Thành phố Đà Nẵng đã và đang định hướng phát triển mạnh ngành du lịch biển, do đó nhu cầu liên quan đến công tác cấp cứu y tế thuộc khu vực biển, ven biển càng trở nên cần thiết hơn bao
Trang 1(Theo Hợp đồng số 16/HĐ-SKHCN ngày 11/5/2018)
Chủ nhiệm đề tài: BSCK2 Ngô Thị Kim Yến
Đà Nẵng, năm 2018
Trang 2Cơ quan chủ trì: Sở Y tế thành phố Đà Nẵng
Chủ nhiệm đề tài: ThsBSCK2 Ngô Thị Kim Yến
Phó chủ nhiệm đề tài: ThSBSCK2 Trần Thanh Thủy
Thƣ ký đề tài: ThsYTCC Trần Thị Hoài Vi
Thời gian thực hiện: 12 tháng
Trang 33
Lời cảm ơn
Để hoàn thành đề tài này, Ban chủ nhiệm đã nhận được nhiều sự trợ giúp nhiệt tình, có trách nhiệm của nhiều cơ quan, nhiều đồng nghiệp và qua đây chúng tôi xin chân thành cảm ơn:
- Ban Giám đốc Sở Y tế, Ban Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ, đã tạo điều kiện thuận lợi cho nhóm nghiên cứu triển khai thực hiện đề tài
- Tập thể cán bộ y bác sĩ tại các cơ sở y tế tham gia khảo sát đã phối hợp thực hiện và hỗ trợ cung cấp thông tin một cách trung thực, khách quan cho việc thực hiện đề tài nghiên cứu
- Cán bộ giảng viên và các sinh viên thuộc Khoa Y tế công cộng, Trường Đại học Y Dược thành phố Đà Nẵng đã tham gia phỏng vấn các đối tượng nghiên cứu tại các địa phương cung cấp thông tin cho mẫu phiếu điều tra khảo sát để phục vụ quá trình nghiên cứu đề tài
Chúng tôi cũng xin cảm ơn 510 người dân đã cung cấp thông tin
về thực trạng tiếp cận và nhu cầu sử dụng dịch vụ cấp cứu y tế tại vùng biển để thực hiện đề tài này
Cuối cùng, chúng tôi xin cảm ơn tập thể nhóm cán bộ đã tham gia thực hiện đề tài, các chuyên gia trong Hội đồng thẩm định đề tài đã góp
ý hoàn thiện đề tài, cảm ơn phòng Quản lý Khoa học của Sở Khoa học
và Công nghệ đã theo dõi và hỗ trợ chúng tôi thực hiện đề tài theo đúng
kế hoạch./
Ban Chủ nhiệm đề tài
Trang 5ĐẶT VẤN ĐỀ
Công tác cấp cứu người bệnh tại chỗ và vận chuyển cấp cứu người bệnh đến các cơ
sở điều trị là vấn đề cấp thiết và quan trọng trong sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khỏe
người dân Việc hình thành một mạng lưới cấp cứu ngoại viện để đảm trách công tác cấp
cứu ngoại viện trong đời sống hàng ngày của người dân nói chung và người dân thuộc
vùng biển nói riêng là hoạt động cấp thiết
Thành phố Đà Nẵng là thành phố ven biển, có 05/07 quận ven biển, chiếm hơn 70%
số quận thuộc vùng ven biển trên toàn địa bàn thành phố Thành phố Đà Nẵng đã và đang
định hướng phát triển mạnh ngành du lịch biển, do đó nhu cầu liên quan đến công tác cấp
cứu y tế thuộc khu vực biển, ven biển càng trở nên cần thiết hơn bao giờ hết.Hoạt động
nâng cao năng lực cho cấp cứu y tế vùng biển được xem là hoạt động nghiên cứu có tầm
quan trọng, có ý nghĩa thực tiễn cao được triển khai theo Quyết định số 317/QĐ-TTg của
Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án phát triển y tế cho khu vực biển, đảo đến năm 2020
với mục tiêu chung là: “ Bảo đảm cho người dân sinh sống và làm việc ở vùng biển, đảo
được tiếp cận và sử dụng dịch vụ y tế cho nhu cầu dự phòng, cấp cứu, khám chữa bệnh và
nâng cao sức khỏe, góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu của Chiến lược biển Việt
Nam đến năm 2020 ” [Thủ tướng Chính phủ ,Quyết định 317]
Công tác cấp cứu người bệnh tại chỗ và vận chuyển cấp cứu người bệnh đến các cơ
sở điều trị là vấn đề cấp thiết và quan trọng trong sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khỏe
người dân Việc hình thành một mạng lưới cấp cứu ngoại viện để đảm trách công tác cấp
cứu ngoại viện trong đời sống hàng ngày của người dân nói chung và người dân thuộc
vùng biển nói riêng là hoạt động cấp thiết
Thành phố Đà Nẵng là thành phố ven biển, có 05/07 quận ven biển, chiếm hơn 70%
số quận thuộc vùng ven biển trên toàn địa bàn thành phố Theo thống kê hằng năm chỉ tính
riêng số ca cấp cứu tại các cơ sở y tế trên địa bàn thành phố trung bình có 350.000 lượt,
trong đó trong năm 2017 có 18.610 lượt cấp cứu được vận chuyển bằng phương tiện cấp
cứu chuyên dụng (tỷ lệ chỉ đạt 5,3%) [Trung tâm Cấp cứu thành phố Đà Nẵng (2017), Báo
cáo số 421/BC-TTCC ngày 24/11/2017 về thực hiện chỉ tiêu 2017 và đề xuất chỉ tiêu
chuyên môn sự nghiệp năm 2018]
Để có thể hiểu rõ hơn về thực trạng cung cấp và sử dụng dịch vụ cấp cứu y tế tại
vùng biển trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, qua đó tìm hiểu được các yếu tố liên quan đến
quyết định lựa chọn dịch vụ này đồng thời nắm rõ thực trạng năng lực của các cơ sở y tế để
góp phần xây dựng Quy chế phối hợp trong cấp cứu trước viện nhằm đảm bảo nâng cao
chất lượng dịch vụ cấp cứu y tế trên địa bàn thành phố Đà Nẵng cũng như có định hướng
chung phát triển dịch vụ này trong thời gian đến, chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Đánh
Formatted: Font: 14 pt Formatted: Font: 12 pt
Trang 62
giá thực trạng cung cấp và nhu cầu sử dụng dịch vụ cấp cứu y tế vùng biển trên địa
bàn thành phố Đà Nẵng”, nghiên cứu thực hiện với mục tiêu như sau:
Mục tiêu cụ thể:
1 Đánh giá thực trạng cung cấp dịch vụ cấp cứu y tế vùng biển tại thành phố Đà Nẵng
2 Khảo sát thực trạng, nhu cầu sử dụng dịch vụ cấp cứu y tế vùng biển của người dân
và tìm hiểu các yếu tố liên quan
3 Đề xuất nhu cầu đầu tư và các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ cấp cứu
y tế vùng biển tại thành phố Đà Nẵng
Chương I TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1.Khái niệm, đặc thù về cấp cứu
Cấp cứu thường được dùng để chỉ các tình trạng bệnh nội/ ngoại cần được đánh giá
và điều trị ngay Các tình trạng cấp cứu có thể là:
+ Nguy kịch (khẩn cấp) (critical): bệnh nhân có bệnh lý, tổn thương, rối loạn đe dọa tính
mạng, nguy cơ tử vong nhanh chóng nếu không được can thiệp cấp cứu ngay
+ Cấp cứu (emergency): bệnh nhân có bệnh lý, tổn thương, rối loạn có thể tiến triển nặng
lên nếu không được can thiệp điều trị nhanh chóng
- Công tác thực hành cấp cứu có nhiệm vụ đánh giá, xử trí và điều trị cho các bệnh nhân
có bệnh lý/tổn thương/rối loạn cấp cứu
1.2 Quy định tiêu chuẩn xe cứu thương
Theo Thông tư 27/2017/TT-BYT ngày 28/6/2017 của Bộ Y tế quy định về tiêu
chuẩn và sử dụng xe ô tô cứu thương có nêu rõ Xe ô tô cứu thương phải là xe ô tô đáp ứng
yêu cầu tại mục 3.1.2 của Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 7271:2003 về phương tiện giao
thông đường bộ
1.1.3 Vài nét về mạng lưới cấp cứu y tế vùng biển của thành phố Đà Nẵng
Formatted: Font: 12 pt, Condensed by 0.2 pt
Trang 7Hiện thành phố có 08 quận/huyện gồm: 06 quận nội thành, ven biển: Hải Châu,
Thanh Khê, Sơn Trà, Ngũ Hành Sơn, Liên Chiểu, Cẩm Lệ; 01 huyện miền núi: Hòa Vang
và 01 huyện đảo Hoàng Sa Tổng số xã, phường hiện có là 56 xã, phường, trong đó có 18
xã, phường ven biển thuộc 05 quận ven biển, 11 xã, phường thuộc huyện miền núi và 27
xã, phường thuộc khu vực thành thị
Tại khu vực vùng biển, hiện có 28 cơ sở y tế từ tuyến phường đến tuyến thành phố
thực hiện chức năng về cấp cứu y tế vùng biển
Chương II ĐỐI TƯỢNG – PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu: Trong nghiên cứu này có 2 nhóm đối tượng:
- Mạng lưới cơ sở y tế tham gia trực tiếp công tác cấp cứu y tế trước viện và vận chuyển cấp cứu
tại vùng biển trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
- Người dân: tại các phường ven biển thành phố Đà Nẵng
2.1.1 Đối tượng là cơ sở y tế:
* Tiêu chuẩn chọn đối tượng nghiên cứu (cơ sở y tế): Chọn tất cả gồm: 28 cơ sở y tế (04 đơn
vị tuyến thành phố gồm Bệnh viện Đà Nẵng, Bệnh viện C, Trung tâm Cấp cứu, Y tế Trung
tâm phối hợp tìm kiếm, cứu nạn hàng hải; 05 TTYT Quận ven biển; 18 TYT phường ven biển;
01 Bệnh xá vùng 3 Hải quân) đang thực hiện chức năng này tại thành phố Đà Nẵng
*Tiêu chuẩn loại trừ: Không đáp ứng các tiêu chí chọn nêu trên
2.1.2 Đối tượng là người dân: Là người nắm được các thông tin về sử dụng dịch vụ cấp cứu
y tế, đang cư trú tại các phường thuộc khu vực biển, ven biển trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
2.2 Địa điểm nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu: tại khu vực ven biển, vùng biển trên
địa bàn thành phố Đà Nẵng
2.3.Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 4/2018 đến tháng 1/2019
Formatted: Font: Not Bold
Formatted: Justified, Tab stops: 0.5 cm, Left Formatted: Font: Not Bold
Formatted: Font: 12 pt, Not Bold
Trang 84
2.4 Nội dung nghiên cứu và Phương pháp nghiên cứu
2.4.1.Nội dung nghiên cứu
- Thực hiện tìm hiểu các điều kiện về cơ sở hạ tầng, trang thiết bị, thuốc và nhân lực tại các cơ sở tham gia công tác cấp cứu y tế trước viện và vận chuyển cấp cứu thuộc vùng biển nhằm đánh giá thực trạng năng lực cung cấp dịch vụ cấp cứu y tế vùng biển trên địa bàn thành phố;
- Phỏng vấn trực tiếp bằng bộ câu hỏi soạn sẵn ở người dân nhằm đánh giá nhu cầu tiếp cận và sử dụng dịch vụ cấp cứu y tế của người dân ở các phường thuộc khu vực biển, ven biển trên địa bàn thành phố;
- Tìm hiểu các yếu tố liên quan trong tiếp cận và sử dụng dịch vụ y tế của người dân ở các phường thuộc khu vực biển, ven biển trên địa bàn thành phố thông qua việc phân tích kết quả ghi nhận từ phỏng vấn người dân bằng bộ câu hỏi soạn sẵn;
- Từ thực trạng ghi nhận của đề tài nghiên cứu chúng tôi đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ cấp cứu y tế vùng biển tại thành phố Đà Nẵng, đồng thời xây dựng Quy chế phối hợp giữa các đơn vị tham gia cấp cứu y tế trước viện và vận chuyển cấp cứu thuộc vùng biển tại thành phố Đà Nẵng trong thời gian đến
2.4.2.Thiết kế nghiên cứu: Sử dụng phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân
tích Kết hợp nghiên cứu định lượng và nghiên cứu định tính Trong đó:
- Nghiên cứu định lượng:
+ Tiến hành trên đối tượng người dân vùng biển, bằng hình thức phỏng vấn theo Bộ câu hỏi chuẩn hoá, nhằm tìm hiểu thông tin về thực trạng tiếp cận và nhu cầu sử dụng dịch vụ cấp cứu y tế của người dân vùng biển tại thành phố Đà Nẵng (Phụ lục 1) (n=480 người) + Tiến hành trên đối tượng các CSYT: Đánh giá thực trạng thực hiện dịch vụ cấp cứu y tế vùng biển bằng hình thức phỏng vấn cán bộ lãnh đạo hoặc cán bộ phụ trách công tác cấp cứu y tế vùng biển theo Bộ câu hỏi soạn sẵn (Phụ lục 2) (cỡ mẫu thực hiện 28 cơ sở)
- Nghiên cứu định tính:
+ Tiến hành phỏng vấn đơn vị bằng bộ câu hỏi mở gợi ý để tìm hiểu nhu cầu đầu tư về cấp cứu y tế vùng biển tại các CSYT tham gia công tác cấp cứu y tế trước viện và vận chuyển cấp cứu thuộc vùng biển tại thành phố Đà Nẵng (Phụ lục 3) (cỡ mẫu thực hiện là 28 đơn vị)
+ Tiến hành thảo luận nhóm trên đối tượng cán bộ lãnh đạo của các CSYT thực hiện chức năng nhiệm vụ cấp cứu y tế vùng biển trên địa bàn thành phố nhằm tìm hiểu về quan điểm của người cung cấp dịch vụ và người thụ hưởng dịch vụ (Phụ lục 4) (tiến hành 04 cuộc TLN ở 04 nhóm đơn vị theo tuyến)
2.4.3.Cỡ mẫu:
* Đối với nghiên cứu định lượng:
Trang 9- Đối tượng là người dân, áp dụng phương pháp chọn mẫu ước lượng cho một tỷ lệ:
+ n: cỡ mẫu tối thiểu hợp lý
+ p: tỷ lệ người dân vùng biển sử dụng dịch vụ cấp cứu y tế tại các cơ sở y tế tham gia thực
hiện cấp cứu y tế là 0,5
+ α: mức ý nghĩa thống kê là 0,05
+ Z: Giá trị tương ứng của hệ số tin cậy: Z = 1,96
+ d: Sai số cho phép 4,5% (d = 0,045)
Cỡ mẫu tính được là: n = 474 người dân Dự trù các phiếu được thu thập không hoàn chỉnh
chúng tôi làm tròn cỡ mẫu nghiên cứu, do đó cỡ mẫu nghiên cứu tối thiểu trên đối tượng
người dân là:
n = 480 người
- Đối tượng là CSYT thực hiện dịch vụ cấp cứu y tế vùng biển: Chọn các cán bộ lãnh đạo
đại diện cho các CSYT để đánh giá thực trạng thực hiện dịch vụ cấp cứu y tế vùng biển
dựa trên bộ câu hỏi soạn sẵn
Chúng tôi tiến hành khảo sát thực trạng trên 28 cơ sở y tế thực hiện dịch vụ cấp cứu y tế vùng
biển tại thành phố Đà Nẵng (28 phiếu khảo sát, phụ lục 02)
*Đối với nghiên cứu định tính: là CSYT thực hiện chức năng cấp cứu y tế trước viện và vận
chuyển cấp cứu thuộc vùng biển:
+ Tìm hiểu nhu cầu đầu tư phục vụ cấp cứu y tế trước viện và vận chuyển cấp cứu thuộc
vùng biển của 28 cơ sở y tế được khảo sát thực trạng thực hiện ở trên bằng bộ câu hỏi mở
(phụ lục 03)
+ Tổ chức 04 cuộc thảo luận nhóm gồm các cán bộ y tế chủ chốt tham gia trực tiếp phục
vụ cấp cứu y tế trước viện thuộc vùng biển đang công tác tại 28 CSYT nêu trên (Mỗi CSYT
được phân theo tuyến thực hiện 01 cuộc TLN) Với nội dung này, chúng tôi sẽ tiến hành trên
28 CSYT thực hiện chức năng nhiệm vụ cấp cứu y tế trước viện và vận chuyển cấp cứu thuộc
vùng biển Như vậy, có 04 cuộc thảo luận nhóm (mỗi cuộc thảo luận nhóm từ 10-15 người
theo đặc điểm chức năng gồm: lãnh đạo/quản lý; phụ trách kế hoạch; phụ trách chuyên môn;
phụ trách nhân sự; phục trách hậu cần dược/TTB, cụ thể: (i) Nhóm Bệnh viện tuyến thành phố;
(ii) Nhóm TTYT quận; (iii) Nhóm thực hiện chức năng vận chuyển, cứu hộ; (iv) Nhóm TYT
phường) (phụ lục 04)
+ Mục đích của nghiên cứu định tính: Tìm hiểu sâu hơn về thực trạng năng lực, nhu cầu đầu tư
gồm cơ sở hạ tầng, trang thiết bị, thực hiện danh mục kỹ thuật, trình độ chuyên môn của các y,
bác sỹ về chất lượng dịch vụ cấp cứu y tế trước viện và vận chuyển cấp cứu thuộc vùng biển
Formatted: Font: 12 pt Formatted: Font: 12 pt
Trang 106
và nhu cầu của người dân về tình hình sử dụng dịch vụ cấp cứu y tế vùng biển và các yếu tố
liên quan
* Ngoài ra, nghiên cứu sẽ sử dụng nguồn số liệu thứ cấp từ hồ sơ, sổ sách, báo cáo về hoạt
động khám chữa bệnh nói chung và công tác cấp cứu y tế trước viện và vận chuyển cấp
cứu thuộc vùng biển nói riêng của các CSYT
2.4.5 Cách chọn mẫu:
2.4.5.1 Phương pháp chọn mẫu thực hiện nghiên cứu định lượng
* Đối tượng: Người dân
Chọn mẫu chùm nhiều giai đoạn, trong đó:
Bước 1 Chọn 09 xã/phường ven biển (trong tổng số 18 xã/phường ven biển) trên địa bàn
thành phố bằng phương pháp chọn mẫu nhiều giai đoạn
Bước 2 Chọn ngẫu nhiên đơn một số tổ dân phố tại 09 xã/phường ven biển được chọn ở bước 1
Bước 3 Áp dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên đơn tiếp tục (sử dụng bảng số ngẫu
nhiên và phương quay bút chì) để chọn ngẫu nhiên những người dân đang cư trú tại mỗi tổ
dân phố được chọn ở bước 2
Danh sách 09 phường ven biển được xác định:
09 phường thuộc
khu vực biển, ven
biển
Thanh Khê Đông
Nại Hiên Đông
Hòa Minh
Khuê Mỹ
* Đối tượng: Cở sở y tế (n=28)
Chọn mẫu thuận tiện Chọn đại diện các cán bộ có vai trò chủ chốt từng bộ phận của đơn vị
(gồm cán bộ lãnh đạo, phụ trách kế hoạch, nhân sự, hậu cần dược/TTB) trong hoạt động thực
hiện nhiệm vụ cấp cứu y tế trước viện và vận chuyển cấp cứu thuộc vùng biển đang công tác tại
28 CSYT được chọn nghiên cứu để tiến hành đánh giá thực trạng thực hiện dịch vụ cấp cứu y tế
vùng biển
2.4.5.2 Phương pháp chọn mẫu thực hiện nghiên cứu định tính
* Đối tượng: Chọn tất cả 28 cơ sở y tế thực hiện chức năng cấp cứu y tế trước viện và vận
chuyển cấp cứu thuộc vùng biển trên địa bàn thành phố Đà Nẵng để tìm hiểu sâu về năng lực,
nhu cầu đầu tư nhằm thực hiện hiệu quả dịch vụ cấp cứu y tế vùng biển thông qua hình thức:
- PVS bằng bộ câu hỏi mở gợi ý để tìm hiểu về nhu cầu đầu tư phục vụ cấp cứu y tế trước viện
và vận chuyên cấp cứu của các cơ sở y tế (phụ lục 03, n=28 cơ sở)
Formatted: Font: 12 pt, Condensed by 0.3 pt Formatted: Font: 12 pt
Formatted: Font: 12 pt
Formatted: Font: 12 pt
Trang 11- Thảo luận nhóm (04 cuộc TLN) trong đó: chọn 02/02 bệnh viện tuyến thành phố; 02/02
đơn vị thực hiện chức năng vận chuyển cấp cứu; 05/05 TTYT quận ven biển; 18/18 TYT
phường ven biển
2.5 Vật liệu và các kỹ thuật dùng trong nghiên cứu
- Sử dụng bộ câu hỏi soạn sẵn phỏng vấn trực tiếp người dân để đánh giá thực trạng nhu cầu sử dụng
dịch vụ cấp cứu y tế vùng biển của người dân tại thành phố Đà Nẵng và tìm hiểu các yếu tố liên
quan (phụ lục 1, n=480 người)
- Sử dụng bộ câu hỏi soạn sẵn phỏng vấn trực tiếp cơ sở y tế (cán bộ lãnh đạo) để đánh giá
về thực trạng thực hiện dịch vụ cấp cứu y tế vùng biển và nhu cầu đầu tư cho hoạt động
cấp cứu y tế vùng biển (phụ lục 2, n=28 cơ sở)
- Sử dụng bộ câu hỏi mở gợi ý tìm hiểu nhu cầu đầu tư nhằm thực hiện hiệu quả chức năng
nhiệm vụ cung cấp dịch vụ cấp cứu y tế trước viện và vận chuyển cấp cứu thuộc vùng biển
(phụ lục 3, n=28 cơ sở)
- Sử dụng Phiếu gợi ý TLN (04 cuộc TLN, trung bình mỗi nhóm gồm 15 cán bộ) để tìm hiểu
sâu hơn về các yếu tố liên quan đến năng lực thực hiện cung cấp dịch vụ cấp cứu y tế trước
viện và vận chuyển cấp cứu của các cơ sở y tế (mỗi cuộc thảo luận nhóm đại diện cho các chức
năng nhiệm vụ theo tuyến khác nhau gồm: (i) Nhóm các bệnh viện thành phố; (ii) Nhóm chức
năng vận chuyển cấp cứu; (iii) Nhóm TTYT quận; (iv) Nhóm các TYT) (phụ lục 4, n=60)
Chương III KẾT QUẢ
3.1.Khảo sát thực trạng thực hiện dịch vụ cấp cứu y tế trước viện và vận chuyển cấp
cứu của các cơ sở y tế
Bảng 3.1: Số xe ô tô cứu thương/tàu cứu hộ hiện có tại các cơ sở y tế khảo sát:
Đối với các đơn vị y tế thuộc vùng biển trong phạm vi nghiên cứu (kể cả bệnh viện bộ
ngành đóng trên địa bàn), có tổng cộng 38 phương tiện sơ cấp cứu ban đầu, trong đó có 36 xe
và 02 tàu cứu hộ; trong đó có 22 thuộc tiêu chuẩn theo Thông tư 27 nêu trên về phương tiện
cứu thương chuyên dụng
Bảng 3.2: Phân bố nhân lực thực hiện cấp cứu trước viện
Trang 12Nhận xét: các cán bộ tham gia bộ phận thực hiện sơ cấp cứu theo thứ tự từ cao đến thấp gồm
điều dưỡng (35,5%), y sỹ (19,8%), bác sỹ (16,8%), lao động hỗ trợ khác (10,1%), nữ hộ sinh
(7,4%), dược (7,2%), kỹ thuật viên (3,3%)
Bảng 3.3: Cán bộ thuộc bộ phận cấp cứu/vận chuyển cấp cứu tham gia tập huấn về cấp
Nhận xét: Trong số các cán bộ y tế tham gia bộ phận sơ cấp cứu, chỉ có 15,7% người được
tập huấn cấp cứu, còn lại có đến 84,3% người chưa được tập huấn về nội dung này
Bảng 3.4: Thực trạng thực hiện các dịch vụ liên quan đến cấp cứu
Cấp cứu ngộ độc thần kinh do hải sản độc
Cấp cứu ngộ độc tiêu hóa do hải sản độc
Cấp cứu ngộ độc do nọc độc động vật biển cắn
Cấp cứu đuối nước
Formatted: Font: 12 pt
Trang 13Không thường xuyên 13 46,4
Cấp cứu bỏng
Cấp cứu tai nạn lặn biển
Cấp cứu tai nạn thương tích và các bệnh lý thông
thường khác
Nhận xét: Trong số các dịch vụ cấp cứu nêu trên, thực tế các đơn vị y tế tham gia khảo sát
cho biết: các trường hợp cấp cứu về ngộ độc thần kinh, ngộ độc tiêu hóa, ngộ độc do nọc
động, tại nạn lặn liên quan đến biển hầu như rất ít được triển khai (lần lượt tỷ lệ các đơn vị
không bao giờ thực hiện các dịch vụ cấp cứu này 60,7%; 57,1%; 53,6%; 64,3%) Cấp cứu
tai nạn thương tích và các bệnh lý thông thường khác hầu hết là được các đơn vị thực hiện
thường xuyên hơn so với các dịch vụ cấp cứu khác
3.2 Thực trạng tiếp cận và sử dụng dịch vụ cấp cứu của người dân vùng biển
Bảng 3.5: Biết về số điện thoại cấp cứu y tế khẩn cấp
Nhận xét: tỷ lệ người dân biết số điện thoại cấp cứu y tế và trả lời đúng cách gọi là 61,9%
(chỉ cần bấm 115); biết số nhưng cách gọi sai chiếm 10,6% (có thêm mã vùng) và hoàn
toàn không biết là 27,5%
Bảng 3.6: Tình trạng đau ốm/tai nạn thương tích cần cấp cứu trong 12 tháng qua
Formatted: Font: 12 pt
Formatted: Font: 12 pt