1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận chính sách can thiệp giá của chính phủ nhằm bình ổn giá thép

22 2,7K 26
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tiểu luận chính sách can thiệp giá của chính phủ nhằm bình ổn giá thép
Người hướng dẫn TS. Hay Sinh
Trường học Nhóm 6 - Kinh Tế Việt Nam
Thể loại tiểu luận
Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 270,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

KHÁI NIỆM CẦU VÀ SỐ CẦU 1.1 Khái niệm cầu Cầu đối với một loại hàng hóa nào đó là số lượng của loại hàng hóa đó mà người muamuốn mua tại mỗi mức giá chấp nhận được trong một thời gian n

Trang 1

CHƯƠNG 1 CUNG CẦU HÀNG HÓA VÀ GIÁ CẢ THỊ TRƯỜNG

1 KHÁI NIỆM CẦU VÀ SỐ CẦU

1.1 Khái niệm cầu

Cầu đối với một loại hàng hóa nào đó là số lượng của loại hàng hóa đó mà người muamuốn mua tại mỗi mức giá chấp nhận được trong một thời gian nhất định nào đó tại một địađiểm nhất định

Số lượng của một loại hàng hóa nào đó mà người mua muốn mua ứng với một mức giá

nhất định được gọi là lượng cầu của hàng hóa đó tại mức giá đó

1.2 Hàm số cầu và đường cầu

Khi giá tăng thì số cầu giảm đi và ngược lại Vì vậy, với giả định là các yếu tố khác làkhông đổi, ta có thể biểu diễn số cầu đối với một hàng hóa nào đó như là một hàm số của giácủa chính hàng hóa đó như sau:

QD = f(P

Hàm số biểu diễn mối quan hệ giữa số cầu của một mặt hàng và giá của nó, như hàm

số (2.1), được gọi là hàm số cầu Hàm số cầu thường có dạng:

Trang 2

1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến cầu đối với hàng hóa

 Thu nhập của người tiêu dùng

 Giá cả của hàng hóa có liên quan

 Giá cả của chính loại hàng hóa đó trong tương lai

 Thị hiếu của người tiêu dùng

 Quy mô thị trường

 Các yếu tố khác

2 KHÁI NIỆM CUNG VÀ SỐ CUNG

2.1 Khái niệm cung

Cung của một loại hàng hóa nào đó chính là số lượng của loại hàng hóa đó mà ngườibán muốn bán ra thị trường trong một khoảng thời gian nhất định ứng với mỗi mức giá tại mộtđịa điểm nhất định nào đó

Giá càng cao lượng cung sẽ càng lớn và ngược lại giá càng thấp lượng cung sẽ

càng giảm

2.2 Hàm số cung và đường cung

Số lượng cung của một hàng hóa, dịch vụ nào đó phụ thuộc vào giá của hàng hóa dịch

vụ đó Số cung của một hàng hóa, dịch vụ nào đó cũng phụ thuộc vào một số các nhân tốkhác Giả sử ta xem các nhân tố này là không đổi thì số cung cũng là một hàm số của giá,nhưng khác với cầu số cung đồng biến với giá Ta có thể thiết lập được hàm số cung nhưsau:

Trang 3

Đường cung cũng có thể được vẽ là một đường thẳng nhưng có độ dốc đi lên Như vậy, độdốc của đường biểu diễn cung và cầu ngược chiều nhau.

· Đường cung thường có hướng dốc lên từ trái sang phải; và

· Đường cung không nhất thiết là một đường thẳng

2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến đường Cung

+Trình độ công nghệ được sử dụng

+ Giá cả của các yếu tố đầu vào

+Giá cả của mặt hàng đó trong tương lai (dự báo)

+Chính sách thuế và các quy định của chính phủ

+Điều kiện tự nhiên và các yếu tố khách quan khác

3 TRẠNG THÁI CÂN BẰNG CỦA THỊ TRƯỜNG

Giá cả và số lượng hàng hóa được mua bán trên thị trường được hình thành qua sự tácđộng qua lại giữa cung và cầu

Trên hình 2.6, đường cầu và đường cung cắt nhau tại điểm E Điểm E được gọi

là điểm cân bằng của thị trường; tương ứng với điểm cân bằng E, ta có giá cả cân bằng

và số lượng cân bằng Giá cân bằng là mức giá mà tại đó số cầu bằng số cung.

Thị trường có xu hướng tồn tại ở điểm cân bằng E Nếu do một lý do nào đó, giá cả

trên thị trường cao hơn giá cân bằng PE, số lượng hàng hóa cung ra trên thị trường sẽ lớn hơn số cầu đối với hàng hóa đó Khi đó, trên thị trường xuất hiện tình trạng dư cung hay

thừa hàng hóa (cung lớn hơn cầu) Vì thế, để bán được hàng các nhà cung ứng sẽ có xu hướnggiảm giá Giá cả giảm làm cho lượng cung cũng giảm theo và lượng cầu tăng lên Kết quả là

Trang 4

giá cả hàng hóa sẽ giảm dần đến giá cân bằng PE và số lượng bán ra trên thị trường sẽ dịch chuyển về Q E.

Ngược lại, nếu như giá cả thấp hơn giá cân bằng thì sẽ xảy ra hiện tượng

cầu lớn hơn cung hay thiếu hàng hóa Như thế, giá cả sẽ tăng dần đến giá cân bằng PE và số hàng hóa được bán ra trên thị trường sẽ dịch chuyển về QE Sự hình thành giá cả của hàng hóa, dịch vụ trên thị trường như được mô tả ở trên được gọi là cơ chế thị trường.

4 MỘT SỐ ỨNG DỤNG CỦA LÝ THUYẾT CUNG CẦU

4.1 Sản xuất ra cái gì, như thế nào và cho ai?

Thị trường quyết định bao nhiêu sản phẩm sẽ được sản xuất thông qua mức giá mà tại đólượng cầu bằng với lượng cung Cầu đối với một loại hàng hóa càng cao (đường cầu càng xa

về phía phải) sẽ dẫn đến giá càng cao Thị trường cũng cho chúng ta biết hàng hóa được sảnxuất cho ai Hàng hóa được sản xuất cho những người có thể sẵn sàng trả một số tiền, ít nhất,bằng với mức giá cân bằng trên thị trường Qua đó, nó cũng cho chúng ta biết những nhà sảnxuất trên thị trường là những người có thể cung tại mức giá cân bằng

Một hàng hóa sẽ không được sản xuất nếu cung và cầu của nó không đạt được sự cânbằng

4.2 Tác động của thuế

Người (mua hay bán) có độ co giãn thấp hơn thì sẽ phải chịu thuế nhiều hơn

Trang 5

4.3 Chính sách hạn chế cung

Đối với những hàng hóa, dịch vụ thiết yếu, cầu thường rất kém co giãn Để bảo hộnhững ngành sản xuất này, chính phủ thường áp dụng chính sách hạn chế cung Chính phủ cóthể khuyến khích các nhà sản xuất giảm sản lượng đến một mức nhất định vừa đủ đáp ứngnhu cầu để giữ giá ở mức cao, có lợi cho nhà sản xuất Bởi vì cầu kém co giãn, một sự thayđổi nhỏ của cung sẽ dẫn đến một sự thay đổi lớn của giá cả

4.4 Quy định giá cả bằng luật pháp

Trong cơ chế thị trường, hầu hết các hàng hóa đều được định giá dựa trên quan hệcung - cầu Tuy nhiên, do những mục tiêu điều tiết vĩ mô nhất định, sự can thiệp của chínhphủ vào thị trường là điều không thể tránh khỏi Bên cạnh việc trợ cấp, đánh thuế, các chính

phủ còn can thiệp trực tiếp vào thị trường bằng các biện pháp kiểm soát giá Đó là những quy

định và luật lệ của chính phủ cản trở việc hàng hoá, dịch vụ được mua bán ở giá cân bằng trênthị trường Các biện pháp kiểm soát giá có thể là giá trần hay giá sàn

Giá trần là mức giá cao nhất mà hàng hóa, dịch vụ được cho phép bán và giá sàn là mức giá thấp nhất mà hàng hóa, dịch vụ được cho phép bán

Việc ban hành chính sách giá trần cần phải đi kèm với những biện pháp giải quyết hậuquả của nó bằng việc áp dụng các biện pháp sau:

Bán hàng theo tem phiếu: chỉ có những người có tem phiếu mới được mua hàng Hạn chế khẩu phần: mỗi người tiêu dùng chỉ được mua một số lượng hàng hóa nhất

định chỉ đủ để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của mình

Dùng quỹ dự trữ quốc gia hay nhập khẩu từ nước ngoài: chính phủ có thể mở quỹ dự

trữ hay nhập khẩu để bù đắp lượng thiếu hụt trên thị trường

Trang 6

5 LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN LÝ GIÁ CẢ:

5.1 Quản lý giá cả và ảnh hưởng của nó đối với nền kinh tế:

Quản lý giá cả (price control) là việc nhà nước đặt ra một số ràng buộc đối với doanhnghiệp trong việc xác định mức giá bán hàng hóa, cụ thể các hình thức quản lý như sau:

+ Nhà nước ấn định mức giá thay cho doanh nghiệp

+ Nhà nước có thể xác định mức giá trần

+ Nhà nước ấn định mức lợi tức cao nhất mà doanh nghiệp đạt được Cụ thể, nhà nướcdựa vào báo cáo của doanh nghiệp về chi phí sản xuất để xác định mức “giá thành”, từ đó Nhànước đặt điều kiện cho doanh nghiệp không được tính giá cao hơn mức giá thành cộng vớimột tỉ lệ lợi tức hợp pháp

Cụ thể ở Việt Nam, trong tình huống nền kinh tế lạm phát, Chính phủ thực hiện siếtchặt quản lý kinh doanh tín dụng của ngân hàng (thí dụ như nâng mức dự trữ bắt buộc, đặt rahạn mức tăng trưởng tín dụng hằng năm) và nâng lãi suất cơ bản Nhà nước lại tiếp tục trợ cấpcho một số mặt hàng như xăng dầu để giữ giá trong nước ổn định (trong khi giá xăng dầu thếgiới tăng đột biến)

5.2 Vai trò của các chính phủ đối với sự bình ổn giá

Khi nền kinh tế đang có sự bất ổn về cung cầu, giá cả tăng đột biến so với cầu hànghóa đặc biệt là các mặt hàng thiết yếu thì lúc này vai trò bình ổn giá của Chính phủ rất quantrọng Chính phủ sẽ ban hành và thực hiện các chính sách điều tiết nhanh chóng và kịp thời sovới tình hình thực tế Các công cụ điều tiết của Chính phủ như: trợ giá, điều chỉnh thuế suấtthuế xuất nhập khẩu, dự trữ quốc gia Thị trường vốn sức lao động: thông qua phát hành tráiphiếu và chi tiêu của chính phủ Kiềm chế lạm phát: cùng với ngân hàng trung ương với chínhsách tiền tệ thích hợp, Chính phủ góp phần điều tiết thông qua chính sách thuế và chi tiêu củachính phủ

Trang 7

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG BIẾN ĐỘNG GIÁ THÉP

1 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NGÀNH THÉP:

Ngành thép Việt Nam bắt đầu được xây dựng từ đầu những năm 60 Khu liên hợpgang thép Thái Nguyên do Trung Quốc giúp ta xây dựng, cho ra mẻ gang đầu tiên vào năm

1963 Công suất thiết kế lúc đó của cả khu gang thép là 100 ngàn tấn/năm

Giai đoạn từ 1976 đến 1989: Ngành thép gặp rất nhiều khó khăn do kinh tế đất nước

lâm vào khủng hoảng, ngành thép không phát triển được và chỉ duy trì mức sản lượng từ 40ngàn đến 85 ngàn tấn thép/năm

Giai đoạn từ 1989 đến 1995: Thực hiện chủ trương đổi mới, mở cửa của Đảng và

Nhà nước, ngành thép bắt đầu có tăng trưởng, sản lượng thép trong nước đã vượt mức trên

100 ngàn tấn/năm

Thời kỳ 1996 - 2000: Ngành thép vẫn giữ được mức độ tăng trưởng khá cao, tiếp tục

được đầu tư đổi mới và đầu tư chiều sâu: Đã đưa vào hoạt động 13 liên doanh, trong đó có 12liên doanh cán thép và gia công, chế biến sau cán Sản lượng thép cán của cả nước đã đạt 1,57triệu tấn, gấp 3 lần so với năm 1995 và gấp 14 lần so với năm 1990 Đây là giai đoạn có tốc

độ tăng trưởng cao nhất.Hiện nay, thành phần tham gia sản xuất và gia công, chế biến thép ởtrong nước rất đa dạng, bao gồm nhiều thành phần kinh tế cùng tham gia Ngoài Tổng công tyThép Việt Nam và các cơ sở quốc doanh thuộc địa phương và các ngành, còn có các liêndoanh, các công ty cổ phần, công ty 100% vốn nước ngoài và các công ty tư nhân Tính đếnnăm 2002, Việt Nam có khoảng 50 doanh nghiệp sản xuất thép xây dựng (chỉ tính các cơ sở

có công suất lớn hơn 5.000 tấn/năm), trong đó có 12 dây chuyền cán, công suất từ 100 ngànđến 300 ngàn tấn/năm.Sau 10 năm đổi mới và tăng trưởng, ngành thép Việt Nam đã đạt một

số chỉ tiêu như sau:- Luyện thép lò điện đạt 500 ngàn tấn/năm- Công suất cán thép đạt 2,6triệu tấn/năm (kể cả các đơn vị ngoài Tổng công ty Thép Việt Nam)- Riêng Tổng công tyThép Việt Nam đã đạt công suất cao và giữ vai trò quan trọng trong ngành thép Việt Nam, cócông suất:- Luyện cán thép đạt 470 ngàn tấn/năm:- Cán thép đạt 760 ngàn tấn/năm- Sản phẩmthép thô (phôi và thỏi) huy động được 78% công suất thiết kế;- Thép cán dài (thép tròn, thépthanh, thép hình nhỏ và vừa) đạt tỷ lệ huy động 50% công suất;- Sản phẩm gia công sau cán(ống hàn, tôn mạ các loại) huy động 90% công suất.Tuy nhiên, ngành thép Việt Nam hiện vẫntrong tình trạng kém phát triển so với một số nước trong khu vực và trình độ chung của thế

Trang 8

giới Sự yếu kém này thể hiện qua các mặt sau:Năng lực sản xuất phôi thép (thép thô) quá nhỏ

bé, chưa sử dụng có hiệu quả các nguồn quặng sắt sẵn có trong nước để sản xuất phôi Do đócác nhà máy cán thép và các cơ sở gia công sau cán còn phụ thuộc chủ yếu vào phôi thépnhập khẩu và bán thành phẩm gia công khác, nên sản xuất thiếu ổn định Chi phí sản xuất lớn,năng suất lao động thấp, mức tiêu hao nguyên liệu, năng lượng cao, chất lượng sản phẩmchưa ổn định Điều đó dẫn tới khả năng cạnh tranh thấp, khả năng xuất khẩu hạn chế Hiệuquả sản xuất kinh doanh chưa cao, còn dựa vào sự bảo hộ của Nhà nước.Trang thiết bị củaTổng công ty Thép Việt Nam phần lớn thuộc thế hệ cũ, trình độ công nghệ ở mức độ thấphoặc trung bình, lại thiếu đồng bộ, hiện đại mức độ tự động hoá thấp, quy mô sản xuất nhỏ.Chỉ có một số ít cơ sở mới xây dựng (chủ yếu các cơ sở liên doanh hoặc 100% vốn nướcngoài) đạt trình độ trang bị và công nghệ tương đối hiện đại.Cơ cấu mặt hàng mất cân đối,mới chỉ tập trung sản xuất các sản phẩm dài (thanh và dây) phục vụ chủ yếu cho xây dựngthông thường, chưa sản xuất được các sản phẩm dẹt (tấm, lá) cán nóng, cán nguội Sản phẩmgia công sau cán mới có ống hàn đen, mạ kẽm, tôn mạ kẽm, mạ mầu Hiện tại ngành thépchưa sản xuất được thép hợp kim, thép đặc phục vụ cho cơ khí quốc phòng.Nguồn nhân lựccủa ngành thép hiện chỉ chiếm 2,8% tổng lực lượng lao động của ngành công nghiệp Nóicách khác mới thu hút được 0,8% lao động của cả nước

Như vậy, nhìn chung ngành thép Việt Nam vẫn ở tình trạng sản xuất nhỏ, phân tán,thiếu bền vững, phụ thuộc vào lượng phôi thép và bán thành phẩm nhập khẩu Chưa có cácnhà máy hiện đại như khu liên hợp luyện kim làm trụ cột, chủ động sản xuất phôi nên ngànhthép Việt Nam chưa đủ sức chi phối và điều tiết thị trường trong nước khi có biến động lớn

về giá phôi thép hoặc sản phẩm thép cán trên thị trường khu vự và thế giới

2 THỰC TRẠNG BIẾN ĐỘNG GIÁ THÉP:

2.1 Năm 2009:

Khép lại năm 2009, ngành thép trở thành một trong số ít ngành công nghiệp nặng cótốc độ tăng trưởng hai con số Sản xuất tăng 25%, tiêu thụ tăng hơn 30% so với năm 2008(đối với thép xây dựng), một kỳ tích sau giai đoạn khủng hoảng tưởng chừng không dễ thoát.Xuất hiện những dấu hiệu khó khăn đầu tiên từ nửa cuối năm 2008, nhưng phải đến quý1/2009, các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh thép trong nước mới bắt đầu thấy chao đảo.Trong ba tháng đầu năm, tiêu thụ thép giảm mạnh so với cùng kỳ năm 2008, có lúc chỉ cònmột nửa Với thép xây dựng, sản phẩm có thị trường tiêu thụ lớn nhất, trong tháng 1/2009,tiêu thụ thép xây dựng chỉ bằng 56,24% so với cùng kỳ Trong khi đó, tình trạng còn ảm đạmhơn với thép cán nguội (50,4%), ống thép hàn (44,29%) và tôn mạ kẽm, sơn phủ màu

Trang 9

(41,87%) Đỉnh điểm là vào tháng 4/2009, sự thu hẹp của thị trường tiêu thụ khiến các doanhnghiệp buộc phải giảm mạnh giá bán, thậm chí chấp nhận bán dưới giá thành, tạo ra sự cạnhtranh quyết liệt Tháng 4/2009, giá thép cuộn xây dựng dao động trong khoảng 10 nghìnđồng/kg tại Hà Nội Trong khi đó tại Tp.HCM, giá sản phẩm cùng loại nhiều thời điểm rơixuống đáy với giá bán thấp nhất có lúc chỉ 9.640 đồng/kg.

Diễn biến giá bán thép xây dựng (loại cuộn) năm 2009.

Một số doanh nghiệp sản xuất phôi thép và thép xây dựng đứng trước nguy cơ phá sảnnên đã phải sản xuất cầm chừng, gián đoạn, lao động phải nghỉ việc luận phiên, thu nhập giảmđáng kể Cung lớn hơn cầu, nhưng khả năng cạnh tranh không cao, các doanh nghiệp sản xuấtkinh doanh thép trong nước chịu thêm sức ép từ nhập khẩu thép xây dựng Theo đánh giá củaHiệp hội Thép, Việt Nam là một trong những nước bị thép ngoại cạnh tranh khốc liệt nhất

Do có giá bán rẻ hơn thép sản xuất trong nước từ 500-700 nghìn đồng/tấn Lượng thépcuộn nhập khẩu năm 2009 từ các nước ASEAN và Trung Quốc vào Việt Nam tăng vọt lênkhoảng 500 nghìn tấn, tương đương khoảng 11% sản lượng sản xuất, tiêu thụ của năm 2009(4,6 triệu tấn), đẩy thị phần tiêu thụ thép cuộn xây dựng trong nước giảm từ 25% xuống dưới20%

Trang 10

Diễn biến tiêu thụ thép xây dựng trong năm 2009.

Trong khi đó, thị trường Việt Nam ngày càng liên thông, ảnh hưởng nhanh và trực tiếpcủa việc tăng giảm giá những nguyên liệu cơ bản sản xuất thép như quặng sắt, than mỡ, phôithép, thép phế và một số vật tư phụ kiện khác Ở trong nước, thị trường thép còn chịu tácđộng lớn từ biến động giá cả nguyên liệu đầu vào quan trọng như điện, than, xăng dầu Thêmvào đó, việc tăng lương cho cán bộ công nhân viên cũng làm tăng chi phí đầu vào…

Bước sang quý 2/2009 và tiếp đến cuối năm, thị trường có chiều hướng tốt hơn Dùkhông có đột biến, nhưng từ sau quý 1/2009, lượng thép tiêu thụ bắt đầu tăng lên, kéo theo giábán cũng tăng tương ứng Trong 9 tháng cuối năm, lượng thép xây dựng tiêu thụ luôn đạtkhoảng 300 nghìn tấn đến trên 450 nghìn tần mỗi tháng Trong khi đó, giá thép loại này cũngliên tục duy trì mặt bằng giá cao hơn, nhiều lúc, giá bán thấp nhất cũng trên 11.500 đồng/kg.Năm 2009, ngành thép Việt Nam đã được hưởng lợi từ các chính sách kinh tế vĩ mô củaChính phủ Ngay trong giai đoạn khó khăn nhất, chính sách hỗ trợ lãi suất đã giúp các doanhnghiệp ngành thép được tiếp cận nguồn vốn rẻ để duy trì sản xuất, triển khai các công trìnhđầu tư trong ngành thép, tạo điều kiện phát triển ổn định Chính sách miễn giảm 50% thuếVAT từ mức 10% xuống 5%, có hiệu lực từ 1/2/2009 đến hết 31/12/2009 cũng giúp cácdoanh nghiệp có điều kiện giảm giá bán sản phẩm, nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường

Trong khi đó, gói kích cầu trị giá khoảng 6 tỷ USD có tác động rất tốt đến sức tiêu thụsản phẩm thép, khiến thị trường thép trong nước mở rộng đáng kể Nhiều dự án xây dựng hạtầng cơ sở, xây dựng nhà ở nông thôn, nhà ở cho công nhân khu công nghiệp, nhà ở chongười thu nhập thấp và nhà ở cho sinh viên được tiếp thêm vốn đã được triển khai

Trang 11

Các chính sách về thuế nhập khẩu cũng được điều chỉnh theo hướng có lợi cho sảnxuất thép trong nước, như tăng thuế nhập khẩu phôi thép từ 5% lên 8%; tăng thuế nhập khẩuthép xây dựng từ 12% lên 15%, thép cuộn cán nguội từ 7% lên 8%, thép lá mạ kẽm và sơnphủ màu từ 12% lên 13%; tăng thuế nhập khẩu thép cuộn hợp kim bora dùng trong xây dựng

từ 0% lên 10%; tăng thuế nhập khẩu cáp thép từ 0% lên 3%…

Kết thúc năm 2009, ngành thép Việt Nam đã đạt được kết quả khá tốt Sản xuất thépxây dựng tăng trưởng 25%, tiêu thụ vượt trên 30% so với năm 2008 Sản xuất và tiêu thụ thépcán nguội khoảng 500 nghìn tấn; ông thép hàn khoảng 570 nghìn tấn; và tôn mạ kẽm, sơn phủmàu khoảng 850 nghìn tấn Hiệp hội Thép Việt Nam hy vọng, sự phục hồi của thị trường thépcuối năm 2009 sẽ tiếp tục trong năm 2010 này, với tốc độ tăng trưởng dự kiến từ 10-12%

2.2 Năm 2010:

Ngành thép sôi động trong quý 1/2010, nhờ thời vụ, giá thép thế giới tăng cao và cả

yếu tố đầu cơ Quý 1 hằng năm là khoảng thời gian cao điểm của ngành thép nhờ hoạt độngxây dựng thường được đẩy nhanh tiến độ trước mùa mưa bão

Sự lạc quan về triển vọng tăng trưởng kinh tế thế giới giá phôi thép trên thị trường thếgiới liên tục tăng vào những tháng đầu năm 2010 Giá phôi thép giao dịch trên thị trường kimloại London đã có lúc đạt đến mức đỉnh 580 USD/tấn trong quý 1/2010, kéo theo giá thép xâydựng trong nước vượt mức 16 triệu đồng/tấn

Ngoài các yếu tố trên, giá thép tăng mạnh trong quý 1 còn do yếu tố đầu cơ của cácđại lý, nhà phân phối Việc đầu cơ tích trữ một lượng lớn thép thành phẩm khiến cho chênhlệch giá thép thị trường và giá thép xuất xưởng khá lớn Ngành thép thực sự sôi động từ đầutháng 3/2010 và cơn sốt này đã kéo sản lượng tiêu thu tăng đột biến gần 559,000 tấn, tăng88% so với tháng trước và tăng 57.7% so với cùng kỳ 2009 Tính chung 3 tháng đầu năm

2010, tiêu thụ thép của các thành viên Hiệp hội Thép Việt Nam (VSA) đạt hơn 1.2 triệu tấn,tăng 54.4% so với năm trước Đây là lượng thép tiêu thụ trong tháng lớn nhất từ trước tới nay

Ngày đăng: 02/01/2014, 16:59

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w