Trong quá trình giáo dục, năng lực của người học được hiểu là khả năng học sinh vận dụng các kiến thức, kĩ năng đã học cùng với hứng thú, thái độ, tính tích cực… để giải quyết các nhiệ
Trang 11
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TÀI LIỆU TẬP HUẤN
ĐÁNH GIÁ TRONG DẠY HỌC THEO ĐỊNH HƯỚNG
PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH
Lưu hành nội bộ
Trang 2- Quan niệm về năng lực
Phạm trù năng lực được nhiều nhà khoa học nghiên cứu và tiếp cận ở nhiều
góc độ khác nhau Một số quan niệm đồng nhất năng lực là khả năng (hoặc tiềm
năng) mà cá nhân thể hiện khi tham gia một hoạt động nào đó trong một thời điểm
nhất định Một số quan điểm khác chú trọng đến việc xem năng lực ở yếu tố quyết
định đến kết quả hoạt động trong thực tiễn của cá nhân Về cơ bản, mặc dù còn
nhiều quan niệm khác nhau khi bàn về phạm trù năng lực Tuy nhiên, điểm chung
của các nhà nghiên cứu đều coi tri thức, kỹ năng, thái độ là những thành tố cơ bản
tạo nên cấu trúc của năng lực Năng lực là tổ hợp các kiến thức, kỹ năng, thái độ và
kinh nghiệm cá nhân cho phép thực hiện có trách nhiệm và hiệu quả các hành
động, giải quyết các nhiệm vụ, vấn đề trong những tình huống khác nhau thuộc các
lĩnh vực nghề nghiệp, xã hội hay cá nhân (Nguyễn Thị Kim Dung, 2015)
Trong quá trình giáo dục, năng lực của người học được hiểu là khả năng học
sinh vận dụng các kiến thức, kĩ năng đã học cùng với hứng thú, thái độ, tính tích
cực… để giải quyết các nhiệm vụ học tập cũng như các vấn đề trong cuộc sống gắn
liền với hoàn cảnh cụ thể Chương trình Giáo dục phổ thông tổng thể, đã định
nghĩa năng lực: là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn
có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến
thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí, thực
hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong
những điều kiện cụ thể.1
1.1.2 Cấu trúc và quy trình hình thành năng lực
Cấu trúc năng lực
Theo Chương trình Giáo dục phổ thông tổng thể, cấu trúc năng lực của học
sinh gồm:
- Năng lực cốt lõi: Là năng lực cơ bản, thiết yếu mà bất kì ai cũng cần phải có
để sống, học tập và làm việc hiệu quả, gồm:
+ Những năng lực chung được hình thành, phát triển thông qua tất cả các
môn học và hoạt động giáo dục
1 Bộ Giáo dục và Đào tạo (2018), Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể, phê duyệt ngày 26 - `12 - 2018
Trang 33
+ Những năng lực đặc thù được hình thành, phát triển chủ yếu thông qua
một số môn học và hoạt động giáo dục nhất định
- Năng lực đặc biệt: Là năng khiếu về trí tuệ, văn nghệ, thể thao, kĩ năng
sống… nhờ tổ chất sẵn có ở mỗi con người
Năng lực được hiểu theo nghĩa rộng bao gồm cả phẩm chất và năng lực theo
nghĩa hẹp Các phẩm chất và năng lực cần hình thành, phát triển cho học sinh được
quy định trong chương trình giáo dục phổ thông tổng thể gồm:
- 05 phẩm chất: yêu nước, nhân ái, chăm chỉ, trung thực, trách nhiệm
- 10 năng lực cốt lõi:
+ 03 năng lực chung: năng lực tự chủ và tự học, năng lực giao tiếp và hợp tác,
năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo;
+ 07 Năng lực đặc thù: năng lực ngôn ngữ, năng lực tính toán, năng lực khoa
học, năng lực công nghệ, năng lực tin học, năng lực thẩm mĩ, năng lực thể chất
Như vậy, chúng ta có thể hiểu: Năng lực là khả năng thực hiện có hiệu quả
và có trách nhiệm các hành động, giải quyết các nhiệm vụ, vấn đề thuộc các lĩnh
vực nghề nghiệp, xã hội hay cá nhân trong những tình huống khác nhau trên cơ sở
hiểu biết, kĩ năng, kĩ xảo và kinh nghiệm cũng như sự sẵn sàng hành động
Trang 44
Các thành phần của năng lực
Năng lực chuyên môn:
Khả năng thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn cũng như đánh giá kết quả
một cách độc lập, có phương pháp và chính xác về mặt chuyên môn (Bao gồm cả
khả năng tư duy logic, phân tích, tổng hợp và trừu tượng, khả năng nhận biết các
mối quan hệ hệ thống và quá trình)
Năng lực phương pháp:
Khả năng hành động có kế hoạch, định hướng mục đích trong việc giải quyết
các nhiêm vụ và vấn đề Trung tâm của năng lực phương pháp là những phương
thức nhận thức, xử lí, đánh giá, truyền thụ và giới thiệu
Năng lực xã hội:
Khả năng đạt được mục đích trong những tình huống xã hội cũng như trong
những nhiệm vụ khác nhau với sự phối hợp chặt chẽ với những thành viên khác
Trọng tâm là:ý thức được trách nhiệm của bản thân cũng như của những người
khác, tự chịu trách nhiệm, tự tổ chức
Có khả năng thực hiện các hành động xã hội, khả năng cộng tác và giải quyết xung
đột
Năng lực cá thể:
Khả năng xác định, suy nghĩ và đánh giá được những cơ hội phát triển cũng
như những giới hạn của mình, phát triển được năng khiếu cá nhân cũng như xây
dựng kế hoạch cho cuộc sống riêng và hiện thực hoá kế hoạch đó; Những quan
điểm, chuẩn giá trị đạo đức và động cơ chi phối các hành vi ứng xử
Trang 55
Quy trình hình thành năng lực
Năng lực là tổ hợp những hành động vật chất và tinh thần tương ứng với dạng
hoạt động nhất định dựa vào những thuộc tính cá nhân (sinh học, tâm lý và giá trị
xã hội ( Đặng Thành Hưng, 2012) được thực hiện tự giác và dẫn đến kết quả phù
hợp với trình độ thực tế của hoạt động Như vậy, đương nhiên năng lực không đơn
giả là sự cộng ghép đơn thuần tri thức, kỹ năng và thái độ mà đó là những điều
kiện cần có của năng lực, trong mỗi thành tố đó đã tích hợp nhiều yếu tố sinh học,
tâm lý và văn hóa cá nhân trong thực tế hoạt động Theo Đỗ Hương Trà và cộng sự
(2015)2, quá trình hình thành năng lực trải qua các bước sau:
Bước 1 Tiếp nhận thông tin
Bước 2 Xử lí thông tin
Bước 3 Áp dụng, vận dụng kiến thức
Bước 4 Thái độ và hành động
Bước 5 Sự kết hợp đầy đủ các yếu tố trên để tạo thành năng lực
Bước 6 Tinh thần trách nhiệm, thể hiện sự chuyên nghiệp, thành thạo
Bước 7 Kết hợp với kinh nghiệm/trải nghiệm thể hiện bằng năng lực nghề
Chúng ta có thể hình dung quá trình hình thành một năng lực qua sơ đồ sau3
:
2
Đỗ Hương Trà – Chủ biên (2015); Dạy học tích hợp phát triển năng lực học sinh (Quyển 1 –
Khoa học Tự nhiên), NXB Đại học sư phạm, Hà Nội
3
Nguyễn Đắc Thanh (2017), Xác định hệ thống năng lực đánh giá học sinh của giáo viên phổ
thông theo yêu cầu đổi mới , Hội thảo Quốc tế “Đào tạo, bồi dưỡng giáo viên phổ thông, cán bộ
quản lý cơ sở giáo dục phổ thông và giảng viên sư phạm”, NXB Trường ĐHSPTP.HM
Trang 66
1.2 Khái quát về kiểm tra, đánh giá kết quả học tập theo tiếp cận năng lực
1.2.1 Khái niệm kiểm tra, đánh giá kết quả học tập
Trong giáo dục phần lớn các nhà nghiên cứu khoa học giáo dục đều cho rằng
kiểm tra là hoạt động có trước, nhằm thu thập thông tin để phục vụ cho quá trình
đánh giá Đây là thuật ngữ chỉ cách thức hoặc hoạt động giáo viên sử dụng để thu
thập thông tin về biểu hiện kiến thức, kĩ năng và thái độ của học sinh trong học
tập nhằm cung cấp dữ kiện làm cơ sở cho việc đánh giá Trên cơ sở tiếp cận các
khái niệm khác nhau về kiểm tra, tác giả Nguyễn Công Khanh tổng hợp lại và cho
rằng: Kiểm tra là quá trình xem xét, tổ chức thu thập thông tin và gắn với hoạt
động đo lường để đưa ra các kết quả, so sánh, đối chiếu với yêu cầu, mục tiêu hay
chuẩn đã đề ra, với mục đích xác định xem cái gì đã đạt được, cái gì chưa đạt
được, những nguyên nhân, các yếu tố ảnh hưởng/ chi phối…4
Đánh giá là chỉ quá trình hình thành những nhận định, rút ra những kết luận
hoặc phán đoán về trình độ và phẩm chất của người học, hoặc đưa ra những quyết
định về việc dạy học dựa trên cơ sở những thông tin đã thu thập được một cách hệ
thống trong quá trình kiểm tra
Đánh giá là quá trình thu thập thông tin, hình thành những nhận định, phán
đoán về kết quả công việc theo mục tiêu, tiêu chuẩn đã đề ra qua đó đề xuất những
quyết định thích hợp để cải thiện thực trạng, điều chỉnh nhằm nâng cao chất lượng
và hiệu quả công việc Theo nghĩa chung nhất, đánh giá trong giáo dục được hiểu
là một quá trình thu thập, tổng hợp, diễn giải thông tin về đối tượng cần đánh giá
(hiểu biết hay năng lực của học sinh, chương trình, nhà trường…) một cách có hệ
Rèn luyện, Trải nghiệm
Sơ đồ: Quá trình hình thành năng lực
Trang 77
thống nhằm mục đích hiểu biết sâu và sử dụng các thông tin này để ra quyết định
về học sinh, về chương trình, về nhà trường hay đưa ra các chính sách giáo dục
Ngày nay có nhiều tác giả đưa ra nhiều cách hiểu về đánh giá theo năng lực,
về cơ bản đều xác định:
- Đánh giá theo năng lực là đánh giá kiến thức, kĩ năng và thái độ của người
học trong bối cảnh cụ thể (Leen Pil, 2011)
- Đánh giá theo năng lực là đánh giá các khả năng học sinh áp dụng các kiến
thức, kĩ năng đã được học vào giải quyết các tình huống thực tiễn của cuộc sống
hàng ngày (Nguyễn Công Khanh 2015)
Nhìn chung, đánh giá theo năng lực được xem là bước phát triển cao hơn so
với đánh giá kiến thức, kĩ năng Cách đánh giá này tập trung chứng minh người
học có năng lực ở một mức độ nào đó, phải tạo cơ hội để họ giải quyết vấn đề
trong tình huống, bối cảnh mang tính thực tiễn Trong đánh giá năng lực
được quy chuẩn theo các mức độ phát triển của người học chứ không quy
chuẩn theo việc người học có đạt hay không đạt nội dung người học Tác giả
Nguyễn Công Khanh (2015) cho rằng: “Đánh giá theo năng lực không hoàn toàn
phải dựa vào chương trình giáo dục môn học như đánh giá kiến thức, kĩ năng, bởi
năng lực là sự tổng hòa, kết tinh kiến thức, kĩ năng, thái độ, tình cảm, giá trị,
chuẩn mực đạo đức…được hình thành từ nhiều lĩnh vực học tập cũng như sự phát
triển tự nhiên và xã hội của một con người”
1.2.2 Mối quan hệ giữa các yếu tố của hoạt động dạy học với hoạt động kiểm
tra, đánh giá theo tiếp cận năng lực
Hoạt động dạy học được cấu trúc gồm các yếu tố: giáo viên; học sinh; mục
tiêu, nhiệm vụ; nội dung; phương pháp, phương tiện, hình thức và kết quả của hoạt
động dạy học
Các yếu tố cấu trúc của hoạt động dạy học không tồn tại biệt lập mà có mối
quan hệ biện chứng, phản ánh các tính quy luật của dạy học Sự biến đổi của nhân
tố này đòi hỏi sự biến đổi tương ứng phù hợp của các nhân tố khác Sự vận động
và phát triển của hoạt động dạy học là kết quả của quá trình tác động biện chứng
giữa các nhân tố Kết quả dạy học là kết quả phát triển tổng hợp của toàn hệ thống
họat động dạy học Vì vậy muốn nâng cao chất lượng dạy học phải nâng cao chất
lượng của từng nhân tố, đồng thời, nâng cao chất lượng tổng hợp của toàn hệ
thống Thông thường, nói đến đổi mới hoạt động dạy học là phải đổi mới đồng bộ
từ mục tiêu dạy học đến nội dung, phương thức tổ chức dạy học, nhưng khi mục
tiêu dạy học đã phù hợp thì có thể xem xét từ nội dung dạy học, phương thức tổ
Trang 88
chức dạy học , hoặc khi cả hai nhân tố mục tiêu, nội dung dạy học đã phù hợp thì
chỉ cần tập trung đổi mới phương thức tổ chức dạy học
Chương trình đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục Việt Nam hiện nay ngoài
những yêu cầu đổi mới về nội dung, phương pháp, hình thức dạy học thì đổi mới
đánh giá là công việc yêu cầu bắt buộc giáo viên phải thực hiện Do đó, để thực
hiện đồng bộ công tác đổi mới dạy học ở trường phổ thông người giáo viên phải
có các năng lực đánh giá học sinh theo yêu cầu đổi mới, đó là đánh giá theo tiếp
cận năng lực
1.2.3 Những điểm khác biệt cơ bản giữa đánh giá truyền thống và đánh giá
năng lực
Đánh giá theo năng lực cần phải đáp ứng các yêu cầu sau:
- Đo lường chính xác mức độ phát triển năng lực người học Hoạt động
đánh giá phải dựa vào yêu cầu chuẩn đầu ra về sự phát triển các năng lực
chung, năng lực đặc thù, năng lực đặc biệt đã xác định trong chương trình
GDPT
- Sử dụng đa dạng các hình thức và phương pháp đánh giá để người học có
cơ hội thể hiện tốt nhất năng lực của họ ở các hoàn cảnh nhất định
- Đảm bảo tính khách quan và tin cậy trong quá trình đánh giá, các chuẩn,
tiêu chí, hành vi đánh giá rõ ràng và đồng nhất
- Cần thực hiện đồng bộ các khâu đánh giá chẩn đoán, đánh quá trình và
đánh giá tổng kết; cần có việc lập kế hoạch việc đánh giá từng khâu và
điều chỉnh hoạt động dạy học sau mỗi khâu đánh giá trên nhằm đảm bảo
tính hệ thống trong quá trình đánh giá
- Kết quả đánh giá phải phản ánh đầy đủ sự phát triển của các thành tố và
chỉ số hành vi của năng lực được đo lường
- Đảm bảo đánh giá được sự tiến bộ so với chính bản thân học sinh về
năng lực Qua đó phát triển khả năng chịu trách nhiệm với việc học tập
và giám sát sự tiến bộ của bản thân
- Đánh giá cần được thực hiện trong bối cảnh thực nhằm phản ảnh đúng
năng lực của người học khi thực hành trong môi trường thực tế
- Phân tích kết quả đánh giá cần chú ý đến tiềm năng, thế mạnh của từng
học sinh Đặc biệt là sản phẩm của học sinh theo yêu cầu cần đạt sau quá
trình dạy học
Trang 99
Theo tác giả Nguyễn Công Khanh, giữa đánh giá theo năng lực và đánh giá
dựa vào kiến thức, kĩ năng có những khác biệt như sau5
:
So sánh giữa đánh giá theo năng lực và đánh giá dựa vào kiến thức, kĩ năng
Tiêu chí Đánh giá năng lực Đánh giá kiến thức, kĩ năng
Mục đích - Khả năng HS vận dụng
kiến thức, kỹ năng đã học vào giải quyết vấn
đề thực tiễn
- Vì sự tiến bộ của người học so với chính họ
- Xác định đạt kiến thức, kỹ năng theo mục tiêu của chương trình giáo dục
- Đánh giá, xếp hạng giữa người học với nhau
Bối cảnh Gắn với ngữ cảnh học tập và
thực tiễn cuộc sống của HS
Gắn với nội dung học tập được học trong nhà trường
Nội dung - KT, KN, TĐ ở nhiều
môn học, nhiều HĐGD
và những trải nghiệm của bản thân HS trong cuộc sống XH
- Quy chuẩn theo các mức
độ phát triển năng lực của người học
- Những KT, KN, TĐ ở một môn học
- Quy chuẩn theo việc người học có đạt được hay không một nội dung đã được học
Công cụ Nhiệm vụ, bài tập trong tình
huống, bối cảnh thực
Câu hỏi, bài tập, nhiệm vụ trong tình huống hàn lâm hoặc tình huống thực
Thời điểm Mọi thời điểm của quá trình
DH, chú trọng đánh giá trong khi học
Diễn ra ở những thời điểm nhất định trong QTDH (trước hoặc sau khi dạy)
5
Nguyễn Nguyễn Công Khanh (2015) Giáo trình kiểm tra đánh giá trong giáo dục Nhà xuất
bản ĐHSP Hà Nội, tr 121
Trang 1010
Kết quả - NL người học phụ thuộc
độ khó của nhiệm vụ hoặc mức độ hoàn thành
- Dựa theo mức độ thực hiện
- NL người học phụ thuộc vào số câu hỏi, bài tập, nhiệm vụ đã hoàn thành
- Dựa số lượng đơn vị kiến thức, kỹ năng
1.3 Quy trình thiết kế hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập theo
tiếp cận năng lực
1.3.1 Xác định mục đích, yêu cầu của hoạt động kiểm tra theo tiếp cận năng
lực
Khi xác định mục đích của của hoạt động kiểm tra, đánh giá theo tiếp cận
năng lực, người đánh giá cần xem xét mục đích của môn học/học phần trong ma
trận của chương trình đào tạo (hoặc cấp học/lớp): mục tiêu môn học nhằm
hướng đến những mục tiêu chung nào trong chương trình/cấp học
Từ những mục đích được xác định, cần xem xét những yêu cầu cần thiết cho
hoạt động kiểm tra, đánh giá nhằm đảm bảo tính minh bạch, tính tin cậy và tính
giá trị của hoạt động kiểm tra, đánh giá
1.3.2 Xác định mục tiêu và thiết lập ma trận các bài kiểm tra theo tiếp cận
năng lực
Trong một môn học/học phần sẽ bao gồm nhiều mục tiêu theo các mức độ
năng lực cần đạt khác nhau Để đảm bảo tính giá trị của hoạt động kiểm tra,
đánh giá kết quả học tập, giáo viên cần xác định đầy đủ và rõ ràng các mục tiêu
theo tiếp cận năng lực Từ hệ thống mục tiêu học tập đã xác định, giáo viên
thiết kế hoạt động kiểm tra, đánh giá bao phủ các mục tiêu đã đặt ra Do vậy,
trong thiết lập ma trận các bài kiểm tra, đánh giá môn học theo tiếp cận
năng lực, người giáo viên cần căn cứ vào hệ thống các mục tiêu đã xác định
cho môn học, từ đó phân chia mục tiêu/nhóm mục tiêu sẽ được đánh giá
theo những hình thức khác nhau: bài tự luận, trắc nghiệm, bài thực hành
hoặc dạng hồ sơ học tập
1.3.4 Thiết kế và tiêu chí đánh giá các dạng bài kiểm tra theo tiếp cận năng
lực
Trong một môn học/học phần sẽ bao gồm nhiều mục tiêu theo các mức độ
năng lực cần đạt khác nhau Để đảm bảo tính giá trị của hoạt động kiểm tra,
đánh giá kết quả học tập, giáo viên cần xác định đầy đủ và rõ ràng các mục tiêu
theo tiếp cận năng lực Từ hệ thống mục tiêu học tập đã xác định, giáo viên
thiết kế hoạt động kiểm tra, đánh giá bao phủ các mục tiêu đã đặt ra Do vậy,
Trang 1111
trong thiết lập ma trận các bài kiểm tra, đánh giá môn học theo tiếp cận năng
lực, người giáo viên cần căn cứ vào hệ thống các mục tiêu đã xác định cho môn
học, từ đó phân chia mục tiêu/nhóm mục tiêu sẽ được đánh giá theo những hình
thức khác nhau: bài tự luận, trắc nghiệm, bài thực hành hoặc dạng hồ sơ học
tập
1/ Tự luận
Quy trình và kĩ thuật thiết kế đề kiểm tra, thi kiểu tự luận
Bài kiểm tra viết với các câu hỏi tự luận cho phép học sinh tương đối tự do thể hiện
quan điểm khi trình bày câu trả lời cho môt chủ đề hay một nhiệm vụ đòi hỏi phải tích
hợp kiến thức được học, kinh nghiệm hiểu biết, khả năng phân tích, lập luận và kĩ năng
viết Bài kiểm tra viết tự luận có thể được sử dụng với nhiều mục đích giáo dục khác
nhau nhằm cung cấp thông tin phản hồi có chiều sâu về khả năng của học sinh, đặc biệt
thích hợp cho việc đánh giá các năng lực tư duy bậc cao như năng lực phân tích, tổng
hợp, đánh giá, sáng tạo; năng lực vận dụng, tích hợp mà một bài thi với các câu hỏi trắc
nghiệm khách quan đa lựa chọn khó có thể đánh giá được Bài kiểm tra viết tự luận
thường có hai dạng: tự luận ngắn (hạn chế) và tự luận dài (mở rộng)
o Mô tả về dạng câu hỏi tự luận
Các ví dụ về câu hỏi tự luận hạn chế:
Ví dụ 1: Viết một đoạn văn ngắn khoảng một trang so sánh hai khái niệm “vị tha” và “ích
kỉ” có liên hệ với: (a) một bối cảnh hoặc tình huống cụ thể mà một người có tính “vị tha”
hay “ích kỉ” gặp phải; và (b) những người mà họ gặp
Bài luận của học sinh sẽ được chấm dựa trên mức độ rõ ràng của việc giải thích điểm
giống và khác nhau giữa hai khái niệm trên, cách học sinh liên hệ với: (a) bối cảnh hoặc
tình huống và (b) những người cụ thể
Thời gian làm bài: 30 phút
Ví dụ 2: Đưa ra ba gợi ý về việc giữ gìn và cải tạo môi trường xung quanh trường học
của học sinh Với mỗi gợi ý đưa ra, viết một đoạn giải thích ngắn Bài làm của học sinh
sẽ được chấm dựa trên: (a) ba ý kiến mà các em đưa ra; (b) cách lập luận mà ba ý kiến
trên có thể giữ gìn và cải tạo môi trường; và (c) những giải thích, chứng minh của học
sinh về từng ý kiến đưa ra
Thời gian làm bài: 30 phút
Bài tự luận ngắn bị hạn chế về nội dung và hình thức thể hiện nên khó đánh giá được
độ sâu, độ rộng của sự hiểu biết, kinh nghiệm sống của người trả lời
Các ví dụ về câu hỏi tự luận mở rộng:
Ví dụ 1: Xây dựng và giải trình về một kế hoạch chọn mẫu khảo sát nhằm xác định mật
độ các của hàng CD/DVD và cafe internet có đồng đều giữa các quận khác nhau trong
thành phố hay không, hay chỉ tập trung ở những địa điểm nhất định Giải thích tại sao kế
hoạch của bạn lại khả thi Bài luận của học sinh sẽ được chấm dựa trên: (a) mức độ phù