bài tiểu luận so sánh giữa giao thông đô thị lớn và vừa. Môn quản lý hạ tầng dịch vụ công và bảo vệ môi trường
Trang 1MỤC LỤC
A LỜI MỞ ĐẦU
B NỘI DUNG
I.Cơ sở lý luận
1.Giải thích một số khái niệm liên quan.
2.Hệ thống đô thị ở Việt Nam.
3.Vai trò của giao thông đô thị.
4.Cơ cấu tổ chức quản lý giao thông đô thị ở Việt Nam.
II Sự khác biệt giữa giao thông đô thị lớn và đô thị vừa.
1.Sự khác biệt.
2.Ví dụ minh họa.
3.Tại sao lại có sự khác biệt giữa giao thông đô thị lớn và vừa.
4.Thực trạng giao thông đô thị ở Việt Nam và một số biện pháp
C KẾT LUẬN
A LỜI MỞ ĐẦU
Giao thông đô thị luôn là vấn đề lớn của mọi thành phố trong hành trình pháttriển, mỗi thành phố có đặc điểm riêng nên cũng đòi hỏi cách quản lý riêng đối vớivấn đề này Giao thông có liên quan mật thiết đến các hoạt động trong đô thị vàngược lại, tất cả các hoạt động trong đô thị đều có ảnh hưởng đến nhu cầu giao thông
Trang 2Giao thông đô thị là tiêu chuẩn vô cùng quan trọng gần như quyết định để đánh giáchất lượng của quy hoạch đô thị
Hệ thống đường phố đô thị có nhiệm vụ bảo vệ các điều kiện cho chất lượngsống của người dân đô thị như chiếu sáng, cảnh quan, vệ sinh,
Hệ thống đường đô thị được ví như hệ thống huyết mạch của cơ thể con người,
có vai trò quan trọng trong quá trình quy hoạch đô thị
Sự tăng trưởng kinh tế, tốc độ đô thị hóa và dân số đô thị tăng nhanh tạo ra sức
ép rất lớn đến cơ sở hạ tầng đô thị nói chung và hạ tầng giao thông vận tải đô thị nóiriêng
Mỗi đô thị đều có những đặc điểm, điều kiện phát triển kinh tế - xã hội khácnhau Do vậy, giữa đô thị lớn và đô thị vừa có những khác biệt về hệ thống giao thôngnhư: số lượng đường, lượng phương tiện, chất lượng đường, mức độ lưu thông, khảnăng mở rộng mạng lưới giao thông, về việc quản lý, điều hành giao thông đô thị, tìnhtrạng ách tắc, số vụ tại nạn, các dự án đầu tư,
I.CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.Giải thích một số khái niệm liên quan
Hệ thống giao thông đô thị là hệ thống quan trọng nhất trong các loại hạ tầng
kỹ thuật đô thị, nó đáp ứng nhu cầu vận tải hành khách và hàng hóa từ nơi này sangnơi khác trong đô thị hoặc vận chuyển hành khách và hàng hóa từ đô thị đi các nơi
Hệ thống giao thông có vai trò quan trọng trong việc hình thành bộ khung cấu trúc đôthị và có vai trò định hướng cho các hệ thống hạ tầng kỹ thuật khác
Hệ thống giao thông bao gồm hai phần chính:
Trang 3+Mạng lưới giao thông: bao gồm mạng lưới đường giao thông trong đô thị, cáctuyến sông rạch cho giao thông thủy, hệ thống nhà ga, cảng hệ thống bãi đậu xe,bến bãi hàng hóa, bến xe.
+Nhu cầu giao thông: đối tượng chính là hành khách hay hàng hóa được vậnchuyển trên các phương tiện giao thông
Hạ tầng đô thị là tập hợp các công trình, thiết bị kỹ thuật phục vụ các hoạt độngsản xuất và đời sống xã hội ở đô thị nhằm thỏa mãn các nhu cầu vật chất và tinh thầncủa cộng đồng dân cư và bảo vệ môi trường sống ở đô thị
Hệ thống công trình hạ tầng kỹ thuật bao gồm hệ thống giao thông, thông tinliên lạc, cung cấp năng lượng, chiếu sáng công cộng, cấp nước, thoát nước, xử lý cácchất thải và các công trình khác Các công trình giao thông theo Luật Doanh nghiệpnhà nước (2003) là: dịch vụ công là dịch vụ thiết yếu đối với đời sống, kinh tế, xã hộicủa đất nước, cộng đồng dân cư của một khu vực lãnh thổ hoặc bảo đảm quốc phòng,
an ninh mà việc sản xuất, cung cấp theo cơ chế thị trường thì khó có khả năng bù đắpchi phí đối với doanh nghiệp sản xuất, cung ứng dịch vụ này, do đó được Nhà nướcđặt hàng, giao kế hoạch, đấu thầu theo giá hoặc phí do Nhà nước quy định
Một số dịch vụ công khác như vận tải công cộng, cấp điện, giáo dục…
2.Hệ thống đô thị Việt Nam
Tại Việt Nam hiện có 6 loại hình đô thị: loại đặc biệt và loại I, loại II đến loại V.Theo Nghị định số 42/2009/NĐ-CP, một đơn vị hành chính để được phân loại là
đô thị thì phải có các tiêu chuẩn cơ bản như sau:
- Có chức năng đô thị
- Quy mô dân số toàn đô thị đạt 4 nghìn người trở lên
- Mật độ dân số phù hợp với quy mô, tính chất và đặc điểm của từng loại đô thị vàđược tính trong phạm vi nội thành, nội thị, riêng đối với thị trấn thì căn cứ theo cáckhu phố xây dựng tập trung
Trang 4- Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp (tính trong phạm vi ranh giới nội thành, nội thị, khuvực xây dựng tập trung) phải đạt tối thiểu 65% so với tổng số lao động.
- Đạt được các yêu cầu về hệ thống công trình hạ tầng đô thị (gồm hạ tầng xã hội vàhạ tầng kỹ thuật)
- Đạt được các yêu cầu về kiến trúc, cảnh quan đô thị
Các đô thị ở Việt Nam
Đô thị loại đặc biệt gồm (2 thành phố): Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh
Đô thị loại I (13 thành phố): Hiện ở Việt Nam có 3 thành phố trực thuộc trung ương là đô thị loại I, gồm: Hải Phòng, Đà Nẵng và Cần Thơ; 10 thành phố trực thuộctỉnh là đô thị loại I, gồm: Huế, Vinh, Đà Lạt, Nha Trang, Quy Nhơn, Buôn MaThuột, Thái Nguyên, Nam Định, Việt Trì và Vũng Tàu
Đô thị loại II (11 thành phố): Hạ Long; Biên Hòa; Vũng Tàu ; HảiDương; Thanh Hóa; Mỹ Tho; Long Xuyên; Pleiku; Phan Thiết; Cà Mau; TuyHòa
Đô thị loại III (47 thành phố, thị xã): Các thành phố còn lại và các thị xã: SơnTây; Cẩm Phả; Thủ Dầu Một; Bà Rịa; Sa Đéc; Cửa Lò ; Sông Công; Tam Điệp.Đến 9/2011 có 37 đô thị loại III
Đô thị loại IV: 42 thị xã còn lại và một vài thị trấn lớn
Đô thị loại V: 640 thị trấn
Đô thị đặc biệt và đô thị loại I được coi là các đô thị lớn, đô thị loại II ,III là đôthị vừa, còn lại là đô thị nhỏ
3.Vai trò của giao thông đô thị.
Hệ thống hạ tầng kỹ thuật đô thị nói chung và hệ thống giao thông đô thị nóiriêng đóng vai trò vô cùng quan trong trong sự tồn tại phát triển đô thị thể hiện tínhvăn minh, hiện đại của các đô thị trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Hệ thống đường đô thị được ví như bộ khung hay hệ thống huyết mạch
của cơ thể con người, có vai trò quan trọng trong quá trình quy hoạch đô thị
Giao thông đô thị là tiêu chuẩn vô cùng quan trọng gần như quyết định để đánh giáchất lượng của quy hoạch đô thị
Trang 5Hệ thống đường phố đô thị có nhiệm vụ đảm bảo các điều kiện cho chất lượngsống của người dân đô thị như chiếu sáng, thông gió, cảnh quan, vệ sinh,….
Đường đô thị còn là nơi bố trí các hệ thống hạ tầng thiết yếu khác như cấpnước, thoát nước, cấp điện, thông tin liên lạc…
Đầu tư xây dựng hệ thống giao thông đô thị là đầu tư cho phát triển và luôn đitrước một bước
Nội dung quản lý Nhà nước về giao thông đô thị
Hệ thống giao thông đô thị gồm:
- Các công trình giao thông: giao thông động , giao thông tĩnh
Đô thị có nhiều loại hình giao thông
- Các phương tiện tham gia giao thông: các phương tiện vận tải hành khách vàvận tải hàng hóa…
Hệ thống giao thông công cộng
- Các đối tượng tham gia giao thông
Nội dung quản lý:
- Ban hành các văn bản quy định, an toàn về giao thông đô thị
- Tổ chức bộ máy quản lý giao thông đô thị - quản lý hành chính
- Xây dựng chính sách phát triển giao thông đô thị
- Vận hành hệ thống giao thông đô thị
- Thanh tra, kiểm tra xử lý vi phạm
Nhà nước có vai trò không thể thiếu trong đầu tư xây dựng hệ thống giao thông
đô thị, thông qua việc ban hành chính sách Nhà nước khuyến khích điều phối cácthành phần kinh tế khác cùng tham gia đầu tư như đổi đất lấy hạ tầng…
4 Cơ cấu tổ chức quản lý giao thông đô thị - Thành phố trực thuộc Trung Ương
ở Việt Nam ( Quản lý các công trình giao thông).
UBND Thành Phố
Bộ Giao thông vận tải
Sở giao thông công chính UBND Quận
Doanh nghiệp bảo dưỡng UBND Phường
Trang 6II SỰ KHÁC BIỆT GIỮA GIAO THÔNG ĐÔ THỊ LỚN VÀ VỪA.
Tiêu chí Giao thông ở đô thị lớn Giao thông ở đô thị vừa
Qũy đất dành cho giao thông lớnhơn
Mức đầu tư Mức đầu tư hàng năm cho
giao thông lớn bởi đô thị lớnđược ưu tiên phát triển
Mức đầu tư nhỏ hơn
- Ở các đô thị này, phương tiệnvận tải hành khách chủ yếu là xemáy, xe ô tô con, xe đạp và đi bộ
Hệ thống giao thông công cộngnhư xe bus ít phát triển hơn
- Phương tiện vận tải hàng hóacũng tương đối phát triển và đadạng như đường bộ có ô tô tảitrọng tải lớn hơn và có thể đượclưu thông trong nội đô, xe máy, xechở hàng…; đường sắt ; đườngthủy, biển tùy vào điều kiện tựnhiên…của các đô thị này Các đôthị này thường không có các sânbay nội địa
-> Các phương tiện tham gia giaothông chủ yếu là xe máy và có cảcác phương tiện thô sơ khác, ít đaCác công trình giao thông
Trang 7có tàu điện ngầm (metro), tàuđiện trên cao, xe buýt nhanh.
Hà Nội bù lỗ cho giao thôngcông cộng trung bình 60 – 90triệu đồng có năm lên tới 160triệu đồng
- Tốc độ phát triển củaphương tiện cá nhân tăngnhanh hàng năm, đặc biệt tạiHà Nội và TP Hồ Chí Minh(Hà Nội năm 2005 có1.942.975 xe máy, đến hếtnăm 2011 có 3.980.070 xemáy, tăng 205%; xe ô tô connăm 2005 có 108.398 xe, đếnhết năm 2011 có 417.103 xe,tăng 383,8%)
- Sự bùng nổ phương tiện cá
nhân trong khi kết cấu hạ tầnggiao thông chưa theo kịp yêucầu phát triển đã kéo theo cáchậu quả như ùn tắc giao thông,
ô nhiễm môi trường: số xemáy đăng ký chính thức tạikhu vực thủ đô Hà nội hiệntrên 2 triệu và tại Sài Gòn là
hơn 3 triệu Đó là chưa kể đếnlượng xe lưu động, hoặc chưađăng ký, cùng với hàng trămngàn xe ô tô
- Các phương tiện vận tải hànghóa cũng đa dạng và phát triểnnhư bằng đường bộ có ô tôtải, xe máy…tuy nhiên các
dạng và phát triển hơn
Trang 8loại ô tô này thường có trọngtải nhỏ để phù hợp với độ rộnglàn đường và không được đivào nội đô mà chỉ phục vụchuyên chở hàng hóa các khucông nghiệp ven đô, trong nội
đô chủ yếu vận tải hàng hóabằng xe máy, bằng đường sắt,đường thủy, biển thông qua hệthống cảng biển như HảiPhòng, Đà Nẵng, Cần Thơ,
TP Hồ Chí Minh…, đườnghàng không như sân bay NộiBài ( Hà Nội), Tân Sơn Nhất(Hồ Chí Minh)…
-> Các phương tiện giao thông
đa dạng với số lượng lớn và
rất phát triển
Loại hình
giao thông
Các đô thị này có nhiều loạihình giao thông hơn như giaothông đường bộ, đường sắt,đường thủy, đường hàngkhông Tùy vào điều kiện tựnhiên của các đô thị này mà cónhững loại hình nào và pháttriển loại nào như Hải Phònggiao thông đường thủy pháttriển hơn Hà Nội… Giaothông đường bộ có hệ thốngcầu vượt trên cạn như Hà Nội,
TP Hồ Chí Minh Các đô thịlớn có dân số trên 1.500.000dân như Hà Nội (6 triệu dân),
TP Hồ Chí Minh (8 triệu dân)
Các đô thị này có ít loại hình giaothông hơn hoặc có đủ nhưng khôngphát triển bằng đặc biệt là hầu nhưkhông có giao thông đường hàngkhông
Trang 9…cần phải xem xét đầu tư hệthống giao thông ngầm, giaothông trên cao để đảm bảo mỹquan, môi trường đô thị,tiếtkiệm không gian Tuy nhiên,
do chi phí đầu tư quá lớn (đầu
tư giao thông trên cao đắt gấp
3 lần giao thông bộ, giaothông ngầm đắt gấp 3 lần giaothông trên cao), công nghệtrong nước chưa có…nên các
đô thị lớn ở nước ta chưa có
hệ thống giao thông trên caovà giao thông ngầm
phát triển rất mạnh
Hệ thống giao thông tĩnh nhưbãi đậu, trạm dừng thì lại vừathiếu, vừa không đạt chuẩn
Và hiện nay đang đầu tư pháttriển hệ thống giao thông tĩnh
Giao thông động phát triển với tốcđộ chậm hơn
Hệ thống giao thông tĩnh thì tươngđối đủ, gần như đáp ứng được sựphát triển của giao thông động
lượng lớn sinh viên tham giaphương tiện giao thông bằng
xe bus như Hà Nội, TP HồChí Minh….và các đối tượngkhác
Lưu lượng tham gia giao
Các đối tượng tham gia giao thôngcũng đa dạng nhưng số lượng íthơn đặc biệt là lượng sinh viên íthơn
Lưu lượng tham gia ít hơn
Trang 10thông rất lớnTrật tự giao
thông
- Tình trạng tai nạn giao thôngdiễn ra phổ biến chủ yếu ở ven
đô trong nội đô ít hơn
- Hiện tượng ùn tắc giaothông xảy ra thường xuyên tạicác giờ cao điểm: ùn tắc trongthời gian dài ở nhiều tuyếnđường
- Năm 2011, Hà Nội đã có 78điểm, TP HCM có 114 điểm
đô thị này ít xảy ra
có phần phức tạp hơn (nhưviệc thu phí,quản lý phươngtiện…) bởi vậy chức năng,nhiệm vụ của sở giao thôngvận tải có thêm một số côngviệc khác và có những đặc thùTuy nhiên ở các đô thị này cómột số vấn đề trong quản lýnhư:
- Công tác xây dựng chiếnlược, quy hoạch, quản lý quyhoạch, tổ chức quản lý giaothông đô thị còn bất cập
- Ở hầu hết các đô thị hiệnchưa có bộ phận quản lý hữu
Công tác quản lý có phần đơn giảnhơn do do những đặc thù khác biệtnhư ít loại hình giao thông hơn, lưulượng nhỏ hơn…
Chức năng, nhiệm vụ của Sở giaothông vận tải cũng có sự khác biệtvới các Sở này ở các đô thị lớn
Trang 11hiệu Cách thức tổ chức quản
lý giao thông đô thị chưa tậptrung, thống nhất; năng lực tổchức quản lý còn khá nhiềuvấn đề, đặc biệt chưa theo kịpyêu cầu phát triển của đô thị
Tuy nhiên thì hạ tầng giaothông lại thường có nhiều bấtcập:
- Mạng lưới giao thông phânbố không đều, thiếu đường kếtnối giữa các trục chính
- Diện tích mặt đường chậthẹp Kết cấu cơ sở hạ tầngcầu-đường đã nghèo nàn, lạixuống cấp
- Vận tải hành khách chưa đápứng được nhu cầu và tỷ lệnghịch với sự gia tăng củaphương tiện giao thông cá
nhân
Tốc độ tăng nhanh dân số đôthị sẽ gây áp lực lớn lên nănglực kết cấu hạ tầng hiện tại,bộc lộ sự ùn tắc chủ yếu trongcung cấp dịch vụ của nó
Hạ tầng giao thông không hiện đạibằng tuy nhiên hệ thống giao thốnglại theo kịp với sự phát triển củadân số, kinh tế, hạ tầng giao thông
có ít bất cập hơn ở các đô thị lớn
nó tương đối đầy đủ đáp được nhucầu đi lại của người dân: diện tíchmặt đường rộng, thông thoáng hơn,mạng lưới giao thông phân bốtương đối đều…
Trang 12Mạng lưới đường phân bố
không đồng đều, mặt cắtngang hẹp, nhiều giao cắt, hầuhết là giao bằng, ít nút khácmức
Không khí tại các đô thị lớntại Việt Nam chủ yếu ô nhiễmbụi, có thời điểm đo tại cácnút giao thông có nhiềuphương tiện lưu thông và côngtrình xây dựng cao gấp 5 - 6lần tiêu chuẩn cho phép Và
Hà Nội đang đứng trong danhsách những thủ đô ô nhiễmkhông khí nhất khu vực ĐôngNam Á và Châu Á
- Trên địa bàn TP Hà Nội cóđến 72% hộ gia đình mắcbệnh do ô nhiễm không khí(liên quan đến hô hấp), trong
đó Q.Hoàng Mai chiếm tỷ lệcao nhất 91,4%, thấp nhất là
Q.Tây Hồ với 55% Chỉ vớinhững số liệu như vậy cũng cóthể thấy ô nhiễm không khí tạiHà Nội đã vượt tầm kiểm soát
Theo số liệu thống kê củaTổng cục Môi trường thì ônhiễm tại Hà Nội đã vượt quy
Ô nhiễm không khí ở các đô thịnày như ô nhiễm bụi, tiếng ồn…thường ở mức thấp hơn vì lưulượng tham gia giao thông ít hơnvà có nhiều phương tiện thô sơtham gia như xe đạp, xe đạp điện,
có hệ thống cây xanh cũng pháttriển…
Trang 13chuẩn cho phép chủ yếu là
hàm lượng bụi cao hơn 1 - 2lần tiêu chuẩn Đặc biệt, tạicác nút giao thông và côngtrình xây dựng mức độ ônhiễm không khí cao hơn gấp
5 - 6 lần tiêu chuẩn Hà Nộihiện có hơn 4 triệu phươngtiện cá nhân, đó là nguyênnhân của sự thường xuyên tắcđường và ô nhiễm môi trườngkhông khí
Ở Hà Nội, tại nhiều nút giaothông như Kim Liên, GiảiPhóng, Phùng Hưng (Hà
Đông) những khu vực đôngdân cư, nồng độ bụi thườngcao hơn mức cho phép, có lúclên gấp 7 lần Các khí ô nhiễmkhác như CO; SO2 dưới tiêuchuẩn, nhưng đang có xuhướng tăng lên Nguồn ônhiễm từ hoạt động giao thôngchiếm tới 70% tỷ lệ gây ônhiễm ở Hà Nội Các nguồngây ô nhiễm khác là hoạt động
từ làng nghề, khu tái chế, khuvực xây dựng
Trang 14gia giao
thông
tham gia đa dạng, hệ thốngđèn tín hiệu biển báo nhiềuđòi hỏi người tham gia giaothông phải tuân thủ đúng quyđịnh hết sức chặt chẽ khi thamgia giao thông, am hiểu luật đểđiều chỉnh tay lái trong nhiềutuyến đường hẹp đông ngườiqua lại, nhiều tuyến đườngcấm rẽ trái hay rẽ phải, cấmdừng đỗ, hay đi theo đúng tốcđộ quy định….và người thamgia giao thông cũng cần cóvăn hóa tham gia giao thôngtích cực nhất trong những khixảy ra ùn tắc
cũng ít hơn, mặt đường tương đốirộng…nên người tham gia giaothông cũng cần có những hành vinhư ở cột bên nhưng ở mức đơngiảm hơn Ví dụ ở các đô thị này
có nhiều đường cao tốc chạy quangười tham gia giao thông điềukhiển trên những tuyến đường đóđược đi với tốc độ cao nhưng khiđiều khiển vào các đô thị lớnđường nhỏ hơn, người đông hơn thìcần điều chỉnh tốc độ
2.Ví dụ minh họa
Giao thông đô thị của Hà Nội
Là thành phố thủ đô và có vị trí ở khu vực trung tâm của miền Bắc, bên cạnhcon sông Hồng, giao thông từ Hà Nội đến các tỉnh khác của Việt Nam tương đốithuận tiện, bao gồm cả đường không, đường bộ, đường thủy và đường sắt Giao thôngđường không, ngoài sân bay quốc tế Nội Bài cách trung tâm khoảng 35 km, thành phốcòn có sân bay Gia Lâm ở phía Đông, thuộc quận Long Biên, từng là sân bay chínhcủa Hà Nội những năm 1970, hiện sân bay Gia Lâm chỉ phục vụ cho các chuyến baydịch vụ của trực thăng, gồm cả dịch vụ du lịch Bên cạnh đó là sân bay BạchMai thuộc quận Đống Đa được xây dựng từ năm 1919 và có thời gian đóng vai trònhư một sân bay quân sự Ngoài ra, Hà Nội còn có sân bay quân sự Hòa Lạc tạihuyện Ba Vì, sân bay quân sự Miếu Môn tại huyện Mỹ Đức Hà Nội là đầu mối giaothông của năm tuyến đường sắt trong nước và một tuyến liên vận sang BắcKinh, Trung Quốc, đi nhiều nước châu Âu, một tuyến quốc tế sang Côn Minh, TrungQuốc Các bến xe Phía Nam,Gia Lâm, Lương Yên, Nước Ngầm, Mỹ Đình là nơi các
xe chở khách liên tỉnh tỏa đi khắp đất nước theo các quốc lộ 1A xuyên Bắc –
Trang 15Nam, quốc lộ 2 đến Hà Giang, quốc lộ 3 đến Cao Bằng; quốc lộ 5 đi Hải Phòng, quốclộ 18 đi Quảng Ninh, quốc lộ 6 và quốc lộ 32 đi các tỉnh Tây Bắc Ngoài ra, Hà Nộicòn có các nhiều tuyến đường cao tốc trên địa bàn như đại lộ Thăng Long, Pháp Vân-Cầu Giẽ, ngoài ra các tuyến cao tốc Hà Nội - Lạng Sơn, Hà Nội - Hải Phòng, Nội Bài-Lào Cai, Hà Nộ i- Thái Nguyên cũng đang trong quá trình xây dựng Về giao thôngđường thủy, Hà Nội cũng là đầu mối giao thông quan trọng với bến Phà Đen đi HưngYên, Nam Định, Thái Bình, Việt Trì và bến Hàm Tử Quan đi Phả Lại.
Hệ thống đường sắt.
Đường sắt Hà Nội là hệ thống giao thông quan trọng trong vận chuyển hànghóa và hành khách, được nối liền với hầu hết với mọi miền ở Việt Nam Hà Nội làmột đầu mút của đường sắt Thống Nhất Bắc Nam dài 1.726 km, nằm trong tổng chiềudài 2.600 km của hệ thống đường sắt Việt Nam, chủ yếu do Pháp xây dựng
Ngoài ra, từ Hà Nội còn có các tuyến đường sắt nối với các tỉnh phía Bắc và đi
ra cảng Hải Phòng
Từ năm 1900 Hà Nội đã có đường sắt nội đô dùng cho tàu điện do Pháp xây dựng.Tồn tại trong 9 thập kỷ đến năm 1991 thì tàu ngừng hoạt động, đường ray đã đượcbóc đi vì phương tiện giao thông này gây tắc đường, một phần do đường ray và phầnvì tốc độ tàu chạy chậm
Cầu ở Hà Nội
Trang 16Hà Nội hiện có năm cây cầu bắc qua sông Hồng, theo thứ tự lần lượt từ hướng bắcxuống nam:
1. Cầu Thăng Long
2. Cầu Long Biên
3. Cầu Chương Dương
4. Cầu Vĩnh Tuy
5. Cầu Thanh Trì
Và các cây cầu dự kiến xây trong thời gian tới như Cầu Tứ Liên, Cầu Nhật Tân.Ngoài ra trong thành phố có các cầu nhỏ bắc qua các con sông nhỏ nội đô như cầuGiấy, cầu Hòa Mục, cầu Trung Hòa, cầu Cống Mọc, cầu Kim Ngưu và có cả nhữngcây cầu không bắc qua sông nào như cầu Thê Húc
Quản lý
Trang 17Sở Giao thông Vận tải (trước đây là Sở Giao thông công chính-nay đổi tên) làđầu mối quản lý nhà nước cấp địa phương cho cơ sở hạ tầng giao thông của Hà Nội.
Tiêu cực và tai nạn
Trong nội ô, các con phố của Hà Nội thường xuyên ùn tắc do cơ sở hạ tầng đôthị còn thấp kém, lượng phương tiện tham gia giao thông quá lớn – đặc biệt là xemáy –, và ý thức chưa tốt của các cư dân thành phố Lại thêm khâu xử lý vi phạmgiao thông của cảnh sát giao thông hiện nay chưa nghiêm, việc quản lý nhà nước và tổchức giao thông còn nhiều bất cập, luôn thay đổi tùy tiện Giáo sư Seymour Papert –nhà khoa học máy tính từ Học viện Công nghệ Massachusetts bị tai nạn ở Hà Nội vàocuối năm 2006 – đã miêu tả giao thông của thành phố như một ví dụ minh họa cho giảthuyết về “hành vi hợp trội”, phương thức mà các đám đông, tuân theo các nguyên tắcđơn giản và không cần sự lãnh đạo, tạo ra các vận động và hệ thống phức tạp Trênnhững đường phố Hà Nội, vỉa hè thường bị chiếm dụng khiến người đi bộ phải đixuống lòng đường Trong những năm gần đây, Hà Nội chỉ phát triển thêm 5 tới 10 kmđường mỗi năm Nhiều trục đường của thành phố thiết kế chưa khoa học, không đồngbộ và hệ thống đèn giao thông ở một vài điểm cũng thiếu hợp lý Thêm nữa, hiệntượng ngập úng mỗi khi mưa lớn cũng gây khó khăn cho người tham gia giao thông.Trong thập niên 2000, hệ thống xe buýt – loại hình phương tiện giao thông công cộngduy nhất – của thành phố có phát triển mạnh, nhưng phần đông người dân vẫn sửdụng các phương tiện cá nhân, chủ yếu là xe máy
Quản lý và tổ chức giao thông
Theo quy hoạch giao thông Hà Nội được Thủ tướng chính phủ Nguyễn TấnDũng phê duyệt năm 2008, chi phí cho phần phát triển đường bộ lên tới 100.000
tỷ đồng
Đã có nhiều ý kiến phê phán khâu xử lý vi phạm giao thông của cảnh sát giaothông hiện nay chưa nghiêm, việc quản lý nhà nước và tổ chức giao thông còn nhiềubất cập, luôn thay đổi tùy tiện, tạo bất ngờ và gây khó cho người dân, hiệu quả khôngnhững không cao mà còn rất lãng phí [2][3]
Tai nạn giao thông
Trong 11 tháng đầu năm 2011, trên địa bàn Hà Nội đã xảy ra 533 vụ tai nạngiao thông đường bộ, đường sắt làm 531 người chết và 144 người bị thương Năm
2012 Hà Nội xảy ra 777 vụ tai nạn giao thông, làm 619 chết, 397 người bị thương