Để đáp ứng đẩy đủ những nhu cầu cũng như để các doanh nghiệp thực hiện hành vi kinh doanh thật hiệu quả, cạnh tranh lành mạnh pháp luật nước ta cũng đã đề ra những quy định về điều kiện
Trang 1Đặt vấn đề
Ngày nay khi nền kinh tế thị trường đang ngày càng phát triển thì đòi hỏi phải có một khung pháp luật hoàn chỉnh để điểu chỉnh tốt hơn những mối quan hệ phát sinh trong xã hội Xã hội ngày càng phát triển, hàng loạt những nghành nghề kinh doanh cũng ra đời Để đáp ứng đẩy đủ những nhu cầu cũng như để các doanh nghiệp thực hiện hành vi kinh doanh thật hiệu quả, cạnh tranh lành mạnh pháp luật nước ta cũng đã đề ra những quy định về điều kiện kinh doanh và chứng chỉ hành nghề cho một số loại hình kinh doanh cần thiết Vậy điều kiện kinh doanh và chứng chỉ hành nghề là gì? chúng ta hãy cùng tìm hiểu qua bài tiểu luận này
Giải quyết vấn đề 1) Khái quát chung về điều kiện kinh doanh và chứng chỉ hành nghề
1.1 Điều kiện kinh doanh
Theo quy định tại Khoản 2, Điều 7 Luật doanh nghiệp 2005, điều kiện
kinh doanh được hiểu là:
2 Đối với ngành, nghề mà pháp luật về đầu tư và pháp luật có liên quan quy định phải có điều kiện thì doanh nghiệp chỉ được kinh doanh ngành nghề đó khi có đủ điều kiện theo quy định
Điều kiện kinh doanh là yêu cầu mà doanh nghiệp phải có hoặc phải thực hiện khi kinh doanh ngành, nghề cụ thể, được thể hiện bằng giấy phép kinh doanh, chứng chỉ hành nghề, chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp, yêu cầu
về vốn pháp định hoặc yêu cầu khác.
Ngoài ra, điều kiện kinh doanh còn được quy định ở:
Điều 8 Ngành, nghề kinh doanh có điều kiện và điều kiện kinh doanh NGHỊ ĐỊNH: 102/2010/NĐ-CP Hướng dẫn chi tiết thi hành một số điều của Luật Doanh nghiệp.
1 Ngành, nghề kinh doanh có điều kiện và điều kiện kinh doanh áp dụng theo các quy định của các luật, pháp lệnh, nghị định chuyên ngành hoặc quyết định
Trang 2có liên quan của Thủ tướng Chính phủ (sau đây gọi chung là pháp luật chuyên ngành).
2 Điều kiện kinh doanh được thể hiện dưới các hình thức:
a) Giấy phép kinh doanh;
b) Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh;
c) Chứng chỉ hành nghề;
d) Chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp;
đ) Xác nhận vốn pháp định;
e) Chấp thuận khác của cơ quan nhà nước có thẩm quyền;
g) Các yêu cầu khác mà doanh nghiệp phải thực hiện hoặc phải có mới được quyền kinh doanh ngành, nghề đó mà không cần xác nhận, chấp thuận dưới bất kỳ hình thức nào của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
3 Các quy định về loại ngành, nghề kinh doanh có điều kiện và điều kiện kinh doanh đối với ngành, nghề đó tại các văn bản quy phạm pháp luật khác ngoài các loại văn bản quy phạm pháp luật đã nêu tại khoản 1 Điều này đều không
có hiệu lực thi hành.
Như vậy pháp luật nước ta quy định rất rõ vấn đề, đây là điều kiện cần thiết mà một doanh nghiệp kinh doanh cần phải có để đảm bảo cho hoạt động kinh doanh đạt hiệu quả và không vi phạm pháp luật, đảm bảo một môi trường kinh doanh lành mạnh Những hình thức của điều kiện kinh doanh trên nhằm làm cho doanh nghiệp có tư cách pháp lý đầy đủ trong hoạt động kinh doanh Thúc đẩy mọi doanh nghiệp hoạt động kinh doanh hiệu quả, thu hút một lượng lớn đầu tư nước ngoài và giải quyết được nhiều khó khăn trong xã hội hiện nay như thất nghiệp, các tệ nạn….Một doanh nghiệp khi mới thành lập bắt buộc phải có điều kiện kinh doanh, khi đó doanh nghiệp mới đủ tư cách pháp lý để
đi vào hoạt động Những hình thức trên là những cái cần thiết phải có của một doanh nghiệp, nếu doanh nghiệp không đủ điều kiện kinh doanh thì sẽ bị giải thể hoặc bị ngừng hoạt động kinh doanh Pháp luật nước ta quy định rất rõ về
Trang 3vấn đề này, để tránh xảy ra những tranh chấp cũng như những hậu quả đáng tiếc cho mỗi loại hình doanh nghiệp Đây là tiêu chi đầu tiên để đánh giá một doanh nghiệp có đủ tư cách hoạt động hay không? Làm cho các nhà đầu tư cảm thấy yên tâm khi đẩu tư và cũng làm cho người lao động có được một chỗ làm ổn định để giải quyết những khó khăn trong cuộc sống
1.2 Chứng chỉ hành nghề
Theo quy định ở NGHỊ ĐỊNH: 102/2010/NĐ-CP Hướng dẫn chi tiết thi hành một số điều của Luật Doanh nghiệp.
Điều 9 Ngành, nghề kinh doanh phải có chứng chỉ hành nghề
1 Chứng chỉ hành nghề quy định tại khoản 2 Điều 7 của Luật Doanh nghiệp
là văn bản mà cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam hoặc hiệp hội nghề nghiệp được Nhà nước ủy quyền cấp cho cá nhân có đủ trình độ chuyên môn và kinh nghiệm nghề nghiệp về một ngành, nghề nhất định.
Chứng chỉ hành nghề được cấp ở nước ngoài không có hiệu lực thi hành tại Việt Nam, trừ trường hợp pháp luật chuyên ngành hoặc Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên có quy định khác.
2 Ngành, nghề kinh doanh phải có chứng chỉ hành nghề và điều kiện cấp chứng chỉ hành nghề tương ứng áp dụng theo quy định của pháp luật chuyên ngành có liên quan.
3 Đối với doanh nghiệp kinh doanh ngành, nghề phải có chứng chỉ hành nghề theo quy định của pháp luật, việc đăng ký kinh doanh hoặc đăng ký bổ sung ngành, nghề kinh doanh đó phải thực hiện theo quy định dưới đây:
a) Đối với doanh nghiệp kinh doanh ngành, nghề mà pháp luật yêu cầu Giám đốc doanh nghiệp hoặc người đứng đầu cơ sở kinh doanh phải có chứng chỉ hành nghề, Giám đốc của doanh nghiệp hoặc người đứng đầu cơ sở kinh doanh đó phải có chứng chỉ hành nghề.
b) Đối với doanh nghiệp kinh doanh ngành, nghề mà pháp luật yêu cầu Giám đốc và người khác phải có chứng chỉ hành nghề, Giám đốc của doanh nghiệp
Trang 4đó và ít nhất một cán bộ chuyên môn theo quy định của pháp luật chuyên ngành đó phải có chứng chỉ hành nghề.
c) Đối với doanh nghiệp kinh doanh ngành, nghề mà pháp luật không yêu cầu Giám đốc hoặc người đứng đầu cơ sở kinh doanh phải có chứng chỉ hành nghề, ít nhất một cán bộ chuyên môn theo quy định của pháp luật chuyên ngành đó phải có chứng chỉ hành nghề.
Khi một chứng chỉ hành nghề được đưa vào văn bản quy phạm pháp luật là hàng loạt lớp bồi dưỡng, tập huấn về chuyên môn để cấp chứng chỉ hành nghề được tổ chức và không ít doanh nghiệp sẽ không được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh nếu chưa có các chứng chỉ hành nghề theo quy định.Vậy chứng chỉ hành nghề là gì? Nó có vai trò quan trọng như thế nào đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp?
Ở các nước phát triển, chứng chỉ hành nghề cũng được cấp cho khá nhiều nghề được coi là “nhạy cảm” như ở nước ta Song, quan niệm về chứng chỉ hành nghề ở đó lại không như ở nước ta
Trước hết, chứng chỉ hành nghề không phải là một “giấy chứng nhận” về trình độ chuyên môn của người hành nghề Bởi lẽ, chứng chỉ hành nghề chỉ được cấp cho những người đã qua đào tạo ở các cơ sở đào tạo quốc gia (trường trung cấp, cao đẳng, dạy nghề, đại học, sau đại học) và cả những người đã hành nghề lâu năm, không có vi phạm pháp luật
Do đó, bằng tốt nghiệp của các cơ sở đào tạo (trừ trường hợp bằng giả
và bằng thật nhưng học giả) và quá trình công tác mới là chứng chỉ xác nhận trình độ chuyên môn của người hành nghề Chứng chỉ hành nghề chỉ là một trong những công cụ để quản lý, giám sát việc thực hiện đạo đức nghề nghiệp của người hành nghề
Thứ hai, chứng chỉ hành nghề cũng là công cụ để người hành nghề phải thường xuyên học tập nâng cao trình độ chuyên môn, cập nhật những thông tin
Trang 5mới về tiến bộ khoa học - kỹ thuật và các quy định của pháp luật trong lĩnh vực hành nghề của mình.Với quan niệm như trên, việc cấp chứng chỉ hành nghề ở các nước phát triển khá đơn giản
Một người đã qua đào tạo và được cấp bằng, sau thời gian thử việc phải đến hội nghề nghiệp xin gia nhập hội và được hội cấp chứng chỉ hành nghề Chứng chỉ hành nghề đó là một trong những điều kiện không thể thiếu để các doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức ký hợp đồng lao động chính thức
Chứng chỉ hành nghề thường có thời hạn ngắn từ 1-3 năm tùy theo thâm niên của người hành nghề Người được cấp chứng chỉ hành nghề phải tuân thủ quy định về đạo đức nghề nghiệp và hàng năm phải tham gia lớp bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, cập nhật thông tin mới trong lĩnh vực hành nghề Nếu vi phạm một trong những quy định đó có thể bị thu hồi chứng chỉ hành nghề hoặc không được cấp lại và sẽ không được tiếp tục hành nghề
Như vậy, có thể thấy rằng, chứng chỉ hành nghề là loại chứng chỉ cấp cho cá nhân hành nghề, không cấp cho pháp nhân, cơ quan, tổ chức, không phải là một điều kiện kinh doanh
* Sự nhầm lẫn và hậu quả
Ở nước ta đã có sự nhầm lẫn về chứng chỉ hành nghề và sự nhầm lẫn đó
đã gây ra những hậu quả nghiêm trọng, ảnh hưởng xấu tới môi trường kinh doanh
Trước hết, các cơ quan quản lý nhà nước đã biến chứng chỉ hành nghề thành một “siêu bằng” về trình độ chuyên môn Các lớp “tập huấn, bồi dưỡng trình độ chuyên môn” ngắn hạn từ 1-3 tháng, các kỳ “thi tuyển” để cấp chứng chỉ hành nghề được tổ chức Và chỉ khi có chứng chỉ hành nghề ấy, người có nghề mới được hành nghề bất kể người đó đã được đào tạo nghề ở đâu, được cấp bằng ở trường đào tạo nào
Trang 6Vì vậy, rất nhiều tiến sĩ chuyên ngành về kế toán, không ít kế toán trưởng đã có hàng chục năm công tác nhưng không được hành nghề kế toán vì chưa tham gia học và “thi tuyển” để được cấp chứng chỉ hành nghề kế toán Lẽ
ra, chứng chỉ hành nghề do hội nghề nghiệp cấp cho tất cả những người hành nghề để quản lý, giám sát việc tuân thủ đạo đức nghề nghiệp của họ thì chúng
ta lại “thi tuyển” để cấp chứng chỉ hành nghề
Do đó, chỉ một số rất ít những người đang hành nghề được cấp chứng chỉ hành nghề, đại đa số những người đang hành nghề lại không được cấp chứng chỉ hành nghề Do đó, những vi phạm về đạo đức nghề nghiệp, sự lạc hậu về trình độ chuyên môn của người hành nghề đã và đang xảy ra một cách phổ biến
Thứ hai, chứng chỉ hành nghề đã trở thành một điều kiện kinh doanh -một “giấy phép con siêu hạng” Chẳng hạn, điều kiện năng lực của tổ chức tư vấn khi giám sát thi công xây dựng công trình hạng 1 là: “Có ít nhất 20 người
có chứng chỉ hành nghề giám sát thi công xây dựng công trình thuộc các chuyên ngành phù hợp” hoặc đối với doanh nghiệp dịch vụ kế toán phải “có ít nhất hai người có chứng chỉ hành nghề kế toán hoặc chứng chỉ kiểm toán viên
do Bộ Tài chính cấp, trong đó giám đốc doanh nghiệp phải là người có chứng chỉ hành nghề kế toán hoặc chứng chỉ kiểm toán viên từ hai năm trở lên”
Thứ ba, do quy định rất khắt khe về việc cấp chứng chỉ hành nghề nên phần lớn những người đang hành nghề lại không có chứng chỉ hành nghề, thậm chí, không ít doanh nghiệp không đủ “điều kiện kinh doanh” theo quy định vẫn thực hiện các hoạt động kinh doanh Không ai xử lý những vi phạm
đó Vì vậy, những quy định đã ban hành trở thành hình thức và là kẽ hở cho tham nhũng, sách nhiễu phát sinh trong thực tiễn
Sự nhầm lẫn về chứng chỉ hành nghề như nêu trên đã gây ra những hậu quả nghiêm trọng Phần lớn những người đang hành nghề không được cấp chứng chỉ hành nghề do đó không ai quản lý Những vi phạm về đạo đức nghề
Trang 7nghiệp trong hành nghề tư vấn giám sát, khám chữa bệnh, kế toán, kiểm toán, kinh doanh bất động sản ở nước ta đã ở trong tình trạng “báo động đỏ”
Chứng chỉ hành nghề trở thành một trong những điều kiện kinh doanh
đã và đang trở thành một rào cản lớn đối với công dân khi gia nhập thị trường Chẳng hạn, với quy định về điều kiện kinh doanh của doanh nghiệp dịch vụ kế toán tại Thông tư số 72/2007/TT-BTC, một số doanh nghiệp dịch vụ kế toán
đã phải ngừng hoạt động Nghiêm trọng hơn, đã có doanh nghiệp, chủ doanh nghiệp - người đầu tư vốn thành lập doanh nghiệp - hoàn toàn mất quyền điều hành doanh nghiệp và chỉ sau vài năm, doanh nghiệp đã trên bờ vực phá sản
Như vậy, chúng ta cần cần thay đổi cơ bản nhận thức về chứng chỉ hành nghề Chứng chỉ hành nghề được cấp cho tất cả các cá nhân đã được đào tạo chuyên môn về nghề nghiệp với những điều kiện nhất định; chấm dứt việc “thi tuyển” để cấp chứng chỉ hành nghề; nâng cao vai trò của các hội nghề nghiệp trong việc giám sát việc thực hiện đạo đức nghề nghiệp và bồi dưỡng nâng cao kiến thức, cập nhật thông tin cho người hành nghề; chứng chỉ hành nghề không được coi là một điều kiện kinh doanh của một doanh nghiệp
2 Điều kiện kinh doanh của một lĩnh vực kinh doanh cụ thể - điều kiện kinh doanh nghề thuốc
Một người muốn kinh doanh nghề thuốc thì cần phải có những điều kiện kinh doanh như sau:
Nghị định số 79/2006/NĐ-CP ngày 09/08/2006 - Mục 2: Điều kiện và thủ tục cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh thuốc
Điều 20 Đối tượng được cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh thuốc
Trang 81 Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh thuốc được cấp cho các cơ sở kinh doanh thuốc đáp ứng các điều kiện đối với từng hình thức kinh doanh thuốc theo quy định tại Chương này
2 Cơ sở kinh doanh thuốc chỉ được hoạt động theo đúng địa điểm và phạm vi kinh doanh quy định trong Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh thuốc
Điều 21 Điều kiện đối với cơ sở sản xuất thuốc
1 Người quản lý chuyên môn về dược phải có Chứng chỉ hành nghề dược phù hợp với từng hình thức tổ chức kinh doanh của cơ sở sản xuất
2 Cơ sở vật chất, kỹ thuật và nhân sự của cơ sở sản xuất thuốc phải đạt tiêu chuẩn về Thực hành tốt sản xuất thuốc theo lộ trình triển khai áp dụng các tiêu chuẩn thực hành tốt nêu tại Điều 27 Nghị định này
Điều 22 Điều kiện cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh thuốc đối với cơ sở bán buôn thuốc
1 Người quản lý chuyên môn về dược phải có Chứng chỉ hành nghề dược phù hợp với từng hình thức tổ chức kinh doanh của cơ sở bán buôn
2 Cơ sở vật chất, kỹ thuật và nhân sự của cơ sở bán buôn thuốc phải đạt tiêu chuẩn về Thực hành tốt phân phối thuốc theo lộ trình triển khai áp dụng các tiêu chuẩn thực hành tốt nêu tại Điều 27 Nghị định này
Điều 23 Điều kiện cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh thuốc đối với cơ sở bán lẻ thuốc
1 Chủ cơ sở bán lẻ thuốc phải có Chứng chỉ hành nghề dược phù hợp với từng hình thức tổ chức kinh doanh của cơ sở bán lẻ
Trang 92 Cơ sở vật chất, kỹ thuật và nhân sự của cơ sở bán lẻ thuốc phải đạt tiêu chuẩn về Thực hành tốt nhà thuốc theo lộ trình triển khai áp dụng các tiêu chuẩn thực hành tốt nêu tại Điều 27 Nghị định này
Điều 24 Điều kiện cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh thuốc đối với doanh nghiệp xuất khẩu, nhập khẩu thuốc
1 Các doanh nghiệp sản xuất, doanh nghiệp bán buôn thuốc có Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh thuốc và có kho thuốc đạt tiêu chuẩn về Thực hành tốt bảo quản thuốc, được phép nhập khẩu thuốc theo quy định của pháp luật về dược, quy định của Bộ Y tế và các quy định pháp luật có liên quan
2 Các doanh nghiệp có Giấy chứng nhận đủ điều kinh doanh thuốc được phép xuất khẩu thuốc
Điều 25 Điều kiện cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh thuốc đối với doanh nghiệp làm dịch vụ bảo quản thuốc
1 Người quản lý chuyên môn về dược phải có Chứng chỉ hành nghề dược phù hợp với hình thức doanh nghiệp làm dịch vụ bảo quản thuốc
2 Cơ sở vật chất, kỹ thuật và nhân sự của doanh nghiệp làm dịch vụ bảo quản thuốc phải đạt tiêu chuẩn về Thực hành tốt bảo quản thuốc theo lộ trình triển khai áp dụng các tiêu chuẩn thực hành tốt nêu tại Điều 27 Nghị định này
Điều 26 Điều kiện cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh thuốc đối với doanh nghiệp làm dịch vụ kiểm nghiệm thuốc
1 Người quản lý chuyên môn về dược phải có Chứng chỉ hành nghề dược phù hợp với hình thức doanh nghiệp làm dịch vụ kiểm nghiệm thuốc
2 Cơ sở vật chất, kỹ thuật và nhân sự của doanh nghiệp làm dịch vụ kiểm nghiệm thuốc phải đạt tiêu chuẩn về Thực hành tốt kiểm nghiệm thuốc theo lộ
Trang 10trình triển khai áp dụng các tiêu chuẩn thực hành tốt nêu tại Điều 27 Nghị định này
Điều 27 Lộ trình triển khai áp dụng các tiêu chuẩn về thực hành tốt
Bộ trưởng Bộ Y tế quy định lộ trình triển khai áp dụng các tiêu chuẩn về thực hành tốt trong sản xuất, phân phối, bảo quản, nhà thuốc, kiểm nghiệm thuốc và nuôi trồng, thu hoạch và chế biến dược liệu
Điều 28 Hồ sơ đề nghị cấp, bổ sung, gia hạn, cấp lại, đổi Giấy chứng nhận
đủ điều kiện kinh doanh thuốc
1 Hồ sơ đề nghị cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh thuốc, bao gồm:
a) Đơn đề nghị cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh thuốc;
b) Bản sao hợp pháp Chứng chỉ hành nghề dược của người quản lý chuyên môn về dược phù hợp với hình thức tổ chức kinh doanh; bản sao hợp pháp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh;
c) Bản kê khai danh sách nhân sự, trang thiết bị chuyên môn, cơ sở vật chất kỹ thuật;
d) Đối với đại lý bán thuốc cho doanh nghiệp kinh doanh thuốc, đại lý bán vắc xin, sinh phẩm y tế cho doanh nghiệp sản xuất vắc xin, sinh phẩm y tế, ngoài các giấy tờ quy định tại các điểm a, b, c còn phải có bản sao hợp pháp hợp đồng đại lý giữa doanh nghiệp mở đại lý và người đứng đầu của đại lý
2 Hồ sơ đề nghị bổ sung phạm vi kinh doanh trong Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh thuốc, bao gồm:
a) Đơn đề nghị bổ sung phạm vi kinh doanh thuốc;
b) Bản sao hợp pháp Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh thuốc đã cấp;