Mặc dù các luật thuế đã ra đời và thựchiện được một thời gian khá dài nhưng công tác quản lý chưa chặt chẽ vẫn còn nhiều kẽ hở vì vậy một số doanh nghiệp đã lợi dụng để trốn lậu thuế, do
Trang 1đó có việc tự do lựa chọn loại hình doanh nghiệp Các doanh nghiệp kinh doanh trongnhiều lĩnh vực khác nhau, ở nhiều địa bàn khác nhau do vậy cũng đã góp phần vào sựtăng trưởng và phát triển kinh tế của đất nước
Tuy nhiên ở nước ta hiện nay việc quản lý thuế đối với các doanh nghiệp nàyvẫn còn nhiều bất cập, gây ra thất thu thuế lớn Mặc dù các luật thuế đã ra đời và thựchiện được một thời gian khá dài nhưng công tác quản lý chưa chặt chẽ vẫn còn nhiều
kẽ hở vì vậy một số doanh nghiệp đã lợi dụng để trốn lậu thuế, do đó một trong nhữngnhiệm vụ quan trọng của ngành thuế là phải tăng cường chống thất thu thuế đối vớicác doanh nghiệp, tổ chức có hoạt động sản xuất, kinh doanh nhất là đối với các doanhnghiệp ngoài quốc doanh nhằm tránh thất thoát cho ngân sách nhà nước và đảm bảo sựcông bằng cho các doanh nghiệp trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế với nhà nước
Hiện nay nước ta ngày càng hội nhập sâu với kinh tế thế giới do vậy nhiều loạithuế đang được cắt giảm theo những hiệp định đã ký kết nhất là các loại thuế xuấtnhập khẩu, đồng nghĩa với việc cắt giảm các loại thuế này là NSNN sẽ mất đi mộtkhoản thu đáng kể do vậy mà việc chống thất thu thuế ngày càng trở nên cấp thiết
Từ những lý do trên em đã tìm hiểu nghiên cứu đề tài: “Thực trạng, nguyên nhân và
giải pháp khắc phục thất thu thuế ở VN”.
Nội dung đề tài gồm ba phần:
Chương 1: Cơ sở lý luận về thuế và thất thu thuế tại Việt Nam
Chương 2: Nguyên nhân và thực trạng thất thu thuế tại Việt Nam
Trang 2Chương 3: Một số giải pháp khắc phục thất thu thuế tại Việt Nam
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THUẾ VÀ THẤT THU THUẾ TẠI VIỆT NAM
1.1 Những nội dung cơ bản về thuế tại Việt Nam
1.1.1 Khái niệm
Theo các nhà kinh điển, ‘Thuế là cái mà Nhà Nước thu của dân nhưng không
bù lại” và ‘thuế cấu thành nên nguồn thu của Chính phủ, nó được lấy ra từ sản phẩmcủa đất đai và lao động trong nước, xét cho cùng thì thuế được lấy ra từ tư bản hay thunhập của người chịu thuế”
Nhà kinh tế học Gaston Jeze trong cuốn “Tài chính công đã đưa ra một kháiniệm cổ điển nhất và cũng nổi tiếng nhất về thuế: “Thuế là một khoản trích nộp bằngtiền, có tính chất xác định, không hoàn trả trực tiếp do các công dân đóng góp cho Nhànước thông qua con đường quyền lực nhằm bù đắp những chi tiêu của Nhà nước”.Theo thời gian, khái niệm cổ điển này đến nay đã được bổ sung, chỉnh sửa và hoànthiện như sau: “Thuế là một khoản trích nộp bằng tiền, có tính chất xác định, khônghoàn trả trực tiếp do các công dân đóng góp cho Nhà nước thông qua con đường quyềnlực nhằm bù đắp những chi tiêu của Nhà nước trong việc thực hiện các chức năng kinhtế-xã hội của Nhà nước”
Trên góc độ phân phối thu nhập: Thuế là hình thức phân phối và phân phối lạitổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân nhằm hình thành nên quĩ tiền tệ tập trunglớn nhất của Nhà nước (quỹ ngân sách nhà nước) để đáp ứng nhu cầu chi tiêu cho việcthực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước
Trên góc độ người nộp thuế thì thuế được định nghĩa như sau: thuế là khoảnđóng góp bắt buộc mà mỗi tổ chức, cá nhân phải có nghĩa vụ đóng góp cho Nhà nướctheo Luật định để đáp ứng nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm
vụ của Nhà nước; người đóng thuế được hưởng hợp pháp phần thu nhập còn lại
Trên góc độ kinh tế học, thuế được định nghĩa như sau: thuế là biện pháp đặcbiệt, theo đó, Nhà nước sử dụng quyền lực của mình để chuyển một phần nguồn lực từ
Trang 3khu vực tư sang khu vực công nhằm thực hiện các chức năng kinh tế - xã hội của Nhànước
1.1.2 Đặc điểm
Thứ nhất, thuế là khoản trích nộp bằng tiền: Về nguyên tắc, thuế là một khoảntrích nộp dưới hình thức tiền tệ, điều này trái ngược với các hình thức thanh toán bằnghiện vật đã tồn tại trước đây Sự phát triển của quan hệ hàng hoá - tiền tệ tạo điều kiệnthuận lợi cho sự phát triển của thuế, đổi lại, nghĩa vụ của đối tượng nộp thuế được thựchiện bằng tiền lại góp phần thúc đẩy sự phát triển của kinh tế thị trường
Thứ hai, thuế là khoản trích nộp bắt buộc được thực hiện thông qua con đườngquyền lực: Dù được thực hiện dưới hình thức nào, thuế vẫn thể hiện tính chất bắt buộc,được thực hiện thông qua con đường quyền lực Nhà nước (qua hệ thống pháp luậtthuế)
Do đó, đối tượng nộp thuế không có quyền trốn thuế hoặc mong muốn tự mình ấn địnhhay thoả thuận mức đóng góp của mình mà chỉ có quyền chấp thuận Những đối tượngnộp thuế vi phạm luật sẽ bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý vi phạm hoặccưỡng chế thi hành theo quy định của pháp luật để buộc họ phải làm tròn nghĩa vụ nộpthuế Đây là điểm khác biệt giữa thuế với các khoản đóng góp mang tính chất tựnguyện
Thứ ba, thuế là khoản thu có tính chất xác định: Thuế là khoản thu xác định củacác tổ chức thụ hưởng, đó là Nhà nước, các cấp chính quyền địa phương Trái ngượcvới vay, thuế không được hoàn trả trực tiếp
Thứ tư, thuế là một khoản thu không có đối khoản cụ thể, không hoàn trả trựctiếp nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước trong việc thực hiện các chức năngquản lý xã hội, chức năng kinh tế - xã hội của Nhà nước:
Khác với khoản vay, thuế không hoàn trả trực tiếp cho người nộp thuế (tuynhiên, một phần thuế được hoàn trả gián tiếp cho người nộp thuế thông qua các khoảnphúc lợi xã hội, phúc lợi công cộng) Sự không hoàn trả trực tiếp được thể hiện ở cảtrước và sau khi thu thuế Trước khi thu thuế, Nhà nước không hề cung ứng trực tiếpmột dịch vụ nào cho người nộp thuế Sau khi thu thuế, Nhà nước cũng không có sự bồi
Trang 4hoàn trực tiếp nào cho người nộp thuế Cũng như vậy, người nộp thuế không thể phảnđối việc thực hiện nghĩa vụ thuế với lý do họ sử dụng ít các dịch vụ công cộng; họcũng không có quyền đòi hỏi được hưởng nhiều dịch vụ công cộng hơn so với số thuế
họ phải trả vì lý do này hay lý do khác; và họ cũng không thể từ chối nộp thuế với lý
do họ đã phải thanh toán cho các khoản chi trái với nguyên tắc này
Thuế được thu nhằm đáp ứng mọi nhu cầu chi tiêu của Nhà nước, thuế không
có đối khoản cụ thể Điều này thể hiện rõ ở chỗ nguồn thu từ mỗi loại thuế không đượcquy định gắn với mục đích chi tiêu cụ thể nào cả mà đều được sử dụng để đáp ứng nhucầu chi tiêu chung của Nhà nước trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ củaNhà nước
Khái niệm “chi tiêu của Nhà nước” ngày nay không thể hiểu theo nghĩa hẹp làchỉ bao gồm các chi phí liên quan đến chức năng duy trì bộ máy của Nhà nước để thựchiện các chức năng của Nhà nước, mà còn gồm các chi phí cho việc thực hiện các chứcnăng kinh tế - xã hội Chính vì thế, khi xem xét khái niệm thuế cũng phải hiểu thuếtrên hai góc độ: thuế vừa là công cụ huy động nguồn thu để đáp ứng nhu cầu chi tiêucủa Nhà nước và thuế vừa là công cụ giúp Nhà nước thực hiện các mục tiêu kinh tế -
xã hội hay công cụ quản lý vĩ mô nền kinh tế
1.1.3 Chức năng của thuế trong nền kinh tế Việt Nam
Lịch sử phát triển của thuế đã chứng minh rằng, thuế phải thực hiện được 3 chức năng
cơ bản, đó là: chức năng bảo đảm nguồn thu cho NSNN nhằm đáp ứng nhu cầu chitiêu của Nhà nước; chức năng phân phối lại thu nhập và tài sản nhằm đảm bảo côngbằng xã hội và chức năng điều tiết vĩ mô nền kinh tế
a) Chức năng đảm bảo nguồn thu cho NSNN:
Mức độ động viên các nguồn thu từ thuế vào ngân sách phần lớn, gắn liền với tổng sốchi tiêu của của nhà nước vì các khoản thu này là nguồn bù đắp chủ yếu cho các khoảnchi ngân sách Nhưng các khoản thu này cũng không phải là nguồn bù đắp duy nhất
mà bên cạnh đó, thâm hụt ngân sách còn được bù đắp bằng nguồn vay hoặc phát hànhtiền tệ Mức độ động viên thu ngân sách với tỷ lệ giữa thâm hụt ngân sách trên tổng
Trang 5sản phẩm quốc nội (GDP) của mỗi nước cho thấy mức độ huy động của Nhà nước để
bù đắp cho các khoản chi này (tất nhiên kể cả khoản lãi phải trả khi hoàn trả nợ)
b) Chức năng phân phối lại nhằm đảm bảo công bằng xã hội:
Về nguyên tắc, gánh nặng về thuế phải được phân chia một cách công bằng; thuế phải
có vai trò sửa chữa những khiếm khuyết của sự phân phối lần đầu để đảm bảo sự côngbằng và bình đẳng Tuy nhiên, sự công bằng chỉ mang tính chất tương đối và tuỳ thuộcvào quan niệm cho rằng sự phân phối phải công bằng hay không trong việc phân chiaquyền sở hữu diễn ra trên thị trường Chính vì vậy, đánh thuế luỹ tiến, đối với một sốngười, có thể được coi như đồng nghĩa với sự công bằng, với một số người khác, lại bịcoi là tuỳ tiện
c) Chức năng điều tiết vĩ mô nền kinh tế hay khắc phục những bất cân bằng của thị trường:
Thuế là một công cụ của chính sách kinh tế có thể đóng vai trò khuyến khích, hạn chếhoặc ổn định kinh tế Thuế có thể được sử dụng để khắc phục những bất cân bằng củathị trường, ví dụ, dựa trên cơ sở các phân tích kinh tế vi mô để quốc tế hoá những tácđộng nội tại của nền kinh tế Thuế cũng có thể góp phần thực hiện các cân bằng tổngthể trong khuôn khổ chính sách ngân sách dựa trên cơ sở các phân tích kinh tế vĩ mô Cách tiếp cận kinh tế vi mô phù hợp với cách nhìn tự do về sự can thiệp của Nhà nước
mà với chức năng trợ cấp ngân sách, Nhà nước có thể xoá bỏ được những vật cản nảysinh trong kinh tế thị trường Cách tiếp cận này đôi khi cũng là trung tâm của cáccuộc tranh luận
Cách tiếp cận kinh tế vĩ mô thuộc quan niệm của Keynes về chính sách kinh tế, thuế làmột biến số mà Nhà nước sử dụng nhằm ổn định tình huống (chính sách tác động trênnhu cầu tổng thể) hoặc cơ cấu (chính sách thuế nhằm tạo thuận lợi cho sự tăng trưởngkinh tế) Khả năng của thuế trong việc thực hiện các mục tiêu hiệu quả kinh tế này đã
bị tranh luận khá gay gắt Tuỳ theo quan niệm mà người ta thừa nhận vị trí tự do haycan thiệp của thuế mà chức năng này được đánh giá ưu việt nhiều hay ít
Trang 6Tóm lại, để phát huy được vai trò của thuế trong nền kinh tế, phải sử dụng thuếđúng với chức năng của nó Tuy nhiên, vai trò của thuế đối với nền kinh tế ở mỗi quốcgia không giống nhau mà tuỳ thuộc vào “nghệ thuật sử dụng” công cụ thuế của mỗiquốc gia đó Vấn đề có tính nguyên tắc là thuế phải luôn luôn phù hợp với mục tiêu,đường lối phát triển kinh tế - xã hội và là công cụ đắc lực cho việc thực hiện đườnglối, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia trong từng thời kỳ nhấtđịnh Đó cũng là lý do mà các quốc gia phải thường xuyên rà soát mức độ phù hợp của
hệ thống thuế với chiến lược phát triển kinh tế xã hội cuả mình, thực hiện các cải cáchthuế kịp thời nếu thấy cần thiết
1.1.4 Khái quát về hệ thống chính sách thuế Việt Nam
Hệ thống chính sách thuế của Việt Nam được hình thành và phát triển trongthời kỳ “đổi mới” (sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI năm 1986) Trước đó nềnkinh tế vận hành theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung bao cấp, thu ngân sách Nhà nướcchủ yếu từ kinh tế quốc doanh (chiếm tới 90% tổng số thu), thuế chỉ áp dụng đối vớikhu vực kinh tế ngoài quốc doanh dưới một số hình thức: thuế doanh nghiệp, thuếhàng hoá, thuế lợi tức, thuế nông nghiệp, thuế môn bài vai trò của thuế trong quản lýđiều tiết vĩ mô nền kinh tế được sử dụng rất hạn chế
Đầu những năm 1990, Việt Nam thực hiện cải cách thuế bước I, một hệ thốngchính sách thuế mới ra đời và áp dụng thống nhất đối với các thành phần, khu vực kinh
tế gồm các sắc thuế cơ bản như: Thuế doanh thu, Thuế tiêu thụ đặc biệt, Thuế xuấtkhẩu, thuế nhập khẩu, Thuế tài nguyên, Thuế lợi tức, Thuế thu nhập đối với người cóthu nhập cao, Thuế nông nghiệp (từ 1994 chuyển thành là thuế sử dụng đất nôngnghiệp), Thuế nhà đất, Thuế chuyển quyền sử dụng đất và một số loại phí, lệ phí như
lệ phí trước bạ, lệ phí chứng thư, lệ phí giao thông Sau 10 năm đổi mới, nền kinh tếthị trường đã và đang hình thành, quan hệ đối ngoại của Việt Nam cũng có những cảithiện đáng kể, nền kinh tế - xã hội chuyển sang giai đoạn phát triển mới: thực hiệncông nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế Bối cảnh
đó đã đặt ra yêu cầu thực hiện cải cách thuế bước II, bắt đầu từ nửa cuối những năm
90, được đánh dấu bằng việc Quốc hội ban hành Luật thuế giá trị gia tăng và Luật thuếthu nhập doanh nghiệp năm 1997 (có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/1999), thay
Trang 7thế Luật thuế doanh thu, Luật thuế lợi tức Năm 1998, Luật thuế tiêu thụ đặc biệt, Luậtthuế XNK cũng được sửa đổi để bảo đảm sự đồng bộ Các Luật thuế quan trọng nàytiếp tục được bổ sung, sửa đổi vào cuối năm 2003, 2005
Thực hiện Chương trình cải cách hệ thống thuế đến năm 2010, Quốc hội đã banhành Luật thuế thu nhập cá nhân vào tháng 11/2007 với hiệu lực thi hành từ ngày01/01/2009, thay thế cho Luật thuế chuyển quyền sử dụng đất và Pháp lệnh thuế thunhập đối với người có thu nhập cao Năm 2008, Quốc hội sửa đổi đồng bộ Luật thuếgiá trị gia tăng, Luật thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật thuế thu nhập doanh nghiệp đểthống nhất thực hiện từ đầu năm 2009 Như vậy, sau gần 20 năm xây dựng và hoànthiện, hệ thống chính sách thuế của Việt Nam đến nay gồm có các sắc thuế sau:
(i) Thuế giá trị gia tăng (GTGT),
(ii) Thuế tiêu thụ đặc biệt (TTĐB),
(iii) Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu (XNK),
(iv) Thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN),
(v) Thuế thu nhập cá nhân (TNCN),
(vi) Thuế sử dụng đất nông nghiệp,
(vii) Thuế nhà đất,
(viii) Thuế tài nguyên,
(ix) Thuế môn bài,
1.1.5 Khái quát về bộ máy quản lý thu thuế hiện hành ở Việt Nam
Tổ chức bộ máy quản lý thu thuế hiện hành bao gồm hệ thống thu nội địa (Thuế Nhànước) và hệ thống thu thuế XNK
Hệ thống Thuế Nhà nước:
Trang 8Theo Nghị định số 281-HĐBT ngày 7/8/1990 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chínhphủ), hệ thống thuế Nhà nước được thành lập để thực hiện công tác thu và quản lý cácloại thuế và các khoản thu khác cho NSNN trong nội địa Bộ máy quản lý thuế được tổchức thành hệ thống dọc từ Trung ương đến địa phương; cơ quan thuế đặt tại địaphương chịu sự lãnh đạo song trùng của ngành thuế cấp trên và Chủ tịch UBND cùngcấp; Tổng cục thuế, Cục thuế, Chi cục thuế là tổ chức trong hệ thống hành chính nhànước có tư cách pháp nhân công quyền, có con dấu riêng và được mở tài khoản tạiKho bạc nhà nước
Ngày 28 tháng 10 năm 2003, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 218/2003/QĐ-TTg quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Tổng cụcThuế trực thuộc Bộ Tài chính Theo đó, bộ máy quản lý thu thuế nội địa được đổi mới
tổ chức theo mô hình chức năng, chuyển sang thực hiện việc cung cấp thông tin vàdịch vụ hỗ trợ người nộp thuế; đồng thời đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra xử lýcác hành vi vi phạm pháp luật thuế
Hệ thống Hải quan:
Hệ thống Hải quan trước đây trực thuộc Chính phủ, được tổ chức thành 3 cấp:
Tổng cục hải quan (cấp trung ương), Cục hải quan tỉnh, thành phố trực thuộc trungương (hải quan vùng) và Hải quan cửa khẩu Hệ thống hải quan đảm nhiệm việc quản
lý thu thuế đối với hàng hoá xuất, nhập khẩu như: thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu;thuế tiêu thụ đặc biệt hàng nhập khẩu; thuế giá trị gia tăng hàng nhập khẩu; thu nhậpđối với hàng là quà biếu, quà tặng vượt quá tiêu chuẩn miễn thuế
Kể từ 4/9/2002, hệ thống Hải quan (Tổng cục Hải quan) được chuyển vào trực thuộc
Bộ Tài chính (Quyết định 113/2002/QĐ-TTg ngày 4/9/2002 của Thủ tướng Chínhphủ)
1.2 Cơ sở lý luận về thất thu thuế
1.2.1 Khái niệm thất thu thuế
Thất thu thuế là một hiện tượng thực tế khách quan vốn có của bất kỳ hệ thốngthuế khoá nào Nó phản ánh hai mặt của một vấn đề: lợi ích của Nhà nước và lợi íchcủa người nộp thuế Trên thực tế thì hai lợi ích này thường mâu thuẫn với nhau, Nhà
Trang 9nước luôn có khuynh hướng tăng nguồn thu từ thuế, trong khi đó người nộp thuế luônmong muốn càng giảm số thuế phải nộp càng nhiều càng tốt Hay nói cách khác, ở đâu
có thuế khoá thì ở đó có thất thu
Thất thu thuế là khoản thuế quy định trong luật thuế phải thu được và tập trungvào ngân sách nhà nước, song do nhiều nguyên nhân số tiền trên không được thu đủ đểtập trung vào ngân sách nhà nước đúng quy định
1.2.2 Các dạng thất thu thuế:
Thất thu thuế biểu hiện, diễn biến rất đa dạng và phức tạp tuỳ theo điều kiệncủa nền kinh tế - xã hội của một quốc gia, song có thể khái quát hoá thành 2 dạng: thấtthu thực tế và thất thu tiềm năng
- Thất thu thực tế, có nghĩa là có nhiều khoản thu được quy định rõ ràng trong các luậtthuế, song do nhiều nguyên nhân số tiền đó không được tập trung vào ngân sách đúngquy định
- Thất thu tiềm năng, có nghĩa là thực tế có nhiều nguồn thu cần thiết phải động viênvào ngân sách nhưng lại không thu được vì chưa có quy định của luật pháp
1.2.3 Thất thu thuế do trốn thuế và tránh thuế:
Trốn thuế là hành vi vi phạm pháp luật và có thể bị xử phạt hành chính hay bịtruy cứu trách nhiệm hình sự về tội trốn thuế
Tránh thuế là hành vi lợi dụng những quy định của pháp luật thuế nhằm làmgiảm số thuế phải nộp cho Nhà nước Tránh thuế hợp pháp không bị xử phạt hànhchính hay bị truy cứu trách nhiệm hình sự Bởi lẽ, đối tượng nộp thuế am hiểu rõ vềpháp luật thuế và vận dụng tốt những phương thức hạch toán hợp pháp để giảm thiểucác khoản thuế phải đóng, mà không trái với quy định pháp luật
a) Các hình thức trốn thuế:
Việc trốn thuế ở Việt Nam thường diễn ra dưới nhiều hình thức và ở nhiều loại thuếkhác nhau Chẳng hạn, trường hợp doanh nghiệp trong nước bắt tay với đối tác bánhàng nước ngoài hạ giá hàng hóa nhập khẩu nhằm trốn thuế nhập khẩu; tổ chức, cánhân mua bán hóa đơn đầu vào khống (thuế giá trị gia tăng); doanh nghiệp không khai
Trang 10báo đầy đủ doanh thu hay khai khống chi phí (thuế thu nhập doanh nghiệp); cá nhânkhông kê khai thu nhập chịu thuế (thuế thu nhập cá nhân), hạ giá của hàng hóa muabán chịu thuế trước bạ (như xe hơi hay nhà ở) để giảm thiểu số thuế trước bạ phảiđóng…
b) Các hình thức tránh thuế:
- Chuyển dịch thu nhập
- Hoãn thuế (vd như bán phiếu quà tặng)
- Trung gian thuế (vd bán cho doanh nghiệp khác tài sản sau thuê lại, doanhnghiệp đó không đủ điều kiện khấu hao nhanh)
- Lợi dụng những ưu đãi của pháp luật thuế
- Lợi dụng những quy định bất cập của pháp luật thuế (cách phân bổ chi phí)
- Sử dụng phương pháp hạch toán chi phí thích hợp
- Chuyển giá
Trang 11CHƯƠNG II: NGUYÊN NHÂN VÀ THỰC TRẠNG THẤT THU THUẾ Ở VIỆT NAM
2.1 Nguyên nhân dẫn đến thất thu thuế ở Việt Nam
2.1.1 Nguyên nhân từ người nộp thuế:
- Không thực hiện đúng chế độ đăng ký doanh, đăng mã số thuế và không nộp thuế
- Khai báo nộp thuế không đúng, cụ thể là khai thấp giá bán và số lượng bán ra, đểngoài sổ sách kế toán nguồn thu, khoản thu đáng lẽ ra phải thu, kê khai không đúngcác khoản chi phí hợp lý, hợp lệ (trường hợp khi bán hàng các doanh nghiệp ghi hóađơn thấp hơn giá thị trường, khi mua ghi hóa đơn cao hơn giá thị trường hoặc sử dụnghóa đơn bất hợp pháp để khấu trừ khống thuế GTGT)
- Chậm nộp, kéo dài thời gian nộp thuế nhằm chiếm dụng thuế vào hoạt động kinhdoanh
- Lợi dụng chính sách của nhà nước tự kê khai thuế, tự điều chỉnh thuế kế tiếp nhautrong ba tháng từ đó họ tìm cách cân đối thấp nhất số thuế phải nộp, cụ thể là các saiphạm khi họ kê khai thuế GTGT
2.1.2 Nguyên nhân từ cơ quan thuế
- Những năm qua vấn đề nợ đọng thuế của các doanh nghiệp và các hộ kinh doanh liêntục gia tăng, mặc dù chính quyền địa phương các cấp và ngành thuế đã tích cực cónhiều biện pháp tích cực nhưng cũng chưa chuyển biến Bộ tài chính chỉ đạo phấn đấu
nợ tồn đọng thuế cuối năm chỉ dưới 5%, nhưng thực tế các địa phương đều nợ thuế tồnđọng trên 10%, cá biệt có địa phương hơn 50% nợ thuế tồn đọng Có nhiều nguyênnhân khách quan và chủ quan
- Về mặt khách quan do chế độ chính sách nộp thuế các đối tượng nộp thuế được kéodài đến 90 ngày, nếu quá thời gian đó ngành thuế mới áp dụng các biện pháp hành
Trang 12chính để xử lý Trong thời gian này các đối tượng nộp thuế chỉ nộp tiền phạt thuế donộp chậm, số tiền nộp phạt chậm quá thấp so với mức lãi vay ngân hàng hiện nay củacác ngân hàng, do vậy không doanh nghiệp, hộ kinh doanh nào lại đi vay ngân hàng đểnộp thuế với mức lãi suất cho vay quá cao như hiện nay
- Về mặt chủ quan có nhiều doanh nghiệp, hộ kinh doanh làm ăn có tinh thần tráchnhiệm, đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thuế theo quy định, tuy nhiên có doanh nghiệp,
hộ kinh doanh cố tình trốn thuế, khi biết đến thời điểm ngành thuế sẽ áp dụng các biệnpháp hành chính thì các đơn vị này đã tẩu tán tài sản, nơi kinh doanh chỉ là nơi thuêmặt bằng để kinh doanh, nơi ngân hàng đăng ký tài khoản thì không còn số dư Cuốicùng cơ quan thuế chuyển hồ sơ sang cơ quan công an điều tra để xử lý, nhưng không
xử lý được do chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm, vì các tổ chức này chỉ nợ thuế chứkhông phải trốn thuế
- Hệ thống luật thuế còn nhiều bất cập, chưa theo kịp tốc độ phát triển của nền kinh tếtrong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế của Việt nam
- Công tác quản lý và khai thác nguồn thu thuế của một số địa phương chưa thật sựchặt chẽ, hiệu quả
- Trình độ của cán bộ thuế ở một số địa phương, một số lĩnh vực chưa thực sự đáp ứngđược yêu cầu quản lý của ngành thuế, nhất là đối với công tác quản lý thuế của cácdoanh nghiệp FDI (chủ yếu tập trung ở 2 khu tam giác kinh tế lớn nhất nước là :TPHCM - Bình Dương - Bà Rịa Vũng Tàu, và Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh)
- Hiện tượng tiêu cực của một số ít cán bộ thuế cũng có tác động không nhỏ dẫn tớiviệc thất thu thuế ở một số địa phương
2.2 Thực trạng thất thu thuế ở Việt Nam:
2.2.1 Khái quát số liệu tổng hợp thất thu thuế của ngành thuế:
- Năm 2011, toàn ngành Thuế đã thanh tra, kiểm tra tại 50.276 doanh nghiệp (đạt90,65% chỉ tiêu kế hoạch và bằng 158,3% so năm 2010), xử lý truy thu, truy hoàn vàphạt qua thanh tra, kiểm tra 7.582 tỉ đồng, bằng 138,8% (7.582 tỉ đồng/5.462 tỉ đồng)
so năm 2010, giảm khấu trừ qua thanh tra, kiểm tra là 567 tỉ, giảm lỗ qua thanh tra,kiểm tra là 11.021 tỉ đồng Trong đó, thanh tra tại 6.167 doanh nghiệp, xử lý truy thu
Trang 13và phạt 3.386 tỉ đồng, giảm lỗ qua thanh tra là 7.011 tỉ đồng, giảm khấu trừ thuếGTGT 209 tỉ đồng; nộp NSNN 2.093 tỉ đồng bằng 120.9% so với năm 2010 Đối vớithanh tra chống chuyển giá đã thực hiện thanh tra tại 921 doanh nghiệp lỗ, doanhnghiệp có dấu hiệu chuyển giá, xử lý giảm lỗ 6.617 tỉ đồng (tăng 3,5 lần so với nămtrước), truy thu thuế và phạt 1.669 tỉ đồng (tăng hơn 4 lần so với cùng kỳ năm trước).
- Đối với vấn đề nợ thuế theo đánh giá của Tổng cục chiếm 72,3% tổng số nợ thuế,trong đó trên 90 ngày chiếm 63,3% Dù vậy, cơ quan chức năng vẫn cho rằng “số nợnày còn có khả năng thu hồi được”
- Theo báo cáo của Tổng cục thuế, tỷ trọng nợ thuế trên tổng thu NSNN giảm mạnhqua các năm; năm 2008 là 9,5%; năm 2009 là 7,7%; năm 2010 là 7,3% và năm 2011 là6,9% Có tới 17 địa phương có mức nợ đọng dưới 5% như: Bà Rịa - Vũng Tàu; BếnTre, Bình Dương; Bình Thuận; Đà Nẵng; Đồng Nai; Hà Tĩnh; Hậu Giang; Khánh Hòa;Lai Châu; Lạng Sơn; Quảng Ngãi; Quảng Ninh; Thái Nguyên; TT-Huế; Tuyên Quang
- Đặc biệt năm 2011, Cục thuế các địa phương đã xử lý tích cực nợ chờ điều chỉnh (nợảo), tính đến 31/12/2011 đã xử lý hết số nợ ảo tính đến 31/12/2010, với số nợ chiếm0,3% trên tổng số thu NSNN Công tác thanh kiểm tra tại 50.276 doanh nghiệp (đạt90,65% chỉ tiêu kế hoạch và bằng 158,3% so với 2010) đã xử lý truy thu, truy hoàn vàphạt đạt 7.582 tỷ đồng (bằng 138,8% so với 2010); giảm khấu trừ được 576 tỷ đồng;giảm số lỗ qua thanh kiểm tra đạt 11.021 tỷ đồng
- Theo Báo cáo Đánh giá thực hiện nhiệm vụ tài chính - ngân sách năm 2011của BộTài chính, công tác quản lý, kiểm tra, giám sát chống thất thu thuế; đấu tranh chốngchuyển giá, nhất là đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI), các khoảnthu liên quan đến đất đai, kinh doanh bất động sản, tài nguyên khoáng sản và thuế
Trang 14xuất-nhập khẩu được xem là một trong những thành công đáng ghi nhận nhất trongnăm 2011 của ngành tài chính.Nhờ tích cực chống thất thu và nợ đọng thuế, nên thungân sách cả năm 2011 vẫn đạt 647.500 tỷ đồng, vượt 13,4% so với dự toán, tăng20,6% so với năm 2010 Theo số liệu của Bộ Tài chính, năm 2011, ngành thuế đã thuhồi 67% số nợ thuế năm 2010 chuyển sang, với tổng số tiền lên tới 18.039 tỷ đồng,ngành hải quan đã xử lý thu trên 709 tỷ đồng tiền nợ thuế.
Hiện nay, ngành Thuế đã chuyển sang cơ chế tự khai, tự nộp, vì vậy, cán bộ thuế cầnnâng cao trách nhiệm, hướng dẫn, hỗ trợ doanh nghiệp kê khai cho đúng Từ nội dung
kê khai này, tìm ra những doanh nghiệp có dấu hiệu rủi ro kịp thời thanh tra, kiểm trađúng đối tượng
Với một năm kinh doanh khó khăn như 2011, nhiều doanh nghiệp không tránh khỏithua lỗ, bao gồm cả những “đại gia” trong các ngành nghề mà báo cáo của Tổng cụcThuế cũng phải “điểm mặt chỉ tên”
Chẳng hạn, tình trạng “đóng băng” ở thị trường bất động sản đã khiến Hoàng Anh GiaLai phải nợ thuế lên đến hàng trăm tỉ đồng
Hay như những doanh nghiệp có số nợ hàng chục tỉ đồng, nhưng thời gian nợ lại kéodài như Tập đoàn Công nghiệp Tàu thủy Việt Nam (Vinashin) – Công ty TNHH mộtthành viên, Tổng công ty Xây dựng Hà Nội, công ty Cavico xây dựng cầu hầm, CTCPBia và nước giải khát Phú Yên, CTCP tập đoàn Thành Công…
2.2.2 Các lĩnh vực thất thu thuế trọng tâm:
- Thời gian vừa qua, thực trạng thất thu thuế đang làm ảnh hưởng tới nhiệm vụ thungân sách của ngành Năm 2012, ngành thuế đã xác định 6 lĩnh vực trọng tâm củangành Thuế trong công tác chống thất thu và thu hồi nợ đọng thuế
2.2.2.1 Thực trạng thất thu thuế do chuyển giá:
Đấu tranh chống chuyển giá từ khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài(FDI) và gần đây là cả các doanh nghiệp trong nước Những cách thức chuyển giá củacác doanh nghiệp này bước đầu đã được định dạng để cơ quan thuế tập trung đấu tranhnhư chuyển giá từ khâu đầu vào, thu nhập nguyên liệu đến khâu đầu ra và các chi phídịch vụ quản lý
Trang 15a) Tình hình chung về chuyện giá hiện nay ở Việt Nam:
Số liệu từ Bộ Tài chính cho biết, hiện nay có đến 20 - 30% trong tổng số doanhnghiệp FDI đang hoạt động trên các địa bàn kê khai có kết quả kinh doanh lỗ liên tiếptrong 2 - 3 năm, thậm chí 5 năm Rõ ràng, theo các quy định hiện hành, với tình trạngkinh doanh thua lỗ, doanh nghiệp đó sẽ tránh được việc nộp thuế
Nhưng nghịch lý ở chỗ, dù lỗ triền miên, nhưng các doanh nghiệp đó vẫn liên tục
mở rộng sản xuất - kinh doanh đây là biểu hiện của tình trạng lợi dụng việc chuyểngiá để gian lận, trốn thuế Các doanh nghiệp FDI này đã dùng những phương thứckhác nhau để trốn tránh các khoản thuế, phí thông qua việc báo lỗ trong hoạt độngkinh doanh, sau đó chuyển lợi nhuận về công ty mẹ ở nước ngoài
Trong số 1.200 DN kê khai lỗ trong nhiều năm, trong năm 2011, các cơ quanThuế đã thực hiện kiểm tra được 500 DN, bước đầu phát hiện nhiều thủ đoạn chuyểngiá rất tinh vi Kết quả đạt được sau khi kiểm tra và phát hiện các DN chuyển giá, cơquan Thuế đã chỉnh giảm lỗ trên 3.600 tỉ đồng; tăng thu thuế Thu nhập DN 1.200 tỉđồng 700 DN còn lại sẽ được cơ quan Thuế tiếp tục kiểm tra quyết liệt cho đến cuốinăm 2011
Trong tổng số DN FDI của cả nước thì 2/3 số DN hoạt động tại các tỉnh phíaNam Qua đợt kiểm tra các DN báo cáo lỗ có dấu hiệu chuyển giá cho thấy tình trạngnày xảy ra nhiều ở TP.HCM, Bình Dương, Lâm Đồng Theo Cục Thuế TP.HCM, tìnhtrạng kê khai lỗ nhiều năm liên tục, không phát sinh số thuế phải nộp của các DN FDI
có các dấu hiệu của việc chuyển giá thông qua việc mua bán hàng hóa, dịch vụ với cácđơn vị có quan hệ liên kết… chiếm tới trên dưới 60% tổng số các DN FDI tạiTP.HCM
b) Các trường hợp chuyển giá hiện nay ở Việt Nam
Chuyển giá thông qua việc nâng giá trị vốn góp:
Các MNC định giá cao máy móc thiết bị đầu tư ban đầu Với suất đầu tư ban đầucao, hoạt động của DN nước ngoài sẽ không có lãi vì chi phí đầu tư cao thì giá thànhcũng cao lên cộng thêm chi phí khấu hao hàng năm; qua đó lợi nhuận thấp xuống vàlàm cho nhà nước thất thu thuế