1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Văn hoá từ chức

26 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 27,47 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Như vậy, các nghiên cứu về văn hoá từ chức ở Việt Nam là cần thiếtkhông chỉ để tiếp tục khẳng định vai trò khách quan của nó trong đời sống xãhội, mà trên kết quả các nghiên cứu ấy, chún

Trang 1

Đề bài: Văn hoá từ chức ở Việt Nam – Khái niệm, nguyên nhân, biện pháp khắcphục.

A MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, người cách mạng chân chính cần phải nêugương về cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, nêu cao đức tính tốt đẹp; phảitránh xa những thói xấu, như lười biếng, gian xảo, tham lam, Đồng thời, Ngườinêu rõ bổn phận của mỗi cán bộ, đảng viên là phải cố gắng làm kiểu mẫu choquần chúng trong mọi việc: “Nếu gặp khi lợi ích chung của Đảng mâu thuẫn vớilợi ích riêng của cá nhân, thì phải kiên quyết hy sinh lợi ích cá nhân cho lợi íchcủa Đảng Khi cần đến tính mệnh của mình cũng phải vui lòng hy sinh choĐảng”(1) Chủ tịch Hồ Chí Minh thường căn dặn: “Đảng viên đi trước, làng nướctheo sau” và Người khẳng định rằng, đó là lời khen chân thành của nhân dân vàcũng là trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên

Xã hội ngày càng phát triển, thể chế chính trị không ngừng được củng cố,

bộ máy từ trung ương đến địa phương ngày càng hoạt động có hiệu quả Tuynhiên, bên cạnh đó cũng có không ít những trường hợp cán bộ, Đảng viên; cũngnhư lãnh đạo đã vi phạm nghiêm trọng đến đạo đức và tư cách của người cán bộĐảng viên như tham ô, tham nhũng làm không được việc, thiếu trách nhiệmtrong lĩnh vực mình quản lý gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng, nhưng số lượngcán bộ Đảng viên, lãnh đạo dám đứng lên nhận trách nhiệm trước tập thể, trướcĐảng còn ít, số lượng cán bộ là lãnh đạo tự nguyện xin từ chức còn rất thấp,thậm chí có những trường hợp còn tìm đủ mọi cách để có thể giữ được “ghế” củamình

Mặc dù tác động tích cực của văn hoá từ chức đến đời sống chính trị làkhách quan, tuy nhiên nhận thức về văn hoá từ chức hiện nay chưa thống nhất,

và đặc biệt còn rất mới mẻ ở Việt Nam Ở các nước phát triển, việc từ chức là

Trang 2

khá dễ dàng, vì văn hoá từ chức đã trở thành một phần của đời sống chính trị.Văn hoá này lại được nuôi dưỡng trong một môi trường xã hội thuận lợi Khônglàm quan, thì người ta có thể làm rất nhiều việc khác Trong khi đó, ở Việt Nam,văn hoá từ chức dường như còn là khái niệm rất xa lạ cả về lý luận cũng nhưthực tiễn chính trị, và xung quanh nó còn nhiều quan điểm trái chiều Người tabắt đầu bàn nhiều hơn đến quan niệm, bản chất, biểu hiện của văn hoá từ chức,rồi chỉ qua nguyên nhân, vai trò, cơ sở hình thành cũng như giải pháp để văn hoá

từ chức đi vào cuộc sống một cách tự giác Vấn đề là, nói nhiều hơn thì vẫn làchưa phải làm nhiều hơn, mặc dù, văn hoá từ chức nếu có sẽ tạo ra sự hợp lý tối

đa trong xã hội Nó giúp chúng ta đặt những người tài giỏi, có trình độ vào đúng

vị trí dễ dàng hơn Nó cũng giúp thay thế những người tài giỏi, có trình độ vàođúng vị trí dễ dàng hơn Nó cũng giúp thay thế những người ngồi “nhầm ghế:nhẹ nhàng và nhân bản hơn Suy cho cùng, chuyện miễn nhiệm, bãi nhiệm lànhững chuyện vừa phức tạp, vừa tốn kém, lại thường xuyên làm mất thể diện củacon người Như vậy, các nghiên cứu về văn hoá từ chức ở Việt Nam là cần thiếtkhông chỉ để tiếp tục khẳng định vai trò khách quan của nó trong đời sống xãhội, mà trên kết quả các nghiên cứu ấy, chúng ta có thêm cơ sở góp phần đưa ranhững quan điểm chính trị, những quyết định, những ứng xử đúng đắn với vănhoá từ chức nhằm định hướng cho thực tiễn chính trị Việt Nam

Từ thực trạng trên, em đã chọn đề tài: “Văn hoá từ chức ở Việt Nam” đểtìm hiểu nguyên nhân làm cho “văn hoá từ chức” ở Việt Nam không được phổbiến và từ đó đề xuất biện pháp khắc phục vấn đề này,

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

- Mục đích nghiên cứu:

Trên cơ sở làm rõ một số lý luận về văn hoá từ chức, đề tài phân tích thựctrạng văn hoá từ chức ở Việt Nam, từ đó đề xuất kiến nghị nhằm xây dựng vàphát triển văn hoá từ chức ở Việt Nam

- Nhiệm vụ nghiên cứu:

Trang 3

Thứ nhất, đề tài làm rõ một số lý luận và thực tiễn về văn hoá từ chứcThứ hai, phân tích thực trạng văn hoá từ chức trong nền chính trị ViệtNam từ đó chỉ ra những biểu hiện, những đánh giá và nguyên nhân dẫn đến vănhoá từ chức ở Việt Nam còn hạn chế ở Việt Nam.

Thứ ba, đề xuất một số biện pháp nhằm xây dựng và phát triển văn hoá từchức ở Việt Nam hiện nay

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: đề tài tập trung nghiên cứu về văn hoá từ chức ởViệt Nam hiện nay

- Phạm vi nghiên cứu:

+ Phạm vi về không gian, thời gian: đề tài nghiên cứ về văn hoá từ chức ởViệt Nam, từ năm 1986 đến nay

4 Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận: dựa trên cơ sở lý luận chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng HồChí Minh, văn hoá chính trị, người lãnh đạo chính trị của giai cấp công nhân

Cơ sở thực tiễn: Tình hình thực tiễn chính trị Việt Nam và yêu cầu đặt rangày càng bức thiết của văn hoá từ chức đối với nền chính trị nước nhà

Phương pháp nghiên cứu: đề tài sử dụng phương lôgic và lịch sử, phântích, tổng hợp, khái quát hóa và hệ thống hóa các tài liệu có liên quan

5 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, đề tài gồm 3chương và 9 tiết

Trang 4

B NỘI DUNG Chương 1: Cơ sở lý luận về Văn hoá từ chức

1.1 Một số khái niệm

1.1.1 Văn hoá

Hiện nay trên thế giới có rất nhiều những định nghĩa khác nhau về vănhoá, mỗi định nghĩa phản ánh một cách nhìn nhận và đánh giá khác nhau dựatrên nhiều góc độ khác nhau để có thể đưa ra những dạng thức văn hoá khácnhau như: văn hoá chính trị, văn hoá nghị trường, văn hoá pháp lý, văn hoá lãnhđạo, văn hoá từ chức, văn hoá doanh nghiệp, văn hoá nghề, văn hoá giao thông,văn hoá giao tiếp, văn hoá ẩm thực

Văn hoá là sản phẩm của con người, là hệ quả của sự tiến hoá nhân loại.Nhờ có văn hoá mà con người trở nên độc đáo trong thế giới sinh vật và khácbiệt so với những con vật khác trong thế giới động vật Tuy nhiên, các hướngnghiên cứu tiếp cận “văn hoá” ở những góc nhìn khác nhau, do đó, cho đến nayvẫn còn nhiều quan điểm khác nhau dẫn đến những định nghĩa khác nhau về vănhoá

Năm 2002 Unesco đã đưa ra định nghĩa về văn hoá như sau: “Văn hoá nênđược đề cập đến như là một tập hợp của những đặc trưng về tâm hồn, vật chất, trithức và xúc cảm của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội và nó chứađựng, ngoài văn học và nghệ thuật, cả cách sống phương thức chung sống, hệthống giá trị, truyền thống và đức tin, tóm lại văn hoá là sản phẩm của loàingười, văn hoá được tạo ra và phát triển trong quan hệ giữa con người và xã hội,xong chính văn hoá lại tham gia vào việc tạo nên con người, và duy trì sự bềnvững và trật tự xã hội, văn hoá được truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác thôngqua quá trình xã hội hoá Văn hoá được cải tạo và phát triển trong quá trình hànhđộng và tương tác xã hội của con người Văn hoá là trình độ phát triển của conngười và của xã hội được biểu hiện trong các kiểu và hình thức tổ chức đời sống

Trang 5

và hành động của con người cũng như trong giá trị vật chất và tinh thần mà docon người tạo ra.”(2)

Cũng có quan niệm cho rằng “văn hoá” là thứ đến muộn nhất sau khingười ta đã học đủ mọi thứ rồi

Ở Việt Nam, văn hoá cũng được định nghĩa rất khác nhau Chủ tịch HồChí Minh cho rằng: Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài ngườimới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học,tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặt ăn,

ở và các phương thức sử dụng Toàn độ những sáng tạo và phát minh đó tức làvăn hoá (3) Với cách hiểu này, văn hoá sẽ bao gồm toàn bộ những gì do conngười sáng tạo và phát minh ra Văn hoá theo cách nói của Hồ Chí Minh là một

“bách khoa toàn thư” về những lĩnh vực liên quan đến đời sống con người

Thủ tướng Phạm Văn Đồng cho rằng: Nói tới văn hoá là nói tới một lĩnhvực vô cùng phong phú và rộng lớn, bao gồm tất cả những gì không phải là thiênnhiên mà có liên quan đến con người trong suốt quá trình tồn tại, phát triển, quátrình con người làm nên lịch sử (văn hoá) bao gồm cả hệ thống giá trị: tư tưởng

và tình cảm, đạo đức với phẩm chất, trí tuệ và tài năng, sự nhạy cảm và sự tiếpthu cái mới từ bên ngoài, ý thức bảo vệ tài sản và bản lĩnh của cộng đồng dântộc, sức đề kháng và sức chiến đấu bảo vệ mình và không ngừng lớn mạnh Theođịnh nghĩa này thì văn hoá là nhữg cái gì đối lập với thiên nhiên và do con sángtạo từ tư tưởng tình cảm đến ý thức tình cảm và sức đề kháng của mỗi người,mỗi dân tộc

Nhìn chung, các định nghĩa về văn hoá hiện nay rất đa dạng Xuất phát từmục đích và cách tiếp cận riêng, mỗi định nghĩa đề cập đến những dạng thứchoặc những lĩnh vực khác nhau trong văn hoá Trên cơ sở những quan niệm vềvăn hoá như đã trình bày, có thể khái quát lại:

Trang 6

Thứ nhất, nói đến văn hoá là đề cập đến toàn bộ giá trị bao gồm cả giá trịvật chất và giá trị tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình con ngườisống, lao động, sản xuất Nói cách khác, văn hoá là sản phẩm kết tinh giá trị củađời sống con người.

Thứ hai, văn hoá được tạo thành từ những sản phẩm con người tạo ratrong đời sống, nhưng không phải sản phẩm nào cũng mang giá trị, cũng là vănhoá mà nó phải được cộng đồng chấp nhận trên cơ sở phù hợp với những chuẩnmực chung Nói như vậy có nghĩa là văn hoá có thể và thường xuất phát từ một

cá nhân hoặc nhóm người nhưng sau đó nó phải có sức lan ra cộng đồng và đượccộng đồng đón nhận cũng như chấp nhận, muốn như vậy, nó phải mang lại lợiích cho cộng đồng, phục vụ cho đời sống cộng đồng

Thứ ba, trên cơ sở được cộng đồng chấp nhận, văn hoá sẽ được lưu giữ vàtruyền từ thế hệ này sang thế hệ khác Do đó, văn hoá có sức sống vượt khônggian và thời gian

Thứ tư, nói đến văn hoá là nói đến sáng tạo Chỉ có lao động mới kết tinhcác giá trị văn hoá Sáng tạo là cơ sở, cũng còn là động lực là đôi khi là cáchthức để tạo ra các giá trị văn hoá

Cuối cùng, văn hoá vừa mang những đặc điểm chung, vừa phản ảnhnhững đặc trưng riêng biệt của từng cộng động, từng xã hội, phù hợp với điềukiện xã hội nhất định

Trên cơ sở những quan niệm và những nội dung cơ bản đã khái quát vềvăn hoá, có thể hiểu khái niệm văn hoá như sau:

Văn hoá là hệ thống giá trị vật chất và tinh thần được sáng tạo, tích lũyqua quá trình hoạt động thực tiễn của con người, phải ánh trình độ phát triển của

xã hội loài người Các giá trị này phải phù hợp và phục vụ đời sống cộng đồng,được cộng đồng chấp nhận và trao quyền từ thế hệ này sang thế hệ khác

Trang 7

1.1.2 Từ chức

Từ chức được hiểu theo từ điển do Trung tâm từ điển học xuất bản là xinthôi việc, không đảm đương chức vụ mình đang giữ nữa, vậy nên từ chức chỉ cóthể xảy ra ở những người năm giữ chức, quyền trong tay

Từ chức một cách tự nguyện, tự giác là tỏ thái độ trung thực, trách nhiệmvới bản thân cũng như với cộng đồng, biết xuất hổ khi làm điều trái với đạo lý, đingược lại nguyện vọng của cơ quan, tổ chức và cộng đồng, là biểu hiện của sựcao thượng, dũng cảm và lòng tự trọng

Ở nhiều nước, nhất là các nước phát triển người ta coi từ chức là chuyệnbình thường Nhiều khi là không thấy hứng thú với công việc muốn từ chức đểchút bỏ đi gánh nặng, có người từ chức vì muốn chuyển sang làm công việc khác

có thu nhập cao hơn Có người từ chức để nhường chỗ cho người trẻ có tài, từchức vì thấy khả năng của bản thân không thể làm tốt chức vụ đang giữ, từ chức

để tránh dư luận trái chiều, từ chức để khởi bị cách chức

Nhưng cũng có nhiều nơi, còn quá đề nặng tư tưởng về việc từ chức Luônnghĩ rằng từ chức là việc làm sau khi họ đã làm những việc sai trái, vi phạmpháp luật và chỉ từ chức khi có một cộng đồng nào đó dùng biện pháp cưỡngchế, hay sự tác động mạnh, sức ép từ dư luận, khiến họ bắt buộc phải từ chức Xãhội ngày càng phát triển, chuyện không thích làm công việc này từ chức làmcông việc khác, hay công việc không phù hợp, lương không tương xứng với khảnăng, tính chất công việc Có rất nhiều lý do cá nhân lẫn tác động từ bên ngoài,khiến cho một người nào đó từ chức Từ chức với lý do hợp lý, không làm ảnhhưởng đến người khác, biết nhìn nhận vấn đề sai và sửa lỗi, thì từ chức là mộtnét văn hoá, nghĩa cử cao đẹp, biết tự phê bình chính mình, nghiêm khắc với việclàm của bản thân Còn nếu chỉ từ chức vì không chịu được sức ép của xã hội, haymột cộng đồng, tập thể nào đó phải dùng đến biện pháp cưỡng chế thì hành vi đó

bị lên án và ảnh hưởng cho toàn xã hội

Trang 8

Có rất nhiều cách hiểu khác nhau về từ chức Nhưng nhìn chung, từ chứcđược thể hiện dưới nhiều hình thức, một là từ chức bởi cuộc vận động miễnnhiệm của tổ chức, hai là từ chức xuất phát từ chính nhận thức, trách nhiệm vàquyết tâm nhận lỗi của cá nhân, bà là do sức khỏe không đảm bảo yêu cầu củacông việc, bốn là do sự bất mãn với tổ chức với người theo đạo.

1.1.3 Văn hoá từ chức

Văn hoá từ chức là văn hoá chính trị, văn hoá ứng xử dựa trên lương tri,khi những người lãnh đạo thấy mình thiếu sót, khuyết điểm, hay nói cách khác làkhông còn xứng đáng đảm nhận được nhiệm vụ thì họ sẽ từ chức Văn hoá từchức cho thấy sự hiểu biết về bổn phận, và trách nhiệm của người nắm giữ chứcvụ

Văn hoá từ chức là một trong những biểu hiện sinh động, cụ thể và thiếtthực nhất về một nền chính trị văn minh dựa trên phẩm giá, lòng tự trọng và bảnlĩnh của những nhà lãnh đạo thực sự có tâm huyết và đầy dũng khí Tương phảnvới nó là một nền chính trị “mọi rợ” được đặc trưng bằng những nhà cầm quyềntham quyền cố vị, vô liêm sỉ, sẵn sàng giữ địa vị bằng mọi giá, chà đạp lên dưluận xã hội để duy trì quyền lực của mình

Như vậy, văn hoá từ chức trong chính trị là một bộ phận của văn hoá nóichung và văn hoá chính trị nói riêng Bất cứ lĩnh vực, khía cạnh nào trong đờisống xã hội đều không thể tách khỏi văn hoá và đều cần phải có văn hoá, chỉ nhưvậy nó mới được xã hội chấp thuận một cách thuyết phục Hành động từ chứccũng vậy, nó rất cần được thể hiện một cách đẹp đẽ, phù hợp với sự phát triển,tức là chức có văn hoá, tham chí đòi hỏi cần phải thể hiện văn hoá ở trình độ cao.Bởi đây là hành động không dễ dàng thực hiện đối với bất cứ những ai có chức,

có quyền, có địa vị trong xã hội Hành động từ chức thậm chí có ảnh hưởng tolớn đến sự phát triển của một quốc gia, một thể chế

Nếu như từ chức được thể hiện dưới hai hình thức, một là từ chức bởi cuộcvận động miễn nhiệm của tổ chức, hai là từ chức xuất phát từ chính nhân thức,

Trang 9

trách nhiệm và quyết tâm nhận lỗi của cá nhân thì văn hoá từ chức là hành độngmang tính tự giác, tự nguyện và vì lợi ích chung của cộng đồng, mang ý nghĩa tốtđẹp cho xã hội Vì vậy, từ chức trở thành một hoạt động mang tính văn hoá haykhông, phụ thuộc vào chính nhận thức, trách nhiệm và quyết tâm nhận lỗi củachủ thể nắm trong tay chức quyền, nghĩa là chức biển hiện dưới hình thức thứhai như đã nêu ở trên Tự nguyện từ chức thì được coi là văn hoá từ chức Điềunày có nghĩa là, không phải hành động từ chức nào cũng là văn hoá, và ngượclại, không phải cứ có từ chức nghĩa là có văn hoá từ chức Nhưng ngược lại, nếu

có văn hoá từ chức, nghĩa là hành động từ chức đã được dẫn dắt bằng lương tricon người và trách nhiệm công dân, trách nhiệm chính trị, là giá trị của văn minhchính trị

Việc tự từ chức là hành vi của chủ thể lãnh đạo, quản lý có ý thức tự giáccao trước những khuyết điểm, sai lầm của chính mình và nhận thấy không cònxứng đáng với vai trò, trách nhiệm có được hoặc được giao phó nên xin từ bỏ

Tự nguyện từ chức là biểu hiện của thái độ tự trọng cao của người lãnh đạo, quản

lý về phương diện chính trị và tính liêm sỉ trong đạo đức Tự từ chúc đòi hỏi phảiđặt lợi ích của tổ chức, của xã hội cao hơn lợi ích của cá nhân, lợi ích cục bộ,phải dũng cảm vượt qua tính ích kỷ, tham vọng quyền lực và hư danh của ngườilãnh đạo, quản lý

Xét về góc độ chính trị, người lãnh đạo có văn hoá từ chức là người lãnhđạo sẵn sàng từ bỏ quyền lực, trao lại quyền lực cho người xứng đáng hơn, thểhiện trách nhiệm với tổ chức, với xã hội, tính nghiêm túc trong hoạt động chínhtrị, từ bỏ tham vọng quyền lực và hư danh của người lãnh đạo, quản lý

Xét về góc độ kinh tế, văn hoá từ chức đồng nghĩa với việc từ bỏ lợi ích cánhân, đặt lợi ích tập thể, lợi ích xã hội lên trên lợi ích cá nhân, lợi ích cục bộ

Xét về góc độ đạo đức, nhà lãnh đạo có văn hoá từ chức được coi là nhàlãnh đạo có đạo đức, dũng cản, có liêm sỉ và lòng tự trọng cá nhân

Trang 10

Văn hoá từ chức là biểu hiện của hành vi xử sự của một cá nhân đang đảmnhận một trọng trách nào đó, trong một tổ chức nhất định, một đơn vị cụ thể theocác chuẩn mực xã hội về lẽ phải, cái đẹp, cái tâm, của người giữ chức vụ khikhông hoàn thành nhiệm vụ hoặc không thể đảm đương nổi trọng trách mà tổchức đang kỳ vọng giao phó Phát triển văn hoá từ chức nhằm tạo thói quen cư

xử có văn hoá cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, làm việc tự giác từ chức khikhông thể hoàn thành vai trò lãnh đạo, quản lý của mình như một chuẩn mực đạođức tốt đẹp và là biểu hiện văn minh hiện đại của con người trên đất nước, nhândân

Như vậy, văn hoá từ chức thể hiện thông qua ba tiêu chí sau đây:

Một là, về nhận thức và hành động, phải luôn trách nhiệm và tự giác, từchức vì bản thân nhận thức đầy đủ rằng mình không thể đảm đương chức vụ mà

tổ chức đã giao chứ không phải từ chức để chạy tội, hoặc để đánh bóng tên tuổi

Hai là, thực hiện văn hoá từ chức thì cá nhân người từ chức phải có tráchnhiệm với bản thân và tổ chức, với chức trách và nhiệm vụ của mình

Ba là, có thái độ và hành vi ứng xử văn minh lịch sự khi từ chức

Ngoài ra, môi trường chính trị và các giá trị chính trị được xác lập thế nào

sẽ làm cho văn hoá từ chức phát triển tương ứng như thế ấy

Văn hoá từ chức là một cách ứng xử văn minh có ý thức trách nhiệm củangười đảm nhận chức vụ, nhằm tạo lập nên một môi trường chính trị - xã hội vănminh hiệu quả Văn hoá từ chức là văn hoá tự giác của cá nhân khi không thựchiện trọn vẹn trọng trách của mình, ngăn chặn các hành vi không đủ năng lực,trình độ, đạo đức gây ra nguy hiểm cho ngành, lĩnh vực mà mình đảm nhận chức

vụ Quan niệm về văn hoá từ chức nói trên đã nêu lên được tinh thần cơ bản củavăn hoá từ chức song văn hoá từ chức không phải tự nhiên hình thành mà nó làkết quả của một quá trình phấn đấu liên tục của toàn xã hội thông qua nhiều hìnhthức khác nhau

Trang 11

Như vậy, từ những cơ sở và quan điểm nêu trên, có thể hiểu:

Văn hoá từ chức là sự tự nguyện rời bỏ, nhường lại vị trí lãnh đạo, cầmquyền của mình cho người khác có khả năng hơn khi thấy bản thân không còn đủnăng lực, phẩm chất hay không còn phù hợp để đảm đương công việc hiện tạinữa, nhằm đảm bảo lợi ích chung của cộng đồng và sự phát triển của đất nước

1.2 Cơ sở hình thành văn hoá từ chức

Cơ sở kinh tế, nói đến từ chức là đề cập đến thái độ và hành xử của những

người có chức, có quyền, và đương nhiên kèm theo đó là có những quyền lợinhất định Việc một cá nhân dễ dàng từ chức hay không đôi khi do yếu tố kinh tếquyết định, thực tế cho thấy, nếu một cá nhân nào đó có tiềm lực về tài chính đủmạnh và khiếm cho người này không hoàn toàn lệ thuộc về kinh tế vào vị trí màngười đó đảm nhiệm, quyết định từ chức đến với họ sẽ dễ dàng hơn Điều nàycũng góp phần lí giải tại sao ở Việt Nam, từ chức còn hiếm đến như vậy, vìchúng ta có những chính khách chuyên nghiệp, ngoài làm chính trị ra, không làm

gì khác được nữa, và rời khỏi chính trường, nghĩa là nhiều lợi ích sẽ mất, đó làcòn chưa kể đôi khi sau họ còn là cả một gánh nặng về gia đình Do đó, có thểthấy, từ chức có cơ sở kinh tế của nó

Cơ sở chính trị, Văn hoá từ chức là một biểu hiện của văn hoá nói chung,

và đặc biệt là văn hoá chính trị bởi lẽ văn hoá từ chức chỉ hình thành trong môitrường hoạt động của những người có chức, có quyền, có địa vị cao trong xã hội

Do đó, nếu xây dựng và định hướng từ sớm các giá trị văn hoá chính trị sẽ là cơ

sở quan trọng để hành động từ chức và từ chức có văn hoá được biểu hiện, cũngthông quá đó mà văn hoá từ chức được hình thành Mối quan hệ giữa văn hoáchính trị nói chung và văn hoá từ chức là khá chặt chẽ, trong đó, một mặt, vănhoá chính trị quyết định văn hoá từ chức; mặt khác, văn hoá từ chức là sự phảnánh một mặt, một khía cạnh biểu hiện văn hoá chính trị và có tác động trở lại vănhoá chính trị

Trang 12

Cơ sở văn hoá, xã hội, văn hoá từ chức được định hình và phát triển trên

cơ sở nền tảng văn hoá, xã hội nhất định Do đó, văn hoá từ chức có có sở vănhoá xã hội của riêng nó Cơ sở văn hoá, xã hội như thế nào sẽ quy định tính chất

và mức độ của từ chức và văn hoá từ chức tương ứng

Cơ sở pháp lý, Từ chức và văn hoá từ chức như cách tiếp cận ở trên, vừa

là lương tri, vừa là trách nhiệm cá nhân, công dân, trách nhiệm đặc biệt của cácchính khách Do đó, muốn thúc đẩy từ chức và văn hoá từ chức thì nhất thiếtphải tác động đến cả lương tri và trách nhiệm của những người có quyền chúc

Để giác ngộ lương tri, cần tuyên truyền, khích lệ, động viên, tạo dư luận xã hộitốt với cả người giữ chức và công chúng với hành động của họ Để tăng tínhtrách nhiệm và chịu trách nhiệm, cần phải có cơ chế, chế tài, và những quy địnhpháp luật cụ thể, chặt chẽ

Chương 2 Nguyên nhân dẫn đến sự hạn chế trong việc hình thành văn hoá

từ chức ở Việt Nam và biện pháp khắc phục.

2.1 Những nguyên nhân dẫn đến sự hạn chế trong việc hình thành văn hoá

từ chức ở Việt Nam

2.1.1 Chức vụ đi đôi với quyền lực và lợi ích

Ở Việt Nam, đặc biệt là các cơ quan nhà nước, chức vụ, địa vị xã hộithường đi đôi với quyền lực Đi liền với quyền lực ấy, thường gắn hàng loạtnhững lợi ích, bổng lộc, của cải vật chất Đặc biệt với cơ chế và trình độ quản lýcủa chúng ta còn chưa chặt chẽ, chưa hiệu quả thì chức quyền càng trở nên khókiểm soát dẫn tới tình trạng tha hóa quyền lực, chỉ số minh bạch rất thấp Đâychính là mảnh đất thuận lợi cho việc lạm quyền để trục lợi cá nhân Do đó, màngười ta phấn đấu, có quyền rồi thì họ càng có những khoản thu lợi lớn, nên việc

từ bỏ nó là vô cùng khó khăn

Suy cho cùng, việc con người muốn leo lên những bậc thang danh vọng,quyền lực, chức vị trong xã hội cũng là nhằm để hướng tới lợi ích kinh tế mà mỗicon người có được khi tham gia hoạt động chính trị Chính vì vậy khi đã có được

Trang 13

những vị trí như cái đích của bản thân người đó mong muốn, họ luôn hướng tớimục đích là duy trì và phát triển cao hơn vị trí hiện tại để đảm bảo được vấn đềlợi ích mà họ đã và đang có Chính vì vậy nếu từ chức, từ bỏ vị trí đương nhiệmthì có nghĩa không còn gì cả Vì lẽ đó mà ở Việt Nam thường là làm chính trị để

có kinh tế, có thu nhập Điều này khác với các nước phương Tây: khi đã có kinh

tế rồi họ mới làm chính trị

Đất nước ta trải qua hàng ngàn năm dưới chế độ phong kiến, những tàn dư

tư tưởng, lề thói lỗi thời của xã hội cũ tồn tại dai dẳng, trong đó có tư tưởng và lềthói đặc quyền, đặc lợi Trong điều kiện kinh tế xã hội của thời kỳ quá độ, với sựtác động của mặt trái cơ chế thị trường và mở cửa làm cho tư tưởng và lề thóiđặc quyền, đặc lợi phát triển Đặc quyền, đặc lợi thể hiện trong việc sử dụng cácđiều kiện, cơ sở vật chất, nhà cửa, phương tiện đi lại phục vụ cho cá nhân, giađình và tìm cách chuyển đổi, sở hữu Thậm chí đặc quyền đặc lợi còn thể hiệntrong cả cơ cấu vào cấp ủy, đề bạt, bổ nhiệm cán bộ

Nếu thôi chức, người ta sẽ bị mất đi nhiều cái lợi lớn, cho nên họ phải cânnhắc Chỉ trường hợp bần cùng, bất đắc dĩ, bị ép buộc không làm nữa thì mớichịu

2.1.2 Tư tưởng “Học để làm quan”

Việt Nam là một đất nước văn hiến, với mấy ngàn năm lịch sử dựng nước

và giữ nước, với một nền văn hoá mang đậm bản sắc dân tộc Trong nền văn hoá

ấy, văn hoá chính trị là một phần không thể thiếu Văn hoá chính trị Việt Namđược hình thành từ khi nhà nước sơ khai đầu tiên – nhà nước Văn Lang, dướithời đại các vua Hùng Đặc biệt chúng ta phải trải qua một thời kỳ dài xã hộiđược duy trì dưới chế độ phong kiến, ngôi vua được cha truyền con nối từ thế hệnày sang thế hệ khác, mọi người trong xã hội đều ra sức học tập phấn đấu đểđược “làm quan” Học để “làm quan” đã ăn sâu, bén rễ trong tâm thức ngườiViệt và vì thế truyền thống coi làm quan là một sự thành đạt cao nhất, người thì

ra làm quan với mong muốn đem trí lực, tâm huyết của mình giúp dân, giúp

Ngày đăng: 12/10/2021, 15:27

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w