Vấn đề nhận thứcluận trong triết học còn được thể hiện về phương diện bản thể luận, trongquan niệm về ý thức, sự lý giải về mối quan hệ giữa ý thức và vật chất vàtrong cả tư tưởng triết
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS NGUYỄN THANH TÂN
Huế, 2010
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiêncứu của bản thân tôi, trong đó có sự kế thừa kết quảnghiên cứu của các học giả đi trước, với những tríchdẫn và sử dụng các tài liệu trong giới hạn cho phép.Luận văn này chưa được công bố trên các phươngtiện thông tin cũng như không trùng với bất kỳ côngtrình khoa học nào đã công bố trước đây
Tác giả
Nguyễn Thị Thắng
Trang 4Lời cảm ơn
Để hoàn thành luận văn, tôi xin chân thành cảm ơn quý thầy cô giáo, những người đã trực tiếp giảng dạy và trau dồi kiến thức bổ ích cho tôi trong suốt khóa học.
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất đến thầy giáo - TS Nguyễn Thanh Tân, người đã hướng dẫn, tạo điều kiện tốt nhất và truyền nhiệt huyết giúp tôi có động lực hoàn thành luận văn này.
Tôi cũng xin được cảm ơn Khoa Lý luận Chính trị, Trường Đại học Khoa Học Huế cùng gia đình và đồng nghiệp đã luôn bên cạnh động viên tôi trong suốt thời gian học tập và thực hiện luận văn.
Xin chân thành cảm ơn
Huế, tháng 10 năm 2010
Tác giả
Nguyễn Thị Thắng
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Lý luận nhận thức được coi là học thuyết về khả năng nhận thức của conngười, về sự xuất hiện và phát triển của nhận thức cũng như về con đường,
Trang 5phương pháp nhận thức Từ trước đến nay, nó luôn là một chủ đề lớn củatriết học.
Nhận thức luận hay lý luận nhận thức cũng là một trong những nội dung
cơ bản của nhiều hệ thống triết học lớn Trong lịch sử triết học, vấn đề vềnhận thức luôn đóng vai trò chủ yếu và thậm chí, có khi (thời cận đại ở TâyÂu) còn là vấn đề trung tâm của triết học Vấn đề này với tính cách là mộtnội dung quan trọng trong vấn đề cơ bản của triết học, có thực chất là vấn đề
về mối quan hệ giữa chủ thể và khách thể trong quá trình nhận thức Vì vậy,
lý luận nhận thức có nội dung rất phong phú gồm quan niệm về bản chất củanhận thức, về quá trình nhận thức và các cấp độ của nhận thức, chân lý vàtiêu chuẩn của chân lý cũng như tính tin cậy của tri thức Vấn đề nhận thứcluận trong triết học còn được thể hiện về phương diện bản thể luận, trongquan niệm về ý thức, sự lý giải về mối quan hệ giữa ý thức và vật chất vàtrong cả tư tưởng triết học về con người
Mọi trào lưu triết học trong sự phát triển của mình không thể không đềcập đến các vấn đề nhận thức luận Triết học Phật giáo cũng vậy, có một nộidung quan trọng là bàn về các vấn đề nhận thức luận Nhận thức luận Phậtgiáo không chỉ có tác dụng làm sáng tỏ những tư tưởng triết học của bản thântrường phái này, mà còn có những cống hiến nhất định cho sự phát triển củanhận thức luận nói chung Vì vậy, sẽ thật là thiếu sót khi chúng ta bàn vềnhận thức luận nói chung mà bỏ qua vấn đề nhận thức luận trong triết họcPhật giáo, bởi nếu không bàn về nhận thức luận Phật giáo thì không thể bànđến triết học Phật giáo - một trào lưu triết học đã từng có những ảnh hưởngnhất định trong lịch sử tư tưởng của loài người ở quá khứ, hiện tại và trong cả
tương lai
Có thể nhận định rằng, mảng nhận thức luận trong triết học Phật giáobên cạnh những hạn chế nhất định còn có những đóng góp to lớn cho sự pháttriển tư duy triết học Phật giáo nói riêng và cho nền triết học của nhân loại
Trang 6nói chung Vì thế, bàn về nhận thức luận Phật giáo là một điều cần thiết đốivới những người làm công tác nghiên cứu, giảng dạy triết học Xuất phát từ
lý do đó, tác giả chọn vấn đề: “Thực chất và ý nghĩa của nhận thức luận
Phật giáo” làm đề tài luận văn của mình.
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Có thể nói, các vấn đề của nhận thức luận đã được bàn đến ngay từ buổiban đầu khi đức Phật Thích Ca Mâu Ni sáng lập ra Phật giáo Ngoài số lượngKinh, Luật, Luận của Phật giáo được tích lũy hơn 2600 năm qua, còn cónhiều công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài này vào những năm của thế
kỷ XX và hiện nay
Trong tác phẩm “Tìm hiểu trung luận, Nhận thức và không tánh”, tác giả
Hồng Dương Nguyễn Văn Hai đã bàn luận lời Đức Phật để giải thích và làm
rõ các quan năng của nhận thức theo quan điểm của triết học Phật giáo
Khi đề cập đến nhận thức luận của triết học Phật giáo, trong tác phẩm
“Cốt tuỷ của đạo Phật”, tác giả Suzuki cho thấy rằng, chính con người, chính
chúng ta, với khả năng nhận thức của mình mới có thể làm cho thế giới lớnlên, và như vậy là cả chúng ta cũng đang lớn dần lên
Tác giả Thích Tâm Phương trong tác phẩm: “Tìm hiểu lộ trình tâm qua luận pháp thắng tập yếu” (Nhà xuất bản tôn giáo) cho rằng: “Đức Phật đặt
nặng sự chú ý vào tâm và những hiện tượng tâm linh, vì đời sống nội tâmđóng một vai trò rất lớn làm phát khởi hành động của con người An lạc haykhổ tâm đều ở nơi tâm Tâm lý học Phật giáo hướng dẫn hành giả vào đườnglối phân biệt và khảo sát nhằm khuyến khích mỗi người tự phát triển năng lựcnhận thức và phẩm chất nội tâm”
Trong “Luận thành duy thức” tác giả Thích Thiện Siêu có bàn rằng:
“Nói duy thức chính là đưa ra lời khai thị, thức tỉnh người ta hãy tự giác, hãyquán tâm mình, nhìn lại các năng lực thiên biến vạn hoá ở ngay trong mình
Trang 7để gạn lọc nó, trau dồi nó, sữa chữa nó, phải biến hoá như thế nào để chỉ đem
lại lợi lạc, chứ đừng gây ra đau khổ”
Hòa thượng Thích Nhất Hạnh với tác phẩm “Vấn đề nhận thức trong duy thức học” đã đưa ra sự phân tích các hình thái nhận thức: hiện lượng, tỉ lượng và phi lượng Ông nhấn mạnh: “ điều hệ trọng nhất là thức bao gồm
trong nó cả phần chủ thể và đối tượng Kiến phần và Tướng phần là hai phầnthiết yếu không thể không có của thức, của nhận thức”
Trong luận án tiến sĩ “Một số vấn đề lôgíc học Phật giáo”, tác giả Phạm
Quỳnh đã chỉ ra các cấp độ của nhận thức được thể hiện trong thuyết Tam tựtính của triết học Phật giáo là: Biến kế sở chấp tính, Y tha khởi tính và Viênthành thực tính
Bên cạnh những công trình nói trên, khi bàn về nhận thức luận Phật giáo
còn có các tác phẩm như: “Lối vào nhân minh học” của Thích Thiện Siêu,
“Duy thức học nhập môn” của Thích Thiện Hoa; “Tâm lý học Phật giáo” củaThích Tâm Thiện
Các công trình trên đây đã bàn về Nhân minh luận, Duy thức học, Lôgichọc, Tâm lý học Phật giáo và có gián tiếp đề cập đến một số khía cạnh nhấtđịnh của nhận thức luận có liên quan đến đề tài Những công trình đó là tàiliệu tham khảo quý giá, đã có nhiều gợi ý giúp chúng tôi hoàn thành luận văncủa mình
Trang 83 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài
Mục đích của đề tài là làm rõ thực chất và ý nghĩa của nhận thức luậnPhật giáo
Trên cơ sở mục đích đó, tác giả đặt ra nhiệm vụ là:
- Phân tích thực chất của nhận thức luận Phật giáo
- Phân tích ý nghĩa của nhận thức luận Phật giáo đối với sự phát triểncủa bản thân triết học Phật giáo nói riêng và đối với sự phát triển của tưtưởng triết học nói chung
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu đề tài
Cơ sở lý luận của đề tài là các nguyên lý duy vật biện chứng của triết học
Mác - Lênin; đặc biệt là các nguyên lý duy vật biện chứng về nhận thức
Phương pháp luận nghiên cứu của đề tài là các nguyên tắc của phép biện
chứng Để vận dụng các nguyên tắc này vào việc giải quyết các nhiệm vụ của
đề tài, chúng tôi kết hợp sử dụng các phương pháp chung như phân tích vàtổng hợp, trừu tượng hóa và khái quát hóa, thống kê và chú giải các tài liệu
5 Đóng góp của luận văn
Với luận văn này, tác giả cố gắng trình bày một cách cơ bản, có tính hệthống về nhận thức luận Phật giáo trong sự so sánh với nhận thức luận củacác hệ thống triết học khác, nhất là với nhận thức luận mácxít; từ đó đánh giá
ý nghĩa của bộ phận này trong triết học Phật giáo
Nếu thực hiện được mục đích này, luận văn có thể làm tài liệu thamkhảo cho công tác nghiên cứu và giảng dạy môn triết học Phương đông, màđặc biệt là môn triết học Phật giáo ở các trường đại học, cao đẳng
Luận văn này cũng có thể làm tài liệu tham khảo hữu ích cho các tăng nisinh theo học các hệ đào tạo Phật giáo
6 Kết cấu của luận văn
Trang 9Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, Luậnvăn có hai chương (5 tiết).
Chương 1
THỰC CHẤT CỦA NHẬN THỨC LUẬN PHẬT GIÁO
1.1 Những vấn đề của nhận thức luận Phật giáo
Khoảng 600 năm trước Tây lịch, người Ấn Độ cổ đại đã chứng kiến sự
ra đời của một hệ tư tưởng mà về sau mang tầm vóc nhân loại, đó là ĐạoPhật Trải qua hơn 25 thế kỷ, tư tưởng của đạo Phật không những vẫn tồn tại,
có ảnh hưởng ngày càng lớn trên thế giới, mà còn được mọi người biết đếnvới nhiều phát hiện mới mẻ
Bên cạnh tính huyền thoại như các vị giáo chủ của nhiều tôn giáo khác,người sáng lập ra đạo Phật còn là một nhân vật lịch sử - đó là đức Phật Thích
Ca Xuất phát từ việc nhìn thấu nỗi khổ ở đời, Ngài đi tìm con đường diệt khổcho mình, cho mọi người và cho cả chúng sinh Chính trong quá trình đi tìmcon đường diệt khổ ấy, Ngài đã từng bước xây dựng một hệ thống lý luận vềnhận thức mang đặc trưng riêng của Phật giáo Hệ thống này càng được bổsung, dần hoàn thiện hơn bởi các môn đồ sau này của Ngài Lý luận nhậnthức trong triết học Phật giáo có những điểm khác so với nhận thức luận củatriết học Mác - Lênin và cả với nhiều trường phái triết học trong lịch sử,nhưng chính những điểm khác nhau ấy đã làm cho triết học Phật giáo, đặcbiệt là nhận thức luận Phật giáo thể hiện được đường hướng tu hành và chứngnghiệm về thế giới theo một cách riêng của mình Với những nét riêng ấy,nhận thức luận của Phật giáo đã góp phần làm phong phú thêm kho tàng lýluận nhận thức của nhân loại
Mỗi khi bàn về vấn đề nhận thức, các câu hỏi sau đây thường được đặt ra:Thứ nhất, làm sao biết rõ tiến trình nhận thức?
Trang 10Thứ hai, nếu phân loại những gì mình nhận thức được thì có bao nhiêuđối tượng được lượng biết tất cả?
Thứ ba, bằng cách nào mình lượng biết được những đối tượng ấy (cáchình thái của nhận thức)?
Những câu hỏi cứ lần lượt đặt ra song không phải trường phái triết học nàocũng có thể trả lời và trả lời thấu đáo được Vậy, triết học Phật giáo thì sao?Trước hết, chúng ta tìm hiểu những quan niệm khái quát trong nhận thứcluận Phật giáo qua giáo lý Tám thức
Phật giáo cho rằng, con người có sáu năng lực nhận biết về đối tượng,gọi là Lục căn: nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý Tương ứng với Lục căn là đốitượng trong khách thể nhận thức (gọi là Cảnh) gồm Lục trần: sắc, thanh,hương, vị, xúc, pháp Khi Lục căn gặp phải Lục trần trong quá trình nhận biếtthì Phật giáo gọi là Lục nhập Sự gặp gỡ của Lục căn và Lục trần trong quátrình nhận biết sinh ra cái biết, gọi là Thức, mà trước hết gồm có Lục thức:Nhãn thức, Nhĩ thức, Tỷ thức, Thiệt thức, Thân thức và Ý thức
Nhãn căn lấy sắc trần làm đối tượng, có thể phát sinh ra Nhãn thức.Nhĩ căn lấy thính trần làm đối tượng, có thể phát sinh ra Nhĩ thức
Tỷ căn lấy hương trần làm đối tượng, có thể phát sinh ra Tỷ thức
Thiệt căn lấy vị trần làm đối tượng, có thể phát sinh ra Thiệt thức
Thân căn lấy xúc trần làm đối tượng, có thể phát sinh ra Thân thức.Mắt thấy, tai nghe, mũi ngửi , tác dụng thấy, nghe, ngửi ấy là Thức Mỗithức có một tác dụng riêng, thức là một tác dụng vô hình, vô tướng Thức ởđâu cũng có và ở đâu có căn và có cảnh thì tác dụng ấy có thể được biểu hiện.Phân biệt thuần tuý của năm thức ấy là một phân biệt bằng trực giác, nênkhông phải là một phân biệt có tính cách suy tầm, đắn đo Phân biệt suy tầm đắn
Trang 11đo là phân biệt của thức thứ sáu tức ý thức rộng lớn vô cùng Đối tượng của ýthức là Pháp trần sinh ra các tư tưởng Khi thức này hợp tác cùng năm thứctrước thì đối tượng tổng hợp của nó là ngũ trần (sắc, thanh, hương, vị, xúc).Nếu năm căn trước (nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân) có quan năng phát sinhmang hình chất thì năng lực thứ sáu (ý) có quan năng phát sinh không manghình chất gọi là Mạt na Phân tích các tác dụng của Mạt na, Phật giáo chia ra,Mạt na sinh ra cái biết (phân biệt) mang tính gián đoạn (biết khi tỉnh, khôngbiết khi ngủ) gọi là Ý thức, Mạt na có tác dụng chấp ngã, tức chấp có, Ta gọi
là Mạt na thức Mạt na chấp cái biết của bảy năng lực trên đây và trở thànhkho chứa của bảy thức gọi là Alaya thức (Tàng thức)
Cái mà thức thứ bảy (Mạt na) chấp làm bản ngã là một phần của thứcAlaya Thức này là tất cả, là chổ chứa đựng tất cả các hình ảnh do bảy thứctrước khảm nhập vào, do đó dường như không để mất đi một hình ảnh nào.Trên đây là những lược thuật về tám phần của Thức Đó sẽ là những căn
cứ để chúng tôi đi vào làm rõ các quan điểm trong nhận thức luận của triếthọc Phật giáo
Hàng ngày, chúng ta phải tiếp xúc, phản ứng với nhiều sự kiện, nhiềubiến cố, và tin rằng có một thế giới hiện hữu ở bên ngoài dẫu mình có nhìnvào nó hay không Rồi cái cảm giác về sự hiện hữu khách quan đó được khơirộng ra và gắn cho phẩm tính của sự vật Ta cho rằng sự vật có kích thước, cókhối lượng là điều hiển nhiên mặc dù ta không hề có ý nghĩ đem những phẩmtính ấy ra đo lường Tiến thêm một bước trừu tượng nữa, ta gán cho sự vậtmột thể tính khách quan, một bản chất tự nhiên Với tập quán tin tưởng nhưvậy, ta luôn luôn cho rằng, cái gì ta cảm nhận được qua giác quan hay tưởng
đã kinh nghiệm trong quá khứ đều thật Bởi vậy, khi muốn biết rõ sự vật thì
ta thường đi tìm hiểu phẩm tính hay thể tính của sự vật mà ta nghĩ là có thật
“ở ngoài ta”
Trang 12Lối quan niệm coi thực tại khách quan là tự tính của sự vật như vậyđược nhiều nhà triết học từ xưa đến nay, từ phương Đông đến phương Tâyđem ra bàn cãi với nhiều kiến giải khác nhau Vấn đề có hay không có thựctại khách quan từ trước đến giờ vẫn chưa giải quyết được một cách triệt đểbởi vì những người tranh luận không chịu đồng ý một số tiêu chuẩn giốngnhau để đem ra áp dụng.
Nếu như trong triết học Mác - Lênin, nhận thức được coi là quá trìnhphản ánh hiện thực khách quan bởi con người, là quá trình tạo thành tri thứctrong bộ óc con người về hiện thực khách quan Thế giới khách quan ở đây làvật chất tồn tại trong sự vận động, từ vận động ở trình độ thấp như vận động
có tính cơ giới của các vật thể vô cơ đến sự vận động ở trình độ cao nhưtrong sự sống, trong các hình thái kinh tế - xã hội, trong các hoạt động tư duy,sáng tạo, các hoạt động tâm lý của con người Như vậy, có thể nói, đốitượng nhận thức trong triết học Mác - Lênin được quan niệm là các sự kiện,hiện tượng và quá trình đa dạng của tự nhiên, xã hội và tư duy
Trong triết học Phật giáo, khách thể nhận thức được chia thành banhóm, gọi là Tam cảnh gồm: Tánh cảnh, Đới chất cảnh và Độc ảnh cảnh Bacảnh này còn được gọi là Tướng phần, trong tương quan với chủ thể nhậnthức thì được gọi là Kiến phần
Kinh Bộ lượng - Du già của Phật giáo cho rằng, thực tại là một dòngbiến chuyển, vận động không ngừng, là sự thống nhất của vận động và đứng
im Các thời điểm đứng im đó diễn ra trong thời khắc rất ngắn, và ngay trongthời điểm ngắn ngũi như vậy, thực tại cũng đã có sinh, có diệt, có đủ bốntướng sinh, trụ, dị, diệt.Mặc dù có tương tục tiếp nối, song sự vật ở những sát
na khác nhau được coi là những hiện tượng khác nhau Mỗi sát na cũng cótính tách biệt với những sát na khác
Vì vậy, chỉ những thực tại có trong từng sát na mới là đích thực, hay còngọi là thực tại tối cao, thực tại trực tiếp, thực tại cứu cánh Đó là thực tại
Trang 13không có vị trí xác định trong không gian và trì tục tính (tính liên tục) trongthời gian, mà chỉ là những điểm tồn tại trong từng sát na Thực tại đó là thựctại siêu ngôn ngữ, không thể diễn đạt thành lời Thực tại này trong nhận thức
luận Phật giáo gọi là Tánh cảnh.
Tánh là bản chất, Cảnh là đối tượng Như vậy, Tánh cảnh là bản chấtcủa đối tượng hay là bản chất của thực tại khách quan Tác giả Thích TâmThiện trong tác phẩm Tâm lý học Phật giáo đã nhận định rằng: “Tự thân đỉnhLambiang thì hoàn toàn khác so với tri giác của chúng ta về nó ĐỉnhLambiang trong thực tại và trong tri giác không giống nhau vì bản thân trigiác của con người thường bị méo mó và rất sai lầm” [20,tr.43]
Thực tại mà triết học Phật giáo muốn bàn đến ở đây đó là thực tại tựthân, nó gần giống như thế giới “vật tự nó” của Kant Loại thực tại này đượcxem là trung thực nhất, tự thân tuyệt đối, không thể nhận thức bằng conđường suy diễn, luận đoán
Căn cứ trên phương diện bản chất và hiện tượng, Tánh cảnh được chiathành Vô chất tánh cảnh và Hữu chất tánh cảnh Vô chất tánh cảnh là bảnchất đích thực của Tánh cảnh, người ta chỉ có thể đạt tới nó bằng vô lậu trí -trí tuệ thanh tịnh của các bậc tam thừa đã dứt khỏi mọi phiền não câu nhiễm,hoặc bát nhã trí, vô phân biệt trí Hữu chất tánh cảnh là những đối tượngđược thể hiện và được nhận thức theo luật nhân quả
Loại thực tại thứ hai là thực tại gián tiếp Đây là thực tại vay mượn, thựctại có dự phần của tưởng tượng, dự phần của tư duy kiến tạo, tức là có phầntham dự và tạo dựng của con người Nói theo ngôn ngữ ngày nay, nó là thựctại nhận được trong hình ảnh chủ quan, trong khái niệm, trong các bản saotinh thần Nhưng thực tại này không thuần là thực, nghĩa là nó chỉ là bản sao,
là thực tại gián tiếp hóa Loại hiện thực này cũng có thể gọi là bán hiện thực,bởi vì dù sao, nó cũng có sơ sở ở hiện thực khách quan Loại thực tại này
trong triết học Phật giáo gọi là Đới chất cảnh Đới là mang theo, mang lại.
Trang 14Đới chất cảnh có nghĩa là cảnh mang lại từ thực tại thật (Vô chất tánh cảnh),
từ thế giới Tánh cảnh, nói chung, là một đại diện hay một thể hiện của Tánhcảnh, là sản phẩm của thực tại nhưng không phải là thực tại tự thân, mà làthực tại theo quan niệm của chủ thể nhận thức
Dưới ánh sáng của Duy thức học, sự sống của con người hầu như làsống với Đới chất cảnh nhiều hơn là Tánh cảnh; và đây là nguyên nhân tácthành khổ đau, dục vọng của loài người
Cảnh thứ hai này có thể là đối tượng của mọi thức, trừ thức thứ tám(Alaya) Đây là những lĩnh vực được thể hiện dưới dạng những ý tưởng.Những ý tưởng này được cấu tạo trên căn bản Hữu chất tánh cảnh để làm đốitượng của thức Thông thường, Đới chất cảnh được chia thành Chân đới chấtcảnh và Tự đới chất cảnh (chúng tôi sẽ làm rõ ở phần sau)
Cảnh thứ ba là Độc ảnh cảnh, đây là thế giới ảnh tượng do ý thức tái thiếtlại khi vắng mặt cảm giác trực tiếp, nghĩa là khi nó hoạt động vượt qua ảnhhưởng cộng tác của năm thức đầu Đây cũng là những hình ảnh, biểu tượng,khái niệm, ngôn từ có tính thuần túy đã vượt qua sự chi phối trực tiếp của hiệnthực khách quan đứng sau chúng, là thực tại có trong tâm thức của con người,
do con người tạo dựng nên, là sản phẩm thuần túy của tư duy con người Độcảnh cảnh chỉ có thể là đối tượng của ý thức mà không thể là đối tượng của cácthức khác Khi ý thức cộng tác với năm thức đầu thì đối tượng có thể là Tánhcảnh hay Đới chất cảnh Còn khi nó hoạt động độc lập, vượt khỏi năm thức ấythì đối tượng của nó chỉ có thể là Độc ảnh cảnh, thế giới những ảnh tượng, có
cả trong các trường hợp hồi tưởng, tưởng tượng và mộng mị
Độc ảnh cảnh có hai loại, đó là độc ảnh cảnh hữu chất và độc ảnh cảnh
vô chất
Độc ảnh hữu chất là những ảnh tượng trung thành của những cảm giác
và ý tưởng đã từng làm đối tượng của ý thức Ý thức tạo dựng lại ảnh tượngcủa những gì đã làm đối tượng cho nó trước kia, và lấy những ảnh tượng này
Trang 15làm đối tượng Ảnh tượng của một con hổ mà ta thấy hôm qua nay được nhớlại trong trí nhớ của chúng ta, đó là một Độc ảnh cảnh chứ không phải là mộtĐới chất cảnh Vì sao? Bởi vì nó không được cấu tạo trực tiếp trong trườnghợp cảm giác Ảnh tượng con hổ được tạo dựng trên một đới chất đã từng cómặt, cho nên được gọi là Độc ảnh cảnh hữu chất.
Trái lại, Độc ảnh vô chất lại là sản phẩm hoàn toàn của ý thức, khôngphải là hình bóng trung thành của các đối tượng cảm giác Chẳng hạn, ảnhtượng một vị thần trong nhận thức trẻ thơ hay ảnh tượng của một ngôi nhà
mà mình ước mơ sẽ xây dựng nên sau này đó là những Độc ảnh vô chất.Tóm lại, Độc ảnh cảnh vô chất là đối tượng của ý thức trong trường hợptưởng tượng sáng tạo, trong khi Độc ảnh cảnh hữu chất là đối tượng của ýthức trong trường hợp tưởng tượng phục hồi
Có thể nói, đối tượng của nhận thức như được trình bày ở trên thể hiệnmột sự chi tiết và có điểm khác so với triết học Mác - Lênin Với triết họcMác-Lênin, nhận thức là quá trình phản ánh hiện thực khách quan bởi conngười, quá trình tạo thành tri thức trong bộ óc con người về hiện thực kháchquan Đối tượng đó là các sự kiện, các hiện tượng cụ thể của vật chất đangvận động Nhưng với triết học Phật giáo, thực tại khách quan phải là thế giới
tự thân, thế giới Tánh cảnh, thế giới của tự nó chứ chưa xuyên qua bởi bất kỳnhận thức nào của con người; đó là thực tại siêu ngôn ngữ, không thể diễn đạtthành lời Và với triết học Phật giáo, đối tượng của nhận thức không chỉ làthế giới tự thân ấy mà còn là thế giới của Đới chất cảnh, thế giới được mangtheo từ thực tại khách quan được nhận thức qua lăng kính chủ quan của conngười Đối tượng nhận thức ấy còn có cả sự hồi tưởng lại và có cả nhữnghình ảnh, những ý tưởng và thế giới tưởng tượng của con người Có thể nói,
sự phân biệt rõ ràng ấy chính là bước chuẩn bị cho sự phân chia các hình tháinhận thức tương ứng tiếp theo trong triết học Phật giáo mà chúng tôi sẽ tiếptục trình bày
Trang 16Trong triết học Phật giáo, các hình thái của quá trình nhận thức được
trình bày trong học thuyết Tam lượng.
Lượng là lượng tính, là tính toán và so lường và cũng là sự phân biệt,cân nhắc vạn pháp của Tâm thức để hiểu biết Lượng còn gọi là năng phânbiệt Năng phân biệt có nghĩa là tâm thức có sức, có lực phân biệt vạn pháp.Nói cách khác, lượng ở đây là chỉ cho Tâm thức thuộc về chủ thể, có khảnăng phân biệt vạn pháp và Tâm thức phân biệt có tính cách so lường thiệthơn, cân nhắc lợi hại, phân tích đúng sai để chọn lựa tinh tường, sâu sắc cho
sự hiểu biết Tâm thức nhờ phân biệt mới có thể hiểu biết rõ tính chất, giá trị
và ý nghĩa của mọi vật nên gọi là Lượng
Hiện lượng được xem là hình thái đầu tiên của quá trình nhận thức.
Hiện lượng nghĩa là hiểu biết trực tiếp những cảnh vật, đối tượng đãđược hiện bày đầu tiên và sự hiểu biết hiện lượng hoàn toàn không có ý niệmdiễn dịch và suy luận Tác dụng nhận thức ở đây chỉ thuần tuý trực cảm, trựcquan mà chưa có tính cách phán đoán và suy luận
Năm thức đầu và ALaya thức là hai loại tâm thức luôn luôn nhận biếtbằng Hiện lượng
Trước hết là trường hợp nhận thức của năm thức đầu, nghĩa là năm thứccảm giác qua: thấy, nghe, nếm, ngửi và xúc chạm
Năm tâm thức hiểu biết Hiện lượng nghĩa là khả năng của năm tâm thứcchỉ hiểu biết được những cảnh vật có hình chất và những cảnh vật không cóthể chất đang hiện hữu trong thế gian Năm thức này hiểu biết Hiện lượng khi
có tính chất độc lập, nghĩa là khi chưa có sự cộng tác của ý thức - thức thứsáu và cũng không có sự so đo chấp trước hay sự điều khiển của thức Mạt na.Năm tâm thức thường hiểu biết nơi cảnh vật đối tượng không có sự suy luận
và diễn dịch Nói cách khác, đối với vạn pháp, năm tâm thức hiểu biết không
có tính so lường thiệt hơn, không có phân biệt phải trái, tốt xấu, không có cân
Trang 17nhắc đúng sai Sự hiểu biết của năm tâm thức này là sự hiểu biết thuộc vềHiện lượng.
Chẳng hạn, bà của Nam thích cháu mình đọc truyện cổ tích cho bà nghe,nhưng cậu ấy không thích vì đã có hẹn đi chơi bóng cùng bạn Bà của Namkhông biết điều đó nên bắt Nam phải đọc và cậu ấy cố đọc nhanh câu chuyện
để kịp giờ đi chơi Trong lúc đọc truyện, nhãn thức của cậu ấy chỉ để đọc vàNam đọc một cách tự nhiên, không hề có một chút sai sót nào Nhưng khi đọcxong, cậu ấy không thể biết được sách đó nói về gì và nếu có ai đó muốnnghe Nam kể lại câu chuyện đó thì cậu ấy cũng không thể làm được điều đó
Vì sao vậy? Vì trong lúc đọc truyện, Nam không hề để ý vào những nhậnđịnh, mặc dù cậu ấy quả quyết đọc không sai một chữ nào của câu truyện.Đây là một hiện lượng mà nhãn thức của Nam không hề cộng tác với ý thức(thức thứ sáu) để phân biệt tính chất, giá trị và ý nghĩa của câu truyện Chonên, Nam không thể tường thuật lại câu chuyện ấy cho người khác nghe.Như vậy, sự nhận biết của năm tâm thức đối với vạn pháp chính là Hiệnlượng Đó là sự nhận thức trực tiếp, tức khắc, phi ảo giác, phi kiến tạo, thôngqua các kênh hoạt động giác quan tiếp xúc với đối tượng
Không chỉ có năm tâm thức mới có khả năng nhận biết Hiện lượng màcòn có cả thức Alaya
Có thể nói, vạn pháp trong thế gian đều là Tướng phần của Kiến phầnthức Alaya xây dựng Tướng phần của hiện tượng vạn pháp đã được phátsinh từ nơi thế giới hạt giống trong thể thức Alaya Nhưng điều đáng chú ý,thế giới hạt giống nghiệp lực và nghiệp tướng trong thể thức Alaya chỉ làmkiểu mẫu căn bản cho Kiến phần Alaya khi xây dựng vạn Pháp Trong giaiđoạn xây dựng vạn pháp, Kiến phần Alaya trực tiếp lấy kiểu mẫu nơi thế giớihạt giống mà không qua trung gian của các Tâm thức khác, nghĩa là Kiếnphần thức Alaya không nhờ đến các Tâm thức khác tiếp tay hỗ trợ Như vậy,vạn pháp trong thế gian được nhận biết là Hiện lượng của Kiến phần thức do
Trang 18Alaya xây dựng và bảo trì Chính vì vậy, trong triết học Phật giáo, sự nhậnbiết Kiến phần của thức Alaya là thuộc về Hiện lượng.
Hình thái nhận thức thứ hai là Tỷ lượng.
Trong tiếng Hán, “tỷ” là so sánh, “tỷ lượng” là nhận thức thông qua sự
so sánh Tỷ lượng cũng là xét đoán, tính toán theo sự so sánh đúng sai, cânnhắc lợi hại, phân biệt phải quấy, lựa chọn hơn kém của tâm thức để hiểubiết Đây là sự hiểu biết của ý thức (thức thứ sáu) Ý thức hiểu biết vạn phápqua ảnh tử do năm tâm thức cung cấp Không giống như sự hiểu biết trực tiếpcủa năm tâm thức trước, ý thức hiểu biết vạn pháp qua sự suy luận, diễn giải,nghĩa là ý thức luôn luôn phân biệt được danh xưng, ý nghĩa và tướng trạngtừng sự vật một để nhận biết tính chất cũng như giá trị mỗi loại
Vậy, Tỷ lượng và Hiện lượng có hai đối tượng nhận thức khác nhau.Đối tượng của Hiện lượng là Tự tướng với tính cách là cái riêng, cái đặc thù;trong khi đối tượng của Tỷ lượng là Cộng tướng với tính cách là cái chung,cái phổ biến, toàn thể Cộng tướng có sự ngộ chấp chủ quan của chủ thể, sựphản ánh của Tỷ lượng về cộng tướng chỉ là “giả hữu - giả có” (ước không,ước có)
Nhận thức theo Tỷ lượng có hai loại, đó là Chân tỷ lượng và Tợ tỷ lượng.Chân tỷ lượng có nghĩa là ý thức hiểu biết chính xác về tính chất, giá trị
và ý nghĩa của vạn pháp hiện có mặt trong thế gian bằng sự suy luận và diễngiải Những hiện tượng ảnh tử do năm thức đầu cung cấp đều phát sinh từ nơinhững sự vật có thực chất trong thế gian nên gọi là chân và ý thức hiểu biếtđúng những hiện tượng ảnh tử đó bằng sự suy luận và diễn giải nên gọi làChân tỷ lượng
Nếu Chân tỷ lượng là sự hiểu biết chính xác về tính chất, giá trị và ýnghĩa của ý thức thứ sáu về vạn pháp hiện có mặt trong thế gian bằng sự suyluận và diễn dịch thì Tợ tỷ lượng là việc ý thức nhớ lại (hồi tưởng) và so sánh
Trang 19những quá trình nghiệm sống của mình để hiểu biết tính chất, ý nghĩa và giátrị từng loại trong cuộc đời Những quá trình nghiệm sống nói trên đã đượcđúc kết lại thành những hạt giống và cũng đã được tàng trữ trong thể thứcAlaya Khi muốn nhớ lại thì ý thức phải nhờ thức Mạt na mang những hìnhảnh của hạt giống này từ trong thể thức Alaya đưa lên để trình diện cho ýthức thứ sáu so sánh Sự so sánh này của ý thức để hiểu biết được gọi là Tợ tỷlượng, vì những hình ảnh đem so sánh này có phần không thực chất và cũngkhông giống những sự vật hiện tượng có mặt trong thế gian.
Hình thái nhận thức thứ ba trong triết học Phật giáo gọi là Phi lượng.
Thực ra, đây không phải là một hình thái nhận thức độc lập với hai hình tháinhận thức trước Hiện lượng và Tỷ lượng có khi đúng và cũng có khi sai, màmỗi khi sai thì đều là Phi lượng Hiện lượng mà sai thì không phải là Chânhiện lượng mà là Tợ hiện lượng Tỷ lượng mà sai thì không phải là Chân tỷlượng mà là Tợ tỷ lượng Tợ ở đây là có vẻ giống như cái đó nhưng thực rakhông phải là cái đó Chẳng hạn, khi ta đi trong đêm tối mà nhận lầm sợi dâylàm con rắn thì đó là Tợ hiện lượng; còn khi suy diễn sai một điều gì chẳnghạn thì đó là Tợ tỷ lượng
Như vậy, Phi lượng là sự xét đoán của Tỷ lượng và Hiện lượng nhưngsai lầm, không đúng sự thật Đây thường là sự hiểu biết của thức Mạt na, một
sự nhận thức bằng tưởng tượng, nhận biết mang tính chất so đo, chấp trước
Sự xét đoán, so lường của Mạt na thức thường chấp trước những điều khôngđúng chân giá trị của hiện tượng thực tại nên gọi là Phi lượng Thức Mạt naluôn chấp trước nên khống chế và điều khiển ý thức nhận xét mọi việc vàthường bóp méo sự thật Sự hiểu biết vạn pháp của Mạt na thức không được
vô tư mà lại hay sai lệch nên gọi là Phi lượng Chẳng hạn, người Việt Namthường có câu:
“Thương nhau thương cả đường đi Ghét nhau ghét cả tông ti họ hàng”
Trang 20Đây là hiện tượng so lường một cách chủ quan của thức Mạt na qua ýthức phân biệt.
Việc nêu ra và làm rõ các hình thái của quá trình nhận thức, có thể xem
là một trong những đóng góp có ý nghĩa tích cực của triết học Phật giáo đốivới sự phát triển của nhận thức luận nói chung Với ba hình thái của quá trìnhnhận thức bao gồm: Hiện lượng, Tỷ lượng và Phi lượng; trong đó Hiện lượng
đã có phần nào giống với các hình thức nhận thức đầu tiên (cảm giác và trigiác) của nhận thức cảm tính, còn Tỷ lượng lại bao hàm các hình thức nhậnthức lý tính (biểu tượng, khái niệm, phán đoán, suy luận), trong đó biểutượng là hình thức giao thoa giữa nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính.Còn Phi lượng, không có gì khác hơn, đó chính là sự sai lầm của Hiện lượng
và Tỷ lượng, tức sai lầm của cả nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính.Các hình thái nhận thức được trình bày như trên trong nhận thức luậnPhật giáo có phần giống và cũng có phần khác với việc phân chia các giaiđoạn, các hình thức của quá trình nhận thức trong nhận thức luận mácxít
Trong Bút ký triết học, Lênin đã khắc họa con đường biện chứng của nhận
thức chân lý như sau: “từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, và từ tưduy trừu tượng đến thực tiễn” Theo quan điểm đó, nhận thức là một quátrình biện chứng, diễn ra qua hai giai đoạn khác nhau, đó là nhận thức cảmtính (trực quan sinh động) và nhận thức lý tính (tư duy trừu tượng)
Nhận thức cảm tính là giai đoạn đầu tiên của quá trình nhận thức, cóđược là nhờ sự hoạt động của các giác quan nhận biết của con người nhưthính giác, thị giác, xúc giác giai đoạn nhận thức này được tiến hành trong
ba hình thức như: cảm giác, tri giác và biểu tượng Tương tự, nhận thức luậnPhật giáo cũng xem cảm giác, tri giác là những hình thái nhận thức cảmtính Riêng biểu tượng, nhận thức luận Phật giáo coi là hình thức của nhậnthức Tỷ lượng
Trang 21Trong nhận thức luận mácxít, nhận thức cảm tính chỉ cung cấp nhữnghiểu biết ban đầu về đối tượng nhận thức Những hiểu biết đó thường là vềnhững vẻ bề ngoài của đối tượng Từ những tri thức trực quan, cảm tính, bềngoài đó chưa thể phân biệt được hoặc xác định được cái bản chất và khôngbản chất, cái tất nhiên và ngẫu nhiên, tính phổ biến và cá biệt Hơn nữa, nhậnthức cảm tính luôn bị giới hạn trong hoạt động của các giác quan nên nhậnbiết không thể vượt ra ngoài giới hạn của tri giác Như vậy, với nhận thứccảm tính, con người không thể nhận biết mọi không gian, sắc màu, âm thanh,mùi vị hay tiếp xúc được với những khối lượng cực lớn, cực nhỏ; trong khinhiệm vụ của nhận thức là phải nắm bắt được bản chất, tính tất yếu và tínhquy luật của đối tượng Nhận thức luận mácxít cho rằng, để thực hiện đượcnhiệm vụ đó, quá trình nhận thức phải chuyển lên giai đoạn cao hơn, nhậnthức lý tính
Coi hình thái nhận thức đầu tiên - Hiện lượng có đối tượng nhận thức làcái riêng, cái đặc thù nên đích mà các nhà triết học Phật giáo hướng tới choHiện lượng là chân lý tuyệt đối Chính cái chân lý tuyệt đối ấy là tiền đề quantrọng của quá trình lập luận Chân lý tuyệt đối ở đây có thể đến với chủ thểbằng nhiều con đường khác nhau như: trực quan cảm tính, trực quan siêunghiệm, bằng trực giác tâm linh Với các đặc trưng nhận thức trực tiếp bằngcảm giác, phi kiến tạo, phi ảo giác, cộng thêm vào đó là những trực giác siêunghiệm, tâm linh thì nhận thức của con người mới tiệm cận với chân lý tuyệtđối được Tức là chỉ riêng ở giai đoạn này, theo nhận thức luận Phật giáo, conngười mới có thể nắm bắt bản chất đích thực của thế giới các sự vật hiệntượng, hiểu được bản chất của thế giới tự thân Nếu chuyển sang hình tháinhận thức Tỷ lượng thì con người sẽ không làm được điều đó Rõ ràng, đây làmột điểm khác với nhận thức luận mácxít
Về giai đoạn nhận thức thứ hai, nhận thức luận mácxít cho rằng, nhậnthức lý tính có được là hoạt động của tư duy trừu tượng Tư duy trừu tượng
là sự phản ánh khái quát và gián tiếp hiện thực khách quan Tư duy phải gắn
Trang 22liền với ngôn ngữ, được biểu đạt thành ngôn ngữ và ngôn ngữ chính là cái
vỏ vật chất của tư duy Tư duy có tính năng động, sáng tạo nên nó có thểphản ánh được những mối liên hệ bản chất, tất nhiên, bên trong của sự vật,
do đó phản ánh sự vật sâu sắc hơn, đầy đủ hơn Muốn có tư duy, con ngườiphải sử dụng các phương pháp so sánh, phân tích, tổng hợp, khái quát hóa
và trừu tượng hóa Khác với điều này, ở hình thái nhận thức thứ hai - Tỷlượng, theo nhận thức luận Phật giáo, là sự nhận thức có xét đoán, tính toán,
so sánh đúng sai, cân nhắc lợi hại, lựa chọn hơn kém của Tâm thức Đây
là sự hiểu biết của Ý thức chứ không giống sự hiểu biết trực tiếp của nămtâm thức ở trước Ý thức hiểu biết vạn pháp qua sự suy luận, diễn giải Sự
so sánh, nhớ lại, hồi tưởng lại của ý thức so với hình ảnh của những hạtgiống lấy từ thể thức Alaya đưa lên trình diện cho ý thức là những hình ảnhnhiều phần không thực chất và không đúng thật về các sự vật hiện tượng củathế gian Đó không thật là những sự vật hiện tượng tồn tại ở thế giới Tánhcảnh, cho nên ở hình thái này, quá trình nhận thức thường dẫn con ngườiđến với nhiều sai biệt Như vậy, Tỷ lượng có làm sâu sắc thêm nhận thứcnhưng cũng làm cho nó càng xa thực tại hơn
Tỷ lượng hướng tới đối tượng là cái chung, cái phổ biến, gắn bó mậtthiết với ngôn ngữ và tư duy lôgíc của con người Tuy nhiên, chân lý do Tỷlượng đem lại chỉ là chân lý tương đối, do tư duy kiến tạo mà có Trong khinhận thức luận mácxít xem chân lý là những tri thức phù hợp với hiện thựckhách quan và được thực tiễn kiểm nghiệm Tính tuyệt đối của chân lý đó làtính phù hợp hoàn toàn và đầy đủ giữa nội dung phản ánh của tri thức conngười với thế giới hiện thực khách quan Còn tính tương đối của chân lý làtính phù hợp nhưng chưa hoàn toàn đầy đủ giữa nội dung phản ánh củanhững tri thức với hiện thực khách quan Như vậy, theo nhận thức luậnmácxít, muốn đạt đến chân lý Tuyệt đối thì những tri thức của con người phảihoàn toàn phù hợp với hiện thực khách quan, nhưng sự phù hợp ấy khôngphải có ngay lập tức từ ban đầu, mà chỉ đạt được trong một quá trình nhận
Trang 23thức lâu dài xuyên qua vô số những chân lý tương đối bao gồm cả nhận thứccảm tính và nhận thức lý tính, phải xuất phát từ thực tiễn để hình thành kinhnghiệm và xây dựng lý luận Và cuối cùng, điều quan trọng để biết tri thức ấyđúng hay sai thì phải đem nó áp dụng vào trong thực tiễn Quá trình ấy là mộtquá trình lâu dài, chứ không phải chỉ đơn thuần như sự cảm giác một cáchtrực tiếp, vô phân biệt, phi kiến tạo, phi ảo giác và cộng thêm vào đó làbằng trực giác siêu nghiệm, tâm linh thì con người mới có thể tiệm cận vớichân lý tuyệt đối được Chính ở đây, trong quá trình nhận thức, triết học Phậtgiáo đã mang theo và chứa đựng trong mình một cách rõ ràng yếu tố tâmlinh, là một đặc điểm quan trọng để thể hiện mình với tư cách là một tôn giáothật sự như bất kỳ một tôn giáo nào đã từng có mặt và tồn tại trong lịch sử.Tóm lại:
Với câu hỏi, những đối tượng nào được lượng biết trong quá trình nhậnthức? Nhận thức luận Phật giáo cho rằng, những đối tượng ấy chính là: thếgiới Tánh cảnh, thế giới Đới chất cảnh và Độc ảnh cảnh Mỗi đối tượng trênđều mang những sắc thái riêng, tuy nhiên, đích cuối cùng mà nhận thức luậnPhật giáo muốn đạt đến là thế giới Tánh cảnh, bởi đây là thế giới mang bảnchất của đối tượng hay là bản chất của thực tại khách quan
Với câu hỏi bằng cách nào để lượng biết các đối tượng ấy? nhận thứcluận Phật giáo chỉ ra trong học thuyết Tam lượng rằng có ba hình thái đểnhận biết đối tượng, bao gồm: Hiện lượng, Tỷ lượng và Phi lượng Cũng nhưnhững đối tượng nhận thức nói trên, mỗi hình thái nhận thức ở đây cũngmang những sắc thái và những chức năng riêng Hiện lượng nhận thức mộtcách trực tiếp, đúng thật; Tỷ lượng nhận thức một cách so đo, tính toán, suydiễn, phân biệt; Phi lượng thường mang đến những sự nhận thức sai biệt làmcho khác đi so với sự thật Nếu cái đích mà nhận thức luận Phật giáo hướngtới ở đối tượng là thế giới Tánh cảnh thì ở các hình thái nhận thức đó phải làHiện lượng Bởi chỉ với Hiện lượng thì con người mới có thể nhận thức được
Trang 24thế giới Tánh cảnh Chúng ta sẽ rõ hơn khi đi vào trả lời câu hởi lớn nhất màtiết 1 đã đặt ra: làm sao để biết rõ tiến trình nhận thức?
1.2 Nội dung của nhận thức luận Phật giáo
Khi khởi đầu thuyết trình về Nhân minh học, để minh định mục đích vàphạm vi của khoa nhận thức và luận lý do mình chủ trương, ngài Thiên Chủ(Dharmakìrti) nói: “Mọi hành động thành công là nhờ trước đó nhận thứcđúng, vì vậy chúng ta bắt đầu khảo sát điều đó”[7;tr1]
Có thể nói, vấn đề quan hệ giữa chủ thể nhận thức và khách thể nhậnthức đã được các luận sư Phật giáo luận bàn và phát triển nhiều lần trong lịch
sử Theo quan điểm của họ, tri thức (Thức) chủ yếu là kết quả của sự hòahợp, ăn nhập giữa lục căn và lục trần (thuộc về cảnh) Ðối tượng của nhậnthức không thuần túy do chủ thể tạo ra Cả chủ thể (Kiến phần) lẫn khách thể(Tướng phần) nương vào nhau mà hiện hữu và xuất hiện đồng thời như là đốitượng chuyển hiện của thức
Các luận sư Phật giáo cho rằng, quá trình nhận thức phát khởi khi có sựhội tụ các điều kiện chủ quan và khách quan Sáu quan năng nhận thức đượcchia thành ngũ căn giác quan và Ý căn, trong đó Ý căn có vai trò chi phối Nếukhông có ngũ căn thì không có sự tiếp xúc với khách thể; Nhưng nếu không có
Ý căn thì ngũ căn hầu như không có tác dụng “thủ cảnh sinh thức - tức nắm bắtđối tượng để sản sinh ra tri thức” Vậy, có thể hiểu rằng, Ý căn vẫn là cộinguồn của hành vi nhận thức Bởi rằng, chính Ý căn chi phối nhãn căn hay nhĩcăn, thiệt căn thực hiện hành vi nhận thức để có tri thức (cái biết)
Sau này, các nhà tư tưởng Phật giáo còn tiếp tục phát triển lý thuyết Sáuthức của mình thành Bảy thức, Tám thức, Chín thức Nhưng phổ biến và sâusắc hơn cả là lý thuyết Tám thức do triết học Duy thức đề ra, trong đó các vấn
đề của nhận thức luận Phật giáo được tập trung giải quyết
Để tìm hiểu nhận thức luận Phật giáo với lý thuyết Tám thức, trước tiên
ta phải biết Thức là gì?
Trang 25Thức không phải là những thực thể thường hằng bất biến mà chỉ lànhững dòng lưu chuyển biến đổi từng giây phút, từng sát na Sự chuyển biếnnày là định luật chung của mọi hiện tượng trong thế giới hữu vi, nghĩa lànhững hiện tượng thành lập, tồn tại và phân tán theo những nguyên lý nhânduyên, chịu điều kiện hóa bởi những hiện tượng liên hệ Thức phát sinh doCăn và Cảnh, nương tựa trên căn cứ phát sinh (căn) và đối tượng của căn cứ
đó là Cảnh để tồn tại Năm thức trước có những Căn và Cảnh vật chất Ngũcăn ở đây là sinh lý và Cảnh ở đây là vật lý Chẳng hạn, Nhãn thức (thị giác)không thể tồn tại nếu không có Nhãn căn tức là thị quan và sắc trần, tức làsắc hình Sự tiếp nối của những chuỗi xúc chạm giữa các giác quan sinh lýcủa con người và đối tượng vật lý của chúng tạo nên sự tiếp nối của nhữngchuỗi cảm giác mà ta gọi là Thức Vì Thức luôn luôn biến chuyển Thức ởđây là những dòng cảm giác hay tri giác mà không phải là một cái gì bất biến
có tính đồng nhất Chẳng hạn, khi ta ngắm nhìn một đóa hoa trong một thờigian dài, ta có cảm tưởng là cảm giác, tri giác và ý thức của ta về sự có mặtcủa đóa hoa cũng tồn tại lâu bằng thời gian ta đứng ngắm Thực ra, khôngphải chỉ có một cảm giác, một tri giác và một ý thức mà cả một loạt nhữngcảm giác, tri giác và ý thức nối tiếp nhau Với mỗi cảm giác chẳng hạn, trongthời gian sát na của nó, vừa lúc đóa hoa phát động tác dụng và trở thành đốitượng của nó, đối tượng này là ảnh tượng của đóa hoa truyền đạt qua conmắt Đúng vào lúc này, ảnh tượng của đóa hoa liền được Huân tập trở thànhmột tân huân chủng tử và được hiện hành trở lại ngay sau đó để làm bối cảnhhồi tưởng cho sự hiểu biết, tức tuệ phát sinh do sự tác động của tư duy tứccủa tâm sở cuối trong năm tâm sở biến hành (tác ý, xúc, thọ, tưởng và tư) Trigiác này được tạo ra do một ảnh tượng mới của đóa hoa mà con mắt mớichuyển đạt vào Vô số những ảnh tượng như thế được tiếp nối truyền đạt vàotrung khu cảm giác, làm cho vô số đối tượng tiếp nối nhau và vô số hiệntượng cảm giác và tri giác xuất hiện nối tiếp nhau
Trang 26Trong Tám thức, chỉ có Mạt na và Alaya là tiếp nối không gián đoạncòn các Thức khác đều có thể gián đoạn
Chẳng hạn như trường hợp chúng ta nằm ngủ, năm thức đầu không hoạtđộng và có thể có cả ý thức nữa nếu người ngủ không nằm mộng Alaya vìvừa biến chuyển, vừa liên tục nên được gọi là hằng chuyển - Hằng là liên tụccòn Chuyển là biến đổi Hình bóng của Alaya là hình bóng của dòng sông:nước trong sông luôn biến đổi nhưng con sông vẫn liên tục
Thức như vậy là dòng tiếp nối của cảm giác (nếu ta nói về năm thứcđầu) hay của tri giác hoặc phân biệt (nếu ta nói về ý thức) Đó là một dòngtâm sở liên tục, lưu chuyển, biến đổi từng sát na, chứ không phải là một thựcthể tâm lý bất biến
Có thể nói, nhận thức là dòng tiếp nối cảm giác đến ý thức phân biệt, làtác dụng tâm lý lấy năm căn (mắt, tai, mũi, lưỡi và thân) làm điểm tựa đểphân tích và quan sát sự vật Đoạn kinh sau đây ghi lời đức Phật giải thíchnhận thức và những gì có thể làm cho nhận thức sai lầm: “Chư hiền, do nhâncon mắt và các sắc pháp, (mà) nhãn thức khởi lên Sự gặp gỡ của ba pháp này
là xúc Do duyên xúc nên có cảm thọ Những gì người ta cảm thọ thời người
ta tưởng tri Những gì người ta tưởng tri thời người ta suy tầm Những gìngười ta suy tầm thời người ta húy luận Với những gì người ta húy luận làmnhân, tưởng tri và vọng tưởng đượm màu húy luận quấy nhiễu một người vớicác sắc pháp quá khứ, tương lai và hiện tại do con mắt nhận thức Do nhân lỗtai và các tiếng, nhĩ thức khởi lên Do nhân lỗ mũi và các hương, tỷ thức khởilên Do nhân lưỡi và các vị, thiệt thức khởi lên Do nhân thân và xúc, thânthức khởi lên Do nhân ý và các pháp, ý thức khởi lên Sự gặp gỡ của ba phápnày là xúc Do duyên xúc nên có cảm thọ (như trên) [7,tr.3]
Con người qua sự khảo sát của triết học Phật giáo là một trong nhữnghiện tượng bao gồm nhiều yếu tố kết hợp nhau lại để tạo thành hình tướng
Trang 27Với nền triết học này, con người được chia thành hai phần khác nhau để tìmhiểu Hai phần khác nhau ấy là phần vật chất và phần tâm thức.
Thân thể con người mà ai cũng đều biết là thuộc về vật chất Nó đượcbốn yếu tố vật lý kết hợp nhau lại để tạo thành hình tướng Bốn yếu tố nàytheo ngôn ngữ Phật Giáo gọi là Tứ Đại, gồm có Đất, Nước, Gió và Lửa
Ngoài tứ đại thuộc về vật chất nơi thân thể ra, con người còn có tám loạihiểu biết thuộc về Tâm thức Tám loại hiểu biết này, Phật giáo gọi là támTâm Thức Tâm thức là danh từ chung, dùng để diễn tả nhận thức phân biệtcủa loài người và danh từ này sở dĩ được thành lập là do căn cứ nơi vật chất
mà đặt tên, nguyên vì tâm thức là đối lập với vật chất về phương diện tínhchất, giá trị và ý nghĩa Trong thân thể con người, tâm thức mỗi khi sinh hoạtliền phát sinh ra hiểu biết (Thức), nhưng sự hiểu biết (Thức) trong con ngườimỗi khi sinh hoạt được minh định thành tám loại khác nhau Tám loại hiểubiết khác biệt được liệt kê như sau:
Với năm thức đầu, chúng ta biết rõ, khoa học ngày nay gọi là Ngũ giác.
Đó là các phạm vi thấy biết qua mắt, tai, mũi, lưỡi và thân thể
Khi mắt chúng ta nhìn, cái mà mắt thấy gọi là Trần hay Cảnh Chẳnghạn như khi mắt chúng ta nhìn lọ mực thì mắt chúng ta gọi là Căn, tức là cơquan hoạt động để thu hình ảnh Lọ mực là Trần hay Cảnh Cái biết lọ mực làthức của con mắt cùng bộ máy thần kinh não, hay là Nhãn thức
Thân thể tiếp xúc, đụng chạm, nhất là bàn tay con người tiếp xúc với sựvật và biết sự vật ấy là nhẵn, trơn, nóng, lạnh, mềm, cứng Chẳng hạn, khitay chúng ta sờ vào viên đá (đá đông) thì tay chính là Sở căn, viên đá là Trần
và cái cảm giác nhẵn, lạnh ấy chính là Thức, nói rõ hơn là Thân thức
Như vậy, khi Nhãn căn lấy sắc trần làm đối tượng thì phát sinh ra Nhãnthức
Nhĩ căn lấy Thính trần làm đối tượng thì phát sinh ra Nhĩ thức
Trang 28Tỷ căn lấy Hương trần làm đối tượng thì phát sinh ra Tỷ thức.
Thiệt căn lấy vị trần làm đối tượng thì sản sinh ra Thiệt thức
Thân căn lấy xúc trần làm đối tượng thì sản sinh ra Thân thức
Qua đây ta thấy, con người chúng ta nương vào Ngũ giác để biết sự vật.Câu đầu trong tác phẩm Bát thức quy củ tụng của Huyền Trang có ghi:
“Tam cảnh hiện lượng thông tam tánh” [26,tr.13] Có nghĩa là đối tượng nhậnthức của năm thức này là Tánh cảnh - tức là thấy biết như thật, hiện hữu như
là chính nó; hình thái nhận thức của năm thức này là Hiện lượng Tính chấtnhận thức của năm thức này bao gồm cả Tam tánh (thiện, ác và vô ký) Chữthiện ở đây có nghĩa là sự phù hợp với tuệ giác và chân lý, cũng có nghĩa là
đi đúng đường, là hành động tạo nghiệp nhân tốt
Trong quá trình nhận thức, năm thức này dựa vào Tàng thức (Alaya),hay nói chung là Tâm thức (bao gồm cả ý thức) mà hiện hữu và vận hành.Hoạt động của năm thức này cũng liên hệ trực tiếp đến ý thức hay hiện hànhtrên căn bản của dòng ý thức Chẳng hạn như công việc của người làm ởphòng truyền hình Cùng lúc, anh ta vừa nghe, vừa nhìn, vừa hít thở, vừa nhaikẹo và vừa ghi chép Làm việc như thế thì ý thức của anh ta cùng hoạt độngchung và cùng phân tán đều cho năm thức giác quan Tuy nhiên, nếu cứ tiếptục làm như thế thì năng lượng ý thức sẽ bị phân tán, khó tập trung, hiệu quảnhận thức bị yếu đi Ngược lại, nếu như năng lượng ý thức của anh ta chỉ tậptrung vào việc nghe hoặc nhìn thì hiệu quả nhận thức sẽ tốt hơn Đây gọi làhoạt động riêng, tức là mỗi giác quan chỉ tập trung hoạt động cùng với ý thức
mà không phải cùng hoạt động một lần
Như vậy, phân biệt của năm thức chỉ là phân biệt có tính chất trực giác.Căn nương vào Tánh cảnh biến ra đối tượng của năm thức Đối tượng ấy làtướng phần của thức cũng nằm trọn trong thức Năm thức trước trong khiđược phát khởi thì phải mang theo tướng phần (đối tượng) của mình gọi đổi
Trang 29Vì năm thức phải tuân theo Căn và Trần để phát khởi, nên dù công phu tậpluyện có đạt được Chân hiện lượng đi nữa thì cũng chỉ là nhận thức được hữuchất tánh cảnh chứ chưa nhận thức được vô chất tánh cảnh (tức là Chân như).
Còn thức thứ sáu là Ý thức, là tư tưởng, so sánh, phân biệt và suy luận
Ý thức kết hợp với năm thức trên, bao quát cả sự vật, tổng quát các điều tainghe, mắt thấy để hiểu rõ sự vật
Căn của Ý thức gọi là Ý, tức là cả thần kinh hệ có liên quan đến cái biết,đến trí thông minh Trần của Ý thức gọi là Pháp, tức là sự vật Một pháp tức làmột sự vật Vật đó có thể là có hình hay vô hình (như những tư tưởng thầm kín
ẩn nấu trong lòng mọi người) Loài người chúng ta ngày nay dựa vào Ý thức
để tìm hiểu sự vật, để làm chủ thế giới và phục vụ cho đời sống con người Tóm lại, sáu căn là nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý; sáu thức là những hìnhảnh mắt thấy, những tiếng động do tai nghe, những hương do mũi ngửi,những vị lưỡi nếm, những cảm giác do thân xúc chạm ; những sự vật do ýbiết Đó chính là các phạm vi thấy biết của, mắt, tai, mũi, lưỡi thân và ý
Ý thức cũng có đủ Tam tánh, nghĩa là có đủ tính chất thiện, ác và vô ký.Những tác động của Ý thức có thể có công dụng hoặc đẩy con người tới giácngộ hay vô minh; Niết bàn hay luân hồi; Hoặc nếu là vô ký thì không có côngdụng nào cả Tuy nhiên, hình thái nhận thức của ý thức không phải chỉ làHiện lượng như trong trường hợp của năm thức đầu và đối tượng của nó cũngkhông phải chỉ là Tánh cảnh mà là “Tam tánh tam lượng thông tam cảnh”[26,tr.18] Nghĩa là tính chất nhận thức của Ý thức gồm có cả thiện, ác và vô
ký Hình thái nhận thức này gồm cả ba lượng (hiện lượng, tỷ lượng và philượng) và đối tượng nhận thức của của nó cũng gồm cả ba cảnh: Tánh cảnh,Đới chất cảnh và Độc ảnh cảnh
Như vậy, đối tượng và công dụng nhận thức của Ý thức vô cùng rộng.Chính Ý thức đưa con người đến các nẻo đường sinh tử hay giải thoát, bởi vìchính nó tác ý (hành động) dẫn tới hành động về thân thể và ngôn ngữ
Trang 30“Động thân phát ngữ độc vi tối” [26,tr.18]; tức Ý thức là động cơ lớn nhấtlàm phát sinh hành động của ngôn ngữ và thân thể.
Thức thứ sáu này lấy ý căn của Mạt na làm cơ sở và lấy pháp trần làmđối tượng Có thể nói, trong hệ thống Tám thức, Ý thức là thức tinh xảo vànăng động nhất Trong sự tư duy và thực hành cái thiện thì Ý thức đứng đầu,
và trong sự tính toán, mưu mô, xảo quyệt để làm các điều ác thì nó cũng đứngđầu Vì thế, các luận thư Duy thức thường dùng thuật ngữ: “Công vi thủ, tội
vi khởi” (công và tội nó đều đứng đầu để chỉ ý thức)
Triết học Phật giáo cho rằng, đời sống con người khổ sở hay sung sướngđều do nghiệp nhân tạo ra Nhưng nghiệp nhân ấy suy cho cùng đều do conngười tạo ra Động lực gây nghiệp nhân là thân và miệng, gọi là thân nghiệp
và khẩu nghiệp Có thể nhìn vào hành vi và lời nói của một người để biết rõđược nghiệp quả đời sống của người ấy ở hiện tại, cũng như tương lai Chỉ cóhành vi và lời nói mới gây được nghiệp lợi hoặc hại cho mình và cho người.Vậy là, hành vi và lời nói đều do Ý thức chủ động Thân và khẩu trongtrường hợp này chỉ là cái máy để cho ý thức sai Ý thức biết lợi và biết hại,biết thiện và biết ác; biết phân biệt, đo lường, tính toán, định đoạt Sau khi
đã cùng với các tâm sở xúc, tác, ý, thọ, tưởng, tư hoạt động, Ý thức mớiphát ra hiệu lệnh cho thân và khẩu tạo nên nghiệp nhân thiện hay ác Để đốiphó với hoàn cảnh, thân thể có những tác động như lánh xa, đi, chạy, giúp đỡ,phá hoại thì thật ra thân thể đang chịu nhận lệnh và sự sai khiến của Ý thức.Thức thứ tám và thứ bảy không có tác dụng lanh lợi như Ý thức vì cảhai đều là những phân biệt trực giác, thụ động hơn là năng động nên ít có thể
tự mình tạo nghiệp mà thường trợ lực cho ý thức tạo nghiệp Mạt na thứcthường tạo nghiệp trong trường hợp ta hành động và nói năng một cách vô ýthức - những hành động thuộc về bản năng thường là khuynh hướng của Mạt
na, do Mạt na đảm nhiệm, còn ý thức ở trường hợp này lại ít hoặc khôngtham dự vào Một cử động bất ngờ mà không biết tại sao có, là do chủ yếu
Trang 31bởi Mạt na thức sai khiến Năm thức trước tuy có cảm giác được ngoại cảnhnhưng không có tác dụng suy luận nên cũng chỉ có thể trợ lực cho Ý thức tạonghiệp mà thôi Như vậy, Ý thức là động lực chính để tạo nghiệp và cũng chỉ
có Ý thức mới có năng lực diệt trừ nhân xấu (vọng nghiệp) để nuôi dưỡngnghiệp nhân tốt, làm nền tảng cho sự giải thoát hoàn toàn của chúng sinh
Thức thứ bảy là Mạt na thức Thức này chuyên về Chấp ngã Ví như con
ốc cứ bo bo bám lấy vỏ óc của mình và cho đó là cả cuộc đời, cả vũ trụ của
nó mà không dám rời ra bao giờ Mạt na cố hữu hay so sánh, yêu ghét thiênlệch, hàm chứa thể năng của tham lam, keo kiệt, tư lợi, tư hữu, ích kỷ Người
có tu chứng cao, từ A-la-hán trở lên mới thoát khỏi nghịch làm nô lệ, làm bềtôi bị sai khiến của thức này Khi còn là chúng sinh, ta thường bị nó ràngbuộc, lệ thuộc vào nó mà chẳng thể nào giải thoát được Vì thế, cái gốc khổnão, tội lỗi, mê lầm chính là do thức thứ bảy này Bát thức quy củ tụng viết:
“Đới chất hữu phú thông tình bảnTùy duyên chấp ngã lượng vi phi” [26,tr.22]
Như vậy, đối tượng của Mạt na thức là đới chất cảnh, tính chất nhậnthức của Mạt na là hữu phú vô ký Mạt na liên hệ một đằng với Tình thức (Ýthức) và một đằng với Bổn thức (Alaya) Nó theo sát Alaya, lấy đó làm đốitượng chấp ngã và do đó, hình thái nhận thức của nó là phi lượng
Chỉ riêng Đới chất cảnh chứ không có Tánh cảnh và Độc ảnh cảnh là đốitượng của Mạt na thức Vì Mạt na thức trực giác chấp ngã ấy chỉ kết hợp vớimột cảnh cho nên không thể nhận được nó là thiện hay ác
Mạt na đứng giữa ý thức và Alaya vì thế thường thông với cả hai bên; mộtmặt làm căn cứ phát sinh cho ý thức, mặt khác chấp lấy Alaya thức làm bản ngã.Mạt na thường không sáng suốt cho nên thiên về vọng tánh và hay tương tụcchấp ngã, không mấy khi rời bỏ được Do đó, Mạt na thông cả với Tình lẫn Bổn.Tình cũng có thể chỉ cho Ý thức mà Bổn cũng có thể chỉ cho Alaya
Trang 32Sự nhận thức phân biệt của Mạt na chủ yếu thuộc về trực giác hơn làtưởng tượng Do vậy, sự nhận thức phân biệt này có một phạm vi rất hẹp, chỉ
so đo nghĩ ngợi chấp kiến phần Alaya làm ngã, ngoài ra ít có tác dụng nghĩngợi so đo nào khác Dù ở hình thái Hiện lượng hay Tỷ lượng thì sự nhậnthức của Mạt na cũng đều sai lầm nên chỉ là Tợ hiện lượng hay Tợ tỷ lượng,hay nói một cách khác chỉ là Phi lượng
Luôn luôn so đo chấp lấy kiến phần Alaya làm ngã nên Mạt na có tên làHằng thẩm tư lương ngã tướng Hằng là luôn luôn, Thẩm là thẩm sát, tưlương là suy đoán, so đo Thức thứ tám thì có hằng mà không có thẩm Thứcthứ sáu thì có thẩm mà không có hằng Ý thức thì bị gián đoạn, duy chỉ cóMạt na vừa hằng vừa thẩm Tất cả mọi chúng sinh bị xoay vần trong sáu cõi:khổ não, ở mãi trong vòng sinh tử chỉ vì Mạt na chấp ngã Phá được ngã chấpcủa Mạt na mới có thể giải thoát khỏi luân hồi, bởi nó là nguyên nhân của tất
cả những tác động mê lầm của Ý thức
Thức thứ Tám là Alaya Thức này chuyên về chứa nhóm, tức là nó gồm
các hạt giống của tất cả các sự vật trong ba cõi Các hạt giống này do Huân Tập mà phát triển “Huân” - nghĩa là “ướp”, ví như chè để cạnh hoa nhài thìchè đượm hương thơm của loài hoa đó Như thế nghĩa là Alaya thức chịu ảnhhưởng của hoàn cảnh Hoàn cảnh tốt thì con người trở nên tốt, hoàn cảnh dởthì ta lại chịu ảnh hưởng dở “Tập” - là tập mãi thành thói quen Mỗi một conngười chúng ta tập bao nhiêu thứ mới thành thói quen Đứa trẻ phải tập nhìn,tập đi, tập suy nghĩ Nhưng chúng ta đã có các hạt giống sẵn có từ bao kiếptrước, nên bây giờ tập lại mới nhanh thành thạo, nếu không sẽ phải tập lâulắm Chẳng hạn như con cọp khi còn nhỏ, tuy tập bắt mồi nhưng năng tập vàkhuynh hướng đã có sẵn từ các thế hệ trước Nhận thức luận Phật giáothường ví thức thứ Tám như cái kho có các hạt giống chứa trong đó Cảnhngoài và các thức trước có huân tập cái gì thì nó giữ cái đó Nếu được hoàncảnh tốt, cộng thêm vào đó có hạt giống phát triển tốt thì nó sẽ phát triển mãi,
-và một ngày kia, phật tử sẽ hoàn toàn hiện thành Phật
Trang 33Như vậy, thức thứ Tám chỉ là cái kho, chứa giữ chủng tử, còn năng chấpthuộc về thức thứ bảy, được ví như là người giữ kho, không cho ai lấy bất cứcái gì trong kho ra cả Nếu xét trên phương diện nhận thức, thức thứ Tám -Alaya đóng vai trò là nơi lưu trữ thông tin: một mặt, của chủ thể tiếp thutrong tiến trình sống trãi của kiếp sống hiện tại; mặt khác, của kiếp sống quákhứ và tiếp tục cho kiếp sống vị lai Còn Mạt na thức là ý thức về bản ngã.Trường hợp một người bị tiêm thuốc mê hoặc bị ngất xỉu bất tỉnh Lúc
đó bảy Tâm Thức trước của họ (Nhãn thức, Nhĩ thức, Tỷ thức, Thiệt thức,Thân thức, Ý thức và Mạt na thức) đều hoàn toàn ngưng hoạt động Họkhông còn chút cảm giác nào cả, nhưng thật ra người đó vẫn chưa chết, nghĩa
là thân thể của họ chỉ còn lại duy nhất một Tâm Thức để giữ gìn sức sống và
để phân phối máu huyết trong thân thể cho chạy đều Tâm Thức còn lại cuốicùng trong thân thể con người bất tỉnh trên, Phật giáo gọi là Tâm Thức Alaya.Thêm nữa sau khi tiêm thuốc mê, bác sĩ cũng nhờ chặn được sự sinh hoạt củabảy Tâm thức trước và cũng nhờ còn lại Tâm thức Alaya hợp tác cho nên mới
có thể mổ xẻ thân thể người bất tỉnh một cách dễ dàng Thức Alaya nếu nhưlúc đó cũng rút lui theo bảy Thức ở trước thì con người bị bất tỉnh nói trêncũng sẽ bị chết theo và bác sĩ sẽ bó tay trong việc cứu họ sống trở lại, mặc dùbác sĩ vẫn đầy đủ những dụng cụ khoa học tối tân
Về thức này, trong Bát thức quy củ tụng có viết:
“Thọ huân trì chủng căn thân khíKhứ hậu lai tiên tác chủ công” [26,tr.26]
Nghĩa là “tiếp nhận sự huân tập, duy trì các chủng tử, thân thể, giácquan và môi trường vật lý, Alaya là vị chủ nhân tới trước hết và bỏ đi sauhết” Như vậy, Alaya làm nền tảng của mọi thức khác - những thức chỉ hiệnphát được sau khi Alaya đã được an tập
Trang 34Thế giới Tánh cảnh có tham tập vào một phần của Alaya, nó là Tướngphần của Alaya Tướng phần ấy là sở duyên, nghĩa là đối tượng cho Kiếnphần Tướng phần của Alaya bao gồm ba loại: thứ nhất, chủng tử là các nănglực phát sinh hiện hành; thứ hai, thế giới là sự vật hiện tượng phát sinh trong
vũ trụ, các dòng hiện hành do chủng tử phát sinh; thứ ba, căn thân tức là sinhmệnh của loài hữu tình Căn thân có một tác dụng đặc biệt ở chổ là địa điểmphát sinh ra năm thức
Nhưng thế giới Tánh cảnh ấy là do một Alaya phát hiện hay do nhiềuAlaya? Nếu thế giới thực tại chỉ do một Alaya phát hiện thì thế giới ấy sẽkhông thể tồn tại nếu sinh mệnh chấm dứt Còn nếu nó do nhiều Alaya pháthiện, vậy thì ngoài Alaya còn có một thế giới thực sự khách quan nữa
Triết học Phật giáo chủ trương rằng, sinh mệnh và cả thế giới là do cảhai loại phát hiện tựu thành: phát hiện của cá nhân là tự biến và phát hiện củatập thể là cộng biến Trong thế giới Tánh cảnh, các pháp (sự vật hiện tượng)tồn tại trên căn bản là tự biến hoặc cộng biến
Các Alaya giống nhau về tính chất và tác dụng, bởi vậy chúng có thể tạonên thế giới Tánh cảnh trong đường lối cộng biến - phát hiện cộng đồng.Chẳng hạn, nếu ta thắp trong phòng một trăm cây nến lớn nhỏ khácnhau, ánh sáng do tất cả các cây nến ấy cung cấp có thể là ánh sáng “cộngbiến” Nhưng mỗi cây nến cũng có thể phát ra ánh sáng riêng của nó, ánhsáng tự biến Mỗi cây nến xuất hiện dưới ánh sáng cộng biến nhưng trước hết
là ánh sáng từ chính bản thân nó đã Khi một cây nến bị thổi tắt, ánh sáng củacây nến ấy không còn hiện hữu nhưng ánh sáng cộng biến trong phòng vẫncòn Vì vậy, khi một cá nhân chết đi, thế giới Tánh cảnh vẫn còn tồn tại như
là sự phát hiện cộng đồng của tất cả các Alaya khác Nhưng người chết sẽ rasao? Sinh mạng của người ấy cũng như phần tham dự của người ấy trong thếgiới Tánh cảnh bây giờ trở về trạng thái chủng tử - tức là trạng thái hạt giốngtại Alaya; nghĩa là, thân thể, ngũ căn, đối tượng của ngũ căn là ngũ trần và cả
Trang 35ý thức đều trở về Alaya dưới dạng chủng tử Chúng không hoạt động nữa, bởibây giờ chúng không còn là các pháp hiện hành và chúng thiếu điều kiện đểphát thành hiện hành Như vậy, tất cả những gì cá nhân đã làm trong suốtcuộc đời mình và tất cả những nghiệp nhân đã tạo, bây giờ đều hiện hữutrong Alaya ở thế tiềm tàng Tuy nằm trong trạng thái chủng tử như thếnhưng tất cả những thứ đó đều tiếp tục chuyển biến, nghĩa là tiếp tục sinhhoạt dưới định luật nghiệp báo Tất cả các nghiệp nhân nằm trong Alaya ấyngầm chuyển tác động Khi mà các nghiệp nhân ấy chín tới, một giai đoạnphát hiện mới sẽ được bắt đầu và cây nến sẽ bật cháy.
Có thể nói, Alaya là kho tàng chứa chủng tử của vạn pháp; trong đó gồmcác ảnh tượng, kinh nghiệm, hoạt động, tư duy, khái niệm, tri giác và ngôn
từ Chủng tử vạn pháp được khảm nhập cất chứa vào Alaya bằng con đườngHuân tập, nhưng chúng được duy trì, bảo tồn bởi Mạt na thức và đang đợiđiều kiện thuận lợi để hiện phát Alaya dung chứa chủng tử, duy trì sự liêntục, sự hiện hữu của sinh mệnh và của các pháp hiện hành Khả năng huântập vạn pháp thành chủng tử và hiện phát chủng tử thành các hiện hành là khảnăng của sự cộng biến tự biến Điều này phải được xem xét qua nguyên lýduyên khởi
Mọi thức đều có chủng tử Alaya Những chủng tử này là nhân, tức lànguồn gốc chính; với sự cộng tác của những điều kiện khác gọi là duyên nhưthân, căn, trần thì những chủng tử ấy được hiện phát thành thức Nhân làchủng tử, quả là thức hiện hành Tuy nhiên, một chủng tử có thể được nhậnthức với tư cách một quả, bởi vì nó cũng là một pháp dù nó không phải làmột pháp hiện hành Chủng tử là kết quả huân tập của các pháp hiện hành.Nhân và quả đó được phân loại trong bốn tương quan:
Chủng tử sinh chủng tửChủng tử sinh hiện hànhHiện hành sinh chủng tử
Trang 36Hiện hành sinh hiện hành.
Bốn tương quan này vẽ ra được hệ thống tương duyên tương sinh củacác pháp trong vũ trụ
So với thuyết tính Thiện của Mạnh Tử: “nhân chi sơ tính bản thiên”,
“tính tương cận, tập tương viễn”, “tính ác do tập nhiễm” (như Huân tập) thìquan niệm duyên sinh chủng tử của Phật giáo rõ là sâu sắc hơn, đầy đủ hơn.Hơn nữa, với quan niệm như vậy, Mạnh Tử không giải thích được lý do tậpnhiễm của tính ác trong khi coi bản tính người vốn là thiện
Trong triết học Phật giáo, tính của Alaya không thiện cũng không ác,trung hòa gọi là Vô ký Bởi vì có tính cách vô ký ấy mà Alaya mới có thểhuân tập cả thiện pháp và ác pháp
Như vậy, hai tác dụng của Alaya là năng trì và năng biến Trong đó,năng trì là khả năng duy trì căn thân và khí giới (thế giới vật lý) Còn năngbiến là khả năng phát hiện hiện tượng từ chủng tử hiện hành Sự phát hiệnnày được tuân theo nguyên tắc nhân duyên và nghiệp báo Sinh mệnh và môitrường sinh hoạt của sinh mệnh, là những phát hiện của Alaya theo tổng thểnhững giá trị của nghiệp báo đã qua Nghiệp tức là hành động; mà hành độngtức là nhân; có nhân thì có quả; quả là sự phát hiện
Có thể thấy rằng, nếu không có Alaya thì không có vạn hữu, không có
sự sống của sinh mệnh và cũng không có được sự liên lạc giữa giai đoạn sinhmệnh, trong hoạt động của Tâm thức
Sở dĩ vạn pháp hiện hữu là nhờ có năng lực huân tập và có chủng tử Tất
cả mọi sự vật đều là những dòng hiện hành do các năng lực ấy liên tục pháthiện Vì thế, chủng tử là năng lực bất diệt của Alaya và sự vật là biến tướngcủa Alaya Muôn ngàn lớp sóng dâng lên là do nước và sự xáo động Lìanước và lìa sự xao động thì không có sóng, nhưng sóng không thể tồn tạingoài nước Vạn hữu là do năng lực phát hiện, mà năng lực này có trong các
Trang 37chủng tử của Alaya, cho nên không có Alaya thì không có vạn hữu Ngượclại, Alaya duy trì năng lực phát sinh hiện hữu do sự hiện hữu của các dòngsinh diệt hiện hành giữa vũ trụ vạn hữu mà ta biết rằng có Alaya.
Nếu không có Alaya thì cũng không có được sự sống của sinh mệnh.Theo triết học Phật giáo, sự sống của sinh mệnh cần phải có ba điều kiện: sứcnóng (noãn), sự tồn tại liên tiếp (thọ) và năng lực chủ động của sự sống(thức) Và năng lực chủ động sống ấy thuộc vào Alaya Sự sống của sinhmệnh có khác với sự sống của các loài khác như động vật và thực vật là ở chổ
nó có đầy đủ ba điều kiện trên Có thể nói rằng, động vật và thực vật sốngnhưng sự sống ấy chỉ mang sức nóng và sự tồn tại liên tiếp thôi chứ không cóthức Alaya duy trì vạn hữu, mà căn thân là một trong vạn hữu Chính ýmuốn sinh tồn của Alaya là động lực chủ yếu duy trì sự sống của căn thân;đến lượt vạn hữu tồn tại bởi có sự sống của căn thân Nhưng sự sống của cănthân lại chính là biểu hiện cụ thể cho sự sống của Alaya Nếu không có sựduy trì đặc biệt ấy, nếu không có Alaya thì bảy thức sẽ không từ đâu đểchuyển sinh Không có thức thì không có cảm giác phân biệt, mà không cócảm giác phân biệt thì không có sự sống Vì thế, phải có Alaya
Nếu không có Alaya thì cũng không có được sự liên tục của các giaiđoạn sinh mệnh Tất cả những hoạt động của căn thân họp lại gọi là nghiệplực Chính đó là động cơ dẫn đến một giai đoạn sinh mệnh mới và giai đoạnsinh mệnh này sẽ gây nghiệp lực làm nguyên nhân cho giai đoạn sinh mệnhkhác Dòng sống cứ tiếp diễn như thế, vẫn tương tục không bị gián đoạn.Tóm lại, sự sống do nghiệp mà phát hiện và diễn biến Nghiệp chỉ là các nănglực tiềm tàng trong các chủng tử của Alaya Nếu không có nghiệp, không cócác chủng tử thì sự liên tục của các giai đoạn sinh mệnh bất thành Nghiệpcũng như sức mạnh của nước là sóng Làn sóng xuống, sức mạnh của nó xôđẩy lên một làn sóng nữa, và còn sức mạnh là còn tiếp tục phát khởi nhữnglàn sóng Sức mạnh của sóng không tồn tại ngoài nước, cũng như nghiệp
Trang 38không tồn tại ngoài Alaya Bởi thế, nhìn trên sự liên tục của sinh mệnh, tathấy rằng, sự tồn tai của Alaya là vô cùng quan trọng.
Không chỉ thế, với thức Alaya, nếu các đức Phật nương theo trí huệ của
nó thì sẽ giải thoát hoàn toàn, đó là cảnh giới an lạc tuyệt đối
Có thể nói, tất cả những hiện hành sở dĩ bị tạp nhiễm là vì bị chủng tửtạp nhiễm Nếu các chủng tử được thanh tịnh thì hiện hành được thanh tịnh.Nếu Alaya muốn giải thoát nghĩa là muốn khỏi bị chấp làm ngã, và muốnbiến đổi tất cả các công năng của mình thành thanh tịnh thì cần phải chuyển
y Chuyển y nghĩa là đổi nhiễm thành tịnh, đổi tác dụng xấu thành tác dụngtốt Chuyển có nghĩa là biến đổi chứ không có nghĩa là xóa bỏ Alaya chỉ cầnbiến đổi thành Đại Viên Cảnh Trí hoàn toàn thanh tịnh bằng cách chuyểnchủng tử ô nhiễm thành chủng tử thanh tịnh Trên đường giải thoát, Alaya cónhững liên quan mật thiết với các thức khác Đến địa thứ Tám của Bồ Tát làBất Động Địa, Mạt na rời khỏi Alaya, không còn chấp nó là ngã nữa Nhưnglúc đó, Alaya còn bị nghiệp cảm ràng buộc, chưa hoàn toàn giải thoát nên còn
bị gọi là Dị thục Đến khi chứng thành địa vị Kim Cang Đạo mới vượt bỏđược Dị thục Lúc đó, mọi phiền não và khổ đau của con người đã được trừđoạn, Alaya hoàn toàn thanh tịnh nên các chủng tử bây giờ cũng hoàn toànthanh tịnh và biến đổi thành Đại Viên Cảnh Trí chiếu rõ tất cả các cơ cảm củanhân loại hữu tình
Những phân tích trên cho thấy: Nhận thức luận Phật giáo chú trọng khảosát những tác dụng và hành động hiện phát trong mối quan hệ giữa chủ thểnhận thức và đối tượng nhận thức Trong mối quan hệ này, triết học Phật giáo
đã tìm ra chìa khóa nhận thức trong triết học của mình là lý thuyết “Tam tự tính” Tam tự tính bao gồm: Biến kế sở chấp, Y tha khởi, Viên thành thực.
Tự tính thứ nhất là biến kế sở chấp Biến có nghĩa là phổ biến, là biến hiện khắp tất cả vũ trụ Kế có nghĩa là so đo và suy xét Sở chấp có nghĩa là
do chỗ chấp trước mà sinh ra
Trang 39Vậy, biến kế sở chấp có nghĩa là tự tánh của các pháp trong vũ trụ dobởi ý thức dựa theo các duyên bên ngoài suy tính và xét nghiệm để sáng tạohình tướng vạn pháp dưới sự điều khiển của Thức Mạt na so đo, vọng tưởng
và chấp trước Cho nên nó còn gọi là Biến kế sở chấp tánh
Các pháp không có thể chất chân thật; từ những sự vật thực tại cho đếnnhững sự vật thuộc khái niệm đều do Ý thức tưởng tượng xây dựng nêndưới sự chỉ đạo của Thức Mạt na so đo, chấp trước Chúng chỉ có mặt trongthế gian với tánh cách giả tạo theo nhu cầu cần thiết của con người hoặc củachúng sinh hữu tình Cho nên những pháp vô thể chất do Ý thức sáng tạođều được gọi là Biến kế sở chấp tánh Những pháp thuộc Biến kế sở chấptánh còn được mang tên khác là “Vô thể tùy tình pháp” Vô thể tùy tìnhpháp, nghĩa là những pháp được thành hình tướng hoàn toàn không có thểchất chân thật (vô thể) và chúng chỉ do tình cảm mê vọng (tuỳ tình) của Ýthức phân biệt tạo dựng Các hiện tượng như lâu đài, máy bay, xe hơi, tiểuthuyết, sách báo, truyện ngắn, hình tượng, người máy đều thuộc loại Biến
kế sở chấp tánh Những pháp đó hoàn toàn không có thể chất chân thật vàchúng được góp mặt trong thế gian ở tư thế bị động Tự chúng không có trigiác, không tự phân biệt hiểu biết như con người, hay như chúng sinh hữutình có sức sống Mặc dù không có thể chất chân thật, những pháp trên vẫnhiện có mặt trong thế gian một cách thực tại khách quan và chúng trở lạilàm đối tượng cho Ý thức lần thứ hai phân biệt để sáng tạo thêm vô số cácpháp khác cũng không có thể chất chân thật như thế Thế giới của Biến kế
sở chấp tánh là những hình ảnh méo mó của thế giới thực tại khách quan do
ý thức của con người tạo dựng nên
Như vậy, theo triết học Phật giáo, vạn pháp không hiện hữu theo cáchthức như chúng ta có khái niệm về chúng, thế giới khái niệm không phải làthế giới thực tại Đó là ý nghĩa của danh từ biến kế sở chấp Sự vật trong thựctại hiện hữu theo cách thức riêng của chúng, những sự vật ấy không thể nắmbắt thực chất bằng khái niệm, không thể diễn tả được bằng ngôn từ võ đoán
Trang 40Chúng là thế, trong Phật giáo gọi là “như thị”- là thế tức là không miêu tả
được Biến kế sở chấp là nhận thức về sự vật không đúng với như thị của
chúng, đó là sự gán ghép cho chúng những thuộc tính mà tự chúng không có.Biến kế sở chấp là nhận thức có phân biệt, có sự ngộ nhận, là thang nhận thứccòn phân biệt chủ thể và đối tượng, đối tượng và thuộc tính…, vì thế mà cầnngôn từ, cần khái niệm để phân biệt Khi ngôn từ xuất hiện là lúc nảy sinhnhận thức phân biệt và sẽ có phần không chính xác về đối tượng, bởi theoPhật giáo, không ngôn từ nào có thể diễn đạt được toàn vẹn đặc tính vốn cócủa đối tượng Khái niệm “kế chấp” còn có nghĩa là vọng tưởng phân biệt,cho nên Biến kế sở chấp cũng là sự nhìn nhận theo lăng kính vọng tưởngphân biệt Thế giới của những khái niệm chủ quan và thế giới khách quan làkhông hoàn toàn giống nhau Thế giới tự tính là thế giới không thể nắm bắtbằng khái niệm hay ngôn từ; nó tồn tại tự thân và theo cách riêng của nó Vậy
là, Thức không thể thấy được mặt mũi chân thực của vạn pháp, mà chỉ “vọngtưởng phân biệt” về vạn pháp Thực tại mà Thức thấy được không phải là tựthân mà chỉ là một thế giới do chủ thể vọng tưởng phân biệt và là đối tượngcủa vọng tưởng phân biệt
Tự tính thứ hai là Y tha khởi Y là nương tựa Tha có nghĩa là khác, tức
là chỉ cho nhân vật thuộc loại khác Khởi là sanh khởi, tức là sanh ra và phátkhởi để lớn lên Tính có nghĩa là tính chất, là thể tính
Y tha khởi tính có nghĩa là, tất cả sự vật trong thế gian có sức sống đềuphải nương tựa vào Thức Alaya để sinh khởi, để lớn lên và tồn tại nên gọi là
Y tha khởi tánh Đây là tính chất đặc biệt của vạn pháp
Trong vũ trụ vốn không có pháp nào hiện diện một cách độc lập màkhông liên hệ với các pháp khác, cũng như không có pháp nào không nươngvào Thức Alaya mà sinh khởi, lớn lên và tồn tại Thức Alaya quy định sựsống cũng như sự chết của vạn pháp; nghĩa là nếu Thức Alaya không có mặtthì vạn vật không là vạn pháp và do đó cũng không có duyên sinh diệt của