Thử nghiệm thiết kế dao động ký số trên FPGA
Trang 1Máy hiển thị sóng hay còn gọi là máy dao động số có nhớ (DSO) là một thiết bị không thể thiếu trong đo lường điều khiển Cùng với sự phát triển của khoa khọc công nghệ mà ngày nay chúng ta có những máy hiện sóng có tính năng rất phong phú và kích thước cũng được giảm xuống đáng kể, bớt cồng kềnh và đặc biệt giá thành lại hạ xuống rất nhiều Ngày nay công nghệ sản xuất FPGA rất phát triển nên khóa luận này
em xin trình bày về cách thiết kế một máy dao động số có nhớ dựa trên công nghệ FPGA
Khóa luận được chia làm hai phần: Phần lý thuyết em xin trình bày một cách tổng quan nhất về công nghệ FPGA, giới thiệu sơ qua về các bước thực hiện trong FPGA Phần thứ hai em xin trình bày về các loại máy dao động số có nhớ, cấu tạo và nguyên tắc hoạt động của máy dao động tương tự và máy dao động số có nhớ Cuối cùng là phần em trình bày về các bước thiết kế một máy dao động số trên FPGA và một số kết quá thu được
Trang 2Mục lục
CÁC TỪ VIẾT TẮT iv
Mở đầu 1
Chương 1 2
TỔNG QUAN VỀ FPGA 2
1.1 FPGA LÀ GÌ? 2
1.2 LỊCH SỬ RA ĐỜI FPGA 3
1.3 ỨNG DỤNG 3
1.4 CẤU TRÚC MỘT FPGA 4
1.4.1 Khối logic FPGA 4
1.4.2 Các phần tử tích hợp sẵn 5
1.4.3 Quy trình thiết kế FPGA tổng quát 5
1.4.3.1 Mô tả ban đầu về thiết kế 6
1.4.3.2 Thực thi 8
1.4.3.3 Quá trình Nạp (download) và lập trình (program) 10
1.5 TỔNG QUAN VỀ VHDL 10
1.5.1 Giới thiệu về ngôn ngữ mô tả phần cứng VHDL 10
1.5.2 Cấu trúc một mô hình hệ thống mô tả bằng VHDL 12
1.5.2.1 Thực thế (entity) của mô hình 12
1.5.2.2 Kiến trúc của mô hình 13
TỔNG QUAN VỀ OSCILLOSCOP 14
2.1 DAO ĐỘNG KÍ ĐIỆN TỬ 14
2.2 PHÂN LOẠI OSCILLOSCOP 15
2.3 CẤU TRÚC CỦA OSCILLOSCOP ĐIỆN TỬ TƯƠNG TỰ 16
2.3 CẤU TRÚC CỦA OSCILLOSCOP ĐIỆN TỬ SỐ 17
CÁC BƯỚC THIẾT KẾ MỘT OSCILLOSCOP SỐ CÓ NHỚ 22
3.1 CÁC THÀNH PHẦN TRONG THIẾT KẾ 23
3.1.1.Bộ nhớ 23
3.1.2 Bộ biến đổi tương tự - số ADC 25
3.1.4 Điều khiển logic 28
3.2 THIẾT KẾ CHI TIẾT 32
3.2.1 Cấu hình để nạp vào FPGA 32
3.2.2 Chế độ tiền trigger 33
3.2.3 Dò điểm trigger 34
3.3.4 Bộ tạo xung 36
3.3.6 Giao diện logic cổng song song 37
3.3.7 Điều khiển ADC 38
Chương 4 39
CHƯƠNG TRÌNH VÀ MÔ PHỎNG TRÊN KIT DE2 39
4.1 TỔNG QUAN VỀ KIT DE2 VÀ CHIP CYCLONE II 39
4.2 CHƯƠNG TRÌNH VÀ MÔ PHỎNG 44
4.2.1 Chương trình chính điểu khiển DSO 44
4.2.2 Chương trình điểu khiển logic cổng song song 46
Trang 34.2.3 Chương trình điểu khiển FIFO 47
4.2.4 Chương trình tạo dạng xung chia theo tỉ lệ 1/2, 1/4, 1/8, 1/16, 1/32 49
4.2.4 Chương trình dò điểm trigger 50
Kết luận 52
PHỤ LỤC 53
Tài liệu tham khảo 70
Trang 4CÁC TỪ VIẾT TẮT
Memory
Trang 5WCLK : Write Clock
Trang 6Lời cảm ơn
Lời đầu tiên em xin gửi lời cảm ơn đến toàn thể các thầy, cô giáo khoa Điện tử -
Viễn thông trường Đại học Công Nghệ- ĐHQG Hà Nội, những người đã tận tình dạy
dỗ, chỉ bảo em trong suốt bốn năm học vừa qua tại nhà trường
Tiếp theo em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến TS Nguyễn Thăng Long và
CN Phan Văn Minh , những người đã trực tiếp hướng dẫn em trong suốt quá trình học
tập và nghiên cứu tại trường, các thầy đã truyền cho em cách tư duy có hệ thống,
phương pháp nghiên cứu, tiếp cận thực tế - những điều rất quý báu với em khi ra
trường làm việc thực tế
Em xin cảm ơn tới toàn thể cán bộ bộ môn Vi cơ điện tử - vi hệ thống những
người đã dẫn dắt và định hướng nghiên cứu cho em trong suốt hai năm qua
Em xin gửi lời cảm ơn tới Ths Nguyễn Kiêm Hùng cùng toàn thể cán bộ làm
việc trong phòng ” các hệ thống tích hợp thông minh” đã chỉ bào và tạo điện kiện cho
em trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu FPGA trong phòng
Em xin tỏ lòng biết ơn chân thành tới cha mẹ, gia đình em những người đã sinh
thành, nuôi nấng, tin tưởng động viên em Xin gửi lời cảm ơn tới tất cả bạn bè, đặc biệt
là tập thể lớp K49ĐB, những người đã cổ vũ, động viên, chia sẻ với em trong suốt
những năm qua
Hà nội, ngày 27 tháng 5 năm 2008
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Văn Thông
Trang 7Dao động kí (Oscilloscop) là một thiết bị đo lường điện tử phổ biến nhất hiện nay, không giống như các loại máy đo khác chỉ cho ta các thông số của tín hiệu, Oscilloscop còn cho phép ta quan sát tức thời dạng của tín hiệu Nhiệm vụ chính của một Oscilloscop là hiển thị một cách thật chính xác, chi tiết dạng tín hiệu dưới dạng hàm số của điện áp và thời gian Ngoài ra một nhiệm vụ không kém phần quan trọng khác của oscilloscop là so sánh các dạng sóng khác nhau và đo lường mối quan hệ về thời gian và pha giữa chúng
Có thể nói quá trình phát triển của oscillscop gắn liền với quá trình phát triển của
kĩ thuật điện tử Mở đầu là oscilloscop tương tự, một vài thập niên gần đây là oscilloscop số, gần đây nhất là một số công ty đo lường hàng đầu thế giới vừa cho ra đời oscilloscop hỗn hợp giữa số và tương tự được tính hợp với các tính năng mạnh mẽ nhất thừa hưởng từ ngành công nghiệp máy tính
Thế kỉ 21 là thế kỉ của thông tin và kĩ thuật số với sự phát triển và ứng dụng rộng rãi của các bộ vi xử lý Bằng việc đưa sức mạnh kĩ thuật số vào thực tiễn, các bộ vi xử
lý ngày một thay đổi cách sống của xã hội loài người Khóa điện tử, máy điện thoại, nồi cơm điện… của chúng ta đang ngày một thông minh hơn, mạnh mẽ và nhanh nhờ các bộ vi xử lý Tất cả các ngành công nghiệp lớn như: viễn thông, điều khiển công nghiệp, sản xuất hàng tiêu dùng… đều ý thức được và sử dụng triệt để công nghệ mới
và họ cũng vấp phải những vần đề mới cần giải quyết đó là các vấn đề liên quan tới tín hiệu và điều khiển số và tương tự của thế giới thực Oscilloscop với vai trò là một thiết bị giám sát, đo kiểm phải đáp ứng được các yêu cầu ngày càng khắt khe do các ngành công nghiệp này đắt ra
Với mục đích là tìm hiểu và thiết kế một oscilloscop số, khóa luận này trình bày
và phân tính cấu tạo, nguyên lí hoạt động của các loại oscilloscop, các tính năng tiến tiến của chúng, đặc biệt là cách thiết kế một oscilloscop kĩ thuật số có nhớ dùng chip FPGA làm trung tâm điều khiển
Trang 8Chương 1
TỔNG QUAN VỀ FPGA
1.1 FPGA LÀ GÌ?
FPGA (Field-Programmable Gate Array) là vi mạch dùng cấu trúc mảng phần tử
logic mà người dùng có thể lập trình được Vi mạch FPGA được cấu thành từ các bộ
phận:
Các khối logic cơ bản lập trình được (logic block)
Hệ thống mạch liên kết lập trình được
Khối vào/ra (IO Pads)
Phần tử thiết kế sẵn khác như DSP slice, RAM, ROM, nhân vi xử lý
So sánh FPGA với ASIC và các vi mạch bán dẫn khác:
ASIC (Application-Specific Integrated Circuit) là một vi mạch IC được thiết kế
dành cho một ứng dụng cụ thể
FPGA cũng được xem như một loại vi mạch bán dẫn chuyên dụng ASIC, nhưng
nếu so sánh FPGA với những ASIC đặc chế hoàn toàn hay ASIC thiết kế trên thư viện
logic thì FPGA không đạt đựợc mức độ tối ưu như những loại này, và hạn chế trong
khả năng thực hiện những tác vụ đặc biệt phức tạp, tuy vậy FPGA ưu việt hơn ở chỗ
có thể tái cấu trúc lại khi đang sử dụng, công đoạn thiết kế đơn giản do vậy chi phí
giảm, rút ngắn thời gian đưa sản phẩm vào sử dụng
Còn nếu so sánh với các dạng vi mạch bán dẫn lập trình được dùng cấu trúc
mảng phần tử logic như PLA, PAL, CPLD thì FPGA ưu việt hơn các điểm:
Tác vụ tái lập trình của FPGA thực hiện đơn giản hơn
Khả năng lập trình linh động hơn
Kiến trúc của FPGA cho phép nó có khả năng chứa khối lượng lớn cổng
logic (logic gate), so với các vi mạch bán dẫn lập trình được có trước nó
Thiết kế hay lập trình cho FPGA được thực hiện chủ yếu bằng các ngôn ngữ mô
tả phần cứng HDL như VHDL, Verilog, AHDL, các hãng sản xuất FPGA lớn như
Xilinx, Altera thường cung cấp các gói phần mềm và thiết bị phụ trợ cho quá trình
Trang 9thiết kế, cũng có một số các hãng thứ ba cung cấp các gói phần mềm kiểu này như
Synopsys, Synplify Các gói phần mềm này có khả năng thực hiện tất cả các bước
của toàn bộ quy trình thiết kế IC chuẩn với đầu vào là mã thiết kế trên HDL (còn gọi là
mã RTL)
1.2 LỊCH SỬ RA ĐỜI FPGA
FPGA được thiết kế đầu tiên bởi Ross Freeman, người sáng lập công ty Xilinx
vào năm 1984, kiến trúc mới của FPGA cho phép tích hợp số lượng tương đối lớn các
phần tử bán dẫn vào 1 vi mạch so với kiến trúc trước đó là CPLD FPGA có khả năng
chứa tới từ 100.000 đến hàng vài tỷ cổng logic, trong khi CPLD chỉ chứa từ 10.000
đến 100.000 cổng logic; con số này đối với PAL, PLA còn thấp hơn nữa chỉ đạt vài
nghìn đến 10.000
CPLD được cấu trúc từ số lượng nhất định các khối SPLD (Simple programable
devices, thuật ngữ chung chỉ PAL, PLA) SPLD thường là một mảng logic AND/OR
lập trình được có kích thước xác định và chứa một số lượng hạn chế các phần tử nhớ
đồng bộ (clocked register) Cấu trúc này hạn chế khả năng thực hiện những hàm phức
tạp và thông thường hiệu suất làm việc của vi mạch phụ thuộc vào cấu trúc cụ thể của
vi mạch hơn là vào yêu cầu bài toán
Kiến trúc của FPGA là kiến trúc mảng các khối logic, khối logic, nhỏ hơn nhiều
nếu đem so sánh với một khối SPLD, ưu điểm này giúp FPGA có thể chứa nhiều hơn
các phần tử logic và phát huy tối đa khả năng lập trình của các phần tử logic và hệ
thống mạch kết nối, để đạt được mục đích này thì kiến trúc của FPGA phức tạp hơn
nhiều so với CPLD
Một điểm khác biệt với CPLD là trong những FPGA hiện đại được tích hợp
nhiều những bộ logic số học đã sơ bộ tối ưu hóa, hỗ trợ RAM, ROM, tốc độ cao, hay
các bộ nhân cộng (multication and accumulation, MAC), thuật ngữ tiếng Anh là DSP
slice dùng cho những ứng dụng xử lý tín hiệu số DSP
Ngoài khả năng tái cấu trúc vi mạch toàn cục, một số FPGA hiện đại còn hộ trợ
tái cấu trúc cục bộ, tức là khả năng tái cấu trúc một bộ phận riêng lẻ trong khi vẫn đảm
bảo hoạt động bình thường cho các bộ phận khác
1.3 ỨNG DỤNG
Trang 10Ứng dụng của FPGA bao gồm: xử lý tín hiệu số DSP, các hệ thống hàng không,
vũ trụ, quốc phòng, tiền thiết kế mẫu ASIC (ASIC prototyping), các hệ thống điều
khiển trực quan, phân tích nhận dạng ảnh, nhận dạng tiếng nói, mật mã học, mô hình
phần cứng máy tính
Do tính linh động cao trong quá trình thiết kế cho phép FPGA giải quyết lớp
những bài toán phức tạp mà trước kia chỉ thực hiện nhờ phần mềm máy tính, ngoài ra
nhờ mật độ cổng logic lớn FPGA được ứng dụng cho những bài toán đòi hỏi khối
lượng tính toán lớn và dùng trong các hệ thống làm việc theo thời gian thực
1.4 CẤU TRÚC MỘT FPGA
Cấu trúc tổng thể của một FPGA được minh họa ở hình sau
Hình 1: Cấu trúc tổng thế một FPGA
1.4.1 Khối logic FPGA
Hình 2: Khối logic FPGA
Phần tử chính của FPGA là các khối logic (logic block) Khối logic được cấu
thành từ LUT và một phần tử nhớ đồng bộ flip-flop
Trang 11LUT (Look up table) là khối logic có thể thực hiện bất kì hàm logic nào từ 4 đầu
vào, kêt quả của hàm này tùy vào mục đích mà gửi ra ngoài khối logic trực tiếp hay
thông qua phần tử nhớ flip-flop
Nếu nhìn cấu trúc tổng thể của mảng LUT thì ngoài 4 đầu vào kể trên còn hỗ trợ
thêm 2 đầu vào bổ sung từ các khối logic phân bố trước và sau nó nâng tổng số đầu
vào của LUT lên 6 chân Cấu trúc này là nhằm tăng tốc các bộ số học logic
Hệ thống mạch liên kết là khối chuyển mạch của FPGA Mạng liên kết trong
FPGA được cấu thành từ các đường kết nối theo hai phương ngang và đứng, tùy theo từng
loại FPGA mà các đường kết nối được chia thành các nhóm khác nhau, ví dụ trong XC4000
của Xilinx có 3 loại kết nối: ngắn, dài và rất dài Các đường kết nối được nối với nhau thông
qua các khối chuyển mạch lập trình được (programable switch), trong một khối chuyển
mạch chứa một số lượng nút chuyển lập trình được đảm bảo cho các dạng liên kết phức tạp
khác nhau
1.4.2 Các phần tử tích hợp sẵn
Ngoài các khối logic tùy theo các loại FPGA khác nhau mà có các phần tử tích
hợp thêm khác nhau, ví dụ để thiết kế những ứng dụng SoC, trong dòng Virtex 4,5 của
Xilinx có chứa nhân sử lý PowerPC, hay trong Atmel FPSLIC tích hợp nhân ARV…,
hay cho những ứng dụng xử lý tín hiệu số DSP trong FPGA được tích hợp các DSP
Slide là bộ nhân cộng tốc độ cao, thực hiện hàm A*B+C, ví dụ dòng Virtex của Xilinx
chứa từ vài chục đến hàng trăm DSP slices với A, B, C 18-bit
1.4.3 Quy trình thiết kế FPGA tổng quát
Trang 12Hình 3: Quy trình thiết kế FPGA
1.4.3.1 Mô tả ban đầu về thiết kế
Khi xây dựng một chip khả trình (FPGA) với ý nghĩa dành cho một ứng dụng
riêng biệt, vì xuất phát từ mỗi ứng dụng trong thực tiễn cuộc sống, sẽ đặt ra yêu cầu
phải thiết kế IC thực hiện tối ưu nhất những ứng dụng đó Bước đầu tiên của quy trình
thiết kế này có nhiệm vụ tiếp nhận các yêu cầu của thiết kế và xây dựng nên kiến trúc
tổng quát của thiết kế
* Mô tả thiết kế: Trong bước này, từ những yêu cầu của thiết kế và dựa trên khả
năng của công nghệ hiện có, người thiết kế kiến trúc sẽ xây dựng nên toàn bộ kiến trúc
tổng quan cho thiết kế Nghĩa là trong bước này người thiết kế kiến trúc phải mô tả
được những vấn đề sau:
Thiết kế có những khối nào?
Mỗi khối có chức năng gì?
Hoạt động của thiết kế và của mỗi khối ra sao ?
Trang 13 Phân tích các kỹ thuật sử dụng trong thiết kế và các công cụ, phần mềm
hỗ trợ thiết kế
Một thiết kế có thể được mô tả sử dụng ngôn ngữ mô tả phần cứng, như VHDL
hay Verilog HDL hoặc có thể mô tả qua bản vẽ mạch (schematic capture) Một thiết kế
có thể vừa bao gồm bản vẽ mạch mô tả sơ đồ khối chung, vừa có thể dùng ngôn ngữ
HDL để mô tả chi tiết cho các khối trong sơ đồ
* Mô phỏng chức năng (Function simulation): sau khi mô tả thiết kế, người thiết
kế cần mô phỏng tổng thể thiết kế về mặt chức năng để kiểm tra thiết kế có hoạt động
đúng với các chức năng yêu cầu
* Tổng hợp logic (Logic Synthesis): tổng hợp logic là quá trình tổng hợp các mô
tả thiết kế thành sơ đồ bố trí mạch (netlist) Quá trình chia thành 2 bước: chuyển đổi
các mã RTL, mã HDL thành mô tả dưới dạng các biểu thức đại số Boolean và dựa trên
các biểu thức này kết hợp với thư viện tế bào chuẩn sẵn có để tổng hợp nên một thiết
kế tối ưu
* Hiệu chỉnh các kết nối (Datapath Schematic): nhập netlist và các ràng buộc về
thời gian vào một công cụ phân tích thời gian (timing analysic) Công cụ phân tích này
sẽ tách rời tất cả các kết nối của thiết kế, tính thời gian trễ của các kết nối dựa trên các
ràng buộc Dựa trên kết quả phân tích (report) của công cụ phân tích, xác định các kết
nối không thỏa mãn về thời gian Tùy theo nguyên nhân dẫn đến không thỏa mãn mà
ta có thể viết lại mã và tiến hành lại tổng hợp logic hoặc hiệu chỉnh lại các ràng buộc
Trang 141.4.3.2 Thực thi
Ta đã có sơ đồ bố trí netlist mô tả tổng thể thiết kế tại mức cổng (chỉ gồm các
cổng logic cơ bản và các mạch logic khác như: MUX) Quá trình này sẽ đặt sơ đồ
netlist này lên chip, gọi là quá trình thực thi (Device Implementation)
Quá trình gồm các bước:
* Ánh xạ (mapping hay còn gọi fitting - ăn khớp): chuẩn bị dữ liệu đầu vào, xác
định kích thước các khối Các khối này sẽ phải phù hợp với cấu trúc của 1 tế bào cơ
bản của FPGA (gồm nhiều cổng logic) và đặt chúng vào các vị trí tối ưu cho việc chạy
Hình 5: Sơ đồ gán chân
* Đặt khối và định tuyến (Place & Route):
Đặt khối: đặt các khối ánh xạ vào các tế bào (cell) ở vị trí tối ưu cho việc
chạy dây
Trang 15ECE 545 – Introduction to VHDL 64
Placing
CLB SLICES
FPGA
Hình 6: Sơ đồ không gian gán bên trong FPGA
Định tuyến: bước này thực hiện việc nối dây các tế bào
RoutingProgrammable Connections
FPGA
Hình 7: Sơ đồ định tuyến
Để thực hiện việc này, chúng ta cần có các thông tin sau:
Trang 16 Các thông tin vật lý về thư viện tế bào, ví dụ kích thước tế bào, các điểm
để kết nối, định thời, các trở ngại trong khi đi dây
Một netlist được tổng hợp sẽ chỉ ra chi tiết các instance và mối quan hệ
kết nối bao gồm cả các đường dẫn bị hạn chế trong thiết kế
Tất cả các yêu cầu của tiến trình cho các lớp kết nối, bao gồm các luật
thiết kế cho các lớp chạy dây, trở kháng và điện dung, tiêu thụ năng lượng, các luật về sự dẫn điện trong mỗi lớp
1.4.3.3 Quá trình Nạp (download) và lập trình (program )
Sau quá trình thực hiện, thiết kế cần được nạp vào FPGA dưới dạng dòng bit (bit
stream)
Quá trình nạp thiết kế (download) vào FPGA thường nạp vào bộ nhớ bay hơi, ví
dụ như SRAM Thông tin cấu hình sẽ được nạp vào bộ nhớ Dòng bit được truyền lúc
này sẽ mang thông tin định nghĩa các khối logic cũng như kết nối của thiết kế Tuy
nhiên, lưu ý rằng, SRAM sẽ mất dữ liệu khi mất nguồn nên thiết kế sẽ không lưu được
đến phiên làm việc kế tiếp
Lập trình (program) là thuật ngữ để mô tả quá trình nạp chương trình cho các bộ
nhớ không bay hơi, ví dụ như PROM Như vậy, thông tin cấu hình vẫn sẽ được lưu trữ
khi mất nguồn
1.5 TỔNG QUAN VỀ VHDL
1.5.1 Giới thiệu về ngôn ngữ mô tả phần cứng VHDL
VHDL là ngôn ngữ mô tả phần cứng cho các mạch tích hợp tốc độ cao, là một
loại ngôn ngữ mô tả phần cứng được phát triển cho chương trình VHSIC ( Very High
Speed Itergrated Circuit) của bộ quốc phòng Mỹ Mục tiêu của việc phát triển VHDL
là có được một ngôn ngữ mô phỏng phần cứng tiêu chuẩn và thống nhất cho phép thử
nghiệm các hệ thống số nhanh hơn cũng như cho phép dễ dàng đưa các hệ thống đó
vào ứng dụng trong thực tế
VHDL được phát triển như một ngôn ngữ độc lập không gắn với bất kỳ một
phương pháp thiết kế, một bộ mô tả hay công nghệ phần cứng nào Người thiết kế có
thể tự do lựa chọn công nghệ, phương pháp thiết kế trong khi chỉ sử dụng một ngôn
ngữ duy nhất Và khi đem so sánh với các ngôn ngữ mô phỏng phần cứng khác đã kể
ra ở trên ta thấy VHDL có một số ưu điểm hơn hẳn các ngôn ngữ khác:
Trang 17 Thứ nhất là tính công cộng: VHDL được phát triển dưới sự bảo trợ của
chính phủ Mỹ và hiện nay là một tiêu chuẩn của IEEE VHDL được sự hỗ
trợ của nhiều nhà sản xuất thiết bị cũng như nhiều nhà cung cấp công cụ
thiết kế mô phỏng hệ thống
Thứ hai là khả năng hỗ trợ nhiều công nghệ và phương pháp thiết kế
VHDL cho phép thiết kế bằng nhiều phương pháp ví dụ phương pháp thiết
kế từ trên xuống, hay từ dưới lên dựa vào các thư viện sẵn có VHDL cũng
hỗ trợ cho nhiều loại công cụ xây dựng mạch như sử dụng công nghệ
đồng bộ hay không đồng bộ, sử dụng ma trận lập trình được hay sử
dụng mảng ngẫu nhiên
Thứ ba là tính độc lập với công nghệ: VHDL hoàn toàn độc lập với công
nghệ chế tạo phần cứng Một mô tả hệ thống dùng VHDL thiết kế ở mức
cổng có thể được chuyển thành các bản tổng hợp mạch khác nhau tuỳ
thuộc công nghệ chế tạo phần cứng mới ra đời nó có thể được áp dụng
ngay cho các hệ thống đã thiết kế
Thứ tư là khả năng mô tả mở rộng: VHDL cho phép mô tả hoạt động của
phần cứng từ mức hệ thống số cho đến mức cổng VHDL có khả năng mô
tả hoạt động của hệ thống trên nhiều mức nhưng chỉ sử dụng một cú pháp
chặt chẽ thống nhất cho mọi mức Như thế ta có thể mô phỏng một bản
thiết kế bao gồm cả các hệ con được mô tả chi tiết
Thứ năm là khả năng trao đổi kết quả: Vì VHDL là một tiêu chuẩn được
chấp nhận, nên một mô hình VHDL có thể chạy trên mọi bộ mô tả đáp
ứng được tiêu chuẩn VHDL Các kết quả mô tả hệ thống có thể được trao
đổi giữa các nhà thiết kế sử dụng công cụ thiết kế khác nhau nhưng cùng
tuân theo tiêu chuẩn VHDL Cũng như một nhóm thiết kế có thể trao đổi
mô tả mức cao của các hệ thống con trong một hệ thống lớn (trong đó các
hệ con đó được thiết kế độc lập)
Thứ sáu là khả năng hỗ trợ thiết kế mức lớn và khả năng sử dụng lại các
thiết kế: VHDL được phát triển như một ngôn ngữ lập trình bậc cao, vì
vậy nó có thể được sử dụng để thiết kế một hệ thống lớn với sự tham gia
của một nhóm nhiều người Bên trong ngôn ngữ VHDL có nhiều tính năng
Trang 18hỗ trợ việc quản lý, thử nghiệm và chia sẻ thiết kế Và nó cũng cho phép
dùng lại các phần đã có sẵn
1.5.2 Cấu trúc một mô hình hệ thống mô tả bằng VHDL
Thông thường một mô hình VHDL bao gồm ba phần: thực thể, kiến trúc và các
cấu hình Đôi khi ta xử dụng các gói( packages) và mô hình kiểm tra hoạt động
của hệ thống( testbench)
1.5.2.1 Thực thế (entity) của mô hình
Phần khai báo thực thể chỉ rõ TÊN của thực thể và liệt kê các lối vào và ra và có
dạng chung như sau
Entity tên_thực_thể is Generic (khai báo generic);
Port (khai báo các tín hiệu vào ra);
End tên_thực_thể;
Một thực thể luôn bắt đầu với từ khóa entity, theo sau là tên của thực thể và từ
khóa is Rồi đến các khai báo cổng với từ khóa port Một thực thể luôn kết thúc với từ
khóa end và tên của thực thể
Tên thực thể là tên của thực thể do người dùng đặt
Các tín hiệu vào ra: tên của các tín hiệu do người dung đặt, ngăn cách với
nhau bởi dấu phẩy, chỉ ra các tín hiệu nối với bên ngoài
Các chế độ của tín hiệu khai báo trong “port”: chỉ ra chiều của tín hiệu, có
các mode sau:
- in: chỉ ra rằng tín hiệu là một tín hiệu vào
- out: chỉ ra rằng tín hiệu là một tín hiệu ra khỏi thực thể và chỉ các thực thể
khác dùng đến tín hiệu này mới có thể đọc giá trị của nó
- buffer: tín hiệu là tín hiệu ra và giá trị của nó có thể được đọc cả ở bên
trong thực thể
- inout: tín hiệu có thể là tín hiệu vào hoặc tín hiệu ra
Trang 191.5.2.2 Kiến trúc của mô hình
Cấu trúc của nó như sau:
ARCHITECTURE tên_architecture OF tên_entity IS
[các phần khai báo:signal, component…]
BEGIN
[code]
END tên_architecture;
Trong kiến trúc mô hình chúng ta có thể khai báo tất cả mọi thứ liên quan tới
chương trình, trong đó có các process, các chương trình con với lời gọi hàm
component, và khai báo các signal và các câu lệnh “port map” để kết nối các thành
phần con có trong kiến trúc Nói chung cũng như ngôn ngũ C thì ở đây kiến
trúc(architecture) là thân của chương trình của ta
Trang 20Chương 2
TỔNG QUAN VỀ OSCILLOSCOP
2.1 DAO ĐỘNG KÍ ĐIỆN TỬ
Khi đặt vấn đề chọn dùng oscilloscop có nghĩa là chọn được loại oscilloscop mà
các đặc tính kĩ thuật của nó phù hợp với các yêu cầu đặt ra của bài toán đo lường,
nghiên cứu, với các đặc tính và thông số của tín hiệu hay mạch điện tử
Những yêu cầu cơ bản mà một oscilloscop phải đáp ứng được là:
Phải có khả năng hiển thị đồng thời tín hiệu số và tín hiệu tương tự Điều
này giúp người kĩ sư có thế giám sát được quá trình giao tiếp giữa bộ vi xử
lý với thế giới tương tự, tối ưu hóa cho công tác tìm và sửa lỗi
Hình 8: Sơ đồ khối của dao động kí điện tử
Trang 21 Phải lưu được một khoảng thời gian dài tín hiệu với tốc độ lấy mẫu cao,
tốc độ cập nhật màn hình nhanh giúp người kĩ sư quan sát một cách chi
tiết và chính xác tín hiệu- đòi hỏi phải có một bộ nhớ đủ lớn
Phải cung cấp các chế độ cấp phát linh hoạt, đa dạng và mạnh mẽ
Phải được vi tính hóa với các tính năng như : có khả năng giao tiếp với
máy tính qua cổng RS-232 hay cổng song song
Phải có giao diện thân thiện với người dùng cung cấp các thao tác đơn
giản, dễ hiểu, nhanh gọn Có khả năng trợ giúp linh hoạt và dễ hiểu
Phải có độ chính xác, độ tin cậy và độ ổn định cao
2.2 PHÂN LOẠI OSCILLOSCOP
Khi chỉ quan sát tín hiệu biến đổi liên tục hay tín hiệu xung với tần số lặp lại
tương đối cao, và chỉ cần các thông số chính của nó là biên độ, tần số thì có thể dùng
loại oscilloscop tương tự thông thường
Khi cần đo lường, quan sát đồng thời hay nhiều tín hiệu thì dùng oscilloscop
nhiều kênh để có thể trực tiếp so sánh dao động đồ của hai hay nhiều tín hiệu trên màn
hình Với cách quan sát đo lường này cho phép ta đánh giá, so sánh các thông số đặc
tính của chúng một cách định tính song nhanh chóng và có nhận xét hiệu quả Thường
thì các oscilloscop với cấu tạo hai hệ thống súng điện tử riêng biệt trong cùng một ống
phóng tia điện tử
Khi cần nghiên cứu, đo lường các tín hiệu độc lập thì ta dùng loại oscilloscop
không đồng bộ
Khi cần nghiên cứu tín hiệu như tín hiệu xung có độ rộng rất nhỏ hay tín hiêu có
chu kì với tần số cao thì dùng loại oscilloscop loại hoạt nghiệm, là loại oscillo được
thực hiện theo phương pháp lấy mẫu
Khi có yêu cầu nghiên cứu cụ thể hơn về các thông số, đặc tính của tín hiệu,
muốn đo các thông số khác của nó, muốn xử lý được kết quả quan sát, so sánh chúng
với các giá trị chuẩn mà đã được cho trước, hoặc khi sử dụng oscilloscop như là một
phần của hệ đo lường tự động thì ta cần chọn oscilloscop có cài đặt bộ vi xử lý
Trang 222.3 CẤU TRÚC CỦA OSCILLOSCOP ĐIỆN TỬ TƯƠNG TỰ
Oscillloscop về cơ bản cấu tạo của nó là một loại máy vẽ di động theo hai chiều
Kênh lệch đứng Y dùng để xử lý tín hiệu cần quan sát, có nhiệm vụ phối hợp về
trở kháng, mức điện với tín hiệu của mạch điện cần đo (tạo trễ pha tín hiệu khi sử dụng
chế độ quét đợi để quan sát tín hiệu xung có độ rộng nhỏ), và khuếch đại tín hiệu (
khuếch đại đối xứng) quan sát trước khi đưa vào cặp phiến lệch Y của ống điện tử Bộ
tạo trễ nhằm đảm bảo cho sự khởi động gốc thời gian của điện áp quét (của kênh lệch
ngang) trước khi tín hiệu cần quan sát tới cặp phiến Y, như vậy đảm bảo sự hiện hình
toàn bộ tín hiệu, nhất là tín hiệu xung, để dạng của nó không bị mất sườn trước không
được vẽ Bộ khuếch đại ra Y cần là đối xứng để đảm bảo tín hiệu quan sát được vẽ
không bị méo dao động đồ do thay đổi điện trường tăng tốc mà chính do điện áp tín
hiệu gây ra
Các chỉ tiêu của kênh Y: độ nhạy (vôn/độ chia), dải băng tần, trị số trở kháng đầu
vào (điện trở và điện dung đầu vào)
Kênh lệch ngang X có nhiệm vụ cung cấp điện áp làm lệch theo chiều ngang của
ống điện tử Điện áp đưa vào bộ lệch X còn được tạo ra từ bộ tạo điện áp quét, khi cần
biểu diễn tín hiệu cần quan sát theo thời gian
Điện áp tạo được từ bộ điện áp quét được đồng bộ từ tín hiệu quan sát lấy từ
kênh Y, đó là đồng bộ trong Nó cũng được đồng bộ từ tín hiệu đồng bộ ngoài, khi
không đồng bộ được từ tín hiệu đồng bộ trong và đồng bộ từ tín hiệu 50Hz lấy từ
nguồn cung cấp xoay chiều, khi cần quan sát tín hiệu tần số thấp và khử hiện tượng
nhiễu Như vậy có ba chế độ đồng bộ trong oscilloscop, để có được dao động đứng
yên trong quá trình quan sát
Các chỉ tiêu của kênh lệch ngang chủ yếu dựa vào các chỉ tiêu của điện áp quét
Các chỉ tiêu đó là: Độ không tuyến tính của điện áp quét, thời gian quét thuận thì lớn
Trang 23hơn rất nhiều thời gian quét ngược trong một chu kì quét, dải tần số quét, tốc độ biến
đổi của điện áp theo thời gian và hiệu suất tạo biên độ điện áp quét
Trên hình vẽ, độ không đường thẳng là tỷ số của khoảng biến thiên tốc độ điện
áp quét trong thời gian quét thuận (Tth) trên giá trị tốc độ trung bình:
tb dT dU dT
dU dT
dU y
) (
min ) ( max ) (
%
Trong một chu kí quét Tq thì : Tth>>Tng
Hiệu suất tạo biên độ quét: Eng
là chu kì của điện áp tín hiệu cần quan sát)
2.3 CẤU TRÚC CỦA OSCILLOSCOP ĐIỆN TỬ SỐ
Với loại Oscilloscop thông thường (loại tương tự), chỉ quan sát tín hiệu có chu
kì Song các tín hiệu không chu kì thì loại thông thường không thể quan sát được mà
phải dùng loại có nhớ số
Oscilloscop có nhớ loại tương tự có cấu tạo đặc biệt gọi là loại ống tia có nhớ
Oscilloscop có nhớ số (DSO) có các ưu điểm là:
Duy trì hình ảnh dạng của tín hiệu trên màn hình với khoảng thời gian
không hạn chế
Tốc độ đọc có thể thay đổi trong giới hạn rộng
Các hình ảnh lưu trữ có thể xem lại được ở tốc độ thấp hơn nhiều tốc độ
Trang 24 Có thể truyền trực tiếp số liệu của tín hiệu cần quan sát dưới dạng số và có
thể ghép trực tiếp với máy tính hoặc được xử lí trong osilloscop
Sơ đồ của loại Oscilloscop có nhớ số như hình vẽ
Hình 9: Sơ đồ khối của osilloscop sốcó nhớ
Khi chuyển mạch S đặt ở vị trí 2 thì oscilloscop làm việc là một oscilloscop có
nhớ Điện áp tín hiệu cần quan sát được đưa vào đầu Y, tới bộ biến đổi tương tự ->số
ADC Tại thời điểm đó (t1), khối điều khiển gửi một lệnh tới đầu vào của bộ ADC và
khởi động quá trình biến đổi Kết quả là điện áp tín hiệu được số hóa, có nghĩa là bộ
biến đổi lấy mẫu dạng tín hiệu ở nhiều điểm và biến đổi giá trị tức thời của biên độ tại
mỗi điểm thành giá trị mã nhị phân tỷ lệ với biên độ đó Tại thời điểm kết thúc quá
trình biến đổi, bộ biến đổi ADC gửi một lệnh kết thúc đến bộ điều khiển
Mỗi số nhị phân được chuyển tới bộ nhớ và được nhớ ở vị trí ô nhớ riêng biệt
Bởi vì đây là bộ nhớ không linh hoạt (nonvolatile memory) nên nó có thể lưu trữ số
nhị phân với bất kì độ dài thời gian nào Khi cần thiết một lệnh từ khối điều khiển có
thể làm cho các số nhị phân này có thể sắp sếp theo chuỗi thứ tự đã xác định và được
đưa tới bộ biến đổi DAC Bộ này sẽ biến đổi các giá trị nhị phân thành điện áp tương
tự, và điện áp này được đưa qua bộ khuếch đại Y.Do bộ nhớ được liên tiếp quét nhiều
lần trong một giây lên màn hình được sáng liên tục và hiện lên dạng sóng và hình vẽ
các điểm sáng, biểu thì dạng sóng cần quan sát
Trang 25Để đạt được một đường sáng liên tục, còn có thể có thêm một mạch nội suy (làm
mượt giữa bộ DAC và bộ khuếch đại Y)
Hạn chế của loại trên do tốc độ biến đổi ADC thấp, nhưng gần đây đã có những
loại ADC biến đổi với tốc độ rất cao tuy nhiên giá thành thì rất đắt
Một loại oscilloscop có nhớ khác là dùng bộ vi xử lí làm khối điều khiển
Sơ đồ khối của oscilloscop số có nhớ như hình vẽ:
Hình 10: Sơ đồ khối của oscilloscop số có nhớ
Hình dưới có phần khác hình trên ở chỗ: Bộ giao động quét thực sự là bộ biến
đổi DAC kênh X, được điều khiển từ số liệu của Microprocessor Đầu ra bộ biến đổi
DAC tạo ra điện áp nhảy bậc, sao cho sự nhảy bậc thang không khác biệt quá nhiều so
với điện áp bậc thang được tạo ra từ bộ dao động quét tương tự
Với DAC loại 8 bit, số bước nhảy là 28=256 Toàn bộ đoạn điện áp ra được chia
thành 255 bước riêng biệt, và sự lệch ngang của tia điện tử thực tế là tỉ lệ theo thời
gian Tốc độ biến đổi DAC và bộ điều khiển quét quyết định tốc độ quét cực đại, tốc
độ quét có thể điều khiển bằng việc thay đổi số đến đầu vào số của bộ DAC
Còn tổ hợp các bộ phía trên gồm: ADC, Bộ nhớ, DAC của kênh Y cho phép khả
năng thay đổi trễ của tín hiệu vào của hệ thống làm lệch y trong một giới hạn rộng,
Trang 26đồng thời nó có thể kết hợp được với DAC của kênh X như vậy đảm bảo sự đồng bộ
chính xác
2.4 OSCILLOSCOP TƯƠNG TỰ CÓ CÀI ĐẶT VI XỬ LÝ
Không chỉ có oscilloscop điện tử số mới có thê cài đặt vi xử lý mà oscilloscop
tương tự cũng có thể cài đặt được vi xử lý và nó có thể hoạt động gần giống như
oscilloscop điện tử số Thực chất của nó là nó có dùng thêm một số thiết bị xử lý số
như dùng bộ vi xử lý, các bộ biến đổi ADC…
Hình 11: Sơ đồ một oscilloscop tương tự dùng vi xử lý
Với loại này ta thấy ngay sơ đồ nó được chia làm ba phần:
Phần thứ nhất nó giống như một oscilloscop tương tự
Phần giữa có các bộ biến đổi tương tự số (ADC) và bộ biến đối số tương
tự (DAC) cùng với các module nhớ và một hệ vi xử lý với chức năng kiểm tra, chúng ta có thể coi phần này như là một phần hay một oscilloscop có nhớ
Phần dưới cùng là bộ vi xử lý để phục vụ cho việc điều khiển chương
trình và xử lý tín hiệu số, card giao diện dùng để nối oscilloscop với giao diện hệ thống
Trang 27Khi cần nhận dạng của tín hiệu được nghiên cứu theo tỷ lệ thời gian thực tế thì
oscilloscop làm việc như một oscilloscop vạn năng Nếu như không dùng khả năng
điều khiển bằng chương trình và xử lý theo những khả năng của bộ vi xử lý số theo
khả năng của bộ vi xử lý thì oscolloscop trên làm việc như một oscilloscop tương tự
thông thường Khi đó có thể đổi một số khối chuẩn (bộ khuếch đại Y,X, máy phát
chuẩn…) như đối với một số oscilloscop thông thường mà cấu tạo được thiết kế có thể
thay thế các khối này hay nối thêm các khối mới Xu hướng hiện nay ta có thể chia nó
ra làm hai phần: phần tương tự và phần số cũng được thể hiện ở chỗ phân bố vị trí của
các phần thuộc hệ điều khiển Những cái để điểu khiển thông thường hay gặp ở
oscilloscop thông thường thì vẫn được giữ nguyên ở vị trí nguyên thủy được cách
riêng với bàn phím
Vi xử lý làm cho loại oscilloscop này có thêm các đặc điểm mới Nó có chứa tất
cả các modul mới mà một hệ thống như thế phải có Mắt xích nối giữa vi xử lý với
khối tương tự chính là bộ biến đổi tương tự số (ADC)
Hệ thống được nối với nhau thông qua các bus hệ thống của vi xử lý và được liên
kết chung tới các ROM, RAM và các card giao diện để giao tiếp với thiết bị hiển thị
như màn hình hay có thể kết nối trực tiếp tới máy tính thông qua các loại card
Một loại Oscilloscop có nhớ số(DSO) là ta có thể dùng một con chip FPGA để
làm trung tâm điều khiển
Cấu tạo và chi tiết thiết kế một Oscilloscop có nhớ số (DSO) dùng chip FPGA sẽ
được trình bày chi tiết trong chương 3
-
Trang 28Chương 3
CÁC BƯỚC THIẾT KẾ MỘT OSCILLOSCOP SỐ CÓ NHỚ
Hình 12: Sơ đồ khối của DSO đã được đơn giản hoá dùng FPGA
Nguyên lý hoạt động tương đối đơn giản Tín hiệu được đưa qua một bộ khuếch
đại tín hiệu sau đó được đưa vào một con ADC, tại ADC tín hiệu sẽ được lấy mẫu để
lượng tử hóa tín hiệu tương tự thành tín hiệu số Đầu ra của cả ADC và bộ nhớ đệm
đều cùng chia sẻ chung bus 3 trạng thái Nó là một bước trung gian để quyết định chọn
kênh nào, đầu ra nào, để tiết kiệm được đường truyền và tránh xung đột dữ liệu khi cả
hai đầu ra của ADC và bộ nhớ đệm cùng ra một lúc…chương trình điều khiển logic sẽ
quyết định chọn 1 trong 2 đầu ra hoặc của ADC hoặc của bộ nhớ đệm để đưa nó tới
bus, vì vậy nó chọn 1 trong 2 là thuộc dạng logic tương tự hay logic dạng số Sau đó
Trang 29dữ liệu được đưa lên bus và được đưa vào bộ nhớ chính để lưu trữ dữ liệu Lôgic điều
khiển sẽ đồng thời theo dõi dữ liệu để quan sát điểm trigơ Cách tiếp cận này loại trừ
mạch điện bổ sung mà bình thường trigơ cần phải có, và thu hẹp đường tín hiệu tương
tự, do đó giảm bớt nhiễu Điều này cũng cung cấp khả năng gây nên tín hiệu dạng số
khi dùng máy phân tích logic Ngoài tìm điểm trigơ, logic điều khiển cũng thực hiện
mọi chức năng “Glue logic” và phương thức tiền trigơ Khi bộ nhớ đầy, dữ liệu dừng
ghi và được chuyển vào PC thông qua cổng song song
Vì 2 kênh hoàn toàn riêng biệt nên chúng hoạt động một cách độc lập Ví dụ:
kênh A là trong chế độ phân tích logic (logic analyser), kênh B lại ở trong chế độ
tương tự (analogue) Hiệu quả của tốc độ lấy mẫu có thể tăng gấp đôi bằng cách kết
nối 2 đầu ra tương tự với nhau và đổi pha kênh thứ 2 đi 1800 Sau khi dữ liệu được đưa
vào PC, nó được xen vào bởi phần mềm và dạng sóng đã được thiết kế lại Mặc dù tín
hiệu được thử 2 lần ở tần số thường, độ dài của bản ghi vẫn ko giảm vì cả hai bộ nhớ
đang được dùng để lưu trữ dạng sóng đơn
3.1 CÁC THÀNH PHẦN TRONG THIẾT KẾ
3.1.1.Bộ nhớ
Từ đặc điểm kỹ thuật của DSO dùng chip FPGA mà ta thiết kế thì bộ nhớ cần
những điều kiện cần thiết sau:
Dữ liệu bus rộng 8bit
Có thể chứa 3Mbit
Tốc độ truyền dữ liệu 40Mbytes/giây
Cổng “đọc” và “ghi” riêng
Bởi vì tốc độ lấy mẫu của ADC là nhanh hơn rất nhiều so với tốc độ đọc của bộ
nhớ (ở đây chúng ta dùng RAM) cho nên nhất thiết phải dùng bộ nhớ có hai cổng đọc
và ghi riêng biệt để tránh tình trạng không có dữ liệu Cho nên để thoả mãn được
những yêu cầu này,chúng ta phải chọn bộ nhớ(RAM) có 2 đường đọc và ghi riêng biệt
Bởi vì tốc độ lấy mẫu khi dùng một con ADC flash tốc độ cao cho nên yêu cầu bộ nhớ
cũng cần có tốc độ ghi dữ liệu cao và có tốc độ đọc dữ liệu phù hợp với tốc độ của
cổng song song mà ta sử dụng để truyền dữ liệu lên máy tính Vì những lý do này để
quyết định dùng bộ nhớ trong thiết kế ta nên dùng những bộ nhớ hình ảnh được sử
dụng chính trong các ứng dụng video như thời gian dựa trên sự hiệu chỉnh và hình ảnh
Trang 30trong phim Chúng là loại bộ nhớ hội tụ đủ những yêu cầu của úng dụng của ta Bởi vì
nó có công suất chứa lớn, tốc độ truyền dữ liệu nhanh và cổng “đọc” và “ghi” riêng
Hơn nữa chúng được hợp nhất ở mức độ cao, làm đơn giản việc thiết kế bản mạch
Sau khi nghiên cứu và tìm hiểu các thiết bị có sẵn trên thị trường Việt Nam thì
em chọn bộ nhớ của hãng Averlogic là AL422 Nó là một bộ nhớ hình ảnh và cũng
giống như hầu hết các bộ nhớ hình ảnh khác, nó được thiết kế và chế tạo dựa trên công
nghệ DRAM Mặc dù bus dữ liệu bên ngoài chỉ rộng 8 Bit, phần lớn bộ nhớ hình ảnh
sử dụng bus bên trong có chiều rộng hơn ĐIều này làm tăng tốc độ hiệu quả nhờ tính
tương đương Logic tốc độ cao được dùng để chia tách bus bên trong thành nhiều phần
8 bit,mà sau này nó đó được đặt trên bus dữ liệu đầu ra Thêm vào đó bộ điều khiển
DRAM và address , nó tạo ra logic được giử trong AL 422.Vị trí dữ liệu được ghi vào
được nhớ vào một thanh ghi địa chỉ Giá trị của thanh này có thể là lớn lên hoặc về 0
(điểm bắt đầu của bộ nhớ) Tuy nhiên nó ko thể được dịch chuyển tới 1 vị trí ngẫu
nhiên nào đó mà phải được tăng hay giảm một cách tuần tự vì quá trình ghi phải diễn
ra liên tục Những bộ nhớ hình ảnh chạy giống như những bộ đếm trong mà khi thanh
ghi tiến tới đoạn cuối của bộ nhớ, nó sẽ tự động reset về điểm bắt đầu và lại bắt đầu
ghi đè lên điểm đã có trước đó Quá trình đọc sử dụng thanh ghi đọc tương tự Vì thế
những bộ nhớ hình ảnh thường được gọi là First In First Out Buffers (FIFO)
Hình 13: Sơ đồ thực hiện chức năng của AL422
AL422 sử dụng 3 chân để kiểm soát quá trình ghi WCLK, /WE, và /WRST Dữ
liệu sẽ được ghi vào bộ nhớ theo sườn xung ghi dữ liệu (WCLK) khi chân write enable
cao (WE), và bộ đếm địa chỉ sẽ tăng dần theo sườn của xung clock Trong trường hợp
Trang 31thanh ghi (hay bộ đếm địa chỉ) ko được gia tăng thì dữ liệu ko được ghi Để ghi lại dữ
liệu vào bộ nhớ tại điểm đầu tiên cảu thanh ghi địa chỉ có giá trị 0 ta phải đưa chân
write reset (WRST) xuống thấp và xung ghi (WCLK), địa chỉ sẽ được reset về điểm
bắt đầu của bộ nhớ và dữ liệu được ghi vào điểm bắt đầu cùng với các địa chỉ tiếp theo
khi thanh ghi địa chỉ tăng lên
Quá trình đọc được kiểm soát bởi 4 chân, RCLK, /RE, /RRST và /OE Dữ liệu
cũng được đọc theo sường xung của xung read clock (RCLK), thanh địa chỉ đọc ra
được gia tăng khi chân read enable (/RE) và chân OE ( output enable) cao,thì dữ liệu
mới được đưa ra Nếu chân OE mà ở mức thấp thì thanh ghi địa chỉ đọc dừng lại và
dữ liệu không được ra hoặc thanh ghi địa chỉ vẫn tăng thế nhưng dữ liệu vẫn được chốt
tại đó và không được ra Thanh ghi địa chỉ đọc cũng có thể được reset về điểm bắt đầu
của bộ nhớ bằng cách đăt chân read reset (/RRST) ở mức thấp và xung RCLK Mặc dù
được điều khiển bằng tay ở bên trong, DRAM refresh thu được từ RCLK or WCLK
(bất cứ cái nào nhanh hơn), vì thế để duy trì tính nguyên vẹn của dữ liệu ít nhất 1 trong
các tín hiệu trên phải được giữ chạy nhanh hơn 1MHz
3.1.2 Bộ biến đổi tương tự - số ADC
Hình 13 : Sơ đồ khối của ADC TDA 8703
ADC được dùng biến đổi dạng sóng tương tự sang dạng xung PAM Vì bản chất
tự nhiên riêng biệt của tín hiệu số, dạng sóng tương tự sẽ được lượng tử hoá đến mức
Trang 32tương đương số gần nhất và chuyển thành tín hiệu số Sự chuyển ADC càng lớn thì sai
số sự lượng tử hoá được đưa vào càng nhỏ Ta thấy có rất nhiêu loại ADC trên thị
trường nhưng để thỏa mãn nhưng để đạt được những yêu cầu và lý do dùng FPGA làm
bộ điều khiển cho dao động số có nhớ em tìm hiểu trên thị trường thì em thấy
TDA8703 là phù hợp nhất.Bởi vì nó có tốc độ lấy mẫu rất cao (có thể đạt được tốc độ
tối đa là 140MHz) Tuy nhiên ta cũng có thể thay thế bởi các ADC khác có sẵn trên thị
trường
Phần lớn ADC tốc độ cao dùng phương thức Flash Conversion, cái này sử dụng
theo các mảng song song của 2n-1 bộ so sánh (n là độ phân giải của ADC trong các
bit) Điều này có nghĩa là cứ mỗi 8bit, máy đổi điện lại yêu cầu 255 bộ so sánh Mức
độ phức tạp này không chỉ làm tăng chi phí mà còn làm hạn chế tốc độ tối đa mà bộ
biến đổi có thể hoạt động TDA8703 sử dụng phương thức Flash Conversion truyền
lại, trong ADC này thì bộ biến đổi được chia tách thành 7 cấp với mỗi cấp dùng 1
trình chuyển đổi cực nhanh 2 bit Chính điều này làm giảm số bộ so sánh được yêu cầu
xuống còn 28 và đây cũng là một ưu điểm của bộ biến đổi ADC nhanh dùng phương
thức biết đổi Flash Conversion Mặc dù nó đưa ra một góc trễ 7 chu kì đồng hồ giữa
tín hiệu tương tự được đưa vào và dữ liệu xuất hiện trên các đầu ra Đối với chương
trình ứng dụng này thì điều đó là có thể chấp nhận được
Hình 15 : sơ đồ nối chân của ADC TDA 8703
Trang 333.1.3 Bộ khuếch đại đệm
Khi tín hiệu tương tự được đưa vào mà DSO đang hoạt động ở chế độ xen kẽ
giữa tín hiệu alnalog và logic analyser, thì tín hiệu tương tự được đưa vào 2 ADC
thông qua một bộ khuếch đại đệm Khi đó bộ trung gian này sẽ vừa có chức năng làm
một bộ khuếch đại tín hiệu vừa có chức năng là môt bộ đệm tín hiệu Cả 2 chức năng
này có thể đạt được với 1 bộ khuêch đại đệm (ở đây em dùng Elantec EL4332C) Bởi
vì nó thỏa mãn nhưng yêu cầu đặt ra của thiết kế
Hình 16 :Sơ đồ thực hiện nối chân của EL4332
EL4332C có bề rộng băng tần tối đa 300MHz và chứa đựng 3 bộ tiền khuêch đại
nên rất phù hợp với các đầu vào đa thành phần Điều đó làm nó trở nên rất phù hợp
đối với ứng dụng này vì nó có thể thực hiện cả chuyển mạch đệm và đảo mạch đầu
vào 1 tín hiệu logic đơn được dùng như đầu vào cho cả 3 bộ tiền khuêch đại Tuy
nhiên mặt hạn chế của nó là cũng như phần lớn các bộ khuếch đại có độ rộng băng tần
cao khác, hệ số khuếch đại của nó được cố định là 2
Trang 34Hình 17:sơ đồ thực hiện khuếch đại
Hình 18 :Sơ đồ khối bên trong của EL4332
3.1.4 Điều khiển logic
Những DSO trước đó có dùng những con chip bán dẫn để thiết kế và làm chúng
để điều khiển thì chỉ dùng các PLA (Programmable Logic Devices) Thế nhưng những
con chip này có độ tích hợp thấp và không thỏa mãn những như cầu sử dụng ngày
càng cần tốc độ cao nên nó dần bị thay thế
Trang 35Để có được tốc độ cao để đáp ứng được các yêu cầu ứng dụng và đo các tần số
cao thì hiện nay người ta thường dùng các chip FPGA để thực hiện Chúng được dùng
như trái tim của cả hệ thống Bởi vì chúng có độ tích hợp rất cao như đã trình bày ở
chương 1 nên chúng có thể đảm nhiệm nhiều nhiệm vụ và hơn thế nữa với những tính
năng của nó ta có thể dễ dàng lập trình và cấu hình nó để thực hiện những yêu cầu của
ứng dụng Chính vì thế chúng ta sẽ giảm được kích thước của mạch bởi tất cả vần đề
điều khiển đều nằm ở con chip FPGA Để điều khiển các khối khác trong mạch của
DSO thì ta có thể chương trình hóa cho FPGA để nó thực hiện nhiệm vụ này Cũng bời
do chương trình hóa cho FPGA ngày nay rất dễ dàng với các ngôn ngữ như VHDL hay
verilog HDL cùng với các chương trình của Altera Hơn nữa ngày nay giá thành của
FPGA ngày càng giảm mạch và có rất sẵn trên thị trường các linh kiện bán ở Việt
Nam
Dưới đây là các sơ đồ logic của chip FPGA FLEX 8K của Altera
Hình 19 : Sơ đồ khổi của FLEX 8K
Trang 36Hình 20 :Sơ đồ khối logic của FLEX8K
Ta có thể thấy trên hình vẽ thì các chân I/O đều được bố chí xung quanh chip và
chúng được kế nối vào các thanh phần logic và các LUT của chip, chúng hợp thành
các cột các hàng và thông qua các mạng kết nối ben trong chip Và cũng giống như tất
cả các chip FPGA khác nó cung câp những xung nhịp tần số nhanh ở đầu ra và thời
gian nhanh tại nơi lấy đầu vào Ở đây mỗi LAB(Logic Array Block) là gồm 8 LE
(logic element ) cung cấp 4 tín hiệu điều khiển và mỗi tín hiệu điều khiển có thể điều
khiển 8 LE Trong 4 tín hiệu điều khiển của LAB thì trong đó có 2 tín hiệu có thể được
sử dụng giống như các clock và 2 tín hiệu còn lại có thể được sử dụng như tín hiều
reset và enable.Những tín hiều điều khiển có thể lấy từ tín hiệu đầu vào của ta
Chip FPGA của Altera là EPF8282A-84, là một trong những dòng chip của họ
FLEX 8K Nó là 1 chip 84 pin PLCC với 68 chân có thể kết nối I/O Loại này phù
hợp với ứng dụng hơn và có những lợi thế mà con chip có thể được lắp để phát triển dễ
dàng Do bản chất của FPGA, chúng có thể hoạt động ở tốc độ nào là phụ thuộc vào
việc thiết kế mà chúng thực hiện Mặc dù chip được chọn là loại có tốc độ chậm nhất
nhưng nó vẫn có khả năng vận hành máy đếm lớn ở mức trên 80MHz Cũng như tất cả
nguyên lý thiết kế mà FPGA sẽ thực hiện vận hành ở mức 50mHz hay thấp hơn thì nó
là đủ
Trang 37FLEX 8K là thiết bị cung cấp những ứng dụng rộng rãi như xử lý tín hiệu số,
dùng cho những vận hành mà có đường dữ liệu rộng và biến đổi dữ liệu Trong thiết bị
này có những lựa chọn cho giao diện bus, tích hợp các TTL đặc biệt là điều khiển với
tốc độ cao Những sản phẩm mà có số chân lớn có thể tích hợp được tới 32 bộ mutiple
trong một thiết bị
FLEX 8K cung cấp 4 bộ đầu vào chuyên dụng cho việc đồng bộ điều khiển tín
hiệu cùng với trở tải lớn Mỗi chân I/O có kết hợp một thanh ghi trên mặt ngoài của
thiết bị Giống như đầu ra thì thanh ghi cũng có những loại có xung đồng hồ nhanh để
đảm bảo việc ra tín hiệu nhanh chóng và chúng có những thiết đặt nhanh vè mặt thời
gian Hầu hết các FLEX 8k được cấu hình cùng với các kiến trúc CMOS SRAM Nó
có thể cấu hình lượng dữ liệu được lưu trữ trong chuẩn công nghiệp Nó có thể cấu
hình việc lưu trữ song song trong hay cấu hình nối tiếp trong các EEPROM hoặc cung
cấp những dữ liệu bằng điều khiển hệ thống Việc cấu hình này có thể cho phép lưu trữ
dữ liệu nên tới 32K x 8 bit hoặc lớn hơn trong các EPROM Hơn nữa chúng có thể lấy
từ RAM của hệ thống để cung cấp những dữ liệu cần thiết cho nó hoạt động
Chúng ta có thể dùng các công cụ phần mềm như MAX+PLUS II hay QUATUS
II để cấu hình chúng theo những ứng dụng mong muốn của người dùng Để cấu hình
chúng thì tất nhiên chúng ta phải biết một trong những ngôn ngũ là VHDL và Verilog
HDL để lập trình mô tả phẩn cứng cần thực hiện
3.1.5 Giao tiếp với máy tính
Có một số tuỳ chọn cho giao giao tiếp giữa DSO với PC:
Do 1 lượng tương đối lớn dữ liệu được lưu giữ trong DSO, cổng nối tiếp ko được
tính đến bởi thời gian yêu cầu để download dữ liệu vào PC ko thể chấp nhận thời gian
dài do tốc độ truyền dữ liệu của cổng nối tiếp chậm USB cũng ko thực tế vì tính phức
tạp của nó bởi vì viết chương trình điều khiển cho USB rất phức tạp Tuy rằng hiện
này tất cả các PC đều có cổng USB thế nhưng để cấu hình được USB trong FPGA rất
Trang 38vì thế rất khó để có thể cài đặt và làm cho thiết kế thêm phần phức tạp do phải làm
mạch PCI Cổng song song được chọn vì nó có tốc độ chuyển đổi dữ liệu tương đối
cao và dễ dàng để phát triển thiết bị, dễ sử dụng và đang hiện diện trong các máy tính
để bàn tuy rằng trong thời gian gần đây có những mày laptop thì không có cổng này
nhưng mà nó vẫn được sử dụng rất rộng rãi do thực hiện đơn giàn, làm cho DSO được
dùng trong nhiều lĩnh vực và cũng có linh cơ đông.Hơn nữa tốc độ truyền của cổng
song song có thể chấp nhận được trong thiết kế của úng dụng này
Để đơn giản và tương thích với thiết kế và nhu cầu sử dụng thì chế độ hai chiều
chuẩn được quyết định sử dụng, cái này thì có sẵn từ thời những chip 386 và tương
thích với hầu hết các chuẩn có trong máy tính hiện nay Nó cho phép độ rộng byte
chuyển đến hướng khác và có thêm 5 line đầu vào (Status lines) và 4 line đầu ra
(Control lines) Với các thiết lập chuẩn và tương thích thì DSO cho phép người sử
dụng lựa chọn địa chỉ thích hợp cho cổng song song đặc biệt Vì chỉ có 3 địa chỉ có thể
được sử dụng nên điều này là tương đối dễ dàng Điều này đặc biệt có ích nếu PC đang
sử dụng có nhiều cổng
3.2 THIẾT KẾ CHI TIẾT
3.2.1 Cấu hình để nạp vào FPGA
Vì FPGA dựa trên nền SRAM nên nó không thể lưu chương trình điều khiển có
ngay trong chip bởi khi mất nguồi điện cung cấp cho nó thì chương tình không còn
nữa chính vì thế nó phải được chương trình hoá mỗi lần hệ thống khởi động lại.Để giải
quyết điều này thì phương thức thích hợp nhất cho ứng dụng này là phương thức
Active Serial Phương thức này bao hàm cả việc kết nối 1 serial EEPROM (E2) tới
FPGA và có thuận lợi là chỉ yêu cầu 1 chân I/O để sử dụng 2 kết nối còn lại tới E2
được dành cho các chân cấu hình Hơn nữa các chân cấu hình được nối cao hay thấp là
dùng để chỉ lược đồ cấu hình nào đang được sử dụng Chính vì thế mà ta có thể giữ
được chương trình điều khiển nếu mất nguồi cung cấp cho DSO, và tiết kiệm số chân
của FPGA và có thể dùng chúng vào các úng dụng khác Khi khỏi động lại thì chương
trình sẽ được nạp vào chip FPGA thông qua chân JTAG của FPGA và ta lại có một
DSO, thời gian này được tiến hành rất nhanh mà tạo cảm giác như không có gì