Với mục tiêu là đề ra các biện pháp hạn chế rủi ro tại Ngân hàng sau khi phân tích thực trạng rủi ro tín dụng tại Ngân hàng, tác giả sử dụng phương pháp định tính, thống kê và phân tích
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP HỒ CHÍ MINH
LÊ KIẾN LÂM TUYỀN
HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG TMCP AN BÌNH (ABBANK)
Trang 2TÓM TẮT KHÓA LUẬN
Ngân hàng thương mại chiếm một vai trò quan trọng trong nền kinh tế, xã hội và đời sống mỗi người Đây là nơi người dân an tâm gửi tiền khi có tiền nhàn rỗi, vay vốn khi cần tiền để sản xuất kinh doanh, phục vụ đời sống, Do đó các Ngân hàng thương mại luôn nằm trong sự quản lý chặt chẽ của pháp luật và nhà nước để đảm bảo sự hoạt động của Ngân hàng an toàn Vì đây là ngành kinh doanh dựa trên tiền bạc và là nơi nắm giữ tiền của người dân nên việc kiểm soát các rủi ro trong hoạt động càng được quan tâm nhiều hơn
Thông qua quá trình thực tập và nghiên cứu tại Ngân hàng thương mại cổ phần
AN Bình, tác giả thực hiện đề tài khóa luận: “Hạn chế rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP An Bình chi nhánh TP Hồ Chí Minh” Với mục tiêu là đề ra các biện pháp hạn chế rủi ro tại Ngân hàng sau khi phân tích thực trạng rủi ro tín dụng tại Ngân hàng, tác giả sử dụng phương pháp định tính, thống kê và phân tích để thấy được những mặt còn hạn chế trong công tác quản lý rủi ro tín dụng của Ngân hàng Qua quá trình phân tích có thể thấy hoạt động tín dụng của Ngân hàng trong thời gian vừa qua có sự tăng trưởng ổn định nhưng cũng còn nhiều mặt hạn chế Từ những hạn chế và nguyên nhân đó, tác giả sẽ đề ra những biện pháp giảm thiểu rủi
ro tín dụng trong quá trình hoạt động của Ngân hàng, góp phần làm hoạt động kinh doanh của Ngân hàng an toàn và tốt hơn
Trang 3ABSTRACT
Commercial banks play an important role in the economy, society and deepening
of each person's life the life of each person It is not only a place for people to deposit money, save money, borrow capital when needed to produce business, but also provide financial support to customers when they need to buy houses, buy cars
to service and improve the quality of life, help them to have financial resources for study abroad or invest Especially in the modern industrialization era, when the economy is expanded and developed, the speed of human life is faster, the services and products of the bank need to be changed and replaced to meet all the needs of client With the advancement of technology and science technology, banks are gradually developing, bringing the most convenience to customers Customers do not need to go to a bank or a bank branch when they want to make transactions such
as money transfer, bill payment anymore, but just through the application on the phone can be to do so easily It is also because the banking products and services are more and more convenient, so the risks associated with it are also increasing Commercial banks are always in the strict control of the law and the state to ensure the operation of the Bank safe and effective As this is a money-based business and
a place to hold people's money, the more operational risk management is concerned Bank risk can come from a number of factors such as unusual changes in policies, natural disasters, storms and floods, due to the unstable economy; loose legal environment, lack of synchronization; political and social changes at domestic and foreign; the fluctuation of the economy, Or the risk may come from within the bank itself such as loose credit policy, the staff do not comply with regulations, the department is not effective, ethics bad employee, internal control is not tight; or may also be from the customer that the bank is serving such as poor business ability, ability to organize business production of the leadership is limited; customers use the wrong capital’s purpose; clients are not willing to repay, Risk can come from many sides and cannot be avoided In the Bank's activities, credit activities are considered as an important area, bringing the main profit, affecting the
Trang 4existence and development of the Bank This is also the most risky activity for the Bank The impact of the credit risk will cause bad consequences for the Bank, particularly the business results of the Bank is reduced, bringing the Bank into bankruptcy And even higher it will affect the whole banking system and the whole economy
In recent years, the state has restructured the bank system and accelerated the handling of bad debts, contributing to the country's economic development in the new period However, there are still unresolved issues in the implementation process Credit information is lacking of credibility and transparency, the handling
of security assets in the bank still face many difficulties, existing loans, debt is difficult to recover These issues will lead to risks to the Bank if not handled well The assessment, appraisal and good management of loans, disbursements will limit the credit risks that the bank will face, and will inevitably reduce bad loans for the Bank Therefore, how to manage credit risk effectively is a problem that commercial banks, managers and researchers are very interested in, especially in the financial and financial situation in global fluctuations as today
Throughout the internship and research process at An Binh Commercial Joint
Stock Bank, the author has conducted a thesis entitled "Credit risk mitigation at An
Binh Commercial Joint Stock Bank - Ho Chi Minh City Branch" The objective
of this thesis is to set risk mitigation measures in the Bank after analyzing the current situation of credit risk at the Bank By collecting data from bank documents, the author uses qualitative, statistical and analytical methods to see the limited aspects of the Bank's credit risk management
The lecture is divided into three chapters Chapter one is an overview of credit risk at banks This chapter at first will discuss the concept of credit activity at commercial banks, and also write about the classification as well as the characteristics of credit operations Next, the author will present concepts, classification and criteria for credit risk assessment In addition, the causes of credit risk as well as the consequences of the risk will also be discussed in this chapter In
Trang 5addition, chapter one will also include lessons learned in mitigating risks of banks around the world so that banks in Vietnam can learn Chapter one will provide a theoretical basis for the author to analyze the bank's current situation in the next chapter
In chapter two, the author will analyze the current credit risk situation in ABBANK Firstly, the author will present an overview of the formation process as well as the information about An Binh Commercial Joint Stock Bank and Ho Chi Minh City Branch such as vision, mission, core values of the bank and business performance of the branch In addition, the products and services that banks are providing now as well as the credit granting process will also be covered in this chapter Next, the author will analyze the current credit situation of the branch to see the performance of the branch in the past then the author analyzes the credit risk at the branch through the criteria mentioned in chapter one, including overdue debt, bad debt and credit risk reserve It will conclude that the results the branch has achieved, the causes that exist and the reasons for that limitation This would be the basis for suggesting banking measures to limit credit risk in the next chapter
Chapter three is also the final chapter of the thesis Chapter three will work out solutions to mitigate credit risks and also make recommendations to the State Bank
of Vietnam and ABBANK itself to create a more efficient working environment First in this chapter are the bank's future directions, the proposed measures must be consistent with the objectives of the bank, contributing to improve the bank's operational efficiency and credit quality In the next section, based on the causes and limitations of the bank in chapter two, the author will propose measures to reduce the risk of the bank Finally, the author will present recommendations to the State Bank and the bank itself to improve and improve the quality of factors affecting the operation of the bank
Through the process of analysis, it can be seen that the Bank's credit activities in recent years have had stable growth but also many limitations Credit growth of banks has increased, with the proportion of individual customers increasing rapidly
Trang 6This is a good trend when personal credit is needed more and more because each individual is increasingly demanding in the use of capitals and this is also the trend
of banks in the world In terms of borrowing terms, short-term loans account for the majority of total loans, suggesting that the bank has a fast turnover that can meet the working capital needs of businesses and individuals Outstanding debt is also accompanied by increased risks After analysis, it can be see that the bank's overdue debt increased, especially two indicators of doubtful loan and potential loss loan These two indicators increase that show the ability to control the bank loans are still limited In addition, the bad debt ratio of the branch decreased slightly from the previous year, which is a positive sign for the bank, suggesting that the measures to reduce the bad debt of the bank are effective but not significant Bad debt declined slightly in part due to both overdue debt and doubtful debt, while these two also accounted for a high proportion of bad debt Therefore, firstly to reduce bad debt proportion, the bank needs to control the loans, encourage customers to pay debts to reduce the two indicators of overdue debt After analyzing, it can be seen that the bank has some results such as bad debt ratio decrease ; The structure of outstanding loans is no longer dominated by corporate customers; the number of individual customers also increases each year; provisioning ratio decreased, Along with the remaining limitations such as the slow growth rate of credit debt; indicators of doubtful loan and potential loss loan rise;… The reason of these restrictions can be mentioned as: Internal guidelines are not clearly guided; The staff has not been effective; The information source is lacking and authenticity is not high;…
From these limitations and causes, the author will propose measures to minimize credit risks in the course of operation of the Bank as specific guidance documents, internal regulations in the Bank; Constantly improving the quality of our staff; Improve the quality of credit information , supply with some recommendations to the State Bank and banks to build a healthy, safe, effective and prestigious banking system for the people
Trang 8LỜI CAM ĐOAN
Khóa luận này là công trình nghiên cứu riêng của tác giả, kết quả nghiên cứu là
trung thực, trong đó không có các nội dung đã được công bố trước đây hoặc các nội dung do người khác thực hiện ngoại trừ các trích dẫn được dẫn nguồn đầy đủ trong khóa luận
Trang 9MỤC LỤC
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI CÁC NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI 1
1.1 Tổng quan về hoạt động tín dụng tại các NHTM 1
1.1.1 Khái niệm của tín dụng Ngân hàng 1
1.1.2 Phân loại tín dụng Ngân hàng 1
1.1.2.1 Phân loại theo mục đích sử dụng tín dụng 1
1.1.2.2 Phân loại theo thời hạn cấp tín dụng 2
1.1.2.3 Phân loại theo xuất xứ/ nguồn gốc của khoản tín dụng 2
1.1.2.4 Phân loại theo tính chất đảm bảo/ mức độ tín nhiệm của người vay 3
1.1.2.5 Phân loại tín dụng theo hình thức cấp tín dụng 3
1.1.3 Đặc điểm tín dụng Ngân hàng 5
1.2 Rủi ro tín dụng trong hoạt động của NHTM 8
1.2.1 Khái niệm về rủi ro tín dụng 8
1.2.2 Phân loại rủi ro tín dụng 8
1.2.3 Các tiêu chí đánh giá rủi ro tín dụng 10
1.2.3.1 Nợ quá hạn 10
1.2.3.2 Nợ xấu 12
1.2.3.3 Dự phòng rủi ro tín dụng 13
1.2.4 Nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng 13
1.2.4.1 Nguyên nhân từ phía Ngân hàng 13
1.2.4.2 Nguyên nhân từ phía khách hàng 15
1.2.4.3 Nguyên nhân khác 16
1.2.5 Hậu quả của rủi ro rín dụng 17
1.3 Kinh nghiệm một số nước về hạn chế rủi ro tín dụng 18
1.3.1 Kinh nghiệm của Mỹ 18
1.3.2 Kinh nghiệm Ngân hàng ANZ Australia 19
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG TMCP AN BÌNH CHI NHÁNH TP HỒ CHÍ MINH 22
Trang 102.1 Tổng quan về Ngân hàng TMCP An bình và chi nhánh TP Hof Chí Minh 22
2.1.1 Tổng quan về Ngân hàng TMCP An bình 22
2.1.2 Tổng quan về Ngân hàng An Bình chi nhánh Tp Hồ Chí Minh 24
2.2 Thực trạng hoạt động tín dụng tại Ngân hàng TMCP An Bình chi nhánh TP Hồ Chí Minh 29
2.2.1 Các sản phẩm tín dụng 29
2.2.1.1 Đối với cá nhân 29
2.2.1.2 Đối với khách hàng Doanh Nghiệp 34
2.2.2 Quy trình cấp tín dụng 39
2.2.3 Kết quả hoạt động tín dụng 40
2.3 Thực trạng rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP An Bình chi nhánh TP Hồ Chí Minh 42
2.3.1 Phân loại nợ 42
2.3.2 Nợ quá hạn 43
2.3.3 Nợ xấu 45
2.3.4 Dự phòng rủi ro tín dụng 46
2.4 Đánh giá rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP An Bình chi nhánh TP Hồ Chí Minh 47
2.4.1 Những kết quả đạt được 47
2.4.2 Những hạn chế còn tồn tại 48
2.4.3 Nguyên nhân hạn chế 48
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NHẰM HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG TMCP AN BÌNH CHI NHÁNH TP HỒ CHÍ MINH 51
3.1 Định hướng phát triển hoạt động kinh doanh trong thời gian tới của Ngân hàng TMCP An Bình 51
3.2 Giải pháp hạn chế rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP An Bình chi nhánh Tp Hồ Chí Minh 52
3.2.1 Hướng dẫn cụ thể các văn bản, qui định nội bộ trong Ngân hàng 52
3.2.2 Không ngừng nâng cao chất lượng đội ngũ nhân viên 52
Trang 113.2.3 Nâng cao chất lượng thông tin tín dụng 53
3.2.4 Tăng cường kiểm soát khoản vay sau khi cấp tín dụng 54
3.2.5 Nâng cao chất lượng thẩm định dự án 54
3.3 Kiến nghị 55
3.3.1 Đối với Ngân hàng nhà nước 55
3.3.2 Đối với Ngân hàng TMCP An Bình 55
TÀI LIỆU THAM KHẢO 59
Trang 13DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 1 1 Phân loại rủi ro tín dụng 8
Hình 2 1 Sơ đồ quy trình cấp tín dụng 39
DANH MỤC BẢNG Bảng 2 1 Tình hình huy động vốn của ABBank chi nhánh Tp Hồ Chí Minh 24
Bảng 2 2 So sánh tăng trưởng huy động vốn 25
Bảng 2 3 Kết quả hoạt động cho vay của ABBank chi nhánh Tp Hồ Chí Minh 26
Bảng 2 4 Kết quả hoạt động kinh doanh của ABBank 27
Bảng 2 5 So sánh kết quả hoạt động kinh doanh 28
Bảng 2 6 Dư nợ theo đối tượng khách hàng 40
Bảng 2 7 So sánh dư nợ theo đối tượng khách hàng 41
Bảng 2 8 Dư nợ theo thời hạn cấp tín dụng 41
Bảng 2 9 Nợ quá hạn của ABBank chi nhánh TP.HCM 43
Bảng 2 10 So sánh nợ quá hạn 44
Bảng 2 11 Tỷ lệ nợ xấu của ABBank chi nhánh Tp Hồ Chí Minh 45
Bảng 2 12 Cơ cấu nợ xấu 45
Bảng 2 13 Dự phòng rủi ro tín dụng của ABBank chi nhánh Tp Hồ Chí Minh 46
Bảng 2 14 So sánh dự phòng rủi ro tín dụng 46
Bảng 2 15 Sự thay đổi dự phòng rủi ro tín dụng 46
Trang 14PHẦN MỞ ĐẦU
1 Giới thiệu đề tài
Ngân hàng thương mại là một thành phần quan trọng, gắn liền với sự phát triển của nền kinh tế Với sự thay đổi và phát triển không ngừng, các hoạt động dịch vụ của Ngân hàng càng đi sâu vào nền kinh tế và đời sống con người Trong các hoạt động của Ngân hàng thì hoạt động tín dụng được xem là lĩnh vực quan trọng, mang nguồn lợi nhuận chủ yếu, ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển của Ngân hàng Đồng thời đây cũng là hoạt động mang lại nhiều rủi ro nhất cho Ngân hàng Tác động của rủi ro tín dụng sẽ gây hậu quả xấu cho Ngân hàng, cụ thể là kết quả kinh doanh của Ngân hàng bị giảm sút, đưa Ngân hàng đến tình trạng phá sản
Trong thời gian vừa qua, nhà nước thực hiện tái cơ cấu hệ thống tổ chức tín dụng
và đẩy mạnh việc xử lý nợ xấu, góp phần phát triển kinh tế đất nước trong giai đoạn mới Tuy nhiên trong quá trình thực hiện vẫn có những vấn đề chưa được giải quyết Thông tin tín dụng thiếu sự tin cậy và minh bạch, việc xử lý tài sản bảo đảm tại Ngân hàng vẫn còn gặp nhiều khó khăn, tồn đọng các khoản cho vay, công nợ khó thu hồi Những vấn đề này sẽ dẫn đến những rủi ro cho Ngân hàng nếu không được xử lý tốt Do đó, việc tìm ra các biện pháp hạn chế rủi ro tín dụng là mối quan tâm hàng đầu của các nhà quản lý và nhà nghiên cứu
Qua việc học tập, tìm hiểu khi thực tập tại Ngân hàng TMCP An Bình, tác giả đã
chọn đề tài “Hạn chế rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP An Bình chi nhánh
TP Hồ Chí Minh” làm đề tài nghiên cứu
2 Mục tiêu nghiên cứu
Phân tích thực trạng về tình hình tín dụng và rủi ro tín dụng tại Ngân hàng An Bình chi nhánh TPHCM, tìm hiểu các nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng và các điểm còn hạn chế của Ngân hàng Từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm hạn chế rủi
ro tín dụng tại Ngân hàng An Bình
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là những lý luận cơ bản về rủi ro tín dụng
Trang 15Phạm vi nghiên cứu: khảo sát hoạt động của Ngân hàng An Bình trong ba năm
2015, 2016, 2017
4 Phương pháp nghiên cứu
Khóa luận sử dụng phương pháp định tính, phương pháp thống kê, phương pháp phân tích tổng hợp
Thu thập số liệu: các báo cáo, tài liệu của Ngân hàng TMCP An Bình, thông tin trên
Trang 16CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI CÁC NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI
Chương 1 sẽ trình bày tổng quan về hoạt động tín dụng và rủi ro tín dụng trong Ngân hàng, những nguyên nhân thường gặp khi rủi ro tín dụng xảy ra và các bài học kinh nghiệm từ các nước khác
1.1 Tổng quan về hoạt động tín dụng tại các NHTM
1.1.1 Khái niệm của tín dụng Ngân hàng
Tín dụng Ngân hàng là một hình thức tín dụng vô cùng quan trọng, nó là một quan hệ tín dụng chủ yếu, cung cấp phần lớn nhu cầu tín dụng cho các doanh nghiệp, các thể nhân khác trong nền kinh tế Với công nghệ Ngân hàng hiện nay, tín dụng Ngân hàng càng trở thành một hình thức tín dụng không thể thiếu ở cả trong nước và quốc tế Tín dụng Ngân hàng là quan hệ tín dụng giữa một bên là Ngân hàng còn bên kia là các tác nhân và thể nhân khác trong nền kinh tế
Tín dụng Ngân hàng là một giao dịch giữa hai chủ thể, trong đó bên cấp tín dụng (Ngân hàng/ Tổ chức tín dụng khác) chuyển giao một tài sản cho bên nhận tín dụng (doanh nghiệp, cá nhân hoặc các chủ thể khác) sử dụng theo nguyên tắc có hoàn trả
- Tín dụng cho sản xuất kinh doanh
Gồm tất cả các khoản tín dụng tài trợ cho lĩnh vực sản xuất kinh doanh (SXKD) Chủ thể vay có thể là các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế, các hộ kinh tế cá thể… với nhiều mục đích đa dạng, chẳng hạn vay bổ sung vốn lưu động theo thời vụ, vay đầu
tư cải tạo, xây dựng nhà xưởng, mua máy móc thiết bị…
- Tín dụng tiêu dùng
Loại hình tín dụng này đáp ứng cho các nhu cầu mua sắm nhà cửa, xe cộ, chi tiêu, sinh hoạt cá nhân/ hộ gia đình…
Trang 17- Tín dụng đối với các tổ chức tài chính khác
Những khoản tín dụng này thường được các Tổ chức tín dụng (TCTD)/ Ngân hàng lớn tài trợ cho các tổ chức tín dụng nhỏ, nhằm đáp ứng một phần nhu cầu vốn của các tổ chức này Khác với những khoản tín dụng cho SXKD hoặc tiêu dùng thường được cung cấp trực tiếp cho người có nhu cầu – “bán lẻ”, những tín dụng đối với tổ chức tài chính khác được xem là những khoản tín dụng cung cấp dưới dạng “bán sỉ/buôn”
1.1.2.2 Phân loại theo thời hạn cấp tín dụng
Có 3 loại tín dụng phân theo thời hạn:
- Tín dụng ngắn hạn
Gồm những khoản tín dụng có thời lượng trong vòng 12 tháng trở xuống Mục đích chủ yếu của các khoản tín dụng này thường là tài trợ vốn lưu động thiếu hụt theo thời vụ cho các doanh nghiệp, những khoản vay tiêu dùng có thời hạn ngắn Khách hàng vay đa dạng thuộc nhiều tầng lớp khác nhau trong nền kinh tế, trong xã hội
- Tín dụng trung hạn
Gồm những khoản tín dụng có thời hạn sử dụng tín dụng trên 12 tháng cho đến
60 tháng (5 năm) Mục đích của những khoản tín dụng này thường là tài trợ cho tài sản cố định, ví dụ mua sắm cải tạo sửa chữa nhà ở, mua máy móc dây chuyền công nghệ trong các doanh nghiệp, bổ sung vốn lưu động thường xuyên
- Tín dụng dài hạn
Mục đích tài trợ tương tự như tín dụng trung hạn, tuy nhiên thời gian sử dụng tín dụng trên 5 năm trở lên Những dự án đầu tư quy mô lớn của doanh nghiệp, các khoản vay mua nhà của cá nhân… thuộc dạng này
1.1.2.3 Phân loại theo xuất xứ/ nguồn gốc của khoản tín dụng
- Tín dụng trực tiếp
Gồm những khoản tín dụng được hình thành trực tiếp trong quan hệ giữa Ngân hàng và người vay (Ngân hàng trực tiếp tìm hiểu phân tích về người vay trước khi chấp nhận cấp tín dụng, hai bên sẽ thỏa thuận và ký kết hợp đồng tín dụng)
Trang 18- Tín dụng gián tiếp
Gồm những khoản tín dụng được Ngân hàng thực hiện trên cơ sở mua lại các khoản nợ chưa đến hạn thanh toán trên các phiếu bán hàng, thương phiếu… từ người sở hữu chúng Các hình thức chiết khấu, bao thanh toán, tài trợ bán trả góp đều thuộc dạng này
1.1.2.4 Phân loại theo tính chất đảm bảo/ mức độ tín nhiệm của người
- Tín dụng không có đảm bảo
Là loại tín dụng chỉ dựa trên uy tín của chính người nhận tín dụng, hiệu quả kinh
tế và khả năng trả nợ từ dòng tiền của phương án/ dự án vay, không cần phải có các biện pháp đảm bảo tiền vay đi kèm Các NHTM có quyền chủ động và tự chịu trách nhiệm trong việc lựa chọn khách hàng để cấp tín dụng không có đảm bảo Thông thường chỉ có những khách hàng vay có uy tín cao, quan hệ lâu dài, thường xuyên với Ngân hàng, phương án vay có hiệu quả kinh tế, dòng tiền trả nợ rõ ràng, chắc chắn, ngoài ra còn phải cam kết thực hiện bảo đảm bằng tài sản khi TCTD yêu cầu thì mới được Ngân hàng chấp nhận cấp tín dụng không có đảm bảo
1.1.2.5 Phân loại tín dụng theo hình thức cấp tín dụng
Thông thường các Ngân hàng cấp tín dụng theo các hình thức sau đây:
- Cho vay
Trang 19Là hình thức cấp tín dụng, trong đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi
- Chiết khấu
Chiết khấu là việc mua có kỳ hạn hoặc mua có bảo lưu quyền truy đòi các công
cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác của người thụ hưởng trước khi đến hạn thanh toán
- Bảo lãnh Ngân hàng
Bảo lãnh Ngân hàng là hình thức cấp tín dụng, theo đó Ngân hàng cam kết với bên nhận bảo lãnh về việc sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng khi khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đã cam kết; khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho Ngân hàng theo thỏa thuận
- Bao thanh toán
Bao thanh toán là hình thức cấp tín dụng cho bên bán hàng hoặc bên mua hàng thông qua việc mua lại có bảo lưu quyền truy đòi các khoản phải thu hoặc các khoản phải trả phát sinh từ việc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ theo hợp đồng mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ
- Cho thuê tài chính
Cho thuê tài chính là hình thức cấp tín dụng trung dài hạn trên cơ sở hợp đồng cho thuê tài chính và phải có một trong các điều kiện sau đây:
Khi kết thúc thời hạn cho thuê theo hợp đồng, bên thuê được nhận chuyển quyền sở hữu tài sản cho thuê theo hợp đồng hoặc tiếp tục thuê theo thỏa thuận của 2 bên
Khi kết thúc thời hạn cho thuê theo hợp đồng, bên thuê được quyền ưu tiên mua tài sản cho thuê theo giá danh nghĩa thấp hơn giá trị thực tế của tài sản cho thuê tại thời điểm mua lại
Thời hạn cho thuê một tài sản ít nhất bằng 60% thời gian cần thiết để khấu hao tài sản cho thuê đó
Trang 20 Tổng số tiền cho thuê một tài sản quy định tại hợp đồng cho thuê tài chính
ít nhất phải bằng giá trị tài sản của tài sản đó tại thời điểm ký hợp đồng
Cùng với sự lớn mạnh về quy mô hoạt động, uy tín của các Ngân hàng trong nền kinh tế cũng gia tăng, từ đó xuất hiện một loại hình tín dụng Ngân hàng độc đáo với tên gọi là tín dụng chữ ký Thực chất của loại hình tín dụng này là những cam kết thanh toán có điều kiện mà Ngân hàng cung cấp cho khách hàng của mình Trong giao dịch đó, Ngân hàng không chuyển giao tiền hoặc tài sản thực cho khách hàng, nhưng thực hiện dưới các hình thức cụ thể như bảo lãnh Ngân hàng, tín dụng chứng
từ với công cụ thư tín dụng, hối phiếu chấp nhận của Ngân hàng…
- Rủi ro trong tín dụng Ngân hàng có tính tất yếu, không thể loại trừ hoàn toàn
Không chỉ tín dụng Ngân hàng, tất cả các giao dịch tín dụng nói chung đều dựa trên cơ sở của lòng tin Rủi ro tín dụng (RRTD) sẽ xảy ra khi một trong hai yếu tố:
Trang 21khả năng trả nợ và/ hoặc thiện chí trả nợ không được hình thành đầy đủ Trong hai yếu tố đó thiện chí trả nợ là một yếu tố vô hình (không thể cân đong đo đếm được chúng), do vậy rủi ro tín dụng là một yếu tố xuất phát từ bản chất của quan hệ tín dụng, Ngân hàng không thể triệt tiêu, loại bỏ hoàn toàn được RRTD Mặt khác trong quá trình khách hàng sử dụng tín dụng, có nhiều biến cố khách quan ngoài tầm kiểm soát của cả Ngân hàng lẫn khách hàng, làm cho khả năng trả nợ thay đổi,
vì vậy độ rủi ro tiềm ẩn trong quan hệ tín dụng là khá cao, các Ngân hàng chỉ có thể kiểm soát, giảm thiểu, hạn chế nó mà thôi Một loạt các biện pháp đảm bảo an toàn trong hoạt động tín dụng như: xây dựng chính sách tín dụng nhằm định hướng cho công tác quản trị RRTD, thiết lập quy trình cấp tín dụng gồm nhiều bước, nhiều giai đoạn nhằm kiểm soát chặt chẽ quy trình cấp tín dụng, áp dụng các biện pháp bảo đảm thu hồi nợ thông qua thế chấp, cầm cố tài sản, bảo lãnh của bên thứ ba, xây dựng chính sách lãi suất thích hợp đảm bảo bù đắp rủi ro, quy định vốn đối ứng từ phía khách hàng, quy định các điều khoản ràng buộc chặt chẽ trong hợp đồng tín dụng
- Sự hoàn trả đầy đủ cả gốc và lãi là bản chất của tín dụng nới chung và tín dụng
Ngân hàng nói riêng
Sự khác biệt giữa tín dụng và những giao dịch khác chính là ở sự hoàn trả Tuy nhiên trong tín dụng Ngân hàng thì sự hoàn trả cực kỳ quan trọng (do bản chất hoạt động Ngân hàng là kinh doanh chênh lệch lãi xuất) Để đảm bảo hoàn trả đầy đủ cả gốc và lãi, trong nghiệp vụ tín dụng phải cân nhắc 2 yếu tố căn bản là:
Xác định thời hạn và kỳ hạn tín dụng phải hợp lý: Thời hạn tín dụng được xác định căn cứ vào các yếu tố sau:
+ Thời gian luân chuyển của đối tượng cấp tín dụng là cơ sở khách quan cho việc xác định thời hạn tín dụng
+ Khả năng tài chính/ thu nhập của khách hàng cũng là một yếu tố chi phối việc xác định thời hạn và kỳ hạn tín dụng
Trang 22Trong nghiệp vụ tín dụng, bên cạnh thời hạn cấp tín dụng, các Ngân hàng còn phải quan tâm đến kỳ hạn trả gốc và lãi Hiện tại có các phương pháp hoàn trả nợ sau đây:
+ Trả góp: khoản nợ sẽ được hoàn trả thành nhiều kỳ hạn, mỗi kỳ hạn một phần nợ (gồm gốc và lãi) sẽ được trả, cho đến khi thời hạn vay chấm dứt, toàn bộ nợ sẽ được trả hết Thông thường trả góp xuất hiện trong phương thức cho vay từng lần, cho vay trung dài hạn và cho vay tiêu dùng cá nhân
+ Phi trả góp: khoản nợ gốc sẽ được hoàn trả một lần, không chia nhỏ như trong trả góp Còn lãi có thể được trả theo nhiều định kỳ hoặc trả một lần khi kết thúc thời hạn vay Phương pháp hoàn trả này thường áp dụng trong cho vay từng lần, cho vay tiêu dùng cá nhân
+ Trả tuần hoàn nhiều lần, không có kỳ hạn xác định: đây là phương pháp hoàn trả thường được sử dụng tuần hoàn theo diễn biến chi thu của khách hàng
Chính sách lãi suất tín dụng cần phải đảm bảo một cách hài hòa giữa mục tiêu lợi nhuận của Ngân hàng và được nền kinh tế chấp nhận:
Về nguyên tắc, lãi suất tín dụng phải bù đắp được các chi phí Ngân hàng bỏ ra trong quá trình hoạt động và tạo lợi nhuận cho Ngân hàng Tuy nhiên tín dụng không chỉ nhằm tạo ra lợi nhuận cho bản thân Ngân hàng, mà còn là đòn bẩy phát triển kinh tế, do vậy lãi suất tín dụng phải thấp hơn tỷ suất lợi nhuận bình quân của nền kinh tế Nếu các yếu tố trên không được thỏa mãn, hệ thống Ngân hàng và/ hoặc các khách hàng của họ sẽ gặp khó khăn, từ đó ảnh hưởng đến nền kinh tế nói chung
- Sự hoàn trả trong tín dụng Ngân hàng là vô điều kiện
Các chứng từ được hình thành trong quan hệ tín dụng Ngân hàng như hợp đồng tín dụng, giấy nhận nợ, khế ước nợ,… đều thể hiện trên đó nội dung cam kết hoàn trả vô điều kiện cho Ngân hàng khi khoản nợ đến hạn Đây chính là những ràng
Trang 23buộc pháp lý mà khách hàng phải tuân thủ trong quá trình sử dụng tín dụng của Ngân hàng (Bùi Diệu Anh, 2016)
1.2 Rủi ro tín dụng trong hoạt động của NHTM
1.2.1 Khái niệm về rủi ro tín dụng
Rủi to tín dụng là rủi ro do một khách hàng hay một nhóm khách hàng vay vốn không trả được nợ cho Ngân hàng Trong kinh doanh Ngân hàng rủi ro tín dụng là loại rủi ro lớn nhất, thường xuyên xảy ra và gây hậu quả nặng nề có thể dẫn đến phá sản
Căn cứ theo khoản 01 điều 02 của Quyết định số 493/2005/QĐ – NHNN ngày 22/04/2005 của Thống đốc NHNN quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dựng phòng để xử lý rủi ro thì: “Rủi ro tín dụng trong hoạt động Ngân hàng của TCTD là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động Ngân hàng của TCTD do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết.”
Ngày nay, nhu cầu về vốn để mở rộng SXKD, cải tiến trang thiết bị kỹ thuật, nâng cao công nghệ và các nhu cầu phục vụ SXKD luôn tăng lên Để đáp ứng nhu cầu này, các NHTM cũng phải luôn mở rộng quy mô hoạt động tín dụng, điều đó có nghĩa là RRTD cũng phát sinh nhiều hơn
Rủi ro tín dụng là loại rủi ro phức tạp nhất, việc quản lý và phòng ngừa nó rất khó khăn, nó có thể xảy ra ở bất cứ đâu, bất cứ lúc nào Rủi ro tín dụng nếu không được phát hiện và xử lý kịp thời sẽ nảy sinh các rủi ro khác
1.2.2 Phân loại rủi ro tín dụng
Hình 1 1 Phân loại rủi ro tín dụng
Rủi ro tín dụng
Rủi ro giao dịch Rủi ro danh mục
Rủi ro lựa chọn
Rủi ro đảm
Rủi ro nghiệp
Rủi ro nội tại
Rủi ro tập trung
Trang 24- Rủi ro giao dịch là loại rủi ro tín dụng phát sinh trong quá trình giao dịch tín dụng giữa Ngân hàng và khách hàng Rủi ro giao dịch mang nặng tính chủ quan của bên cho vay trong quá trình tác nghiệp gồm:
Rủi ro lựa chọn là loại rủi ro phát sinh trong quá trình đánh giá, phân tích khách hàng thiếu bao quát, nhiều sơ hở, lựa chọn phương án vay vốn và thu nợ thiếu cân nhắc dẫn đến rủi ro
Rủi ro đảm bảo là rủi ro về các vấn đề liên quan đến đảm bảo tài sản như điều khoản đảm bảo tín dụng thiếu chặt chẽ, rõ ràng; Danh mục TSĐB thiếu tính cụ thể; Hình thức đảm bảo và phương pháp xử lý tài sản còn bất cập; Tỷ lệ đảm bảo tài sản thiếu dứt khoát, rõ ràng
Rủi ro nghiệp vụ là rủi ro liên quan đến công tác quản lý khoản vay và hoạt động cho vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và
kỹ thuật xử lý các khoản vay có vấn đề
- Rủi ro danh mục là loại hình rủi ro tín dụng phát sinh trong quản lý danh mục cho vay của Ngân hàng Rủi ro danh mục vừa mang tính chủ quan lại vừa chịu tác động của các nhân tố khách quan Rủi ro danh mục bao gồm rủi ro nội tại và rủi ro tập trung:
Rủi ro nội tại xuất phát từ các yếu tố, các đặc điểm riêng có, mang tính riêng biệt bên trong của mỗi chủ thể đi vay hoặc ngành, lĩnh vực kinh tế
Nó xuất phát từ đặc điểm hoạt động hoặc đặc điểm sử dụng vốn của khách hàng vay vốn
Rủi ro tập trung phát sinh trong trường hợp Ngân hàng tập trung vốn cho vay quá nhiều đối với một số khách hàng, cho vay quá nhiều doanh nghiệp hoạt động trong cùng một ngành, lĩnh vực kinh tế, hoặc trong cùng một vùng địa lý nhất định; hoặc cùng một loại hình cho vay có rủi ro cao (Nguyễn Đăng Dờn, 2012)
Trang 251.2.3 Các tiêu chí đánh giá rủi ro tín dụng 1.2.3.1 Nợ quá hạn
Nợ quá hạn là chỉ tiêu cơ bản phản ánh RRTD Nợ quá hạn sẽ phát sinh khi đến thời hạn trả nợ theo cam kết, người vay không có khả năng trả được nợ một phần hay toàn bộ khoản vay cho người cho vay Tùy theo thời gian quá hạn, khoản nợ này sẽ được xác định là nợ đủ tiêu chuẩn, nợ cần chú ý, nợ dưới tiêu chuẩn, nợ nghi ngờ, hoặc là nợ có khả năng mất vốn Nếu Ngân hàng có chỉ tiêu nợ quá hạn và số khách hàng có nợ quá hạn lớn thì Ngân hàng đó đang có mức rủi ro cao và ngược lại
Theo thông tư số 02/2013/TT-NHNN của NHNN thì nợ được phân loại thành 5 nhóm:
1) Nhóm 1: Nợ đủ tiêu chuẩn bao gồm:
- Nợ trong hạn và được đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ cả nợ gốc và lãi đúng hạn;
- Nợ quá hạn dưới 10 ngày và được đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ
nợ gốc và lãi bị quá hạn và thu hồi đầy đủ nợ gốc và lãi còn lại đúng thời hạn;
3) Nhóm 3: Nợ dưới tiêu chuẩn bao gồm:
- Nợ quá hạn từ 91 ngày đến 180 ngày;
Trang 26 Nợ của khách hàng hoặc bên bảo đảm là tổ chức, cá nhân thuộc đối tượng
mà tổ chức tín dụng, chi nhánh Ngân hàng nước ngoài không được cấp tín dụng theo quy định của pháp luật;
Nợ được bảo đảm bằng cổ phiếu của chính tổ chức tín dụng hoặc công ty con của tổ chức tín dụng hoặc tiền vay được sử dụng để góp vốn vào một
tổ chức tín dụng khác trên cơ sở tổ chức tín dụng cho vay nhận tài sản bảo đảm bằng cổ phiếu của chính tổ chức tín dụng nhận vốn góp;
Nợ không có bảo đảm hoặc được cấp với điều kiện ưu đãi hoặc giá trị vượt quá 5% vốn tự có của tổ chức tín dụng, chi nhánh Ngân hàng nước ngoài khi cấp cho khách hàng thuộc đối tượng bị hạn chế cấp tín dụng theo quy định của pháp luật;
Nợ cấp cho các công ty con, công ty liên kết của tổ chức tín dụng hoặc doanh nghiệp mà tổ chức tín dụng nắm quyền kiểm soát có giá trị vượt các
tỷ lệ giới hạn theo quy định của pháp luật;
Nợ có giá trị vượt quá các giới hạn cấp tín dụng, trừ trường hợp được phép vượt giới hạn, theo quy định của pháp luật;
Nợ vi phạm các quy định của pháp luật về cấp tín dụng, quản lý ngoại hối
và các tỷ lệ bảo đảm an toàn đối với tổ chức tín dụng, chi nhánh Ngân hàng nước ngoài;
Nợ vi phạm các quy định nội bộ về cấp tín dụng, quản lý tiền vay, chính sách dự phòng rủi ro của tổ chức tín dụng, chi nhánh Ngân hàng nước ngoài
- Nợ đang thu hồi theo kết luận thanh tra;
- Tỷ lệ trích lập dự phòng cụ thể là 20%
4) Nhóm 4: Nợ nghi ngờ bao gồm:
- Nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày;
- Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dưới 90 ngày theo thời hạn trả
nợ được cơ cấu lại lần đầu;
- Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai;
Trang 27- Nợ phải thu hồi theo kết luận thanh tra nhưng đã quá thời hạn thu hồi đến
60 ngày mà vẫn chưa thu hồi được;
- Tỷ lệ trích lập dự phòng cụ thể là 50%
5) Nhóm 5: Nợ có khả năng mất vốn bao gồm:
- Nợ quá hạn trên 360 ngày;
- Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn từ 90 ngày trở lên theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu;
- Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai quá hạn theo thời hạn trả nợ được
cơ cấu lại lần thứ hai;
- Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ ba trở lên, kể cả chưa bị quá hạn hoặc
đã quá hạn;
- Nợ phải thu hồi theo kết luận thanh tra nhưng đã quá thời hạn thu hồi trên
60 ngày mà vẫn chưa thu hồi được;
- Nợ của khách hàng là tổ chức tín dụng được Ngân hàng Nhà nước công bố đặt vào tình trạng kiểm soát đặc biệt, chi nhánh Ngân hàng nước ngoài bị phong tỏa vốn và tài sản;
- Tỷ lệ trích lập dự phòng cụ thể là 100%
1.2.3.2 Nợ xấu
Nợ xấu là các khoản tiền cho khách hàng vay, mà khó hoặc không thể thu hồi được do DN đó làm ăn thua lỗ hoặc phá sản, nợ phải trả tăng, DN mất khả năng thanh toán Nợ xấu sẽ phản ánh một cách rõ nét chất lượng tín dụng của Ngân hàng thông qua việc đánh giá cả thời hạn quá hạn của khoản vay và tiêu chí đánh giá rủi ro của khoản vay
Nợ xấu được phản ánh rõ nhất qua các chỉ số:
Tỷ lệ nợ xấu = Nợ xấu/Tổng dư nợ
Tỷ lệ nợ xấu trên vốn chủ sở hữu = Nợ xấu/Vốn chủ sở hữu
Tỷ lệ nợ xấu trên quỹ dự phòng tổn thất = Nợ xấu/Quỹ dự phòng tổn thất
Trang 28Như đã trình bày ở trên, nợ quá hạn được phân làm 5 nhóm tùy thuộc vào thời gian quá hạn của nợ, trong đó, nợ nhóm 3 đến nợ nhóm 5 được xem là nợ xấu, gồm:
Nợ dưới tiêu chuẩn, nợ nghi ngờ mất vốn và nợ có khả năng mất vốn
1.2.3.3 Dự phòng rủi ro tín dụng
Dự phòng rủi ro đánh giá khả năng chi trả của Ngân hàng khi rủi ro xảy ra Mục đích của việc sử dụng dự phòng rủi ro của một Ngân hàng là nhằm bù đắp tổn thất đối với những khoản nợ của Ngân hàng xảy ra trong trường hợp khách hàng không
có khả năng chi trả do giải thể, phá sản, chết, mất tích, hoặc khi khoản nợ được xếp vào nhóm 5
Dự phòng tín dụng được tính trên số dư nợ gốc của khách hàng bao gồm: (i) Dự phòng cụ thể - để bảo hiểm rủi ro cụ thể cho từng khoản vay; (ii) Dự phòng chung - bảo hiểm các rủi ro chung không xác định trong danh mục tín dụng và toàn bộ dự phòng được tính vào chi phí hoạt động của doanh nghiệp
Việc sử dụng dự phòng được sử dụng theo nguyên tắc là sử dụng dự phòng cụ thể đối với từng khoản nợ trước, phát mại tài sản đảm bảo để thu hồi nợ, và cuối cùng nếu phát mãi tài sản không đủ thu hồi nợ thì mới sử dụng dự phòng chung Mỗi Ngân hàng cần có cách tính dự phòng phù hợp vừa đủ để bù đắp rủi ro vừa tránh để chi phí tăng cao ảnh hưởng đến thu nhập ròng Chỉ số thể hiện dự phòng RRTD:
Tỷ lệ dự phòng RRTD = Dự phòng RRTD được trích lập/ Tổng dư nợ cho kỳ báo cáo
Hệ số khả năng bù đắp cho các khoản vay bị mất = Dự phòng RRTD được trích lập/ Dư nợ bị xóa
Hệ số bù đắp rủi ro tín dụng = Dự phòng RRTD được trích lập/ Nợ quá hạn khó đòi
1.2.4 Nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng 1.2.4.1 Nguyên nhân từ phía Ngân hàng
Thực tế kinh doanh của Ngân hàng trong thời gian qua cho thấy rủi ro tín dụng xảy ra là do những nguyên nhân sau:
Trang 29- Chất lượng thông tin tín dụng chưa tốt: Chất lượng của thông tin có tác động trực tiếp đến những quyết định của Ngân hàng Nếu lượng thông tin không đủ, tính xác thực không cao cũng như không nắm hết những thông tin về khách hàng sẽ khiến Ngân hàng đưa ra những quyết định sai lầm như cấp tín dụng cho khách hàng có khả năng hoàn trả kém, từ đó dẫn đến tỷ lệ rủi ro tín dụng tăng cao
- Công tác kiểm tra nội bộ Ngân hàng chưa hiệu quả: Trong Ngân hàng, kiểm tra nội bộ lúc nào cũng nhanh hơn thanh tra của Ngân hàng trung ương Việc kiểm tra thường xuyên sẽ phát hiện kịp thời các vấn đề, rủi ro phát sinh, đề ra được các biện pháp nhanh chóng Ngược lại, Ngân hàng sẽ khó nhận biết được sai sót của cán bộ nhân viên tín dụng, khiến Ngân hàng có thể chịu những tổn thất lớn
- Do cán bộ Ngân hàng chưa chấp hành đúng quy trình cho vay như: không đánh giá đầy đủ, chính xác khách hàng trước khi cho vay, cho vay khống, thiếu tài sản đảm bảo, cho vay vượt tỷ lệ an toàn Đồng thời cán bộ Ngân hàng không kiểm tra, giám sát chặt chẽ về tình hình sử dụng vốn vay của khách hàng
- Do trình độ nghiệp vụ của cán bộ tín dụng còn hạn chế nên việc đánh giá các dự án, hồ sơ xin vay chưa tốt, xảy ra tình trạng dự án thiếu tính khả thi
mà vẫn cho vay
- Thiếu sự giám sát và quản lý sau khi cấp tín dụng: Ngân hàng không chỉ nên tập trung vào quá trình trước khi cấp tín dụng cho khách hàng mà phải lưu ý đến quá trình kiểm tra, kiểm soát món tín dụng sau khi cho vay Việc theo dõi hoạt động của khách hàng nhằm đảm bảo sự tuân thủ của khách hàng đối với các khoản đã đề ra trong hợp đồng, phát hiện những vấn đề và kịp thời đề ra phương án xử lý
- Cán độ thiếu đạo đức: Vấn đề đạo đức đối với mỗi cán bộ nhân viên rất quan trọng, đặc biệt là trong Ngân hàng, vì những nhân viên này là những người trực tiếp thực hiện các nhu cầu về tiền bạc cho khách hàng như giải
Trang 30ngân, thu nợ, cầm cố, Cán bộ Ngân hàng nếu thiếu tinh thần trách nhiệm,
vi phạm đạo đức kinh doanh thì có thể sẽ thông đồng với khách hàng lập hồ
sơ giả, nâng giá tài sản đảm bảo, giả giấy tờ của khách hàng để rút tiền,…
Do đó có thể thấy, nếu Ngân hàng có một đội ngũ nhân viên trung thực, trách nhiệm, không tham lam thì vấn đề về rủi ro tín dụng sẽ hạn chế tốt hơn
- Sự hợp tác của các Ngân hàng thiếu sự liên kết: các NHTM vẫn luôn cạnh tranh với nhau để thu hút khách hàng, tuy nhiên điều này không có nghĩa là các Ngân hàng không hợp tác với nhau để phát triển tốt hơn Khi hợp tác với nhau, các Ngân hàng có thể trao đổi thông tin của khách hàng, nâng cao được chất lượng thông tin Sự cạnh tranh không lành mạnh giữa các Ngân hàng có thể dẫn đến việc quá trình thẩm định khách hàng trở nên sơ sài, qua loa Nhiều Ngân hàng khi quá chú tâm vào lợi nhuận sẽ chấp nhận rủi ro, cấp những khoản vay có lợi nhuận cao nhưng lại không an toàn
- Quy trình cấp tín dụng chưa chặt chẽ, còn sơ hở trong quá trình xét duyệt
hồ sơ, thủ tục Khi quy trình có sự thay đổi, CBNV đôi khi không được hướng dẫn cụ thể, rõ ràng, dẫn đến những sai lầm trong quá trình thực hiện, gây ra rủi ro tín dụng
- Chính sách tín dụng của Ngân hàng lỏng lẽo Các Ngân hàng chỉ quan tâm đến lợi nhuận, cạnh tranh với các NHTM khác nên đã nới lỏng chính sách tín dụng, cho vay những khách hàng không đủ điều kiện hay có lịch sử tín dụng không tốt Việc cho vay không có sự chọn lọc như vậy sẽ làm tăng tỷ
lệ bị vỡ nợ của Ngân hàng, mức độ rủi ro tăng cao, dễ dàng gây ra tổn thất cho chính Ngân hàng
1.2.4.2 Nguyên nhân từ phía khách hàng
- Do trình độ kinh doanh yếu kếm, khả năng tổ chức điều hành SXKD của lãnh đạo còn hạn chế: Đối với các khách hàng là doanh nghiệp, khả năng kinh doanh của ban lãnh đạo là một vấn đề quyết định sự sống còn của doanh nghiệp Nếu ban lãnh đạo thiếu kinh nghiệm quản lý điều hành trong
Trang 31lĩnh vực kinh doanh đang tham gia thì sẽ là một rủi ro tiềm ẩn khá lớn dẫn đến việc kinh doanh thua lỗ, mất khả năng trả nợ cho Ngân hàng Đây là rủi
ro tín dụng mà Ngân hàng khó lường trước và không thể tránh khỏi
- Khách hàng sử dụng vốn sai mục đích: Khi giải ngân cho khách hàng, Ngân hàng rất quan tâm đến việc mục đích sử dụng vốn của khách hàng Khách hàng thường phải có phương án sử dụng và hoàn trả cụ thể thì mới được Ngân hàng cho vay Cán bộ tín dụng sẽ xem xét dựa trên thông tin mà hách hàng cung cấp mới quyết định sẽ cho khách hàng vay bao nhiêu, trong thời hạn bao lâu Tuy nhiên, Ngân hàng cũng không thể nào hoàn toàn kiểm soát được hoạt động của khách hàng Có những khách hàng có ý sử dụng sai mục đích nên không đảm bảo được việc trả nợ, gây tổn thất và mất uy tín cho Ngân hàng
- Đối với khách hàng là doanh nghiệp, việc SXKD thiếu sự linh hoạt, không cải tiến quy trình công nghệ, không trang bị máy móc hiện đại, không thay đổi mẫu mã hoặc nghiên cứu nâng cao chất lượng sản phẩm dẫn tới sản phẩm thiếu sự cạnh tranh, bị ứ đọng trên thị trường khiến cho doanh nghiệp không có khả năng thu hồi vốn trả nợ cho Ngân hàng
- Khách hàng thiếu thiện chí trong việc trả nợ: Đây là vấn đề liên quan đến đạo đức của khách hàng, nên cán bộ thẩm định sẽ khó phát hiện Khi khách hàng đã có ý định lừa đảo thì các thông tin cá nhân sẽ được che đậy, ngụy tạo để dễ chiếm được lòng tin của Ngân hàng Cán bộ thẩm định cần có sự nhạy bén, đồng thời quy trình tín dụng chặt chẽ, sự tuân thủ nghiêm ngặt của các CBNV để nhận biết được những khách hàng có ý đồ không tốt này
1.2.4.3 Nguyên nhân khác
- Do sự thay đổi bất thường của các chính sách, do thiên tai bão lũ, do nền kinh tế không ổn định khiến cho cả Ngân hàng và khách hàng không thể ứng phó kịp
Trang 32- Do môi trường pháp lý lỏng lẻo, thiếu đồng bộ, còn nhiều sơ hở dẫn tới không kiểm soát được các hiện tượng lừa đảo trong việc sử dụng vốn của khách hàng
- Do sự biến động về chính trị - xã hội trong và ngoài nước gây khó khăn cho doanh nghiệp dẫn tới rủi ro cho Ngân hàng
- Ngân hàng không theo kịp đà phát triển của xã hội, nhất là sự bất cập trong trình độ chuyên môn cũng như công nghệ Ngân hàng
- Do sự biến động của kinh tế như suy thoái kinh tế, biến động tỷ giá, lạm phát gia tăng ảnh hưởng tới doanh nghiệp cũng như Ngân hàng
- Sự bất bình đẳng trong đối sử của Nhà nước dành cho các NHTM khác nhau
- Chính sách Nhà nước chậm thay đổi hoặc chưa phù hợp với tình hình phát triển đất nước
1.2.5 Hậu quả của rủi ro rín dụng
- Đối với Ngân hàng:
Ngân hàng thường được gọi là ngành kinh doanh rủi ro, vì Ngân hàng hoạt động dựa trên kinh doanh tiền tệ Không chỉ gánh chịu những rủi ro trang quá trình kinh doanh mà Ngân hàng còn chịu rủi ro từ bên ngoài Rủi ro tín dụng sẽ làm ảnh hưởng đến hoạt động của Ngân hàng mà trước tiên là làm giảm thu nhập của Ngân hàng Nếu rủi ro xảy ra ở mức độ nhỏ thì Ngân hàng có thể bù đắp bằng khoản dự phòng rủi ro (ghi vào chi phí) và bằng vốn tự có, tuy nhiên nó sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới khả năng mở rộng kinh doanh của Ngân hàng Nghiêm trọng hơn, nếu rủi ro xảy ra ở mức độ lớn, nguồn vốn của Ngân hàng không đủ bù đắp, vốn khả dụng bị thiếu, Ngân hàng mất khả năng thanh toán, phải đi vay từ nhiều nguồn khác nhau,
uy tín của Ngân hàng trên thị trường tài chính sẽ bị giảm đi nghiêm trọng Hơn nữa
tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ cao cũng là một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá không tốt về tình hình hoạt động của Ngân hàng, điều này sẽ ảnh hưởng đến tâm lý đối tác của Ngân hàng, dẫn đến việc huy động vốn trở nên khó khăn hơn và gặp nhiều trở ngại trong việc cạnh tranh với các Ngân hàng khác
Trang 33- Đối với hệ thống Ngân hàng
Các Ngân hàng thương mại không chỉ hoạt động độc lập mà còn có mối liên hệ mật thiết với hệ thống Ngân hàng, các tổ chức kinh tế, xã hội cũng như là các cá nhân trong nền kinh tế Do đó khi một Ngân hàng mất khả năng thanh toán, thậm chí dẫn đến phá sản, việc này sẽ tác động trực tiếp đến hệ thống Ngân hàng và các
bộ phận kinh tế khác Với tâm lý sợ mất tiền, người dân và các tổ chức đang có tiền gửi tại Ngân hàng kéo đến ồ ạt đến rút tiền, việc này sẽ đẩy những Ngân hàng khác cũng rơi vào tình trạng tương tự Để tránh trường hợp này xảy ra, Ngân hàng nhà nước và Chính phủ phải có sự can thiệp kịp thời để ổn định tâm lý của người dân
- Đối với nền kinh tế:
Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động kinh doanh của Ngân hàng liên quan đến các thành phần kinh tế từ cá nhân, hộ gia đình, các tổ chức kinh tế cho tới các tổ chức tín dụng khác Hoạt động kinh doanh của Ngân hàng không thể có kết quả tốt khi hoạt động kinh doanh của nền kinh tế chưa tốt hay nói cách khác hoạt động kinh doanh của Ngân hàng sẽ có nhiều rủi ro khi hoạt động kinh tế có nhiều rủi ro Rủi ro xảy ra dẫn tới tình trạng mất ổn định trên thị trường tiền tệ, gây khó khăn cho các doanh nghiệp SXKD, làm ảnh hưởng tiêu cực đối với nền kinh tế và đời sống xã hội Do đó, phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng không những là vấn đề sống còn với Ngân hàng mà còn là yêu cầu cấp thiết của nền kinh tế góp phần vào sự ổn định
1.3 Kinh nghiệm một số nước về hạn chế rủi ro tín dụng
1.3.1 Kinh nghiệm của Mỹ
Thực tế hoạt động tín dụng của các Ngân hàng thương mại ở Mỹ cho thấy, để việc kiểm soát rủi ro tín dụng hiệu quả cần:
- Thứ nhất, cần duy trì mối quan hệ lâu dài với khách hàng và phục vụ nhu cầu
về tài chính của họ Kết quả là Ngân hàng hiểu nhiều hơn về tình hình tài chính của khách hàng, đồng thời khách hàng sẽ có được một nguồn hỗ trợ lâu dài với dịch vụ tín dụng
Trang 34- Thứ hai, chú trọng việc thẩm định khoản vay hơn là việc kiểm soát khoản
vay Quá trình thẩm định sơ sài, cắt giảm hoặc làm tắt các bước đều sẽ dẫn đến các khoản nợ xấu Bộ phận thẩm định cần đánh giá đúng tình trạng của từng khách hàng hơn là dựa vào các phương pháp và công thức tự động
- Thứ ba, cần yêu cầu khách hàng chứng tỏ được kinh nghiệm của mình trong
quá trình kinh doanh, cung cấp thế chấp cả tài sản cá nhân và tài sản doanh nghiệp cho dù là TSĐB có cần thiết hay không để tạo ra động lực trả nợ cho khách hàng đối với khoản vay
- Thứ tư, quyết định cho vay nên được tập trung cho một cán bộ hoặc một
nhóm để bảo đảm tính thống nhất và kiểm soát
- Thứ năm, luôn theo dõi các khoản vay để sớm phát hiện những dấu hiệu của
khoản vay xấu trong tương lai Cách tốt nhất để xác định các dấu hiệu là luôn giữ mối liên hệ với khách hàng, không đợi cho đến khi khoản vay trở nên quá hạn
- Thứ sáu, việc tìm các các phương pháp thu hồi nợ quan trọng hơn việc tất
toán các khoản nợ Việc tất toán khoản nợ xấu chỉ nên xem xét khi đó là cách cuối cùng để thu hồi khoản vay, vì thu hồi nợ của một doanh nghiệp vẫn đang hoạt động có thể hiệu quả hơn là phải tất toán tài sản
1.3.2 Kinh nghiệm Ngân hàng ANZ Australia
- Đo lường rủi ro định lượng: Do đã xây dựng được hệ thống dữ liệu tích hợp,
tập trung nên ANZ có thể áp dụng mô hình đo lường tín dụng nội bộ và mô hình RAROC
- Tổ chức quản trị rủi ro tập trung: ANZ đo lường rủi ro theo mô hình tổ chức
quản trị rủi ro tập trung, cụ thể:
Thứ nhất, mọi quyết định về chiến lược quản trị rủi ro của ANZ tập trung
ở Hội đồng quản trị
Thứ hai, để đảm bảo quyết định tín dụng được chặt chẽ và rõ ràng, cấu
trúc của hoạt động quản trị rủi ro ở ANZ chia làm 3 bộ phận: Bộ phận
Trang 35kinh doanh và quan hệ khách hàng, Bộ phận Quản trị rủi ro, Bộ phận quản trị nợ
Thứ ba, đối với các khoản vay lớn thì quyết định cuối cùng được đưa ra
bởi Ủy ban quản trị rủi ro và hội đồng quản trị rủi ro
- Kiểm soát RRTD kép: ANZ hoạt động trong một thị trường tài chính phát
triển qua nhiều thập kỷ, do đó toàn bộ hoạt động tín dụng của Ngân hàng đều được giám sát chặt chẽ qua các cổ đông và thị trường Điều này góp phần làm tăng tính minh bạch và công khai về thông tin của ANZ
Trang 36Kết luận chương 1
Chương 1 trình bày lý thuyết về hoạt động tín dụng cũng như là rủi tro tín dụng trong Ngân hàng Bên cạnh đó cũng nêu ra những bài học kinh nghiệm của các nước trên thế giới trong việc hạn chế rủi ro tín dụng Thông qua việc trình bày các khái niệm, phân loại cũng như đặc điểm, nguyên nhân dẫn đến rủi ro, tác động của rủi ro đến Ngân hàng, bài viết sẽ cung cấp cơ sở lý luận để phân tích trong chương tiếp theo
Trang 37CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG TMCP
AN BÌNH CHI NHÁNH TP HỒ CHÍ MINH
Chương 2 sẽ trình bày những tổng quan về Ngân hàng TMCP An Bình cũng như chi nhánh Tp Hồ Chí Minh Sau đó phân tích thực trạng hoạt động tín dụng của chi nhánh trong những năm qua, từ đó thấy được những kết quả đạt được, các hạn chế còn tồn tại trong Ngân hàng
2.1 Tổng quan về Ngân hàng TMCP An bình và chi nhánh TP Hồ Chí Minh 2.1.1 Tổng quan về Ngân hàng TMCP An bình
- Quá trình hình thành và phát triển
Ngân hàng TMCP An Bình (ABBANK) được thành lập vào năm 1993 theo giấy phép số 535/GP-UB do UBND TP.HCM cấp ngày 13/5/1993 Đến nay sau hơn 25 năm phát triển, Ngân hàng ABBANK được đánh giá là một trong những Ngân hàng
có sự phát triển bền vững và ổn định Với vốn điều lệ khi thành lập là 1 tỷ đồng, hiện nay vốn điều lệ của ABBank đạt 5319 tỷ đồng, mạng lưới mở rộng tăng từ 146 điểm giao dịch lên 165 điểm giao dịch với 35 chi nhánh, 130 phòng giao dịch và 1 quỹ tiết kiệm tại 34 tỉnh thành trên cả nước
Với sự hỗ trợ và liên kết từ các cổ đông chiến lược trong nước là Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), Công ty Cổ phần xuất nhập khẩu tổng hợp Hà Nội (Geleximco) và cổ đông nước ngoài là Maybank – Ngân hàng lớn nhất Malaysia,
Tổ chức Tài chính Quốc tế (IFC), ABBank đang tiến gần hơn với mục tiêu trở thành Ngân hàng bán lẻ hàng đầu Việt Nam
- Mục tiêu chiến lược của Abbank
Tầm nhìn: Trở thành Ngân hàng Thương mại Cổ phần hàng đầu tại Việt Nam,