3 CHƯƠNG I: TỔNG QUAN 1.1 Rạn nhân tạo trên thế giới 1.1.1 Rạn nhân tạo và một số vấn đề về quản lý, khai thác rạn nhân tạo trên thế giới Rạn nhân tạo là những vật thể tự nhiên hoặc n
Trang 1SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ KHÁNH HÒA
TRUNG TÂM ỨNG DỤNG TIẾN BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
BÁO CÁO TỔNG HỢP ĐỀ TÀI THEO DÕI, ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG QUẢN
LÝ, KHAI THÁC SỰ PHÁT TRIỂN NGUỒN LỢI THỦY SẢN TẠI KHU VỰC RẠN NHÂN
TẠO VỊNH NHA TRANG
Cơ quan chủ trì đề tài: Sở Khoa học và Công nghệ Khánh Hòa
Đơn vị thực hiện: Trung tâm Ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ Khánh Hòa
Chủ nhiệm đè tài: Th.S Võ Thị Mỹ Dung
Khánh Hòa, năm 2019
Trang 2SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ KHÁNH HÒA
TRUNG TÂM ỨNG DỤNG TIẾN BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
BÁO CÁO TỔNG HỢP ĐỀ TÀI THEO DÕI, ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG QUẢN LÝ, KHAI
THÁC SỰ PHÁT TRIỂN NGUỒN LỢI THỦY SẢN TẠI
KHU VỰC RẠN NHÂN TẠO VỊNH NHA TRANG
Cơ quan thực hiện đề tài Chủ nhiệm đề tài (Ký tên và đóng dấu) ( Ký tên)
Phạm Cao Cường Võ Thị Mỹ Dung
Khánh Hòa, năm 2019
Trang 3i
MỤC LỤC
MỤC LỤC i
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT iii
DANH MỤC BẢNG iv
DANH MỤC HÌNH v
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN 3
1.1 Rạn nhân tạo trên thế giới 3
1.1.1 Rạn nhân tạo và một số vấn đề về quản lý, khai thác rạn nhân tạo trên thế giới .3
1.1.2 Hiệu quả về bảo vệ và tái tạo nguồn lợi thủy sản của các rạn nhân tạo trên thế giới 6
1.2 Tình hình phát triển các mô hình rạn nhân tạo tại Việt Nam 7
1.3 Hệ thống rạn nhân tạo vịnh Nha Trang và mô hình quản lý rạn đã được thiết lập 11
CHƯƠNG II: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 14
2.1 Đối tượng, mục tiêu và thời gian nghiên cứu 14
2.2 Phương pháp nghiên cứu 14
2.2.1 Đánh giá hiện trạng quản lý, khai thác nguồn lợi thủy sản tại rạn nhân tạo vịnh Nha Trang 14
2.2.2 Khảo sát sự biến động về đa dạng sinh học trong khu vực rạn nhân tạo 15
2.2.3 Đề xuất phương án quản lý, khai thác hệ thống rạn nhân tạo 18
CHƯƠNG III: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 19
3.1 Đánh giá hiện trạng khai thác, quản lý nguồn lợi thủy sản tại khu rạn nhân tạo19 3.1.1 Hiện trạng công tác quản lý tại rạn nhân tạo vịnh Nha Trang 19
3.1.2 Hiện trạng khai thác tại rạn nhân tạo vịnh Nha Trang 21
3.2 Đánh giá hiệu quả của khu rạn nhân tạo trong việc bảo vệ, tái tạo và phát triển nguồn lợi thủy sản 24
3.2.1 Hiện trạng cấu trúc rạn và tình trạng bồi đắp trầm tích tại rạn 24
3.2.1.1 Độ bền của vật liệu rạn 24
3.2.1.2 Hiện trạng bồi đắp trầm tích tại khu vực rạn 25
3.2.2 Kết quả khảo sát mức độ đa dạng sinh học tại rạn nhân tạo vịnh Nha Trang 26 3.2.2.1 Hiện trạng cá tại khu rạn 26
Trang 4ii
3.2.2.2 Hiện trạng về sinh vật đáy 29
3.2.3 Đánh giá sự biến động về đa dạng sinh học tại khu vực rạn nhân tạo 31
3.2.3.1 Cá tại rạn 31
3.2.3.2 Sinh vật đáy tại khu rạn 34
3.3 Đề xuất phương án quản lý, khai thác hiệu quả rạn nhân tạo 35
3.3.1 Cơ sở đề xuất phương án quản lý, khai thác tại khu vực Rạn 35
3.3.1.1 Cơ sở pháp lý 35
3.1.1.2 Tham khảo các bài học kinh nghiệm từ các mô hình quản lý các hệ sinh thái biển tương tự 36
3.3.1.3 Cơ sở thực tiễn 38
3.3.2 Đề xuất phương án quản lý, khai thác rạn nhân tạo vịnh Nha Trang 41
CHƯƠNG IV: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 46
TÀI LIỆU THAM KHẢO 48
Trang 6iv
DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1: Mùa vụ và đối tƣợng khai thác của các loại nghề khai thác khu vực
xung quanh rạn nhân tạo vịnh Nha Trang 23
Bảng 3.2: Số lƣợng loài của các họ cá tại rạn nhân tạo 26
Bảng 3.3: Thành phần loài sinh vật đáy cỡ lớn ở các cụm rạn nhân tạo 30
Bảng 3.4: Mô tả vai trò của các đối tƣợng trong mô hình đề xuất 43
Trang 7v
DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1: Mô hình rạn nhân tạo: a) Vị trí thiết lập rạn; b) Sơ đồ bố trí các cụm rạn; c)
Sơ đồ bố trí các đơn vị rạn trong cụm rạn; d) Sơ đồ phân vùng chức năng rạn 12
Hình 2.1: Sơ đồ bố trí rạn và các mặt cắt được khảo sát 17
Hình 3.1: Kết quả điều tra về nhận biết của ngư dân về tổ chức quản lý rạn 19
Hình 3.2: Hình ảnh bè nổi sử dụng phục vụ mô hình bảo vệ rạn: a) Bè nổi được đặt tại vị trí thiết lập rạn; b) Bè nổi được neo đậu khu vực ven bờ vào mùa biển động 21
Hình 3.3: Hình ảnh lờ dây và bẫy nhử tôm hùm được ghi nhận tại đáy biển khu vực đặt rạn nhân tạo vịnh Nha Trang 22
Hình 3.4: Một số loại thủy hải sản khai thác bằng phương pháp lặn được ghi nhận tại bờ biển khu tái định cư Vĩnh Hòa 23
Hình 3.5: Rạn hình lập phương bị gãy đổ 25
Hình 3.6: Bồi tích tại khu vực rạn 26
Hình 3.7: Số lượng loài cá được ghi nhận tại các cụm rạn trong các đợt khảo sát 2017 - 2018 27
Hình 3.8: Mật độ trung bình (cá thể/100 m2) của các nhóm kích thước cá phân bố ở trong và xung quanh khu vực rạn tại các thời điểm khảo sát 28
Hình 3.9: Mật độ trung bình (cá thể/cụm rạn) tại các thời điểm khảo sát 29
Hình 3.10: Số lượng cá phân bố tại các cụm rạn tại các thời điểm khảo sát 29
Hình 3.11: Mật độ trung bình cá phân bố tại cụm rạn theo thời gian 31
Hình 3.12: Biến thiên mật độ cá trung bình (cá thể/100m²) theo thời gian ở trong và ngoài khu vực thả rạn nhân tạo 32
Hình 3.13: Mật độ trung bình (cá thể/100 m²) của các nhóm kích thước cá ở mặt cắt xung quanh khu vực rạn (MC M1, M2, M3, M4) và trong khu vực thả rạn (MC N1, N2) vào các đợt khảo sát từ tháng 7/2014 đến 8/2018 33
Hình 3.14: Mật độ trung bình (cá thể/cụm) của các nhóm kích thước cá theo thời gian tại các cụm rạn nhân tạo 33
Trang 81
MỞ ĐẦU
Rạn được xây dựng nhằm mục tiêu bảo vệ và khai thác bền vững nguồn lợi thủy sản
ven bờ tại vịnh Nha Trang Đây là sản phẩm đề tài KHCN cấp tỉnh “Nghiên cứu xây
dựng rạn nhân tạo tại vịnh Nha Trang nhằm bảo vệ và tái tại nguồn lợi thủy sản” do
ThS Nguyễn Văn Nhuận - Trường Đại học Nha Trang làm chủ nhiệm được phê duyệt triển khai vào năm 2013 và nghiệm thu vào năm 2016.Sau khi rạn được xây dựng, mô hình quản lý có sự tham gia của cộng đồng địa phương và đại diện các cơ quan chức năng có liên quan đã được hình thành để bảo vệ và khai thác hiệu quả khu vực rạn
Những khảo sát trong vòng 1 năm sau khi rạn nhân tạo được thiết lập đã thu được những kết quả tích cực ở khía cạnh phục hồi, tái tạo, bảo vệ nguồn lợị khi rạn đã thu hút nhiều loài sinh vật trong khu vực đến cư trú Tuy vậy, diễn thế sinh thái của một khu vực rạn là một tiến trình dài, hiệu quả của rạn cũng cần phải được xem xét, đánh giá tương ứng Ngoài ra, các tác động từ các yếu tố tự nhiên, sự biến đổi của khí hậu, cùng với những hoạt động bồi lấp, xây dựng vùng ven biển của con người có thể dẫn đến những ảnh hưởng tiêu cực tới sự phát triển nguồn lợi tại vùng rạn Chính vì vậy, hoạt động đánh giá mức độ đa dạng sinh học trong khu vực rạn được tiến hành thường xuyên sẽ giúp phác họa được bức tranh phát triển sinh vật của khu rạn và cung cấp những cơ sở khoa học làm căn cứ để đề xuất giải pháp tiếp theo nhằm phục hồi nguồn lợi trong khu vực vịnh
Một rạn nhân tạo được duy trì và quản lý tốt, có kế hoạch khai thác, sử dụng hiệu quả sẽ giúp mang lại những lợi ích dài hạn cho môi trường biển nhưng ngược lại, một rạn nhân tạo được quản lý không phù hợp sẽ mang lại những tác động tiêu cực, trở thành nơi tập trung nguồn lợi để phục vụ cho sự gia tăng sản lượng khai thác ngắn hạn
và những tác động bất lợi đến hệ sinh thái biển Vì vậy, công tác đánh giá hiện trạng quản lý nhằm nhìn nhận lại công tác quản lý trong thời gian qua, đồng thời đánh giá một cách khách quan, chính xác về nhận thức và quan điểm của người dân về sự tồn tại của hệ thống rạn, hiện trạng khai thác và mối liên kết về hoạt động khai thác giữa người dân và thành viên ban quản lý để đề xuất giải pháp khai thác, quản lý vùng rạn trên cơ sở đảm bảo yếu tố phù hợp thực tiễn, hiệu quả và khả thi là điều cần thiết
Trang 92
Xuất phát từ những lý do trên, đề tài KHCN cấp cơ sở “Theo dõi, đánh giá hiện
trạng quản lý, khai thác, sự phát triển nguồn lợi thủy sản tại khu rạn nhân tạo vịnh Nha Trang” đã đƣợc thực hiện với các mục tiêu và nội dung chính sau:
Mục tiêu:
Đánh giá hiện trạng khai thác, quản lý nguồn lợi thủy sản tại khu rạn nhân tạo
phát triển nguồn lợi thủy sản
Nội dung chính:
tạo
Khảo sát sự biến động về đa dạng sinh học trong khu vực rạn nhân tạo
Trang 103
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN
1.1 Rạn nhân tạo trên thế giới
1.1.1 Rạn nhân tạo và một số vấn đề về quản lý, khai thác rạn nhân tạo trên thế giới
Rạn nhân tạo là những vật thể tự nhiên hoặc nhân tạo được đặt tại một khu vực nào đó ở đại dương hay vùng ven bờ với nhiều mục đích khác nhau như: phục hồi hoặc thay thế các ổ sinh thái bị suy giảm do tác động của con người; bảo vệ và phát triển các hệ sinh thái ven bờ; gia tăng nguồn lợi hải sản; phát triển du lịch biển[17] Ngoài ra, rạn nhân tạo còn được xem là công cụ giúp con người tìm hiểu về những thay đổi tại các hệ sinh thái trong đại dương; giúp chống xói mòn, hạn chế sự tác động của sóng, chống khai thác hải sản bất hợp lý[20]
Rạn nhân tạo được xây dựng đầu tiên trên thế giới vào thế kỷ 17 tại Nhật Bản Hiện nay, có hơn 100 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới đã triển khai mô hình Mỗi quốc gia xây dựng với mục đích sử dụng, phương thức và cách thức quản lý khác nhau Nhìn chung, hầu hết các rạn nhân tạo đã góp phần giải quyết nhiều vấn đề, mang lại những lợi ích tích cực về khía cạnh sinh học và kinh tế - xã hội Tuy nhiên, không phải dự án rạn nhân tạo nào trên thế giới cũng đạt được những mục tiêu đề ra Nhiều dự
án rạn gặp khó khăn trong công tác quản lý và nhiều yếu tố kinh tế- xã hội xoay quanh
sự phát triển và quản lý của rạn,cụ thể:
+ Khai thác quá mức là vấn đề cần xem xét đối với bất cứ rạn nhân tạo nào Rạn nhân tạo được thiết lập tại đáy biển có vai trò như “ngôi nhà” cho sinh vật trú ngụ, sinh trưởng và phát triển, giúp bảo vệ, phục hồi nguồn lợi, từ đó gia tăng sản lượng khai thác Nhiều rạn nhân tạo trên thế giới được thông báo có tỷ lệ đánh bắt thủy sản tại rạn nhân tạo cao hơn tỷ lệ đánh bắt ở vùng nước xung quanh không có rạn [14] Tuy nhiên, vấn
đề được đặt ra xung quanh việc gia tăng sản lượng đánh bắt tại rạn là rạn nhân tạo góp phần gia tăng trữ lượng thủy sản chung của khu vực hay rạn nhân tạo chỉ làm gia tăng sự thu hút và tập hợp của quần thể cá tồn tại trước đó Theo Jebreen (2005), nếu tại thời điểm khai thác, sản lượng khai tháctại rạn gia tăng không phải do tổng trữ lượng chung tại khu vực đó gia tăng mà chỉ do sinh vật tại vùng biển đó tập trung tại rạn thì hoạt động khai thác thủy sản tại rạn nhân tạo có khả năng dẫn đến khai thác quá mức[22] Kết quả công bố về tác động của rạn nhân tạo lên quần thể cá trong khu vực của chính
Trang 114
quyền bang Queensland đã kết luận rằng khả năng khai thác quá mức do sự tập trung của quần thể cá tại rạn là một trong những nguy cơ khi thiết lập rạn[26] Bên cạnh đó, mặc dù tính đa dạng và trữ lượng cá tại rạn nhân tạo đã thực sự gia tăng do kết quả của
cả quá trình tập trung và sinh sản, phát triển của các quần thể cá tại rạn Tuy nhiên, việc quản lý rạn không hợp lý, không có kế hoạch khai thác phù hợp cũng sẽ dẫn đến tình trạng khai thác quá mức bất cứ quần thể sinh vật nào Thực tế tại các quốc gia đang phát triển, bất cứ ai cũng được tự do đánh bắt, ngư dân và tàu thuyền đánh bắt xâm nhập tự
do vào khu vực đánh bắt dẫn đến đánh bắt quá mức là điều không thể được ngăn ngừa[29]
+ Sự khó khăn trong công tác xác định hướng quản lý rạn bền vững là vấn đề chung tại nhiều chương trình rạn trên thế giới Một số chương trình rạn tại Philippin, Xê- nê-gan, mô hình quản lý rạn dựa vào cộng đồng đã thực sự đem lại hiệu quả tích cực khi dự án còn hoạt động, tuy nhiên sau khi dự án kết thúc, công tác giám sát rạn và duy tu các thiết bị bảo vệ gặp phải nhiều khó khăn hoặc không thể duy trì khi nguồn kinh phí không còn[29] Điểm chung trong các mô hình trên là mô hình vận hành từ dự
án không tạo lập được nguồn kinh phí trong nội tại mô hình, đồng thời chính phủ cũng không có kế hoạch hợp lý để duy trì và đảm bảo chi phí hoạt động của các mô hình mà phụ thuộc hoàn toàn vào nguồn vốn nước ngoài Ngoài ra, vấn đề đánh bắt bất hợp pháp cũng là vấn đề nan giải tại nhiều rạn, có thể gặp ở bất cứ quốc gia đang phát triển nào[29] Các ngư dân ở các quốc gia đang phát triển thường có xu hướng xem rạn nhân tạo là công cụ để tập hợp cá Mặc dù trong các dự án rạn luôn có các lớp nâng cao nhận thức cộng đồng giúp họ hiểu và biết rằng khu vực rạn nhân tạo là cấm đánh bắt, nhưng hoạt động đánh bắt cá bất hợp pháp là không tránh khỏi bởi vì sinh kế của những ngư dân nghèo này hoàn toàn phụ thuộc vào nghề đánh bắt Thậm chí, cuộc sống phụ thuộc hoàn toàn vào đánh bắt cũng là vấn đề đối với những ngư dân chịu trách nhiệm quản lý vùng rạn Trong khi đó, công tác giám sát gặp nhiều khó khăn và không phải được duy trì liên tục và đạt được hiệu quả như mong muốn Chính vì vậy, tạo lập một mô hình quản lý bền vững giải quyết vấn đề tài chính hoạt động, đảm bảo sinh kế cho ngư dân trong mô hình là vấn đề cần quan tâm trong bất kỳ dự án rạn nào
+ Một vấn đề khác liên quan đến công tác quản lý rạn đó là sự xung đột lợi ích khai thác Rạn nhân tạo thường trở thành tiêu điểm xung đột trong nội bộ và giữa các nhóm khai thác Sự xung đột được xác định là sự can thiệp vào mục đích sử dụng bởi
Trang 12độ phục hồi có thể diễn tiến theo các giai đoạn khác nhau từ hệ sinh thái ban đầu
Bất cứ chương trình rạn nào thế giới đều có thể gặp phải các vấn đề đã đề cập trên nếu không có các hoạt động đánh giá kỹ những tác động tích cực, tiêu cực khi thiết lập rạn, không có chương trình quản lý và giám sát rạn hợp lý Việc lên kế hoạch quản
lý dài hạn và đánh giá hiệu quả rạn là công tác cần cho mỗi dự án để đảm bảo những lợi ích dự kiến từ rạn nhân tạo Chính vì vậy, tại các nước đang phát triển như Mỹ, Úc, Tây Ban Nha , các chương trình rạn nhân tạo trong thời gian gần đây đều có quá trình nghiên cứu, xem xét kỹ; có định hướng phát triển và có chương trình giám sát trong nhiều năm nhằm đánh giá đúng hiệu quả của rạn Đồng thời, nhiều biện pháp được dùng
để quản lý rạn, đảm bảo khai thác hợp lý và hạn chế xung đột giữa các nhóm khai thác được áp dụng như quản lý dựa vào cộng đồng để kiểm soát sự đánh bắt, thực hiện các phương thứcđể quản lý khai thác tại rạn như: kiểm soát xâm nhập, hạn chế công cụ và hình thức đánh bắt; hạn chế người sử dụng theo không gian và thời gian[13]
- Nhật Bản là quốc gia áp dụng thành công mô hình dựa vào cộng đồng để kiểm soát đánh bắt tại rạn Những ngư dân liên kết thành cộng đồng bảo vệ vùng rạn, phối hợp với chính quyền để kiểm soát đánh bắt, ngăn chặn sự khai thác trái phép từ những đối tượng khác Tuy nhiên, mô hình này đã không được áp dụng thành công để quản lý rạn ở một số quốc gia như Philipin, Xê- nê-gan [29] Theo Whitmarsh và cs, 2008, mô hình quản lý theo hình thức này phụ thuộc lớn vào nhận thức, đặc điểm văn hóa xã hội
để có thể áp dụng thành công, tạo lập được các nhóm cộng đồng có thể thưc hiện hoạt động này, do đó thường không khả thi ở một số quốc gia[19]
- Mỹ và Úc là một trong những quốc gia thành công khi áp dụng các phương thức kiểm soát đánh bắt như: kiểm soát xâm nhập, hạn chế công cụ và hình thức đánh bắt, hạn chế người sử dụng theo không gian và thời gian Tại Úc, hầu hết các rạn nhân
Trang 136
tạo được sử dụng cho hoạt động giải trí như câu cá giải trí, lặn chụp hình dưới nước, lặn nghiên cứu Tuy phục vụ du lịch nhưng các rạn này cũng thu hút nhiều cá đến sinh sống Nhằm hạn chế áp lực khai thác lên sự phát triển nguồn lợi rạn và khu vực, đảm bảo những loài cá thực phẩm không bị đánh bắt trước khi trưởng thành, công tác quản lý khai thác cá được thực thi ở mọi bang của Úc bởi các văn phòng có đủ chức năng xử phạt[14] Theo khuyến cáo trong báo cáo chương trình rạn của Úc, khu vực rạn cần được đánh giá tình trạng quần thể cá, tổng sản lượng, khả năng chịu đựng áp lực khai thác của quần thể, cần có biện pháp giảm thiểu những áp lực ngày càng gia tăng về khai thác cá tại khu rạn nhân tạo như thực hiện bảo vệ rạn, thực hiện hoạt động du lịch tại rạn trong thời gian đầu thay vì tập trung khai thác sẽ giúp giảm thiểu sự suy giảm nguồn lợi
do bởi gia tăng thời gian chờ trước khi hoạt động đánh bắt được cho phép[26] Đồng thời, để tránh xung đột giữa các nhóm sử dụng rạn, những nhóm rạn được thiết kế đặc biệt cho từng mục đích[14] Ngoài ra, những người sử dụng tài nguyên rạn như cá nhân hay tổ chức có hoạt động lặn tại rạn, người tham quan rạn thông qua các công ty tổ chức
du lịch đều phải nộp phí sử dụng rạn để làm nguồn lực phục vụ công tác quản lý rạn[13] Tương tự, tại Mỹ, những người có hoạt động sử dụng tài nguyên rạn như lặn giải trí, câu cá giải trí, đánh bắt đều phải tuân theo cách thức quản lý, khai thác tại rạn và phải nộp phí để tạo nguồn lực phục vụ nghiên cứu, phát triển rạn
1.1.2 Hiệu quả về bảo vệ và tái tạo nguồn lợi thủy sản của các rạn nhân tạo trên thế giới
Rạn nhân tạo được xem là công cụ giúp quản lý nghề cá, giúp phục hồi hoặc thay thế các ổ sinh thái bị suy giảm do tác động của con người; bảo vệ và phát triển các hệ sinh thái ven bờ; gia tăng nguồn lợi hải sản[17].Nhiều công bố kết quả theo dõi rạn nhân tạo sau một thời gian thiết lập cho thấy khu vực rạn thu hút nhiều sinh vật đến sinh sống Cụ thể như sau:
Tại Bồ Đào Nha, hệ thống rạn nhân tạo được xây dựng tại vùng biển Faro vào năm 1990, trong vòng 4,5 năm sau thiết lập sản lượng cá ở khu rạn tăng 2,28 lần so với vùng không có rạn, đồng thời mật độ các loài sinh vật đáy cũng gia tăng[24]
Tại Bra-xin, 1.500m2 rạn gồm 16 đơn vị bê tông hoặc 16 đơn vị lốp xe được đưa xuống biển vịnh Manguinhos, Rio de Janeiro năm 1996, trong vòng 2 năm sự đa
Trang 147
dạng và kích thước loài cá tại khu rạn gia tăng dần, thu hút 51 loài đến sinh sống, mật
độ cá và sinh khối cá cũng cao hơn[30]
Ở Ấn Độ, hệ thống rạn nhân tạo dọc theo bờ biển ở Trivandrum sau 4 năm xây dựng, khu vực rạn có mức đa dạng sinh học cao hơn 90,8% so với các vùng lân cận không có rạn; năng suất đánh bắt cao hơn 70% đối với các loài cá, 60% cho động vật thân mềm, 87% cho các loại động vật không xương sống[10]
Tại Philippin, theo công bố Gomez và cs.,tạirạn nhân tạo bằng lốp xe, đã quan sát được 30 loài san hô cứng phủ trên 15% bề mặt rạn sau 5 năm, sau 10 năm tỷ lệ này lên đến 40%
Tại Thái Lan, các rạn nhân tạo đã thu hút hơn 71 loài thực vật phù du và 20 loài động vật phù du, 200 loài động vật thân mềm hai mảnh vỏ và chân bụng và 63 loài khác (tôm, cua, rong biển), 37 họ cá đến sinh sống, tỷ lệ đánh bắt sử dụng các dụng cụ đánh bắt nhỏ tăng 1-5 lần [23].Hiệu quả của rạn nhân tạo trong thu hút sinh vật tập trung cư trú và sinh sản chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố, trong đó có cấu trúc rạn Rạn càng đồ sộ và càng phức tạp về cấu trúc, hiệu quả càng cao trong việc tập trung, bảo vệ, tái tạo và phát triển nguồn lợi thủy sản Theo công bố của Charbonel và cs.,38% diện
vị rạn lớn, đơn giản về cấu trúc có hệ sinh vật nghèo nàn, số lượng loài cá không có sự thay đổi đáng kể, mật độ và sinh khối gia tăng ít, sau khi triển khai bổ sung các rạn nhỏ có cấu trúc phức tạp bên trong các rạn lớn này, đa dạng sinh học đã được cải thiện: số lượng loài cá gia tăng gấp đôi so với trước khi thả rạn, mật độ sinh vật tăng gấp 10 lần, sinh khối tăng lên 40 lần,trong khi đó các rạn không được bổ sung đa dạng sinh học không có sự thay đổi đáng kể[15]
Mặc dù có nhiều công bố sự tiến triển tích cực về mặt sinh học tại các rạn nhân tạo như rạn thu hút nhiều sinh vật đến cư trú, gia tăng mật độ và sinh khối tại khu rạn so với khu vực không thả rạn Tuy nhiên, hiệu quả thực sự của rạn nhân tạo trong việc gia tăng nguồn lợi vẫn là vấn đề nhiều nhà nghiên cứu quan tâm? Theo Chou và cs., sản lượng trên một đơn vị diện tích từ rạn nhân tạo có thể cao bởi vì những rạn này có xu hướng nhỏ và tập trung, và làm chúng cực kỳ dễ bị khai thác quá mức, rạn tự nhiên trải qua cùng hiện tượng nhưng thường có diện tích lớn hơn rạn nhân tạo[16]
1.2 Tình hình phát triển các mô hình rạn nhân tạo tại Việt Nam
Trang 158
Rạn nhân tạo mới được phát triển ở nước ta trong khoảng hơn 10 năm trở lại đây, tuy nhiên các dự án về rạn nhân tạo cũng đã được triển khai tại nhiều tỉnh thành ven biển như khu vực Vạn Bội và Ba Trái Đào tại Cát Bà, Hải Phòng; vùng biển ven
bờ tỉnh Nghệ An; vùng biển xã Tam Hải, huyện Núi Thành, Quảng Nam; vùng biển Hòn Đỏ, Ninh Thuận; vịnh Nha Trang, Khánh Hòa Các mô hình rạn nhân tạo ở nước
ta được xây dựng chủ yếu phục vụ công tác bảo vệ, tái tạo nguồn lợi thủy sản ven bờ như mô hình tại Nghệ An, Quảng Nam, Ninh Thuận hoặc phục hồi các hệ sinh thái san
hô tại một số khu vực bị tàn phá như mô hình rạn tại Vịnh Nha Trang
Cấu trúc và quy mô rạn có sự khác nhau giữa các mô hình Các rạn được thiết
kế để bảo vệ, phục hồi nguồn lợi chủ yếu là tổ hợp các cụm bê tông hoặc các cụm bê tông kết hợp với chà được thiết kế có nhiều diện tích hoặc vị trí để làm nơi trú ẩn cho các sinh vật biển Trong khi đó các dự án rạn nhân tạo nhằm phục hồi hệ sinh thái san
hô thường sử dụng các khối bê tông hoặc các cấu trúc cốt thép để làm giá thể trồng mới các tập đoàn san hô
Tùy theo từng dự án rạn, mô hình quản lý rạn cũng có sự khác nhau Tại các dự
án rạn ở Nghệ An, Quảng Nam và Ninh Thuận, rạn nhân tạo được quản lý theo hình thức đồng quản lý mà nòng cốt là cộng đồng địa phương tại nơi thả rạn, trong đó mô hình rạn tại Nghệ An được thực hiện theo dự án Nguồn lợi ven biển vì sự phát triển bền vững (viết tắt là CRSD) sử dụng nguồn vốn vay từ Hiệp hội phát triển Quốc tế (IDA) và nguồn vốn viện trợ không hoàn lại từ Quỹ môi trường toàn cầu (GEF), hai
mô hình rạn tại Quảng Nam và Ninh Thuận là dạng đề tài nghiên cứu khoa học sử dụng nguồn ngân sách tỉnh Dự án rạn nhằm phục hồi trồng mới san hô nằm trong khu bảo tồn biển như khu bảo tồn biển vịnh Nha Trang chịu sự quản lý của Ban quản lý vịnh Nha Trang Ngoài ra, tại Khánh Hòa, gần đây một số công ty du lịch như công ty TNHH MTV Vinpearl, công ty TNHH Nhà nước MTV Yến Sào, công ty CPDL Hồng Hải – Khu nghỉ mát Six Senses, công ty Du lịch Trí Nguyên đã đầu tư cho hoạt động
liên kết nghiên cứu, tham gia vào đề tài “Nghiên cứu đề xuất một số khu vực có thể
phục hồi và tái tạo rạn san hô phục vụ du lịch sinh thái biển ở Khánh Hòa” để thiết
lập mô hình xây dựng rạn trồng mới san hô và sẽ trực tiếp quản lý, khai thác các rạn này sau khi được thiết lập nhằm phục vụ cho hoạt động du lịch Thách thức lớn nhất đối với các doanh nghiệp này khi tham gia các mô hình này là thiếu cơ chế điều phối
và quy chế quản lý, đề tài định hướng các doanh nghiệp thực hiện trồng và bảo vệ san
Trang 169
hô dưới sự quản lý của Chi cục Thủy Sản Sau quá trình thực hiện trồng mới san hô, các định hướng được đề tài gợi ý để các doanh nghiệp thực hiện khi quy chế chung chưa được ban hành: Tổ chức các loại hình du lịch theo hướng thân thiện với môi trường, duy trì và phát triển rạn san hô và nguồn lợi sinh vật; Hạn chế phát triển các loại hình du lịch có nhiều tác động đến rạn san hô và sinh vật nguồn lợi như lặn ngắm san hô trong vùng nước nông, câu cá giải trí; Ngăn chặn khai thác nguồn lợi thủy sản bằng bất cứ phương pháp, công cụ nào bởi cộng đồng và người của doanh nghiệp; Phục hồi rạn san hô ở những vùng rạn bị suy thoái, nuôi cấy các loài san hô có màu sắc hình dáng đẹp nhằm tạo cảnh quan để phục vụ du lịch sinh thái; Thả phục hồi một
số loài sinh vật cảnh, sinh vật quý hiếm, nguồn lợi để gia tăng giá trị du lịch cho doanh nghiệp và góp phần phục hồi thủy sản tự nhiên cho cộng đồng; Đánh giá và giám sát định kỳ quá trình phục hồi rạn, độ phủ san hô và mật độ các loài quan trọng về sinh thái, nguồn lợi trong mô hình; Ngăn chặn các hoạt động xả rác, chất thải độc hại làm ô nhiễm môi trường, suy thoái các rạn san hô[11]
Hiệu quả của các mô hình rạn hầu hết chỉ mới được đánh giá trong một thời gian ngắn sau khi thiết lập Hầu hết các mô hình rạn được đánh giá đã mang lại những kết quả tích cực trong khía cạnh phát triển đa dạng sinh học tại khu rạn, tuy vậy một số
mô hình sau một thời gian thiết lập đã không đạt được hiệu quả như mong đợi, cụ thể:
- Rạn tại khu vực Cát Bà (Vạn Bội và Ba Trái Đào) được thiết lập bởi Viện Nghiên cứu Hải Sản Hải Phòng cho thấy sau khi thiết lập, tốc độ bám của polyp san hô khá nhanh, san hô có sự phát triển tốt trên rạn nhân tạo và số lượng loài hải sản tăng lên rõ rệt, cụ thể: Khu vực Vạn Bội: Nhóm rong tảo gia tăng từ 4 loài lên 10 loài, số lượng các loài cá tăng từ 15 lên 23 loài, đặc biệt ghi nhận sự xuất hiện của 03 loài
thuộc giống cá mú (Epinephelus) Khu vực Ba Trái Đào: Số loài rong tăng từ 3 lên 7
loài, cá tăng từ 13 lên 21 loài Ngoài ra còn có các loài thuộc nhóm hải sâm, sao biển, cầu gai, xoang tràng, nhuyễn thể và một số loài có giá trị kinh tế đến sinh cư trong vùng rạn Tuy số lượng loài đến sinh cư trong vùng rạn nhân tạo sau khi thả không nhiều nhưng số lượng cá thể hay diện tích phủ của các nhóm sinh vật trên các rạn khá lớn, đặc biệt là nhóm rong tảo, hàu sun[3]
- Rạn nhân tạo được xây dựng tại Hòn Đỏ, Ninh Thuận thuộc đề tài KHCN cấp
tỉnh “Nghiên cứu xây dựng bãi cá nhân tạo tại Ninh Thuận nhằm bảo vệ, tái tạo và
Trang 1710
phát triển nguồn lợi thủy sản” đã thu được một số kết quả tích cực sau 2 năm thả rạn:
Số lượng loài sinh vật tăng 89 lên 98 loài; mật độ các loài sinh vật tăng khá nhanh, trung bình từ tháng 01/2013 đến tháng 7/2013 tăng 3,24 lần (từ 296 lên 947 cá thể/100
m2); mật độ sinh vật trong bãi cá nhân tạo tăng lên nhanh so với trước khi xây dựng, trung bình gấp 8,8 lần sau 8 tháng thả rạn (từ 107 lên 947 cá thể/100 m2), đã xác định có ít nhất
01 loài mực (mực lá) sinh sản trong bãi cá nhân tạo, còn các đối tượng khác chưa xác định được bằng phương pháp quan sát trong nghiên cứu Ngoài ra, mật độ sinh vật trong vùng biển cũng tăng lên đáng kể và có khuynh hướng tăng theo thời gian thiết lập bãi cá[8]
Mô hình rạn nhân tạo kết hợp với chà đã được thiết lập tại vùng biển ven bờ, xã Tam Hải, huyện Núi Thành, Quảng Nam, sau 5 tháng triển khai, số lượng loài, mật độ phân bố tăng nhanh cụ thể: trong khu chà rạn số lượng loài tăng từ 45 lên 73 loài, mật
độ tăng từ 272 lên 1.812 cá thể/400 m2
(gấp 6,7 lần) ở mặt cắt ngang; xung quanh khu chà rạn số lượng loài tăng từ 45 đến 64, 58 và 47 loài; mật độ tăng từ 271 lên 1228,
và 150 m; san hô mềm, rong và rêu bắt đầu phát triển[9]
Rạn nhân tạo bằng bê tông kết hợp trồng mới san hô ở khu vực mũi Bàng Thang (Tây Bắc Hòn Tre, Vinh Nha Trang) được thiết lập vào năm 2013, thời gian đầu khi mới thiết lập rạn (năm 2014), tỷ lệ sống của các tập đoàn san hô rất cao, tuy nhiên sau đó (2015) do hoạt động san lấp mặt bằng trên mũi Bàng Thang cộng với sự cạnh tranh vị trí bám trên bề mặt rạn nhân tạo của sinh vật thủy sinh khác, tỷ lệ sống các tập đoàn san hô giảm dần theo thời gian, sinh vật đáy và các loài cá khu vực này cũng giảm sút rõ rệt[4]
Một số mô hình trồng mới san hô trên các cụm rạn nhân tạo bằng khung sắt
hoặc rạn bê tông thuộc đề tài “Nghiên cứu đề xuất một số khu vực có thể phục hồi và
tái tạo rạn san hô phục vụ du lịch sinh thái biển ở Khánh Hòa” đã triển khai phục hồi
san hô vào tháng 11/2015, kết quả khảo sát đánh giá cho thấy trên các cụm bê tông san
hô có tỷ lệ sống thấp, trên khung sắt thời gian đầu (5/2016) tỷ lệ sống của san hô phục hồi trong giai đoạn đầu đạt khá, trung bình là 88,33% Tuy nhiên, về sau giảm đáng kể
do nhiều nguyên nhân, như: bị phủ rong, sao biển gai ăn, rửa trôi trầm tích từ xây dựng trên đảo Đặc biệt, cơn bão số 12 vào tháng 11/2017 làm giảm tỷ lệ sống của126 san
Trang 1811
hô trên khung sắt ở Hòn Tằm còn 41,20% và ở Vinpearl là 42,25% Đến tháng 4/2018 thì tỷ lệ sống của san hô giảm xuống là 32,27% trên khung sắt và 28,80% trên bồn bê tông ở Hòn Tằm; 19,06% trên khung sắt và 3,09% trên bồn bê tông ở Vinpearl[11]
1.3 Hệ thống rạn nhân tạo vịnh Nha Trang và mô hình quản lý rạn đã được thiết lập
Rạn nhân tạo vịnh Nha Trang và mô hình quản lý rạn là kết quả của đề tài
KH&CN cấp tỉnh “Nghiên cứu xây dựng rạn nhân tạo tại vịnh Nha Trang nhằm bảo
vệ và tái tại nguồn lợi thủy sản” do ThS Nguyễn Văn Nhuận - Trường Đại học Nha
Trang làm chủ nhiệm được phê duyệt triển khai vào năm 2013 và nghiệm thu vào năm
2016 Rạn được đặt tại đáy biển phía Bắc vịnh Nha Trang tại vĩ độ 12017’37’’, kinh độ
từ 1090 13’26’’ đến 109013’56’’, cách bờ biển khu tái định cư phường Vĩnh Hòa khoảng 2 km (hình 1.1 a).Vùng biển được đặt rạn có độ sâu (7 12) m, độ dốc đáy biển thấp, nền đáy cứng và dòng chảy ổn định, nguồn lợi thủy sản có tính đa dạng sinh học cao, có nhiều ấu trùng và con non nhưng đã có dấu hiệu suy giảm mạnh Hệ thống rạn được tạo thành bởi các đơn vị rạn bằng bê tông có hình trụ tròn, hình lăng trụ và hình lập phương bố trí thành 10 cụm rạn bao gồm 2 cụm ở giữa gồm 27 đơn vị rạn và 8 cụm rạn xung quanh gồm 12 đơn vị rạn, bao phủ 10.000 m2 nền đáy (50.000 m3 thể tích vùng nước) (hình 1.1 b,c ) Sau khi rạn được thiết lập, khu vực rạn bao phủ và xung quanh được cắm mốc, báo hiệu phân chia ranh giới trên biển thành vùng lõi bảo
vệ nghiêm ngặt (bao phủ khoảng 5 ha), tiếp đến là vùng đệm (khoảng 3 ha và ngoài cùng là vùng khai thác có thời vụ (khoảng 2 ha) bằng tổng cộng 16 phao, 16 neo, 16
cờ và có chòi canh để bảo vệ (hình 1.1 d) Đồng thời, mô hình quản lý rạn cũng đã được
thiết lập nhằm bảo vệ và quản lý khu rạn nhân tạo phục vụ cho công tác bảo vệ, tái tạo, phát triển nguồn lợi thủy sản và khai thác theo hướng bền vững[10]
Trang 1912
Hình 1.1: Mô hình rạn nhân tạo: a) Vị trí thiết lập rạn; b) Sơ đồ bố trí các cụm rạn; c)
Sơ đồ bố trí các đơn vị rạn trong cụm rạn; d) Sơ đồ phân vùng chức năng rạn
Trong thời gian thực hiện đề tài, mô hình quản lý rạn được thành lập là mô hình đồng quản lý, lấy nòng cốt là nhóm hạt nhân bảo vệ rạn gồm 10 ngư dân sinh sống gần nơi đặt rạn, song song với hình thức quản lý trực tiếp này, đề tài cũng đã kết nối với các cơ quan chức năng tại địa phương như Chi cục Thủy sản, Phòng Kinh tế Thành phố Nha Trang, Ban quản lý vịnh Nha Trang, Hội nông dân các phường: Vĩnh Thọ, Vĩnh Phước, Vĩnh Hòa để triển khai các hoạt động tuyên truyền, quản lý ở tầm vĩ mô
Để đảm bảo mô hình được hoạt động có hiệu quả, nhóm nghiên cứu đã phối hợp với Chính quyền địa phương và Tổ cộng đồng xây dựng bản Quy chế quản lý gồm 9 chương, 22 điều quy định chặt chẽ về các hoạt động có liên quan tới khai thác nguồn lợi thủy sản và các hoạt động cụ thể trong mô hình tại khu vực rạn nhân tạo trong Vịnh, đồng thời, quy định rõ quyền hạn, nghĩa vụ và trách nhiệm của các bên liên quan trong mô hình đồng quản lý khu vực rạn nhân tạo[10]
Sau 01 năm thiết lập rạn và triển khai mô hình quản lý, mức độ đa dạng sinh học tại khu rạn diễn biến tích cực theo thời gian: thành phần các loài cá cao gấp 03 lần
so với thời điểm trước khi thả rạn; ghi nhận 13 loài sinh vật đáy cỡ lớn bao gồm các nhóm thân mềm, giáp xác, da gai, xoang tràn, rong mơ và đặc biệt là mật độ phân bố tôm hùm con trong khu vực rạn nhân tạo cao hơn so với các khu vực xung quanh
Mô hình quản lý tại hệ thống rạn nhân tạo vịnh Nha Trang ban đầu giải quyết được công tác bảo vệ và hướng khai thác phù hợp tại hệ thống rạn và có quy chế hoạt động nhằm đảm bảo mô hình được vận hành liên tục, đa dạng sinh học được đánh giá theo hướng tích cực Tuy nhiên, mô hình quản lý và hiệu quả phát triển đa dạng sinh học chỉ được đánh giá trong thời gian ngắn khi đề tài còn thực hiện Vì vậy, qua thời gian hoạt động sau khi đề tài kết thúc, hiện trạng quản lý, khai thác và sự phát triển đa
Trang 2114
CHƯƠNG II: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng, mục tiêu và thời gian nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tiến hành nghiên cứu trên các đối tượng sau:
Mô hình quản lý, khai thác tại khu rạn nhân tạo vịnh Nha Trang
Nguồn lợi thủy sản tại khu rạn nhân tạo vịnh Nha Trang
Mục tiêu nghiên cứu:
Đánh giá hiện trạng quản lý, khai thác nguồn lợi thủy sản tại khu rạn nhân tạo
phát triển nguồn lợi thủy sản
tạo
Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 4 năm 2017 đến tháng 3 năm 2019
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Đánh giá hiện trạng quản lý, khai thác nguồn lợi thủy sản tại rạn nhân tạo vịnh Nha Trang
Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp
Số liệu thứ cấp được thu thập từ thông tin lưu trữ của Phòng kinh tế thành phố Nha Trang, báo cáo của Ban quản lý vịnh Nha Trang; kế thừa, phân tích kết quả về
hoạt động quản lý rạn từ đề tài khoa học và công nghệ“Nghiên cứu xây dựng rạn nhân
tạo tại vịnh Nha Trang nhằm bảo vệ và tái tạo nguồn lợi thủy sản” do ThS Nguyễn
Văn Nhuận, Trường Đại học Nha Trang thực hiện
Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp
Quan sát, ghi nhận thực tế quản lý tại khu vực rạn và thường xuyên tiếp xúc với người dân địa phương trong khu vực để nắm bắt thông tin
Thu thập thông tin về hiện trạng quản lý, khai thác theo phương pháp điều tra: + Mục tiêu điều tra: đánh giá được hiện trạng hoạt động quản lý của mô hình rạn; đánh giá hiện trạng khai thác tại khu vực rạn
Trang 2215
+ Đối tượng được điều tra: 30 ngư dân khai thác xung quanh khu rạn được lựa chọn ngẫu nhiên tại khu vực Vĩnh Hòa cách địa điểm đặt rạn 2 km; đại diện các tổ chức, ban ngành địa phương, doanh nghiệp tham gia mô hình đồng quản lý rạn (Phòng kinh tế thành phố, Ban quản lý vịnh Nha Trang, hội nông dân các phường Vĩnh Thọ, Vĩnh Hải, Vĩnh Hòa, đại diện công ty TNHH Minh Hải, chủ nhiệm đề tài KHCN cấp tỉnh) và 10 ngư dân tham gia nhóm hạt nhân bảo vệ rạn
+ Phương pháp điều tra: số liệu được thu thập bằng phương pháp phỏng vấn trực tiếp theo nội dung trong mẫu phiếu, bên cạnh đó tùy hoàn cảnh và đối tượng nhóm thực hiện có thể tiến hành phỏng vấn sâu để làm rõ thêm thông tin được phỏng vấn
+ Số lượng phiếu được điều tra: 50 phiếu (30 phiếu từ ngư dân và 20 phiếu từ đại diện các tổ chức, ban ngành địa phương có liên quan, thành viên nhóm hạt nhân bảo vệ rạn)
+ Nội dung điều tra: thông tin chung về đối tượng điều tra (họ tên, tuổi, địa chỉ, nghề nghiệp, kinh nghiệm làm việc), thông tin về hiểu biết mô hình quản lý rạn nhân tạo; thông tin về tình hình khai thác xung quanh (hình thức khai thác, đối tượng và mùa vụ khai thác), thông tin về hoạt động khai thác tại khu vực rạn (có khai thác hay không, lý do không khai thác, hình thức, đối tượng, mùa vụ và tần suất khai thác), liên
hệ của đối tượng khai thác với nhóm quản lý, đánh giá về sản lượng tại khu vực rạn; thông tin của nhóm quản lý về tình hình quản lý (còn tham gia mô hình không, quyền lợi từ mô hình, cách thức nhóm quản lý đánh giá nguồn lợi, các hình thức được phép khai thác, các hình đánh bắt trái phép bắt gặp, hình thức xử lý khi gặp đánh bắt trái phép, khó khăn và thuận lợi của mô hình, biện pháp đã áp dụng để khắc phục, đánh giá mức độ phối hợp của các bên trong mô hình)
Phương pháp xử lý số liệu: Sử dụng phần mềm Microsoft Excel để thống kê
số liệu thu thập
2.2.2 Khảo sát sự biến động về đa dạng sinh học trong khu vực rạn nhân tạo
Tiến hành lặn khảo sát thu thập số liệu về tình trạng cấu trúc rạn, thành phần loài và mật độ phân bố cá, sinh vật đáy kích thước lớn tại khu rạn Hoạt động lặn chỉ được triển khai vào những tháng có điều kiện thuận lợi, trong đề tài hoạt động lặn được triển khai vào 3 thời điểm sau: lần đầu tiên vào tháng 6 năm 2017, lần thứ hai
Trang 2316
vào tháng 5 năm 2018, lần thứ ba vào tháng 8 năm 2018 Phương pháp khảo sát kế
thừa phương pháp đã được đề tài khoa học và công nghệ cấp tỉnh“Nghiên cứu xây
dựng rạn nhân tạo tại vịnh Nha Trang nhằm bảo vệ và tái tạo nguồn lợi thủy sản” sử
dụng để khảo sát rạn trong khoảng thời gian sau 1 năm thiết lập rạn (2014-2015), cụ thể:
Phương pháp mặt cắt ngang
Phương pháp lặn quan sát theo dây mặt cắt cố định được thực hiện như mô tả
trong Điều tra nguồn lợi sinh vật trong các hệ sinh tháibiển nhiệt đới của English và
cs (1997)[18] Mỗi đợt lặn tiến hành khảo sát 2 mặt cắt (dài 100m, rộng 5m) song song với nhau trong khu vực rạn (MC N1, N2), và 4 MC vuông góc với hệ thống rạn ra xung quanh (dài 50m, rộng 5m) (MC M1, M2, M3, M4) (hình 2.1) Khi tiến hành, mỗi mặt cắt ngang được đánh dấu ở đầu cuối mỗi dây mặt cắt, bắt đầu thu thập số liệu sau khi cố định mặt cắt khoảng 15 phút Người thợ lặn bơi chậm dọc theo mặt cắt đếm số lượng và ước tính chiều dài cá thể của từng loài trong phạm vi diện tích mặt cắt Mỗi
MC đều được từng thợ lặn quan sát, thu thập số liệu, có thể kết hợp dùng camera dưới nước ghi lại tình trạng nền đáy phục vụ cho việc phân tích, đánh giá một cách chi tiết hơn
Phương pháp điểm:
Tại mỗi vị trí đặt các cụm rạn khảo sát ghi nhận số lượng và thành phần loài cá
và sinh vật đáy tập trung trong cụm rạn, kết hợp với phương pháp dùng camera dưới nước ghi hình để phục vụ cho việc phân tích, đánh giá chi tiết và chính xác hơn Tổng
số điểm khảo sát là 10 cụm rạn nhận tạo (hình 2.1)
Phương pháp phân tích và xử lý số liệu
Trang 2417
Xác định thành phần các loài chủ yếu dựa vào các tài liệu phân loại Myers (1991), Shen và cs (1993), Carcasson (1997), Allen (1997), FishBase, Nakabo (2002)[12, 21, 25, 28] Đối chiếu và xác định tên tiếng Việt theo danh mục cá biển Việt Nam của Nguyễn Hữu Phụng và cs (1994, 1995, 1997, 1999)[5-7]
- Xử lý số liệu
Sử dụng phần mềm Microsoft Excel để thống kê số liệu
Mật độ trung bình được tính theo từng nhóm kích thước cá trên diện tích mặt
rạn) vào mỗi thời điểm khảo sát
Thành phần loài bắt gặp được xác định trong khu vực khảo sát và trên từng cụm rạn
Kế thừa, so sánh những kết quả thu được với số liệu thu được từ hoạt động đánh giá hiệu quả của mô hình rạn nhân tạo trong việc bảo vệ tái tạo nguồn lợi thủy
sản từ đề tài khoa học và công nghệ“Nghiên cứu xây dựng rạn nhân tạo tại vịnh Nha
Trang nhằm bảo vệ và tái tạo nguồn lợi thủy sản” do ThS Nguyễn Văn Nhuận,
Trường Đại học Nha Trang thực hiện trong giai đoạn 2014-2015
Hình 2.1: Sơ đồ bố trí rạn và các mặt cắt được khảo sát
Trang 2518
2.2.3 Đề xuất phương án quản lý, khai thác hệ thống rạn nhân tạo
Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Phân tích bài học kinh nghiệm của các mô hình bảo tồn đa dạng sinh học biển
ở địa phương và các khu vực khác trong cả nước để cung cấp thêm cơ sở khoa học cho
việc đề xuất mô hình khai thác, quản lý vùng rạn nhân tạo
Phương pháp tổng hợp và chuyên gia
Tham vấn ý kiến của doanh nghiệp, Ban quản lý vịnh Nha Trang, trường Đại học Nha Trang, viện Hải Dương học Nha Trang nhằm thu nhận và tổng hợp ý kiến nhu cầu, phương hướng quản lý, khai thác rạn Các thông tin được tham vấn gồm: các hoạt động đang triển khai tại hệ thống rạn, sự quan tâm của doanh nghiệp đối với các chương trình rạn phục hồi hệ sinh thái, đánh giá về tiềm năng ứng dụng của các mô hình rạn nhân tạo, đề xuất ý kiến về phát triển chương trình rạn nhân tạo
Tổ chức hội thảo để thảo luận về phương án quản lý, khai thác tại khu vực rạn vào tháng 11 năm 2018 Đại biểu tham dự hội thảo bao gồm: đại diện Ban Quản lý vịnh Nha Trang, Thanh tra thủy sản thuộc Sở NN&PTNT Khánh Hòa; đại diện Chi cục Biển và Hải đảo thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường Khánh Hòa, đại diện Hội nông dân phường Vĩnh Thọ, Vĩnh Hòa; đại diện cho doanh nghiệp du lịch là công ty TNHH Hải Đăng, công ty TNHH Minh Hải, các ngư dân thuộc phường Vĩnh Thọ, Vĩnh Hòa Ngoài ra, đại diện Sở Khoa học và Công nghệ, Phòng kinh tế thành phố Nha Trang, chủ nhiệm đề tài thiết lập rạn và các thành viên nhóm hạt nhân cũng được mời tham dự Sau khi tổ chức hội thảo, phương án quản lý, khai thác tại khu vực rạn được chỉnh sửa và lấy ý kiến từ đại diện tổ chức tham gia mô hình theo phương án đề xuất để phù hợp thực tiễn
Trang 2619
CHƯƠNG III: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1 Đánh giá hiện trạng khai thác, quản lý nguồn lợi thủy sản tại khu rạn nhân tạo
3.1.1 Hiện trạng công tác quản lý tại rạn nhân tạo vịnh Nha Trang
Thống kê kết quả điều tra về nhận biết của ngư dân được điều tra về rạn nhân tạo và hoạt động quản lý tại rạn nhân tạo
Đề tài đã tiến hành điều tra 30 ngư dân địa phương về nhận biết về rạn nhân tạo
và hoạt động quản lý tại rạn nhân tạo Đây là những ngư dân có hoạt động khai thác gắn liền với vùng biển thả rạn, có độ tuổi từ 30 đến 59 tuổi, có nhiều năm làm nghề khai thác thủy sản bằng các nghề khác nhau như nghề lặn, câu, đánh lưới, thả bẫy mực Theo thống kê kết quả điều tra vào khoảng thời gian sau 1 năm đề tài thiết lập rạn kết thúc (4/2017 - 8/2017|):
+ Về tổ chức quản lý rạn, 73,3% ngư dân trả lời không biết rõ ai hay tổ chức nào quản lý rạn, 13,3% cho biết không ai quản lý rạn, 10% cho biết có 1 cá nhân thường xuyên ghé qua trông nom (hình 3.1)
Hình 3.1: Kết quả điều tra về nhận biết của ngư dân về tổ chức quản lý rạn + Về cơ sở vật chất tại mô hình bảo vệ rạn, những ngư dân biết rõ về rạn và vị trí đặt rạn (46,7%) đều cho biết đã từng thấy có bè nổi tại khu vực rạn, một số ngư dân trong nhóm này còn cho biết tại vị trí này từng có phao, bảng hiệu, đèn hiệu và cờ nhưng sau thời gian không còn; 53,3% phiếu điều tra thuộc những ngư dân không biết đến rạn hay đã từng nghe thông tin về rạn nhưng không biết vị trí đặt rạn cho biết không nắm rõ thông tin này Về hoạt động bảo vệ tại rạn, tất cả người phỏng vấn biết
rõ về vị trí bè nổi - nơi dùng để trực bảo vệ rạn - đều cho biết không ai canh gác tại bè,
1 Nhóm ngư nhân, sau
đó có 1 cá nhân trông coi
Viện KT, trường ĐH Nha Trang
Trang 27quả đề tài “Nghiên cứu xây dựng rạn nhân tạo vịnh Nha Trang nhằm tái tạo và bảo vệ
nguồn lợi thủy sản” đƣợc giao quyền sử dụng theo quyết định 2575/QĐ-UBND vào
ngày 31/8/2017, BQL Vịnh Nha Trang đã tiếp nhận khu rạn và triển khai lặn đánh giá khu vực rạn theo định kỳ 3 tháng/lần nhằm theo dõi diễn biến phục hồi hệ sinh thái trong khu vực rạn, lên kế hoạch để quản lý khai thác hợp lý khu vực này, thử nghiệm liên doanh liên kết để tham quan học tập mô hình rạn ở quy mô nhỏ
Kết quả từ thực tế quan sáttại khu vực rạn: Các trang thiết bị khác gồm phao,
neo, cờ để khoanh vùng bảo vệ tại khu vực rạn và bảng hiệu cảnh báo rạn không còn tại thời điểm sau 1 năm đề tài thiết lập rạn kết thúc (4/2017) Tại vị trí đặt rạn có 01 bè nổi đƣợc neo đậu liên tục cho đến tháng 9 năm 2017, sau đó bè nổi đƣợc kéo vào khu
Trang 2821
vực ven bờ (hình 3.2) và đến tháng 11/2017 bè bị đánh chìm do ảnh hưởng của cơn bão số 12 Sau khi toàn bộ trang thiết bị rạn bị phá hủy hoàn toàn, BQL vịnh đã triển khai tái lắp đặt lại phao nổi khoanh vùng khu vực đặt rạn
Hình 3.2: Hình ảnh bè nổi sử dụng phục vụ mô hình bảo vệ rạn: a) Bè nổi được đặt tại
vị trí thiết lập rạn; b) Bè nổi được neo đậu khu vực ven bờ vào mùa biển động
Như vậy, từ các thông tin điều tra và thực tế quan sát cho thấy, công tác quản
lý rạn đã có nhiều thay đổi so với mô hình quản lý rạn được thiết lập.Vào thời điểm điều tra (4/2017 - 8/2017), bên cạnh công tác quản lý hành chính được các cơ quan chức năng thực hiện, khu vực rạn không được duy trì trực bảo vệ mà chỉ có 1 ngư dân thường xuyên ghé qua trông coi các trang thiết bị phục vụ bảo vệ rạn còn lại Điều này dẫn đến 10% ngư dân cho rằng rạn là của 1 cá nhân quản lý, ngoài ra hoạt động trực bảo vệ rạn không còn duy trì, khu rạn cũng không được chỉ dẫn rõ ràng dẫn đến đa số ngư dân được phỏng vấn (86,6%) cho biết không biết ai quản lý rạn hoặc cho rằng không ai quản lý rạn Đến tháng 9 năm 2017, khu vực rạn được BQL vịnh Nha Trang quản lý thông qua các hoạt động lặn định kỳ 3 tháng/lần để đánh giá sự phát triển sinh vật khu rạn, dọn rác thải tại các cụm rạn, tái lắp đặt phao nổi khoanh vùng khu vực đặt rạn và triển khai các kế hoạch tái xây dựng mô hình quản lý bảo vệ rạn
3.1.2 Hiện trạng khai thác tại rạn nhân tạo vịnh Nha Trang
Rạn nhân tạo được đặt trong khu vực xung quanh có nhiều rạn tự nhiên của vịnh Nha Trang, khu vực này chịu tác động của các hoạt động khai thác thủy sản ven
bờ Theo số liệu thống kê, sản lượng khai thác của tàu công suất nhỏ ven bờ < 20 CV toàn thành phố Nha Trang năm 2017 là 1.620 tấn; số lượng tàu < 20 CV được sử dụng cho hoạt động khai thác thủy sản có khoảng 600 tàu, riêng khu vực phường Vĩnh Hòa
có 90 tàu (số liệu thống kê bởi phòng kinh tế Thành phố Nha Trang) Các hình thức
b
a
Trang 2922
khai thác thủy sản ven bờ được đăng ký gắn với các tàu thuyền công suất nhỏ < 20 CV như câu, đánh lưới cước, mành Thực tế điều tra cho thấy các hình thức đánh bắt trong khu vực vùng biển Vĩnh Hòa như lặn, đánh lưới cước, bẫy mực, lờ dây, câu, mành tôm, bẫy tôm hùm Đối với khu vực rạn, kết quả điều tra và thực tế khảo sát cho thấy các hình thức khai thác tại đây gồm nghề lặn, thả bẫy nhử tôm hùm con, đánh lưới cước, lờ dây, ngoài racòn có thể chịu tác động của các hình thức khai thác ven bờ khác Trong các hình thức khai thác, hình thức thả bẫy nhử tôm hùm và khai thác bằng
lờ dây là hai hình thức bị cấm khai thác tại khu vực vịnh Nha Trang theo Quyết định 05/2014/QĐ-UBND ngày 10 tháng 2 năm 2014 về Quy định Quản lý hoạt động khai thác thủy sản trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa Tuy nhiên, hai hình thức này vẫn đang được người dân sử dụng để khai thác tại khu vực đặt rạn nhân tạo và khu vực xung quanh (hình 3.3) Theo BQL vịnh Nha Trang, đội tuần tra đã nhiều lần tịch thu nhiều bẫy nhữ tôm hùm con của người dân được thả tại khu vực này
Hình 3.3: Hình ảnh lờ dây và bẫy nhử tôm hùm được ghi nhận tại đáy biển khu vực đặt rạn nhân tạo vịnh Nha Trang
Tùy theo hình thức khai thác, hoạt động khai thác có thể diễn ra theo mùa hoặc quanh năm, đối tượng khai thác khác nhau (bảng3.1) Nghề lặn là sinh kế của phần lớn ngư dân sống gần khu vực đặt rạn (thông tin từ Hội nông dân phường Vĩnh Hòa) và cũng là nghề được đa số người phỏng vấn sử dụng để khai thác tại khu vực rạn Đây là nghề có hoạt động khai thác ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn lợi thủy sản tại các rạn Kết quả điều tra và thực tế quan sát các loại sản phẩm được khai thác từ nghề lặn của ngư dân tập kết tại bờ biển Vĩnh Hòa cho thấy các sản phẩm khai thác bởi nghề lặn rất
đa dạng về thành phần loài bao gồm các loại hải sản sống tại rạn có giá trị thực phẩm bao gồm cá rạn, các loại thân mềm sống tại rạn, các loại sinh vật làm cảnh, các loại
Trang 3023
tôm biển, các loại san hô nhằm phục vụ cho nhu cầu thực phẩm, nuôi cảnh, nuôi làm thực phẩm hay làm đồ mỹ nghệ (hình 3.4)
Bảng 3.1: Mùa vụ và đối tượng khai thác của các loại nghề khai thác khu vực xung
quanh rạn nhân tạo vịnh Nha Trang
STT Loại nghề M a vụ hai thác ản ph m hai thác
Cá thực phẩm, cá cảnh, các loại thân mềm làm thực phẩm hay làm cảnh, cầu gai, tôm hùm, san hô
Hình 3.4: Một số loại thủy hải sản khai thác bằng phương pháp lặn được ghi nhận tại
bờ biển khu tái định cư Vĩnh Hòa
Hoạt động khai thác tại rạn nhân tạo được thực hiện không chỉ bởi những thành viên trong nhóm bảo vệ rạn hoặc những ngư dân có liên kết với thành viên nhóm Theo quy chế đã ban hành trong mô hình quản lý rạn đã thiết lập, các thành viên trong nhóm quản lý có quyền khai thác hoặc liên kết khai thác các hải sản từ khu vực được
Trang 3124
phép khai thác của khu rạn Tuy nhiên, ngoài những thành viên từng tham gia mô hình quản lý rạn, theo kết quả điều tra các hộ ngư dân, có 26,7% ngư dân được điều tra cho biết đã từng khai thác tại khu vực rạn trong đó có 20% ngư dân không có mối liên hệ nào với nhóm quản lý rạn và 6,7% ngư dân có quan hệ liên kết (quan hệ họ hàng, bạn thuyền) với thành viên nhóm quản lý tham gia khai thác tại rạn
Hoạt động khai thác tại rạn không được quản lý nên không có thông tin ghi chép về các hình thức khai thác hủy diệt đã từng bắt gặp trong khu vực rạn, kích cỡ và đối tượng được đánh bắt, sản lượng khai thác tại rạn Tuy nhiên, theo đánh giá chung của những người đã từng khai thác tại khu vực rạn, khu vực này tập trung nhiều sinh vật hơn khu vực đáy cát xung quanh nhưng sản lượng vẫn rất thấp Theo các ngư dân
đã từng đánh bắt tại rạn cho biết họ không thường xuyên đánh bắt tại đây, chỉ thỉnh thoảng ghé qua hay khai thác vài lần/tháng vì khu vực này không có nhiều sản phẩm
để khai thác
Ngoài hoạt động khai thác thủy sản, một số ngư dân cho biết khu vực rạn thỉnh thoảng có khách du lịch đến đây để tiến hành câu cá hoặc lặn giải trí Theo BQL vịnh Nha Trang, BQL vịnh đang liên kết với một số doanh nghiệp du lịch thử nghiệm đưa khách du lịch đến rạn để tham quan học tập ở quy mô nhỏ lẻ
Như vậy, các hoạt động khai thác tại khu vực rạn bao gồm khai thác thủy sản và khai thác phục vụ du lịch Hoạt động khai thác thủy sản tại khu rạn đang diễn ra mà không có bất kỳ hình thức giới hạn hay kiểm soát đánh bắt nào Điều này có thể gây ra nguy cơ về khai thác quá mức tại khu vực rạn, đặc biệt là đối với các đối tượng có giá trị kinh tế Các hoạt động du lịch tại rạn hiện chỉ mang tính thử nghiệm, quy mô nhỏ tuy nhiên các hình thức khai thác du lịch được triển khai cho thấy tiềm năng khai thác
Trang 3225
Hệ thống rạn nhân tạo vịnh Nha Trang được cấu tạo từ các đơn vị rạn bằng vật liệu bê tông cốt thép có dạng hình trụ tròn, hình lập phương và hình nón cụt Qua kết quả khảo sát, các rạn nhìn chung ổn định về độ bền, tuy nhiên có một số rạn hình lập phương có hiện tượng gãy ở các góc, với tỷ lệ chiếm khoảng 10%, được ghi nhận chủ yếu vào đợt khảo sát tháng 5 năm 2018 Hầu hết các rạn bị sự hư hỏng này trước đây được xếp nằm ở trên các rạn hình nón và hình trụ tròn Ngoài ra, đợt lặn vào tháng 5 năm 2017 cũng ghi nhận một số cụm rạn (có 12 đơn vị rạn) bị ngã đổ không đảm bảo cấu trúc 3 tầng như thiết kế Sự hư hỏng này có thể do tác động của ngoại cảnh như sóng biển Trong năm 2017 có cơn bão số 12 tác động đến vùng biển vịnh Nha Trang, đây có thể là nguyên nhân chính gây ra cho sự hư hỏng này (Hình 3.5)
Hình 3.5: Rạn hình lập phương bị gãy đổ
3.2.1.2 Hiện trạng bồi đắp trầm tích tại khu vực rạn
Trầm tích ở khu vực rạn nhân tạo chủ yếu là cát và cát bùn, cát có màu vàng hơi nâu Qua quan sát và đo bề dày của lớp trầm tích bề mặt đáy biển trong đợt khảo sát tháng 6 năm 2017 cho thấy lớp trầm tích có độ dày không đồng đều, tùy từng khu rạn, tuy nhiên trung bình là khoảng từ 10-15cm tính từ chân rạn (hình 3.6) So với khảo sát vào tháng 6 năm 2015 có sự gia tăng lớp trầm tích với tỷ lệ từ 1,25% tới 1,43% Tuy nhiên, kết quả khảo sát vào tháng 5 năm 2018 và tháng 8 năm 2018, lớp trầm tích vẫn duy trì độ dày khoảng 10-15 cm tính từ chân rạn, trầm tích có sự xê dịch không đồng đều hoặc không theo quy luật tăng giảm nhất định ở các khu rạn Điều này cho thấy sự bồi lắp trầm tích tại khu vực rạn chịu ảnh hưởng của các yếu tố tự nhiên như dòng chảy, sóng biển Ngoài ra, từ 2015 đến năm 2017, khu vực ven bờ biển phía bắc vịnh thường xuyên có hoạt động san lấp mặt bằng, điều này đã ít nhiều gia tăng sự bồi lấp trầm tích trong khu vực
Trang 3326
Hình 3.6: Bồi tích tại khu vực rạn
3.2.2 Kết quả khảo sát mức độ đa dạng sinh học tại rạn nhân tạo vịnh Nha Trang 3.2.2.1 Hiện trạng cá tại khu rạn
cá bướm (Chaetodontidae) mỗi họ có 5 loài,… (Bảng 3.2)
Bảng 3.2: Số lượng loài của các họ cá tại rạn nhân tạo
Trang 34Các loài cá quan sát được tại các mặt cắt chủ yếu là các loài có kích thước nhỏ
thuộc họ cá thia (Pomacentridae), cá sơn Apogonidae, cá phèn sọc đen (Upeneus
tragula), cá giò (Siganus canaliculatus)
Đối với cụm rạn, thành phần loài cá phân bố tại các cụm rạn có sự khác nhau Trong đó, cụm rạn A01 và A02 có số lượng loài tập trung cao nhất trên gần 50 loài cá, cụm rạn A05 và A08 có thành phần loài thấp nhất, lần lượt là 28 và 27 loài (hình 3.7)
Hình 3.7: Số lượng loài cá được ghi nhận tại các cụm rạn trong các đợt khảo sát
A01 A02 A03 A04 A05 A06 A07 A08 A09 A10
ố lượng loài cá phân bố tại các cụm rạn