1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực chất và ý nghĩa của học thuyết về mâu thuẫn trong triết học hêghen

76 1,4K 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực chất và ý nghĩa của học thuyết về mâu thuẫn trong triết học Hêghen
Trường học Trường Đại Học Tổng Hợp Hà Nội
Chuyên ngành Triết học
Thể loại Bài luận văn
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 76
Dung lượng 374 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vớitầm quan trọng của học thuyết mâu thuẫn, sự hấp dẫn lí thú của triết họcHêghen, với tinh thần học hỏi để khai mở tri thức triết học tôi xin chọn đề tài “Thực chất và ý nghĩa của học t

Trang 1

MỤC LỤC

Trang MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu đề tài 3

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 3

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 4

6 Đóng góp của khóa luận 5

7 Kết cấu của khóa luận 5

NỘI DUNG 6

CHƯƠNG 1: THỰC CHẤT CỦA HỌC THUYẾT MÂU THUẪN

TRONG TRIẾT HỌC HÊGHEN 6

1.1.1 Khoa học lôgích 6

1.1.2 Triết học tự nhiên 13

1.1.3 Triết học tinh thần 16

1.2 Nội dung của “Học thuyết mâu thuẫn” trong triết học hêghen 26

1.2.1 Một số quan niệm trước hêghen về mâu thuẫn

Trang 2

1.2.2 Sự triển khai “Học thuyết mâu thuẫn” của Hêghen 30

CHƯƠNG 2: Ý NGHĨA CỦA HỌC THUYẾT VỀ MÂU THUẪN

TRONG TRIẾT HỌC HÊGHEN 36 2.1 Ýù nghĩa của “Học thuyết mâu thuẫn” đối với hệ thống triết học

của hêghen 36

2.1.1 Ýù nghĩa của học thuyết mâu thuẫn với “Khoa học lôgích” 36

2.1.2 Ýù nghĩa của “Học thuyết mâu thuẫn” với “Triết học tự nhiên” 41

2.1.3 Ýù nghĩa của “Học thuyết mâu thuẫn” với “Triết học tinh thần”.42

2.2 Ýù nghĩa của “Học thuyết mâu thuẫn” với lịch sử tư tưởng nhân

loại 44

KẾT LUẬN 67

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 70

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Nhà sáng lập học thuyết nguyên tử, đỉnh cao của chủ nghĩa duy vật cổđại – Lơxíp đã từng nói: “Không có sự vật nào phát sinh một cách vô cớ, màtất cả đều phát sinh trên một căn cứ nào đấy và do tính tất nhiên”

Đúng như vậy, điều này đã gây tranh cãi trong suốt chiều dài lịch sửtriết học với hai trường phái chính duy vật và duy tâm Tuy nhiên LútvíchPhơ Bách đã từng nhận xét rằng: “Chân lí không phải là chủ nghĩa duy vậthay chủ nghĩa duy tâm, mà chân lí chính là nhân bản học” Trên một số khíacạnh nào đó chủ nghĩa duy vật sẽ không bao giờ hoàn thiện nếu thiếu chủnghĩa duy tâm Bởi nó chính là hai mặt thống nhất của một vấn đề, đó là vấn

đề lịch sử triết học Thật sai lầm khi đứng trên đỉnh cao của chủ nghĩa Mác –Lênin để nhìn chủ nghĩa duy tâm bằng một con mắt Đừng quên rằng đỉnh caocủa triết học duy tâm Đức cuối thế kỉ XVIII đầu thế kỉ XIX là tiền đề trực tiếpcho triết học Mác – Lênin mà đại biểu của nó không ai khác ngoài triết gia lỗilạc Gioócgiơ Vinhem Phriđrích Hêghen (1770 – 1831)

Đối với hầu hết chúng ta triết học Hêghen quả là một dấu chấm hỏi totướng Ở ông có sự hội ngộ và lan tỏa của các dòng triết học đương đại, đếnnỗi người ta phải lấy ông làm ngã rẽ cho lịch sử triết học Đúng như vậy, triếthọc của Hêghen là một hệ thống đồ sộ, những lĩnh vực nghiên cứu của ôngđâu đâu cũng mở ra cho nhân loại một chân trời mới Cho đến nay ngót gầnhai thế kỉ, đứng trước ngưỡng của thế kỉ XXI mà ngoảnh lại người ta phảibàng hoàng và lạ lẫm Vậy Hêghen là ai? Vai trò của con người này ra sao? Ởông có gì đặc biệt?

Gioócgiơ Vinhem Phriđrích Hêghen (1770 – 1831) là triết gia thuộc dòng triếthọc cổ điển Đức, là người đầu tiên trong lịch sử triết học trước Mác đã trìnhbày một cách có hệ thống phép biện chứng mà sau này nó trở thành nội dung

Trang 4

cốt cán của triết học Mác – Lênin Tất cả những tư tưởng này được ông luậngiải trong tác phẩm đồ sộ “Lôgích học” với việc trình bày ba qui luật và

những cặp phạm trù cơ bản

Việc này đã xứng đáng đưa Hêghen trở thành triết gia thiên tài trong mọ triếtgia thiên tài Trong hoạt động vật chất phong phú và đa dạng đang diễn rahàng ngày hàng giờ Dù bất cứ ở lĩnh vực nào trong tự nhiên, xã hội, tư duy

hay trong sự sinh thành, tồn tại, phát triển và diệt vong của một hạt bụi, một

con người hay cả một thể chế xã hội đâu đâu cũng có sự hiện hữu của cái gọi

là “mâu thuẫn”

Vậy thế nào là mâu thuẫn? Vai trò của nó ra sao? Ai là người trình bàymột cách có hệ thống nhất trong lịch sử triết học trước Mác? Để trả lời nhữngcâu hỏi này không còn cách nào khác chúng ta phải ngược dòng lịch sử triếthọc để đến với con người này Chưa hẳn là tiến quá sâu vào lịch sử để tìm lạiHêraclít, Arixtốt, Đêmôcrít hay Lão Tử hoặc phải mở những cánh cửa nặng

nề của nhà thờ Thiên chúa giáo để gặp Oguytxtanh, Tômát Đacanh Cũngkhông cần phải quay lại thời kì phát sinh của chủ nghĩa Tư bản để tìmPh.Bêcơn, Đêcáctơ hay Spinôza… mà chúng ta hãy đến với nước Đức giaiđoạn cuối thế kỉ XVIII đầu thế kỉ XIX để chiêm nghiệm tài năng của một triếtgia thiên tài, nhà biện chứng bẫm sinh G.V.P Hêghen Plêkhanốp – một họcgiả uyên bác đã nhận xét rằng: “Chắc chắn sẽ mãi mãi được giành một địa vị

cao quí nhất trong lịch sử tư tưởng nhân loại Trong các khoa học mà người

Pháp gọi là: Khoa tinh thần và chính trị, không có một khoa học mà khôngchịu ảnh hưởng mãnh liệt và phong phú của thiên tài Hêghen: [4, 458] Vớitầm quan trọng của học thuyết mâu thuẫn, sự hấp dẫn lí thú của triết họcHêghen, với tinh thần học hỏi để khai mở tri thức triết học tôi xin chọn đề tài

“Thực chất và ý nghĩa của học thuyết về mâu thuẫn trong triết học Hêghen”được ông trình bày trong “học thuyết bản chất”, được coi là tinh thần của triếthọc Hêghen

Trang 5

2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI

Nghiên cứu về Hêghen nói chung và qui luật mâu thuẫn trong triết họcHêghen nói riêng Từ trước đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu, nhiềubài viết và nhiều hội thảo khoa học trong cũng như ngoài nước như: “Những

tư tưởng cơ bản của Hêghen về lôgích học với tính cách là lôgích biện chứng”của T.S Nguyễn Đình Tường, Tạp chí KHXH, 2004

Ở đó tác giả đã cho chúng ta một cách nhìn khá đầy đủ về hệ thốnglôgích học của Hêghen với những tư tưởng biện chứng sâu sắc, trong đó có

“Học thuyết về bản chất” Bên cạnh đó “Quan điểm cơ bản của G.V.PHêghen về lôgích học” của T.S Lê Thanh Tâm, Đại học KHXH và NV, 2003lại cho chúng ta thấy rõ hơn sự vận động của “lý tính thế giới” trong “Khoahọc lô gích” Ngoài ra “Tập bài giảng Triết học cổ Đức” của T.S NguyễnThanh Tân, Đại học Khoa học Huế đã cung cấp cho chúng ta những kiến thức

cơ bản nhất về triết học cổ điển Đức nói chung và triết học Hêghen nói riêng.Với tinh thần đó, tôi muốn nghiên cứu học thuyết mâu thuẫn của Hêghen ởmột góc độ mới để chiêm nghiệm đầy đủ hơn tài năng của thiên tài

3 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI

Mục đích nghiên cứu của đề tài: Nhằm xác định vị trí và nội dung của

“Học thuyết mâu thuẫn” trong triết học Hêghen Khi đã xác định được “tọađộ” của học thuyết mâu thuẫn, chúng tôi trình bày ý nghĩa của nó đối với hệthống triết học Hêghen nói riêng và lịch sử tư tưởng nhân loại nói chung Qua

đó làm bật lên những giá trị của “Học thuyết mâu thuẫn” mà ông đã để lại chohậu thế

Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài: Để xác định được vị trí và nội dungcủa “Học thuyết mâu thuẫn” trong hệ thống triết học của Hêghen chúng tôi cốgắng trình bày khái quát ba bộ phận triết học Hê ghen gồm: Khoa học lôgích,Triết học tự nhiên và Triết học tinh thần Khi có cái nhìn khái quát về triết họcHêghen chúng tôi đi vào phần trọng tâm để làm minh bạch nội dung “Học

Trang 6

thuyết mâu thuẫn” Để nhiệm vụ này được hoàn thành chúng tôi đã khảo sátmột số quan niệm trước Hêghen về mâu thuẫn Cuối cùng là trình bày về sựtriển khai “Học thuyết mâu thuẫn của Hêghen” Sau khi thấy được vị trí vànội dung của “học thuyết mâu thuẫn” trong triết học Hêghen, chúng tôi cốgắng đánh giá một số ý nghĩa cơ bản của nó đối với hệ thống triết học Hêghen

và lịch sử tư tưởng nhân loại Thông qua so sánh, đối chiếu với các quan niệm

về mâu thuẫn trước Hêghen

Nghiên cứu học thuyết mâu thuẫn trong triết học Hêghen có ý nghĩahàng đầu làm cơ sở để giải thích quá trình xuất hiện và hình thành một trong

ba qui luật của phép biện chứng Bởi vì, Hêghen không chỉ là người tiền bốitrực tiếp của C.Mác và Ph.Ăngghen và vì những người sáng lập chủ nghĩaMác đã xuất thân từ trường phái Hêghen

4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu của đề tài: Học thuyết về mâu thuẫn trong triếthọc Hêghen

Phạm vi nghiên cứu của đề tài: Khảo sát hệ thống triết học Hêghen,trong đó trọng tâm là: “Học thuyết bản chất” thuộc bộ phận “Khoa họclôgích” để làm sáng tỏ thực chất và ý nghĩa của học thuyết về mâu thuẫntrong triết học Hêghen

5 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Cơ sở lý luận của đề tài là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩaduy vật lịch sử của triết học Mác – Lênin

Phương pháp nghiên cứu của đề tài là: Kết hợp những nguyên lý củachủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử với nguyên tắcthống nhất lôgích và lịch sử; đồng thời sử dụng các phương pháp như: phântích, tổng hợp, so sánh, đối chiếu để làm sáng tỏ các vấn đề mà nhiệm vụnghiên cứu đặt ra

Trang 7

6 ĐÓNG GÓP CỦA KHÓA LUẬN

Khóa luận đã trình bày hệ thống kiến thức cơ bản của triết học Hêghentrong dòng triết học cổ điển Đức Qua đó giúp cho người đọc nắm được nộidung của phương pháp triết học Hêghen Vậy khóa luận là tài liệu tham khảocho những người quan tâm và yêu thích triết học Hêghen, góp phần làmphong phú triết học Mác – Lênin

7 KẾT CẤU CỦA KHÓA LUẬN

Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung của khóa luận gồm có haichương:

Chương 1: Thực chất của “Học thuyết về mâu thuẫn” trong triết họcHêghen

Chương 2: Ý nghĩa của “Học thuyết về mâu thuẫn” trong triết học

Hêghen.

Trang 8

Chương 1

THỰC CHẤT CỦA HỌC THUYẾT MÂU THUẪN

TRONG TRIẾT HỌC HÊGHEN

1.1 Vị trí của “Học thuyết mâu thuẫn” trong hệ thống triết học Hêghen

Hêghen triển khai lý tính thế giới qua ba dạng thức và tương ứng ôngcấu tạo hệ thống triết học của mình theo ba bộ phận: “Khoa học lôgích”,

“Triết học tự nhiên” và “Triết học tinh thần” Mỗi bộ phận được xếp tuần tự

và giữa chúng có quan hệ biện chứng với nhau Vì theo quan điểm củaHêghen thì “ý niệm tuyệt đối” là đối tượng của lôgích học, với tư cách làphần đầu hệ thống của ông “Ý niệm tuyệt đối” của ông là một quá trình tưduy, xét riêng bản thân nó, dưới hình thức “thuần túy” tách khỏi con người.Còn bản thân hiện thực thì Hêghen lại coi là một quá trình lôgích TheoHêghen vì rằng “ý niệm tuyệt đối” là nằm “trên trời” nên lôgích với tính chất

là học thuyết về “bầu trời” phải đi trước triết học về thế giới tự nhiên Lịch sử

tự nhiên và lịch sử xã hội đối với Hêghen là lôgích học thực nghiệm Trongmỗi bộ phận của hệ thống này là mỗi một nhiệm vụ, nội dung và phương phápriêng được Hêghen trình bày một cách chi tiết và sâu sắc

1.1.1 Khoa học lôgích

“Khoa học lôgích” của Hêghen có nhiệm vụ chỉ rõ xem “tinh thần thếgiới” phát triển từ tồn tại thuần túy lên đến quan niệm tuyệt đối như thế nào.Hêghen thừa nhận tồn tại, bản chất và khái niệm là ba sự “quy định” chủ yếu,

ba hình thức thể hiện chủ yếu của cái tuyệt đối trong quá trình tự phát triểncủa nó ở lĩnh vực lôgích Người ta thường nói “lôgích học dạy cho con người

ta suy nghĩ” nhưng đối với Hêghen không chỉ thế mà lôgích học còn giúpnghiên cứu được bản thể của thế giới Nó đồng nhất với tư duy nên Hêghengọi là “tư duy vì nó” Nghiên cứu lý tính tồn tại được dưới dạng các phạm trùlôgích Vậy nên Hêghen cho rằng “Khoa học lôgích” là vương quốc của

Trang 9

những hình bóng Sau khi đặt vấn đề và nêu ra nhiệm vụ thì Hêghen cấu tạo

“Khoa học lôgích” thành hai phần: “Lôgích khách quan” và “lôgích chủquan” trong đó “lôgích khách quan” bao gồm “học thuyết về tồn tại” và “họcthuyết về khái niệm” Cấu trúc này đã đáp ứng được yêu cầu của ông Tuânthủ cấu trúc ấy, chúng ta lần lượt nghiên cứu từng bộ phận cụ thể của “Khoahọc lôgích” với mục đích làm sáng tỏ nội dung triết học Hêghen và hiểu hơnthực chất học thuyết mâu thuẫn ở đâu ? Và như thế nào ? Hêghen đã từng nói

“hư vô ban đầu là hư vô thì mãi mãi hư vô” “Khoa học lôgích” không lựachọn “hư vô” là điểm khởi đầu mà “người ta chỉ tư duy những gì tồn tại” nênHêghen đã lấy phạm trù tồn tại là điểm xuất phát vì trong đó có chứa sinhthành Dựa vào nguyên tắc tam đoạn luận Hêghen đã chia “Khoa học lôgích”làm ba bộ phận: “Học thuyết tồn tại”, “học thuyết bản chất” và “học thuyếtkhái niệm” Khởi đầu của “ý niệm lôgích” là tồn tại sau đó vượt ra khỏi tồntại để đi sâu vào bản chất Nếu xét đây là một quá trình tư duy thì nó sẽ vượtqua khỏi “lôgích khách quan” để trở thành khái niệm Mỗi bộ phận có mỗithiên riêng Trong “học thuyết tồn tại” Hêghen chia làm ba thiên: chất, lượng,

độ ; tương ứng với tam đoạn thức là: chính đề, phản đề và hợp đề Bản thânchất và lượng cũng có quá trình phát triển qua ba giai đoạn :Ở “chất” baogồm: “Tồn tại nói chung”, “tồn tại hiện có” và “tồn tại vì nó” Ở “lượng” baogồm: “Lượng thuần túy” “lượng hiện có” và “đại lượng” Còn “độ” là tồn tạigiữa chất và lượng đã hoàn thành Khi độ, chất, lượng đã hoàn thành thì quyluật phát triển chất đổi lượng đổi Bản chất cũng có quá trình chuyển qua bagiai đoạn: “bản chất thuần túy”, “hiện tượng” và “hiện thực” “Bản chất thuầntúy” cũng trải qua ba vòng khâu: “Đồng nhất”, “khác nhau” và “đối lập”.Hiện tượng cũng trải qua ba vòng khâu: “Bề ngoài”, “thực tồn” và “qui luật”.Còn hiện thực là sự thống nhất giữa hiện tượng và bản chất Chúng phù hợpvới nhau, hiện thực có nội dung: “Nhân – quả”, “tất nhiên – ngẫu nhiên” và

“quan hệ giữa khả năng và hiện thực” Cụ thể chúng ta đi vào tìm hiểu bộ

Trang 10

phận thứ nhất của “Khoa học lôgích” là “học thuyết về tồn tại” Đây là bộ

phận đầu tiên của “Khoa học lôgích” Nó trình bày ý niệm lôgích ở giai đoạn

đầu gồm ba thiên: Thiên 1: “Chất” (hay tính qui định) Hêghen đã trình bày

qua ba vòng khâu: “Tồn tại nói chung”, “tồn tại hiện có” và “tồn tại vì nó”

Ở tồn tại nói chung Hêghen đã luận chứng nó với ba vòng khâu: “Tồn

tại thuần túy” đồng thời là “hư vô thuần túy” và sự kết hợp giữa chúng là

“sinh thành” “Sinh thành” được hiểu là một cái gì đó đang đúng với tồn tạinhưng chưa thực sự tồn tại Sinh thành là một cái tồn tại đồng thời không tồntại Bản thân nó vừa tồn tại vừa không “tồn tại vì nó” đang đi vào hư vô TheoHêghen cái ban đầu tồn tại thuần túy là tồn tại không có tính qui định cónghĩa là hư vô Vậy sinh thành là một mâu thuẫn Nó tương ứng với thuyết

“vô thường” Theo thuyết “vô thường” thì: “Sắc sắc không không”, “diệc hữudiệc không”, “phi hữu phi không” Vậy sinh thành có đủ ba đặc điểm của nhàPhật Điều này có thể khẳng định rằng: G V P Hêghen ngang tầm với tư duyPhật giáo đại thừa Hêghen đã lột bỏ sinh thành tức là vừa chấm dứt nó vừaduy trì nó Chuyển tồn tại nói chung ra “tồn tại hiện có” “Tồn tại hiện có” làtồn tại có có tính quy định tức là tồn tại có chất nhưng chất chưa đầy đủ Dùvậy nó là một tồn tại hữu hạn chứa đựng sự vận động bên trong Chính vì vậylàm cho chất càng ngày càng đầy đủ hơn, khi chất đầy đủ thì chuyển sang

“tồn tại vì nó” Đây là quá trình phát triển của vật chất Phát triển của chất vềmặt lượng của chất hoặc quá trình phát triển về qui mô của chất Đến đây

Hêghen chuyển sang thiên thứ hai của “học thuyết về tồn tại”: “lượng” (khi

đầy đủ thì chất sẽ chuyển hóa về lượng) khi chất trở nên đầy đủ thì ta nhìnthấy “chất” ở lượng Hêghen viết rằng: “Mọi sự sinh ra và chết đi không phải

là sự tiệm tiến liên tục mà trái lại là sự gián đoạn của sự tiệm tiến ấy, và làbước nhảy vọt phát sinh từ những thay đổi về lượng chuyển thành thay đổi vềchất” Giai đoạn đầu của “lượng thuần túy” “lượng thuần túy” là lượng “bàngquan” với chất tức là lượng trở nên xa lạ với chất Nó không thể hiện mức độ

Trang 11

với chất, làm cho chất bị mất đi Xét về mặt tư duy thì chỉ nhìn thấy lượng màthôi Lượng hiện có là lượng đã thể hiện một mặt nào đó của chất Đến đạilượng là sự thống nhất giữa vô hạn và hữu hạn

Đến đại lượng thì Hêghen nói “tồn tại vì nó” của “lượng” Đến đâylượng đã thể hiện đầy đủ nhất của nó Lượng càng ngày càng đầy đủ chất.Chất và lượng là hai vòng khâu đồng thời của sự phát triển của tồn tại

Sự phát triển của chất và lượng đến một giai đoạn mà sự thay đổi của

lượng và chất trở nên phù hợp với nhau Phù hợp khi xuất hiện độ, vậy thiên

thứ ba: “Độ” là tồn tại mà chất – lượng đã hoàn thành Nên trong đọ có sự

thống nhất giữa lượng và chất Trong độ thường xuyên xảy ra sự biến chứnggiữa vô hạn và hữu hạn Vậy khi lượng vượt qua giới hạn độ thì chất thay đổi– sự thay đổi của chất mở ra những vòng khâu phát triển của lượng làm choqui luật xuất hiện: “Qui luật chuyển hóa lượng thành chất và ngược lại”.Hêghen xem qui luật này như một qui luật của lôgích Hêghen trình bày trình

tự của sự nhận thức bản chất đối tượng tức là đã nắm bắt đối tượng thì cần đivào trình tự: chất – lượng – độ Tuy nhiên trình tự này ở Hêghen là trình tựlôgích của ý niệm chứ không phải qui luật của hiện thực khách quan

Đến đây Hêghen đã hoàn thành “học thuyết tồn tại” chuyển sang bộ phận thứ

hai của “Khoa học lôgích” là “học thuyết về bản chất” Và cũng trong “học

thuyết về bản chất” tọa độ học thuyết mâu thuẫn được xác định Đến “độ”, dobiện chứng của lượng và chất mà tồn tại chấm dứt và tồn tại chuyển thành bảnchất Bản chất theo quan điểm của Hêghen có một quá trình vận động pháttriển trải qua ba giai đoạn, được Hêghen trình bày bằng ba thiên:

Thiên thứ nhất: “Bản chất thuần túy” là bản chất với tính cách là phản

tự tự thân Đó là sự qui định, tự phản ánh giữa các mặt đối lập của nó nhưng ởngay bên trong bản thân nó “Bản chất thuần túy” theo Hêghen là lĩnh vực củanhững mâu thuẫn Chính từ đây học thuyết mâu thuẫn trong triết học Hêghen

đã xuất hiện Hay nói cách khác vị trí của học thuyết mâu thuẫn bắt đầu xác

Trang 12

lập từ đây Như đã nói ở trên, mỗi bản chất “là một thể thống nhất mâu thuẫn”

và khi nào quá trình giải quyết mâu thuẫn đến kết quả cuối cùng thì bản chấthiện ra, đó chính là hiện tượng

Thiên thứ hai: “Hiện tượng” là một mặt phản đề của bản chất hoặc đó

là một mặt khác của bản chất hay là một sự khác đi một sự tồn tại của bảnchất Hiện tượng có sự phát triển vì bản chất là những cái mâu thuẫn nên nókhông yên tĩnh Nó cũng trải qua ba vòng khâu: “Bề ngoài”, “tồn tại” và “quiluật”

Từ chỗ hiện tượng xa lạ với bản chất ở bề ngoài đến chổ thống nhất với bảnchất của qui luật thì bản chất lúc này đã vượt qua hiện tượng để trở thành hiệnthực

Thiên thứ ba: “Hiện thực” là tồn tại hợp lí của bản chất Đặc trưng của

nó hoàn toàn hợp lí vì nó tồn tại có bản chất nên nó hợp lí Hiện thực cũng trảiqua ba vòng khâu: “Khả năng – hiện thực”; “tất nhiên – ngẫu nhiên”; “nhânquả - kết quả” Toàn bộ các vòng khâu biện chứng của hiện thực thống nhấtvới nhau và có tác động qua lại Đến tác động qua lại là sự phát triển đầy đủnhất của hiện thực và cũng là sự phát triển đầy đủ của bản chất nên bản chấtchuyển hóa thành “khái niệm” Trong biện chứng của những khái niệmHêghen đã dự đoán được những quan niệm về sự vận động và thay đổi phổbiến Về chỗ này Lênin viết rằng: “Vận động và tự vận động sự thay đổi sựvận động và sức sống, nguyên lý của mọi sự tự vận động, sự thúc đẩy đến vậnđộng và đến sự hoạt động sự đối lập với tồn tại chất Ai sẽ tin rằng đó là thựcchất của chủ nghĩa Hêghen trừu tượng và khó hiểu” [7, 116] Ta thấy điểm rấthợp lý của Hêghen nêu ra ở đây là sự nhận thức đi từ bề ngoài đến bản chất vàkhi nắm bắt đầy đủ bản chất thì xây dựng “khái niệm” Do đó “khái niệm” làchân lý của tồn tại

Lúc này Hêghen chuyển sang bộ phận thứ ba của “Khoa học lôgích” là”học

thuyết về khái niệm” “Khái niệm” là sự thống nhất giữa bản chất và tồn tại.

Trang 13

Khái niệm cũng trải qua ba vòng khâu lớn, tương ứng với ba thiên đượcHêghen trình bày một cach chi tiết

Thiên thứ nhất: “Tính chủ quan” Đây là vòng khâu khái niệm tự nó

tức là khái niệm có tính cách là một sự tồn tại chủ quan hình thức bắt đầu củachân lý Do đó chân lý thực chất là một quá trình vận động của khái niệm.Với tư cách là khái niệm tự nó thì nó cũng trải qua ba vòng khâu của tính chủ

quan Một là: “Khái niệm thuần” là những mặt đối lập của tính chủ quan kết

thành một chỉnh thể trong đó chủ yếu là cái phổ biến và cái đơn nhất Vì bảnthân khái niệm đã là sự tổng hợp giữa bản chất và tồn tại

Phương diện của cái bản chất trong khái niệm là cái phổ biến vàphương diện của cái tồn tại trong khái niệm là cái đơn nhất Trong khái niệmthuần cái phổ biến và cái đơn nhất tạo một thể thống nhất nhưng nó bị phân

bố cho chủ từ và vị từ tức là tồn tại dưới hình thức là những mặt đối lập bênngoài Cho nên cái phổ biến và cái đơn nhất nó tách ra nhau, những mặt đốilập bên trong trở thành những mặt đối lập bên ngoài và hình thức thể hiện của

nó là phoán đoán Hai là: “Phán đoán” là hình thức vận động của khái niệm.

Nhờ phán đoán mà khái niệm đi vào hoạt động Qúa trình phát triển của phánđoán chia làm các giai đoạn từ đơn xứng, đặc xứng cho đến toàn xứng Qúatrình phát triển như thế làm cho tính tất yếu trước đó ở bên trong khái niệmđược bộc lộ ra đày đủ có nghĩa là cái phổ biến được khôi phục Vậy cũng có

nghĩa là khái niệm được hình thành trong suy luân Ba là: “Suy luận” với ba

hình thức: “Suy diễn”, “quy nạp” và “loại suy” Với ba hình thức này thìHêghen cho rằng: “Cái phổ biến” được khôi phục, tính tất yếu được thể hiệnđầy đủ nên đây là hình thức phát triển đầy đủ nhất của tính chủ quan làm chokhái niệm chuyển sang tồn tại khách quan

Thiên thứ hai: “Tính khách quan” Khái niệm trong “tính khách quan”

chính là sự vật nếu nó phù hợp với khái niệm của nó Định nghĩa này mang

hai ý nghĩa: Một là: sự vật do khái niệm tạo ra Điều này thể hiện rỏ lập

Trang 14

trường duy tâm của Hêghen Hai là: sự vật cũng chính là khái niệm hoặc một

phương diện tồn tại khách quan của khái niệm Tức là chúng ta có khái niệmnhư thế nào thì chúng ta có sự vật làm ra như thế ấy Theo Hêghen khái niệmvới tính khách quan có ba phương diện tồn tại: tính cơ giới, tính hóa học vàtính mục đích Tính mục đích càng cao càng đầy đủ thì sự vật phát triển phùhợp với khái niệm của nó Đó là sự phát triển cuarkhais niệm khách quan đãhoàn thành trởn nên thống nhất với tính chủ quan Sự thông nhất này được thểhiện trong ý niệm Lênin nhận thấy Hêghen đã đem yếu tố thực tiễn vào nhậnthức luận “đối với Hêghen hành động thực tiễn là một sự suy lý lôgích là mộthình của lôgích Và như thế là đúng” [7, 188]

Thiên thứ ba: “ý niệm” là sự thống nhất giữa tính khách quan và chủ

quan Nó là thang bậc cao nhất của khái niệm, trong đó tính chủ quan thuầntúy và khách quan thuần túy được khôi phục làm cho khái niệm ban đầu mangtính trứu tượng đến lúc này nó thành cụ thể Trong tính khách quan cái gìmang tính mục đích thì cái đó chắc chắn phải là sự sống nên đằng sau sự pháttriển tính mục đích chính là sự sống Lênin nhận xét “bằng cách đưa sự sốngvào ý niệm hoặc vào nhận thức Hêghen đã đem lại cho khái niệm một đờisống sinh động Đây là một thiên tài” Vì nhận thức nảy sinh trên cơ sở của sựsống Theo Hêghen “ý niệm” cũng trải qua ba vòng khâu: “sự sống”, “ý niệmcủa nhận thức” và “ý niệm tuyệt đối” Trong “sự sống” lại có ba vòng khâu:

“cá thể sống”, “quá trình sống”, “quá trình của loài” Trong “ý niệm của nhậnthức” có “ý niệm lý luận” và “ý niệm thực tiễn” Cống hiến lớn nhất củaHêghen trong học thuyết ý niệm này là đã chỉ ra hai con đường của nhận thứcchân lý đó là lý luận và thực tiễn Trong hai con đường này để đạt đến chân lýthực sự thì phải thống nhất lý luận và thực tiễn Đến “ý niệm tuyệt đối” thì ýniệm lôgích đã hoàn thành, hình thức cuả chân lý phát triển đầy đủ tạo điiềukiện dể lý tính chuyển sang giai đoạn khác

Như vậy trong học thuyết này chứa đựng những tư tưởng có mầm

Trang 15

mống duy vật Lênin nhận xét “bộ phận đáng ra là duy tâm thì gần với duy vậtnhất” [7, 296] Và cũng đến đây Hêghen kết thúc “Khoa học lôgích”chuyểnsang “Triết học tự nhiên” Như đã biết, sau khi Hêghen qua đời tình hình tưtưởng nước Đức nhất là dòng Triết học bị đảo lộn nghiêm trọng Ăngghen đãkhái quát thực trạng này trong tác phẩm “Hệ tư tưởng Đức” đó là tình trạngnhững người mệnh danh là hậu duệ Hêghen đã tùy tiện cắt xén, lắp ghép vônguyên tắc hệ thống Triết học của Hêghen Họ chia ra nhiều trường phái:Hêghen trẻ, Hêghen già Mỗi phái lấy mỗi bộ phận của Triết học Hêghenchống lại nhau mà họ không biết rằng đó là một việc làm ngu xuẫn và vô ích.

Vì hệ thống Triết học của ông là kết quả của sự vận động thông qua ba giaiđoạn của “ý niệm tuyệt đối”

Do vậy chúng không thể tách rời nhau Vậy nên, nếu chỉ biết được lôgích họccủa Hêghen thôi thì chưa thể nói đó là Triết học Hêghen được

Mà muốn biết con đường biện chứng của nó ra sao? Sự vận động của nó nhưthế nào ? Kết quả sản sinh của nó là gì? thì không còn cách nào khác chúng taphải bắt tay nghiên cứu bộ phận thứ hai đó là “Triết học tự nhiên”

1.1.2 Triết học tự nhiên

Theo đánh giá của Lênin thì “Triết học tự nhiên” là bộ phận yếu nhấtcủa Triết học Hêghen “Ở Hêghen chỉ cần bỏ trời là duy vật” [7, 171] Là mộtnhà Triết học và một nhà khoa học Ông sẽ không viết được “Triết học tựnhiên” nếu như không có tri thức khoa học Ưu thế của Hêghen là đã đưa trithức vào trong khoa học tự nhiên Nhưng về bản thân giới tự nhiên là vật chất

mà ông cứ trình bày theo thế giới tinh thần Ông đã biến nó thành sự “thahóa” của ý niệm, của lôgích Nên nó ít phát triển, ít phát huy vai trò và tácdụng của nó Tuy nhiên “Hêghen là một nhà biện chứng bẫm sinh” [7, 133]

Dù giới tự nhiên không phát triển nhưng ông đã vận dụng phép biện chứngtrình bày giới tự nhiên nên ông có nhiều cống hiến

Vậy làm thế nào có giới tự nhiên ? Đến “ý niệm tuyệt đối” thì lý tính đã

Trang 16

hoàn thành khuôn hình của thế giới nhưng lúc này thế giới chưa có chất thể.Nên lý tính tự sáng tạo ra chất thể của thế giới, vật liệu cho thế giới Vậy lýtính lúc này – ý niệm lúc này là chua trời Nhưng khi sáng tạo ra chất thể củathế giới thì lý tính chuyển sang tồn tại trong cái khác, trong sự vật vật chất Vìthế đánh mất bản chất tinh thần của mình Đây là sự “tha hóa” của lý tính.Nên giới tự nhiên không phát triển Chính đây là lĩnh vực các hiện tượng vậtchất không có khả năng chứa đựng mâu thuẫn Nếu có mâu thuẫn thì đó chỉ là

sự “băng hoài” không có sự phát triển Ông xây dựng “Triết học tự nhiên”thành ba bộ phận

Thứ nhất: Cơ học: Trong cơ học được chia làm ba bộ phận: “cơ học

phổ biến”, “cơ học đặc biệt”, “cơ học tuyệt đối” Cả ba bộ phận ông trình bàyvề: điểm, đường, mặt phẳng, không gian, thời gian vận động, mối quan hệgiữa vật chất và vận động

Sau đó chuyển sang trình bày các hiện tượng vật lý: vật thể, quá trình nhiệt

Cơ học của Hêghen dù duy tâm, coi giới tự nhiên là “tha hóa” của lý tính thìHêghen cũng có nhiều cống hiến lớn: Khi bàn về mối quan hệ giữa vật chất

và vận động thì Hêghen đã nói đến mối liên hệ hữu cơ của vận động và vậtchất coi vận động là cơ sở, là phương thức tồn tại, là thuộc tính của vật chất

Từ quan điểm biện chứng phân tích vận động ông vạch ra được bản chất củavận động Vận động là mâu thuẫn Mâu thuẫn ổn định và bất biến Không cómâu thuẫn thì không có vận động Nó biểu hiện trong một thời điểm: sự vậtvừa ở chổ nào đó, vừa ở chổ khác, vừa là nó, vừa không phải là nó Hêghen

đã giải thích nghịch lý “mũi tên bay” của Dênôn Mũi tên đang bay ta sẽ xácđịnh được tọa độ của nó với ba đại lượng xi, yi, zi đứng yên Ông kết luận vậnđộng bằng đứng yên Hêghen nhận xét: Dênôn chỉ nói đến kết quả vận độngnên Dênôn đồng nhất vận động với tự nhiên Trên thực tế mũi tên đang baythì khó xác định tọa độ của mũi tên Nếu có thì mộ tọa độ thương đối mà thôi.Khi bàn về bản chất của vận động Hêghen chỉ ra hai phương diện vận động là

Trang 17

không gian và thời gian Bản chất của chúng là vận động Không có vận độngthì không có thời gian và không gian Theo Hêghen “thời gian và không gianchỉ là hiện thực trong vận động và vân động là sự sinh thành ra mình, vật chất

là sản phẩm của mối liên hệ nội tại, giữa thời gian; không gian và vận động là

sự thống nhất trực tiếp của chúng Và cũng giống như không có vận độngthiếu vật chất, vật chất không tồn tại thiếu vận động Khi đó vật chất là mâuthuẫn nội tại” [18, 483] Hêghen quan niệm về không gian là cái cảm tính phicảm tính nào đó và là cái phi cảm tính cảm tính được nào đó Còn thời gian làmột trừu tượng đồng dị (có nghĩa là trừu tượng giống và khác) Thời gian còn

là một trừu tượng phân biệt được hiện tại, tương lai và quá khứ Điều này phùhợp với nguyên tắc thống nhất lôgích và lịch sử Càng đi xa với điểm ban đầuthì càng gần với điểm xuất phát Xét về mặt nhận thức thì trình tự nhận thứccủa con người là hiện tại Từ hiện tại vào tương lai, càng vào tương lai thìcàng hiểu quá khứ

Cống hiến của Hêghen trong quan điểm thời gian là: con người luônsống ở hiện tại, còn đối với quá khứ thì đã sống và chưa bao giờ sống ở tươnglai Ý nghĩa của cuộc đời luôn luôn làm nên ở hiện tại, hiện thực cũng có ýnghĩa từ hiện tại mà thôi

Thứ hai: Vật lý học Vật lý học gồm ba bộ phận: “vật lý của phổ biến”,

“vật lý của tính cá thể đơn lẻ”, “vật lý học đặc biệt” Trình bày các hiệntượng, quá trình mang tính vật lý hóa học Ông coi hiện tượng vật lý mangtính chất hóa học như lĩnh vực quan hệ chất – lượng Trong đó những thay đổithành phần số lượng đến mức độ nhất định dẫn đến sự thay đổi về chất Vìvậy các hiện tượng vật chất trở nên linh động hơn Sự chuyển hóa các hiệntượng vật chất biểu hiện rỏ hơn tính phổ biến Nhờ đó tính tất biệt của cáchình thức vận động càng bị mờ nhạt đi

Thứ ba: Cơ thể học gồm: “Hình thái học địa lý”: trình bày cái hiện

tượng địa chất môi trường Đây là cơ sở của sự sống Sự khác biệt của các cá

Trang 18

thể loài phụ thuộc vào điều này “Thực vật học” và “động vật học” Cơ thểhọc của Hêghen tập trung nghiên cứu sự sống với tư cách là “sự tồn tại trựctiếp của ý niệm là sự thống nhất hữu cơ cao nhất vượt bỏ mâu thuẫn giữa cái

cơ học và cái hóa học” [20, 468] Dù cho giới tự nhiên không phát triểnnhưng đến cơ thể học Hêghen đã khắc phục lại sự phát triển khi bàn về hiệntượng sự sống Ông cho rằng: sự sống gồm có các loài động vật, thực vật có

cơ sở nguồn gốc của nó phụ thuộc vào điều kiện địa chất môi trường Đặc biệtông ghi nhận sự ảnh hưởng của điều kiện địa chất môi trường tác động lên cơthể Ông cho rằng các loài động thực vật có những trình độ cao thấp khácnhau Trong đó loài có trình độ cao hơn có tiền đề loài có trình độ thấp hơn.Những loài có trình độ thấp hơn được chiếm hữu bỡi những loài có trình độcao hơn Đây là tư tưởng tiến hóa ghi nhận trình độ phát triển

Đối với Hêghen, giới tự nhiên phát triển ở bậc thang cao nhất cũng chỉ

là khắc phục sự “tha hóa” của lý tính thế giới dưới hình thức tiềm tàng Chonên, lý tính thế giới với tính cách là tinh thần tự ý thức được bản thân

Nó không thể dừng lại lĩnh vực các hiện tượng tự nhiên mà phải khắc phục

sự “tha hóa” của nó bằng cách quay về hoàn thiện trong “tinh thần thế giới”.Đây là bộ phận cuối cùng và cũng là đích đến cho mỗi chu trình vận động của

“ý niệm tuyệt đối”

1.1.3 Triết học tinh thần

Là giai đoạn hoàn thành và phát triển của lý tính sau khi khắc phục sự

“tha hóa” của nó ở giới tự nhiên Theo Hêghen đối tượng của “Triết học tinhthần” là “tinh thần thế giới” từ lĩnh vực tự nhiên trở về với bản thân mình”[14, 155] Cũng là giai đoạn lý tính quay trở về bản chất tinh thần của mìnhhoàn thiện sự phát triển “Triết học tinh thần” trải qua ba bộ phận

Thứ nhất: “Học thuyết về tinh thần chủ quan” Là bộ phận trình bày

quan điểm của triết học Hêghen về con người cá thể là trình bày con ngườivới tư cách là hiện thân của thế giới Mở đầu cho sự khắc phục “tha hóa” lý

Trang 19

tính thế giới khi nó tồn tại trong giới tự nhiên Khi bàn về con người cá thể thìHêghen bàn về thân xác con người Thân xác chứa đựng căn cứ để lí giải vìsao ở thân xác con người lý tính khắc phục sự tha hoá Khi bàn về thân xácHêghen cho rằng đó là thể thống nhất hai phương diện: vật liệu tạo nên thânxác và hình dạng người Hình dạng người là điều kiện tồn tại của thân xác.Đây là tổ chức linh hồn cơ thể người Nguồn gốc của hình dạng người là từ ýniệm Ý niệm này có ở trong giai đoạn ý niệm lôgích Khi ý niệm nhập vàohình dạng người thì vật liệu vật chất được tinh thần hóa và ý niệm được vậtchất hóa Nhờ vật liệu vật chất mà ý niệm đã có khuôn hình và vật liệu Nênhình dạng người được vật chất hóa Vì vậy mà Hêghen cho rằng là giới tựnhiên có ý thức Cách khắc phục sự “tha hóa” đó là: thân xác tương ứng giới

tự nhiên và ý niệm thì vật chất được tinh thần hóa và tinh thần được vật chấthóa Nên với sự xuất hiện của con người và thân xác con người thì giới tựnhiên tìm lại được bản chất tinh thần trước đây của mình đã bị đánh mất

Vậy làm thế nào từ có hình hài của con người đến hình dạng người? Là

sự thống nhất vật liệu và hình dạng người Con người chiếm hữu giới tự nhiên

để phát triển vật liệu vật chất của thể xác mình

Như thế càng làm cho ý niệm được vật chất hóa mà ý niệm đó là hình hài theoquan điểm của Hêghen Theo Hêghen sự phát triển của thân xác kéo theo sựphát triển của hình dạng (linh hồn) Sự phát triển thân xác đến một trình độnhất định thì linh hồn bắt đầu tự phân đôi ra Bộ phận nào của linh hồn đượcphân đôi ra, tự tách khỏi thân xác, trở nên phân biệt với thân xác thì đó chính

là ý thức của con người

Vậy làm thế nào để một phần linh hồn được phân đôi? Đó là nhờ vàoquá trình đối tượng hóa Chỉ bằng con đường đối tượng hóa linh hồn mớichuyển thành ý thức mà thôi Đối tượng hóa là quá trình ý thức về lao động.Lao động là phương thức tự sáng tạo ra bản thân người Thông qua lao độnglinh hồn được đối tượng hóa mới trở thành ý thức con người Nếu ở đây gạt đi

Trang 20

lập trường duy tâm thì Hêghen đã phát hiện ra vai trò lao động đối với ý thứccon người

Đối tượng hóa trải qua ba trình độ của lao động làm ý thức xuất hiện ở

ba giai đoạn Một là: “Tính xác thực cảm tính” (ý thức nói chung)chưa thực

sự là ý thức Trình độ này là sản phẩm của đối tượng hóa, lúc này ý thức làđối tượng Nó dường như độc lập với thân xác trở thành mối đe dọa với con

người Hai là: “Tự ý thức” Không đơn giản là đối tượng mà ý thức là chủ

thể Biến tất cả con người thành chủ thể, nên ý thức là chủ thể Đến trình độ

thứ ba là: “Lý tính”: đến lý tính quá trình đối tượng hóa cho thấy rằng: con

người vừa là chủ thể vừa là khách thể Có nghĩa mình là một quan hệ vừa chủvừa khách Khắc phục được sự đối lập giữa chủ thể và khách thể thông quaphương thức hoạt động Lúc này ý thức nhìn thấy rằng mình vừa là chủ thểvừa là khách thể

Nhưng phương thức để giải quyết mặt đối lập chủ thể - khách thể làhoạt động chứ không phải là phạm vị ý thức Thông quá hoạt động con ngườilàm chủ thế giới nghĩa là mình và thế giới là một, sự đối lập giữa mình và thếgiới không còn nữa Đây là cách mà Hêghen hình dung ra

Học thuyết bàn về con người cá thể trên tinh thần duy tâm khách quan.Hêghen coi con người và các phương diện của con người là hiện thân của lýtính thế giới chính là hiện thân của “tinh thần thế giới”

Hêghen thừa nhận sự phát triển của ý thức gắn liền với sự phát triển thểxác con người, xét về bản thể thì Hêghen đã manh nha ý thức sinh ra từ thểxác Hêghen có mầm mống duy vật về nguồn gốc ý thức, duy vật gần giốngPhơbách Học thuyết đã tạo ra bước nhảy vọt trong xã hội: phát hiện ra vai tròcủa lao động đối với lịch sử con người và đối với xuất hiện ý thức con người.Phát hiện này có mầm mống duy vật lịch sử Hêghen cũng đã phát hiện ra sựthống nhất giữa ý thức và thể xác người trong hoạt động con người Đây làmột tiền đề của chủ nghĩa duy vật lịch sử Tuy nhiên, bên cạnh đó biểu hiện

Trang 21

phản động cần phê phán của ông là: ông lí giải linh hồn con người gắn liềnvới thân xác người Người châu Á sống ở nhiệt đới nên linh hồn hèn nhát cònngười châu Âu sống ở ôn đới nên linh hồn mạnh mẽ Đây là tư tưởng phânbiệt chủng tộc, mang tính sôvanh đề cao dân tộc Đức

Thứ hai: “Học thuyết về tinh thần khách quan” Muốn xác lập ra quyền

thì phải đặt trong mối quan hệ xã hội và sự thừa nhận được nâng lên cái quitắc, qui định của cộng đồng Những qui định trở thành sự ràng buộc đối vớicon người và cá nhân trong quan hệ xã hội mà ta goi đó là luật Luật khôngchỉ là pháp luật mà còn luật trong đạo đức, trong tư duy Với Hêghen xã hộitrên cộng đồng là nơi ban ra và xác lập các quyền của cộng đồng Tất cảnhững lĩnh vực có những qui định luật thì Hêghen đều gọi chung là phápquyền Theo Hêghen con người chỉ ra cơ thể có tự do trong pháp quyền,không có tự do vượt ra ngoài pháp quyền, pháp quyền biểu hiện qua ba lĩnh

vực Một là: “Pháp quyền trừu tượng” là lĩnh vực mà ở đó con người cộng

đồng có những thỏa ước với nhau ban ra những qui định, những ràng buộc bắtbuộc phải tuân theo Tuy nhiên tác động của pháp luật này mang tính cưỡngbức áp đặt Theo Hêghen trong giới hạn của pháp quyền con người chỉ tự do ýthức và tuân theo những qui định của pháp luật và không có tự do của cá nhânngoài pháp luật

Và chỉ khi con người thực hiện tự do của mình trong khuôn khổ pháp luật thìmới đảm bảo tự do của cộng đồng Khi con người vượt ra khỏi pháp luậtchính con người đánh mất tự do của cá nhân và tự do cộng đồng

Ưu điểm trong quan niệm của ông là tự do mang “tính phổ biến” Cònnhược điểm đó là mức độ cấp thấp “nơi mà con người ta tự do nhất chính lànơi nhiều xiềng xích nhất”, Nên đâu đâu cũng có sự ràng buộc một cách tất

yếu Hai là: “Pháp quyền đạo đức”, theo Hêghen đạo đức cũng là lĩnh vực,

chuẫn mực qui định mà buộc con người ta tuân thủ theo Tự do ở đây cũngkhông vượt ra khỏi cái luật, chuẫn mực của đạo đức mà ông gọi là pháp

Trang 22

quyền đạo đức Nhưng so với tự do trong pháp quyền trừu tượng thì tự dotrong pháp quyền đạo đức cao hơn, nó cao hơn về mặt cá nhân Tất cả các mặtcủa pháp quyền trừu tượng và pháp quyền đạo đức đều có khuyết điểm Bổkhuyết bằng thống nhất hai mặt của hai loại pháp quyền này sẽ có đạo đức

cao hơn Ba là: “Pháp quyền phong hóa”, theo Hêghen phong tục văn hóa là

sự thống nhất giữa đạo đức và pháp quyền là hạt nhân của phong hóa Ông đặtvấn đề phong hóa cao hơn đạo đức và pháp quyền Điều này thì chưa hợp lý.Bên cạnh đó Hêghen cũng cho rằng phong hóa bao gồm các qui định, cácluật, các chuẫn mực

Vậy con người phải tuân thủ các luật phong hóa lúc đó con người mới

có tự do cao nhất Hêghen nói rằng “phong tục văn hóa đại diện cho lịch sử,dòng phát triển của văn hóa là một dòng lịch sử Đó là một sự thực hiện caonhất của ý thức tự do con người Những tiến bộ lịch sử thể hiện bên trongphong hóa” Tự do trong phong hóa được thể hiện qua ba hình thức: “tự dotrong gia đình”, “tự do trong xã hội công dân” và “tự do trong nhà nước”.Trong đó Hêghen cho rằng nhà nước là đỉnh cao của tự do Đây là một hạnchế lớn của Hêghen Ông đứng trên lập trường duy tâm và ông cho rằng: nhànước toàn thể thống nhất giữa đạo đức và pháp quyền, những đối kháng trong

xã hội công dân và trong gia đình trở nên hòa hợp thống nhất với nhau

Như vậy Hêghen đã “đóng khung tự do trong nhà nước” không có tự dongoài nhà nước Dù hạn chế tự do trong nhà nước nhưng Hêghen đúng khicho rằng: các cộng đồng chỉ có tự do khi các cộng đồng ấy có nhà nước.Đúng trong khi xã hội có sự phân chia giai cấp

Về mặt phương pháp luận thì Hêghen đã cung cấp cho ta một cái nhìnduy vật lịch sử về sự hình thành của nhà nước.Hêghen cho rằng nhà nước làsản phẩm của ý niệm pháp quyền

Thứ ba: “Học thuyết về tinh thần tuyệt đối” Đối tượng của học thuyết

về “tinh thần tuyệt đối” là tinh thần với thang bậc cao nhất, đó chính là tinh

Trang 23

thần tuyệt đối Trình bày “tinh thần tuyệt đối” với tư cách là nhận thức trong

đó cái tuyệt đối hay chân lý tuyệt đối được thể hiện đầy đủ nhất Ông đã hailần đề cập đến chân lý tuyệt đối ở “Khoa học lôgích” và “tinh thần tuyệt đối”.Chân lý tuyệt đối lúc này là tuyệt đối về mặt nội dung và hình thức Nhận

thức tuyệt đối với ba trạng thái Một là: “Nghệ thuật”, đây là phương thức thể

hiện của chân lý tuyệt đối Trong nhận thức, cái tuyệt đối hiện ra trước chủthể với tư cách là hình ảnh cảm quan, cùng với nó phương thức nhận thức làcon người thưởng thức và say mê nó Cái tuyệt đối được thưởng thức dướidạng là một đối tượng, một khách thể Dưới hình ảnh cảm quan thì cái tuyệt

đối dường như từ chủ thể hướng về khách thể Hai là: “Tôn giáo”, là một hình

thức nhận thức cái tuyệt đối, trong đó cái tuyệt đối hiện ra dưới dạng các biểutượng Cùng với các biểu tượng trong tôn giáo người ta lĩnh hội cái tuyệt đốitrong cái “sùng mộ”, “sùng bái” Đó là sự sùng bái của con tim đối với cáituyệt đối Lúc này dưới dạng biểu tượng cái tuyệt đối hiện ra không phải nhưmột đối tượng, một khách thể bên ngoài chủ thể mà cái tuyệt đối hiện ra bêntrong chủ thể Hêghen có cái nhìn biện chứng của tôn giáo Ông cho rằng: đạothiên chúa đang tiến tới “tôn giáo Mặc Khải” Đây là hình thức tôn giáo tinhthần, người có đức tin tự mặc khải ra cho mình chúa trời Đây là một tôn giáo

mà không có một bộ máy nào, một thiết chế nào, một nhà thờ nào mà là sự tựnhận thức của con người

Ba là: “Triết học”, nếu trong nghệ thuật cái tuyệt đối được nhận thức dưới

dạng cảm quan Trong tôn giáo cái tuyệt đối được nhận thức dưới dạng biểutượng thì trong triết học cái tuyệt đối được nhận thức dưới dạng khái niệm.Nhờ khái niệm cái khách quan, chủ quan, khách thể, chủ thể được diễn tả nêntrong khái niệm thì cái tuyệt đối được nhận thức đầy đủ nhất Vì ở khái niệm

có sự thống nhất cả chủ thể và khách thể, cả chủ quan và khách quan

Vì vậy bản thân khái niệm có đầy đủ sức mạnh sáng tạo của thế giới vàthế giới là sản phẩm của khái niệm Khái niệm là hình thức cao nhất của nhận

Trang 24

thức Khi trình bày lịch sử triết học ông cũng mắc một số hạn chế cơ bản Đólà: Hêghen coi lịch sử triết học như là một hình thức nhận thức cái tuyệt đối,coi lịch sử triết học như là lịch sử của lý tính giai đoạn hoàn thiện nhất của nó.Điều này cho thấy Hêghen đã đứng trên lập trường duy tâm khách quan đểđánh giá lịch sử triết học Ông có một thái độ thiên vị khi trình bày lịch sửtriết học cho nên thiếu khách quan và thiếu công bằng Ông có thiện cảm vớichủ nghĩa duy tâm và coi thường chủ nghĩa duy vật, coi thường một cáchnặng nề Theo ông: chủ nghĩa duy vật không phải là triết học, triết học thực sự

ở chủ nghĩa duy tâm Vì theo Hêghen triết học là tư duy mà tư duy rỏ nhất là

ở duy tâm Một điều thật nực cười ở Hêghen là ông chỉ coi chủ nghĩa duy tâmmới là triết học nhưng khi bàn về lịch sử triết học có cả những nhà duy vậtông vẫn thừa nhận như Hêraclít Và ở ông những nhà triết học có ảnh hưởngvới lịch sử mà là duy vật thì ông công nhận và biến họ thành duy tâm Tuynhiên cống hiến của Hêghen khá lớn khi bàn về lịch sử triết học đó là: Ông

đã vận dụng thống nhất nguyên tắc lôgích và lịch sử để bàn về lịch sử triếthọc Từ đây ông đã đưa ra lời khuyên: “Khi trình bày một học thuyết nào đókhông nên hạ thấp một học thuyết nào vì cứ một học thuyết là sự phản ánhcủa hoàn cảnh thời đại, nó là sự tổng hợp các học thuyết trước đó” và Hêghen

đã thêm yêu cầu: “Không được hiện đại hóa các học thuyết trước đó” Đây làlời khuyên quý giá cho các thế hệ sau trong việc nhìn nhận và đánh giá mỗimột học thuyết nào đó Ngoài ra Hêghen còn cung cấp cho ta bằng chứng vềqui luật của phép biện chứng

Ông đã hình dung lịch sử triết học như một vòng tròn lớn biện chứngtrong đó chứa đựng vòng tròn nhỏ Hêghen là người đưa phép biện chứng vàogiải quyết vấn đề triết học chỉ có điều đứng trên lập trường duy tâm Dù duytâm nhưng Hêghen chứa đựng tư tưởng có mầm mống duy vật Những tưtưởng này của Hêghen đã cung cấp cho C Mác sau này phương thức để sángtạo ra chủ nghĩa duy vật lịch sử Đây là tinh hoa trong tư tưởng triết học của

Trang 25

Hêghen mà sau này được C Mác kế thừa, chưng cất và hoàn chỉnh cơ bảnphép biện chứng.

Như vậy đến đây chúng ta đã cơ bản nắm được triết học Hêghen là gì?gồm có những bộ phận nào? Và mối quan hệ giữa chúng ra sao? Theo tưtưởng của ông, bản nguyên đầu tiên của thế giới là “ý niệm tuyệt đối”, do tínhham hiểu biết vả lại trong bản thân nó luôn chứa đựng mâu thuẫn nên ‘ý niệmtuyệt đối” đã vận động như là kết quả của sự tự giải quyết các mâu thuẫn nội

bộ thông qua các khái niệm mà Hêghen chứa nó trong cụm từ “phản tư tựthân” Sau này C Mác đã hợp lý hóa nó thành sự “phân đôi cái thống nhất”được coi là nguyên tắc số một của sự vận động và phát triển Sự vận động của

“ý niệm tuyệt đối” đã biến nó thành cái khác mình Nó không còn là nó màtheo nguyên nghĩa của ông đó là sự “tha hóa” của “ý niệm tuyệt đối”, cái màkhông còn là nó ở đây chính là “giới tự nhiên” (Triết học tự nhiên) Tuy nhiên

“ý niệm tuyệt đối” không dừng lại ở đây mà nó còn tiếp tục vận động và pháttriển Sự vận động và phát triển đó đã sản sinh ra con người và xã hội (Triếthọc tinh thần) Nhưng có một điều đặc biệt là ở chổ “ý niệm tuyệt đối” lúcnày không giống với “ý niệm tuyệt đối” lúc ban đầu nữa Mà thông qua sựvận động và phát triển nó đã được bổ sung hoàn thiện hơn, phong phú hơn,sâu sắc hơn Mặc dù hành trang xuất phát của Hêghen là chủ nghĩa duy tâmtuyệt đối bị coi là tầm thường, song không phải như vậy, đến đây cái hạt nhânhợp lý đã bắt đầu hé lộ Vậy cái hạt nhân hợp lý đó là gì? sự vận động của “ýniệm tuyệt đối” nghe có vẻ thần bí nhưng đó chính là sự vận động tổng hợpcủa ba qui luật được Hêghen đặt tên là: “Học thuyết tồn tại”, “học thuyết bảnchất”, “học thuyết khái niệm” Với sự triển khai của những cặp phạm trù cơbản làm nhiệm vụ giải thích và phong phú thêm cho ba qui luật đó Sự hé mởcủa cái hạt nhân hợp lý ra khỏi cái vỏ thần bí đó chắc chắn sẽ làm cho chúng

ta ngạc nhiên và càng ngạc nhiên bao nhiêu thì chúng ta lại càng kính trọngthán phục Hêghen bấy nhiêu Vậy nguyên nhân nào làm cho “ý niệm tuyệt

Trang 26

đối” đó không chịu đứng yên một chỗ? Cái gì đã buộc nó không ngừng vậnđộng? Chắc chắn ở đây không có chỗ cho sự tồn tại của cái gọi là “cú híchđầu tiên của thượng đế” hay là một “nhân duyên” nào đó theo cách quan niệmcủa triết lý nhà Phật, mà chính bản thân Hêghen đã thừa nhận trong “Khoahọc lôgích” của mình rằng: Mâu thuẫn và quá trình vận động xung đối củacác mặt đối lập đã làm cho “ý niệm tuyệt đối” dịch chuyển từ trạng thái nàysang trạng thái khác, mà mỗi trạng thái trong đó tương ứng với mỗi bộ phậntriết học của ông Chính học thuyết về mâu thuẫn đã làm nên tên tuổi của triếtgia người Đức này Và gần một trăm năm sau Lênin đã thừa nhận nó là hạtnhân của phép biện chứng Vậy vai trò của nó ra sao? Hêghen đã lý luận nhưthế nào về mâu thuẫn? Chúng ta nghiên cứu một phần quan trọng của “họcthuyết bản chất” trong “Khoa học lôgích” để tìm ra câu trả lời xác đáng nhất.

Nhận xét: Ba bộ phận của triết học Hê ghen đã chứng minh ông là nhà

triết học duy tâm khách quan, nghĩa là đối với ông tư tưởng của chúng takhông phải là sự phản ánh thế giới hiện thực khách quan, mà trái lại những sựvật và hiện tượng trong thế giới là sự thể hiện của “ý niệm tuyệt đối” mà ýniệm này tồn tại trước khi thế giới xuất hiện cụ thể: Hêghen cho rằng tất cảthế giới là sự sáng tạo và thống trị của một bản thể hoặc là một thực thể tinhthần (có sách gọi là: ý niệm tuyệt đối, tinh thần tuyệt đối, ý niệm hoặc tinhthần thế giới) Theo ông lý tính thế giới có hai đặc điểm :

Thứ nhất: nó đồng nhất của tất thảy các mặt đối lập có thể có Ngay từ

đầu nó đã đồng nhất vật chất và ý thức, đồng nhất giữa khách thể và chủ thể,đồng nhất giữa hiện tượng và vật chất

Thứ hai: bản chất của lý tính là vận động Chỉ trong vận động mà “lý

tính thế giới” làm nên bản thân mình đồng thời vừa sáng tạo ra thế giới Theocách nhìn của Hêghen thì lý tính làm nên bản thân nó đến đâu thì sáng tạo rathế giới đến đó Lý tính vận động và “lý tính thế giới” là một Là một quátrình sáng tạo thế giới mà thôi

Trang 27

Như vậy đây là lập trường duy tâm khách quan Hêghen còn cho rằng: trong

cuộc vận động lý tính thế giới trải qua ba giai đoạn Giai đoạn một: đây là

giai đoạn lý tính thế giới lớn lên bên trong bản thân mình gọi là “ý niệm

lôgích” Giai đoạn hai: là giai đoạn sáng tạo ra bản thân mình đó là “giới tự

nhiên” Do ý niệm tạo ra, thế giới tự nhiên với lý tính tồn tại trong tính vậtchất của nó nên nó đã bị chìm đằm trong tính vật chất Cho nên nó đánh mấtbản chất tinh thần, nó quên ý niệm đi Vậy nên giới tự nhiên được coi là sự

“tha hóa” của ý niệm lôgích Con người cũng là một bộ phận của giới tựnhiên (vì đánh mất tinh thần) con người là giới tự nhiên có ý thức Ý thứcđược bản thân của mình nên giới tự nhiên tìm lại được bản chất tinh thần củamình Khi tìm lại được thì nó khắc phục được sự “tha hóa” và lý tính chuyển

sang giai đoạn thứ ba Giai đoạn ba: sự tổng hợp của giới tự nhiên và ý niệm

lôgích được Hêghen gọi là “tinh thần thế giới” Đây là giai đoạn phát triểnđầy đủ nhất của lý tính

Như vậy, ở giai đoạn một thực ra nói đến con người còn ở giai đoạn hainói đến xã hội và giai đoạn ba thì nói đến hình thái ý thức xã hội Và khi ýthức xã hội phát triển hoàn chỉnh thì xuất hiện “tinh thần tuyệt đối”, hìnhthành và phát triển lý tính Hình thức tồn tại của giai đoạn một là “tồn tại phichất thể” của lý tính, giai đoạn hai là “tồn tại khuôn hình” và giai đoạn ba là

“tồn tại có sự phát triển đầy đủ chất thể và khuôn hình” Hêghen xem lý tínhđồng nhất tư duy thì đây chính là quá trình tư duy

Như vậy, Hêghen là nhà triết học duy tâm theo trường phái chủ nghĩaduy tâm khách quan hay chủ nghĩa duy tâm tuyệt đối Như Lênin nhận xét

“Hêghen tin tưởng và nghỉ một cách nghiêm túc rằng chỉ có chủ nghĩa duytâm mới là Triết học” hay “giàn hòa với sự tồn tại của trái đất của giới tựnhiên và của thế giới vật chất Chủ nghĩa đó chỉ coi tự nhiên chỉ là một sự tồntại khác của quan niệm tuyệt đối mà thôi” [8, 61] Bởi vì triết học là khoa học

Trang 28

về tư duy, cái chung mà cái chung tức là tư tưởng

Ông cho rằng: cơ sở hết thảy mọi sự vật tồn tại, cái bản chất sâu sắcnhất của thế giới không phải là ý thức cá nhân, là “cái tôi” chủ quan mà làmột ý thức nói chung nào đó rất “khách quan” tồn tại độc lập với con người,

có trước tự nhiên và lịch sử loài người, luôn luôn vận động và biến đổi đượcông gọi là “ý niệm tuyệt đối”

Toàn bộ thực tại khách quan (tự nhiên và lịch sử thế giới) là biểu hiệncủa “lý tính thế giới”hay “tinh thần thế giới” mà Hêghen gọi là “ý niệm tuyệtđối” Nó có trước tự nhiên và xã hội loài người, trải qua một quá trình phát

triển lịch sử - tự nhận thức về bản thân và xã hội qua ba giai đoạn Một là:

giai đoạn phát triển “nguyên chất” thuần khiết của nó khi chưa có thế giới.Nội dung của “ý niệm tuyệt đối” thể hiện trong hệ thống các phạm trù lôgích

có liên quan với nhau và chuyển hóa lẫn nhau (lôgích học) Hai là: dưới dạng

tồn tại khác khi di chuyển thành thế giới tự nhiên (Triết học tự nhiên) Ba là:

“ý niệm tuyệt đối” phủ định giới tự nhiên trở về với bản thân, nó tiếp tục biếnhóa, nhận thức nội dung của mình dưới các hình thức ý thức và đạt tới nhậnthức cao nhất qua tôn giáo, nghệ thuật, triết học (Triết học tinh thần)

Từ lập trường trên đã đưa Hêghen trở thành nhà triết học duy tâmkhách quan – đại biểu xuất sắc của triết học cổ điển Đức – người xây dựngnên phép biện chứng duy tâm Tất cả đưa Triết học Hêghen lên đỉnh cao củachủ nghĩa duy tâm Đức cuối thế kỷ XVIII – đầu thế kỷ XIX

1.2 Nội dung của “Học thuyết mâu thuẫn” trong triết học Hêghen

1.2.1 Một số quan niệm trước Hêghen về mâu thuẫn

Lịch sử phát triển đời sống tinh thần của xã hội cho thấy rằng, nhữngquan điểm lí luận của mỗi thời đại không bao giờ xuất hiện trên mảnh đấttrống không mà được tạo ra trên cơ sở kế thừa những tài liệu lí luận của cácthời đại trước Chẳng hạn, như chủ nghĩa Mác đã kế thừa nhưng tinh hoa tưtưởng của loài người mà trực tiếp là nền triết học cổ điển Đức, kinh tế chính

Trang 29

trị học cổ điển Anh, chủ nghĩa xã hội không tưởng Pháp Đặc điểm này đượccác nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác- Lênin gọi là “ý thức xã hội có tính kếthừa trong sự phát triển của nó” [1, 436] Khi xây dựng hệ thống triết học củamình nhất là phương pháp biện chứng trong đó có học thuyết về mâu thuẫn,ông đã chắt lọc và kế thừa những tư tưởng biện chứng trong lịch sử triết học.

Do vậy, nếu nói rằng Hêghen là người đầu tiên trình bày về mâu thuẫn thì đây

là quan niệm không đúng đắn

Bởi vì trước đó đã có nhiều triết gia đã bàn về vấn đề này trên nhiềugốc độ và nhiều lăng kính khác nhau Một trong những người đầu tiên bàn vềmâu thuẫn phải kể đến đó là Lão Tử - thủ lĩnh của phái “Đạo gia” ở TrungQuốc cổ đại Toàn bộ những quan niệm về mâu thuẫn của ông được trình bàykhá vẹn toàn trong học thuyết về “Đạo” Lão Tử cho rằng: Những cái mâuthuẫn đối lập mà thống nhất với nhau trong hiện thực chính là nguồn gốc củamọi sự rối loạn và tai họa Trong xã hội ông dẫn chứng rằng: “Khi đạo lớn bịphá bỏ thì xuất hiện nhân và nghĩa, khi trí tuệ xuất hiện thì sinh ra giả dốinhiều, khi gia tộc không hòa thuận thì xuất hiện hiếu và từ, khi quốc gia rốiloạn thì xuất hiện trung thành” Và ông cũng cho rằng: Sự vật phát triển đếntột cùng sẽ xoay ngược lại tai nạn sẽ biến thành hạnh phúc

Từ nhận thức trên ông đề ra biện pháp có tính lí luận triết học để giảiquyết hiện thực là: do những cái đối lập tồn tại dựa vào nhau, thống nhất vớinhau nên bài trừ được một mặt trong đó thì cũng từ bỏ được mặt kia Mặtkhác ông cho rằng: Muốn cho một vật nào đó suy tàn thì trước hết hãy làmcho nó hưng thịnh lên đến điểm tận cùng nó sẽ chuyển sang mặt đối lập tức làsuy tàn Cùng khoảng thời gian với Lão Tử thì ở phương Tây xa xôi cũngxuất hiện những học thuyết sơ khai về mâu thuẫn, không ai khác đó chính làtác giả câu tuyên ngôn bất hủ trong triết học “không ai có thể tắm hai lần trênmột dòng sông” Chính luận điểm này mà người ta phải thừa nhận ông là nhàbiện chứng bẫm sinh, ông là Hêraclít Hêraclít đã thừa nhận sự tồn tại và

Trang 30

thống nhất của các mặt đối lập nhưng nó chỉ tồn tại trong những mối quan hệkhác nhau Vũ trụ là một thể thống nhất nhưng trong lòng nó luôn luôn diễn

ra cuộc đấu tranh giữa các sự vật, các lực lượng đối lập nhau Nhờ các cuộcđấu tranh đó mà nảy sinh ra hiện tượng sự vật này chết đi thì sự vật khác rađời

Điều đó làm cho vũ trụ thường xuyên phát triển và trẻ mãi không ngừng.Đúng là chúng ta không thể tắm hai lần trên một dòng sông Với Hêraclít đấutranh giữa các mặt đối lập là vương quốc của mọi cái, là qui luật phát triểncủa vũ trụ Đứng trên lập trường của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủnghĩa duy vật lịch sử, thấm nhuần quan điểm toàn diện và quan điểm lôgích-lịch sử để bàn về mâu thuẫn

Nếu công bằng mà nói thì chúng ta không thể quên được công lao củaThích Ca Mâu Ni – người sáng lập ra Phật giáo cùng với tư tưởng biện chứngsâu sắc trong đó có tiềm ẩn những luận điểm về mâu thuẫn Điều này đượcthể hiện trong học thuyết vô ngã – vô thường Với những quan điểm như: sinh– trụ – dị – diệt ; sinh – lão – bệnh – tử; thành – trụ – hoại – không Triết lýPhật giáo muốn nói với chúng ta rằng: vạn vật luôn biến đổi thoáng có,thoáng mất Song có điều Tất- Đạt- Đa không nói với chúng ta là do sự đấutranh và thống nhất giữa các mặt đối lập để sinh ra quá trình đó mà thay bằngcụm từ “nhân duyên” Nhưng dù sao cái hạt nhân của nó cũng đã để chochúng ta lưu tâm, đây là một quan điểm cực kì tiến bộ có ý nghĩa nền tảngcho tư duy biện chứng Lịch sử triết học nói chung và lịch sử những quanniệm về mâu thuẫn nói riêng cũng có những bước thăng trầm riêng của nó, cólúc triết học lâm nguy cũng có lúc huy hoàng

Trải qua đêm trường trung cổ, khi mọi thứ bị đè bẹp dưới cây thánhgiá, triết học bị coi là tì thiếp của thần học, tất cả đều phục tùng ý chúa Vìvậy những quan điểm biện chứng duy vật trong triết học đã bị bỏ quên, phủlên một lớp rêu phong mang tên thần học trong suốt hơn mười thế kỉ Bước

Trang 31

qua thời kì phục hưng và cận đại với sự thống trị của chủ nghĩa duy lý đã đưa

tư duy siêu hình lên thế thượng phong Triết học chân chính và những chân lýđúng đắn về sự tiến hóa một lần nữa phải nằm im chờ đợi nhưng không cónghĩa là đã bị dập tắt mà những triết gia mang trong mình những tư tưởngtriết học chân chính đều tin rằng: triết học duy vật và phương pháp biệnchứng mới thực sự là cứu cánh của loài người Cái mà sau này Hêghen nói

“cái gì hợp lí thì tồn tại”

Lịch sử triết học luôn là một chủ đề phong phú và đa dạng, muôn hìnhmuôn vẻ với hằng ha sa số những quan điểm nối tiếp quan điểm như Trườnggiang sóng “trùng trùng điệp điệp”, sóng sau xô sóng trước Nhưng có mộtđiều thú vị rằng: tất cả những triết gia, trường phái triết học có tư tưởng biệnchứng bất kể là duy tâm hay duy vật thì đều bằng cách này hay cách khácthừa nhận thế giới này là một hệ thống “động” Thú vị hơn họ còn cho rằng:

Nguyên nhân làm nên yếu tố “động” là sự đấu tranh và thống nhất củacác mặt đối lập Đúng như vậy, vườn hoa triết học tuy rực rở màu sắc đa dạngnhững mùi hương nhưng vẫn tồn tại cái đặc trưng riêng có của nó như là cáimạch ngầm chảy suốt chiều dài lịch sử Giờ đây ta có thể lấy học thuyết vềmâu thuẫn làm nơi gặp gỡ của những triết gia mang trong mình tư tưởng biệnchứng Những Lão Tử, Thích Ca Mâu Ni, Hêraclít, Hêghen hay C Mác .tuy mỗi người mỗi hoàn cảnh, mỗi lập trường, mỗi thời đại khác nhau nhưng

sự giao thoa giữa họ đã làm nên một thứ triết học chân chính và khoa học Đó

là phương pháp luận biện chứng mà trong đó mỗi nhân vật là một đại biểu,một mắt xích cho quá trình ra đời, tồn tại và phát triển của phép biện chứng.Tuy nhiên có sự gặp gỡ giao thoa nhưng không bao giờ đồng nhất Chính điềunày đã làm nên đặc trưng riêng mà ta có thể thấy rằng cùng bàn về mâu thuẫnnhưng Lão Tử cũng không hoàn toàn giống với Hêraclít hay Thích Ca Mâu

Ni và tất cả cũng không hoàn toàn giống với Hêghen Rất hợp lý để lấyHêghen làm nơi phân nhánh cho triết học đương đại

Trang 32

Có nhiều nguyên nhân để khẳng định vấn đề này, song ta thấy rằng:Khi nghiên cứu lịch sử của những quan niệm về mâu thuẫn, trải qua Lão Tử;Hêraclít; Thích Ca Mâu Ni Dù họ có nhiều điều đặc biệt nhưng vẫn thiếu

đi sự hệ thống và lôgích, phần lớn còn mang nặng tính trực quan cảm tính,phỏng đoán và thiếu đi cơ sở khoa học Nhưng đến Hêghen thì quan niệmmâu thuẫn không những được nâng lên thành học thuyết hoàn chỉnh mà ýnghĩa và vai trò của nó đã dược mổ xẻ, xem xét một cách cẩn thận Chínhđiều này mà C Mác chọn Hêghen làm tiền bối của mình Vậy Hêghen đã nóinhững gì về mâu thuẫn? Ông trình bày nó ra sao? Chúng ta hãy cùng nhau mởcánh cửa lôgích học của ông để tìm đến nó trong “học thuyết bản chất”

1.2.2 Sự triển khai “Học thuyết mâu thuẫn” của Hêghen

Theo mạch tư duy biện chứng duy tâm của Hêghen thì sau khi kháiniên “tồn tại” đạt được sự toàn vẹn của nó trong cái “độ” thì nhường chỗ chokhái niệm “bản chất” Đây cũng chính là phần thứ hai trong hệ thống lôgíchhọc của ông, tức là học thuyết về bản chất

Trong học thuyết này bên cạnh việc trình bày những cặp phạm trù cơbản như: Tất nhiên – ngẫu nhiên, bản chất – hiện tượng, nội dung – hình thức thì Hêghen đã giành một phần lớn để trình bày về học thuyết mâu thuẫn.Như đã biết khi “tồn tại” đạt đến đỉnh của nó trong phạm trù “độ” thì cái “bảnchất” bắt đầu được nói đến Đến đây “tinh thần thế giới” nhận được một sựqui định mới sâu sắc hơn và cụ thể hơn Trong biện chứng của những kháiniệm này Hêghen đã dự đoán rằng: nhận thức của người ta và giới tự nhiên đisâu vào hiện tượng đến bản chất Ông cho rằng bản chất là một sự qui địnhsâu hơn tồn tại của “tinh thần thế giới” Tư tưởng biện chứng ấy của Hêghenđược cụ thể hóa ở chỗ bản chất có ba giai đoạn: “bản chất với tư cách là bảnchất”, “hiện tượng” và “hiện thực” Với cách đặt vấn đề như vậy Hêghen đãbắt đầu lí luận về “học thuyết bản chất” với:

Thiên nhất thứ: Bản chất với tính cách là bản chất “Bản chất” với tính

Trang 33

cách này được hiểu là “các phương diện mâu thuẫn của nó được phản ánhthông qua nhau” Đó là bản chất với tính cách là “phản tư tự thân” hay là “bảnchất thuần túy”, được Hêghen cắt nghĩa là sự hiện ra của bản chất trong bảnthân mình Nhưng bản tính của bản chất bao giờ cũng vận động vì ngay từđầu ở giai đoạn bản chất với tính cách là bản chất nó là sự đồng nhất củanhững qui định không giống nhau Trong sự đồng nhất đó sự “phản tư” diễn

ra ở một bản chất đơn thuần, tức là bản chất được phản ánh trước hết trongbản thân nó thông qua sự phản ánh và biến đổi nó Ta thấy rằng ở đây Hêghentrình bày sự phát triển của bản chất là có tính mâu thuẫn vì sự tiến lên nàocũng bao hàm sự đánh mất một cái gì đó Sự phát triển ở phương diện nàyđược bù lại cho sự thụt lùi ở phương diện khác Điều này có nét tương đồngvới định luật bảo toàn và chuyển hóa năng lượng vậy

Rõ ràng Hêghen đã thấy được mối liên minh giữa triết học với khoahọc tự nhiên Sự phản tư ấy được Hêghen cắt nghĩa là “sự hiện ra của bảnchất trong bản thân mình” Đến lượt nó (bản chất) cũng được ông trình bàythông qua những vòng khâu đó là: đồng nhất – khác nhau – mâu thuẫn – căn

cứ Đây là tiến trình tự triển khai và trở về hoàn thiện của bản chất với tínhcách là một giai đoạn của “ý niệm lôgích”

Với Hêghen sự đồng nhất ở đây là đồng nhất của các mặt đối lập, đó làđồng nhất biện chứng hiểu theo nghĩa tự đồng nhất Cách lí luận về sự đồngnhất này hoàn toàn khác với lôgích hình thức, nhưng trong sự đồng nhất đãbao hàm của cái không đồng nhất, tức là “khác nhau” chính yếu tố này đãthúc đẩy sự vận động Nhưng cái khác nhau không bao giờ xa lạ với cái đồngnhất mà ngược lại nó là một dạng tồn tại khác của sự đồng nhất hay nói cáchkhác nó là bước tiến của cái đồng nhất Ngay từ đầu trong sự đồng nhất đã cócái bất an, sự cộng hưởng của cái khác nhau và cái bất an sẽ dẫn đến phânchia cái thống nhất tạo ra những mặt đối lập Các mặt đối lập này “xungđối”và biện chứng với nhau làm nảy sinh mâu thuẫn Ở cấp độ mâu thuẫn lí

Trang 34

tính thế giới nhận được những qui định cụ thể hơn và cao hơn, được biểu hiệnbằng sự biến đổi về chất của các phạm trù Ở đây sự khác nhau trở nên gaygắt hơn làm cho mâu thuẫn sống động hơn và hình thành ngay trong nó yếu tốphủ định Mâu thuẫn là thang bậc cao nhất trong hành trình giữa các mặt đốilập Đến đây ông đã rút ra một luận điểm mang tính chất kinh điển “tất cả mọivật đều có tính chất mâu thuẫn trong bản thân nó” [14, 107] Với phạm trùmâu thuẫn Hêghen đã vạch ra nội dung của “vận động” và cho rằng: “Khôngthừa nhận mâu thuẫn là một trong những định kiến chủ yếu của phép siêuhình Những nhà siêu hình học khẳng định rằng: Không có cái gì là mâu thuẫn

cả, họ coi mâu thuẫn ở trong hiện thực và trong tư tưởng là cái gì đó ngẫunhiên không bình thường Nhưng theo Hêghen thì hiện thực lại bác bỏ khẳngđịnh sai lầm ấy” [14, 140] Như vậy biện chứng của sự vận động là mâuthuẫn, là sự thống nhất giữa “động” và “tĩnh”, vận động là bản thân mâuthuẫn đang tồn tại

Khi nào thế giới còn vận động thì cuộc đấu tranh không khoan nhượngcủa các mặt đối lập vẫn chưa kết thúc làm cho các mâu thuẫn được chuyểnhóa trong sự “phản tư tự thân” sẽ dẫn đến “căn cứ” là kết cục của nó Cónghĩa rằng ở “căn cứ” thì mâu thuẫn đã được giải quyết Nhưng cái bản chấtkhông dừng lại ở đây mà nó tiếp tục triển khai sự phản tư dưới dạng nhữngcăn cứ khác nhau đó là “hình thức”, “vật chất” và “nội dung”

Nhưng đối với Hêghen mâu thuẫn vẫn là giây thần kinh trung ương bắtbuộc những khái niệm chuyển động, thay đổi biến thành sự đối lập của chúng.Tuy nhiên, sự phát triển trong bàn tay Hêghen “không đưa đến sự giải quyếtmâu thuẫn theo lối cách mạng Đến những giai đoạn phát triển cao của “tinhthần tuyệt đối” thì sẽ diễn ra loại vận dộng biện chứng mà ở trong đó nhữngmặt đối lâp lại phù hợp với nhau một cách nhịp nhàng” [14, 134] Con đường

đi của cái bản chất thông qua sự “đồng nhất” đến “khác nhau” qua “mâuthuẫn” và trở về với “căn cứ” Cuối cùng sự “phản tư tự thân” cũng xóa bỏ

Trang 35

nốt các “căn cứ” chuyển sang “điều kiện” và bước tiếp theo sẽ là gì? Hêghen

đã luận giải cho chúng ta trong thiên thứ hai

Thiên thứ hai: “Hiện tượng” (thực tồn) Sau khi đã “dọn sạch” các

hiện tượng ra khỏi tính vật chất của nó và đưa các hiện tượng vào trong vòngtrói duy tâm về bản chất, Hêghen mới bắt đầu xét đến các qui luật của hiệntượng Theo định nghĩa của ông thì “qui luật là tính bền vững được bảo tồncủa hiện tượng” Trong khi một hiện tượng này được chuyển qua một hiệntượng khác thì nổi bật lên một tính vững bền nào đó, một nhân tố khẳng định

sự bảo tồn Sự thống nhất đó là qui luật của hiện tượng, do đó mà qui luật làcái khẳng định trong sự trung giới của hiện tượng Theo Hêghen “bề ngoài” làcái hiện ra trong sự tự phản tư bản chất, về tổng quan nó vẫn còn bảo tồn bảnchất nhưng dưới dạng đã bị “tam sao thất bản” Tiến triển về lượng của sựtrung gian hóa đến mức nhận được bản chất làm cho bề ngoài chuyển hóa vềchất thành “thực tồn” mang tính bản chất tức là “hiện tượng” Đến đây ta đãthấy được con đường đi từ bề ngoài đến hiện tượng, khi “thực tồn” có bảnchất thì đó là hiện tượng

Ở hiện tượng bản chất đã bị phân chia làm cho tính chỉnh thể, toàn vẹncủa nó không còn nhưng trái lại hiện tượng lại là bản chất một cách sát nhấttrong sự thực tồn của nó Quay lại phạm trù “qui luật” trong sự vận động của

sự vật các thuộc tính sẽ chuyển hòa thành các thuộc tính đa dạng Với ông sựthống nhất giữa các thuộc tính đó là qui luật và bản thân nó cũng là yếu tố

“động” Đến đây Hêghen lại nhấn mạnh mối quan hệ giữa “qui luật” và “quanhệ”, với ông giữa chúng có mối tương quan với nhau bởi lẽ cả hai luôn có bảntính hoạt động Đây là mối quan hệ bản chất là kết quả của một quá trìnhchuyển hóa, mà trước hết đây là quan hệ giữa các mặt đối lập như toàn thể và

bộ phận Sự thống nhất giữa cái bộ phận và cái toàn thể sẽ tạo ra “lực”, với

“lực” quan hệ đầu tiên ấy chuyển hóa sang quan hệ của “lực” và biểu hiện của

“lực” Trong vận động “lực” và biểu hiện của “lực’ chuyển hóa lẫn nhau dẫn

Trang 36

đến sự đồng nhất trong quan hệ bản chất, tức là quan hệ “ben trong” và “bênngoài” Sự thâm nhập lẫn nhau của những mặt đối lập bên trong và bên ngoàilại dẫn đến đồng nhất thì chuyển hóa thành “hiện thực” Vậy ở hiện thực thìbản chất được lí giải ra sao? Con đường của nó sẽ đi đến đâu? Hêghen dẫn dắtvấn đề vào thiên thứ ba, cũng là thiên cuối cùng của học thuyết về bản chất

Thiên thứ ba: “Hiện thực”, Hêghen kết thúc “học thuyết bản chất” của

mình bằng việc phân tích một cách biện chứng khái niệm “hiện thực” coi nó

là sự thống nhất giữa bản chất và hiên tượng Qua đó ông cũng phê phánnhững quan niệm siêu hình về các phạm trù: tất yếu, ngẫu nhiên, khả năng,hiện thực và xét chúng trên quan điểm biện chứng duy tâm của những kháiniệm Hêghen bắt đầu bằng việc phê phán những định nghĩa có tính cách hìnhthức về khả năng và hiện thực và ông đi đến kết luận rằng: “Trong cái khảnăng của một vật A có chứa đựng khả năng không A Nếu định nghĩa mộtcách hình thức khả năng là cái gì tự nó không mâu thuẫn với nó thì thật là vôích, rằng phải xét khả năng trong sự thống nhất với hiện thực” [14, 138] Do

đó mới có thể khắc phục được sự hiểu biết một cách siêu hình về khả năngcũng như về hiện thực Sự vận động của những khái niệm “khả năng” và

“hiện thực” khi đạt đến sự thống nhất sẽ đưa đến khái niệm ngẫu nhiên

Hêghen nói rằng sự phát triển của hiện thực phải phục tùng cái tất yếu.Như vậy có nghĩa là mọi cái hiện thực “chỉ có thể xảy ra như thế này chứkhông thể nào như thế khác được” nhưng đồng thời “hiện thực” là toàn vẹn và

cụ thể, hình thức biểu hiện của nó “có thể là thế này cũng có thể là thế khác”

Do đó cùng với tính tất yếu “hiện thực”lại có cả tính ngẫu nhiên, theoHêghen sở dĩ là nó ngẫu nhiên bởi vì nó là thống nhất giữa “khả năng” và

“hiện thực” Mâu thuẫn bao hàm trong cái ngẫu nhiên biểu hiện ở chỗ cái

“ngẫu nhiên” vừa là cái cơ sở lại vừa không có cơ sở Do đó “ngẫu nhiên”chính là biểu hiện tính hai mặt của bản thân hiên thực trong sự thống nhấtgiữa hiện thực và khả năng ngay cả trong sự đối lập của nó với khả năng Từ

Trang 37

đây xuất hiện mối quan hệ lẫn nhau giữa những khái niệm “ngẫu nhiên” và

“tất yếu” Hiện thực ở trong sự đồng nhất với “khả năng” là đặc tính sẵn cócủa “tất yếu” đồng thời “ngẫu nhiên” là sự thống nhất giữa “hiện thực” và

“khả năng” Vì thế mà “ngẫu nhiên” và “tất yếu” không những loại trừ nhau

mà còn là điều kiện tồn tại của nhau

Tóm lại với học thuyết về bản chất được Hêghen cấu thành bộ phận thứhai của lôgích học, chúng ta đã thấy được ông trình bày học thuyết về mâuthuẫn như thế nào và các cặp phạm trù ra sao? Không thể phủ nhận rằngHêghen đã thấy được mâu thuẫn và bóc trần nó với tư cách là nguyên nhâncủa sự vận động và phát triển Song ông không rút nó ra tự nhiên, lịch sử, xãhội mà lại rút nó ra từ tinh thần Rất khoa học khi thấy mâu thuẫn là cái gốccủa vận động nhưng thật “ngu xuẫn” khi chỉ thấy đó là vận động của tư duy,của lý tính thế giới mà thôi Cái trật tự vốn có của thế giới bị Hêghen đảo lộnmột trăm tám mươi độ không thừa không thiếu Đồng thời ông lại “bưng bít”mâu thuẫn và cố ép nó vào trạng thái chung sống “hòa bình” với nhau giữacác mặt đối lập Hêghen còn mưu toan những mâu thuẫn đó sẽ được giảiquyết một cách ôn hòa, cái mới sẽ thỏa hiệp với cái củ Những âm mưu này sẽnảy sinh ra hệ quả là biện chứng của ông chỉ quay lại cái ban đầu mà thôi.Hơn nữa cái ban đầu ấy lại một lần nữa bị ông giải thích bằng quan điểm duytâm phản động

Chính lập trường đó đã tạo nên mâu thuẫn không thể giải quyết giữa hệthống và phương pháp triết học Hêghen, mâu thuẫn đó sẽ làm cho phươngpháp luôn luôn chống lại hệ thống Sai lầm này đã khiến ông mặc dù đã biếtđược mâu thuẫn, biết được con đường vận động của vũ trụ nhưng chỉ dừnglại ở sự phỏng đoán mà như Lênin nhấn mạnh “chỉ là đoán được thôi, khônghơn” [7, 169]

Trang 38

Chương 2

Ý NGHĨA CỦA HỌC THUYẾT VỀ MÂU THUẪN

TRONG TRIẾT HỌC HÊGHEN

2.1 Ý nghĩa của “Học thuyết mâu thuẫn” đối với hệ thống triết học của Hêghen

Trong số những vấn đề về phép biện chứng, với tư cách là một lôgíchhọc, về nội dung có lẽ khó tìm được một vấn đề nào quan trọng hơn đối với

nó – nêu bật được những đặc điểm chủ chốt của nó như vấn đề mâu thuẫn Tất

cả các khía cạnh và chủ đề khác của biện chứng pháp đều bị hút về nó, đềuquyện vào nó Cũng không phải ngẫu nhiên mà người ta đã định nghĩa:

“lôgích học biện chứng nói chung là lôgích học về mâu thuẫn” [19, 292] Cụthể là không những chỉ các nhà tư tưởng macxít mà cả những người ít có cái

gì chung với truyền thống macxít cũng đều định nghĩa về nó như vậy

2.1.1 Ý nghĩa của học thuyết mâu thuẫn với “Khoa học lôgích”

Có thể thấy rằng, chúng ta nhìn bất cứ lĩnh vực nào của lôgích họcchúng ta cũng sẽ thấy được con đường biện chứng và bằng cách này hay cáchkhác đều dẫn chúng ta đến với điểm tận cùng của nó là “mâu thuẫn” Bởi vìmột chân lý đúng đắn rằng: thế giới vật thể không phải theo lối những mảnhtri thức cô lập chắp thành bức tranh ghép tùy tiện mà theo lối từng bước mộtcho phép thâm nhập vào tính toàn vẹn, cụ thể của bản thân các khách thể.Không thể tái hiện được trong tư duy cái phức tạp ấy nếu không nghiên cứumâu thuẫn với tư cách là nguồn gốc sâu xa của sự vận động và phát triển.Lôgích học của mâu thuẫn là lôgích học của thế giới quan cách mạng triệt đểnhất, do tính phê phán và chủ nghĩa nhân đạo cụ thể của nó “ Vì nó đã vàđang xây dựng phương thức tư duy không bao giờ chặn đứng các dòng sôngtuôn chảy của Hêraclít, của tồn tại” [19, 292] Không bao giờ trói buộc nótrong những hình thức vật thể hóa khô cứng, không thay thế nó bằng cái trật

Ngày đăng: 02/01/2014, 16:57

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2003. Giáo trình Triết học Mác – Lênin. Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội Khác
[2] Các trường phái triết học trên thế giới, 2001. Nxb Văn hóa thông tin [3] Câu chuyện triết học. Nxb Tri thức, 2003 Khác
[4] Nguyễn Tiến Dũng. Lịch sử triết học Phương Tây. Nxb. Tổng hợp TP Hồ Chí Minh, 2006 Khác
[5] G. V. Ph. Hêghen. Bách khoa toàn thư các khoa học triết học I. Nxb Tri thức, 1999 Khác
[6] G. V. Ph. Hêghen. Nhập môn triết học. Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1971 Khác
[7] V. I. Lênin. Bút kí triết học. Nxb Tiến bộ. Mátxcơva 1981 Khác
[8] V. I. Lênin. Toàn tập, tập 14. Nxb tiến bộ , Mátxcơva 1974 Khác
[9] V. I. Lênin. Toàn tập, tập 18. Nxb tiến bộ , Mátxcơva 1980 Khác
[10] C.Mác, Ph. Ăngghen. Toàn tập, tập 21. Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1993 Khác
[11] C.Mác. Góp phần phê phán triết học pháp quyền của Hêghen. Nxb Sự thật, Hà Nội, 1977 Khác
[12] C.Mác. Tư bản, tiếng việt, tập I. Nxb Tiến bộ, Mátxcơva 1984 Khác
[13] Đinh Thị Phòng. Vấn đề phương pháp trong triết học Hêghen. Luận văn thạc sĩ khoa học, chuyên ngành: Lịch sử triết học, mã số: 5.01.01, Huế 2002 Khác
[14] Nguyễn Thanh Tân. Tập bài giảng Triết học cổ điển Đức. Đại học Khoa học Huế Khác
[15] Triết học và hỏi đáp. Nxb Tri thức, 2002 Khác
[16] Viện hàn lâm khoa học Liên Xô. Viện Triết học. Lịch sử phép biện chứng, tập I. Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1998 Khác
[17] Viện hàn lâm khoa học Liên Xô. Viện Triết học. Lịch sử phép biện chứng, tập II. Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1998 Khác
[18] Viện hàn lâm khoa học Liên Xô. Viện Triết học. Lịch sử phép biện chứng, tập III. Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1998 Khác
[19] Viện hàn lâm khoa học Liên Xô. Viện Triết học. Lịch sử phép biện chứng, tập IV. Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1998 Khác
[20] Viện hàn lâm khoa học Liên Xô. Viện Triết học. Lịch sử phép biện chứng, tập V. Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1998 Khác
[21] Viện hàn lâm khoa học Liên Xô. Viện Triết học. Lịch sử phép biện chứng, tập VI. Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1998 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w