1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

tiểu luận so sánh giữa giao thông đô thị lớn và vừa

35 2,3K 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giao thông đô thị lớn và đô thị vừa
Tác giả Nhóm 5
Trường học Trường Đại Học Xây Dựng
Chuyên ngành Quản lý hạ tầng, dịch vụ công và bảo vệ môi trường
Thể loại Tiểu luận
Năm xuất bản 2013
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 35
Dung lượng 86,83 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

bài tiểu luận so sánh giữa giao thông đô thị lớn và vừa. Môn quản lý hạ tầng dịch vụ công và bảo vệ môi trường

Trang 1

MỤC LỤC

A LỜI MỞ ĐẦU

B NỘI DUNG

I.Cơ sở lý luận

1.Giải thích một số khái niệm liên quan.

2.Hệ thống đô thị ở Việt Nam.

3.Vai trò của giao thông đô thị.

4.Cơ cấu tổ chức quản lý giao thông đô thị ở Việt Nam.

II Sự khác biệt giữa giao thông đô thị lớn và đô thị vừa.

1.Sự khác biệt.

2.Ví dụ minh họa.

3.Tại sao lại có sự khác biệt giữa giao thông đô thị lớn và vừa.

4.Thực trạng giao thông đô thị ở Việt Nam và một số biện pháp

C KẾT LUẬN

A LỜI MỞ ĐẦU

Giao thông đô thị luôn là vấn đề lớn của mọi thành phố trong hành trình pháttriển, mỗi thành phố có đặc điểm riêng nên cũng đòi hỏi cách quản lý riêng đối vớivấn đề này Giao thông có liên quan mật thiết đến các hoạt động trong đô thị vàngược lại, tất cả các hoạt động trong đô thị đều có ảnh hưởng đến nhu cầu giao thông

Trang 2

Giao thông đô thị là tiêu chuẩn vô cùng quan trọng gần như quyết định để đánh giáchất lượng của quy hoạch đô thị

Hệ thống đường phố đô thị có nhiệm vụ bảo vệ các điều kiện cho chất lượngsống của người dân đô thị như chiếu sáng, cảnh quan, vệ sinh,

Hệ thống đường đô thị được ví như hệ thống huyết mạch của cơ thể con người,

có vai trò quan trọng trong quá trình quy hoạch đô thị

Sự tăng trưởng kinh tế, tốc độ đô thị hóa và dân số đô thị tăng nhanh tạo ra sức

ép rất lớn đến cơ sở hạ tầng đô thị nói chung và hạ tầng giao thông vận tải đô thị nóiriêng

Mỗi đô thị đều có những đặc điểm, điều kiện phát triển kinh tế - xã hội khácnhau Do vậy, giữa đô thị lớn và đô thị vừa có những khác biệt về hệ thống giao thôngnhư: số lượng đường, lượng phương tiện, chất lượng đường, mức độ lưu thông, khảnăng mở rộng mạng lưới giao thông, về việc quản lý, điều hành giao thông đô thị, tìnhtrạng ách tắc, số vụ tại nạn, các dự án đầu tư,

I.CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.Giải thích một số khái niệm liên quan

Hệ thống giao thông đô thị là hệ thống quan trọng nhất trong các loại hạ tầng

kỹ thuật đô thị, nó đáp ứng nhu cầu vận tải hành khách và hàng hóa từ nơi này sangnơi khác trong đô thị hoặc vận chuyển hành khách và hàng hóa từ đô thị đi các nơi

Hệ thống giao thông có vai trò quan trọng trong việc hình thành bộ khung cấu trúc đôthị và có vai trò định hướng cho các hệ thống hạ tầng kỹ thuật khác

Hệ thống giao thông bao gồm hai phần chính:

Trang 3

+Mạng lưới giao thông: bao gồm mạng lưới đường giao thông trong đô thị, cáctuyến sông rạch cho giao thông thủy, hệ thống nhà ga, cảng hệ thống bãi đậu xe,bến bãi hàng hóa, bến xe.

+Nhu cầu giao thông: đối tượng chính là hành khách hay hàng hóa được vậnchuyển trên các phương tiện giao thông

Hạ tầng đô thị là tập hợp các công trình, thiết bị kỹ thuật phục vụ các hoạt độngsản xuất và đời sống xã hội ở đô thị nhằm thỏa mãn các nhu cầu vật chất và tinh thầncủa cộng đồng dân cư và bảo vệ môi trường sống ở đô thị

Hệ thống công trình hạ tầng kỹ thuật bao gồm hệ thống giao thông, thông tinliên lạc, cung cấp năng lượng, chiếu sáng công cộng, cấp nước, thoát nước, xử lý cácchất thải và các công trình khác Các công trình giao thông theo Luật Doanh nghiệpnhà nước (2003) là: dịch vụ công là dịch vụ thiết yếu đối với đời sống, kinh tế, xã hộicủa đất nước, cộng đồng dân cư của một khu vực lãnh thổ hoặc bảo đảm quốc phòng,

an ninh mà việc sản xuất, cung cấp theo cơ chế thị trường thì khó có khả năng bù đắpchi phí đối với doanh nghiệp sản xuất, cung ứng dịch vụ này, do đó được Nhà nướcđặt hàng, giao kế hoạch, đấu thầu theo giá hoặc phí do Nhà nước quy định

Một số dịch vụ công khác như vận tải công cộng, cấp điện, giáo dục…

2.Hệ thống đô thị Việt Nam

Tại Việt Nam hiện có 6 loại hình đô thị: loại đặc biệt và loại I, loại II đến loại V.Theo Nghị định số 42/2009/NĐ-CP, một đơn vị hành chính để được phân loại là

đô thị thì phải có các tiêu chuẩn cơ bản như sau:

- Có chức năng đô thị

- Quy mô dân số toàn đô thị đạt 4 nghìn người trở lên

- Mật độ dân số phù hợp với quy mô, tính chất và đặc điểm của từng loại đô thị vàđược tính trong phạm vi nội thành, nội thị, riêng đối với thị trấn thì căn cứ theo cáckhu phố xây dựng tập trung

Trang 4

- Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp (tính trong phạm vi ranh giới nội thành, nội thị, khuvực xây dựng tập trung) phải đạt tối thiểu 65% so với tổng số lao động.

- Đạt được các yêu cầu về hệ thống công trình hạ tầng đô thị (gồm hạ tầng xã hội vàhạ tầng kỹ thuật)

- Đạt được các yêu cầu về kiến trúc, cảnh quan đô thị

Các đô thị ở Việt Nam

 Đô thị loại đặc biệt gồm (2 thành phố): Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh

 Đô thị loại I (13 thành phố): Hiện ở Việt Nam có 3 thành phố trực thuộc trung ương là đô thị loại I, gồm: Hải Phòng, Đà Nẵng và Cần Thơ; 10 thành phố trực thuộctỉnh là đô thị loại I, gồm: Huế, Vinh, Đà Lạt, Nha Trang, Quy Nhơn, Buôn MaThuột, Thái Nguyên, Nam Định, Việt Trì và Vũng Tàu

 Đô thị loại II (11 thành phố): Hạ Long; Biên Hòa; Vũng Tàu ; HảiDương; Thanh Hóa; Mỹ Tho; Long Xuyên; Pleiku; Phan Thiết; Cà Mau; TuyHòa

 Đô thị loại III (47 thành phố, thị xã): Các thành phố còn lại và các thị xã: SơnTây; Cẩm Phả; Thủ Dầu Một; Bà Rịa; Sa Đéc; Cửa Lò ; Sông Công; Tam Điệp.Đến 9/2011 có 37 đô thị loại III

 Đô thị loại IV: 42 thị xã còn lại và một vài thị trấn lớn

 Đô thị loại V: 640 thị trấn

 Đô thị đặc biệt và đô thị loại I được coi là các đô thị lớn, đô thị loại II ,III là đôthị vừa, còn lại là đô thị nhỏ

3.Vai trò của giao thông đô thị.

Hệ thống hạ tầng kỹ thuật đô thị nói chung và hệ thống giao thông đô thị nóiriêng đóng vai trò vô cùng quan trong trong sự tồn tại phát triển đô thị thể hiện tínhvăn minh, hiện đại của các đô thị trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Hệ thống đường đô thị được ví như bộ khung hay hệ thống huyết mạch

của cơ thể con người, có vai trò quan trọng trong quá trình quy hoạch đô thị

Giao thông đô thị là tiêu chuẩn vô cùng quan trọng gần như quyết định để đánh giáchất lượng của quy hoạch đô thị

Trang 5

Hệ thống đường phố đô thị có nhiệm vụ đảm bảo các điều kiện cho chất lượngsống của người dân đô thị như chiếu sáng, thông gió, cảnh quan, vệ sinh,….

Đường đô thị còn là nơi bố trí các hệ thống hạ tầng thiết yếu khác như cấpnước, thoát nước, cấp điện, thông tin liên lạc…

Đầu tư xây dựng hệ thống giao thông đô thị là đầu tư cho phát triển và luôn đitrước một bước

 Nội dung quản lý Nhà nước về giao thông đô thị

 Hệ thống giao thông đô thị gồm:

- Các công trình giao thông: giao thông động , giao thông tĩnh

Đô thị có nhiều loại hình giao thông

- Các phương tiện tham gia giao thông: các phương tiện vận tải hành khách vàvận tải hàng hóa…

Hệ thống giao thông công cộng

- Các đối tượng tham gia giao thông

 Nội dung quản lý:

- Ban hành các văn bản quy định, an toàn về giao thông đô thị

- Tổ chức bộ máy quản lý giao thông đô thị - quản lý hành chính

- Xây dựng chính sách phát triển giao thông đô thị

- Vận hành hệ thống giao thông đô thị

- Thanh tra, kiểm tra xử lý vi phạm

Nhà nước có vai trò không thể thiếu trong đầu tư xây dựng hệ thống giao thông

đô thị, thông qua việc ban hành chính sách Nhà nước khuyến khích điều phối cácthành phần kinh tế khác cùng tham gia đầu tư như đổi đất lấy hạ tầng…

4 Cơ cấu tổ chức quản lý giao thông đô thị - Thành phố trực thuộc Trung Ương

ở Việt Nam ( Quản lý các công trình giao thông).

UBND Thành Phố

Bộ Giao thông vận tải

Sở giao thông công chính UBND Quận

Doanh nghiệp bảo dưỡng UBND Phường

Trang 6

II SỰ KHÁC BIỆT GIỮA GIAO THÔNG ĐÔ THỊ LỚN VÀ VỪA.

Tiêu chí Giao thông ở đô thị lớn Giao thông ở đô thị vừa

Qũy đất dành cho giao thông lớnhơn

Mức đầu tư Mức đầu tư hàng năm cho

giao thông lớn bởi đô thị lớnđược ưu tiên phát triển

Mức đầu tư nhỏ hơn

- Ở các đô thị này, phương tiệnvận tải hành khách chủ yếu là xemáy, xe ô tô con, xe đạp và đi bộ

Hệ thống giao thông công cộngnhư xe bus ít phát triển hơn

- Phương tiện vận tải hàng hóacũng tương đối phát triển và đadạng như đường bộ có ô tô tảitrọng tải lớn hơn và có thể đượclưu thông trong nội đô, xe máy, xechở hàng…; đường sắt ; đườngthủy, biển tùy vào điều kiện tựnhiên…của các đô thị này Các đôthị này thường không có các sânbay nội địa

-> Các phương tiện tham gia giaothông chủ yếu là xe máy và có cảcác phương tiện thô sơ khác, ít đaCác công trình giao thông

Trang 7

có tàu điện ngầm (metro), tàuđiện trên cao, xe buýt nhanh.

Hà Nội bù lỗ cho giao thôngcông cộng trung bình 60 – 90triệu đồng có năm lên tới 160triệu đồng

- Tốc độ phát triển củaphương tiện cá nhân tăngnhanh hàng năm, đặc biệt tạiHà Nội và TP Hồ Chí Minh(Hà Nội năm 2005 có1.942.975 xe máy, đến hếtnăm 2011 có 3.980.070 xemáy, tăng 205%; xe ô tô connăm 2005 có 108.398 xe, đếnhết năm 2011 có 417.103 xe,tăng 383,8%)

- Sự bùng nổ phương tiện cá

nhân trong khi kết cấu hạ tầnggiao thông chưa theo kịp yêucầu phát triển đã kéo theo cáchậu quả như ùn tắc giao thông,

ô nhiễm môi trường: số xemáy đăng ký chính thức tạikhu vực thủ đô Hà nội hiệntrên 2 triệu và tại Sài Gòn là

hơn 3 triệu Đó là chưa kể đếnlượng xe lưu động, hoặc chưađăng ký, cùng với hàng trămngàn xe ô tô

- Các phương tiện vận tải hànghóa cũng đa dạng và phát triểnnhư bằng đường bộ có ô tôtải, xe máy…tuy nhiên các

dạng và phát triển hơn

Trang 8

loại ô tô này thường có trọngtải nhỏ để phù hợp với độ rộnglàn đường và không được đivào nội đô mà chỉ phục vụchuyên chở hàng hóa các khucông nghiệp ven đô, trong nội

đô chủ yếu vận tải hàng hóabằng xe máy, bằng đường sắt,đường thủy, biển thông qua hệthống cảng biển như HảiPhòng, Đà Nẵng, Cần Thơ,

TP Hồ Chí Minh…, đườnghàng không như sân bay NộiBài ( Hà Nội), Tân Sơn Nhất(Hồ Chí Minh)…

-> Các phương tiện giao thông

đa dạng với số lượng lớn và

rất phát triển

Loại hình

giao thông

Các đô thị này có nhiều loạihình giao thông hơn như giaothông đường bộ, đường sắt,đường thủy, đường hàngkhông Tùy vào điều kiện tựnhiên của các đô thị này mà cónhững loại hình nào và pháttriển loại nào như Hải Phònggiao thông đường thủy pháttriển hơn Hà Nội… Giaothông đường bộ có hệ thốngcầu vượt trên cạn như Hà Nội,

TP Hồ Chí Minh Các đô thịlớn có dân số trên 1.500.000dân như Hà Nội (6 triệu dân),

TP Hồ Chí Minh (8 triệu dân)

Các đô thị này có ít loại hình giaothông hơn hoặc có đủ nhưng khôngphát triển bằng đặc biệt là hầu nhưkhông có giao thông đường hàngkhông

Trang 9

…cần phải xem xét đầu tư hệthống giao thông ngầm, giaothông trên cao để đảm bảo mỹquan, môi trường đô thị,tiếtkiệm không gian Tuy nhiên,

do chi phí đầu tư quá lớn (đầu

tư giao thông trên cao đắt gấp

3 lần giao thông bộ, giaothông ngầm đắt gấp 3 lần giaothông trên cao), công nghệtrong nước chưa có…nên các

đô thị lớn ở nước ta chưa có

hệ thống giao thông trên caovà giao thông ngầm

phát triển rất mạnh

Hệ thống giao thông tĩnh nhưbãi đậu, trạm dừng thì lại vừathiếu, vừa không đạt chuẩn

Và hiện nay đang đầu tư pháttriển hệ thống giao thông tĩnh

Giao thông động phát triển với tốcđộ chậm hơn

Hệ thống giao thông tĩnh thì tươngđối đủ, gần như đáp ứng được sựphát triển của giao thông động

lượng lớn sinh viên tham giaphương tiện giao thông bằng

xe bus như Hà Nội, TP HồChí Minh….và các đối tượngkhác

Lưu lượng tham gia giao

Các đối tượng tham gia giao thôngcũng đa dạng nhưng số lượng íthơn đặc biệt là lượng sinh viên íthơn

Lưu lượng tham gia ít hơn

Trang 10

thông rất lớnTrật tự giao

thông

- Tình trạng tai nạn giao thôngdiễn ra phổ biến chủ yếu ở ven

đô trong nội đô ít hơn

- Hiện tượng ùn tắc giaothông xảy ra thường xuyên tạicác giờ cao điểm: ùn tắc trongthời gian dài ở nhiều tuyếnđường

- Năm 2011, Hà Nội đã có 78điểm, TP HCM có 114 điểm

đô thị này ít xảy ra

có phần phức tạp hơn (nhưviệc thu phí,quản lý phươngtiện…) bởi vậy chức năng,nhiệm vụ của sở giao thôngvận tải có thêm một số côngviệc khác và có những đặc thùTuy nhiên ở các đô thị này cómột số vấn đề trong quản lýnhư:

- Công tác xây dựng chiếnlược, quy hoạch, quản lý quyhoạch, tổ chức quản lý giaothông đô thị còn bất cập

- Ở hầu hết các đô thị hiệnchưa có bộ phận quản lý hữu

Công tác quản lý có phần đơn giảnhơn do do những đặc thù khác biệtnhư ít loại hình giao thông hơn, lưulượng nhỏ hơn…

Chức năng, nhiệm vụ của Sở giaothông vận tải cũng có sự khác biệtvới các Sở này ở các đô thị lớn

Trang 11

hiệu Cách thức tổ chức quản

lý giao thông đô thị chưa tậptrung, thống nhất; năng lực tổchức quản lý còn khá nhiềuvấn đề, đặc biệt chưa theo kịpyêu cầu phát triển của đô thị

Tuy nhiên thì hạ tầng giaothông lại thường có nhiều bấtcập:

- Mạng lưới giao thông phânbố không đều, thiếu đường kếtnối giữa các trục chính

- Diện tích mặt đường chậthẹp Kết cấu cơ sở hạ tầngcầu-đường đã nghèo nàn, lạixuống cấp

- Vận tải hành khách chưa đápứng được nhu cầu và tỷ lệnghịch với sự gia tăng củaphương tiện giao thông cá

nhân

Tốc độ tăng nhanh dân số đôthị sẽ gây áp lực lớn lên nănglực kết cấu hạ tầng hiện tại,bộc lộ sự ùn tắc chủ yếu trongcung cấp dịch vụ của nó

Hạ tầng giao thông không hiện đạibằng tuy nhiên hệ thống giao thốnglại theo kịp với sự phát triển củadân số, kinh tế, hạ tầng giao thông

có ít bất cập hơn ở các đô thị lớn

nó tương đối đầy đủ đáp được nhucầu đi lại của người dân: diện tíchmặt đường rộng, thông thoáng hơn,mạng lưới giao thông phân bốtương đối đều…

Trang 12

Mạng lưới đường phân bố

không đồng đều, mặt cắtngang hẹp, nhiều giao cắt, hầuhết là giao bằng, ít nút khácmức

Không khí tại các đô thị lớntại Việt Nam chủ yếu ô nhiễmbụi, có thời điểm đo tại cácnút giao thông có nhiềuphương tiện lưu thông và côngtrình xây dựng cao gấp 5 - 6lần tiêu chuẩn cho phép Và

Hà Nội đang đứng trong danhsách những thủ đô ô nhiễmkhông khí nhất khu vực ĐôngNam Á và Châu Á

- Trên địa bàn TP Hà Nội cóđến 72% hộ gia đình mắcbệnh do ô nhiễm không khí(liên quan đến hô hấp), trong

đó Q.Hoàng Mai chiếm tỷ lệcao nhất 91,4%, thấp nhất là

Q.Tây Hồ với 55% Chỉ vớinhững số liệu như vậy cũng cóthể thấy ô nhiễm không khí tạiHà Nội đã vượt tầm kiểm soát

Theo số liệu thống kê củaTổng cục Môi trường thì ônhiễm tại Hà Nội đã vượt quy

Ô nhiễm không khí ở các đô thịnày như ô nhiễm bụi, tiếng ồn…thường ở mức thấp hơn vì lưulượng tham gia giao thông ít hơnvà có nhiều phương tiện thô sơtham gia như xe đạp, xe đạp điện,

có hệ thống cây xanh cũng pháttriển…

Trang 13

chuẩn cho phép chủ yếu là

hàm lượng bụi cao hơn 1 - 2lần tiêu chuẩn Đặc biệt, tạicác nút giao thông và côngtrình xây dựng mức độ ônhiễm không khí cao hơn gấp

5 - 6 lần tiêu chuẩn Hà Nộihiện có hơn 4 triệu phươngtiện cá nhân, đó là nguyênnhân của sự thường xuyên tắcđường và ô nhiễm môi trườngkhông khí

Ở Hà Nội, tại nhiều nút giaothông như Kim Liên, GiảiPhóng, Phùng Hưng (Hà

Đông) những khu vực đôngdân cư, nồng độ bụi thườngcao hơn mức cho phép, có lúclên gấp 7 lần Các khí ô nhiễmkhác như CO; SO2 dưới tiêuchuẩn, nhưng đang có xuhướng tăng lên Nguồn ônhiễm từ hoạt động giao thôngchiếm tới 70% tỷ lệ gây ônhiễm ở Hà Nội Các nguồngây ô nhiễm khác là hoạt động

từ làng nghề, khu tái chế, khuvực xây dựng

Trang 14

gia giao

thông

tham gia đa dạng, hệ thốngđèn tín hiệu biển báo nhiềuđòi hỏi người tham gia giaothông phải tuân thủ đúng quyđịnh hết sức chặt chẽ khi thamgia giao thông, am hiểu luật đểđiều chỉnh tay lái trong nhiềutuyến đường hẹp đông ngườiqua lại, nhiều tuyến đườngcấm rẽ trái hay rẽ phải, cấmdừng đỗ, hay đi theo đúng tốcđộ quy định….và người thamgia giao thông cũng cần cóvăn hóa tham gia giao thôngtích cực nhất trong những khixảy ra ùn tắc

cũng ít hơn, mặt đường tương đốirộng…nên người tham gia giaothông cũng cần có những hành vinhư ở cột bên nhưng ở mức đơngiảm hơn Ví dụ ở các đô thị này

có nhiều đường cao tốc chạy quangười tham gia giao thông điềukhiển trên những tuyến đường đóđược đi với tốc độ cao nhưng khiđiều khiển vào các đô thị lớnđường nhỏ hơn, người đông hơn thìcần điều chỉnh tốc độ

2.Ví dụ minh họa

Giao thông đô thị của Hà Nội

Là thành phố thủ đô và có vị trí ở khu vực trung tâm của miền Bắc, bên cạnhcon sông Hồng, giao thông từ Hà Nội đến các tỉnh khác của Việt Nam tương đốithuận tiện, bao gồm cả đường không, đường bộ, đường thủy và đường sắt Giao thôngđường không, ngoài sân bay quốc tế Nội Bài cách trung tâm khoảng 35 km, thành phốcòn có sân bay Gia Lâm ở phía Đông, thuộc quận Long Biên, từng là sân bay chínhcủa Hà Nội những năm 1970, hiện sân bay Gia Lâm chỉ phục vụ cho các chuyến baydịch vụ của trực thăng, gồm cả dịch vụ du lịch Bên cạnh đó là sân bay BạchMai thuộc quận Đống Đa được xây dựng từ năm 1919 và có thời gian đóng vai trònhư một sân bay quân sự Ngoài ra, Hà Nội còn có sân bay quân sự Hòa Lạc tạihuyện Ba Vì, sân bay quân sự Miếu Môn tại huyện Mỹ Đức Hà Nội là đầu mối giaothông của năm tuyến đường sắt trong nước và một tuyến liên vận sang BắcKinh, Trung Quốc, đi nhiều nước châu Âu, một tuyến quốc tế sang Côn Minh, TrungQuốc Các bến xe Phía Nam,Gia Lâm, Lương Yên, Nước Ngầm, Mỹ Đình là nơi các

xe chở khách liên tỉnh tỏa đi khắp đất nước theo các quốc lộ 1A xuyên Bắc –

Trang 15

Nam, quốc lộ 2 đến Hà Giang, quốc lộ 3 đến Cao Bằng; quốc lộ 5 đi Hải Phòng, quốclộ 18 đi Quảng Ninh, quốc lộ 6 và quốc lộ 32 đi các tỉnh Tây Bắc Ngoài ra, Hà Nộicòn có các nhiều tuyến đường cao tốc trên địa bàn như đại lộ Thăng Long, Pháp Vân-Cầu Giẽ, ngoài ra các tuyến cao tốc Hà Nội - Lạng Sơn, Hà Nội - Hải Phòng, Nội Bài-Lào Cai, Hà Nộ i- Thái Nguyên cũng đang trong quá trình xây dựng Về giao thôngđường thủy, Hà Nội cũng là đầu mối giao thông quan trọng với bến Phà Đen đi HưngYên, Nam Định, Thái Bình, Việt Trì và bến Hàm Tử Quan đi Phả Lại.

Hệ thống đường sắt.

Đường sắt Hà Nội là hệ thống giao thông quan trọng trong vận chuyển hànghóa và hành khách, được nối liền với hầu hết với mọi miền ở Việt Nam Hà Nội làmột đầu mút của đường sắt Thống Nhất Bắc Nam dài 1.726 km, nằm trong tổng chiềudài 2.600 km của hệ thống đường sắt Việt Nam, chủ yếu do Pháp xây dựng

Ngoài ra, từ Hà Nội còn có các tuyến đường sắt nối với các tỉnh phía Bắc và đi

ra cảng Hải Phòng

Từ năm 1900 Hà Nội đã có đường sắt nội đô dùng cho tàu điện do Pháp xây dựng.Tồn tại trong 9 thập kỷ đến năm 1991 thì tàu ngừng hoạt động, đường ray đã đượcbóc đi vì phương tiện giao thông này gây tắc đường, một phần do đường ray và phầnvì tốc độ tàu chạy chậm

Cầu ở Hà Nội

Trang 16

Hà Nội hiện có năm cây cầu bắc qua sông Hồng, theo thứ tự lần lượt từ hướng bắcxuống nam:

1. Cầu Thăng Long

2. Cầu Long Biên

3. Cầu Chương Dương

4. Cầu Vĩnh Tuy

5. Cầu Thanh Trì

Và các cây cầu dự kiến xây trong thời gian tới như Cầu Tứ Liên, Cầu Nhật Tân.Ngoài ra trong thành phố có các cầu nhỏ bắc qua các con sông nhỏ nội đô như cầuGiấy, cầu Hòa Mục, cầu Trung Hòa, cầu Cống Mọc, cầu Kim Ngưu và có cả nhữngcây cầu không bắc qua sông nào như cầu Thê Húc

Quản lý

Trang 17

Sở Giao thông Vận tải (trước đây là Sở Giao thông công chính-nay đổi tên) làđầu mối quản lý nhà nước cấp địa phương cho cơ sở hạ tầng giao thông của Hà Nội.

Tiêu cực và tai nạn

Trong nội ô, các con phố của Hà Nội thường xuyên ùn tắc do cơ sở hạ tầng đôthị còn thấp kém, lượng phương tiện tham gia giao thông quá lớn – đặc biệt là xemáy –, và ý thức chưa tốt của các cư dân thành phố Lại thêm khâu xử lý vi phạmgiao thông của cảnh sát giao thông hiện nay chưa nghiêm, việc quản lý nhà nước và tổchức giao thông còn nhiều bất cập, luôn thay đổi tùy tiện Giáo sư Seymour Papert –nhà khoa học máy tính từ Học viện Công nghệ Massachusetts bị tai nạn ở Hà Nội vàocuối năm 2006 – đã miêu tả giao thông của thành phố như một ví dụ minh họa cho giảthuyết về “hành vi hợp trội”, phương thức mà các đám đông, tuân theo các nguyên tắcđơn giản và không cần sự lãnh đạo, tạo ra các vận động và hệ thống phức tạp Trênnhững đường phố Hà Nội, vỉa hè thường bị chiếm dụng khiến người đi bộ phải đixuống lòng đường Trong những năm gần đây, Hà Nội chỉ phát triển thêm 5 tới 10 kmđường mỗi năm Nhiều trục đường của thành phố thiết kế chưa khoa học, không đồngbộ và hệ thống đèn giao thông ở một vài điểm cũng thiếu hợp lý Thêm nữa, hiệntượng ngập úng mỗi khi mưa lớn cũng gây khó khăn cho người tham gia giao thông.Trong thập niên 2000, hệ thống xe buýt – loại hình phương tiện giao thông công cộngduy nhất – của thành phố có phát triển mạnh, nhưng phần đông người dân vẫn sửdụng các phương tiện cá nhân, chủ yếu là xe máy

Quản lý và tổ chức giao thông

Theo quy hoạch giao thông Hà Nội được Thủ tướng chính phủ Nguyễn TấnDũng phê duyệt năm 2008, chi phí cho phần phát triển đường bộ lên tới 100.000

tỷ đồng

Đã có nhiều ý kiến phê phán khâu xử lý vi phạm giao thông của cảnh sát giaothông hiện nay chưa nghiêm, việc quản lý nhà nước và tổ chức giao thông còn nhiềubất cập, luôn thay đổi tùy tiện, tạo bất ngờ và gây khó cho người dân, hiệu quả khôngnhững không cao mà còn rất lãng phí [2][3]

Tai nạn giao thông

Trong 11 tháng đầu năm 2011, trên địa bàn Hà Nội đã xảy ra 533 vụ tai nạngiao thông đường bộ, đường sắt làm 531 người chết và 144 người bị thương Năm

2012 Hà Nội xảy ra 777 vụ tai nạn giao thông, làm 619 chết, 397 người bị thương

Ngày đăng: 02/01/2014, 00:27

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w