1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

THỰC TRẠNG nợ xấu của NGÂN HÀNG THƯƠNG mại và PHƯƠNG THỨC GIẢI QUYẾT

13 798 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng nợ xấu của Ngân hàng Thương mại và Phương thức Giải quyết
Thể loại Đề tài
Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 260,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quy định của Việt Nam về nợ xấu Theo quyết định 493/2005/QĐ-NHNN và quyết định số 18/2007/QĐ-NHNN định nghĩa nợ xấu như sau : Nợ xấu là các khoản nợ thuộc nhóm 3,4 và 5 được phân loại n

Trang 1

ĐỀ TÀI : THỰC TRẠNG NỢ XẤU CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

VÀ PHƯƠNG THỨC GIẢI QUYẾT

I LÝ LUẬN CHUNG VỀ NỢ XẤU

1.1 Các khái niệm cơ bản

Cũng như bất kỳ ngành kinh doanh nào khác, ngân hàng cũng có thể gặp rủi ro Trên thế giới

người ta phân ra nhiều loại rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngân hàng, tiêu biểu nhất là rủi ro trong hoạt động tín dụng

Tín dụng là quan hệ vay mượn dưới dạng tiền tệ có hoàn trả cả gốc và lãi giữa người cho

vay và người đi vay

Rủi ro trong hoạt động tín dụng là tình trạng người đi vay không có khả năng hoàn trả

được lãi và gốc vay.

1.2 Quy định của Việt Nam về nợ xấu

Theo quyết định 493/2005/QĐ-NHNN và quyết định số 18/2007/QĐ-NHNN định nghĩa nợ xấu như sau : Nợ xấu là các khoản nợ thuộc nhóm 3,4 và 5 được phân loại như sau :

a) Nhóm 1 (Nợ đủ tiêu chuẩn) bao gồm:

- Các khoản nợ trong hạn và tổ chức tín dụng đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ cả gốc và lãi đúng hạn;

- Các khoản nợ quá hạn dưới 10 ngày và tổ chức tín dụng đánh giá là có khả năng thu hồi đầy

đủ gốc và lãi bị quá hạn và thu hồi đầy đủ gốc và lãi đúng thời hạn còn lại;

b) Nhóm 2 (Nợ cần chú ý) bao gồm:

- Các khoản nợ được tổ chức tín dụng đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ cả gốc và lãi

nhưng có dấu hiệu khách hàng suy giảm khả năng trả nợ

- Các khoản nợ quá hạn từ 10 ngày đến 90 ngày;

- Các khoản nợ điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu (đối với khách hàng là doanh nghiệp, tổ chức thì tổ chức tín dụng phải có hồ sơ đánh giá khách hàng về khả năng trả nợ đầy đủ nợ gốc và lãi đúng kỳ hạn được điều chỉnh lần đầu);

c) Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm:

- Các khoản nợ được tổ chức tín dụng đánh giá là không có khả năng thu hồi nợ gốc và lãi khi

đến hạn Các khoản nợ này được tổ chức tín dụng đánh giá là có khả năng tổn thất một phần nợ gốc và lãi

- Các khoản nợ quá hạn từ 91 ngày đến 180 ngày;

- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu, trừ các khoản nợ điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu phân loại vào nhóm 2 theo quy định tại Điểm b Khoản này;

- Các khoản nợ được miễn hoặc giảm lãi do khách hàng không đủ khả năng trả lãi đầy đủ theo hợp đồng tín dụng;

1

Trang 2

d) Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) bao gồm:

- Các khoản nợ được tổ chức tín dụng đánh giá là khả năng tổn thất cao;

- Các khoản nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày;

- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dưới 90 ngày theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu;

- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai;

đ) Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) bao gồm:

- Các khoản nợ được tổ chức tín dụng đánh giá là không còn khả năng thu hồi, mất vốn.

- Các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày;

- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn từ 90 ngày trở lên theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu;

- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai quá hạn theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần thứ hai;

- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ ba trở lên, kể cả chưa bị quá hạn hoặc đã quá hạn;

- Các khoản nợ khoanh, nợ chờ xử lý;

Kết luận : Vậy theo quyết định này thì nợ xấu được quyết định theo 2 yếu tố (1) đã quá hạn trên 90 ngày và (2) khả năng trả nợ đáng lo ngại Đây được coi là định nghĩa của VAS ( Chuẩn mực kế toán Việt Nam )

1.3 Quy định và thông lệ quốc tế về nợ xấu

Theo định nghĩa nợ xấu của Phòng Thống kê - Liên hợp quốc, “về cơ bản một khoản nợ được coi là nợ xấu khi quá hạn trả lãi và/hoặc gốc trên 90 ngày; hoặc các khoản lãi chưa trả từ 90 ngày trở lên đã được nhập gốc, tái cấp vốn hoặc chậm trả theo thoả thuận; hoặc các khoản phải thanh toán đã quá hạn dưới 90 ngày nhưng có lý do chắc chắn để nghi ngờ về khả năng khoản vay sẽ được thanh toán đầy đủ”

Như vậy, nợ xấu về cơ bản cũng được xác định dựa trên 2 yếu tố: (I) quá hạn trên 90 ngày

và (ii) khả năng trả nợ nghi ngờ Đây được coi là định nghĩa của IAS ( Chuẩn mực kế toán quốc tế ) đang được áp dụng

Một định nghĩa mới về nợ xấu theo chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế (IFRS) và IAS 39 vừa được Uỷ ban Chuẩn mực Kế toán quốc tế cho ra đời và được khuyến cáo áp dụng ở một số nước phát triển vào đầu năm 2005 Về cơ bản IAS 39 chỉ chú trọng đến khả năng hoàn trả của khoản vay bất luận thời gian quá hạn chưa tới 90 ngày hoặc chưa quá hạn Phương pháp để đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng thường là phương pháp phân tích dòng tiền tương lai hoặc xếp hạng khoản vay (khách hàng) Hệ thống này được coi là chính xác về mặt lý thuyết, nhưng việc áp dụng thực tế gặp nhiều khó khăn Vì vậy, nó đang được Uỷ ban Chuẩn mực Kế toán quốc tế chỉnh sửa lại

Trang 3

1.4 Sự khác biệt về định nghĩa nợ xấu của Việt Nam và quốc tế

Trên thực tế thì định nghĩa nợ xấu của Việt Nam gần sát với chuẩn mực quốc tế mặc dù vậy cho đến nay hầu hết các ngân hàng thương mại Việt Nam chỉ mới hạch toán nợ xấu theo thời gian quá hạn trên 90 ngày (yếu tố 1); việc xác định khả năng trả nợ của khách hàng (yếu tố 2) đang gặp nhiều khó khăn Phần lớn ngân hàng thương mại chưa hoặc đang thí điểm áp dụng phương pháp này Báo cáo phân tích rằng hầu hết các NHTM tại Việt Nam hiện nay đều phân loại nợ dựa vào định lượng mà thiếu đi phần định tính như tình hình tài chính, kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Điều này dẫn đến việc phân loại nợ không phản ánh thực chất khoản nợ

Ngoài ra, một số ngân hàng còn biến nghiệp vụ gia hạn nợ, vốn là một nghiệp vụ bình thường của ngân hàng thành một hình thức để giảm tỷ lệ nợ xấu của mình do nợ gia hạn không được tính vào nợ xấu

Không ít ngân hàng đã hạn chế phân loại nợ xuống nhóm III-V để tránh trích lập dự phòng rủi ro tín dụng, tránh ảnh hưởng đến lợi nhuận của mình Kết quả là sự chênh lệch giữa phân loại nợ xấu theo chuẩn trong nước và quốc tế ngày càng lớn

2 Sự cần thiết phải xử lý ‘‘ nợ xấu’’ trong Ngân hàng thương mại

Ngân hàng mất khả năng thanh toán cho người gửi tiền : Nếu các khoản nợ xấu lớn, tức là

khả năng thu hồi các khoản nợ của khách hàng thấp, ngân hàng sẽ phải dùng vốn để trang trải cho các khoản thất thoát này thì đến một chừng mực nào đó sẽ không còn khả năng thanh toán cho người gửi tiền tiết kiệm

•Ngân hàng là ngành kinh tế nhạy cảm, phụ thuộc vào những lòng tin do đó khi thông tin khả năng trả nợ ngân hàng là không chắc chắn, người gửi tiền sẽ đổ xô đi rút tiền làm ngân hàng lâm vào tình trạng phá sản

•Nợ xấu đe dọa tới sự an toàn và ổn định của toàn bộ nền kinh tế

II THỰC TRẠNG NỢ XẤU CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1 Thực trạng nợ xấu tại các NHTM

Theo báo cáo của Advancia – Negocia xuất bản cuối năm 2010 nhan đề “Vietnam Country Risk Analysis” đã đánh giá rủi ro của hệ thống ngân hàng Việt Nam hiện nay đang ở mức “high” (cao) Advancia – Negocia cho rằng việc cho vay ồ ạt sẽ đẩy tình trạng nợ xấu của hệ thống ngân hàng ở Việt Nam lên rất cao Báo cáo này cũng nhận định hệ thống ngân hàng của Việt Nam đang gánh chịu tình trạng lòng tin của công chúng thấp, sự yếu kém về quản lý nhà nước

và quản lý doanh nghiệp, không đáp ứng được các tiêu chuẩn Base Capital, và không có kiểm toán quốc tế Điểm số rủi ro đang có khuynh hướng tăng dần từ 66 điểm hồi tháng 9 năm 2010, lên 67 vào tháng 10 và 11/2010, 68 vào tháng 12/2010 và 69 điểm vào tháng 2,3/2011

Cụ thể hơn, theo Thời báo Kinh tế Sài Gòn ngày 7.10.2011 nợ xấu của nhóm ngân hàng thương mại (NHTM) nhà nước tăng 66,18%, nhóm các ngân hàng cổ phần tăng 44,29%, nhóm ngân hàng liên doanh, 100% vốn nước ngoài tăng 59,23% so với cuối 2010 Đó là chưa tính đến một

3

Trang 4

lượng lớn vốn của tổ chức tín dụng đầu tư vào trái phiếu doanh nghiệp nhưng chưa được đánh giá và trích lập dự phòng đầy đủ đang tiềm ẩn rủi ro đối với hoạt động của các tổ chức tín dụng Theo báo cáo chính thức từ phía các ngân hàng thương mại Việt Nam thì đến cuối năm 2010 thì

tỷ lệ nợ xấu của toàn bộ hệ thống ngân hàng VN chỉ khoảng 2,5% Theo phát biểu của thống đốc Ngân hàng nhà nước Nguyễn Văn Bình tại phiên trả lời chất vấn quốc hội ngày 25/11/2011 cho biết nợ xấu của hệ thống ngân hàng đến nay là khoảng 3,3% trên tổng dư nợ cho vay Dự kiến đến cuối năm 2011 là từ 3,6-3,8% Như vậy nợ xấu cuối năm 2011 tăng xấp xỉ 52% so với năm 2010

Tỷ lệ nợ xấu của ngân hàng khối cổ phần và toàn hệ thống như sau :

Nhìn vào bảng số liệu trên tỷ lệ nợ xấu trên dư nợ của khối ngân hàng thương mại cổ phần tăng,

tỷ lệ nợ xấu toàn hệ thống có xu hướng tăng cao

Đến thời điểm này, 8 ngân hàng niêm yết đã công bố BCTC riêng lẻ quý III năm 2011 Các BCTC này cho thấy, nợ xấu của các ngân hàng đã tăng khá mạnh sau 9 tháng đầu năm nay Bên cạnh đó, nợ nhóm 2, tức nợ cần chú ý, được xem là nợ “dự bị” xấu cũng tăng mạnh không kém Trong số 8 ngân hàng niêm yết là VCB, CTG, STB, ACB, EIB, SHB, HBB và NVB, tất cả nợ xấu của các ngân hàng đều tăng

Bảng : Tỷ lệ nợ xấu các ngân hàng niêm yết

Đv tính: Tỷ đồng

Tổng dư nợ

tại 30/9/2011 271,677 188,473 80,149 69,524 99,719 28,252 18,685 12,869

Nợ xấu

đến cuối T9/2011 1.37% 3.92% 0.60% 1.50% 1.07% 1.55% 2.80% 2.80%

Nợ xấu

cuối năm 2010 0.70% 2.80% 0.50% 1.40% 0.30% 1.40% 2.40% 2.20%

So với thời điểm cuối năm 2010, ngân hàng có mức độ nợ xấu tăng mạnh nhất là VCB từ 2,8% lên 3,92 % (tại thời điểm 30/9/2010) Đây cũng là ngân hàng có tỷ lệ nợ xấu lớn nhất trong 8 ngân hàng Ngân hàng đáng chú ý nhất về mức tăng nợ xấu là CTG với tổng nợ xấu sau 9 tháng đầu năm 2011 tăng 144%, từ mức 1.530,7 tỷ đồng lên 3.731,8 Không chỉ vậy, trong số nợ xấu tăng lên, nợ xấu nhất, tức nợ có khả năng mất vốn (nhóm 5, với tỷ lệ trích dự phòng 100%) tăng tới 735%, từ mức 202,5 tỷ đồng lên 1.691 tỷ đồng

Cơ cấu và tốc độ tăng nợ xấu

Trang 5

Nhìn vào biểu đồ về Tỷ lệ nợ xấu/ tổng dư nợ của các NHTM, ta thấy nợ nhóm 5 hay nợ có khả năng mất vốn chiếm tỷ lệ rất lớn, đây là vấn đề rất đáng lo ngại đối với các Ngân hàng thương

mại Hầu hết các ngân hàng niêm yết nói trên đều là các ngân hàng lớn, có bề dày kinh nghiệm cũng như năng lực quản trị tốt nhất Vì vậy, có thể hình dung được thực trạng nợ xấu của các ngân hàng còn lại cũng như của toàn hệ thống ngân hàng là như thế nào

Các số liệu quý III nói trên là của các BCTC chưa được kiểm toán Nếu sau khi soát xét, chỉ cần

có sự xê dịch trong việc phân loại nợ giữa các nhóm khác nhau, kết quả kinh doanh của ngân hàng sẽ có sự thay đổi đáng kể Bức tranh nợ xấu tại các ngân hàng niêm yết là thông điệp trực tiếp phản ánh mức độ khó khăn trong kinh doanh của các doanh nghiệp và của nền kinh tế Theo Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN và Quyết định 18/2007/QĐ-NHNN, nợ thuộc nhóm 2 có tỷ lệ trích lập dự phòng 5%, nhóm 3 là 20%, nhóm 4 là 50% và nhóm 5 là 100% Nợ xấu của các NHTM niêm yết nói riêng và các NHTM của Việt Nam nói chung tăng lên là một thực tế cảnh báo về mức độ an toàn của các NHTM Nhiều chuyên gia đã cảnh báo, nợ xấu có thể sẽ tiếp tục tăng mạnh trong thời gian tới, nhất là trong bối cảnh nền kinh tế còn tiếp tục khó khăn như hiện tại, khi các doanh nghiệp đến hạn trả nợ mà không thực hiện được Bối cảnh thị trường bất động sản ảm đạm, với lãi suất cao hiện nay, nếu doanh nghiệp nào kinh doanh tốt gần như tất cả lợi nhuận làm ra chỉ đủ để chi trả chi phí lãi vay (trừ 1 số ít đếm trên đầu ngón tay là có lợi nhuận khả quan) Còn lại gần như thua lỗ và không ít doanh nghiệp đang ngấp nghé bờ vực phá sản, nếu thị trường BĐS tiếp tục đóng băng như hiện nay kéo dài thêm 6 tháng đến 1 năm nữa thì áp lực sẽ đè nặng trên toàn hệ thống tài chính VN Nợ xấu sẽ gia tăng theo hiệu ứng domino, như

nợ xấu BĐS 6 tháng đầu năm khoảng 8-12% dư nợ trong các báo cáo tài chính của hầu hết các

NH trong quý III năm nay tỉ lệ nợ xấu đều tăng lên Tuy nợ xấu có tăng cao lên như vậy nhưng

5

Trang 6

theo các chuyên gia kinh tế, số liệu này vẫn chưa phản ảnh thực chất nợ xấu hiện tại ở các ngân hàng thương mại cổ phần hiện nay Một cán bộ lãnh đạo cấp vụ của Ngân hàng Nhà nước nói:

“Số liệu này không ai tin, nhưng căn cứ nào để nói số liệu đó phản ánh không đúng chất lượng tín dụng hiện nay thì chưa chỉ rõ ra được” Một số lãnh đạo các chi nhánh ngân hàng thương mại (cả cổ phần và Nhà nước) nhận xét tỷ lệ nợ xấu thể hiện trên các báo cáo tài chính hiện nay

là thấp so thực tế Nguyên nhân chủ yếu do một số ngân hàng sợ ảnh hưởng đến kết quả tài chính Nếu số nợ xấu lớn thì phải trích lập để dự phòng cũng lớn (nhóm 3 : 20%, nhóm 4 : 50%

và nhóm 5 là 100%) số tiền này phải hạch toán vào chi phí hoạt động Nếu trích đủ dự phòng, chi phí nhiều chi nhánh ngân hàng thương mại Nhà nước sẽ lớn hơn thu nhập Mặc dù NHNN

đã đưa ra quy định về việc phân loại nợ theo Quyết định 493/2005 trong đó bao gồm cả phân loại theo định lượng (điều 6) và định tính (điều 7) song chỉ có BIDV, Agribank và Vietcombank

đã thực hiện việc phân loại nợ theo định tính Nguyên nhân là do họ phải xây dựng được hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ để áp dụng phương pháp phân loại này

Việc phân loại nợ theo định tính sẽ làm tỷ lệ nợ xấu cao gấp 2-3 lần so với định lượng và bản thân

nó cũng gặp phải nhiều điểm bất cập NHNN trong cuộc gặp với các NHTM mới đây cho biết họ đang xây dựng dự thảo thông tư quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động của tổ chức tín dụng nhằm thay thế Quyết định 493 đã lỗi thời Theo NHNN, con số nợ xấu 3,1% theo chuẩn Việt Nam vẫn ở mức an toàn và kiểm soát được, nhưng theo chuẩn quốc tế tỷ lệ nợ xấu của các ngân hàng Việt Nam lên tới 13% tổng dư nợ và

là một con số đáng lo ngại Lý do của sự khác biệt này là nợ xấu (non-performing loans, hay NPL) theo cách tính của quốc tế là các khoản nợ không có khả năng trả hoặc gần như không có khả năng trả Trong khi đó, cách của Việt Nam chỉ tính khoản nợ đến hạn Chính vì lý do đó mà

có sự khác biệt rất lớn giữa con số của Việt Nam đưa ra và con số của Fitch Ratings ước tính Nền kinh tế Việt Nam giai đoạn 2010-2011 đang trải qua khó khăn với tình trạng lạm phát, lãi suất tăng cao trong khi đồng tiền trượt giá gần 30%, đã đẩy hàng loạt doanh nghiệp nhỏ và vừa vào tình trạng phá sản

Hiện nay, dư nợ bất động sản, tài chính và tiêu dùng chiếm 16,95% tổng dư nợ, tương đương 360.000 tỷ đồng Trong khi đó, thị trường bất động sản đóng băng khiến các doanh nghiệp không có tiền để tiếp tục xây dựng hay hoàn thành, đã phải hạ giá bán sản phẩm (như trường hợp của PVL vay của Ngân hàng Bưu điện Liên Việt 100 tỷ đã phải bán tháo dự án giá rẻ do áp lực trả nợ ngân hàng), càng tăng thêm mối lo cho các ngân hàng về khả năng thu hồi vốn Đơn

cử như bức tranh khủng hoảng tín dụng ‘’đen’’ tại Việt Nam trong thời gian vừa qua Từ tháng 9/2011 đến nay, cả nước đã xảy ra hàng loạt vụ vỡ nợ khủng trong khu vực phi chính thức, gây nên những cú sốc cho cả người dân là chủ nợ, lẫn cơ quan quản lý nhà nước Bộ Công An đã vào cuộc trong một số trường hợp đặc biệt Tổng số tiền thất thoát từ các vụ vỡ nợ ước tính lên tới hơn 10.000 tỷ đồng (500 triệu USD) Một số vụ vỡ nợ tín dụng đen điển hình từ tháng 9/2011 đến nay:

- Huỳnh Thị Huyền Như – TP HCM : khoảng 1000 tỷ

Trang 7

- Nguyễn Thị Tuyết Mai – TP HCM : 30 tỷ

- Vũ Văn Điệp – Giám đốc công ty Trường Phong – Thái Bình : Khoảng vài trăm tỷ

( ĐôngA Bank 99 tỷ, VCB 13 tỷ )

- Nguyễn Thị Cúc – Phú Xuyên : 284 tỷ

- Tạ Việt Quang – Thị trấn Phùng – Đan Phượng Hà Nội : gần 300 tỷ

- 3 vụ vỡ nợ ở TP Vinh- Nghệ An liên quan tới 2 cán bộ của Ngân hàng ( Nguyễn Trọng

Hưng – Cán bộ chi nhánh SCB Nghệ An và Đặng Nam Hải – Trưởng phòng cá nhân Eximbank Nghệ An : Khoảng 50 tỷ VND )

Tổng cộng quy mô của tất cả các vụ vỡ nợ này theo thông tin được các báo chí cung cấp tương

đương bằng vốn điều lệ của một NHTM cỡ vừa, điều này càng làm gia tăng mối lo ngại nợ xấu

Vì thế, một trong những nội dung trọng điểm của chương trình tái cấu trúc ngành ngân hàng là

việc tập trung xử lý lượng nợ xấu đang tồn đọng và có dấu hiệu tăng mạnh trong hệ thống ngân

hàng

70% khoản nợ xấu hệ thống ngân hàng thuộc về các doanh nghiệp nhà nước, do đó điều quan

trọng không chỉ làm sạch khoản nợ xấu này mà là cơ chế kiểm soát và thẩm định chặt chẽ, đảm

bảo những doanh nghiệp nhà nước với những dự án hiệu quả mới được cấp tín dụng, thay vì

được Chính phủ ưu ái hỗ trợ vốn tràn lan hiện nay

Vietcombank( VCB ) là một ngân hàng thương mại cổ phần nhà nước cũng được đánh giá là

ngân hàng lớn và có kinh nghiệm trong việc quản trị rủi ro, có hệ thống xếp hạng tín dụng nội

bộ khá tốt nhưng nợ xấu cũng đang tăng một cách nhanh chóng và VCB cũng là một trong

những ngân hàng có tỷ lệ nợ xấu cao so với các ngân hàng thương mại Diễn biến nợ xấu 8

tháng đầu năm 2011

Tháng 12/2010 01/2011 02/2011 03/2011 04/2011 05/2011 06/2011 07/2011 08/2011

Tỷ lệ nợ

Tỷ lệ nợ

Tỷ lệ nợ xấu của Vietcombank tính từ đầu năm tới nay liên tục tăng, nợ xấu tăng tại các chi

nhánh tập trung ở một, hai khách hàng lớn Chi nhánh có nợ xấu cũng như tỷ lệ nợ xấu tăng cao

tập trung nhiều ở khu vực Bắc Bộ Trong đó xét trong 10 khách hàng nợ xấu tăng tập trung ở

ngành sản xuất phôi thép (38,4%), vận tải đường biển (12,2%), cơ khí chế tạo (12,1%), thương

mại café (11,8%), đóng tàu, thuyền (13,9%),… Số tăng nợ xấu của 10 khách hàng này chiếm

đến 75% số tăng nợ xấu toàn ngành

Nợ nhóm 2 tập trung ở các ngành bất động sản, dịch vụ vận tải, xi măng, vật liệu xây dựng khác

và dịch vụ chăm sóc sức khỏe,… Tốc độ tăng nợ nhóm 2 của VCB tương đối lớn Với tình hình

7

Trang 8

kinh tế khó khăn như hiện nay những khách hàng nhóm 2 này là một nguy cơ tiềm ẩn ảnh hưởng xấu đến chất lượng tài sản của Ngân hàng, khi nhóm này có thể chuyển sang nhóm nợ xấu bất cứ lúc nào

Tỷ lệ nợ xấu của Vietcombank tính từ đầu năm đến nay liên tục tăng là do các nguyên nhân :

- Do dư chấn của cuộc khủng hoảng, suy thoái kinh tế thế giới

- Tình hình kinh tế trong nước khó khăn, tỷ lệ lạm phát cao, diễn biến phức tạp của tỷ giá

và lãi suất làm cho môi trường kinh doanh của doanh nghiệp bị ảnh hưởng, đặc biệt là các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thép, vận tải và đóng tàu

- Khách hàng có năng lực quản lý kém, đầu tư dàn trải và dự án cho vay không hiệu quả

- Bong bóng bất động sản làm cho việc phát mại tài sản đảm bảo khó khăn, kéo dài,…

Kết luận : Qua phân tích thực trạng nợ xấu của Vietcombank cùng các số liệu về nợ xấu được công bố nêu trên có thể thấy được toàn cảnh bức tranh nợ xấu của các ngân hàng thương mại Việt Nam ngày càng xấu đi, nó phản ảnh thực trạng hệ thống tài chính yếu kém

và hơn hết đang cần có những biện pháp thật mạnh tay để giải quyết Nếu xu hướng này tiếp

tục diễn ra thì thanh khoản hệ thống ngân hàng vào thời điểm cuối năm 2011 sẽ trở nên rất căng thẳng Những NHTM nhỏ có thể là những ngân hàng đầu tiên gánh chịu các tác động lớn nhất Nếu như có quá nhiều khoản nợ quá hạn trong khi lại không thể cạnh tranh huy động được vốn trên thị trường 1 (thị trường huy động vốn từ dân cư và các tổ chức) do lãi suất bị áp trần 14% thì hiệu ứng căng thẳng thanh khoản ắt xảy ra và kéo theo đó là sự phá sản của một số các ngân hàng

2 Nguyên nhân của thực trạng nợ xấu

2.1 Nguyên nhân khách quan

 Sự gia tăng của lãi suất :

Lãi suất huy động của các ngân hàng thương mại, đã và đang tăng Lãi suất cho vay đầu ra buộc phải tăng theo để cân đối Hiện tại, lãi suất huy động VND vào khoảng 14%/năm, lãi suất cho vay từ 17-21%/ năm Theo đó, chi phí vốn của doanh nghiệp đội lên, khả năng trả nợ bị ảnh hưởng

Các doanh nghiệp mạnh sẽ không chấp nhận lãi suất cao vì họ có khả năng tìm nguồn vốn khác Phần lớn những doanh nghiệp dám chấp thuận mức lãi suất cao xuất phát từ sự thiếu vốn trầm trọng, năng lực tài chính hạn chế, độ tín nhiệm thấp nên không tiếp cận được những nguồn vốn khác Và tất nhiên, nguy cơ nợ xấu ngân hàng tăng lên từ nhóm đối tượng này Ngoài ra, đi cùng tình trạng kinh tế khó khăn, đã có hàng ngàn doanh nghiệp phá sản và hàng chục ngàn doanh nghiệp khác suy giảm sản xuất, hàng loạt doanh nghiệp tạm đóng cửa hay cầm chừng chờ thời Tất nhiên, khi doanh nghiệp không hoạt động, không có lợi nhuận thì không có khả năng thanh toán nợ ngân hàng Và những khoản vay của họ lần lượt được thành các khoản nợ xấu

 Ảnh hưởng bong bóng của tài sản thế chấp

Chiếm phần lớn trong danh mục tài sản thế chấp vay vốn hiện nay là bất động sản Giá nhà đất tăng cao, vượt cả giá trị hợp lý của nó và thị trường đóng băng, khả năng trả nợ của nhiều chủ

Trang 9

đầu tư rơi vào khủng hoảng Biện pháp thường thấy của các ngân hàng là gia hạn nợ, nhưng đó

là cách để tiến gần hơn tới ranh giới nợ xấu Mặt khác, khi giá nhà đất giảm, các ngân hàng lại rơi vào tình trạng giá tài sản thế chấp cho khoản nợ lại cao hơn giá thực tế

Tính đến cuối tháng 3/2011, tổng dư nợ của các tổ chức tín dụng là 2,39 triệu tỷ đồng, trong đó bất động sản chiếm 10,8% Tỷ lệ nợ xấu bất động sản trong tổng dư nợ cho vay bất động sản là 4%, cao hơn mức bình quân nợ xấu của ngân hàng

TS Lê Xuân Nghĩa, Phó chủ tịch Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia chỉ rõ, không chỉ tỷ lệ dư

nợ tín dụng bất động sản cao, nhiều ngân hàng vẫn đang xem xét các khoản vay nội bộ, tức là cho các cổ đông lớn của các ngân hàng vay tiền, mà các cổ đông này lại chính là chủ đầu tư các

dự án bất động sản Đây chính là rủi ro lớn đối với ngân hàng

Ngoài nguyên nhân trên, theo ông Nguyễn Trần Nam, Thứ trưởng Bộ Xây dựng, nợ xấu bất động sản tại các ngân hàng thương mại có xu hướng tăng trong thời gian qua còn do nhiều tổ chức tín dụng thực cấp tín dụng trên cơ sở đảm bảo bằng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của chủ đầu tư cấp I

Cụ thể, ngay khi công trình mới nằm trên giấy, chủ đầu tư đã huy động vốn từ người mua nhà

Và chính người tiêu dùng hay các chủ đầu tư thứ cấp lại tiếp tục dùng hợp đồng mua nhà đó vay vốn ngân hàng và tái đầu tư Với kiểu vay vốn vòng quanh như vậy, một tài sản bất động sản, hoặc một dự án bất động sản sẽ tiếp cận vay vốn được nhiều ngân hàng Điều này làm phát sinh

nợ xấu trên toàn hệ thống ngân hàng, nếu sản phẩm bất động sản không sớm được thanh khoản Ngoài ra, việc Ngân hàng Nhà nước hạn chế tín dụng phi sản xuất xuống dưới 22% vào ngày 30/6/2011 và 16% vào cuối năm 2011 cũng khiến thị trường bất động sản rơi vào cảnh thiếu vốn, nhiều doanh nghiệp phát triển dự án bất động sản không thể hoàn thiện các hạng mục dở dang, thanh khoản khó khăn , dẫn đến việc doanh nghiệp, nhà đầu tư không có khả năng thu hồi vốn, nên không có tiền trả nợ ngân hàng

 Rủi ro về môi trường kinh doanh.

Do thiên tai, hỏa hoạn, chiến tranh, khủng bố, do vậy việc sử dụng vốn vay và vốn của doanh nghiệp không đạt hiệu quả, mất hoàn toàn về vốn của cả doanh nghiệp và của cả vốn vay ngân hàng thương mại Tình hình kinh tế thế giới có thể ảnh hưởng đến hoạt động tín dụng như : Biến động của giá vàng thế giới, giá dầu mỏ, giá một số ngoại tệ mạnh hoặc giá một số vật tư chủ yếu có xu hướng tăng cao Hoặc sự biến động và sức ép cạnh tranh ngày càng tăng của thị trường, hoặc môi trường kinh doanh, làm cho doanh nghiệp không có khả năng thích ứng kịp thời, kinh doanh khó khăn dẫn đến mất khả năng thanh toán

2.1 Nguyên nhân chủ quan

 Về phía ngân hàng thương mại

Để xảy ra thực trạng nợ xấu như hiện nay nguyên nhân một phần không nhỏ khi ngân hàng quyết định cho vay thiếu căn cứ khoa học, không phân tích tình hình khả năng sử dụng vốn và hoàn trả nợ vay của doanh nghiệp Với áp lực tăng vốn, nhiều ngân hàng tìm mọi cách để tăng

9

Trang 10

trưởng nhanh, đặc biệt là đã nới lỏng các tiêu chuẩn cho vay để đảm bảo hiệu quả trên đồng vốn Song, hậu quả lại dẫn đến các khoản nợ xấu tăng nhanh

Theo đánh giá của các chuyên gia, nợ xấu của hệ thống Ngân hàng là hệ quả tất yếu của quá trình tăng trưởng tín dụng quá nóng trong những năm qua, cộng với cơn sốt cho vay bất động sản, chứng khoán ồ ạt trong thời kì 2006-2007 Trong 10 năm trở lại đây, mặc dù Ngân hàng Nhà nước thường xuyên yêu cầu các Ngân hàng thương mại phải hạn chế tăng trưởng tín dụng không quá cao nhưng thực tế tăng trưởng vẫn trên 20%; năm 2007 tăng trưởng tín dụng tới 51,39%; năm 2009 là 37,7%; năm 2010 là 29,8% Việc cho vay ồ ạt cùng với chính sách cho vay lỏng lẻo những năm trước đã để lại nhiều hệ lụy, trong đó có nợ xấu

- Sự phát triển ồ ạt của hệ thống ngân hàng thương mại cũng là một nguyên nhân gia tăng nợ xấu (cả nước có khoảng 100 ngân hàng) Sự ra đời của ngân hàng dễ dàng, thậm chí không đạt tiêu chuẩn về vốn ban đầu đã thúc đẩy các ngân hàng nhỏ tìm mọi cách tăng vốn huy động, thúc đẩy tín dụng bằng cách nới lỏng tiêu chuẩn cho vay, cho vay dễ dãi, thiếu các điều kiện bảo đảm cần thiết… cũng làm cho nợ xấu gia tăng

Mặt khác chính vì mục tiêu tăng lợi nhuận ròng và giảm gánh nặng của các khoản phải trích dự phòng rủi ro theo quy định mà các ngân hàng hay tổ chức tín dụng sẽ sẵn sàng cơ cấu lại các khoản nợ không chỉ một lần mà diễn ra nhiều lần qua đó có những sự chuyển biến từ nợ xấu thành các khoản tín dụng thuộc nhóm 1 hoặc nhóm 2 những nhóm có độ an toàn tín dụng cao Việc cơ cấu lại các khoản nợ theo hướng này các ngân hàng hay tổ chức tín dụng sẽ có hệ số nợ xấu thấp qua đó tăng độ tin cậy hay xếp hạng về độ an toàn tín dụng ở hệ thống ngân hàng qua

đó nâng cao uy tín trong hệ thống liên ngân hàng và giảm thiểu các khoản trích dự phòng tăng lợi nhuận ròng

Tuy nhiên chính do sự liên tục cơ cấu lại các khoản nợ như trên đã tạo ra một sự mập mờ trong phân định nợ quá hạn và nợ xấu, mang lại rủi ro lớn cho các ngân hàng và các tổ chức tín dụng

 Về phía doanh nghiệp

- Quản lý sản xuất kinh doanh kém hiệu quả, sử dụng vốn vay không đúng mục đích, tiền vay về không có tác dụng thúc đẩy hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, dẫn đến doanh nghiệp vay vốn làm ăn kém hiệu quả, nợ phải trả tăng trong đó có nợ vay ngân hàng

- Bản thân doanh nghiệp thiếu ý thức trong vấn đề sử dụng vốn vay, hoặc thiếu ý thức trong vấn

đề trả nợ, không lo lắng, không quan tâm đến nợ ngân hàng mặc dù khả năng tài chính của doanh nghiệp có

- Sử dụng vốn vay sai mục đích : Theo báo cáo mới đây được Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) đưa ra tại hội thảo “Ngân hàng và DN trước tác động của chính sách tiền tệ”, có hơn 60% doanh nghiệp lấy quá nhiều vốn ngắn hạn đầu tư trung dài hạn, đa số doanh nghiệp đều đầu tư ngoài ngành Lãi phải trả là cho 100% khoản vay trong khi chỉ có 60% vốn sử dụng có hiệu quả

Ngày đăng: 02/01/2014, 16:57

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng    : Tỷ lệ nợ xấu các ngân hàng niêm yết - THỰC TRẠNG nợ xấu của NGÂN HÀNG THƯƠNG mại và PHƯƠNG THỨC GIẢI QUYẾT
ng : Tỷ lệ nợ xấu các ngân hàng niêm yết (Trang 4)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w