao dịch?

Đoạn nào của Quyết định cho thấy các bên có giả tạo trong giao kết hợp đồng? Các bên xác lập giao dịch có giả tạo với mục đích gì?

Hướng giải quyết của Tòa án đối với hợp đồng giả tạo và hợp đồng bị che giấu

Suy nghĩ của anh/chị về hướng xử lý của Tòa án về hợp đồng giả tạo và hợp đồng

bị che giấu.

* Đối với vụ việc thứ hai

Vì sao Tòa án xác định giao dịch giữa vợ chồng bà Anh với vợ chồng ông Vượng

là giả tạo nhằm trốn tránh thực hiện nghĩa vụ với bà Thu?

Suy nghĩ của anh/chị về hướng xác định trên của Tòa án (giả tạo để trốn tránh nghĩa vụ)?

Cho biết hệ quả của việc Tòa án xác định hợp đồng trên là giao dịch nhằm trốn tránh nghĩa vụ.

Theo nhóm em:

* Tóm tắt vấn dề số 1

 Chủ thể:

Nguyên đơn: Bà Trần Thị Diệp Thủy, sinh năm 1980

Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Thanh Trang, sinh năm 1983

 Tranh chấp: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

 Lý do tranh chấp: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa nguyên đơn và bà Trang là vô hiệu vì đây là giao dịch giả tạo che giấu cho việc vay mượn và bà Trang có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn số tiền là

95.000.000 đồng, nguyên đơn không yêu cầu tính lãi suất

 Quyết định của tòa án: Tòa án Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất xác lập Trần Thị Diệp Thùy và bà Nguyễn Thị Thanh Trang theo hình thức “giấy thỏa thuận chuyển nhượng quyền sử dụng đất” ngày 23/11/2013 vô hiệu Đồng thời bà Nguyễn Thị Thanh Trang có nghĩa vụ trả lại cho bả Trần Thị Diệp Thủy số tiền đã nhận là 95.000.000

Trang 7

đồng (chín mươi lăm triệu đồng) Căn cứ theo khoản 1 Điều 124 BLDS 2015 “Khi các bên xác lập giao dịch dân sự một cách giả tạo nhằm che giấu một giao dịch dân sự khác thì giao dịch dân sự giả tạo vô hiệu, còn giao dịch dân sự bị che giấu vẫn có hiệu lực”

Vì sao tòa án quyết định như vậy: Ở trường hợp của nguyên đơn và bà Trang thì hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được xác lập ngày 23/11/2013 giữa nguyên đơn

và bà Trang là vô hiệu do giả tạo và giao dịch vay tài sản số tiền 100.000.000 đồng có hiệu lực Căn cứ theo khoản 1 Điều 124 BLDS 2015 “Khi các bên xác lập giao dịch dân

sự một cách giả tạo nhằm che giấu một giao dịch dân sự khác thì giao dịch dân sự giả tạo

vô hiệu, còn giao dịch dân sự bị che giấu vẫn có hiệu lực”

- Giả tạo trong xác lập giao dịch:

Căn cứ theo Khoản 1 và Khoản 2 Điều 124 BLDS 2015 “Khi các bên xác lập giao dịch dân sự một cách giả tạo nhằm che giấu một giao dịch dân sự khác thì giao dịch dân sự giả tạo vô hiệu, còn giao dịch dân sự bị che giấu vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp giao dịch đó cũng vô hiệu theo quy định của Bộ luật này hoặc luật khác có liên quan Trường hợp xác lập giao dịch dân sự giả tạo nhằm trốn tránh nghĩa vụ với

người thứ ba thì giao dịch dân sự đó vô hiệu” Theo đó Giả tạo trong xác lập giao

dịch là hành vi che giấu một giao dịch dân sự khác trong hợp đồng và là hành vi trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba trong cuộc giao dịch với mục đích thể hiện ý chí ra bên ngoài khác với ý chí nội tâm và kết quả thực hiện của các bên tham gia vào giao dịch

- Đoạn của Quyết định cho thấy các bên có giả tạo trong giao kết hợp đồng:

Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất xác lập giữa Trần Thị Diệp Thủy và bà Nguyễn Thị Thanh Trang theo hình thức “giấy thỏa thuận chuyển

nhượng quyền sử dụng đất” ngày 23/11/2013 vô hiệu Bà Nguyễn Thị Thanh

Trang có nghĩa vụ trả lại cho bà Trần Thị Diệp Thủy số tiền đã nhận là 95.000.000 đồng (chín mươi lăm triệu đồng)

+ Các bên xác lập giao dịch có giả tạo với mục đích:

Căn cứ theo Khoản 1 Điều 124 BLDS 2015 “Khi các bên xác lập giao dịch dân sự một cách giả tạo nhằm che giấu một giao dịch dân sự khác thì giao dịch dân sự giả tạo vô hiệu, còn giao dịch dân sự bị che giấu vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp giao

dịch đó cũng vô hiệu theo quy định của Bộ luật này hoặc luật khác có liên quan”,

các bên xác lập giao dịch có giả tạo với mục đích che giấu một giao dịch dân sự

khác Cụ thể ở trường hợp này, các bên xác lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với giá chuyển nhượng 200.000.0000 đồng nhằm che giấu cho việc

nguyên đơn (bà Thủy) cho bị đơn (bà Trang) vay số tiền 100.000.000 đồng

- Hướng giải quyết của Tòa án đối với hợp đồng giả tạo và hợp đồng bị che giấu:

Áp dụng Điều 124 Bộ luật Dân sự 2015 “Khi các bên xác lập giao dịch dân sự một cách giả tạo nhằm che giấu một giao dịch dân sự khác thì giao dịch dân sự giả tạo

vô hiệu, còn giao dịch dân sự bị che giấu vẫn có hiệu lực.”

Trang 8

Tòa án Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất xác lập Trần Thị

Diệp Thùy và bà Nguyễn Thị Thanh Trang theo hình thức “giấy thỏa thuận chuyển nhượng quyền sử dụng đất” ngày 23/11/2013 vô hiệu Đồng thời bà Nguyễn Thị

Thanh Trang có nghĩa vụ trả lại cho bả Trần Thị Diệp Thủy số tiền đã nhận là

95.000.000 đồng (chín mươi lăm triệu đồng)

- Suy nghĩ của anh/chị về hướng xác định trên của Tòa án (giả tạo để trốn tránh nghĩa vụ)?

Căn cứ theo Điều 124 và Điều 131 BLDS 2015 thì hướng giải quyết của Tòa án là hợp lý Vì:

+ Tòa án đã xác minh được hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa nguyên đơn và bà Trang là hợp đồng giả tạo do chính hai bên đều thừa nhận đây là giao dịch giả tạo để che giấu cho việc nguyên đơn cho bị đơn vay số tiền là 100.000.000 đồng Dựa theo Điều 124 BLDS 2015 quy định giao dịch dân sự giả tạo nhằm che giấu một giao dịch khác thì giao dịch giả tạo vô hiệu, do đó hợp đồng chuyển nhượng đất giữa nguyên đơn và bị đơn bị Tòa án tuyên bố vô hiệu là hợp lý

+ Do bà Trang xác nhận có vay tiền của nguyên đơn số tiền là 100.000.000 đồng do đó giao dịch vay tiền giữa nguyên đơn và bị đơn là giao dịch che dấu Dựa theo Điều 124 BLDS 2015 thì giao dịch che dấu vẫn có hiệu lực Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi cho các bên, Tòa án tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng đất giữa bà Thủy và bà Trang vô hiệu, hợp đồng bị che dấu vẫn có hiệu lực và bà Trang có nghĩa vụ trả lại số tiền cho bà Thủy không cần lãi suất là hợp lý

+ Do Tòa án tuyên bố giao dịch giả tạo vô hiệu vì thế dựa theo Điều 131 BLDS 2015 thì hai bên hoàn trả cho nhau những gì đã nhận và không cần bồi thường Theo tôi, quyết định của Tòa án là hợp lý

* Tóm tắt vụ việc thứ 2:

Nguyên đơn là bà Võ Thị Thu, bị đơn là bà Đặng Thị Kim Anh, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là ông Hà Quang Học (chồng của bà Anh), ông Đặng Quý Vượng (anh trai của bà Anh), và bà Ngô Thị Ánh Nga (vợ của ông Vượng), ông Nguyễn Trọng Kim và bà Đoàn Thị Hồng Hiệp (vợ của ông Kim)

Tranh chấp: hợp đồng vay tài sản và hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

Lý do tranh chấp: Năm 2009 bà Đặng Thị Kim Anh vay bà Võ Thị Thu 3 lần tiền, cụ thể: Ngày 10/7/2009 vay 2,1 tỷ đồng, ngày 11/7/2009 vay 1 tỷ đồng, ngày 17/7/2009 vay 600 triệu đồng, tất cả các lần vay bà Anh đều viết giấy tay và ký, việc vay nợ không thế chấp tài sản, thỏa thuận lãi suất 3%/tháng và tổng cộng số nợ là 3,7 tỷ đồng, thỏa thuận miệng thời hạn vay 15 ngày Ngày 11/02/2010, bà Anh trả cho bà Thu 600 triệu tiền gốc còn tiền lãi từ vay đến nay bà Anh chưa trả, nên bà Thu khởi kiện yêu cầu vợ chồng bà Anh cùng có trách nhiệm trả bà số tiền gốc còn nợ là 3,1 tỷ đồng và tiền lãi theo lãi suất Nhà nước quy định kể từ ngày vay cho đến khi Tòa

án xét xử sơ thẩm Vợ chồng bà Anh cam kết chuyển nhượng nhà đất (đang có tranh chấp) để trả

Trang 9

nợ cho bà Thu, có giá thực tế nhà đất là 5,6 tỷ đồng, nhưng hai bên thỏa thuận chuyển nhượng chỉ với giá 680 triệu đồng và thực tế các bên cũng chưa hoàn tất thủ tục chuyển nhượng

Tòa án giải quyết: Tại bản án dân sự sơ thẩm số 10/2012/DS-ST ngày 04/07/2012, Tòa án nhân dân huyện Xuyên Mộc quyết định:

- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Thu với vợ chồng bà Anh là yêu cầu vợ chồng bà Anh trả cho bà Thu số tiền 3.962.850.000 đồng, trong đó số tiền gốc là 3,1 tỷ và số tiền lãi là 862.850 đồng

- Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở ký ngày 26/08/2010 giữa vợ chồng bà Anh và ông Vượng vô hiệu Yêu cầu vợ chồng bà Anh có trách nhiệm trả lại 4 tỷ đồng cho ông Vượng Buộc ông Vượng trả lại cho vợ chồng bà Anh toàn bộ nhà, đất cùng giấy tờ nhà, đất theo hợp đồng chuyển nhượng đã được ký ngày 26/8/2010 tại Phòng công chứng Hòa Bình

- Tiếp tục duy trì quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số

02/2011/QĐ-BPKCTT ngày 06/4/2011 và quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số

04/2011/QĐ-BPKCTT ngày 27/6/2011 của Tòa án nhân dân huyện Xuyên Mộc để đảm bảo việc thi hành án cho bà Võ Thị Thu

Tại bản án dân sự phúc thẩm số 56/2018/DS-PT ngày 14/9/2012, Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu, quyết định:

- Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm về phần “tranh chấp hợp đồng vay tài sản” Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Thu đối với vợ chồng bà Anh

- Hủy bỏ quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 02/2011/QĐ-BPKCTT ngày 06/4/2011 và quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 04/2011/QĐ-BPKCTT ngày 27/6/2011 Bà Thu được nhận lại các tài sản bảo đảm cho việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời gồm: số tiền 200 triệu đồng và các giấy tờ sở hữu, sử dụng tài sản đang được Chi cục thi hành án dân sự huyện Xuyên Mộc quản lý theo biên bản giao nhận ngày 15/7/2011 giữa Chi cục thi hành án dân sự và Tòa án nhân dân huyện Xuyên Mộc

- Hủy bỏ bản án dân sự sơ thẩm số 10/2012/DS-ST ngày 04/07/2012 về phần “tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” và đình chỉ việc giải quyết phần này của vụ án

Tại phiên tòa giám đốc thẩm quyết định:

- Chấp nhận kháng nghị số 78/2014/KN-DS ngày 20/3/2014 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao đối với bản án dân sự phúc thẩm số 56/2012/DS-PT ngày 14/9/2012 của Tòa

án nhân dân tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu;

- Hủy toàn bộ Bản án dân sự phúc thẩm số 56/2012/DS-PT ngày 14/9/2012 của Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu

- Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân Bà Rịa-Vũng Tàu xét sử phúc thẩm lại theo đúng quy định pháp luật

Trang 10

- Vì sao Toà án xác định giao dịch giữa vợ chồng bà Anh với vợ chồng ông Vượng là giả tạo nhằm trốn tránh thực hiện nghĩa vụ với bà Thu ?

Vì trong quá trình giải quyết vụ án , thì vợ chồng bà Anh đã thừa nhận là còn nợ của bà Thu 3,1 tỷ đồng, bà đồng ý trả bà Thu 3,1 tỷ đồng tiền gốc và lãi theo quy định Cùng lúc đó, đang có tranh chấp về nhà đất thì vợ chồng bà Anh lại cam kết chuyển nhượng nhà đất để trả nợ cho bà Thu, nhưng sau đó vợ chồng bà Anh không thực hiện cam kết với bà Thu mà lại làm thủ tục chuyển nhượng nhà đất trên cho vợ chồng ông Vượng Vì vậy theo pháp luật thì thỏa thuận chuyển nhượng nhà đất giữa vợ chồng bà Anh với vợ chồng ông Vượng là giả tạo vì thời điểm đó trên giá thực tế nhà đất là gần 5,6 tỷ đồng, nhưng hai bên lại thỏa thuận chuyển nhượng có 680 triệu đồng Đồng thời trên thực tế các bên cũng chưa hoàn tất thủ tục chuyển nhượng nhà đất, hành động trên nhằm mục đích trốn tránh thực hiện nghĩa vụ với bà Thu

- Suy nghĩ của anh/chị về hướng xác định trên của Tòa án (giả tạo để trốn tránh nghĩa vụ)?

Hướng xác định trên của Tòa án là chính xác Theo căn cứ pháp lý khoản 2 điều 124

bộ luật dân sự 2015 (BLDS 2015) Hợp đồng chuyển nhượng nhà, đất giả tạo để trốn tránh nghĩa vụ bị vô hiệu do trường hợp trên đã thỏa mãn được 2 ý của khoản 2 điều

124 BLDS 2015 là xác lập giao dịch giả tạo nhằm mục đích trốn tránh nghĩa vụ đối với bên thứ 3

Xác lập giao dịch giả tạo:

Vợ chồng bà Anh đi cam kết chuyển nhượng nhà đất (đang có tranh chấp) cho vợ chồng ông Vượng để trả nợ cho bà Thu, nhưng trong quá trình chuyển nhượng vợ chồng Anh không thực hiện cam kết với bà Thu làm thủ tục về việc chuyển nhượng nhà đất cho vợ chồng ông Vượng Song, thỏa thuận chuyển nhượng giữa vợ chồng bà Anh và vợ chồng ông Vượng không phù hợp với thực tế vì giá thực tế nhà đất là 5,6 tỷ đồng nhưng các bên chuyển nhượng chỉ có 680 triệu đồng và các bên cũng chưa hoàn tất thủ tục chuyển nhượng

Trốn tránh nghĩa vụ với bên thứ 3:

Vợ chồng bà Anh đang phải thực hiện nghĩa vụ trả số tiền 3,1 tỷ cả gốc lẫn lãi cho bà Thu theo hợp đồng vay mà bà Anh đã viết tay và ký theo từng đợt

- Cho biết hệ quả của việc Tòa án xác định hợp đồng trên là giao dịch nhằm trốn tránh nghĩa vụ.

Theo căn cứ pháp lý khoản 2 điều 124 và khoản 2 điều 131 BLDS 2015

+ Hệ quả thứ 1 áp dụng theo căn cứ pháp lý khoản 2 điều 124 BLDS 2015: hợp đồng chuyển nhượng giữa vợ chồng bà Anh và vợ chồng ông Vượng bị vô hiệu nhưng hợp đồng vay của vợ chồng bà Anh với bà Thu còn hiệu lực, nên vợ chồng bà Anh vẫn có trách nhiệm phải trả lại số tiền nợ cả gốc lẫn lãi cho bà Thu

+ Hệ quả thứ 2 áp dụng theo căn cứ pháp lý khoản 2 điều 131 BLDS 2015: hợp đồng chuyển nhượng của vợ chồng Anh với vợ chồng ông Vượng bị vô hiệu nên các bên sẽ quay về con số 0 Có nghĩa là vợ chồng bà Anh hoàn trả lại tiền chuyển nhượng 4 tỷ

Ngày đăng: 12/10/2021, 19:18

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w