- Bố trí, sử dụng quỹ đất hợp lý, tiết kiệm, hiệu quả và bền vững trên cơ sở khai thác tiềm năng đất đai, lợi thế tự nhiên của huyện; Từng bước chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất đồng bộ và
Trang 11
ĐẶT VẤN ĐỀ
Đất đai là tài nguyên thiên nhiên vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố dân cư, phát triển các cơ sở kinh tế, văn hóa xã hội và an ninh quốc phòng …
Hiến pháp nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 quy định tại Khoản 1 Điều 54 “Đất đai là tài nguyên đặc biệt của quốc gia, nguồn lực quan trọng phát triển đất nước, được quản lý theo pháp luật”
Luật Đất đai năm 2013 tại Chương 2 Điều 14 quy định "Nhà nước quyết định mục đích sử dụng đất thông qua quy hoạch sử dụng đất, kế hoạch sử dụng đất
và cho phép chuyển mục đích sử dụng đất" và tại Chương 4 Điều 45 Khoản 3 quy định "Ủy ban nhân dân cấp huyện trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phê duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của cấp huyện"
Cụ thể hóa Luật Đất đai năm 2013, ngày 29/11/2013 Chính phủ ban hành Nghị định số 43/NĐ-CP “về thi hành Luật Đất đai” và ngày 02/06/2014 Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành Thông tư số 29/2014/TT-BTNMT “Thông tư quy định chi tiết việc lập, điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất” Các văn bản pháp quy đã ban hành trên là cơ sở thuận lợi cho việc tăng cường công tác quản lý đất đai trong tình hình mới hiện nay của đất nước
Từ tình hình thực tế và căn cứ pháp lý nêu trên, việc điều chỉnh quy hoạch
sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất năm 2016 huyện Ngân Sơn là cần thiết, đảm bảo đúng quy định của Luật Đất đai năm 2013; đáp ứng mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội và môi trường trong giai đoạn mới, với mục tiêu sử dụng đất tiết kiệm, hiệu quả, bảo vệ môi trường sinh thái và thích ứng với môi trường khí hậu; đảm bảo sự thống nhất với Điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm
sử dụng đất
- Bố trí, sử dụng quỹ đất hợp lý, tiết kiệm, hiệu quả và bền vững trên cơ sở khai thác tiềm năng đất đai, lợi thế tự nhiên của huyện; Từng bước chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất đồng bộ và phù hợp với quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động, cơ cấu đầu tư, tạo ra những tiền đề hợp lý cho quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế toàn tỉnh theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa; Bố trí hợp lý diện tích đất sản xuất nông nghiệp, đảm bảo an ninh lương thực, tạo vùng chuyên canh nông sản phù hợp với điều kiện đất đai và điều kiện tự nhiên của huyện,…; Bố trí, sử dụng
Trang 22
đất hợp lý cho các mục đích phi nông nghiệp theo hướng tăng cường đầu tư cơ sở
hạ tầng, các công trình phúc lợi công cộng, đảm bảo sự phát triển đồng đều giữa các địa phương, giữa khu vực thành thị với nông thôn
- Khoanh định và phân bổ quỹ đất cho các mục đích sử dụng phù hợp với định hướng phát triển đến năm 2020 và những năm tiếp theo; đồng thời đáp ứng nhu cầu sử dụng đất của các ngành, các lĩnh vực đảm bảo không chồng chéo trong quá trình sử dụng
- Bảo vệ và phát triển vốn rừng, đặc biệt là rừng phòng hộ đầu nguồn, đảm bảo tỷ lệ che phủ cần thiết để bảo vệ môi trường, chống xói mòn
- Đáp ứng đủ quỹ đất cho mục đích quốc phòng, an ninh; bố trí sử dụng theo hướng kết hợp giữa mục đích kinh tế với mục đích quốc phòng
2 Yêu cầu
- Đánh giá tình hình sử dụng đất, biến động sử dụng đất; đồng thời đánh giá kết quả thực hiện các chỉ tiêu quy hoạch sử dụng đất của kỳ trước theo Luật Đất đai đã quy định để xác định phần chỉ tiêu chưa thực hiện đối với diện tích đất được phân bổ cho các nhu cầu sử dụng và các chỉ tiêu diện tích chuyển mục đích theo kế hoạch sử dụng đất;
- Xác định cụ thể diện tích các loại đất đã được cấp tỉnh phân bổ đến từng đơn vị hành chính cấp xã;
- Đề xuất khoanh định, phân bổ đất đai đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế -
xã hội đến năm 2020, đảm bảo hài hòa các mục tiêu, chiến lược phát triển kinh tế -
xã hội của huyện
Trang 33
Phần I
SỰ CẦN THIẾT ĐIỀU CHỈNH QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT
Trong những năm thực hiện Quyết định số 61/QĐ-UBND ngày 14/01/2013 của UBND tỉnh Bắc Kạn về xét duyệt quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020, Kế hoạch sử dụng đất kỳ đầu (2011 - 2015) của huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn đã đạt được những kết quả tích cực, góp phần quan trọng vào phát triển kinh tế - xã hội, công tác quản lý đất đai từng bước đi vào nề nếp, sử dụng đất đai hiệu quả cao hơn Việc giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất phục vụ cho việc phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng cơ sở sản xuất công nghiệp và dịch vụ, tạo vốn xây dựng cơ sở hạ tầng đảm bảo phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được UBND tỉnh xét duyệt cả về quy mô diện tích và vị trí thực hiện, đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế của huyện và nhu cầu sử dụng đất cho các đơn vị,
tổ chức kinh tế, đất ở cho nhân dân trên địa bàn huyện Việc đấu giá đất ở vừa đáp ứng nhu cầu đất ở của nhân dân vừa tăng thêm nguồn thu cho ngân sách của huyện, góp phần tạo nguồn lực xây dựng nông thôn mới Diện mạo đô thị và nông thôn đã thay đổi rõ rệt cả về chất và lượng Đáp ứng nhu cầu sử dụng đất của các
dự án đầu tư sản xuất đã góp phần giải quyết được nhiều việc làm và tăng thu nhập cho người lao động
Trong giai đoạn 2011-2015, được sự lãnh đạo của Huyện ủy, các cấp, các ngành, cán bộ, đảng viên và nhân dân trong huyện đã đoàn kết, nỗ lực phấn đấu thực hiện thắng lợi nhiều chủ trương, mục tiêu và nhiệm vụ được xác định tại Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XX, nhiệm kỳ 2010-2015; trong đó có nhiều thời cơ, thuận lợi nhưng cũng đứng trước không ít khó khăn, thách thức Để phù hợp với tình hình thực tế tại địa phương trong giai đoạn tới; đồng thời khắc phục được những khó khăn, thách thức và những vấn đề còn tồn đọng trong giai đoạn vừa qua Trong quá trình thực hiện Nghị quyết Đại hội Đại biểu Đảng bộ huyện Ngân Sơn lần thứ XXI, nhiệm kỳ 2015-2020, một số chỉ tiêu và định hướng phát triển kinh tế - xã hội đã có sự điều chỉnh so với trước đây, dẫn đến một số chỉ tiêu
sử dụng đất cần phải điều chỉnh cho phù hợp Do đó, căn cứ theo Điểm a, Khoản 1, Điều 46 Luật Đất đai năm 2013 quy định quy hoạch sử dụng đất được điều chỉnh khi có sự điều chỉnh chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh Cũng theo Điểm c, Khoản 1, Điều 46 quy định quy hoạch sử dụng đất của cấp dưới được điều chỉnh khi có sự điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất của cấp trên trực tiếp làm ảnh hưởng tới quy hoạch sử dụng đất (Điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh đến năm 2020 được Chính phủ thông qua tại Nghị quyết số 39/NQ-CP ngày 09/5/2018 của Chính phủ về điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và
Kế hoạch sử dụng đất kỳ cuối (2016-2020) tỉnh Bắc Kạn)
Trang 44
Mặt khác, Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm (2011-2015) của huyện được lập theo quy định của Luật Đất đai 2003 nên một số chỉ tiêu sử dụng đất đã thay đổi so với quy định của Luật Đất đai 2013 Do đó, căn cứ Khoản 1, Điều 51 Luật Đất đai năm 2013 quy định “Đối với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định, phê duyệt trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành thì phải rà soát, điều tra bổ sung đất cho phù hợp với quy định của Luật này khi lập kế hoạch sử dụng đất 05 năm (2016-2020)”
Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam năm 2013, chương III điều 53, 54 quy định: “ Đất đai là tài nguyên đặc biệt của quốc gia, nguồn lực quan trọng phát triển đất nước, được quản lý theo pháp luật do Nhà nước đầu tư, quản lý là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý” Luật đất đai năm 2013 quy định nội dung, trách nhiệm, thẩm quyền lập và xét duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai (Điều 38, 39, 40, 41,
42, 44, 45) Đồng thời, tại Điều 42 của Luật Đất đai cũng quy định các cơ quan chịu trách nhiệm lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
Như vậy, để đảm bảo tính đồng nhất của hệ thống chỉ tiêu sử dụng đất và đồng thời phù hợp với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội cũng như phương hướng mục tiêu phát triển của các ngành, các lĩnh vực trên địa bàn tỉnh nói chung và huyện Ngân Sơn nói riêng cần có nhiều thay đổi Điều này kéo theo những thay đổi trong cơ cấu sử dụng đất, cũng như nhu cầu sử dụng đất đai cho các ngành, các lĩnh vực
Để đáp ứng được các yêu cầu về quản lý, sử dụng đất đai hiện nay, UBND huyện Ngân Sơn đã chỉ đạo Phòng Tài nguyên môi trường huyện, các ngành chức năng có liên quan phối hợp thực hiện “Điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất năm 2016 huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn"
I CĂN CỨ PHÁP LÝ ĐỂ ĐIỀU CHỈNH QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT
1 Cơ sở pháp lý
- Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam năm 2013;
- Luật Đất đai ngày 29 tháng 11 năm 2013;
- Nghị quyết số 134/2016/QH13 ngày 09/4/2016 của Quốc hội về điều chỉnh quy hoạch sử dụng đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất kỳ cuối (2016-2020) cấp quốc gia;
- Nghị quyết số 39/NQ-CP ngày 09/5/2018 của Chính phủ về điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và Kế hoạch sử dụng đất kỳ cuối (2016-2020) tỉnh Bắc Kạn
- Nghị quyết số 63/2009/NQ- CP ngày 23/12/2009 của Chính phủ về đảm bảo an ninh lương thực quốc gia; Nghị định số 35/2015/NĐ- CP ngày 13 tháng 4 năm 2015 của Chính phủ về quản lý, sử dụng đất trồng lúa;
Trang 5- Thông tư số 28/2014/TT-BTNMT ngày 02 tháng 06 năm 2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc hướng dẫn thực hiện thống kê, kiểm kê đất đai và xây dựng bản đồ hiện trạng sử dụng đất;
- Thông tư số 29/2014/TT-BTNMT ngày 02/06/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về quy định chi tiết việc lập, điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất;
- Nghị quyết số 02/NQ-HĐND ngày 11/4/2017 của Hội đồng nhân dân tỉnh Bắc Kạn về việc thông qua điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020, kế hoạch sử dụng đất kỳ cuối (2016-2020) của tỉnh Bắc Kạn
- Nghị quyết số 06/NQ-HĐND ngày 28/6/ 2017 của HĐND huyện Ngân Sơn
về việc thông qua điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất năm 2016 huyện Ngân Sơn;
- Văn bản số 187/BTNMT- TCQLĐĐ ngày 21/01/2015 của Bộ Tài nguyên
và Môi trường về việc triển khai thực hiện điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất và lập
kế hoạch sử dụng đất;
- Văn bản số 323/STNMT-TNĐ ngày 13 tháng 4 năm 2015 của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bắc Kạn về việc điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020, lập kế hoạch sử dụng đất năm đầu của điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất cấp huyện;
- Văn bản số 1348/UBND- CN ngày 17/4/2015 của UBND tỉnh Bắc Kạn về việc thực hiện Văn bản số 323/STNMT- TNĐ ngày 13/4/2015 của Sở Tài nguyên
và Môi trường;
- Văn bản số 745/STNMT- TNĐ ngày 31/7/2015 về việc đôn đốc thực hiện điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất cấp huyện đến năm 2020 lập kế hoạch sử dụng đất năm đầu của điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất;
Trang 66
- Văn bản số 435/STNMT-TNĐ ngày 29 tháng 4 năm 2016 của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bắc Kạn về việc xác định nhu cầu sử dụng đất, triển khai việc lập điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020
- Văn bản số 1728/STNMT-TNĐ ngày 13/12/2016 của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bắc Kạn về việc phân bổ chỉ tiêu sử dụng đất trên địa bàn huyện, thành phố Bắc Kạn
- Văn bản số 435/STNMT-TNĐ ngày 14/4/2017 của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bắc Kạn về việc phân bổ chỉ tiêu sử dụng đất trên địa bàn huyện, thành phố Bắc Kạn
- Văn bản số 3513/UBND-KT ngày 04/7/2018 của UBND tỉnh Bắc Kạn về việc phân bổ chỉ tiêu sử dụng đất cấp tỉnh đối với các huyện, thành phố
2 Cơ sở thông tin số liệu, tư liệu bản đồ
- Nghị quyết số 40/2014/NQ-HĐND ngày 19 tháng 12 năm 2014 của Hội đồng nhân dân tỉnh Bắc Kạn về việc thông qua việc chuyển mục đích sử dụng đất trồng lúa, đất rừng phòng hộ để thực hiện các công trình, dự án đầu tư trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn năm 2015
- Nghị quyết số 41/2014/NQ-HĐND ngày 19 tháng 12 năm 2014 của Hội đồng nhân dân tỉnh Bắc Kạn về việc thông qua danh mục các công trình, dự án cần thu hồi đất để triển khai thực hiện trong năm 2015 trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn
- Nghị quyết số 06/NQ-HĐND ngày 03/4/2015 của Hội đồng nhân dân tỉnh Bắc Kạn thông qua việc chuyển mục đích sử dụng đất trồng lúa, đất rừng phòng hộ
để thực hiện các dự án đầu tư (bổ sung) trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn năm 2015;
- Nghị quyết số 07/NQ-HĐND ngày 03/4/2015 của Hội đồng nhân dân tỉnh Bắc Kạn thông qua danh mục (bổ sung) các dự án cần thu hồi đất để triển khai thực hiện trong năm 2015 trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn;
- Nghị quyết số 17/NQ-HĐND ngày 23/7/2015 của Hội đồng nhân dân tỉnh Bắc Kạn về việc thông qua danh mục các công trình, dự án cần thu hồi và chuyển mục đích sử dụng đất trồng lúa sang mục đích khác năm 2015 trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn (bổ sung lần 02);
- Nghị quyết số 39/NQ-HĐND ngày 17/12/2015 của Hội đồng nhân dân tỉnh Bắc Kạn về việc thông qua danh mục các công trình, dự án cần thu hồi đất để triển khai thực hiện trong năm 2016 trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn;
- Nghị quyết số 40/NQ-HĐND ngày 17/12/2015 của Hội đồng nhân dân tỉnh Bắc Kạn về việc thông qua việc chuyển mục đích sử dụng đất trồng lúa, đất rừng phòng
hộ để thực hiện các công trình, dự án đầu tư trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn năm 2016;
- Nghị quyết số 45/NQ-HĐND ngày 14/7/2016 của Hội đồng nhân dân tỉnh Bắc Kạn về việc thông qua danh mục các công trình, dự án cần thu hồi; danh mục các công trình, dự án chuyển mục đích sử dụng đất trồng lúa, đất rừng phòng hộ để thực hiện dự án đầu tư trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn năm 2016 (bổ sung);
Trang 77
- Nghị quyết số 69/2016/NQ-HĐND ngày 08/12/2016 của Hội đồng nhân dân tỉnh Bắc Kạn về việc thông qua việc chuyển mục đích sử dụng đất trồng lúa, đất rừng phòng hộ để thực hiện các dự án đầu tư trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn năm 2017;
- Nghị quyết số 22/NQ-HĐND ngày 18/7/2017 của Hội đồng nhân dân tỉnh Bắc Kạn về việc thông qua danh mục bổ sung các công trình, dự án cần thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất trồng lúa, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng để thực hiện các
dự án đầu tư trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn năm 2017;
- Nghị quyết số 28/NQ-HĐND ngày 07/12/2017 của Hội đồng nhân dân tỉnh Bắc Kạn về việc thông qua danh mục công trình, dự án cần thu hồi đất chuyển mục đích sử dụng đất trồng lúa, đất rừng đặc dụng để thực hiện một số dự án đầu tư trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn năm 2018
- Nghị quyết số 06/NQ-HĐND ngày 19/4/2018 của Hội đồng nhân dân tỉnh Bắc Kạn về việc thông qua danh mục bổ sung công trình, dự án cần thu hồi đất chuyển mục đích sử dụng đất trồng lúa, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng để thực hiện dự án đầu tư trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn năm 2018
- Quyết định số 1980/QĐ-TTg ngày 17 tháng 10 năm 2016 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới giai đoạn 2016-2020;
- Quyết định số 1820/QĐ-UBND ngày 04/10/2011 của UBND tỉnh Bắc Kạn
về việc phê duyệt Quy hoạch phát triển mạng lưới Chợ, Trung tâm Thương mại, Siêu thị trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn đến năm 2015, có xét đến năm 2020;
- Quyết định số 61/QĐ-UBND ngày 14 tháng 01 năm 2013 của UBND tỉnh Bắc Kạn về việc xét duyệt Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020, kế hoạch sử dụng đất kỳ đầu (2011-2015) của huyện Ngân Sơn;
- Quyết định số 2031/QĐ-UBND ngày 05/12/2012 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Kạn về việc phê duyệt Đồ án quy hoạch chung xây dựng thị trấn Nà Phặc, huyện Ngân Sơn
- Quyết định số 397/QĐ-UBND ngày 22/3/2012 của UBND tỉnh Bắc Kạn về việc phê duyệt Quy hoạch phát triển Giao thông Vận tải tỉnh Bắc Kạn giai đoạn từ năm 2011 đến năm 2020, định hướng đến năm 2030;
- Quyết định 1415/QĐ-UBND ngày 04/9/2013 của UBND tỉnh Bắc Kạn về việc phê duyệt Quy hoạch, thăm dò, khai thác và sử dụng khoáng sản tỉnh Bắc Kạn giai đoạn 2013-2020;
- Quyết định số 320/QĐ-UBND ngày 25/02/2014 của UBND tỉnh Bắc Kạn về việc phê duyệt Quy hoạch phát triển các Cụm công nghiệp tỉnh Bắc Kạn giai đoạn 2010-2020, có xét đến năm 2025
- Quyết định số 2491/QĐ-UBND ngày 31/12/2014 của Ủy ban nhân dân tỉnh tỉnh Bắc Kạn về việc phê duyệt Quy hoạch bảo tồn và phát triển rừng đặc dụng tỉnh đến năm 2020;
Trang 88
- Quyết định số 233/QĐ-UBND ngày 25/2/2016 của UBND tỉnh Bắc Kạn về việc phê duyệt Quy hoạch đường lâm nghiệp tỉnh Bắc Kạn giai đoạn 2015-2025, tầm nhìn đến năm 2030;
- Quyết định số 630/QĐ-UBND ngày 10/5/2017 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Kạn về việc phê duyệt Quy hoạch bảo tồn đa dạng sinh học tỉnh Bắc Kạn đến năm 2020, định hướng đến năm 2030;
- Quy hoạch nông thôn mới của các xã đã được phê duyệt trên địa bàn huyện;
- Báo cáo quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội huyện Ngân Sơn giai đoạn 2011 - 2020;
- Báo cáo quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020, kế hoạch sử dụng đất 5 năm
kỳ đầu 2011 - 2015 của tỉnh Bắc Kạn;
- Báo cáo thuyết minh tổng hợp Điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm
2020, Kế hoạch sử dụng đất kỳ cuối (2016-2020) tỉnh Bắc Kạn;
- Báo cáo quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020, kế hoạch sử dụng đất 5 năm
kỳ đầu (2011-2015) huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn; bản đồ quy hoạch sử dụng đất năm 2020 huyện Ngân Sơn;
- Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện Ngân Sơn lần thứ XXI nhiệm
kỳ 2015 – 2020;
- Số liệu kiểm kê đất đai năm 2010, 2014 huyện Ngân Sơn;
- Số liệu thống kê đất đai năm 2015 huyện Ngân Sơn;
- Bản đồ hiện trạng sử dụng đất năm 2014 của huyện Ngân Sơn;
- Bản đồ địa chính quy của các xã, thị trấn huyện Ngân Sơn;
- Niên giám thống kê huyện Ngân Sơn năm 2015;
- Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2016-2020 huyện Ngân Sơn;
- Các tài liệu, số liệu và bản đồ khác có liên quan đến việc sử dụng đất trên địa bàn huyện
II PHÂN TÍCH ĐÁNH GIÁ BỔ SUNG ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI, MÔI TRƯỜNG TÁC ĐỘNG ĐẾN VIỆC SỬ DỤNG ĐẤT
2.1 Phân tích, đánh giá bổ sung điều kiện tự nhiên, các nguồn tài guyên
và thực trạng môi trường
2.1.1 Điều kiện tự nhiên
a Vị trí địa lý
Ngân Sơn là huyện miền núi nằm ở phía Đông Bắc của tỉnh Bắc Kạn, có toạ
độ địa lý trong khoảng từ 22010'00" đến 22029'00" vĩ độ Bắc và từ 105050'10" đến
106001'10" kinh độ Đông
Phía Đông giáp tỉnh Cao Bằng và tỉnh Lạng Sơn
Trang 99
Phía Tây giáp huyện Ba Bể
Phía Nam giáp huyện Bạch Thông và huyện Na Rì
Phía Bắc giáp tỉnh Cao Bằng
Tổng diện tích tự nhiên của toàn huyện là 64.588,23 ha, chiếm 13,28% tổng diện tích tự nhiên của toàn tỉnh Huyện có 11 đơn vị hành chính bao gồm thị trấn
Nà Phặc, và các xã Lãng Ngâm, Thuần Mang, Hương Nê, Thượng Quan, Trung Hòa, Vân Tùng, Đức Vân, Bằng Vân, Thượng Ân, Cốc Đán
Trung tâm huyện lỵ của huyện là xã Vân Tùng nằm dọc theo QL3, cách thành phố Bắc Kạn khoảng 62 km về phía Đông Bắc và cách thị trấn Nà Phặc khoảng 14 km về phía Đông QL3 là một trong những tuyến giao thông quan trọng của vùng Tây Bắc chạy qua địa bàn huyện Ngân Sơn, đi qua địa phận các xã Lãng Ngâm,Vân Tùng, Đức Vân, Bằng Vân, thị trấn Nà Phặc Đây là những điều kiện hết sức thuận lợi cho việc giao thương hàng hóa, giao lưu văn hóa, học tập, trao đổi kinh nghiệm về chăn nuôi, sản xuất Do cách xa trung tâm của tỉnh nên khó khăn
về nguồn lực đầu tư các lĩnh vực thúc đẩy kinh tế - xã hội, mặc dù khó khăn nhưng được sự chỉ đạo sát sao của HĐND, UBND huyện và sự đoàn kết nỗ lực của nhân dân, trong năm qua nhân dân huyện Ngân Sơn cũng đã gặt hái được một số kết quả đáng khích lệ như: Diện tích một số cây trồng đạt và vượt chỉ tiêu như cây thuốc
lá, cây ngô; tổng đàn gia súc đạt và vượt chỉ tiêu kế hoạch Do có sự giao lưu học tập kinh nghiệm sản xuất nên có một số loại đặc sản như: Lê, mận, đào cũng đã được trú trọng phát triển và diện tích tăng dần theo từng năm
b Địa hình, địa mạo
Địa hình Ngân Sơn là nơi hội tụ của hệ thống nếp lồi dạng cánh cung, bị chia cắt mạnh bởi hệ thống sông suối, núi đồi trùng điệp và thung lũng sâu tạo thành các kiểu địa hình khác nhau: Địa hình núi cao trung bình, địa hình núi thấp
và đồi thoải lượn sóng xen kẽ với các thung lũng; Độ dốc bình quân 26 - 300, diện tích đồi núi chiếm khoảng 90% tổng diện tích tự nhiên, diện tích tương đối bằng phẳng chiếm khoảng 10%, đất nông nghiệp chủ yếu là ruộng bậc thang và các bãi bồi dọc theo hệ thống sông suối
Địa hình phức tạp gây khó khăn cho hoạt động sản xuất nông nghiệp nhất là nguồn nước phục vụ cho sản xuất nông nghiệp, mùa khô gây ra hạn hán
độ trung bình là 26,100C, thấp nhất là tháng 1 nhiệt độ trung bình là 11,900C, nhiệt
độ tối thấp tuyệt đối là 20C gây giá buốt ảnh hưởng rất lớn đến cây trồng vật nuôi
Trang 1010
- Lượng mưa trung bình năm là 1.248,2 mm, phân bố không đều giữa các tháng trong năm, mưa tập trung vào các tháng 5,6,7,8; vào tháng 11 lượng mưa không đáng kể, hàng năm trên địa bàn huyện xuất hiện mưa đá từ 1 đến 3 lần
Độ ẩm không khí khá cao 83,0%, cao nhất vào các tháng 7,8,9,10 từ 84- 86% thấp nhất là tháng 12 và tháng 1 năm sau Nhìn chung độ ẩm không khí trên địa bàn huyện không có sự chênh lệch nhiều giữa các tháng trong năm
- Chế độ gió trên địa bàn huyện xuất hiện hai hướng gió thịnh hành là gió mùa Đông Bắc và gió mùa Đông Nam, tốc độ gió bình quân 1- 3 m/s, tháng 4 vào giai đoạn chuyển mùa gió thổi cả ngày với vận tốc trung bình từ 2- 3 m/s, thời kỳ chuyển từ mùa Hạ sang mùa Đông tốc độ gió yếu nhất trong năm
- Bão ít ảnh hưởng đến Ngân Sơn vì nằm sâu trong đất liền và được che chắn bởi các dãy núi cao, lượng mưa trong năm không lớn nhưng lại tập trung nên xảy ra tình trạng lũ lụt ở một số vùng
Chế độ thuỷ văn của huyện phụ thuộc chủ yếu vào hệ thống sông ngòi, hồ đập trong khu vực của huyện và khu vực phụ cận, một số hệ thống khe suối thuộc khu vực thuợng nguồn (sông Bằng Giang) Sông có độ dốc dọc thuỷ văn trung bình 4-5%, suối trung bình 8-10% Khe nhỏ có độ dốc dọc thuỷ văn càng lớn vì thế sau những trận mưa rào thường hay có lũ quét
2.1.2 Các nguồn tài nguyên
a Tài nguyên đất
Theo số liệu thống kê đất đai năm 2015, tổng diện tích tự nhiên của huyện Ngân Sơn là 64.588,23 ha, trong đó: sử dụng vào mục đích nông nghiệp có 59.531,84 ha, chiếm 92,17% tổng diện tích tự nhiên; sử dụng vào mục đích phi nông nghiệp có 3.273,33 ha, chiếm 5,07% tổng diện tích tự nhiên; đất chưa sử dụng có 1.783,06 ha, chiếm 2,76% tổng diện tích tự nhiên
Theo kết quả nghiên cứu của Tổng cục Địa chất thì Ngân Sơn nằm trong vùng địa chất có địa hình phức tạp của tỉnh Bắc Kạn Trên địa hình của tỉnh có bao nhiêu kiểu địa mạo thì có bấy nhiêu kiểu kiến trúc địa chất, trong đó có Cánh cung Ngân Sơn có các loại Granít, Rhyonít, phiến sét, thạch anh, đá vôi
Phân bố các loại đất chính trên đại bàn huyện, như sau:
Trang 1111
- Đất Feralít màu vàng nhạt trên núi trung bình(FH): Được phân bố trên các đỉnh núi cao >700m, trên nền đá măcma axit kết tinh chua, đá trầm tích và biến chất, hạt mịn, hạt thô Tầng đất mỏng, đá nổi nhiều, đất ẩm và có tầng thảm mục khá dày, ẩm, đá nổi dày
- Đất Feralít hình thành trên vùng đồi núi thấp (phát triển trên đá sa thạch): Đặc điểm là tầng mỏng đến trung bình Thành phần cơ giới nhẹ, màu vàng đỏ Thích hợp với cây trồng nông - lâm nghiệp
Nhìn chung, đất đai huyện Ngân Sơn nằm ở khu vực có độ dốc lớn, dễ xảy
ra tình trạng rửa trôi, xói mòn gây suy thoái Phần lớn diện tích đất thích hợp cho phát triển lâm nghiệp (trồng rừng); diện tích đất sản xuất nông nghiệp hiện nay cơ bản là đất nương rẫy, luân canh ngô, lúa nương và các loại đậu đỗ, song hiệu quả sản xuất chưa cao Cần kết hợp các kỹ thuật canh tác, lựa chọn giống cây trồng phù hợp trong công tác quản lý, sử dụng đất đai để đảm bảo hiệu quả sản xuất, giữ gìn
và cải tạo nguồn tài nguyên đất của địa phương
b Tài nguyên nước
- Nguồn nước mặt: Lưu vực một số suối có nước quanh năm, vào mùa khô lưu lượng nước ít hơn do độ dốc địa hình lớn (lưu vực suối Lủng Sao- xã Bằng Vân) Một số suối chỉ có nước vào mùa mưa, mùa khô hầu như không có Vì vậy, khai thác nguồn nước cho sản xuất và sinh hoạt cần phải có sự đầu tư lớn
- Nguồn nước ngầm: Do địa hình miền núi nên nước ngầm chỉ có ở chân các hợp thuỷ và gần suối, mạch nước ngầm cách mặt đất khoảng từ 3- 3,5 m, hình thức khai thác là dùng giếng khoan
c Tài nguyên rừng: Theo kết quả thống kê đất đai năm 2015, diện tích đất lâm nghiệp của huyện có 54.239,12 ha, chiếm 83,97% diện tích tự nhiên của huyện, trong đó: Rừng sản xuất có 42.216,03 ha, chiếm 70,91% diện tích đất nông nghiệp; rừng phòng hộ có 12.023,09 ha, chiếm 20,19% diện tích đất nông nghiệp
Độ che phủ rừng đạt 64% (theo kết quả thực hiện nghị quyết đại hội Đảng bộ huyện Ngân Sơn lần thứ XXI nhiệm kỳ 2010-2015)
Về trữ lượng gỗ: Tính bình quân chung diện tích rừng gỗ (tự nhiên núi đất, núi đá, hỗn giao và rừng trồng) thì trữ lượng gỗ lớn đạt trên 45m3/ha với nhiều loại
gỗ quý nhóm I, II, III đối với rừng tre nứa hỗn giao đã cung cấp vật liệu cho xây dựng và nguyên liệu giấy
Về thảm thực vật: Là huyện miền núi với địa hình đa dạng, phức tạp nên hệ thực vật ở đây với các họ Giẻ, Nguyệt quế, Xoan, Bò hòn, Dâu tằm
Giá trị thực vật rừng không chỉ lấy gỗ mà còn là dược liệu làm thuốc, làm cảnh Động vật rừng: Do điều kiện địa hình, địa chất và dạng sinh cảnh nên đã tạo cho rừng của Ngân Sơn có nhiều động vật phong phú, quý hiếm
Trang 1212
Nhìn chung, công tác quản lý, phát triển rừng luôn được chú trọng Thực hiện các giải pháp phát triển lâm nghiệp, tạo điều kiện cho nhân dân tiếp cận với nghề rừng, hiện nay số diện tích rừng đã trồng theo các dự án PAM, 327… đang mang lại nguồn thu nhập đáng kể cho người trồng rừng; cùng với đó là việc đẩy mạnh tuyên truyền vận động, đã làm thay đổi nhận thức của nhân dân về lợi ích từ việc trồng và bảo vệ rừng Vì vậy, công tác công tác bảo vệ và phát triển rừng đã đạt được những thành tích đáng khích lệ, được người dân chủ động, tích cực tham gia, nhiều hộ dân đã thoát nghèo và vươn lên làm giàu từ rừng
e Tài nguyên khoáng sản
Theo kết quả khảo sát, thăm dò các điểm khoáng sản đã được thực hiện trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn, hiện trên địa bàn huyện Ngân Sơn có một số loại khoáng sản như sau:
+ Tôm Tiên xã Trung Hoà;
+ Phía Đén, Nà Đeng, Bản Phiêu, Đèo Gió (trữ lượng 150.000 tấn), Cốc Sấu, Phương Sơn xã Vân Tùng;
+ Phúc Sơn xã Thượng Quan;
Trang 13du lịch sinh thái - nghỉ dưỡng, du lịch lịch sử - văn hóa - lễ hội Khai thác các di tích lịch sử, cảnh quan của địa phương (di tích lịch sử Hoàng Phài, di tích Đèo Giàng, bốt Khau Pàn, đền Phja Thán, di tích Coỏng Tát, thác Nà Khoang, hồ Bản Chang, Hang dơi xã Vân Tùng ); Phối hợp với các địa phương khác tổ chức khai thác các tua du lịch tâm linh – danh thắng – di tích lịch sử Nâng cao chất lượng dịch vụ của khách sạn, nhà nghỉ Khuyến khích hình thành các doanh nghiệp kinh doanh lữ hành
g Tài nguyên nhân văn
Theo kết quả thống kê 2015 Ngân Sơn hiện có 29.877 người với nhiều dân tộc cùng sinh sống trên địa bàn Mỗi dân tộc đều có phong tục tập quán riêng, có nét truyền thống văn hoá dân gian, dân tộc đặc sắc Song, tất cả đều có điểm chung đó là tinh thần yêu nước, anh dũng đấu tranh chống ngoại xâm, nhiệt tình trong công cuộc xây dựng đất nước Trong công cuộc xây dựng và phát triển của huyện, cộng đồng các dân tộc luôn đoàn kết, gắn bó, khắc phục khó khăn, kế thừa và phát huy những kinh nghiệm, thành quả đã đạt được, tiếp thu khoa học công nghệ hiện đại, từng bước đưa Ngân Sơn trở thành một huyện phát triển của tỉnh trong thời gian tới
2 1.3 Thực trạng môi trường
Ngân Sơn mật độ dân số không cao, tốc độ đô thị hóa chậm, các hoạt động công nghiệp chưa phát triển mạnh nên nhìn chung môi trường không khí của huyện còn khá tốt, các chỉ tiêu đánh giá chất lượng môi trường không khí giai đoạn 2010-
2015 đều đảm bảo
Tuy nhiên, cũng có những ảnh hưởng nhất định tới môi trường sống như:
- Hệ thống thoát nước trong khu dân cư không đảm bảo, nên mỗi khi mưa xuống thoát nước không tốt làm ứ đọng những vùng nước bao gồm nước thải sinh hoạt, chất thải gia súc, gia cầm gây ảnh hưởng môi trường sống của người dân
- Quá trình phát triển kinh tế nông nghiệp và việc sử dụng các loại thuốc hoá học không hợp lý cùng với việc vệ sinh chất thải sau sử dụng không đúng quy trình
kỹ thuật làm ảnh hưởng đến môi trường sống
Trang 1414
- Môi trường đất cũng đang có những biến đổi theo chiều hướng xấu do phương thức canh tác không hợp lý, tình trạng chăn thả gia súc tự do, quá trình khai thác, sử dụng đất không gắn liền với cải tạo, nâng cao độ phì cho đất
Nhìn chung, môi trường nước mặt của huyện hiện chưa có dấu hiệu suy giảm, tuy nhiên ít nhiều cũng đã bị ảnh hưởng bởi tác động của con người trong quá trình sản xuất, sinh hoạt nên nhiều nơi nguồn nước không hợp vệ sinh
Việc khai thác tài nguyên rừng cùng với phát triển kinh tế vườn đồi không theo định hướng cũng đã làm tổn hại đến môi trường sinh thái
Ở khu vực đô thị, thực trạng môi trường đã và đang được quan tâm, chú trọng Công tác thu gom rác thải sinh hoạt tại thị trấn Nà Phặc và xã Vân Tùng đã được thực hiện khá tốt Tuy nhiên, bãi rác tập trung của thị trấn lại được bố trí lộ thiên, phương pháp xử lý chủ yếu là đốt rác thủ công gây ô nhiễm môi trường và làm mất đi vẻ đẹp mỹ quan Trong tương lai để đáp ứng mục tiêu phát triển theo hướng bền vững cần quy hoạch bãi chứa rác đảm bảo các yếu tố môi trường phù hợp với sự phát triển của trung tâm huyện lỵ đang trong quá trình đô thị hóa Ở khu vực nông thôn, hiện nay có một số vấn đề môi trường cần quan tâm:
- Việc xả trực tiếp nước thải sinh hoạt của khu dân cư, chưa qua xử lý vào nguồn nước mặt gây nguy cơ ô nhiễm nguồn nước; tình trạng khan hiếm nước sạch cho sinh hoạt và nước phục vụ sản xuất nhất là vào mùa khô;
- Điều kiện vệ sinh môi trường hàng ngày của nhân dân còn nhiều bất cập, thiếu các công trình vệ sinh hợp vệ sinh, chăn thả gia súc, gia cầm tự do, các công trình chuồng trại chưa được xây dựng, bố trí hợp lý… gây ảnh hưởng đến môi trường và sức khỏe của người dân trong khu vực
Từ các đặc điểm trên, trong giai đoạn tới cùng với quá trình khai thác các nguồn lợi để phát triển kinh tế - xã hội cần có biện pháp bảo vệ và trồng rừng, quản
lý khai thác các nguồn tài nguyên, tổ chức xử lý chất thải, nước thải trên từng địa bàn đặc biệt là ở khu đô thị Đầu tư bảo vệ cảnh quan môi trường tương xứng với mức độ đầu tư khai thác và yêu cầu đảm bảo cho phát triển bền vững là điều hết sức có ý nghĩa
Nhận định chung về điều kiện tự nhiên, tài nguyên và cảnh quan môi trường
*Thuận lợi:
- Huyện có diện tích tự nhiên tương đối lớn, thuận lợi kết hợp nông nghiệp với lâm nghiệp về phát triển kinh tế với việc hình thành các vùng cây trồng tập trung như cây ăn quả, rừng nguyên liệu
- Nguồn khoáng sản phong phú về chủng loại và phân bố ở nhiều nơi là cơ
sở cho phát triển các ngành công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp
- Có các hệ sinh thái đa dang thuận lợi để phát triển du lịch sinh thái
Trang 1515
* Khó khăn, hạn chế: Địa hình chia cắt mạnh và những yếu tố bất lợi của thiên nhiên như lũ lụt gây khó khăn, tốn kém trong xây dựng, phát triển cơ sở hạ tầng, bố trí sản xuất và đời sống sinh hoạt của nhân dân
2.2 Phân tích đánh giá bổ sung thực trạng phát triển kinh tế xã hội 2.2.1 Tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
a Tăng trưởng kinh tế
Thực hiện kế hoạch 5 năm (2010-2015) và thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XX Trong những năm qua, đảng bộ huyện đã tập trung chỉ đạo thực hiện các nhiệm vụ phát triển nông, lâm nghiệp nhằm khai thác tiềm năng, thế mạnh của địa phương; tạo ra sản phẩm có giá trị cao, đem lại hiệu quả kinh tế, nâng cao thu nhập cho nhân dân Bằng biện pháp áp dụng tiến bộ khoa học vào sản xuất, đầu tư thâm canh; thực hiện chuyển đổi cơ cấu cây trồng và vật nuôi; đẩy mạnh cơ giới hóa nông nghiệp; quan tâm đầu tư, duy tu các công trình thủy lợi, nên trong nhiệm kỳ qua lĩnh vực nông lâm nghiệp đã có bước phát triển khá
Sản lượng lương thực có hạt năm sau cao hơn năm trước; năm 2015 tổng sản lượng lương thực đạt 17.405 tấn, vượt 2,3% so với Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XX, nhiệm kỳ 2010-2015, tăng 10,1% so với năm 2010; bình quân lương thực 587 kg/người/năm, vượt 1,2% so với nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XX, nhiệm kỳ 2010-2015, tăng 5,5% so với năm 2010
Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân giai đoạn 2010 - 2015 của huyện đạt 15%/năm Năm 2015, nền kinh tế của huyện tiếp tục tăng trưởng khá, đạt 12,4%; thu nhập bình quân đầu người đạt 17,5 triệu đồng/người/năm
b Chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Cùng với xu thế phát triển chung của tỉnh Bắc Kạn, trong những năm qua nền kinh tế của huyện có bước chuyển biến tích cực và đạt được những thành tựu quan trọng về nhiều mặt, hạ tầng tiếp tục phát triển như giao thông, thủy lợi, trường học, bệnh viện, các công trình văn hóa phúc lợi; đời sống vật chất và tinh thần của người dân không ngừng được nâng cao Năm 2015, cơ cấu kinh tế của huyện như sau: Khu vực nông, lâm nghiệp, thủy sản chiếm 49,15%; khu vực công nghiệp - xây dựng chiếm 14,30%; khu vực thương mại - dịch vụ chiếm 36,55%
2.2.2 Thực trạng phát triển các ngành kinh tế
a Khu vực kinh tế nông - lâm nghiệp - thủy sản
Tính đến năm 2015, diện tích đất nông nghiệp của huyện là 59.535,68 ha (chiếm 92,17% diện tích tự nhiên của huyện) là một huyện nông nghiệp, nhưng tiềm năng đất đai để phát triển nông nghiệp hàng hóa lại rất hạn chế, sản phẩm nông nghiệp tiêu thụ trên thị trường lại phụ thuộc vào thương lái, khí hậu thuận lợi
để phát triển ngành chăn nuôi gia súc, trong những năm qua nền nông nghiệp của huyện đã có sự phát triển đáng kể theo hướng sản xuất hàng hóa; công tác chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi phù hợp với quy hoạch chung; công tác chuyển giao ứng dụng khoa học công nghệ đang được đầu tư phát triển; hệ thống thủy lợi được quan tâm đầu tư đáp ứng được cho công tác tưới tiêu
Trang 16+ Cây lúa: Diện tích đất trồng lúa năm 2015 là 2.448,11 ha, tăng so với năm
2014 (2.324,37 ha) là 123,74 ha, tăng so với năm 2010 (2.292,68 ha) là 155,43 ha”
+ Cây ngô: Diện tích cây ngô năm 2015 đạt 1.279,80 ha, giảm 17,40 ha so với năm 2014 (1.262,4 ha), giảm 378,21 ha so với năm 2010 (1.658,01 ha) Sản lượng tăng từ 6.615 tấn năm 2010 lên 8.209 tấn năm 2014 và đạt 8.825 tấn năm 2015
- Chăn nuôi :
Ngành chăn nuôi của huyện nhiều năm gần đây được quan tâm phát triển cả
về số lượng và chất lượng Chăn nuôi còn mang tính tự cung, tự cấp; chưa có các
cơ sở chăn nuôi mang tính sản xuất hàng hóa Tính đến hết năm 2015, ngành chăn nuôi huyện Ngân Sơn đạt được kết quả sau:
+ Đàn trâu: Tổng đàn trâu năm 2015 có 6.579 con, giảm 2.186 con so với năm 2010 (8.765 con);
+ Đàn bò: Tổng đàn bò năm 2015 có 4.060 con, giảm 1.613 con so với năm
+ Gia cầm: Tổng đàn năm 2015 có 199.959 con, tăng 88.167 con so với năm
2010 (111.792 con), chủ yếu nuôi lấy thịt, trong những năm tới cần tiến tới nuôi thành những gia trại tạo ra thế mạnh phát triển chăn nuôi của huyện
Bảng 1.1 Kết quả chăn nuôi qua các năm được thể hiện bảng sau:
STT Chỉ tiêu Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013 Năm 2014 Năm 2015
Trang 17mô nhỏ lẻ, phân tán, nguồn thức ăn chủ yếu phụ thuộc vào tự nhiên nên chưa tương ứng với tiềm năng sẵn có của địa phương, chưa tạo ra khối lượng sản phẩm hàng hóa lớn và ổn định cho công nghiệp chế biến Trong giai đoạn tới, để đảm bảo tốc độ tăng trưởng ổn định, cần áp dụng phương thức chăn nuôi cải tiến theo
mô hình trang trại tập trung, mô hình VAC, đầu tư vốn, con giống mới và chú trọng công tác thú y vào sản xuất
- Lâm nghiệp:
Theo thống kê đất đai năm 2015 tổng diện tích đất lâm nghiệp của huyện Ngân Sơn là 54.239,12 ha, chiếm 83,97% diện tích tự nhiên toàn huyện Trong đó diện tích rừng sản xuất 42.216,03 ha chiếm 65,36%, diện tích rừng phòng hộ 12.023,09 ha chiếm 18,61% Độ che phủ rừng đạt 64% Công tác chăm sóc khoanh nuôi tái sinh, chăm sóc bảo vệ rừng, chủ động triển khai trồng rừng theo đúng niên
vụ Trong năm 2015, trên địa bàn huyện đã tiến hành trồng 1742 ha
b Thực trạng phát triển công nghiệp
Huyện Ngân Sơn đẩy mạnh Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn, huyện đã xác định công nghiệp có ý nghĩa quan trọng đối với quá trình phát triển kinh tế - xã hội của huyện trong thời gian tới Giá trị sản xuất của các ngành tăng nhanh từ năm 2010 đến năm 2015
Huyện luôn tạo điều kiện cho các tập thể, cá nhân trên địa bàn hoạt động và
mở rộng sản xuất, từng bước khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào hoạt động chế biến các sản phẩm Trên địa bàn hiện có 117 cơ sở sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp đang hoạt động trong lĩnh vực khai thác khoáng sản, sản xuất vật liệu xây dựng, chế biến, tiêu thụ sản phẩm nông, lâm nghiệp Giá trị sản xuất công nghiệp (theo so sánh năm 2010) là 64,35 tỷ đồng, đạt 214,52% so với mục tiêu Nghị quyết Đại hội đề ra Các cơ sở sản xuất duy trì hoạt động đã giải quyết việc làm và tăng thu nhập cho nhiều lao động ở địa phương
Thực hiện quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của huyện giai đoạn 2006-2015 và tầm nhìn đến năm 2020, tranh thủ từ các nguồn vốn của Trung ương, của tỉnh và các nguồn khác, trong nhiệm kỳ trên địa bàn huyện đã đầu tư xây dựng
và cải tạo nâng cấp được 74,8 km đường điện, 17 trạm hạ thế và 155 công trình xây dựng cơ bản phục vụ sản xuất và sinh hoạt của người dân; trung tâm xã Vân
Trang 1818
Tùng đã được công nhận là Đô thị loại V và đang trình Chính phủ Đề án thành lập thị trấn Đến năm 2015 so với mục tiêu Nghị quyết Đại hội đề ra: Số hộ dân sử dụng điện lưới quốc gia là 88,5% đạt 104,1%; số hộ sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh là 67,69% đạt 75,2%; xây dựng mới 31 tuyến đường giao thông, đạt 206,7%
có 101/174 số thôn có đường xe máy đi thuận tiện đạt 58%; có 06/11 trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã được xây dựng đạt 54,5%
Năm 2015, giá trị sản xuất công nghiệp trên địa bàn huyện Ngân Sơn ở mức khá Giá trị sản xuất năm 2015 theo giá thực tế là 69.543 triệu đồng Trong đó khu vực kinh tế nhà nước là 878 triệu đồng (chiếm 1,26% giá trị sản xuất ngành công nghiệp), khu vực kinh tế ngoài nhà nước là 68.665 triệu đồng (chiếm 98,74% giá trị sản xuất ngành công nghiệp) Giá trị sản xuất của ngành đạt 69.543 triệu đồng, tăng 3,95% so với năm 2013 và tăng 62,31% so với năm 2010 Các ngành công nghiệp trên địa bàn huyện chủ yếu tập trung vào một số ngành chính như khai khoáng đá, công nghiệp chế biến và chế tạo, sản xuất…
Nhìn chung, ngành công nghiệp chế biến luôn chiếm tỷ trọng lớn trong giá trị sản xuất của ngành công nghiệp Tính riêng năm 2015, giá trị sản xuất của ngành chế biến nông sản đạt 65,92 tỷ đồng/69,54 tỷ đồng, chiếm trên 94,79% tổng giá trị của ngành công nghiệp Tuy nhiên, trên địa bàn huyện hiện nay chưa có cơ
sở chế biến nông sản quy mô lớn, tập trung Các cơ sở xay sát và chế biến gạo, bột sắn, ngô hầu hết đều có quy mô nhỏ, theo hình thức sản xuất cá thể (các hộ gia đình tự trang bị các loại máy xay sát nhỏ để sản xuất) nên hiệu quả chưa cao Hơn nữa, Ngân Sơn còn có tiềm năng thế mạnh về cây thuốc lá và cây đậu tương hàng năm, sản lượng thuốc lá và đậu tương thu hoạch được của toàn huyện lên tới hàng ngàn tấn Sản phẩm thu về chủ yếu bán cho tư thương với giá thành thấp, lợi nhuận
mà người dân được hưởng không đáng kể Trong giai đoạn tới, với mục tiêu đưa cây thuốc lá trở thành cây chủ đạo trong phát triển nông nghiệp của huyện thì dự
án xây dựng nhà máy chế biến thuốc lá cần được ưu tiên thực hiện
c Thực trạng ngành thương mại - dịch vụ
Huyện đã quan tâm chỉ đạo triển khai thực hiện tốt các chính sách để đẩy mạnh phát triển thương mại, dịch vụ nên hoạt động thương mại, dịch vụ trên địa bàn có bước phát triển tốt, các mặt hàng trên thị trường phong phú đa dạng, đáp ứng đầy đủ, kịp thời nhu cầu tiêu dùng của nhân dân từ đô thị đến vùng nông thôn Hiện nay toàn huyện 961 cơ sở kinh doanh thương mại, dịch vụ tăng 89 cơ sở so với năm 2010 Tổng mức bán lẻ hàng hóa đạt 730 tỷ đồng, tăng 227 tỷ so với đầu nhiệm kỳ Làm tốt công tác quản trường, thường xuyên tổ chức kiểm tra, kiên quyết xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về thương mại; quản lý giá cả thị trường, tạo môi trường kinh doanh lành mạnh
- Viễn thông từng bước được đầu tư phát triển, nâng cao chất lượng dịch vụ, đáp ứng nhu cầu vận tải: Hoạt động vận tải hàng hoá trên địa bàn được thông suốt
và ổn định, các tuyến đường liên xã được đảm bảo an toàn, thuận tiện đáp ứng nhu cầu sản xuất và đi lại của người dân
Trang 1919
Nhìn chung, trong những năm qua hoạt động thương mại - dịch vụ của huyện đã có những bước chuyển biến tích cực, từng bước tiếp cận được với kinh tế thị trường, thúc đẩy sản xuất phát triển, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của nhân dân Lĩnh vực viễn thông tiếp tục được đầu tư, nâng cao chất lượng dịch vụ đáp ứng yêu cầu thông tin liên lạc, quản lý, điều hành và nhu cầu của nhân dân Lĩnh vực vận tải được duy trì ổn định đảm bảo an toàn vận tải, thuận lợi, đáp ứng nhu cầu sản xuất và đi lại của người dân
2.2.3 Dân số, lao động, việc làm và thu nhập
a Dân số
Năm 2015, tổng số dân của huyện Ngân Sơn là 29.877 người (14.985 nam
và 14.892 nữ).1Dân số phân bố không đồng đều giữa các xã, thị trấn trên địa bàn huyện, không đều giữa các khu vực nông thôn và khu vực đô thị; biến động theo
xu hướng tăng tỷ lệ dân số khu vực đô thị và giảm tỷ lệ dân số khu vực nông thôn Mật độ dân số trung bình là 92 người/km2
b Lao động, việc làm và thu nhập
Công tác lao động việc làm, đào tạo nghề được quan tâm thực hiện, chất lượng lao động được nâng lên, thực hiện các chương trình đào tạo nghề, giải quyết việc làm, xuất khẩu lao động có hiệu quả, từ năm 2010 đến năm 2015 có trên 100 người đi xuất khẩu lao động, mở được 47 lớp cho khoảng 1.500 lao động nông thôn
Mặc dù lực lượng lao động dồi dào nhưng chất lượng lao động kỹ thuật thấp,
tỷ lệ lao động qua đào tạo không cao, do đó vấn đề cần đào tạo nguồn lao động nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển nền kinh tế - xã hội là rất cần thiết trong giai đoạn hiện nay Thêm vào đó tình trạng không hoặc thiếu việc làm nhất là đối với thanh niên, cũng như lực lượng lao động là nông dân còn bức xúc cần được tập trung giải quyết, tuy nhiên, hiện nay khi sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế giữa các ngành đang diễn ra mạnh theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp, thương mại, du lịch là điều kiện thuận lợi để khai thác nguồn nhân lực dồi dào này
2.3 Phân tích đánh giá bổ sung về biến đổi khí hậu tác động đến việc sử dụng đất
2.3.1 Tác động của biến đổi khí hậu đến ngành nông nghiệp và an ninh lương thực
Biến đổi khí hậu có tác động đến sinh trưởng, năng suất cây trồng, thời vụ gieo trồng, làm tăng nguy cơ lây lan sâu bệnh hại cây trồng Biến đổi khí hậu ảnh hưởng đến sinh sản, sinh trưởng của gia súc, gia cầm, làm tăng khả năng sinh bệnh, truyền dịch của gia súc, gia cầm Ngành nông nghiệp của huyện đang phải đối mặt với nhu cầu lớn về phát triển giống cây trồng và vật nuôi nhằm giảm thiểu rủi ro do biến đổi khí hậu và các hiện tượng khí hậu cực đoan
1 Nguồn: Kết quả thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng - an ninh năm 2015, Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng - an ninh năm 2016
Trang 2020
Một số biểu hiện của biến đổi khí hậu như: lũ lụt, sạt lở, hạn hán làm thu hẹp diện tích canh tác, giảm năng suất cây trồng; suy thoái đất, từ đó làm thay đổi hình thức
sử dụng đất dẫn đến thay đổi phân bố cây trồng, năng suất và chất lượng cây trồng
Vì vậy, để đối phó với những tác động của biến đổi khí, ngành nông nghiệp của huyện cần có phương án sử dụng đất đai hợp lý
2.3.2 Tác động đến ngành lâm nghiệp
Biến đổi khí hậu có quan hệ mật thiết đối với ngành lâm nghiêp Việc khai thác rừng bừa bãi là một trong những nguyên nhân gây ra sự biến đổi khí hậu Nắng nóng gia tăng, kết hợp với độ ẩm thấp trong mùa khô đã và đang làm tăng nguy cơ cháy rừng, gây khó khăn cho việc quản lý duy trì diện tích rừng hiện có Các hiện tượng thời tiết tiêu cực cùng thiên tai gia tăng như bão, lốc, lũ quét, sạt lở đất, sạt lở bờ sông đã làm phá hủy cây rừng Mưa lớn gia tăng gây ra hiện tượng xói mòn đất, làm tăng diện tích đất trống đồi núi trọc, giảm diện tích rừng
2.3.3 Tác động đến ngành xây dựng và giao thông vận tải
Đặc thù tiểu vùng khí hậu, huyện Ngân Sơn thường xảy ra hiện tượng mưa
đá, lốc xoáy, đặc biệt là lũ ống, lũ quét trong những tháng mùa mưa (từ tháng 4 đến tháng 9) Hàng năm, bình quân mưa lũ gây thiệt hại trên chục tỷ đồng trên địa bàn huyện Mưa lớn làm sạt lở một số tuyến đường gây ách tắc giao thông; một số công trình thủy lợi, cầu cống qua sông, suối, tuyến kênh bị mưa lũ làm hư hại nặng, ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất, đời sống của nhân dân
Ngoài ra, biến đổi khí hậu làm tăng khó khăn trong việc cung cấp nước và nguyên vật liệu cho các ngành như chế tạo, khai thác và chế biến khoáng sản, nông, lâm sản, xây dựng công nghiệp và dân dụng, thông tin, truyền thông Các điều kiện khí hậu cực đoan gia tăng cùng với thiên tai làm cho tuổi thọ của vật liệu, linh kiện, máy móc, thiết bị và các công trình giảm đi, đòi hỏi những chi phí tăng lên để khắc phục
Biến đổi khí hậu còn đòi hỏi các ngành này phải xem xét lại các quy hoạch, các tiêu chuẩn kỹ thuật, tiêu chuẩn ngành nhằm thích ứng với biến đổi khí hậu
III PHÂN TÍCH, ĐÁNH GIÁ BỔ SUNG TÌNH HÌNH QUẢN LÝ, SỬ DỤNG ĐẤT ĐẾN THỜI ĐIỂM ĐIỀU CHỈNH
3.1 Phân tích, đánh giá bổ sung tình hình thực hiện các nội dung quản
về lập, điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất…
Trang 2121
Sau khi Luật Đất đai năm 2013 và các Nghị định hướng dẫn thi hành Luật Đất đai có hiệu lực, Uỷ ban nhân dân huyện Ngân Sơn đã tổ chức các lớp tập huấn cho các cán bộ chủ chốt từ huyện đến cơ sở Đồng thời tổ chức tuyên truyền, tìm hiểu về Luật Đất đai trên các phương tiện thông tin đại chúng và nhiều hình thức khác nhằm giúp người dân hiểu và thực hiện luật đất đai Qua đó xử lý kịp thời những trường hợp vi phạm trong công tác quản lý đất đai trên địa bàn, tổ chức công khai quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất để người dân biết và góp ý trong quá trình tổ chức thực hiện
Ủy ban nhân huyện đã có những văn bản kiểm tra, chỉ đạo đôn đốc đến công tác quản lý đất đai mang lại kết quả quan trọng, như Chỉ thị số 12/CT-UBND ngày 15/3/2017 về tăng cường công tác quản lý đất đai trên địa bàn huyện Ngân Sơn; Công văn số 11/UBND-TNMT của UBND huyện Ngân Sơn ngày 07/01/2015 về việc thực hiện triển khai, tuyên truyền phổ biến Luật Đất đai năm 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật; Văn bản số 192/UBND-TNMT ngày 16/3/2016 về việc chấn chỉnh công tác quản lý Nhà nước về đất trên địa bàn huyện Ngân Sơn; Văn bản số 278/UBND-TNMT ngày 15/4/2016 về kiểm tra công tác quản lý Nhà nước về đất đai trên địa bàn các xã, thị trấn; văn bản số 1049/UBND-TNMT ngày 27/10/2016 về việc đô đốc thực hiện chấn chỉnh công tác quản lý nhà nước về đất đai trên địa bàn huyện Ngân Sơn
3.1.2 Xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính, lập bản đồ hành chính
Việc xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính, lập bản đồ hành chính được thực hiện tốt trên cơ sở kết quả hoạch định lại ranh giới theo thực hiện Chỉ thị 364/CT-TTg ngày 06/11/1991 của Thủ tướng Chính phủ về việc xây dựng bản đồ địa giới hành chính các xã, thị trấn
UBND các xã, thị trấn trên địa bàn huyện đã phối hợp với các cơ quan chức năng tiến hành hoạch định ranh giới hành chính các xã, thị trấn, cắm mốc giới ổn định phạm vi quản lý và sử dụng đất trên địa bàn từng xã, thị trấn Đến năm 2015, huyện Ngân Sơn có 11 đơn vị hành chính gồm 01 thị trấn và 10 xã Địa giới hành chính giữa các xã, thị trấn trong huyện cũng như các xã thuộc huyện giáp ranh đã được thống nhất rõ ràng, xác định bằng yếu tố địa vật cố định hoặc mốc giới và được chuyển vẽ lên bản đồ Hồ sơ về địa giới hành chính của các xã, thị trấn được lưu trữ, quản lý cả ở dạng giấy và ở dạng số để đảm bảo hiệu quả cao nhất Việc sử dụng các loại hồ sơ, tư liệu đảm bảo đúng quy định pháp luật
3.1.3 Khảo sát, đo đạc, lập bản đồ địa chính, bản đồ hiện trạng sử dụng đất và bản đồ quy hoạch sử dụng đất
- Công tác khảo sát, đo đạc, lập bản đồ địa chính: Đến năm 2015, huyện Ngân Sơn đã thực hiện hoàn thành công tác đo đạc bản đồ có toạ độ, thành lập hồ sơ địa chính cho 01 thị trấn, 10 xã đã đo đạc theo tỷ lệ 1:1000 gắn với cấp giấy chứng nhận
Trang 2222
quyền sử dụng đất cho các chủ sử dụng đất (với diện tích hơn 7.467 ha, số lượng hơn 133,700 thửa đất); đối với đất lâm nghiệp đã lập bản đồ địa chính tỷ lệ 1:10.000 và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các xã, thị trấn trên địa bàn huyện được hơn 57.119 ha, với số lượng hơn 9.200 thửa đất) Việc hoàn thành công tác đo đạc bản
đồ có tọa độ và thành lập hồ sơ địa chính đã tạo điều kiện rất thuận lợi cho các cấp chính quyền thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về đất đai
- Công tác thành lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất: huyện Ngân Sơn đã tiến hành Kiểm kê đất đai năm 2014 và đã hoàn thành việc lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất ở cấp huyện, xã báo cáo về cơ quan có thẩm quyền theo hướng dẫn tại Thông tư số 28/2014/TT-BTNMT ngày 02/06/2014 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên
và Môi trường quy định về thống kê, kiểm kê đất đai và lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất;
- Công tác thành lập bản đồ quy hoạch sử dụng đất: Huyện Ngân Sơn đã hoàn thành công tác lập bản đồ quy hoạch sử dụng đất cấp huyện, xã giai đoạn
2010 - 2020 Đối với cấp xã, có thị trấn Nà Phặc và xã Vân Tùng thuộc huyện Ngân Sơn thực hiện thành lập bản đồ quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị
3.1.4 Quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
Thực hiện Luật Đất đai năm 2003, Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29 tháng 10 năm 2004 của Chính Phủ về thi hành Luật Đất đai năm 2003; Thông tư số 19/2009/TT-BTNMT ngày 02 tháng 11 năm 2009 quy định chi tiết việc lập, điều chỉnh và thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất UBND huyện Ngân Sơn đã lập Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020, kế hoạch sử dụng đất 5 năm kỳ đầu (2011-2015) huyện Ngân Sơn, được phê duyệt tại Quyết định số 61/QĐ-UBND ngày 14 tháng 01 năm 2013
Thực hiện Luật đất đai năm 2013; Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 05 năm 2014 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai; Thông tư số 29/2014/TT-BTNMT ngày 02 tháng 06 năm 2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định chi tiết việc lập, điều chỉnh và thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; Ủy ban nhân dân huyện Ngân Sơn đã lập Kế hoạch sử dụng đất năm
2015, 2016, 2017, 2018 được Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Kạn phê duyệt tại các Quyết định số 736/QĐ-UBND; QĐ số 2200/QĐ-UBND; QĐ số 2176/QĐ-UBND;
Trang 23số 85/ND-CP của Chính phủ Việc lập hồ sơ giao đất, cho thuê đất đối với các tổ chức, cơ quan đoàn thể được thực hiện thường xuyên theo chỉ thị 245/TTg về quản
lý, sử dụng đất của các tổ chức trong nước được Nhà nước giao đất, cho thuê đất Từ năm 2014 đến nay, huyện Ngân Sơn đã tổ chức giao đất thông qua hình thức đấu giá quyền sử dụng đất 32 lô đất tại khu dân cư đường QL3 qua Nghĩa trang đến Lâm trường, xã Vân Tùng, huyện Ngân Sơn; Đấu giá 11 lô đất tại xã Vân Tùng, huyện Ngân Sơn
- Việc thu hồi đất giải phóng mặt bằng để thực hiện các dự án mang tính chất phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn huyện vẫn còn gặp nhiều khó khăn vì đơn giá bồi thường còn thấp, nguồn vốn để thực hiện công trình vẫn còn thiếu
- Việc chuyển mục đích sử dụng đất đã được thực hiện đúng theo phương án quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt Tuy nhiên việc chuyển mục đích sử dụng đất do người dân tự phát, tự ý chuyển mục đích sử dụng đất chuyển đổi từ đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp vẫn xảy ra
3.1.6 Quản lý việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi thu hồi đất
Thành lập các Ban giải phóng mặt bằng của huyện,với đội ngũ cán bộ có trình độ năng lực và số lượng cán bộ đáp ứng được khối lượng công việc theo từng huyện,có sự phối hợp chặt chẽ với các xã, thị trấn nơi có đất bị thu hồi để thực hiện công việc được tốt
UBND huyện đã ra nhiều văn bản để hướng dẫn và tháo gỡ những vấn đề còn tồn tại trong việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi thu hồi đất, tuy nhiên trong những năm qua việc bồi thường vẫn gặp những vướng mắc nhất định, chủ yếu là về vấn đề người dân chưa chấp thuận với giá được đền bù
Việc hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất dự án tại huyện Ngân Sơn
đã được thực hiện đúng quy trình, thủ tục quy định theo Luật đất đai 2013 Về vấn đề bồi thường, hỗ trợ và tái định cư được diễn ra dân chủ, công khai, đảm bảo đúng thời gian để các dự án diễn ra theo đúng kế hoạch Mặc dù còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, do một số hộ dân chưa nhất trí với chính sách bồi thường và hỗ trợ tái định cư
Trang 24Việc đăng ký quyền sử dụng đất, lập và quản lý hồ sơ địa chính được thực hiện theo đúng quy định pháp luật: Thông tư 24/2014/TT-BTNMT ngày 19 tháng 5 năm 2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường
Ngoài ra, phòng Tài nguyên và Môi trường cùng với Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai tham mưu cho UBND huyện xử lý để cấp GCNQSDĐ các hộ gia đình, cá nhân Đến nay, trên địa bàn huyện đã thực hiện đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được khoảng 10.000 hồ sơ
3.1.8 Thống kê, kiểm kê đất đai
- Công tác thống kê, kiểm kê đất đai của huyện được thực hiện đúng yêu cầu theo Luật định Kiểm kê đất đai được thực hiện 5 năm một lần (cụ thể là các năm
2010 và 2014), thống kê đất đai được thực hiện hàng năm, cơ bản bảo đảm đúng tiến độ và chất lượng theo yêu cầu của Bộ Tài nguyên và Môi trường, công tác thống kê, kiểm kê đất đai được thực hiện theo quy định
- Kết quả công tác kiểm kê, thống kê đất đai theo định kỳ là cơ sở giúp huyện đánh giá hiện trạng quản lý và sử dụng đất, lập Quy hoạch - kế hoạch sử dụng đất và sử dụng cho các ngành khác
3.1.9 Xây dựng hệ thống thông tin đất đai
Hệ thống thông tin đất đai của huyện hiện đã được đưa vào sử dụng, Cơ sở
dữ liệu này thiết lập một hệ thống đất đai bền vững với công tác quản lý khai thác
đi đôi với cập nhật biến động nguồn dữ liệu đất đai thống nhất từ cấp huyện đến cấp xã Cơ sở dữ liệu này đảm bảo cung cấp thông tin, dữ liệu đất đai nhanh gọn, chính xác phục phục vụ tốt quản lý nhà nước về đất đai, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng – an ninh Đặc biệt là đáp ứng nhu cầu khai thác thông tin thường xuyên cho người dân và doanh nghiệp góp phần làm minh bạch thị trường bất động sản…
3.1.10 Quản lý tài chính về đất đai và giá đất
Công tác quản lý tài chính về đất đai được triển khai thực hiện theo đúng quy định của pháp luật Các đơn vị, tổ chức, cá nhân sử dụng đất thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính về đất đai theo đúng quy định
Về điều tra, xây dựng bảng giá đất: Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Kạn đã ban hành quyết định số 27/2014/QĐ-UBND ngày 22/12/2014 của UBND tỉnh Bắc Kạn
về việc ban hành bảng giá đất định kỳ 05 năm (2015 -2019) trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn từ ngày 01 tháng 01 năm 2015 đến ngày 31 tháng 12 năm 2019
Trang 2525
Về định giá đất cụ thể: Trên cơ sở quy định của pháp luật về định giá đất cụ thể, UBND tỉnh đã tổ chức thực hiện việc xác định giá đất cụ thể tại địa phương Việc xác định giá đất cụ thể để tính thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất…Được thực hiện thông qua hình thức thuê tổ chức có chức năng tư vấn xác định giá đấ Giá đất
cụ thể được xác định cơ bản phù hợp với giá đất phổ biến trên thị trường theo nguyên tắc định giá đất quy định tại Điều 112 của Luật Đất đai, góp phần tăng thu cho ngân sách nhà nước, bảo đảm quyền lợi của người có đất thu hồi
3.1.11 Quản lý, giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất
Trong thời gian qua UBND huyện, xã cùng với các ngành đã quan tâm và thực hiện tốt theo thẩm quyền chức năng quản lý, giám sát các quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất theo các điều, khoản mà Luật đã quy định như: quyền được cấp GCNQSDĐ; quyền chuyển đổi; chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa
kế, tặng cho quyền sử dụng đất; quyền thế chấp, bảo lãnh, góp vốn quyền sử dụng đất; quyền được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất Giám sát chặt chẽ việc sử dụng đất theo mục đích, ranh giới; việc thực hiện các trình tự, thủ tục đăng ký đất đai của người sử dụng đất; giám sát việc thực hiện nghĩa vụ tài chính, các biện pháp về bảo vệ đất, bảo vệ môi trường và ngăn chặn các trường hợp lấn chiếm đất đai của người sử dụng đất
Công tác thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định về quản lý, sử dụng đất đai luôn được quan tâm Phòng Tài nguyên và Môi trường chủ động xây dựng kế hoạch phối hợp với các phòng ban, ngành liên quan và các xã, thị trấn tiến hành thanh tra, kiểm tra công tác quản lý sử dụng đất đai trên địa bàn huyện Ngoài ra còn điều hành công tác thanh tra theo các chuyên đề dưới sự chỉ đạo của Huyện ủy, UBND huyện; đặc biệt là thanh tra các nội dung về giao đất, cho thuê đất, quản lý mặt bằng đất canh tác Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai có trách nhiệm giải quyết các thủ tục hành chính trong việc thực hiện các quyền của người sử dụng đất như: cho thuê, cho thuê lại, đăng ký thế chấp, chuyển nhượng, chuyển mục đích sử dụng đất…
Tuy nhiên, việc lấn chiếm đất đai, việc chuyển nhượng đất đai của nhiều hộ gia đình, chuyển mục đích sử dụng đất trái phép không làm thủ tục với cơ quan nhà nước vẫn còn diễn ra trên địa bàn huyện Chính quyền cơ sở chưa thường xuyên kiểm tra tình hình sử dụng đất của địa phương, nên không phát hiện kịp thời
vi phạm đất đai để kiên quyết xử lý Do đó, công tác tuyên truyền phổ biến chính sách pháp luật về đất đai đối với người dân là hết sức cần thiết cần được thực hiện thường xuyên hơn nữa
3.1.12 Thanh tra, kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm pháp luật về đất đai
Uỷ ban nhân dân huyện đã tổ chức các đợt thanh tra về việc giao đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở cơ sở, thanh tra sử dụng đất của các doanh nghiệp, thanh tra quản lý nhà nước về đất đai đối với cấp xã
Trang 2626
Công tác thanh tra, kiểm tra việc chấp hành và xử lý các vi phạm pháp luật
về đất đai không chỉ giúp phát hiện và giải quyết các vi phạm pháp luật về đất đai
mà qua đó còn là dịp để tuyên truyền, nâng cao nhận thức của người dân về luật đất đai, giúp các nhà xây dựng luật hiểu sâu sắc hơn sự phức tạp của mối quan hệ đất đai, từ đó có chính sách điều chỉnh cho phù hợp với thực tiễn quản lý
3.1.13 Phổ biến, giáo dục pháp luật về đất đai
Trong những năm qua, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật đã được Đảng
và Nhà nước quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, coi đó là một nhiệm vụ trọng tâm trong việc tăng cường quản lý xã hội bằng pháp luật
- Tổ chức hội nghị, mở lớp tập huấn kiến thức pháp luật theo từng chuyên
đề, bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý Nhà nước cho cán bộ
- Cung cấp thông tin, tài liệu pháp luật; khai thác có hiệu quả hệ thống văn bản pháp luật được cập nhật, lưu trữ trên mạng internet, Cổng thông tin điện tử và Công báo của Chính phủ, Công báo của Ủy ban nhân dân tỉnh ; xây dựng và khai thác tủ sách pháp luật ở các cơ quan, đơn vị
3.1.14 Giải quyết tranh chấp về đất đai; giải quyết khiếu nại, tố cáo các vi phạm trong quản lý và sử dụng đất đai
Trong những năm qua, trên địa bàn huyện chủ yếu xảy ra tranh chấp về đất đai giữa hộ gia đình với hộ gia đình và thường được tổ chức hoà giải ở cơ sở là chủ yếu, thời gian hoà giải kịp thời, đúng pháp luật và đều được giải quyết nhanh chóng không để vụ việc kéo dài, khiếu kiện vượt cấp Giai đoạn 2011-2015 đã tiếp nhận hơn 80 đơn thư khiếu nại, tố cáo, tranh chấp thuộc thẩm quyền của huyện Các đơn thư khiếu nại đã được xem xét giải quyết theo trình tự, quy định của pháp luật về giải quyết tranh chấp đất đai, giải quyết khiếu nại, tố cáo
Những khiếu nại về đất của người dân chủ yếu liên quan đến giá đền bù thiệt hại về đất đai khi nhà nước thu hồi đất để xây dựng công trình phúc lợi công cộng Mọi khiếu nại của người dân đã được huyện quan tâm giải quyết đúng pháp luật và đều nhận được sự đồng tình, ủng hộ của người dân, do đó không có vụ việc khiếu nại kéo dài
3.1.15 Quản lý hoạt động về dịch vụ đất đai
Công tác quản lý các hoạt động dịch vụ công về đất đai được thực hiện nghiêm túc theo các quy định của luật đất đai và các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành
Các hoạt động dịch vụ công về đất đai được tổ chức thực hiện công khai minh bạch dưới sự giám sát chặt chẽ của cơ quan quản lý và của người dân
Chất lượng của các hoạt động dịch vụ công về đất đai ngày càng được nâng cao chất lượng do ứng dụng khoa học công nghệ vào những hoạt động này làm tăng độ chính xác giảm thời gian xử lý công việc, đáp ứng cho các hoạt động quản
lý đất đai
Trang 2727
Các hoạt động về đăng ký cấp giấy CNQSDĐ, tư vấn về giá đất; tư vấn về lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; dịch vụ về đo đạc và bản đồ địa chính; dịch
vụ về thông tin đất đai ngày càng phát triển
3.2 Phân tích, đánh giá hiện trạng và biến động sử dụng đất
3.2.1 Phân tích, đánh giá hiện trạng sử dụng đất
Căn cứ số liệu thống kê đất đai năm 2015 của huyện Ngân Sơn và cập nhật quyết định thu hồi đất công trình: Doanh trại Ban chỉ huy quân sự huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn (tại quyết định số 2273/QĐ-UBND ngày 23 tháng 10 năm 2015 của UBND huyện Ngân Sơn), tính đến ngày 31/12/ 2015 huyện Ngân Sơn có tổng diện tích tự nhiên là 64.588,23 ha Trong đó:
- Diện tích đất nông nghiệp là 59.531,84 ha, chiếm 92,17% diện tích tự nhiên của huyện;
- Diện tích đất phi nông nghiệp là 3.273,33 ha, chiếm 5,07% tổng diện tích đất tự nhiên;
- Diện tích đất chưa sử dụng là 1.783,06 ha, chiếm 2,76% tổng diện tích
2.6 Đất phát triển hạ tầng cấp quốc gia, cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã DHT 956,65 1,48
Trang 2828
2.12 Đất xây dựng trụ sở của tổ chức sự nghiệp DTS 0,95 0,00
2.14 Đất nghĩa trang, nghĩa địa, nhà tang lễ, nhà hỏa táng NTD 16,50 0,03 2.15 Đất sản xuất vật liệu xây dựng, làm đồ gốm SKX 3,02 0,005
* Đất trồng cây hàng năm khác
Diện tích 1.938,63 ha, chiếm 3,0 % tổng diện tích tự nhiên diện tích đất trồng cây hàng năm khác phân bố ở tất cả các xã và thị trấn trên địa bàn huyện
* Đất trồng cây lâu năm
Diện tích 820,72 ha, chiếm 1,27% tổng diện tích tự nhiên; diện tích đất trồng cây lâu năm phân bố ở tất cả các xã và thị trấn trên địa bàn huyện
* Đất rừng phòng hộ
Diện tích 12.023,09 ha, chiếm 18,61% tổng diện tích tự nhiên; Diện tích đất rừng phòng hộ phân bố ở 10/11 xã, thị trấn trên địa bàn huyện (trừ xã Đức Vân không có đất rừng phòng hộ)
* Đất rừng sản xuất
Diện tích 42.216,03 ha, chiếm 65,36% tổng diện tích tự nhiên; diện tích đất rừng sản xuất phân bố ở tất cả các xã và thị trấn trên địa bàn huyện
Trang 293.2.1.2 Đất phi nông nghiệp
Diện tích đất phi nông nghiệp của toàn huyện là 3.273,33 ha, chiếm 5,07% tổng diện tích đất tự nhiên
Diện tích là 0,06 ha, tập trung toàn bộ tại thị trấn Nà Phặc
* Đất cơ sở sản xuất phi nông nghiệp
Diện tích là 46,54 ha, chiếm 0,07% tổng diện tích tự nhiên, phân bố ở thị trấn Nà Phặc 23,57 ha; và các xã Bằng Vân 16,22 ha; xã Vân Tùng 3,59 ha; xã Đức Vân 3,16 ha
* Đất sử dụng cho hoạt động khoáng sản
Diện tích là 128,35 ha, chiếm 0,20% tổng diện tích tự nhiên, phân bố nhiều ở thị trấn Nà Phặc 59,46 ha; và các xã Lãng Ngâm 5,59 ha; xã Thượng Quan 51,16 ha …
* Đất phát triển hạ tầng cấp quốc gia, cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã
Diện tích là 956,65 ha, chiếm 1,48% tổng diện tích tự nhiên Trong 5 năm qua, hệ thống cơ sở hạ tầng của huyện được quan tâm đầu tư xây dựng, mở rộng, nâng cấp và xây mới như các công trình giao thông, thủy lợi, trường học, cơ sở y
tế, văn hóa Tuy vậy diện tích này chỉ đáp ứng được một phần nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội
Diện tích đất phát triển hạ tầng cấp quốc gia, cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã bao gồm các loại đất sau:
- Đất giao thông: Năm 2015, toàn huyện có 886,23 ha, chiếm 92,62% đất phát triển hạ tầng
Trang 30- Đất xây dựng cơ sở giáo dục và đào tạo: Năm 2015, toàn huyện có 32,53
ha, chiếm 3,4% đất phát triển hạ tầng
- Đất xây dựng cơ sở thể dục thể thao: Năm 2015, toàn huyện có 1,12 ha, chiếm 0,12% đất phát triển hạ tầng
- Đất công trình năng lượng: Năm 2015, toàn huyện có 1,57 ha, chiếm 0,16% đất phát triển hạ tầng
- Đất công trình bưu chính, viễn thông: Năm 2015, toàn huyện có 0,9 ha, chiếm 0,09% đất phát triển hạ tầng
- Đất chợ: Năm 2015, toàn huyện có 2,04 ha, chiếm 0,21% đất phát triển hạ tầng
* Đất có di tích lịch sử - văn hóa
Diện tích là 0,09 ha, phân bố ở các xã Lãng Ngâm 0,02 ha; xã Thượng Ân 0,06 ha; xã Cốc Đán 0,01 ha
* Đất bãi thải, xử lý chất thải
Diện tích là 0,88 ha, chiếm 0,001% tổng diện tích tự nhiên, phân bố ở các
xã Lãng Ngâm 0,67 ha; xã Vân Tùng 0,21 ha
* Đất ở tại nông thôn
Diện tích là 221,94 ha, chiếm 0,34% tổng diện tích tự nhiên Diện tích đất ở tại nông thôn phân bố nhiều ở các xã Bằng Vân 26,22 ha; xã Thượng Quan 49,60 ha; xã Vân Tùng 37,31 ha …
* Đất ở đô thị
Diện tích là 53,01 ha, chiếm 0,08% tổng diện tích tự nhiên, tập trung tại thị trấn Nà Phặc
* Đất xây dựng trụ sở cơ quan
Diện tích là 9,45 ha, chiếm 0,01% tổng diện tích tự nhiên Diện tích đất xây dựng trụ sở cơ quan được phân bố nhiều ở thị trấn Nà Phặc 0,66 ha và các xã Thượng Ân 0,65 ha; xã Vân Tùng 5,19 ha; xã Cốc Đán 0,63 ha…
* Đất xây dựng trụ sở tổ chức sự nghiệp
Diện tích 0,95 ha, tập trung toàn bộ tại thị trấn Nà Phặc
* Đất cơ sở tôn giáo
Diện tích 0,15 ha, tập trung toàn bộ tại thị trấn Nà Phặc
* Đất nghĩa trang, nghĩa địa, nhà tang lễ, nhà hỏa táng
Diện tích 16,50 ha, chiếm 0,03% tổng diện tích tự nhiên, tập trung nhiều ở các xã Bằng Vân 3,63 ha; xã Vân Tùng 3,69 ha; xã Cốc Đán 2,06 ha…
Trang 3131
* Đất sản xuất vật liệu xây dựng
Diện tích 3,02 ha, chiếm 0,005% tổng diện tích tự nhiên Diện tích đất sản xuất vật liệu xây dựng tập trung ở các xã Đức Vân 2,94 ha và xã Trung Hòa 0,08 ha
* Đất sông, ngòi, kênh, rạch, suối
Diện tích là 548,89 ha, chiếm 0,85% tổng diện tích tự nhiên Diện tích đất sông, ngòi, kênh, rạch, suối phân bố nhiều ở thị trấn Nà Phặc 58,13 ha và các xã Bằng Vân 59,86 ha; xã Thượng Quan 156,01 ha; xã Cốc Đán 70,64 ha…
- Đất bằng chưa sử dụng: 142,89 ha, chiếm 8,01% đất chưa sử dụng;
- Đất đồi núi chưa sử dụng: 1.527,97 ha, chiếm 85,69% đất chưa sử dụng;
- Núi đá không có rừng cây: 112,2 ha, chiếm 6,29% đất chưa sử dụng
Diện tích đất chưa sử dụng phân bố nhiều ở các xã Thượng Ân 270,03 ha; xã Thượng Quan 788,60 ha; xã Thuần Mang 141,46 ha; xã Cốc Đán 222,46 ha…
3.2.1.4 Đất đô thị
Diện tích đất đô thị toàn huyện là 6.281,23 ha, chiếm 9,73% tổng diện tích đất tự nhiên của huyện, tập trung ở thị trấn Nà Phặc Trong đó:
- Đất nông nghiệp: 5.861,63 ha;
- Đất phi nông nghiệp: 402,62 ha;
- Đất chưa sử dụng: 16,98 ha
Trang 3232
Trang 3333
3.2.2 Phân tích, đánh giá biến động sử dụng đất
a) Biến động tổng diện tích tự nhiên
Theo kết quả thống kê đất đai tính đến 31/12/2015, tổng diện tích tự nhiên toàn huyện có 64.588,23 ha, tăng 1,23 ha so với diện tích kỳ kiểm kê năm 2010 Thực hiện theo chỉ thị số 21/CT-TTg ngày 01/08/2014 của thủ tướng Chính phủ về việc kiểm kê đất đai và lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất năm 2014 Trên cơ sở đó huyện đã sử dụng bản đồ giải thửa, bản đồ địa chính, ảnh viễn thám, kết hợp với bản đồ khác hiện có để khoanh vẽ, chỉnh lý, áp dụng công nghệ thông tin cho việc
số hoá kết quả điều tra và tổng hợp số liệu kiểm kê Do có sự thay đổi về chỉ tiêu thống kê, kiểm kê đất đai
Bảng 02: Biến động sử dụng các loại đất từ năm 2011 đến năm 2015
Hiện trạng năm
2015
Biến động (+), giảm (-)
1.2 Đất trồng cây hàng năm còn lại HNK 1.451,57 1.938,63 487,06
2.13 Đất xây dựng trụ sở của tổ chức sự nghiệp DTS 0,95 0,95
2.16 Đất làm nghĩa trang, nghĩa địa, nhà tang lễ, nhà hỏa táng NTD 7,84 16,50 8,66 2.17 Đất sản xuất vật liệu xây dựng, làm đồ gốm SKX 20,65 3,02 -17,63
2.19 Đất khu vui chơi, giải trí công cộng DKV 0,00 0,00
Trang 3434
năm 2010
Hiện trạng năm
2015
Biến động (+), giảm (-) 2.21 Đất sông, ngòi, kênh, rạch, suối SON 539,95 548,89 8,94 2.22 Đất có mặt nước chuyên dùng MNC 14,20 36,81 22,61
Ghi chú: * không tổng hợp khi tính tổng diện tích tự nhiên
b) Biến động sử dụng đất nông nghiệp
Năm 2010, huyện Ngân Sơn có 55.872,88 ha đất nông nghiệp
Trong giai đoạn 2011 – 2015, diện tích đất nông nghiệp của huyện giảm 108,94 ha để chuyển sang đất phi nông nghiệp Trong đó:
- Đất quốc phòng 4,00 ha;
- Đất thương mại, dịch vụ 0,46 ha;
- Đất cơ sở sản xuất phi nông nghiệp 1,09 ha;
- Đất sử dụng cho hoạt động khoáng sản 52,25 ha;
- Đất phát triển hạ tầng cấp quốc gia, cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã 33,46 ha;
- Đất có di tích lịch sử - văn hóa 0,05 ha;
- Đất bãi thải, xử lý chất thải 0,21 ha;
- Đất ở tại nông thôn 6,52 ha;
- Đất ở tại đô thị 0,83 ha;
- Đất xây dựng trụ sở cơ quan 2,63 ha;
- Đất xây dựng trụ sở của tổ chức sự nghiệp 0,17 ha;
- Đất cơ sở tôn giáo 0,10 ha;
- Đất làm nghĩa trang, nghĩa địa, nhà tang lễ,nhà hỏa táng 3,22 ha;
- Đất sản xuất vật liệu xây dựng, làm đồ gốm 3,95 ha
Đồng thời trong cùng giai đoạn, diện tích đất nông nghiệp của huyện Ngân Sơn tăng 3.773,54 ha, trong đó:
- Chuyển từ đất chưa sử dụng sang 0,02 ha
- Tăng khác 3.773,52 ha do cập nhật số liệu đo đạc bản đồ địa chính và do số liệu kỳ kiểm kê trước chưa khớp với số liệu trên bản đồ, vì vậy số liệu tại những vùng không có biến động do thu hồi đất, giao đất, chuyển mục đích sử dụng đất cũng có sự chênh lệch diện tích
Thực tế, trong giai đoạn 2011 - 2015, diện tích đất nông nghiệp của huyện Ngân Sơn thực tăng 3.658,96 ha
Chi tiết các loại đất như sau:
Trang 3535
* Đất trồng lúa
Năm 2010, diện tích đất trồng lúa của huyện là 2.292,68 ha
Trong giai đoạn 2011 – 2015, diện tích đất trồng lúa của huyện giảm 3,70 ha
để chuyển sang sử dụng vào các mục đích khác, trong đó:
- Chuyển sang sử dụng vào mục đích nông nghiệp 0,09 ha, gồm:
+ Chuyển sang đất trồng cây hàng năm khác 0,06 ha
+ Chuyển sang đất nông nghiệp khác 0,03 ha
- Chuyển sang sử dụng vào các mục đích phi nông nghiệp 3,61 ha, gồm: + Chuyển sang đất sử dụng cho đất hoạt động khoáng sản 0,56 ha để thực hiện các công trình Khai thác chì, kẽm và khoáng sản đi kèm tại mỏ Cốc Lót, thị trấn Nà Phặc, huyện Ngân Sơn (giai đoạn I); Khai thác hầm lò và chế biến quặng chì kẽm và khoáng sản đi kèm tại Bản Két (Bản Khét) xã Lãng Ngâm, huyện Ngân Sơn
+ Chuyển sang đất phát triển hạ tầng cấp quốc gia, cấp tỉnh, cấp huyện, cấp
xã 2,93 ha để thực hiện các công trình đường Trung Hòa - Nà Pán, huyện Ngân Sơn; Đường dây mạch vòng lộ 371 - 373 - E26 xã Thuần Mang; Đường liên thôn
Bó Lếch đến Khuổi Luông, xã Lãng Ngâm huyện Ngân Sơn
+ Chuyển sang đất ở tại nông thôn 0,02 ha
+ Chuyển sang đất cơ sở tôn giáo 0,10 ha cho xây dựng Nhà nguyện chung của đồng bào Công giáo thị trấn Nà Phặc, huyện Ngân Sơn
Đồng thời trong cùng giai đoạn, diện tích đất trồng lúa của huyện Ngân Sơn tăng 159,13 ha, trong đó:
+ Chuyển từ đất nuôi trồng thủy sản sang 0,41 ha;
+ Tăng khác 158,72 ha do cập nhật số liệu đo đạc bản đồ địa chính và kết quả kiểm kê đất đai năm 2014 nên diện tích đất trồng lúa được xác định lại theo đúng hiện trạng sử dụng đất
Trong giai đoạn 2011 - 2015, diện tích đất trồng lúa của huyện Ngân Sơn thực tế tăng thêm 155,43 ha so với năm 2010
* Đất trồng cây hàng năm khác
Năm 2010, diện tích đất trồng cây hàng năm khác của huyện là 1.451,57 ha Trong giai đoạn 2011 – 2015, huyện Ngân Sơn đã chuyển 29,18 ha đất trồng cây hàng năm khác sang sử dụng vào các mục đích khác, trong đó:
- Chuyển đổi sang sử dụng vào mục đích nông nghiệp 0,67 ha để thực hiện vào mục đích Vườn ươm Tiểu khu I, xã Vân Tùng, huyện Ngân Sơn
- Chuyển sang sử dụng vào các mục đích phi nông nghiệp 28,51 ha, gồm: + Chuyển sang đất quốc phòng 0,67 ha để thực hiện công trình Doanh trại Ban CHQS huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn
+ Chuyển sang đất thương mại, dịch vụ 0,20 ha cho xây dựng Cửa hàng xăng dầu số 49 Bằng Khẩu, xã Bằng Vân, huyện Ngân Sơn
Trang 3636
+ Chuyển sang đất sử dụng cho hoạt động khoáng sản 19,85 ha để thực hiện các công trình Mỏ vàng Hoàng Phài, xã Cốc Đán; Khai thác chì kẽm và khoáng sản đi kèm tại mỏ Cốc Chặng, thị trấn Nà Phặc, huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn; Khai thác chì, kẽm và khoáng sản đi kèm tại mỏ Cốc Lót, thị trấn Nà Phặc, huyện Ngân Sơn (giai đoạn I)
+ Chuyển sang đất phát triển hạ tầng cấp quốc gia, cấp tỉnh, cấp huyện, cấp
xã 2,14 ha cho xây dựng các công trình Xây dựng kè chống xói lở khu cầu xã Vân Tùng (Giai đoạn 1); Nâng cấp hồ chứa nước Nà Diểu, xã Thượng Quan; Trường THCS Nà Khoang, thị trấn Nà Pặc
+ Chuyển sang đất ở tại nông thôn 4,16 ha cho xây dựng các khu dân cư + Chuyển sang đất xây dựng trụ sở của tổ chức sự nghiệp 0,17 để thực hiện công trình Trụ sở phòng thống kê huyện Ngân Sơn; BHXH huyện Ngân Sơn
+ Chuyển sang đất xây dựng trụ sở cơ quan 0,64 ha cho xây dựng các công trình Trụ sở UBND xã Thuần Mang, huyện Ngân Sơn; San ủi mặt bằng Trụ sở UBND xã Trung Hòa, huyện Ngân Sơn
+ Chuyển sang đất sản xuất vật liệu xây dựng 0,68 ha để thực hiện công trình Khai thác đá vôi tại mỏ Cốc Lải, xã Bằng Vân, huyện Ngân Sơn
Đồng thời trong giai đoạn 2011 - 2015, diện tích trồng cây hàng năm khác của huyện Ngân Sơn tăng 516,24 ha do chuyển từ các mục đích khác sang, trong đó:
- Chuyển từ các loại đất nông nghiệp sang 0,86 ha, gồm:
+ Đất trồng lúa 0,06 ha;
+ Đất rừng sản xuất 0,69 ha;
+ Đất nuôi trồng thuỷ sản 0,11 ha
- Chuyển từ đất chưa sử dụng sang 0,01 ha
- Tăng khác 515,37 ha do cập nhật số liệu đo đạc bản đồ địa chính và kết quả kiểm kê đất đai năm 2014 nên diện tích đất trồng cây hàng năm khác được xác định lại theo đúng hiện trạng sử dụng đất
Trong giai đoạn 2011 - 2015, diện tích đất trồng cây hàng năm khác của huyện Ngân Sơn thực tế tăng thêm 487,06 ha so với năm 2010
* Đất trồng cây lâu năm
Năm 2010, diện tích đất trồng cây lâu năm của huyện là 375,46 ha
Trong giai đoạn 2011 - 2015, diện tích trồng cây lâu năm giảm 4,11 ha để chuyển sang các mục đích khác, trong đó:
- Chuyển sang đất sử dụng cho hoạt động khoáng sản 1,09 ha để thực hiện các công trình Khai thác chì kẽm và khoáng sản đi kèm tại mỏ Cốc Chặng, thị trấn
Nà Phặc, huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn; Khai thác chì, kẽm và khoáng sản đi kèm tại mỏ Cốc Lót, thị trấn Nà Phặc, huyện Ngân Sơn (giai đoạn I)
Trang 3737
- Chuyển sang đất phát triển hạ tầng 2,97 ha cho xây dựng các công trình đường Nà Vài- Bó Tềnh xã Lãng Ngâm, huyện Ngân Sơn; đường vào bãi tuyển quặng tại thôn Nà Pán, xã Trung Hoà, huyện Ngân Sơn; Đường liên thôn Phia Sào
- Nà Mần thôn Nà Giảo, xã Thượng Quan; Đường liên thôn Bó Lếch đến Khuổi Luông, xã Lãng Ngâm huyện Ngân Sơn
- Chuyển sang đất xây dựng trụ sở cơ quan 0,05 ha để xây dựng công trình Trụ sở UBND thị trấn Nà Phặc
Ngoài ra, diện tích đất trồng cây lâu năm tăng khác 449,37 ha do cập nhật số liệu đo đạc bản đồ địa chính và kết quả kiểm kê đất đai năm 2014 nên diện tích đất trồng cây lâu năm được xác định lại theo đúng hiện trạng sử dụng đất
Trong giai đoạn 2011 - 2015, diện tích đất trồng cây lâu năm của huyện Ngân Sơn thực tế tăng thêm 445,26 ha so với năm 2010
* Đất rừng phòng hộ
Năm 2010, diện tích đất rừng phòng hộ của huyện là 25.244,37 ha
Trong giai đoạn 2011 - 2015, diện tích đất rừng phòng hộ của huyện Ngân Sơn không có biến động Nguyên nhân diện tích giảm 13.221,28 ha là cập nhật số liệu đo đạc bản đồ và do số liệu kỳ kiểm kê trước chưa khớp với số liệu trên bản
đồ, vì vậy số liệu tại những vùng không có biến động do thu hồi đất, giao đất, chuyển mục đích sử dụng đất cũng có sự chênh lệch diện tích
Trong giai đoạn 2011 - 2015, diện tích đất rừng phòng hộ của huyện Ngân Sơn thực tế giảm 13.221,28 ha so với năm 2010
* Đất rừng sản xuất
Năm 2010, diện tích đất rừng sản xuất của huyện là 26.445,58 ha
Trong giai đoạn 2011 - 2015, huyện Ngân Sơn đã chuyển 72,58 ha đất rừng sản xuất sang sử dụng vào các mục đích khác, trong đó:
- Chu chuyển nội bộ đất nông nghiệp:
+ Chuyển sang đất trồng cây hàng năm khác 0,69 ha;
+ Chuyển sang đất sử dụng cho mục đích nông nghiệp khác 0,04 ha để thực hiện vào mục đích Vườn ươm Tiểu khu I, xã Vân Tùng, huyện Ngân Sơn
- Chuyển sang sử dụng vào các mục đích phi nông nghiệp 71,85 ha, gồm: + Chuyển sang đất quốc phòng 3,33 ha để thực hiện công trình Doanh trại Ban CHQS huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn; Trận địa SMPK 12,7mm của huyện Ngân Sơn
- Đất thương mại, dịch vụ 0,26 ha để thực hiện công trình Trụ sở làm việc ngân hàng chính sách xã hội huyện Ngân Sơn
- Chuyển sang đất cơ sở sản xuất phi nông nghiệp 1,09 ha để thực hiện Dự án sản xuất than hoa và chế biến sản phẩm nông sản tại xã Vân Tùng, huyện Ngân Sơn
Trang 38- Chuyển sang đất phát triển hạ tầng cấp quốc gia, cấp tỉnh, cấp huyện, cấp
xã 24,99 ha để thực hiện các công trình đường Trung Hòa - Nà Pán, huyện Ngân Sơn; đường Nà Lạn - San Lác xã Lãng Ngâm; Đường vào bãi tuyển quặng tại thôn
Nà Pán, xã Trung Hoà, huyện Ngân Sơn
- Chuyển sang đất có di tích lịch sử - văn hóa 0,05 ha cho xây dựng công trình Di tích đèo Giàng tại xã Lãng Ngâm, huyện Ngân Sơn (thuộc dự án Đầu tư, bảo tồn, tôn tạo phục hồi các di tích ATK)
- Chuyển sang đất bãi thải, xử lý chất thải 0,21 ha cho xây dựng công trình
Xử lý rác thải huyện Ngân Sơn
- Chuyển sang đất ở tại nông thôn 2,34 ha để thực hiện các dự án dân cư thôn Nà Cháo, xã Cốc Đán; Mặt bằng khu dân cư mới huyện Ngân Sơn
- Chuyển sang đất ở tại đô thị 0,83 ha
- Chuyển sang đất xây dựng trụ sở cơ quan 1,94 ha để thực hiện các công trình Trụ sở ủy ban nhân dân xã Vân Tùng; Trụ sở UBND thị trấn Nà Phặc; Trụ sở UBND xã Cốc Đán, huyện Ngân Sơn
- Chuyển sang đất làm nghĩa trang, nghĩa địa, nhà tang lễ,nhà hỏa táng 3,22 ha để thực hiện các công trình Nghĩa trang Vân Tùng; Nghĩa trang liệt sỹ huyện Ngân Sơn
- Chuyển sang đất sản xuất vật liệu xây dựng, làm đồ gốm 3,27 ha để thực hiện các công trình Khai thác lộ thiên mỏ đá vôi xây dựng Bản Tặc, xã Đức Vân, huyện Ngân Sơn; Khai thác đá vôi tại mỏ Cốc Lải, xã Bằng Vân, huyện Ngân Sơn
Ngoài ra, diện tích đất rừng sản xuất tăng khác 15.843,03 ha do cập nhật số liệu đo đạc bản đồ và do số liệu kỳ kiểm kê trước chưa khớp với số liệu trên bản
đồ, vì vậy số liệu tại những vùng không có biến động do thu hồi đất, giao đất, chuyển mục đích sử dụng đất cũng có sự chênh lệch diện tích
Trong giai đoạn 2011 - 2015, diện tích đất rừng sản xuất của huyện Ngân Sơn thực tế tăng thêm 15.770,45 ha so với năm 2010
* Đất nuôi trồng thuỷ sản
Năm 2010, diện tích đất nuôi trồng thủy sản của huyện là 60,22 ha
Trong giai đoạn 2011 - 2015, huyện Ngân Sơn đã chuyển 1,48 ha đất nuôi trồng thủy sản sang sử dụng vào các mục đích khác, trong đó:
- Chuyển sang đất sử dụng cho mục đích nông nghiệp 0,62 ha, gồm:
Trang 3939
+ Đất trồng lúa 0,41 ha;
+ Đất trồng cây hàng năm khác 0,11 ha;
+ Đất nông nghiệp khác 0,10 ha
- Chuyển sang sử dụng vào các mục đích phi nông nghiệp 0,86 ha, gồm: + Chuyển sang đất sử dụng cho hoạt động khoáng sản 0,43 ha để thực hiện các công trình Mỏ vàng Hoàng Phài, xã Cốc Đán; Khai thác chì, kẽm và khoáng sản đi kèm tại mỏ Cốc Lót, thị trấn Nà Phặc, huyện Ngân Sơn (giai đoạn I)
+ Chuyển sang đất phát triển hạ tầng cấp quốc gia, cấp tỉnh, cấp huyện, cấp
xã 0,43 ha đường Bản Duối - Bản Tặc - Bằng Khẩu; Đường Trung Hòa - Nà Pán, huyện Ngân Sơn; Đường Nà Lạn - San Lác xã Lãng Ngâm
Ngoài ra, diện tích đất nuôi trồng thủy sản tăng khác 25,66 ha do cập nhật số liệu đo đạc bản đồ địa chính và kết quả kiểm kê đất đai năm 2014 nên diện tích đất nuôi trồng thủy sản được xác định lại theo đúng hiện trạng sử dụng đất
Trong giai đoạn 2011 - 2015, diện tích đất nuôi trồng thủy sản của huyện Ngân Sơn thực tế tăng thêm 24,18 ha so với năm 2010
* Đất nông nghiệp khác
Năm 2010, diện tích đất nông nghiệp khác của huyện là 3,00 ha
Trong giai đoạn 2011 - 2015, diện tích đất nông nghiệp khác của huyện tăng 0,85 ha do chuyển từ các loại đất khác sang, trong đó:
- Chuyển từ đất nông nghiệp sang 0,84 ha, gồm:
+ Đất trồng lúa 0,03 ha;
+ Đất trồng cây hàng năm khác 0,67 ha;
+ Đất rừng sản xuất 0,04 ha;
+ Đất nuôi trồng thuỷ sản 0,10 ha
- Chuyển từ đất chưa sử dụng sang 0,01 ha
Ngoài ra, diện tích đất nông nghiệp khác giảm khác 2,99 ha do cập nhật số liệu đo đạc bản đồ địa chính và kết quả kiểm kê đất đai năm 2014 nên diện tích đất nuôi trồng thủy sản được xác định lại theo đúng hiện trạng sử dụng đất
Trong giai đoạn 2011 - 2015, diện tích đất đất nông nghiệp khác của huyện Ngân Sơn thực tế giảm 2,14 ha so với năm 2010
c) Biến động sử dụng đất phi nông nghiệp
Năm 2010, diện tích đất phi nông nghiệp của huyện là 3.208,10 ha
Trong giai đoạn 2011 - 2015, diện tích đất phi nông nghiệp của huyện Ngân Sơn tăng thêm 147,76 ha do chuyển từ các loại đất khác sang, trong đó:
- Chuyển từ đất nông nghiệp 108,94 ha;
- Chuyển từ đất chưa sử dụng 38,82 ha;
Trang 4040
Ngoài ra, diện tích đất phi nông nghiệp giảm khác 82,53 ha do cập nhật số liệu đo đạc bản đồ địa chính và do số liệu kỳ kiểm kê trước chưa khớp với số liệu trên bản đồ, vì vậy số liệu tại những vùng không có biến động do thu hồi đất, giao đất, chuyển mục đích sử dụng đất cũng có sự chênh lệch diện tích
Đến năm 2015, diện tích đất phi nông nghiệp của huyện Ngân Sơn thực tế tăng 65,23 ha so với năm 2010
Chi tiết từng loại đất:
* Đất quốc phòng
Năm 2010, huyện Ngân Sơn có 1.254,28 ha đất quốc phòng, trong giai đoạn
2011 - 2015, diện tích đất quốc phòng tăng 4,07 ha do chuyển từ các mục đích khác sang, trong đó:
- Chuyển từ đất nông nghiệp 4,00 ha; gồm:
+ Đất trồng cây hàng năm khác 0,67 ha;
+ Đất rừng sản xuất 3,33 ha
- Chuyển từ đất phát triển hạ tầng cấp quốc gia, cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã 0,07 ha;
Ngoài ra, diện tích đất quốc phòng giảm khác 12,03 ha do cập nhật số liệu
đo đạc bản đồ địa chính và kết quả kiểm kê đất đai năm 2014 nên diện tích được xác định lại theo đúng hiện trạng sử dụng đất
Đến năm 2015, diện tích đất quốc phòng của huyện Ngân Sơn thực tế giảm 7,96 ha so với năm 2010
* Đất an ninh
Năm 2010, huyện Ngân Sơn có 0,92 ha đất an ninh, trong giai đoạn 2011 -
2015, diện tích đất an ninh không có biến động
Ngoài ra, diện tích đất an ninh tăng khác 0,03 ha do kiểm kê đất đai năm
2014 đã xác định lại diện tích đất theo đúng hiện trạng sử dụng
Đến năm 2015 đất an ninh của huyện Ngân Sơn thực tế tăng 0,03 ha so với năm 2010
* Đất thương mại, dịch vụ
Năm 2010, huyện Ngân Sơn chưa xác định đất thương mại, dịch vụ, trong giai đoạn 2011 - 2015, diện tích đất thương mại dịch vụ tăng 0,46 ha chuyển từ đất trồng cây hàng năm khác sang để thực hiện công trình Cửa hàng xăng dầu số 49 Bằng Khẩu, xã Bằng Vân, huyện Ngân Sơn; Trụ sở làm việc phòng giao dịch Ngân hàng CSXH Ngân Sơn; Trụ sở làm việc Phòng giao dịch Ngân hàng chính sách xã hội huyện Ngân Sơn (350 m2 đất bằng trồng cây hàng năm, 357 m2 đất bằng trồng cây hàng năm khác)