1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

bộ máy quản lý nhà nước về tài chính

19 45 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 38,75 KB
File đính kèm QLNN về TCTT.rar (35 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Như ta đã biết, nhận thức quyết định và hành động là bộ ba biện chứng của quản lý khoa học, có hiệu quả toàn bộ cá hoạt động kinh tế trong đó nhận thức giữ vị trí đặc biệt quan trọng trong việc xác định mục tiêu và sau đó là các nhiệm vụ cần đạt tới trong tương lai. Như vậy nếu nhận thức đúng, người ta sẽ có các quyết định đúng và tổ chức thực hiện kịp thời các quyết định đó đương nhiên sẽ thu được những kết quả như mong muốn. Ngược lại, nếu nhận thức sai sẽ dẫn tới các quyết định sai và nếu thực hiện các quyết định sai đó thì hậu qủa sẽ không thể lường trước được. Vì vậy phân tích bộ máy quản lý nhà nước về tài chính là đánh giá đúng đắn nhất những gì đã làm được, dự kiến những gì sẽ xảy ra, trên cơ sở đó kiến nghị các biện pháp để tận dụng triết để những điểm mạnh và khắc phục các điểm yếu. Phân tích bộ máy quản lý nhà nước về tài chính là sự quan tâm không chỉ của nhà nước mà còn là mối quan tâm của rất nhiều đối tượng như các nhà đầu tư, người cho vay, doanh nghiệp và người lao động. Thông qua phân tích họ có thể rút ra được những quyết định đúng đắn liên quan đến doanh nghiệp và tạo điều kiện nâng cao khả năng tài chính của doanh nghiệp. Chính vì lý do đó, em xin chọn đề tài “Phân tích thực trạng và giải pháp hoàn thiện bộ máy quản lý nhà nước về tài chính của Việt Nam” làm đề tài tiểu luận môn Quản lý nhà nước về tài chính – tiền tệ.

Trang 1

LỜI NÓI ĐẦU

Như ta đã biết, nhận thức - quyết định và hành động là bộ ba biện chứng của quản lý khoa học, có hiệu quả toàn bộ cá hoạt động kinh tế trong đó nhận thức giữ

vị trí đặc biệt quan trọng trong việc xác định mục tiêu và sau đó là các nhiệm vụ cần đạt tới trong tương lai Như vậy nếu nhận thức đúng, người ta sẽ có các quyết định đúng và tổ chức thực hiện kịp thời các quyết định đó đương nhiên sẽ thu được những kết quả như mong muốn Ngược lại, nếu nhận thức sai sẽ dẫn tới các quyết định sai và nếu thực hiện các quyết định sai đó thì hậu qủa sẽ không thể lường trước được

Vì vậy phân tích bộ máy quản lý nhà nước về tài chính là đánh giá đúng đắn nhất những gì đã làm được, dự kiến những gì sẽ xảy ra, trên cơ sở đó kiến nghị các biện pháp để tận dụng triết để những điểm mạnh và khắc phục các điểm yếu

Phân tích bộ máy quản lý nhà nước về tài chính là sự quan tâm không chỉ của nhà nước mà còn là mối quan tâm của rất nhiều đối tượng như các nhà đầu tư, người cho vay, doanh nghiệp và người lao động Thông qua phân tích họ có thể rút

ra được những quyết định đúng đắn liên quan đến doanh nghiệp và tạo điều kiện nâng cao khả năng tài chính của doanh nghiệp

Chính vì lý do đó, em xin chọn đề tài “Phân tích thực trạng và giải pháp hoàn thiện bộ máy quản lý nhà nước về tài chính của Việt Nam” làm đề tài tiểu

luận môn Quản lý nhà nước về tài chính – tiền tệ

Trang 2

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BỘ MÁY QUẢN LÝ NHÀ

NƯỚC VỀ TÀI CHÍNH

1.1 Tổng quan bộ máy quản lý nhà nước về tài chính

Mỗi quốc gia, dù là nước phát triển hay đang phát triển đều có bộ máy quản

lý nhà nước về tài chính tương ứng Với nước ta, trong bối cảnh vừa tạo lập, xây dựng, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, vừa vận hành nền kinh tế đó theo cõ chế thị trường thì “tư duy và cách ứng xử” mới trong xây dựng bộ máy quản lý nhà nước về tài chính một cách có cơ sở khoa học, thiết thực, hiệu quả là vấn đề quan trọng, có ý nghĩa to lớn trên nhiều phương diện

1.1.1 Khái niệm bộ máy quản lý Nhà nước về tài chính

Bộ máy quản lý nhà nước về tài chính là một chỉnh thể các bộ phận trong cơ cấu tổ chức quyền lực nhà nước, có chức năng, quyền hạn, nhiệm vụ khác nhau, có quan hệ, ràng buộc và phụ thuộc lẫn nhau, được bố trí thành cấp và khâu để thực hiện chức năng nhất định của quản lý nhà nước về tài chính nhằm đạt mục tiêu đã đặt ra

Trong khái niệm bộ máy quản lý nhà nước về tài chính trên đây, cần thấy rõ những nội dung, yếu tố sau:

Chỉnh thể các bộ phận hợp thành bộ máy: Số lượng các bộ phận của bộ máy

quản lý vừa đủ, không thừa, không thiếu xét theo cả quan hệ dọc và quan hệ ngang

Chức năng quản lý: Chức năng quản lý là những hoạt động tất yếu, nảy sinh

và là kết quả của phân công lao động trong quá trình quản lý, được xác định cho từng bộ phận của bộ máy quản lý nói chung, bộ máy quản lý nhà nước về tài chính nói riêng Chức năng bộ máy quản lý nói chung là nhiệm vụ cơ bản, xuyên suốt

Trang 3

vốn có của một tổ chức, một đơn vị mà từ đó bộ máy quản lý được hình thành, hiện hữu và vận động vì tổ chức, vì đơn vị đó

Các quyền hạn, nhiệm vụ: Quyền hạn, nhiệm vụ quản lý được xác định

tương ứng cho từng bộ phận trong bộ máy quản lý nhà nước về tài chính

Quan hệ ràng buộc, phụ thuộc nhau: Mỗi bộ phận có tính độc lập tương đối,

nhưng không tách rời, không đối lập nhau, ngược lại, là tiền đề cho nhau

Cấp quản lý: Cấp quản lý thể hiện là quan hệ dọc, giữa cấp trên, cấp dưới.

Mỗi cấp là một tập hợp gồm nhiều bộ phận

Khâu Quản lý: Khâu quản lý là tập hợp các bộ phận của cùng một cấp quản

lý, các bộ phận là ngang quyền, bình đẳng; do đó, quan hệ giữa các khâu là hợp tác với nhau trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao

1.1.2 Đặc điểm của bộ máy quản lý nhà nước về tài chính

Đặc điểm về kinh tế: Bộ máy quản lý nhà nước về kinh tế nắm và chi phối các nguồn lực tài chính, tiền tệ: Ngân sách nhà nước; giá trị các cổ phần của nhà nước tại các công ty cổ phần trong và ngoài nước;

Đặc điểm về tổ chức: Bộ máy quản lý nhà nước về tài chính thuộc “Kiến trúc thượng tầng” Bộ máy quản lý nhà nước về tài chính là một phân hệ của hệ thống cơ quan nhà nước vừa thuộc “Kiến trúc thượng tầng”, vừa có quyền lực, lại nắm thực lực to lớn Do đó, nó tác động tới cơ sở hạ tầng có thể theo nhiều hướng khác nhau với kết quả khác nhau

Đặc điểm về hoạt động: Bộ máy quản lý nhà nước về tài chính hoạt động bằng quyền lực công và thông qua quyền lực công Nhà nước quản lý tài chính – tiền tệ bằng pháp luật và bằng các văn bản qui phạm pháp luật, bằng thể chế, chính sách có tính pháp lý với sức mạnh hiệu lực tương ứng

Trang 4

Tiềm ẩn xu hướng quan liêu hóa: Bộ máy quản lý nhà nước về tài chính do

có quyền lực lớn, nắm thực lực lớn và sức mạnh chi phối nên dễ có nguy cơ quan liêu hóa Đặc biệt dễ xảy ra tình trạng quan liêu khi quyền lực tập trung cao độ, thái quá ở cấp trên

1.1.3 Vai trò

Sử dụng hữu hiệu các nguồn lực tài chính, tiền tệ cho sự phát triển

Duy trì, dẫn dắt các hoạt động tài chính, tiền tệ phù hợp với định hướng phát triển kinh tế của đảng cầm quyền và của nhà nước

Bảo đảm các hoạt động tài chính, tiền tệ tuân thủ theo pháp luật, thiết thực, hiệu quả

Phối hợp cùng các ngành, lĩnh vực khác thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế

- xã hội của nhà nước để ra trong từng thời kỳ nhất định

Thúc đẩy và mở rộng quan hệ kinh tế - tài chính đối ngoại một cách thiết thực, hiệu quả

1.1.4 Yêu cầu cơ bản của quản lý nhà nước về tài chính

Một bộ máy quản lý nhà nước về tài chính hoạt động có hiệu lực, hiệu quả cao phải đảm bảo yêu cầu cơ bản sau:

Thứ nhất, số cấp và khâu hợp lý.

Thứ hai, xác định rõ chức năng, quyền hạn, nhiệm vụ mỗi cấp, khâu.

Thứ ba, thiết thực, hiệu quả.

Thứ tư, bảo đảm đủ ổn định, linh hoạt cần thiết:

Trang 5

1.2 Những căn cứ và nguyên tắc tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về tài chính

1.2.1 Những căn cứ xác lập tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về tài chính

Hoạt động của bộ máy quản lý nhà nước về tài chính luôn luôn chịu sự chi phối của tổ chức bộ máy chính quyền và nội dung cơ chế hoạt động của các khâu của tài chính nhà nước Do đó, việc thiết lập bộ máy quản lý nhà nước về tài chính phải dựa trên hai căn cứ chủ yếu:

Một là, căn cứ vào sự hình thành hệ thống các cấp chính quyền và quá trình thực hiện phân cấp quản lý kinh tế, xã hội cho các cấp chính quyền, các cơ quan quản lý nhà nước

Hai là, căn cứ vào đặc điểm, nội dung hoạt động của từng khâu của tài chính nhà nước

Như vậy, những phân tích trên đây đã khẳng định rằng cách thức tổ chức bộ máy hành chính nhà nước, quá trình phân cấp quản lý, đặc điểm, nội dung và cơ chế hoạt động của các khâu TCNN là căn cứ xuất phát để hình thành bộ máy quản

lý nhà nước về tài chính phù hợp

1.2.2 Những nguyên tắc tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về tài chính

Tổ chức quản lý tài chính một cách đúng đắn có ý nghĩa hàng đầu đối với việc huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài chính Hiệu quả quản lý nhà nước về tài chính phần lớn phụ thuộc vào việc tổ chức hợp lý công tác của các chủ thể quản lý bao gồm các cơ quan tài chính từ Trung ương xuống địa phương, cơ quan thuế nhà nước và bộ máy quản lý tài chính trong các ngành kinh tế quốc dân

Nhằm nâng cao hiệu lực quản lý, việc tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về tài chính cần phải dựa trên các nguyên tắc sau đây:

Một là, Quán triệt nguyên tắc thống nhất, tập trung - dân chủ trong tổ chức

bộ máy quản lý nhà nước về tài chính

Trang 6

Hai là, Thực hiện nguyên tắc kết hợp quản lý theo ngành với quản lý theo địa phương và vùng lãnh thổ trong tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về tài chính

Ba là, quán triệt nguyên tắc tiết kiệm và hiệu quả trong tổ chức bộ máy quản

lý nhà nước về tài chính

Để đạt được hiệu quả về mặt tổ chức còn cần phải thấy rõ giới hạn về tầm quản lý, ở chỗ, ở mỗi cương vị quản lý đều có một số giới hạn nhất định những người mà một cá nhân có thể quản lý có kết quả Yêu cầu này đòi hỏi phải thu gọn các đầu mối quản lý, tinh giản bộ máy, bớt khâu trung gian, tạo cho bộ máy tổ chức quản lý có hiệu quả

Trang 7

CHƯƠNG II THỰC TRẠNG BỘ MÁY QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ TÀI

CHÍNH CỦA VIỆT NAM

2.1 Chức năng, nhiệm vụ của bộ máy quản lý nhà nước về tài chính hiện nay

ở Việt Nam

Theo Hiến pháp, quản lý chung về tài chính trên phạm vi cả nước thuộc Quốc hội và Chính phủ, còn quản lý các hoạt động nghiệp vụ tài chính là trách nhiệm của bộ máy tổ chức các cơ quan tài chính, nhờ đó Nhà nước lãnh đạo, điều hành mọi hoạt động tài chính trong tất cả các bộ phận và lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân Bộ Tài chính và các cơ quan tài chính cấp dưới của nó, các tổ chức quản

lý tài chính chuyên ngành thực hiện toàn bộ công tác quản lý nhà nước về tài chính

Xuất phát từ yêu cầu giải quyết các nhiệm vụ gắn liền với đổi mới cơ chế quản lý kinh tế xã hội, hiện nay cơ cấu tổ chức bô máy quản lý nhà nước về tài chính đã được hoàn thiện thêm một bước So với trước đây, cơ cấu tổ chức mới đã

có những thay đổi đáng kể, nhằm hướng vào việc nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về tài chính Những thay đổi trong cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý nhà nước

về tài chính được quyết định bởi chức năng, vai trò mới của Bộ Tài chính, như là một trong những bộ kinh tế chủ yếu, đóng vai trò quan trọng trong tiến trình chuyển đổi nền kinh tế từ kế hoạch hoá tập trung, bao cấp sang kinh tế thị trường

có sự quản lý của Nhà nước Những thay đổi đó dựa trên cơ sở tăng cường vai trò điều chỉnh vĩ mô của TCNN và áp dụng rộng rãi biện pháp kinh tế trong quản lý gắn liền với việc mở rộng tính độc lập, tự chủ của các địa phương, các doanh nghiệp

Trang 8

2.1.1 Nhiệm vụ và quyền hạn của Bộ Tài chính

Bộ Tài chính là cơ quan của Chính phủ thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tài chính, ngân sách nhà nước, thuế, phí, lệ phí và thu khác của ngân sách nhà nước, dự trữ quốc gia, các quỹ TCNN, đầu tư tài chính, tài chính doanh nghiệp

và hoạt động dịch vụ tài chính (gọi chung là lĩnh vực tài chính - ngân sách), hải quan, kế toán, kiểm toán độc lập và giá cả trong phạm vi cả nước; quản lý nhà nước các dịch vụ công trong lĩnh vực tài chính- ngân sách, hải quan, kế toán, kiểm toán độc lập và giá cả; thực hiện đại diện chủ sở hữu phần vốn của nhà nước tại doanh nghiệp theo quy định của pháp luật

Để đảm bảo thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của mình, bộ máy của Bộ Tài chính được tổ chức thành các Vụ chức năng và các tổ chức quản lý tài chính chuyên ngành trực thuộc Bộ Bên cạnh đó còn có một số tổ chức quản lý tài chính chuyên ngành không trực thuộc Bộ Tài chính thực hiện nhiệm vụ quản lý TCNN trên phạm vi cả nước về những lĩnh vực chuyên biệt như: Bảo hiểm xã hội Việt Nam, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam , một số tổ chức khác lại thực hiện nhiệm

vụ quản lý TCNN trên phạm vi từng địa phương theo đơn vị hành chính như: Các

Sở tài chính (ở cấp tỉnh và tương đương), các Phòng tài chính (ở cấp huyện và tương đương) các Ban tài chính (ở cấp xã và tương đương) Phần dưới đây sẽ giới thiệu về chức năng nhiệm vụ của một số tổ chức quản lý tài chính chuyên ngành thực hiện nhiệm vụ quản lý TCNN trên phạm vi cả nước

2.1.2 Nhiệm vụ và quyền hạn của các tổ chức quản lý tài chính chuyên ngành

2.1.2.1 Kho bạc nhà nước

Kho bạc nhà nước là tổ chức trực thuộc Bộ Tài chính thực hiện chức năng quản lý nhà nước về quỹ ngân sách nhà nước, các quỹ TCNN và các quỹ khác của nhà nước, thực hiện việc huy động vốn cho Ngân sách nhà nước và cho đầu tư phát triển qua hình thức phát hành công trái, trái phiếu theo quy định của pháp luật

Trang 9

2.1.2.2 Tổng cục Thuế

Tổng cục Thuế là tổ chức thuộc Bộ Tài chính, thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với các khoản thu nội địa, bao gồm thuế, phí, lệ phí và các khoản thu khác của NSNN (gọi chung là thuế) theo quy định của pháp luật

2.1.2.3 Tổng cục Hải quan

Tổng cục Hải quan là cơ quan trực thuộc Bộ Tài chính, giúp Bộ trưởng Bộ Tài chính thực hiện chức năng quản lý nhà nước chuyên ngành về hải quan; thực thi pháp luật hải quan trong phạm vi cả nước

2.1.2.4 Cục Dự trữ quốc gia

Cục Dự trữ quốc gia là tổ chức thuộc Bộ Tài chính, thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về dự trữ quốc gia và trực tiếp quản lý một số loại hàng dự trữ quốc gia theo quy định của pháp luật

2.1.2.5 Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước

Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước là tổ chức thuộc Bộ Tài chính, chịu trách nhiệm trước Bộ trưởng Bộ Tài chính, thực hiện chức năng quản lý nhà nước về chứng khoán và thị trường chứng khoán; trực tiếp quản lý, giám sát hoạt động chứng khoán và thị trường chứng khoán; quản lý các hoạt động dịch vụ công thuộc lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán theo quy định của pháp luật

2.1.2.6 Bảo hiểm xã hội Việt Nam

Bảo hiểm xã hội Việt Nam là cơ quan sự nghiệp thuộc Chính phủ, có chức năng thực hiện chính sách, chế độ BHXH, BHYT (gọi chung là BHXH) và quản lý BHXH theo quy định của pháp luật

Bảo hiểm xã hội Việt Nam có các nhiệm vụ sau đây:

+ Tổ chức thực hiện chính sách chế độ BHXH, thu các khoản đóng BHXH bắt buộc và tự nguyện

Trang 10

+ Quản lý quỹ BHXH và tổ chức việc chi trả BHXH cho người tham gia BHXH được đầy đủ, thuận tiện và đúng thời hạn

+ Xây dựng và tổ chức thực hiện đề án và biện pháp để bảo tồn giá trị và tăng trưởng quỹ BHXH

+ Kiến nghị với Chính phủ và các cơ quan nhà nước có liên quan về việc sửa đổi, bổ sung các chính sách, cơ chế quản lý quỹ, cơ chế quản lý tài chính (kể cả chi phí quản lý bộ máy của BHXH) chế độ BHXH

+ Thực hiện các nhiệm vụ khác có liên quan đến quá trình hoạt động của BHXH (như cấp sổ BHXH, lưu giữ hồ sơ, thực hiện thống kê, kế toán, kiểm tra thực hiện các chế độ, giải quyết khiếu nại )

Bảo hiểm xã hội Việt Nam được tổ chức như sau:

+ Hội đồng quản lý BHXH Việt Nam là cơ quan quản lý cao nhất của BHXH Việt Nam

+ BHXH Việt Nam được tổ chức quản lý theo hệ thống dọc, tập trung thống nhất từ Trung ương đến địa phương, bao gồm Bảo hiểm xã hội Việt Nam ở Trung ương; ở các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương là bảo hiểm xã hội tỉnh, thành phố trực thuộc BHXH Việt Nam; ở quận, huyện, thị xã là BHXH huyện quận trực thuộc BHXH tỉnh (thành phố)

2.1.7 Ngân hàng nhà nước Việt Nam

Ngân hàng nhà nước Việt Nam là cơ quan ngang bộ của Chính phủ có chức năng quản lý nhà nước về tiền tệ, hoạt động ngân hàng và là Ngân hàng Trung ương của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam; quản lý nhà nước các dịch vụ công và thực hiện đại diện chủ sở hữu phần vốn của nhà nước tại doanh nghiệp có vốn nhà nước trong lĩnh vực ngân hàng theo quy định của pháp luật

Ngân hàng nhà nước có các nhiệm vụ sau đây:

Trang 11

- Xây dựng các dự án luật, pháp lệnh và dự thảo văn bản quy phạm pháp luật khác về tiền tệ và hoạt động ngân hàng; Xây dựng chiến lược, quy hoạch phát triển, kế hoạch dài hạn, năm năm và hàng năm về tiền tệ và hoạt động ngân hàng; Ban hành các quy định, chỉ thị, thông tư thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Ngân hàng nhà nước

- Chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra và chịu trách nhiệm thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch sau khi được phê duyệt và các văn bản pháp luật khác thuộc phạm vi quản lý của ngành; Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật và thông tin về hoạt động ngân hàng

- Xây dựng dự án chính sách tiền tệ quốc gia và tổ chức thực hiện chính sách này; xây dựng đề án phát triển hệ thống ngân hàng và các tổ chức tín dụng

- Cấp, thu hồi giấy phép thành lập và hoạt động của các tổ chức tín dụng, trừ trường hợp do Thủ tướng Chính phủ quy định; Cấp, thu hồi giấy phép hoạt động ngân hàng của các tổ chức khác; Quy định giải thể, chấp thuận chia, tách, hợp nhất, sáp nhập các tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật

- Kiểm tra, thanh tra hoạt động ngân hàng, kiểm soát tín dụng; thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, chống tham nhũng, tiêu cực; xử lý các vi phạm pháp luật trong lĩnh vực tiền tệ và hoạt động ngân hàng theo thẩm quyền

- Quản lý việc vay, trả nợ nước ngoài của các doanh nghiệp theo quy định của Chính phủ; Chủ trì lập và theo dõi kết quả thực hiện cán cân thanh toán quốc tế; Quản lý ngoại hối, hoạt động ngoại hối và quản lý hoạt động xuất nhập khẩu vùng

- Ký kết, tham gia điều ước quốc tế về tiền tệ và hoạt động ngân hàng theo quy định của pháp luật; Đại diện cho CHXHCN Việt Nam tại các tổ chức tiền tệ và ngân hàng quốc tế trong những trường hợp được Chủ tịch nước, Chính phủ uỷ quyền

Ngày đăng: 12/10/2021, 09:13

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w