BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠOĐẠI HỌC HUẾTRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌCNGUYỄN HOÀNG PHƯỚC TUYÊNVẤN ĐỀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA DÂN TỘC CƠTU Ở TỈNH QUẢNG NAM HIỆN NAYTÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌCCHUYÊN NGÀNH: TRIẾT HỌCMÃ NGÀNH: 60.22.80 NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS- TS. ĐOÀN ĐỨC HIẾU Huế, 2010 MỞ ĐẦU1. Tính cấp thiết của đề tài Văn hóa là nền tảng sinh hoạt tinh thần của con người trong xã hội, phản ánh trình độ phát triển của mỗi cộng đồng, mỗi dân tộc. Đất nước ta đang trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, với xu thế hội nhập và quốc tế hóa ngày càng cao. Bên cạnh những thay đổi, chuyển biến về mặt kinh tế nói chung, xã hội đã đặt ra cho lĩnh vực văn hóa nhiều vấn đề mới. Đặc biệt là những vấn đề nảy sinh do sự thay đổi của cơ cấu kinh tế, kết cấu xã hội và sự biến đổi của cơ chế quản lý. Bên cạnh đó còn có những vấn đề văn hóa nảy sinh từ quá trình đô thị hóa gắn liền với tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Mặt khác, trình độ dân trí được nâng cao cũng làm cho nhu cầu hưởng thụ văn hóa gia tăng về quy mô và chất lượng. Sự chuyển tiếp thế hệ còn đặt ra vấn đề bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống sao cho đảm bảo được sự phát triển bền vững của đất nước.Về nguyên tắc, muốn xây dựng được một nền văn hóa tiên tiến, có hệ giá trị đa dạng và ngày càng phong phú thì mỗi dân tộc vừa phải tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của mình, vừa phải sử dụng những thành quả kinh tế, chính trị, giáo dục và đặc biệt là những thành quả của khoa học- công nghệ hiện đại cho việc đẩy mạnh sáng tạo các giá trị văn hóa mới. Bởi vì chỉ có một nền văn hóa tiên tiến mang bản sắc dân tộc, mới đảm bảo cho một quốc gia có sự phát triển bền vững.Lịch sử văn hóa dân tộc Cơtu là một bộ phận, góp phần làm phong phú thêm kho tàng văn hóa Việt Nam. Với số dân đứng thứ hai sau người Kinh ở Quảng Nam, cộng đồng dân tộc Cơtu có từ lâu đời với đời sống tâm linh phong phú đã hình thành nền văn hóa chứa đựng những giá trị nhân văn sâu sắc. Song những giá trị truyền thống của dân tộc này có nguy cơ mai một do chịu sự tác động bởi những mặt trái của nền kinh tế thị trường, những hạn chế của việc thực hiện chính sách định cư, quy hoạch phát triển kinh tế… Vì vậy, việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc Cơtu là nhiệm vụ cấp thiết nhằm góp phần giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc trong giai đoạn hiện nay.Trên cơ sở lý luận chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và được chỉ đạo bởi đường lối văn hóa của Đảng Cộng sản Việt Nam, việc phát huy giá trị văn hóa dân tộc Cơtu đang là một trong những vấn đề thu hút sự quan tâm của tổ chức Đảng, chính quyền và nhân dân Quảng Nam. Với nhận thức bước đầu như trên, chúng tôi chọn “Vấn đề phát huy giá trị văn hóa dân tộc Cơtu ở tỉnh Quảng Nam hiện nay” làm đề tài luận văn của mình.2. Tình hình nghiên cứu đề tàiCùng với việc tham gia Thập kỷ quốc tế về văn hóa trong phát triển (1987-1996) và chủ trương bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa do UNESCO (Tổ chức văn hóa thế giới) phát động, Đảng ta xác định: “văn hóa là nền tảng tinh thần xã hội, văn hóa vừa là mục tiêu, vừa là động lực phát triển kinh tế- xã hội”. Trên cơ sở chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan niệm mới về văn hóa của phương Tây mà điểm cốt lõi là đề cao nhân tố văn hóa trong phát triển, phát huy những giá trị văn hóa, coi trọng việc bảo vệ bản sắc dân tộc, đã có nhiều công trình nghiên cứu về văn hóa; trong số đó, có những công trình tiêu biểu sau đây: Trong cuốn sách Quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin về văn hóa do Phạm Duy Đức chủ biên (Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, năm 2008), các tác giả đã bàn luận quan điểm của các nhà triết học mácxít về xây dựng nền văn hóa xã hội chủ nghĩa và một số lĩnh vực cơ bản như văn hóa chính trị, vấn đề xây dựng con người, đạo đức, lối sống, tín ngưỡng…Trong cuốn Giá trị truyền thống trước những thách thức của toàn cầu hóa (Nxb Chính trị Quốc gia, Hà nội, năm 2002), các tác giả Nguyễn Trọng Chuẩn và Nguyễn Văn Huyên đã phân tích về thực chất của toàn cầu hoá nhìn từ góc độ triết học, giá trị học, quan hệ của toàn cầu hoá với việc giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, những giải pháp và dự báo về vị trí, vai trò, khả năng của giá trị truyền thống trong sự phát triển nền văn hoá nước ta hiện nay.Tác giả Nguyễn Huy Hoàng trong cuốn Mấy vấn đề triết học văn hóa (Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội, năm 2002), đã xem xét văn hóa trong sự phát triển của tri thức triết học từ góc độ lịch sử đến góc độ phương pháp luận để trên cơ sở đó suy ngẫm về một số vấn đề cấp bách đối với thực tiễn cuộc sống và văn hóa hôm nay.Tác giả Nguyễn Khoa Điềm trong cuốn Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc (Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, năm 2001), đã tiếp cận những yếu tố cấu thành nền văn hóa, những tiền đề lý luận và thực tiễn hoạt động văn hóa do Đảng ta lãnh đạo để nêu những nét chính về tính tiên tiến của nền văn hóa mà nhân dân ta đang xây dựng, về bản sắc văn hóa dân tộc, qua đó đề xuất một số biện pháp cơ bản và kiến nghị để xây dựng, phát triển văn hóa.Trong cuốn Cơ sở triết học của văn hóa nghệ thuật Việt Nam do Đỗ Huy chủ biên (Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội, năm 2002), các tác giả đề cập đến những khía cạnh phương pháp luận cơ bản của chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh liên quan mật thiết đến nền tảng tư tưởng và tư duy triết học của sự phát triển văn hóa nghệ thuật nói chung, sự phát triển của các mô thức văn hóa nghệ thuật Việt Nam nói riêng.Nghiên cứu về văn hóa dân tộc Cơtu, cũng có nhiều công trình với nhiều tác phẩm, dẫn liệu mà chủ yếu là điều tra, truy tìm và giới thiệu những giá trị văn hóa ở dạng vật thể, phi vật thể; trong đó tiêu biểu, gồm có:Trong cuốn sách đầu tiên ở Việt Nam viết về văn hóa dân tộc Cơtu là Tìm hiểu văn hóa Katu (Nxb Thuận Hóa, năm 2002), tác giả Tạ Đức đã nêu những vấn đề và cách lý giải những khía cạnh đời sống văn hóa của dân tộc Katu (cách gọi tộc danh của tác giả), qua đó người đọc có thể tiếp cận những giá trị và các tập tục lạc hậu của người Cơtu ở Quảng Nam.Trong cuốn Nhà Gươl của người Cơtu (Nxb Văn hóa Dân tộc, Hà Nội, năm 2006), tác giả Đinh Hồng Hải bằng việc mô tả kiến trúc Gươl và các lễ hội văn hóa của người Cơtu, đã chỉ ra những khía cạnh đời sống tinh thần của người Cơtu ở Quảng Nam.Tác giả Lưu Hùng trong cuốn Góp phần tìm hiểu văn hóa Cơtu (Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, năm 2006), đã giới thiệu những nét chính của văn hóa dân tộc Cơtu, những giá trị tín ngưỡng và tập tục lạc hậu diễn ra trong đời sống của người Cơtu ở Quảng Nam.Viết về chính bản thân mình cùng với những nét đặc trưng của dân tộc mình, tác giả Bh’riu Liếc trong cuốn Văn hóa người Cơtu (Nxb Đà Nẵng, năm 2009), đã trình bày một cách sinh động về tộc danh, phạm vi cư trú, tính cách con người cùng với những phong tục, tập quán và các lễ hội cổ truyền của người Cơtu ở Quảng Nam.Trong công trình nghiên cứu của tác giả Nguyễn Hữu Thông, cuốn Katu- kẻ sống đầu nguồn nước (Nxb Thuận Hóa, năm 2005), đã lý giải về nguồn gốc hình thành tộc người, phạm vi cư trú và tộc danh của người Cơtu, đồng thời tác giả cũng nêu một số phong tục, tập quán, lễ hội của dân tộc này.Cuốn tư liệu Người Cơtu ở Việt Nam (Nxb Thông tấn, Hà Nội, năm 2009) của Trần Tấn Vịnh đã ghi lại bằng hình ảnh, miêu tả văn hóa người Cơtu ở Quảng Nam trong cuộc sống hằng ngày và các sinh hoạt lễ hội.Có thể khẳng định, cho đến nay chưa có công trình nào xuất bản và công bố mà trùng với hướng tiếp cận và nội dung đề tài “Vấn đề phát huy giá trị văn hóa dân tộc Cơtu ở tỉnh Quảng Nam hiện nay”. Điểm mới của đề tài ở chỗ, vận dụng quan điểm chủ nghĩa Mác- Lênin về văn hóa vào việc tiếp cận giá trị văn hóa dân tộc Cơtu ở Quảng Nam và nêu giải pháp phát huy giá trị đó trong giai đoạn hiện nay.3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tàiMục đích của đề tài Từ quan điểm triết học Mác- Lênin về văn hóa và vai trò của văn hóa, làm rõ những giá trị và đề xuất các giải pháp nhằm phát huy giá trị văn hóa dân tộc Cơtu ở tỉnh Quảng Nam hiện nay.Nhiệm vụ của đề tài Phân tích quan điểm triết học Mác- Lênin về khái niệm, bản chất, cấu trúc, chức năng và giá trị của văn hóa.Phân tích những giá trị văn hóa dân tộc Cơtu ở Quảng Nam và đề xuất giải pháp phát huy những giá trị đó trong giai đoạn hiện nay.4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của đề tàiCơ sở lý luận của đề tài là quan điểm triết học Mác- Lênin về văn hóa và vai trò của văn hóa.Phương pháp nghiên cứu của đề tài là kết hợp vận dụng những nguyên tắc của phép biện chứng duy vật với các phương pháp như thống nhất giữa logic và lịch sử, phân tích và tổng hợp, trừu tượng hóa và khái quát hóa, so sánh, điều tra xã hội học để trình bày nội dung.5. Phạm vi nghiên cứu của đề tàiKhảo sát đời sống văn hóa dân tộc Cơtu ở tỉnh Quảng Nam hiện nay, thông qua một số tư liệu, tài liệu nghiên cứu về vấn đề trên.6. Đóng góp của luận vănLuận văn góp phần làm rõ những giá trị văn hóa của dân tộc Cơtu ở tỉnh Quảng Nam và đề xuất giải pháp phát huy những giá trị đó trong giai đoạn xã hội hiện nay.Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho nghiên cứu thuộc lĩnh vực khoa học xã hội- nhân văn, nhất là những nghiên cứu về văn hóa, góp phần tích cực cho việc tìm kiếm các giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống ở Quảng Nam. 7. Kết cấu của luận vănNgoài Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn có 2 chương (5 tiết).Chương 1QUAN ĐIỂM CỦA TRIẾT HỌC MÁC- LÊNIN VỀ VĂN HÓA1.1. Khái niệm và bản chất của văn hóa 1.1.1. Khái niệm văn hóa Con người đã sáng tạo ra “giới tự nhiên thứ hai” bằng lao động, hoạt động thực tiễn của mình. Ngay từ buổi bình minh của nhân loại, con người đã thực hành văn hóa trong đời sống. Khái niệm văn hóa thời cổ đại ở Trung Quốc được hiểu là sự biến cải, biến đổi, bồi đắp cho đẹp ra. Còn trong xã hội Phương Tây khái niệm văn hóa dùng để nói đến lĩnh vực của hiện thực, lĩnh vực hoạt động của con người như một chủ thể tự do và sáng tạo. C. Mác và Ph. Ăng- ghen xem văn hóa là một dạng hoạt động người và những thành tố văn hóa thuộc về ý thức xã hội, bị quy định bởi tồn tại xã hội. Lênin cho rằng, văn hóa là kết quả sáng tạo của tất cả các hoạt động của con người. Các nhà mácxít cũng xem văn hóa là nền tảng sâu xa quy định sự phát triển của đời sống xã hội.Có thể tiếp cận văn hóa từ hai phương diện: phương diện hoạt động và phương diện giá trị. Theo quan điểm triết học Mác- Lênin, văn hóa là những giá trị vật chất và tinh thần của con người, biểu thị trình độ phát triển lịch sử nhất định của một xã hội, thể hiện sự sáng tạo của con người trong quá trình hoạt động thực tiễn và được đúc kết thành hệ giá trị và chuẩn mực xã hội làm nên bản sắc của một dân tộc, một cộng đồng xã hội mà nó có khả năng chi phối toàn bộ đời sống tâm lý và hoạt động của con người trong cộng đồng ấy. 1.1.2. Bản chất của văn hóaHoạt động của con người đã sản xuất ra đời sống vật chất và tinh thần của mình, làm nên những giá trị, chuẩn mực trong xã hội. Bản chất của văn hóa là hoạt động sáng tạo ra những giá trị. Biểu hiện: Văn hóa là sản phẩm của con người, phản ánh năng lực sáng tạo của con người; biểu hiện thái độ, hành vi của con người trước hiện thực. Văn hóa là phương thức hoạt động và định hướng hoạt động của con người.1.2. Cấu trúc, chức năng của văn hóa1.2.1. Cấu trúc của văn hóa Xét về hình thức tồn tại, văn hóa gồm văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể. Về phương diện giá trị, văn hóa được biểu hiện dưới dạng văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần. Văn hóa tinh thần có cấu trúc gồm tri thức khoa học, tín ngưỡng, tôn giáo, giá trị đạo đức, yếu tố văn hóa truyền thống, giá trị văn hóa thẩm mỹ, lối sống, pháp luật, luật tục…1.2.2. Chức năng của văn hóaVăn hóa có nhiều chức năng: nhận thức, cải tạo tự nhiên và xã hội; giáo dục; thẩm mỹ; điều tiết quan hệ xã hội; dự báo...Chức năng nhận thức, cải tạo tự nhiên và xã hội giúp con người nhận thức và hành động theo đúng quy luật của tự nhiên. Chức năng giáo dục là chức năng bao trùm và quan trọng nhất của văn hóa, qua đó văn hóa định hướng nhân cách và hành động thực tiễn. Chức năng thẩm mỹ có tầm quan trọng đặc biệt, thúc đẩy con người vươn đến giá trị chân- thiện mỹ.1.3. Giá trị văn hóa và việc phát huy giá trị văn hóa 1.3.1. Giá trị văn hóaGiá trị là một phạm trù triết học, chỉ những thành quả lao động sáng tạo, là ý nghĩa của những hiện tượng vật chất hay tinh thần có khả năng thỏa mãn nhu cầu tích cực của con người và nhu cầu phát triển xã hội, chứa đựng yếu tố nhận thức, tình cảm và hành vi của chủ thể trong mối quan hệ với sự vật, hiện tượng. Giá trị văn hóa là cái hình thành trong quá trình vận động của các cá nhân, nhóm và cộng đồng xã hội vươn tới thỏa mãn nhu cầu của mình theo chiều hướng tích cực, thể hiện thái độ, trách nhiệm và những quy tắc ứng xử của mỗi người trong quan hệ của bản thân với gia đình, xã hội và thiên nhiên được cộng đồng thừa nhận, duy trì, bảo vệ và phát triển. Giá trị văn hóa mang tính lịch sử khách quan, tính phổ biến và có thể biến đổi theo trình độ phát triển của nhận thức và chuẩn mực xã hội. Các giá trị văn hóa biểu hiện trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.Giá trị văn hóa của mỗi dân tộc như là cái phổ biến trong phạm vi mỗi cộng đồng dân tộc và là cái đặc trưng trong phạm vi xã hội đa cộng đồng. 1.3.2. Phát huy giá trị văn hóaPhát huy giá trị văn hóa là hoạt động thực tiễn trên lĩnh vực văn hóa, góp phần thúc đẩy tiến bộ xã hội.Phát huy giá trị văn hóa là hoạt động có tính kế thừa, để bảo tồn những giá trị và phát triển chúng trong điều kiện lịch sử mới. Hoạt động này cần đặt văn hóa trong trong mối quan hệ với yếu tố đối lập, nhận diện mặt phản văn hóa, mặt đối lập với giá trị để dần dần loại bỏ chúng khỏi tiến trình phát triển.Phát huy giá trị văn hóa phải đồng thời phát huy về mặt tư tưởng và phải đặt văn hóa trong mối quan hệ với kinh tế. Kết luận chương 1 Văn hóa xét về mặt tinh thần là một trong những hình thái ý thức xã hội, phản ánh trình độ phát triển của lịch sử nhất định của một xã hội hay cộng đồng dân cư. Lịch sử của văn hóa gắn liền với lịch sử tồn tại và phát triển của xã hội loài người. Với tư cách là sản phẩm sáng tạo của con người trong thực tiễn xã hội lịch sử của họ, văn hóa có khả năng chi phối toàn bộ đời sống tâm lý, lối sống và phương thức hoạt động của con người trong xã hội. Với những chức năng giáo dục, thẩm mỹ, nhận thức và cải tạo hiện thực bằng thực tiễn, văn hóa thúc đẩy sự tiến bộ xã hội, tác động tích cực đến sự phát triển và hoàn thiện bản chất con người. Ngày nay, trong xu thế đổi mới và hội nhập, văn hóa luôn được xem là động lực của sự phát triển, trong đó những giá trị văn hóa truyền thống là nhân tố đảm bảo cho tính bền vững. Vì vậy, việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống là đòi hỏi có tính nguyên tắc của sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước ta hiện nay. Nhận thức tầm quan trọng của nhân tố văn hóa trong đời sống xã hội, việc nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân là vấn đề cần quan tâm hàng đầu của mỗi dân tộc ở mỗi địa phương. Để tạo sự thống nhất trong tính đa dạng về bản sắc văn hóa, cần chú trọng đến việc phát huy giá trị văn hóa của mỗi dân tộc. Phát huy, trước hết phải bảo tồn, giữ gìn những giá trị và trên cơ sở đó kế thừa và phát triển lên tầm cao hơn.Chương 2VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM CỦA TRIẾT HỌC MÁC- LÊNIN VỀ VĂN HÓA VÀO VIỆC PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA DÂN TỘC CƠTU Ở TỈNH QUẢNG NAM HIỆN NAY2.1. Những giá trị văn hóa dân tộc Cơtu ở Quảng Nam2.1.1. Điều kiện tự nhiên và lịch sử của dân tộc CơtuMiền núi Quảng Nam chiếm 81,27% diện tích tự nhiên toàn tỉnh, với 6 huyện vùng cao, 03 huyện miền núi, là địa bàn chiến lược quan trọng về chính trị, kinh tế, quốc phòng. Số dân trên 410.000 người, trong đó gần 56 ngàn người dân tộc Cơtu (xếp thứ 26 trong danh mục thành phần dân tộc Việt Nam) sinh sống bằng kinh tế nương rẫy là chủ yếu.Đặc điểm tự nhiên của vùng đất người Cơtu sinh sống nằm trong khu vực tương đối thống nhất của điều kiện tự nhiên nối liền các tỉnh Quảng Trị, Quảng Bình, Thừa Thiên- Huế với Tây Nguyên. Theo nhiều cứ liệu điều tra, dân tộc Cơtu là cư dân có mặt tại bán đảo Đông Dương từ lâu đời, là chủ thể của vùng núi Quảng Nam với phân nhánh ngữ hệ “Cơtu- ít” của ngữ hệ Môn Khơmer.2.1.2. Những nội dung cơ bản của văn hóa dân tộc Cơtu từ góc nhìn triết học2.1.2.1. Văn hóa vật thểVề phạm vi, cách thức cư trú của người CơtuNgười Cơtu có tập quán tụ cư thành từng làng (Vêêl) trên đất bằng phẳng gần nguồn nước với khoảng vài chục nóc nhà sàn, đứng kề nhau quanh nhà cộng đồng. Cách bố trí làng thể hiện đặc điểm cổ truyền với mục đích phòng thủ, chống lại mọi vũ lực đe dọa từ bên ngoài, đồng thời thể hiện tính cố kết, tính tương trợ rất cao giữa các thành viên trong cùng một cộng đồng. Kiến trúc nhà ở, nhà sinh hoạt cộng đồngNhà ở cũng như nhà sinh hoạt cộng đồng (Gươl) có kiến trúc nhà sàn mái hình mu rùa. Gươl được dựng ở chính giữa làng hoặc cùng chiều với nhà ở của các thành viên. Gươl ở vị trí giữa làng, cột ở chính giữa gươl với nhiều mô- típ trang trí. Kiến trúc này thể hiện nhận thức của người Cơtu về vai trò của yếu tố trung tâm. Gươl với chức năng về xã hội, văn hoá và tín ngưỡng như là trái tim của làng.Mỗi làng Cơtu đều có máng nước, hàng rào, cổng làng và có khu vực nghĩa địa.Về trang phụcNgười Cơtu thường mặc váy với chất liệu thổ cẩm có trang trí nhiều hoa văn được thêu dệt rất công phu.Trang sức của người Cơtu rất phong phú với những tục búi tóc, cà răng, xâu tai, xâu khắc ở vùng mặt, vùng ngực, cổ chân, cổ tay bằng nhiều hình tượng khác nhau.Về ẩm thựcẨm thực của người Cơtu thể hiện sự thích ứng của con người với điều kiện, hoàn cảnh sống. Lương thực, thực phẩm chủ yếu là sản lợi từ rẫy, rừng với cách bày biên chủ yếu hướng đến tính tiện dụng. Tính cộng đồng cũng thể hiện rất rõ trong ăn uống của người Cơtu. Từ khía cạnh văn hóa vật thể của dân tộc Cơtu, nổi bật lên là mô hình cư trú của cộng đồng mà điểm nhấn cho giá trị văn hóa này là nhà làng (gươl). Gươl là công trình kiến trúc văn hóa đặc sắc, biểu hiện giá trị về mặt nghệ thuật (điêu khắc, trang trí), chứa đựng những yếu tố tâm linh và chuyển tải những quan niệm của đồng bào Cơtu trong việc nhận thức thế giới. Trang phục, trang sức của người Cơtu cũng nói lên quan niệm thẩm mỹ và sự thích nghi của con người trước sự khắc nghiệt của thiên nhiên. 2.1.2.2. Văn hóa phi vật thểQuan niệm về thế giới, thần linhThế giới trong quan niệm của người Cơtu bao gồm Trời, Đất và con người. Người Cơtu đặc biệt coi trọng Trời, Đất, họ cho rằng đó là nơi sinh ra con người.Người Cơtu tôn thờ rất nhiều vị thần như thần tốt, thần chết, thần ác, trong đó vị trí hàng đầu là thần chết.Quan niệm về thế giới, thần linh trong đời sống văn hóa tinh thần của người Cơtu chứa đựng nhiều mâu thuẫn, đan xen giữa yếu tố duy vật và duy tâm, đan xen giữa kinh nghiệm và mê tín, ma thuật. Quan niệm về con ngườiCon người là một bộ phận của giới tự nhiên, dựa vào tự nhiên để sống, tuy nhiên vai trò của con người có phần nhỏ bé trước vũ trụ bao la. Người Cơtu tin rằng, mỗi con người có phần xác và phần hồn. Từ quan niệm hồn xấu của người chết là lực lượng gây ra chết chóc đối với họ, nên người Cơtu có cái nhìn bi quan, yếm thế về cuộc sống.Lễ hộiLễ hội của người Cơtu cũng rất đa dạng và phong phú. Song xét về tính mục đích có thể phân thành ba hình thức chính: Lễ hội mừng thắng lợi, lễ hội liên quan đến ngoại giao với các làng khác và tế lễ.Tế lễ là hình thức sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng phong phú nhất. Trong tế lễ, người Cơtu biểu đạt niềm tin rằng con người có thể giao hòa với đất trời, giao hòa với thế giới thần linh.Văn học- nghệ thuậtKho tàng văn học của người Cơtu lưu truyền lại cho đời sau chủ yếu bằng con đường truyền miệng nên gìn được những nét tinh túy nhất với những thể loại như truyện cổ, trường ca, thần thoại, truyền thuyết, ca dao- tục ngữ- dân ca, nghệ thuật cồng chiêng và các nhạc cụ dân tộc, múa dân gian Cơtu… Điêu khắc, họa tiết trang trí của người Cơtu phản ánh nhận thức của họ về thế giới tự nhiên và thể hiện ước mơ của họ về cuộc sống, thông qua những hình tượng đầu trâu hoặc tượng thần tốt hình người trên nhà làng hay nhà mồ. Văn học- nghệ thuật biểu hiện cách thức dung hòa tạo sự cân bằng tâm lý, dung hòa giữa tính khắc nghiệt của tự nhiên và vị trí nhỏ bé của con người, là cách thức giải quyết mâu thuẫn trong đời sống. Văn học- nghệ thuật của người Cơtu phản ánh tâm tư, tình cảm, hoài bảo của họ trước hiện thực cuộc sống.2.1.2.3. Nhận xét những đặc trưng của văn hóa dân tộc CơtuVăn hóa dân tộc Cơtu chứa đựng giá trị nhân văn, nhân đạo. Trong nếp sống hằng ngày, người Cơtu bộc lộ tinh thần tương thân, tương trợ trong phạm vi làng và tuân thủ luật tục của làng, tinh thần đoàn kết trong cộng đồng và với các cộng đồng dân tộc khác.Văn hóa dân tộc Cơtu mang tính triết lý sâu sắc. Những phong tục, tập quán, lối sống, những sinh hoạt tinh thần, sáng tạo nghệ thuật… của họ thể hiện nhận thức về thế giới và quan niệm sống. Văn hóa dân tộc Cơtu thể hiện phong phú về đời sống tâm linh. Thể hiện qua việc cúng tế, cầu nguyện trong các lễ hội, quan niệm sống và sinh hoạt hằng ngàyTừ các khía cạnh văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần của dân tộc Cơtu ta thấy môi trường sinh hoạt làng, phạm vi cư trú chính là không gian văn hóa của dân tộc Cơtu, những sinh hoạt hằng ngày, hoạt động giao tiếp, ứng xử của người Cơtu cũng chính là hành vi đạo đức. Kể cả trong sinh hoạt tinh thần, những tác phẩm nghệ thuật toát lên tình yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống và những ước vọng, hoài bảo rất nhân bản.2.2. Những giải pháp chủ yếu nhằm phát huy giá trị văn hóa dân tộc Cơtu ở tỉnh Quảng Nam trong giai đoạn hiện nay2.2.1. Các giải pháp về kinh tếVới tư cách là nhân tố thúc đẩy sự phát triển đời sống tinh thần của xã hội, văn hóa được đặt trong mối quan hệ biện chứng với chính trị, kinh tế, xã hội. Trước những thuận lợi và khó khăn ở miền núi Quảng Nam, để phát huy những giá trị văn hóa dân tộc Cơtu thì phải thực hiện giải pháp về phát triển kinh tế như sau:Thứ nhất, đầu tư hoàn thiện dần cơ sở hạ tầng kinh tế: điện- đường- trường- trạm cho từng xã vùng cao.Thứ hai, quy hoạch tái định cư cho dân để đảm bảo an cư và tạo điều kiện thuận lợi trong hoạt động sản xuất nông- lâm nghiệp, đảm bảo lương thực tại chỗ cho miền núi. Bên cạnh đó, Nhà nước cần hỗ trợ vốn ban đầu để người dân đầu tư mở rộng các mô hình kinh tế nông nghiệp, lâm nghiệp, kinh tế trang trại và tiểu thủ công nghiệp.Thứ ba, trực tiếp hướng dẫn kỹ thuật, hỗ trợ dịch vụ nông nghiệp và đầu tư giống cây trồng, con vật nuôi đến từng hộ dân. Mở rộng mô hình trồng cây hoa màu trên nương rẫy, mở rộng diện tích lúa nước, chú trọng phát huy thế mạnh cây công nghiệp và lâm sinh. Thứ tư, lập kế hoạch giao đất, giao rừng cho dân, đồng thời tăng cường công tác quản lý bảo vệ rừng, bảo vệ tài nguyên khoáng sản.Thứ năm, từ lợi thế thủy điện và lòng hồ, xây dựng mô hình du lịch sinh thái, du lịch văn hóa để phát triển kinh tế du lịch, thúc đẩy phát triển thương mại và các ngành nghề thủ công ở địa phương.Thứ sáu, đầu tư, mở rộng các tụ điểm mua bán, trao đổi hàng hóa, mở rộng kinh tế cửa khẩu để kích thích thương nghiệp phát triển ở từng xã vùng cao. 2.2.2. Các giải pháp về chính trị- tư tưởng Giải pháp về chính trị là một những giải pháp quan trọng nằm trong hệ cơ cấu kinh tế- chính trị- văn hóa của một xã hội. Do đặc thù của vùng miền núi, vùng biên giới Việt- Lào và tiếp giáp với “điểm nóng” Tây Nguyên, cần chú trọng một số giải pháp sau:Thứ nhất, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động, giáo dục về chính trị tư tưởng, giúp đồng bào nâng cao nhận thức, tin tưởng vào đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách- pháp luật của Nhà nước.Thứ hai, giải quyết hài hòa vấn đề dân tộc, tôn giáo. 2.2.3. Các giải pháp về văn hóa, giáo dụcGiải pháp này đề ra những cách thức trực tiếp, cụ thể chú trọng vào vấn đề bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa dân tộc Cơtu trên cơ sở nhận thức điểm mạnh và khó khăn trong công tác văn hóa ở địa phương. Thứ nhất, chú trọng khôi phục không gian sinh hoạt văn hóa làng.Thứ hai, khôi phục và phát triển ngành nghề truyền thống. Thứ ba, đẩy mạnh phát triển y tế, giáo dục là giải pháp hết sức quan trọng trong điều kiện hiện nay ở vùng cao. Thứ tư, quy hoạch và tạo nguồn nhân lực tại chỗ. Thứ năm, vận động xóa bỏ những hủ tục trong cưới xin, tang ma là giải pháp cụ thể và trực tiếp đối trong việc xóa bỏ những phong tục, tập quán lạc hậu trong đời sống người Cơtu.Kết luận chương 2.Dân tộc Cơtu là một dân tộc ít người sinh sống ở miền núi Quảng Nam. Tuy điều kiện kinh tế còn khó khăn nhưng tộc người này có nền văn hóa truyền thống với những giá trị đặc sắc. Nền văn hóa dân tộc Cơtu thể hiện sinh động những nét đẹp đời thường, trong phong tục, tập quán và những tri thức có giá trị tích cực về cuộc sống. Những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc này thể hiện trong các di sản văn hóa, trong hành vi và cách thức sinh hoạt hằng ngày của mỗi cá nhân, trong đời sống tâm tinh, trong triết lý sống, đặc biệt là những giá trị nói lên tinh thần đoàn kết, tinh thần nhân văn, nhân đạo sâu sắc.Để bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa dân tộc Cơtu hiện nay cần kết hợp các giải pháp về kinh tế, chính trị và văn hóa. Phát triển kinh tế miền núi trước hết phải xóa đói giảm nghèo, đây là nhiệm vụ quan trọng nhằm góp phần xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế, tạo điều kiện thực hiện chiến lược phát triển văn hóa. Giải pháp về chính trị tư tưởng có vai trò quan trọng trong việc nâng cao ý thức chính trị, nâng cao nhận thức của người dân trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội... từ đó xây dựng ý thức dân tộc và cộng đồng trong việc giữ gìn bản sắc văn hóa. Giải pháp về văn hóa với tính chất là giải pháp trực tiếp chú trọng vào nhiệm vụ bảo tồn giá trị, phát huy bản sắc của văn hóa trong giai đoạn hiện nay.KẾT LUẬNVăn hóa ra đời, tồn tại và phát triển gắn liền với sự phát triển của xã hội loài người với xu thế bổ sung những giá trị mới, ngày càng đầy đủ và sâu sắc. Trong lich sử xã hội, các nhà triết học có những cách nhìn nhận khác nhau về văn hóa, góp phần bổ sung tri thức cho nhận thức của nhân loại.Chủ nghĩa Mác đã nghiên cứu vấn đề văn hóa bắt đầu từ sự phân tích mối quan hệ biện chứng giữa con người và xã hội, tồn tại xã hội và ý thức xã hội. Theo đó, văn hóa được xem là một dạng hoạt động người và những thành tố văn hóa thuộc chủ yếu vào ý thức xã hội và bị quy định bởi tồn tại xã hội. Trên phương diện hoạt động, văn hóa biểu hiện phương thức tồn tại của con người với đầy đủ bản chất của mình thông qua các hoạt động sống (nhận thức, thực tiễn, giao tiếp...). Do vậy, văn hóa hiện diện trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội như kinh tế, chính trị- xã hội và ý thức xã hội. Trên phương diện giá trị, văn hóa được xem là sản phẩm của hoạt động con người, những thành tựu sáng tạo bởi con người trong sự khác biệt với tự nhiên.Văn hóa là khái niệm có nội hàm rất rộng, liên quan đến toàn bộ đời sống vật chất và cả đời sống tinh thần của xã hội. Trên cơ sở lập trường mácxít, có thể hiểu văn hóa là hệ thống những giá trị vật chất và tinh thần của con người, biểu thị trình độ phát triển lịch sử nhất định của một xã hội, thể hiện sự sáng tạo của con người trong quá trình hoạt động thực tiễn và được đúc kết thành hệ giá trị và chuẩn mực xã hội làm nên bản sắc của một dân tộc, một cộng đồng xã hội mà nó có khả năng chi phối toàn bộ đời sống tâm lý và hoạt động của con người trong cộng đồng ấy. Khi nói đến những thành tựu văn hóa hay những giá trị của văn hóa, người ta chia văn hóa thành hai lĩnh vực: văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần. Khi xét đến hình thức tồn tại, người ta chia văn hóa thành văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể. Giữa hai mặt này luôn tác động biện chứng với nhau trong hoạt động sống của con người. Về mặt cấu trúc, văn hóa gồm những yếu tố như tri thức- tư tưởng, tín ngưỡng, giá trị đạo đức, giá trị thẩm mỹ, lối sống, luật tục... của con ngườiPhát huy giá trị văn hóa là lĩnh vực hoạt động có tính thực tiễn nhằm giữ gìn và nâng cao những giá trị truyền thống của văn hóa dân tộc. Phát huy là quá trình trong đó chú trọng đến yếu tố bảo tồn, giữ gìn và kế thừa giá trị, tạo điều kiện cho giá trị văn hóa phát triển trong điều kiện mới.Trên cơ sở quan điểm triết học Mác- Lênin về văn hóa, nhận thấy rằng việc bảo tồn và phát huy những giá trị, bản sắc văn hóa của từng dân tộc là vấn đề có ý nghĩa, góp phần tạo sự “thống nhất trong đa dạng” của văn hóa. Nhiệm vụ này phải được thực hiện ở mỗi một dân tộc, bắt đầu từ việc bảo tồn những nét đặc sắc của văn hóa dân tộc đó.Ở Quảng Nam, dân tộc Cơtu là dân tộc thiểu số cư trú ở khu vực miền núi phía Tây Bắc của tỉnh. Những yếu văn hóa của dân tộc này đến nay vẫn được lưu giữ gần như nguyên vẹn. Đó là kiến trúc nhà làng (gươl), những lễ hội truyền thống, trang phục cổ truyền, không gian văn hóa làng, những phong tục đặc sắc và trong nếp sống, sinh hoạt hằng ngày, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng cao. Văn hóa dân tộc Cơtu biểu hiện sinh động tín ngưỡng và nhận thức của con người đối với tự nhiên; trong nhận thức và hành động của người Cơtu chứa đựng tinh thần nhân văn, nhân đạo và triết lý sâu sắc về cuộc sống.Việc bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa dân tộc Cơtu hiện nay cần một hệ thống giải pháp kết hợp trên nhiều phương diện về kinh tế, chính trị và văn hóa. Đây là những giải pháp chủ yếu có ý nghĩa quyết định trong việc bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa dân tộc Cơtu ở Quảng Nam.Trong xu hướng toàn cầu hóa hiện nay, việc xây dựng nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc phải chú trọng đến những giá trị chung của các dân tộc. Đồng thời, phải phát huy được tính đa dạng từ việc kế thừa bản sắc của mỗi dân tộc trong công đồng dân tộc Việt, từ đó mới tạo nên được một nền văn hóa thống nhất trong tính đa dạng về bản sắc của các dân tộc.
Trang 1NGUYỄN HOÀNG PHƯỚC TUYÊN
VẤN ĐỀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA DÂN TỘC CƠTU Ở TỈNH QUẢNG NAM HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌCCHUYÊN NGÀNH: TRIẾT HỌC
MÃ NGÀNH: 60.22.80
Người hướng dẫn khoa học:
PGS- TS ĐOÀN ĐỨC HIẾU
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu khoa học của tôi, do PGS TS Đoàn Đức Hiếu - Chủ nhiệm Khoa Lý luận chính trị, Trường Đại học Sư phạm kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh, hướng dẫn.
Tất cả tài liệu, số liệu trích dẫn trong luận văn này hoàn toàn trung thực
Trang 4Tôi xin đ ượ c bày t lòng bi t n đ n ỏ ế ơ ế
tr c ti p h ự ế ướ ng d n, ch b o t n tình, đ ng ẫ ỉ ả ậ ộ
viên và khích l tôi trong su t quá trình ệ ố
th c hi n lu n v n này ự ệ ậ ă
trong su t th i gian h c t p ố ờ ọ ậ
th c hi n đ tài này ự ệ ề
H c viên ọ
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài .6
2 Tình hình nghiên cứu đề tài 7
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 11
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài 11
5 Phạm vi nghiên cứu của đề tài 11
6 Đóng góp của luận văn 12
Trang 57 Kết cấu của luận văn 12
Chương 1: QUAN ĐIỂM CỦA TRIẾT HỌC MÁC- LÊNIN VỀ VĂN HÓA 1.1 Khái niệm và bản chất của văn hóa 13
1.1.1 Khái niệm văn hóa 13
1.1.2 Bản chất của văn hóa 23
1.2 Cấu trúc, chức năng của văn hóa 25
1.2.1 Cấu trúc của văn hóa 25
1.2.2 Chức năng của văn hóa 32
1.3 Giá trị văn hóa và việc phát huy giá trị văn hóa 35
1.3.1 Giá trị văn hóa 35
1.3.2 Phát huy giá trị văn hóa 38
Chương 2: VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM CỦA TRIẾT HỌC MÁC- LÊNIN VỀ VĂN HÓA VÀO VIỆC PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA DÂN TỘC CƠTU Ở TỈNH QUẢNG NAM HIỆN NAY 2.1 Những giá trị văn hóa dân tộc Cơtu ở Quảng Nam 43
2.1.1 Điều kiện tự nhiên và lịch sử của dân tộc Cơtu 43
2.1.2 Những nội dung cơ bản của văn hóa dân tộc Cơtu từ góc nhìn triết học 48
2.1.2.1 Văn hóa vật thể 48
2.1.2.2 Văn hóa phi vật thể 57
2.1.2.3 Nhận xét những đặc trưng của văn hóa dân tộc Cơtu 69
2.2 Những giải pháp chủ yếu nhằm phát huy giá trị văn hóa dân tộc Cơtu ở tỉnh Quảng Nam trong giai đoạn hiện nay 74
2.2.1 Các giải pháp về kinh tế 74
2.2.2 Các giải pháp về chính trị- tư tưởng 79
2.2.3 Các giải pháp về văn hóa, giáo dục 87
KẾT LUẬN 87 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Văn hóa là nền tảng sinh hoạt tinh thần của con người trong xã hội, phản ánh trình độ phát triển của mỗi cộng đồng, mỗi dân tộc Đất nước ta đang trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, với xu thế hội nhập và quốc
tế hóa ngày càng cao Bên cạnh những thay đổi, chuyển biến về mặt kinh tế
Trang 6nói chung, xã hội đã đặt ra cho lĩnh vực văn hóa nhiều vấn đề mới Đặc biệt lànhững vấn đề nảy sinh do sự thay đổi của cơ cấu kinh tế, kết cấu xã hội và sựbiến đổi của cơ chế quản lý Bên cạnh đó còn có những vấn đề văn hóa nảysinh từ quá trình đô thị hóa gắn liền với tiến trình công nghiệp hóa, hiện đạihóa Mặt khác, trình độ dân trí được nâng cao cũng làm cho nhu cầu hưởngthụ văn hóa gia tăng về quy mô và chất lượng Sự chuyển tiếp thế hệ còn đặt
ra vấn đề bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống sao cho đảm bảođược sự phát triển bền vững của đất nước
Về nguyên tắc, muốn xây dựng được một nền văn hóa tiên tiến, có hệgiá trị đa dạng và ngày càng phong phú thì mỗi dân tộc vừa phải tiếp thu tinhhoa văn hóa nhân loại, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thốngcủa mình, vừa phải sử dụng những thành quả kinh tế, chính trị, giáo dục vàđặc biệt là những thành quả của khoa học- công nghệ hiện đại cho việc đẩymạnh sáng tạo các giá trị văn hóa mới Bởi vì chỉ có một nền văn hóa tiên tiếnmang bản sắc dân tộc, mới đảm bảo cho một quốc gia có sự phát triển bềnvững
Lịch sử văn hóa dân tộc Cơtu là một bộ phận, góp phần làm phong phúthêm kho tàng văn hóa Việt Nam Với số dân đứng thứ hai sau người Kinh ởQuảng Nam, cộng đồng dân tộc Cơtu có từ lâu đời với đời sống tâm linhphong phú đã hình thành nền văn hóa chứa đựng những giá trị nhân văn sâusắc Song những giá trị truyền thống của dân tộc này có nguy cơ mai một dochịu sự tác động bởi những mặt trái của nền kinh tế thị trường, những hạn chếcủa việc thực hiện chính sách định cư, quy hoạch phát triển kinh tế… Vì vậy,việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc Cơtu là nhiệm vụ cấp thiếtnhằm góp phần giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc trong giai đoạn hiện nay
Trên cơ sở lý luận chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vàđược chỉ đạo bởi đường lối văn hóa của Đảng Cộng sản Việt Nam, việc phát
Trang 7huy giá trị văn hóa dân tộc Cơtu đang là một trong những vấn đề thu hút sựquan tâm của tổ chức Đảng, chính quyền và nhân dân Quảng Nam Với nhận
thức bước đầu như trên, chúng tôi chọn “Vấn đề phát huy giá trị văn hóa dân tộc Cơtu ở tỉnh Quảng Nam hiện nay” làm đề tài luận văn của mình.
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Cùng với việc tham gia Thập kỷ quốc tế về văn hóa trong phát triển
(1987-1996) và chủ trương bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa do UNESCO (Tổchức văn hóa thế giới) phát động, Đảng ta xác định: “văn hóa là nền tảng tinhthần xã hội, văn hóa vừa là mục tiêu, vừa là động lực phát triển kinh tế- xãhội” Trên cơ sở chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quanniệm mới về văn hóa của phương Tây mà điểm cốt lõi là đề cao nhân tố vănhóa trong phát triển, phát huy những giá trị văn hóa, coi trọng việc bảo vệ bảnsắc dân tộc, đã có nhiều công trình nghiên cứu về văn hóa; trong số đó, cónhững công trình tiêu biểu sau đây:
Trong cuốn sách Quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin về văn hóa do
Phạm Duy Đức chủ biên (Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, năm 2008), các tácgiả đã bàn luận quan điểm của các nhà triết học mácxít về xây dựng nền vănhóa xã hội chủ nghĩa và một số lĩnh vực cơ bản như văn hóa chính trị, vấn đềxây dựng con người, đạo đức, lối sống, tín ngưỡng…
Trong cuốn Giá trị truyền thống trước những thách thức của toàn cầu hóa (Nxb Chính trị Quốc gia, Hà nội, năm 2002), các tác giả Nguyễn Trọng
Chuẩn và Nguyễn Văn Huyên đã phân tích về thực chất của toàn cầu hoá nhìn
từ góc độ triết học, giá trị học, quan hệ của toàn cầu hoá với việc giữ gìn vàphát huy các giá trị văn hóa truyền thống, những giải pháp và dự báo về vị trí,vai trò, khả năng của giá trị truyền thống trong sự phát triển nền văn hoá nước
ta hiện nay
Trang 8Tác giả Nguyễn Huy Hoàng trong cuốn Mấy vấn đề triết học văn hóa
(Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội, năm 2002), đã xem xét văn hóa trong sựphát triển của tri thức triết học từ góc độ lịch sử đến góc độ phương pháp luận
để trên cơ sở đó suy ngẫm về một số vấn đề cấp bách đối với thực tiễn cuộcsống và văn hóa hôm nay
Tác giả Nguyễn Khoa Điềm trong cuốn Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc (Nxb Chính trị Quốc gia, Hà
Nội, năm 2001), đã tiếp cận những yếu tố cấu thành nền văn hóa, những tiền
đề lý luận và thực tiễn hoạt động văn hóa do Đảng ta lãnh đạo để nêu nhữngnét chính về tính tiên tiến của nền văn hóa mà nhân dân ta đang xây dựng, vềbản sắc văn hóa dân tộc, qua đó đề xuất một số biện pháp cơ bản và kiến nghị
để xây dựng, phát triển văn hóa
Trong cuốn Cơ sở triết học của văn hóa nghệ thuật Việt Nam do Đỗ
Huy chủ biên (Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội, năm 2002), các tác giả đề cậpđến những khía cạnh phương pháp luận cơ bản của chủ nghĩa Mác- Lênin, tưtưởng Hồ Chí Minh liên quan mật thiết đến nền tảng tư tưởng và tư duy triếthọc của sự phát triển văn hóa nghệ thuật nói chung, sự phát triển của các môthức văn hóa nghệ thuật Việt Nam nói riêng
Nghiên cứu về văn hóa dân tộc Cơtu, cũng có nhiều công trình vớinhiều tác phẩm, dẫn liệu mà chủ yếu là điều tra, truy tìm và giới thiệu nhữnggiá trị văn hóa ở dạng vật thể, phi vật thể; trong đó tiêu biểu, gồm có:
Trong cuốn sách đầu tiên ở Việt Nam viết về văn hóa dân tộc Cơtu là
Tìm hiểu văn hóa Katu (Nxb Thuận Hóa, năm 2002), tác giả Tạ Đức đã nêu
những vấn đề và cách lý giải những khía cạnh đời sống văn hóa của dân tộcKatu (cách gọi tộc danh của tác giả), qua đó người đọc có thể tiếp cận nhữnggiá trị và các tập tục lạc hậu của người Cơtu ở Quảng Nam
Trang 9Trong cuốn Nhà Gươl của người Cơtu (Nxb Văn hóa Dân tộc, Hà Nội,
năm 2006), tác giả Đinh Hồng Hải bằng việc mô tả kiến trúc Gươl và các lễhội văn hóa của người Cơtu, đã chỉ ra những khía cạnh đời sống tinh thần củangười Cơtu ở Quảng Nam
Tác giả Lưu Hùng trong cuốn Góp phần tìm hiểu văn hóa Cơtu (Nxb
Khoa học xã hội, Hà Nội, năm 2006), đã giới thiệu những nét chính của vănhóa dân tộc Cơtu, những giá trị tín ngưỡng và tập tục lạc hậu diễn ra trong đờisống của người Cơtu ở Quảng Nam
Viết về chính bản thân mình cùng với những nét đặc trưng của dân tộc
mình, tác giả Bh’riu Liếc trong cuốn Văn hóa người Cơtu (Nxb Đà Nẵng, năm
2009), đã trình bày một cách sinh động về tộc danh, phạm vi cư trú, tính cáchcon người cùng với những phong tục, tập quán và các lễ hội cổ truyền củangười Cơtu ở Quảng Nam
Trong công trình nghiên cứu của tác giả Nguyễn Hữu Thông, cuốn
Katu- kẻ sống đầu nguồn nước (Nxb Thuận Hóa, năm 2005), đã lý giải về
nguồn gốc hình thành tộc người, phạm vi cư trú và tộc danh của người Cơtu,đồng thời tác giả cũng nêu một số phong tục, tập quán, lễ hội của dân tộc này
Cuốn tư liệu Người Cơtu ở Việt Nam (Nxb Thông tấn, Hà Nội, năm 2009) của Trần Tấn Vịnh đã ghi lại bằng hình ảnh, miêu tả văn hóa người
Cơtu ở Quảng Nam trong cuộc sống hằng ngày và các sinh hoạt lễ hội
Có thể khẳng định, cho đến nay chưa có công trình nào xuất bản vàcông bố mà trùng với hướng tiếp cận và nội dung đề tài “Vấn đề phát huy giátrị văn hóa dân tộc Cơtu ở tỉnh Quảng Nam hiện nay” Điểm mới của đề tài ởchỗ, vận dụng quan điểm chủ nghĩa Mác- Lênin về văn hóa vào việc tiếp cậngiá trị văn hóa dân tộc Cơtu ở Quảng Nam và nêu giải pháp phát huy giá trị
đó trong giai đoạn hiện nay
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Trang 10Mục đích của đề tài
Từ quan điểm triết học Mác- Lênin về văn hóa và vai trò của văn hóa,làm rõ những giá trị và đề xuất các giải pháp nhằm phát huy giá trị văn hóadân tộc Cơtu ở tỉnh Quảng Nam hiện nay
Nhiệm vụ của đề tài
Phân tích quan điểm triết học Mác- Lênin về khái niệm, bản chất, cấutrúc, chức năng và giá trị của văn hóa
Phân tích những giá trị văn hóa dân tộc Cơtu ở Quảng Nam và đề xuấtgiải pháp phát huy những giá trị đó trong giai đoạn hiện nay
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài
Cơ sở lý luận của đề tài là quan điểm triết học Mác- Lênin về văn hóa
và vai trò của văn hóa
Phương pháp nghiên cứu của đề tài là kết hợp vận dụng những nguyên
tắc của phép biện chứng duy vật với các phương pháp như thống nhất giữalogic và lịch sử, phân tích và tổng hợp, trừu tượng hóa và khái quát hóa, sosánh, điều tra xã hội học để trình bày nội dung
5 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Khảo sát đời sống văn hóa dân tộc Cơtu ở tỉnh Quảng Nam hiện nay,thông qua một số tư liệu, tài liệu nghiên cứu về vấn đề trên
6 Đóng góp của luận văn
Luận văn góp phần làm rõ những giá trị văn hóa của dân tộc Cơtu ởtỉnh Quảng Nam và đề xuất giải pháp phát huy những giá trị đó trong giaiđoạn xã hội hiện nay
Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho nghiên cứu thuộc lĩnh vựckhoa học xã hội- nhân văn, nhất là những nghiên cứu về văn hóa, góp phầntích cực cho việc tìm kiếm các giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị văn hóatruyền thống ở Quảng Nam
7 Kết cấu của luận văn
Trang 11Ngoài Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn có
Trang 12Trong lịch sử triết học, bất kỳ một hệ thống hay một trường phái nàocũng lý giải về vấn đề liên quan đến tồn tại người, đó là vấn đề bản chất, vaitrò của con người trong thế giới Với tư cách là thực thể tinh túy nhất của tựnhiên, con người quay lại chinh phục và cải tạo tự nhiên với mục đích phục
vụ cho chính mình Trong quá trình thực hiện mục tiêu đó, con người đã họctập giới tự nhiên, làm phong phú thêm tri thức và đồng thời sáng tạo ra “giới
tự nhiên thứ hai” bằng lao động, hoạt động thực tiễn của mình Qua đó, những
ý tưởng, tinh thần và cả những hành động về sau cũng đúc kết lại thành nhữnggiá trị tương đối bền vững Nó biểu hiện cái hay, cái đẹp, cái cao cả, cái ưuviệt mà được gọi là văn hóa Do vậy, văn hóa ra đời, tồn tại và phát triển gắnliền với sự phát triển của xã hội loài người với xu thế ngày càng bổ sungnhững giá trị mới, phù hợp với chuẩn giá trị của một thời đại nhất định
Ngay từ buổi bình minh của nhân loại, con người bước đầu chinh phục
tự nhiên bằng chính sức mạnh trực tiếp của chính mình Phương thức sản xuấtsăn bắt, hái ượm đã gắn kết con người thành cộng đồng, sinh hoạt theo bầyđàn và chưa có ranh giới nào cách biệt trong đời sống, sinh hoạt của họ Đểđảm bảo sự sinh tồn, con người bằng nhiều cách đã tác động, chinh phục vàbắt tự nhiên phục vụ cho mình Sức mạnh cá thể được tập hợp, sinh hoạt phảitương đồng và nhu cầu giao tiếp nẩy sinh Mặc dù trình độ vật chất và sinhhoạt tinh thần còn thấp kém, nhưng vẫn chứa đựng những chân giá trị Conngười đã biết giao tiếp, tương trợ lẫn nhau trong tiến trình tìm kiếm sự sinhtồn và chống chọi với thách thức của thiên nhiên Bên cạnh đó, con người đãbiết sử dụng lực lượng tự nhiên để chinh phục tự nhiên, biết chế tạo công cụ
mà ban đầu rất thô sơ để đáp ứng nhu cầu vật chất và tinh thần của con người
Đó là bước đầu con người đã thực hành văn hóa trong đời sống
Do vậy, ngay từ buổi bình minh của nhân loại, dù chưa có ngôn ngữ vàchữ viết, tri thức về thế giới còn rất sơ khai nhưng con người đã thực hành
Trang 13văn hóa trong đời sống Dù là những cử chỉ, những hành động, những kí hiệu
và những công cụ thô sơ nhưng đã chứa đựng ý tưởng, những giá trị mangmàu sắc văn hóa của con người
Từ khi xã hội phân chia giai cấp, phân chia lao động thì tầng lớp laođộng trí óc mới có điều kiện khám phá thế giới, tìm hiểu về chính bản thânmình
Thời cổ đại ở Trung Quốc, dấy lên phong trào “trăm hoa đua nở, trămnhà đua tài” với tâm nguyện cai trị đất nước, xây dựng một xã hội có trật tự,người đối xử tốt với người Chuẩn mực xã hội dựa trên cơ sở Tam cương,Ngũ thường với những giá trị đạo đức và trí tuệ như “nhân”, “nghĩa”, “lễ”,
“trí”, “tín” Theo đó, con người phải thực hành “đức nhân”, “đức lễ” và
“chính danh, định phận” trong quan hệ với cộng đồng Ở góc độ này, “văn”được xem là cái hay, vẻ đẹp và “hóa” được hiểu là sự biến cải, biến đổi Vìvậy, khái niệm văn hóa thời cổ đại ở Trung Quốc được hiểu là sự biến cải,biến đổi, bồi đắp cho đẹp ra
Tác giả Nguyễn Huy Hoàng giải thích rằng, “Văn là những cái tốt đẹpcủa cuộc sống đã được đúc kết lại ở dạng ký hiệu biểu tượng Hóa là đemnhững điều đúc kết được đó “hóa thân” trở lại cuộc sống Khái niệm “Văn”
và “Hóa” ấy dần hợp thành một khái niệm thống nhất Trong quẻ sơn hóa bí của sách Chu dịch, khái niệm văn hóa như một quá trình gồm hai giai đoạn đã được diễn đạt như sau: Giai đoạn 1 xuất phát từ hai nguồn là kinh nghiệm sống và quy luật tự nhiên để trở thành cái Văn của con người (gọi là nhân văn) Giai đoạn 2 là đem cái nhân văn ấy hóa thành cuộc sống (nhân văn hóa thành thiên hạ)”[10, tr.23].
Trong xã hội Phương Tây từ thời Phục Hưng và cận đại, khái niệm vănhóa dùng để nói đến lĩnh vực của hiện thực, lĩnh vực hoạt động của con ngườinhư một chủ thể tự do và sáng tạo Các nhà triết học thời kỳ này tiếp cận văn
Trang 14hóa bằng nhiều cách khác nhau trên quan điểm chủ nghĩa nhân đạo, chủ nghĩaduy lý, quan điểm lịch sử hoặc chủ nghĩa tự nhiên Song, đều nhìn nhận vănhóa như sự tồn tại chân chính của con người, đối lập với tính tự nhiên Với ýnghĩa đó, văn hóa được xem là sự phát triển của con người phù hợp với bảnchất của chính mình
Các nhà triết học duy tâm Đức đi tìm cơ sở của văn hóa trong lĩnh vựcthẩm mỹ, lĩnh vực tinh thần và trong triết học Vấn đề văn hóa trong hệ thốngtriết học I Kant, bước đầu được xem xét như một chỉnh thể: “Ông chỉ gọinhững gì đem lại phúc lợi cho con người- một hệ thống các giá trị nhân đạo-
là văn hóa” [10, tr.39] Bộ ba phê phán: phê phán năng lực thuần lý, năng lựcthực tiễn và năng lực phán đoán là phản tư, là sự suy ngẫm về con người theochiều hướng giá trị của cái chân- thiện- mỹ Từ đó, ông đặt ra và trả lời câuhỏi: con người hoạt động như thế nào trong lĩnh vực nhận thức, trong hoạtđộng đạo đức, trong sáng tạo và cảm thụ nghệ thuật ? Với bộ ba đó, văn hóađược nhìn nhận như một chỉnh thể hữu cơ tạo nên con người tự do sáng tạonhư chủ thể đích thực của sự phát triển xã hội
Ở Hêgen, những quy luật logic được xem như là quy luật của quá trìnhchuyển hóa cái khách quan thành cái chủ quan và ngược lại, của quá trình mà
ở đó một phần của giới tự nhiên được chuyển hóa thành thân thể văn hóa Dovậy, theo nhận định của Ts Nguyễn Huy Hoàng, “Logic biện chứng củaHêgen chính là logic văn hóa của nhân loại, là cái được gọi là triết học vănhóa của ngày nay” [10, tr.73] Theo Hêgen, con người trong hoạt động hiệnthực đã đối tượng hóa hình thức của tư duy, của hoạt động vào thế giới các đồvật; chuyển tư duy từ tự mình sang tư duy cho mình Theo đó, khái niệm do
tư duy đưa ra “chính là chân lý, là hình thức của ý niệm tuyệt đối, của tinhthần, của văn hóa” Với góc độ này, Hêgen xem văn hóa là phương thức hayhình thức hoạt động của con người
Trang 15Với sự phân tích trên, văn hóa không chỉ là kết quả của hoạt động vậtchất và tinh thần của con người mà còn là khách thể của quá trình nhận thức.Song do đứng trên cơ sở lập trường khác nhau mà cách lý giải về văn hóacũng khác nhau Quan điểm duy tâm cho rằng văn hóa là sản phẩm của ýniệm tuyệt đối, của đấng siêu nhiên nào đó sinh ra thông qua hoạt động củacon người hoặc là sản phẩm của ý chí của bậc đế vương, của anh hùng dântộc, của lãnh tụ…sinh ra Quan điểm duy vật siêu hình xem văn hóa ở nhữnggóc độ khác nhau thiếu tính toàn diện và không đề cập đến tính kế thừa cácgiai đoạn phát triển của lịch sử xã hội Và từ việc tìm hiểu các quan điểm đó,
có thể khẳng định rằng chỉ có quan điểm duy vật biện chứng mới vạch rõnguồn gốc, bản chất, cũng như quá trình phát triển của văn hóa
C Mác và Ph Ăng- ghen, trong một số tác phẩm của mình đã khôngtrực tiếp bàn đến văn hóa như một lĩnh vực độc lập Nhưng trong khi phântích mối quan hệ biện chứng giữa con người và xã hội, tồn tại xã hội và ý thức
xã hội, Mác đã gián tiếp thể hiện quan điểm về văn hóa Theo đó, văn hóađược xem là một dạng hoạt động người và những thành tố văn hóa thuộc về ýthức xã hội, bị quy định bởi tồn tại xã hội Lao động cùng với ngôn ngữ và tưduy là cơ sở hình thành văn hóa
Trong “Luận cương về Feuerbach”, C Mác đã chỉ ra tính siêu hình máymóc và phiến diện của chủ nghĩa duy vật cũ trong việc xem xét mối quan hệgiữa chủ thể và khách thể Đó là mặt hoạt động của con người không đượcnhìn nhận đúng đắn Ngược lại, chủ nghĩa duy tâm lại đề cập và phát triểnmặt hoạt động của con người trong quan hệ với khách thể nhưng theo hìnhthức duy tâm, thần bí Từ sự phê phán đó, C Mác và Ph Ăng ghen đã chọn
cho mình điểm xuất phát để nghiên cứu xã hội là hoạt động sống của con người “Những tiền đề xuất phát của chúng tôi không phải là những tiền đề
tùy tiện, không phải là giáo điều, đó là những tiền đề hiện thực mà người ta
Trang 16chỉ có thể bỏ qua trong trí tưởng tượng mà thôi Đó là những cá thể hiện thực,
là hoạt động của họ và những điều kiện sinh hoạt vật chất của họ, những điềukiện mà họ thấy có sẵn cũng như những hoạt động của chính họ tạo ra”[24,tr.267]
Trong tác phẩm Hệ tư tưởng Đức, hai ông còn khẳng định rằng, “Người
ta phải có kỹ năng sống đã rồi mới có thể làm ra lịch sử Nhưng muốn sốngđược thì trước hết phải có thức ăn, thức uống, nhà ở, quần áo và một vài thứkhác nữa Như vậy hành vi lịch sử đầu tiên là sản xuất ra bản thân đời sốngvật chất Hơn nữa, đó là một hành vi lịch sử, một điều kiện cơ bản của mọilịch sử mà người ta phải thực hiện hằng ngày, hằng giờ để nhằm duy trì đờisống của con người” [24, tr.39-40]
Từ sự phân tích mối quan hệ giữa chủ thể và khách thể, hoạt động vàđối tượng, C Mác đã có cách nhìn biện chứng về mối quan hệ giữa con ngườivới tự nhiên, chỉ ra rằng: con người là “một thực thể song trùng” giữa “cái tựnhiên” và “cái xã hội” Giới tự nhiên là thân thể vô cơ của con người, nhưngyếu tố làm nên bản chất của con người chính là sự tồn tại người với tư cách là
“thực thể xã hội” Trong “Luận cương về Feuerbach”, Mác viết: “ bản chấtcon người không phải là cái trừu tượng cố hữu của cá nhân riêng biệt Trongtính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa những mối quan hệ xãhội” Theo đó, C Mác xem xét đời sống xã hội như một chỉnh thể hữu cơ baogồm sản xuất vật chất, sản xuất tinh thần và sản xuất con người, trong đó sảnxuất con người giữ vị trí trung tâm Nếu hiểu văn hóa ở góc độ sản xuất conngười thì logic phát triển văn hóa là quá trình biểu thị mức độ phát triển tự do
và sáng tạo của con người trong lịch sử Trong quá trình hoạt động, con người
đã khách thể hóa lực lượng bản chất của mình vào giới tự nhiên chưa đượckhai phá, tạo nên “thiên nhiên thứ hai”- cái mà con người thường gọi là vănhóa Nhờ sự đối tượng hóa và giải đối tượng hóa, các hình thức và phương
Trang 17thức hoạt động của con người không chỉ tồn tại ở thân thể hữu cơ mà còn ởthân thể văn hóa, thân thể vô cơ của của mình.
V.I.Lênin đã vận dụng quan điểm biện chứng khi xem xét đời sống xãhội để áp dụng vào thực tiễn, cải tạo xã hội và phát triển văn hóa xã hội chủnghĩa, đó là thời kỳ sản xuất ra con người tự do Bên cạnh việc phê phán yếu
tố tiêu cực của văn hóa tư sản, ông cũng nhìn nhận việc kế thừa văn hóa tưsản phương Tây là một trong những yêu cầu cấp thiết cho công cuộc xâydựng chủ nghĩa xã hội Trong tác phẩm “Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinhnghiệm phê phán”, Lênin đã xem “ý thức xã hội chính là toàn bộ văn hóa tinhthần của nhân loại như một chỉnh thể được phát triển trong lịch sử Văn hóatinh thần được tạo thành từ sự tác động qua lại biện chứng của vô vàn các ýthức cá nhân khác nhau" [10, tr.191] Như vậy, quan điểm về văn hóa củaLênin bao hàm khá rộng kể cả lĩnh vực hoạt động vật chất và tinh thần củacon người gắn với quá trình phát triển Với ý nghĩa đó, văn hóa là phương tiệnquan trọng nhất trong tất cả các loại hình hoạt động của con người, đồng thời
là kết quả sáng tạo của tất cả các hoạt động đó
Xuất phát từ nguyên lý Sản xuất vật chất là cơ sở, là nền tảng của toàn
bộ đời sống xã hội các nhà mácxít hậu thế đã xem xét văn hóa ở góc độ hoạt
động, gắn toàn bộ đời sống của con người với hoạt động, tiến đến khẳng địnhcấu trúc văn hóa nằm ở bề sâu của đời sống xã hội, là nền tảng sâu xa quyđịnh sự phát triển của đời sống xã hội
“X.N.Đlôbin cho rằng, theo bản chất của mình, khái niệm hoạt động đặttrưng cho hành động có tính mục đích là thuộc tính có ở con người Nhờ hoạtđộng con người đã tạo ra những quan hệ xã hội và sáng tạo ra chính bản thânmình Bởi thế hoạt động của con người không thể được xem xét đầy đủ quamỗi kết quả của nó, qua cái được gọi là “thiên nhiên thứ hai”, hoạt động luôn
đi kèm với sáng tạo Trên cơ sở đó, ông đưa ra công thức: hoạt động = sángtạo = văn hóa rồi đi đến kết luận rằng, văn hóa được xác định như hoạt động
Trang 18sáng tạo trong mối quan hệ biện chứng giữa kết quả hoạt động đã được kháchthể hóa trong các chuẩn mực, các giá trị truyền thống, các hệ thống kýhiệu và do con người khai thức chúng” [10, tr.128].
Bên cạnh quan điểm xem văn hóa như là hoạt động của con người trongquá trình lịch sử, có nhiều quan điểm dựa trên cơ sở lập trường triết học Mác-Lênin đã xem văn hóa như là sản phẩm chứa đựng giá trị có tác dụng thúc đẩytiến bộ xã hội
E.V.Bagaliubốpva trong tác phẩm “Văn hóa và xã hội” (Matxcơva,1978) đã xem văn hóa không chỉ là sự sáng tạo của con người mà là sự tiến bộ
xã hội Theo đó, văn hóa là đặc trưng về chất của xã hội và sự phát triển của
nó theo con đường tiến bộ nhờ sự tham gia tích cực của mỗi cá thể (cá nhâncon người) vào quá trình này Sau đó, U.K.Ulêđốp tiếp tục khẳng định: vănhóa phải được nhìn nhận trong cả hoạt động sáng tạo lẫn vận động tiến bộ của
xã hội và con người Vì thế, “văn hóa- đó không phải chính những hiện tượngvật chất hay tinh thần mà là những đặc trưng của chúng từ quan điểm biến đổi
và phát triển Bởi thế, chỉ có thể xem xét văn hóa như chất lượng vốn sẵn cóvới mọi hiện tượng xã hội và trước tiên với chính bản thân con người như chủthể của quá trình lịch sử ” [10, tr.129]
Từ sự phân tích trên, văn hóa được tiếp cận trên hai phương diện Thứnhất, theo phương diện hoạt động: văn hóa biểu hiện phương thức tồn tại củacon người với đầy đủ bản chất của mình thông qua các hoạt động sống (nhậnthức, thực tiễn, giao tiếp ) Do vậy, văn hóa hiện diện trên tất cả các lĩnh vựccủa đời sống xã hội: lĩnh vực kinh tế, chính trị- xã hội và tư duy Thứ hai,theo phương diện giá trị: văn hóa được xem là sản phẩm của hoạt động conngười Văn hóa là cái được sáng tạo bởi con người trong sự khác biệt với cáiđược tạo nên bởi tự nhiên
Văn hóa là khái niệm có nội hàm rất rộng, liên quan đến đời sống vật
Trang 19chất và tinh thần của con người Xuất phát từ nhiều cách tiếp cận, có nhữngquan niệm và cách lý giải khác nhau về văn hóa.
Theo Từ điển triết học giản yếu, “Văn hóa với nghĩa rộng của nó là
trình độ phát triển lịch sử nhất định của một xã hội, sức sáng tạo và năng lựccủa con người trong xã hội, biểu hiện các kiểu và hình thức tổ chức đời sống
và hoạt động, cũng như trong các giá trị vật chất và tinh thần do con người tạora Văn hóa bao gồm những kết quả khách quan của hoạt động con người(sản xuất, máy móc, thiết bị, kết quả nhận thức, tác phẩm nghệ thuật, chuẩntắc đạo đức và pháp luật) cũng như qua sức sáng tạo và năng lực của conngười thể hiện trong hoạt động (tri thức, kỹ năng, thói quen, trình độ, trí tuệ,
sự phát triển đạo đức và thẩm mỹ, thế giới quan, phương thức và hình thứcgiao tiếp giữa con người với nhau Theo nghĩa hẹp, văn hóa là lĩnh vực đờisống tinh thần của con người” [39, tr.516]
Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích củacuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạođức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ chosinh hoạt hằng ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộnhững sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa Văn hóa là sự tổng hợp củamọi phương thức sinh hoạt cùng với những biểu hiện của nó mà loài ngườisản sinh ra nhằm thích ứng nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”[26,tr.143]
Tổ chức văn hóa thế giới (UNESCO), đã đưa ra khái niệm về văn hóanhư sau: “Trong ý nghĩa rộng nhất, văn hóa là tổng thể những những nét riêngbiệt tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm, quyết định tính cách của một xãhội hay một nhóm người trong xã hội Văn hóa bao gồm nghệ thuật và vănchương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thốngcác giá trị, những tập tục và những tín ngưỡng Văn hóa đem lại cho con
Trang 20người những suy xét về bản thân Chính văn hóa làm cho chúng ta trở thànhnhững sinh vật đặc biệt nhân bản, có lý tính, có óc phê phán và dấn thân mộtcách đạo lý Chính nhờ văn hóa mà con người tự thể hiện, tự ý thức được bảnthân, tự biết mình là một phương án chưa hoàn thành được đặt ra để xem xétnhững thành tựu của bản thân, tìm tòi không biết mệt những ý nghĩ mới mẽ,sáng tạo nên những công trình mới mẽ và tạo nên những công trình vượt trộilên bản thân” [49, tr.17].
Năm 2002, UNESCO đã đưa ra định nghĩa về văn hóa như sau: “Vănhóa nên được đề cập đến như là một tập hợp của những đặc trưng về tâm hồn,vật chất, tri thức và xúc cảm của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội
và nó chứa đựng, ngoài văn học và nghệ thuật, cả cách sống, phương thứcchung sống, hệ thống giá trị, truyền thống và đức tin” [36, tr.64]
Văn hóa theo cách hiểu giản dị, là những gì còn lại sau những chu trìnhlịch sử khác nhau, qua đó người ta có thể phân biệt được các dân tộc vớinhau, cái còn lại này được gọi là bản sắc Định nghĩa văn hóa của Cựu Tổnggiám đốc UNESCO Federico Mayor có thể giúp ta vận dụng vào lý giảinhững đặc trưng về bản sắc văn hóa của các dân tộc khác nhau và hành vi củamỗi cá nhân: “văn hóa phản ánh, thể hiện một cách tổng quát và sống độngmọi mặt của cuộc sống (của mỗi cá nhân và cả cộng đồng) đã diễn ra trongquá khứ cũng như đang diễn ra trong hiện tại, qua hàng bao thế kỷ, nó đã cấuthành một hệ thống các giá trị, truyền thống thẩm mỹ và lối sống mà dựa trên
đó từng dân tộc khẳng định bản sắc riêng của mình” [36, tr.66] Văn hóa làhiện tượng khách quan, tổng hòa các khía cạnh của đời sống Ngay cả nhữngkhía cạnh nhỏ bé nhất của cuộc sống cũng mang những dấu hiệu văn hóa Nênkhi có sự hội nhập của các khía cạnh khác (chẳn hạn như hội nhập kinh tế) thìcũng có khía cạnh khác nữa tồn tại bên cạnh, thậm chí có thể đi trước hoặc đisau- đó là sự hội nhập về mặt văn hóa Sự hội nhập về văn hóa chính là quá
Trang 21trình con người đi tìm ngôn ngữ chung cho cuộc sống chung Văn hóa khôngphải là ý thức của riêng ai mà thuộc về con người một cách tự nhiên.
Theo PGS TSKH Lương Việt Hải: "Văn hóa là hệ thống các nguyêntắc, cách thức, chương trình, phương thức hoạt động sống thuộc tầng trênsinh học của con người Hệ thống ấy được hình thành và phát triển qua quátrình lịch sử và giúp cho việc duy trì và cải biến đời sống xã hội Văn hóa làđời sống tinh thần của con người được duy trì và phát triển trong tiến trìnhlịch sử, là sự tiến hóa của ý thức đạo đức, luân lý, tôn giáo triết học, khoahọc, pháp luật và ý thức chính trị, thúc đẩy sự tiến bộ của nhân loại Mặtkhác, người ta cũng xem văn hóa như những điểm đặc thù của một xã hội.Văn hóa là hệ thống các giá trị và tư tưởng quy định kiểu tổ chức xã hội ởnhững thời kỳ lịch sử khác nhau Các hệ thống đó là khác nhau và tương đốiđộc lập với nhau, trong chúng bao gồm toàn bộ tài sản văn hóa vật chất, tậpquán chủng tộc, các dạng ngôn ngữ và các hệ thống biểu trưng khác"[http://www.vientriethoc.com.vn/tapchitriethoc10/2008]
Từ những cách tiếp cận trên, có thể đưa ra quan điểm phổ quát về văn hóa như sau: văn hóa là những giá trị vật chất và tinh thần của con người,
biểu thị trình độ phát triển lịch sử nhất định của một xã hội, thể hiện sự sángtạo của con người trong quá trình hoạt động thực tiễn và được đúc kết thành
hệ giá trị và chuẩn mực xã hội làm nên bản sắc của một dân tộc, một cộngđồng xã hội mà nó có khả năng chi phối toàn bộ đời sống tâm lý và hoạt độngcủa con người trong cộng đồng ấy Văn hóa bao hàm tri thức, trí tuệ, tìnhcảm, phong tục, tập quán, tín ngưỡng và các hệ thống biểu trưng khác của mộtdân tộc Trong hoạt động xã hội thì hoạt động của mỗi cá nhân là thực thểsinh động của nền văn hóa cộng đồng, dân tộc mình
1.1.2 Bản chất của văn hóa
Trang 22Mốc ra đời của văn hóa kể từ khi con người phát hiện ra lửa, biết ănchín, uống sôi và trang phục sơ khai Lao động, hoạt động sản xuất là nguồngốc của văn hóa Chính trong hoạt động này, con người đã làm nên “thiênnhiên thứ hai” đầy tính sáng tạo của mình
Trong hai tác phẩm Gia đình thần thánh và Hệ tư tưởng Đức, C.Mác và
Ph Ăngghen đã đặt đối lập hai quan niệm: “Quan niệm lao động như mộtphạm trù kinh tế với quan niệm lao động như hoạt động sáng tạo Nếu phươngdiện kinh tế của lao động là sự sản xuất ra của cải vật chất, thì phương diệnvăn hóa của lao động là sáng tạo- biểu hiện của các lực lượng bản chất người
Đó chính là quá trình sức sáng tạo được vật thể hóa trong các hoạt động thíchứng và cải tạo thế giới, trong đó có bản thân con người” [7, tr.29]
Văn hóa ra đời và song hành với quá trình con người hoạt động sản xuất
ra đời sống vật chất và tinh thần của mình Những yếu tố thích hợp được chắtlọc lại và phát huy trong suốt quá trình phát triển xã hội Văn hóa nói lên mặttích cực này Đó là hệ thống những giá trị về đời sống vật chất, phương tiện sảnxuất của xã hội, tri thức, khoa học, công nghệ, chuẩn mực đạo đức xã hội, tínngưỡng, tập tục của con người Những giá trị vật chất và tinh thần của conngười là kết quả của quá trình tích lũy thông qua hoạt động thực tiễn trong suốtchiều dài lịch sử Văn hóa cũng nói lên quá trình mà con người để lại dấu ấntrong cuộc hành trình đi tìm và vươn tới những giá trị chân- thiện- mỹ
Do vậy, bản chất của văn hóa là hoạt động sáng tạo ra những giá trị.Thể hiện ở những khía cạnh sau:
Văn hóa là sản phẩm của con người, phản ánh năng lực sáng tạo củacon người, mang dấu ấn của một thể cộng đồng lên các sản phẩm vật chất vàhiện tượng tinh thần
Văn hóa biểu hiện thái độ, hành vi của con người trước hiện thực
Trang 23Văn hóa là phương thức sống, phương thức hoạt động của con người ởhiện tại trên cơ sở kế thừa những giá trị cũ, đồng thời định hướng cho hànhđộng trong tương lai.
Văn hóa dân tộc Việt được hình thành từ rất lâu đời, mang những nétđặc trưng không bị đồng hóa bởi các nền văn hóa thực dân Với những biểuhiện: truyền thống yêu nước, yêu con người, yêu hòa bình, độc lập- tự do;truyền thống lao động siêng năng, cần cù, chịu khó; lòng nhân đạo Nhữnggiá trị, truyền thống văn hóa của dân tộc ta dưới ánh sáng của Đảng Cộng sảnViệt Nam đã hình thành văn hóa xã hội chủ nghĩa: tiến bộ, giàu tính nhân văn,nhân đạo
Đúc kết lịch sử văn hóa dân tộc Việt, Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồngnhận định, “Văn hóa là tất cả những gì con người sáng tạo ra, làm cho môitrường xã hội ngày càng lành mạnh, làm cho con người ngày càng vươn lên,tác động ngày càng có hiệu quả vào môi trường thiên nhiên, nó mang dấu ấncủa tư duy, khát vọng và hoạt động của con người vươn tới ngày càng cónhiều ánh sáng, tự do và hạnh phúc Như vậy, văn hóa bao la như sự sống.Văn hóa là nhân sinh quan và thế giới quan của con người, là cách nhìn baotrùm và cách ứng xử qua những hành động thiết thực của con người về quan
hệ giữa người với người trong xã hội và về quan hệ giữa người với thiênnhiên Văn hóa là quá trình đấu tranh cách mạng của lịch sử loài người ở từngnơi và ở khắp mọi nơi, đoàn kết và đấu tranh qua biết bao gian khổ và hy sinh
để từng bước, từng phần thoát khỏi thân phận bị tha hóa, phát huy đến mứccao nhất bản chất con người trong xã hội mà sự phát triển tự do và toàn diệncủa mỗi con người” [40, tr.43]
1.2 Cấu trúc, chức năng của văn hóa
1.2.1 Cấu trúc của văn hóa
Trang 24Khi nói đến hình thức tồn tại, người ta chia văn hóa thành hai lĩnh vực:văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể Trên phương diện giá trị, văn hóa đượcphân chia thành văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần Giữa hai mặt này luôntác động biện chứng với nhau trong hoạt động sống của con người Bên cạnh
đó, có những sản phẩm của hoạt động con người mà khó có thể phân biệtđược chúng thuộc văn hóa vật chất hay tinh thần Trong hoạt động thực tiễn,bên cạnh việc sản xuất ra điều kiện vật chất, phương tiện sinh hoạt thì conngười còn sản xuất ra ý thức, biểu hiện dưới các hình thức: ý thức tôn giáo,khoa học, nghệ thuật, pháp quyền, đạo đức
Văn hóa vật thể được hiểu là toàn bộ những điều kiện sinh hoạt vậtchất, những giá trị vật chất trong đời sống mà con người sáng tạo ra Văn hóavật thể kết tinh trong những giá trị vật chất (kiến trúc, xây dựng, cơ sở kinh tế,
tư liệu sinh hoạt…) được hình thành bởi sự sáng tạo của con người Tuynhiên, đối tượng tiếp cận mà luận văn đề cập đến chủ yếu là văn hóa tinhthần, cấu trúc văn hóa tinh thần, gồm:
Tri thức khoa học
Có thể nói, tri thức là bộ phận quan trọng nhất của văn hoá Tri thứcbao trùm và thể hiện trên nhiều lĩnh vực: sinh hoạt hằng ngày, giao tiếp, hoạtđộng sản xuất, chính trị, giáo dục, văn học, nghệ thuật, luật pháp, trình độchinh phục thiên nhiên, chiến đấu bảo vệ tổ quốc Đó là những hiểu biếtkhoa học, những kinh nghiệm và những sáng tạo mà con người tích luỹ đượctrong quá trình lao động sản xuất, đấu tranh và thích ứng với thiên nhiên cũngnhư với xã hội nhằm duy trì và phát triển cuộc sống của mỗi cá nhân và của
cả cộng đồng người trong quá trình lịch sử lâu dài
Trong thời đại ngày nay, tri thức còn quan trọng hơn bao giờ hết Nóđang dần dần trở thành lực lượng lao động trực tiếp quan trọng nhất Điều đódẫn đến những thay đổi lớn lao trong hoạt động của con người, có thể làm đảo
Trang 25lộn sống, thay đổi các quan niệm, các thói quen, các thước đo giá trị Do vậy,tri thức sẽ quyết định các thước đo giá trị không chỉ của mỗi cá nhân mà còncủa cả một dân tộc
Tri thức trở thành một bộ phận của văn hoá nếu như nó định hướng vàđược định hướng cho các ứng xử của con người và cộng đồng người Vai tròđịnh hướng ấy thuộc về đạo đức, mà gốc rễ là cái thiện, một trong ba giá trịphổ quát nhất trong đời sống tinh thần của nhân loại (chân, thiện, mỹ)
C Mác đã khẳng định: “con người là tổng hoà của các quan hệ xã hội”.Con người chỉ có thể là con người xã hội, trong đó các cá nhân, ở những mức
độ khác nhau, đều được xã hội hoá Họ sống, làm việc, hành động theo nhữngqui tắc ứng xử đã hình thành trong xã hội Như thế, chúng ta có thể nói rằng,mỗi cá nhân đã tiếp nhận một hệ thống các qui luật và các thước đo văn hoá(những tiêu chuẩn lý tưởng mang tính chất qui ước mà mỗi cá nhân cần phảituân theo) và thể hiện chúng trong những lĩnh vực khác nhau của đời sống xãhội
Một lĩnh vực vô cùng quan trọng của tri thức là khoa học, kỹ thuật Tuynhiên, có lẽ quyết định nhất lại là tư tưởng Hệ thống tư tưởng là sản phẩm màcon người có quyền tự hào trước hết Tất cả mọi sự sáng tạo về khoa học vàcông nghệ là hệ quả của tư tưởng Tư tưởng là một sản phẩm vô hình, là sảnphẩm tinh thần Sự nâng cao dân trí, sự tiến bộ của nhân dân là thước đo trình
độ phát triển của các dân tộc, đồng thời cũng là nguồn gốc của những đòi hỏingày càng cao, ngày càng khắt khe hơn đối với một đất nước, một dân tộc
Cốt lõi của văn hóa là hệ tư tưởng Hệ tư tưởng của chúng ta là chủnghĩa Mác- Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh Để hệ tư tưởng đó thấm sâu vàomọi mặt đời sống xã hội ta, vào từng con người là sự thay đổi về chất trongthế giới quan, tức là mang tính cách mạng Bên cạnh đó, để chiến thắng "kẻđịch to" là "thói quen và truyền thống lạc hậu" cũng cần "phải tiến hành cải
Trang 26tạo nó một cách cẩn thận, rất chịu khó, rất lâu dài", như Chủ tịch Hồ ChíMinh đã chỉ rõ: "Phải là một sự nghiệp cách mạng, vừa xây, vừa chống, lấyxây làm chính Đồng thời phải kiên trì, thận trọng, không hấp tấp, vội vàng,không làm theo kiểu mệnh lệnh hành chính Cần phải có ý chí cách mạng,phải có sự kiên trì và thận trọng" Đồng thời phải nâng cao tính chiến đấu,chống mọi mưu toan lợi dụng văn hóa để thực hiện "diễn biến hòa bình".
Tín ngưỡng, tôn giáo
Tín ngưỡng là một lĩnh vực có quan hệ với tri thức và với tư tưởng Tưtưởng hay tri thức được nhận thức bằng các biện pháp duy lý, còn tín ngưỡng
- bằng bản năng hoặc bằng sự ngờ vực, là lòng tin vô điều kiện
Tín ngưỡng thể hiện sự trông đợi, hay thậm chí sự ký sinh tinh thần củacon người vào người khác, vào những lực lượng siêu nhiên Nói cho cùng, tínngưỡng là sản phẩm tinh thần, nhưng mang tính chất là sản phẩm bị động
Trong sự phát triển của xã hội, khi tư tưởng ngày một phong phú lên, vaitrò của tín ngưỡng không những không bị giảm đi, mà ngược lại còn tăng lên
Nó trở nên gần gũi với nhiều đối tượng hơn Con người sẽ tạo ra các tínngưỡng mới, cải cách, thay đổi một phần hay cấu trúc lại những tín ngưỡng cũ
Trong lịch sử, có những cộng đồng người, ẩn mình hoàn toàn trong đờisống tôn giáo và tín ngưỡng Đấy là biểu hiện sự phát triển không đồng đềucủa xã hội loài người và cũng là quy luật tự nhiên Nếu như khoa học khôngbắt đầu từ đời sống vật chất và tinh thần của con người thì khoa học không cócon đường để phát triển và tín ngưỡng cũng vậy
Giá trị đạo đức
Tri thức chỉ có thể trở thành một bộ phận của văn hoá nếu như nó đượcđịnh hướng cho các ứng xử của con người và cộng đồng người Vai trò địnhhướng ấy thuộc về đạo đức, mà cái gốc của nó là cái thiện, một trong ba giátrị phổ quát nhất trong đời sống tinh thần của nhân loại: chân, thiện, mỹ
Trang 27Bản chất đạo đức là cái thiện Chỉ nói cái thiện không thôi thì conngười nhận thức vẫn còn nông cạn, nó phải được phát triển thành thông điệp,hay thậm chí thành một quy chế, để cho con người nhận thức ra nó dưới dạngthức cụ thể và có tính thực hành Không có cái thiện thì không thể có đạo đức.Đạo đức thuộc về con người, là bản chất của con người, cũng như cái thiện cónội dung phổ biến trong đời sống con người, mặc dù mỗi dân tộc thể hiện đạođức của mình dưới những hình thức văn hoá khác nhau
Con người chỉ có thể là con người xã hội, trong đó các cá nhân, ởnhững mức độ khác nhau, đều được xã hội hoá Họ sống, làm việc, hành độngtheo những qui tắc ứng xử đã hình thành trong xã hội Như thế, chúng ta cóthể nói rằng, mỗi cá nhân đã tiếp nhận một hệ thống các qui tắc và các thước
đo văn hoá của xã hội và thể hiện chúng trong những lĩnh vực khác nhau củađời sống xã hội Những thước đo này về bản chất là những tiêu chuẩn lýtưởng mang tính chất qui ước mà mỗi cá nhân cần phải tuân theo
Đạo đức có cấu trúc của nó Các thành tố của đạo đức là: ý thức đạođức, hành vi đạo đức và quan hệ đạo đức
Con người không thể sống bên ngoài các mối quan hệ xã hội Cốt lõi
của những mối quan hệ đó là tương quan của những quyền lợi cá nhân vànhững quyền lợi cộng đồng Để tồn tại, con người phải đưa vào nhau trên cơ
sở những lợi ích cá nhân phải phù hợp với những lợi ích của cộng đồng.Những nguyên tắc bảo đảm cho sự phù hợp của những quyền lợi ấy khi đã trởthành tình cảm, quan điểm, quan niệm sống chính là ý thức đạo đức
Mọi hành vi được thực hiện do thôi thúc của một động cơ nào đó Khi
hành vi được thực hiện đó thôi thúc của ý thức đạo đức thì nó được gọi làhành vi đạo đức Hành vi đó thể hiện ý thức đạo đức và văn hoá của cá nhân
Trang 28Hành vi đạo đức tác động trực tiếp đến con người và gắn liền với ý thứcđạo đức Khi xem xét văn hoá ở khía cạnh đạo đức chúng ta không thể chỉxem xét ý thức đạo đức mà phải xem xét cùng với những hành vi đạo đức.
Quan hệ đạo đức là những quan hệ đã được ý thức đạo đức điều chỉnh
giữa cá nhân với cá nhân, giữa cá nhân với tập thể và xã hội Những quan hệnày thường được hình thức hoá bằng những nghi thức xã hội, những phongtục, tập quán vì thế một mặt nó thể hiện ý thức đạo đức, mặt khác nó đóngvai trò hình thành và củng cố ý thức đạo đức
Đạo đức cá nhân và đạo đức cộng đồng đều góp phần tạo ra một cộngđồng tốt Tuy nhiên, nói một cộng đồng có đạo đức không có nghĩa là đạo đứccủa tất cả các thành viên trong cộng đồng ấy đều giống nhau Đạo đức là cáithiện, nhưng cái thiện thể hiện rất cụ thể dưới hình thức ứng xử hoặc thái độcủa từng cá nhân Đời sống tinh thần của các cá nhân được hun đúc, hìnhthành bởi lịch sử cá nhân Đạo đức cá nhân là phần góp về đạo đức của mỗingười, các sự góp đó tạo thành đặc điểm cộng đồng Nếu nó tương tác vớinhau tạo ra một giá trị tương đối đồng nhất trong cộng đồng thì đó gọi là đạođức của cộng đồng
“Đạo đức có một quá trình hình thành, tồn tại và phát triển liên tục.Trong văn hoá có đạo đức, nhưng như thế không có nghĩa là các yếu tố đạođức của dân tộc này khác với dân tộc khác, của thế kỷ này khác với thế kỷkhác Văn hoá thể hiện hình thức của đạo đức, là phương thức để con người
và các dân tộc thể hiện bản thân mình Chính vì thế, đạo đức của dân tộc nào,cộng đồng nào, thời đại nào cũng có cái vỏ văn hoá trong mối quan hệ biệnchứng giữa nội dung và hình thức” [50, tr.16]
Yếu tố văn hóa truyền thống
Truyền thống tác động trực tiếp đến đời sống kinh tế Nói đến truyềnthống không thể không nhắc đến bộ phận quan trọng của nó là phong tục, tức
Trang 29là những thói quen đã ăn sâu vào đời sống xã hội từ lâu đời, được đa số nhândân thừa nhận và làm theo
Truyền thống là các chuỗi thành tựu mà con người ghi nhận được trongquá trình sống và hoạt động của mình cùng với thời gian Truyền thống vừa
có giá trị tinh thần, vừa có giá trị giáo dục Truyền thống cũng bao gồm cảnhững mặt tích cực và tiêu cực Là một thành tố của văn hoá nói chung,truyền thống là một sản phẩm của quá khứ
Truyền thống là một hiện tượng khách quan, bên ngoài ý muốn của conngười, nhưng con người cần phải kế thừa, phát huy, chắt lọc để phát triển theo
xu thế phát triển chung của xã hội
Giá trị văn hóa thẩm mỹ
Thẩm mỹ trực tiếp thúc đẩy tâm lý, làm phong phú đời sống tinh thầncủa con người Vai trò của những thước đo thẩm mỹ trong đời sống tinh thầncũng tương tự như vai trò của những thước đo đạo đức trong đời sống xã hội
Nói đến thẩm mỹ không thể không nói đến khái niệm cái đẹp Cái đẹp
là sự hài hoà, sự cân đối cả trong đời sống vật chất lẫn tinh thần
Để nhận ra giá trị thẩm mỹ của con người chủ yếu là thông qua chínhmình Tương tác giữa con người với nhau làm nảy sinh các giá trị thẩm mỹmang tính xã hội, tức là đạo đức Việc hoàn thiện những mối quan hệ giữacon người với thiên nhiên làm nảy sinh các giá trị thẩm mỹ nghệ thuật Nhưthế, thẩm mỹ thực ra bao trùm cả đạo đức lẫn nghệ thuật
Giá trị thẩm mỹ thể hiện ở nhiều lĩnh vực khác nhau Đó có thể lànhững tác phẩm nghệ thuật (như văn học, hội hoạ, kiến trúc, điêu khắc ), cóthể là những phong cách ứng xử, giao tiếp
Như vậy, các giá trị thẩm mỹ không thể hiện trong một lĩnh vực cụ thểcủa đời sống xã hội mà trong mọi hoạt động xã hội của con người Nó thamgia cấu tạo nên môi trường văn hoá của con người
Trang 30Lối sống
Lối sống là một thói quen có định hướng, có chất lượng lý tưởng Lốisống là phương cách thể hiện tổng hợp tất cả các cấu trúc, nền văn hoá, đặctrưng văn hoá của một con người hay một cộng đồng Lối sống là tiêu chí đầutiên, tiêu chí tổng hợp nhất, thể hiện chất lượng văn hoá và trí tuệ của một conngười Lối sống không chỉ là hành vi như cách đi lại, ăn nói, nó là hành vihiểu theo nghĩa rộng, bao gồm tư duy, làm việc và phương cách xử lý các mốiquan hệ
Như thế, ta có thể định nghĩa lối sống như những cách thức, phép tắc tổchức và điều khiển đời sống cá nhân và cộng đồng đã được thừa nhận rộng rãi
và trở thành thói quen Lối sống có quan hệ chặt chẽ với phương thức sảnxuất của mỗi thời đại C Mác đã viết về điều đó trong tác phẩm Hệ tư tưởngĐức như sau: “Không nên nghiên cứu phương thức sản xuất ấy đơn thuầntheo khía cạnh nó là sự tái sản xuất ra sự tồn tại thể xác của cá nhân Mà hơnthế, nó đã là một hình thức hoạt động nhất định của những cá nhân ấy, mộthình thức nhất định của sự biểu hiện đời sống của họ, một lối sống nhất địnhcủa họ” [50, tr.19] Như thế, phương thức sản xuất, theo C Mác, là cơ sở đầutiên để chúng ta nghiên cứu, tìm hiểu về lối sống Cũng từ đó có thể kết luậnrằng mỗi tầng lớp, mỗi nhóm người có lối sống riêng của mình
Tuy nhiên, lối sống hình thành và thể hiện không chỉ trong lao động sảnxuất, mà cả trong nhiều lĩnh vực khác như hoạt động xã hội, hoạt động chínhtrị, hoạt động tư tưởng văn hoá, thể dục thể thao Lối sống bao gồm nhiềuyếu tố cấu thành như: Cách thức lao động; các phong tục tập quán; cách thứcgiao tiếp, ứng xử với nhau; quan niệm về đạo đức và nhân cách
Lối sống cá nhân phụ thuộc vào lối sống cộng đồng Với cá nhân, lốisống như là một thói quen, một tiêu chuẩn được chấp nhận bởi cộng đồng họđang cư trú Nhưng cá nhân không những va chạm với cộng đồng mình mà
Trang 31còn va chạm với cộng đồng khác và các cộng đồng cũng va chạm với nhau.Điều này tạo ra sự hình thành các tiêu chuẩn về lối sống, về giao lưu theochiều hướng ngày càng tiến bộ trong thời đại của chúng ta.
Pháp luật, luật tục
Đạo đức là các giá trị, còn pháp luật, luật tục là các công cụ để điềuchỉnh các giá trị Đạo đức được luật hoá trong đời sống xã hội để điều chỉnhhành vi, tuỳ trạng thái giác ngộ của con người mà trở nên hợp lý hay khônghợp lý Nên pháp luật, luật tục của một dân tộc, cộng đồng thể hiện tinh thầnnhân văn và quan niệm về đạo đức, chuẩn mực xã hội của dân tộc đó trên cơ
sở kế thừa những giá trị cũ
Xuất phát từ con người, từ chuẩn mực xã hội và bản sắc văn hóa củadân tộc mà pháp luật, luật tục được xây dựng với mục đích tạo ra môi trườngsống tốt đẹp cho con người Do vậy, pháp luật, luật tục là một yếu tố cấuthành văn hóa của một dân tộc
1.2.2 Chức năng của văn hóa
Bên cạnh việc phản ánh năng lực sáng tạo của con người, văn hóa cònbiểu hiện thái độ của chủ thể trước hiện thực cuộc sống Đó là khát vọngkhám phá, chinh phục tự nhiên và khát vọng thẩm mỹ của chính con người.Sản phẩm của con người tạo ra- cái được gọi là văn hóa, sẽ tác động trở lại vàđịnh hướng cho chủ thể trong hoạt động nhận thức và cải tạo thực tiễn Từtính chất đó, văn hóa có nhiều chức năng: nhận thức, cải tạo tự nhiên và xãhội; giáo dục; thẩm mỹ; điều tiết quan hệ xã hội; dự báo
Chức năng nhận thức, cải tạo tự nhiên và xã hội
Hoạt động lao động sáng tạo của con người với tư cách là cái sản sinh ratri thức giúp con người khám phá và làm chủ giới tự nhiên, xã hội và bản thâncon người Việc phát huy những tiềm năng sáng tạo của con người góp phầnnâng cao nhận thức và hoạt động thực tiễn Văn hóa với các hoạt động và sảnphẩm của nó (bảo tàng, công trình kiến trúc, sinh hoạt văn hóa, tác phẩm nghệ
Trang 32thuật ) là cách tác động trực tiếp vào con người trong lĩnh vực nhận thức, giúpcon người xác định phương hướng hoạt động trong xã hội, tiến hành các hoạtđộng thực tiễn Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác, văn hóa ra đời trong quátrình hoạt động thực tiễn của con người Khi những tri thức, giá trị, chuẩn mựcđược khẳng định nó trở thành cơ sở lý luận, tư tưởng, tình cảm, ý chí của conngười trong hoạt động nhận thức, cải tạo tự nhiên và xã hội Như vậy, chứcnăng nhận thức, cải tạo tự nhiên và xã hội đã giúp con người nhận thức và hànhđộng theo đúng quy luật của tự nhiên.
Chức năng giáo dục
Là chức năng bao trùm và quan trọng nhất của văn hóa Thông quachức năng này, văn hóa định hướng cho con người hành động phù hợp với lýtưởng, đạo đức, chuẩn mực xã hội Văn hóa góp phần định hướng việc hìnhthành nhân cách, phẩm chất của con người; giáo dục con người biết tôn trọngnhững giá trị, tự hào về truyền thống của dân tộc và tôn trọng những dân tộckhác Văn hóa thắp sáng tình yêu cuộc sống trong trái tim và tâm hồn conngười, gắn kết con người với cội nguồn dân tộc
Với bản chất là những giá trị, những chuẩn mực xã hội tương đối ổnđịnh, văn hóa có chức năng giáo dục con người, gây ảnh hưởng và xâm nhậpvào mọi mặt của đời sống
Chức năng thẩm mỹ
Là một trong những chức năng của văn hóa được C Mác và Ph.Ăngghen khẳng định có tầm quan trọng đặc biệt đối với xã hội Theo đó,trong hoạt động của mình, con người luôn có nhu cầu “nhào nặn hiện thựctheo quy luật của cái đẹp” Chỉ có con người mới chủ động tác động vào giới
tự nhiên và cải biến nó theo nhu cầu thẩm mỹ của mình
Chính cái đẹp, cái hay của văn hóa đã làm con người thức tĩnh vàhướng đến đẩy lùi cái bản năng, nẩy nở những cảm xúc thẩm mỹ Chính sự
Trang 33con người Đồng thời tính thẩm mỹ của văn hóa đã giúp con người cảm thụđược cái đẹp trong tự nhiên, nhận diện được cái văn hóa và cái phản văn hóatrong đời sống xã hội, thúc đẩy vươn tới những giá trị, chuẩn mực của xã hội.
Do đó, chức năng thẩm mỹ của văn hóa gắn liền với chức năng nhận thức vàhướng tới chức năng giáo dục, tạo nên động lực cho hành động của con ngườitrong quá trình sáng tạo và hướng đến chuẩn mực của xã hội
Từ những chức năng và vai trò của văn hóa, Đảng ta xác định tầm quantrọng của văn hóa trong đời sống xã hội Đặc biệt đối với cách mạng ViệtNam, văn hóa không chỉ là mặt trận có tác động trực tiếp đến các mặt trậnkhác (kinh tế, chính trị) mà còn là nhân tố cho sự phát triển đất nước, gópphần đem đến thắng lợi trong công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa và đổimới đất nước Do vậy, Đảng ta yêu cầu “đưa nhân tố văn hóa, tinh thần nhânvăn thấm sâu vào các lĩnh vực của đời sống xã hội” [3, tr.112]
Văn hóa là nhân sinh quan của con người, là thái độ và cách ứng xử củacon người thông qua hoạt động xã hội Với các chức năng giáo dục, thẩm mỹ,nhận thức và cải tạo thực tiễn, văn hóa có tầm quan trọng trong việc xây dựngcon người và là động lực của tiến bộ xã hội Trong chiến lược phát triển 10năm (1991-2000) trên lĩnh vực văn hóa, tại Hội nghị lần thứ 7- Ban Chấphành TW Đảng khóa VI đã vạch ra phương hướng là:
1 Nâng cao đời sống tinh thần của nhân dân, xây dựng nền văn hóamới, lối sống mới, con người mới, bắt đầu từ mỗi gia đình
2 Chọn lọc, giữ gìn và nâng cao tinh hoa văn hóa của cộng đồng cácdân tộc Việt Nam và từng dân tộc; bảo tồn và phát triển ngôn ngữ, chữ viếtcủa các dân tộc; tiếp thu những giá trị văn hóa, khoa học của nhân loại; dùngnhiều hình thức sinh động giáo dục lý tưởng, trau dồi đạo đức, bồi dưỡng tìnhcảm, tâm hồn và thẩm mỹ, nâng cao trình độ hiểu biết và hưởng thụ văn hóa,nghệ thuật của nhân dân
Trang 343 Khuyến khích tự do sáng tạo văn hóa, vun đắp các tài năng Giữ gìn
và nâng cao các loại hình văn hóa, nghệ thuật truyền thống, bảo vệ và tôn tạocác di tích văn hóa, lịch sử [4, tr 82-83]
1.3 Giá trị văn hóa và việc phát huy giá trị văn hóa
1.3.1 Giá trị văn hóa
Giá trị là một phạm trù triết học, chỉ những thành quả lao động sáng tạovật chất và tinh thần của con người Nó có tác dụng định hướng, đánh giá vàđiều chỉnh các hoạt động của xã hội nhằm vươn tới cái đúng, cái tốt, cái đẹp,thúc đẩy sự tiến bộ xã hội
Giá trị là phạm trù liên quan đến lợi ích vật chất cũng như tinh thần củacon người Giá trị là ý nghĩa của những hiện tượng vật chất hay tinh thần cókhả năng thỏa mãn nhu cầu tích cực của con người và nhu cầu phát triển xãhội Do đó, giá trị chứa đựng yếu tố nhận thức, tình cảm và hành vi của chủthể trong mối quan hệ với sự vật, hiện tượng Trong hoạt động sống, conngười đã tạo ra những điều kiện, phương tiện cần thiết để phục vụ cho chínhbản thân mình Giá trị những chuẩn mực nhất định của xã hội được tạo ra bởicon người và vì con người Nên giá trị được xác định trong mối quan hệ vớihoạt động thực tiễn của con người và được thực tiễn cuộc sống kiểm nghiệm
Trong lịch sử phát triển của xã hội loài người, giá trị ở mỗi giai đoạn cóthể khác nhau tùy thuộc vào trình độ nhận thức và chuẩn mực của thời đại.Nhưng giá trị luôn hướng đến cái chân- thiện- mỹ, hướng đến việc đáp ứngnhu cầu vật chất và tinh thần của con người Bản chất và ý nghĩa bao quát củagiá trị là tính nhân văn Chức năng cơ bản nhất của giá trị là định hướng, đánhgiá và điều chỉnh các hoạt động của cá nhân và cộng đồng để phù hợp vớichuẩn mực của thời đại
Giá trị gắn liền với nhu cầu con người Chính nhu cầu là động cơ thúcđẩy mạnh mẽ hành động của con người, giúp con người tạo nên những giá trị
Trang 35vật chất và tinh thần Giá trị là cái ý tưởng về các loại mục đích hay lối sốngcủa con người được coi là có ý nghĩa và được chia sẻ trong một cộng đồngdân tộc hay trong toàn xã hội
Giá trị có thể định tính, định lượng qua những sản phẩm vật chất- vậtthể Giá trị vật chất thể hiện rõ trong đời sống kinh tế, là kết quả của quá trìnhhoạt động vật chất của con người thông qua mối quan hệ xã hội Giá trị tinhthần là kết quả hoạt động của con người nhằm thỏa mãn nhu cầu về đời sốngtinh thần ở một giai đoạn xã hội nhất định Đó là những giá trị vượt lên trênhiện thực và khó có thể định lượng Giá trị này là kết tinh từ bản chất, từ sứcmạnh, trí tuệ, ý chí của con người trong hoạt động thực tiễn
Những hành động của con người vì nhu cầu và thỏa mãn nhu cầu trongquá trình tồn tại của mình ẩn chứa các giá trị văn hóa Khía cạnh trí tuệ, nănglực sáng tạo, khát vọng nhân văn của con người biểu hiện trong hoạt độngsống của cá nhân, cộng đồng, dân tộc: ăn, mặc, ở, đi lại, giao tiếp xã hội, giáodục, tập quán, tín ngưỡng, tạo nên nét đặc trưng của giá trị văn hóa Nhucầu của con người càng cao thì càng tạo điều kiện cho việc hình thành các giátrị văn hóa Giá trị văn hóa là cái hình thành trong quá trình vận động của các
cá nhân, nhóm và cộng đồng xã hội vươn tới thỏa mãn nhu cầu của mình Dovậy, theo chiều hướng tích cực, giá trị văn hóa là những thành tựu của một cánhân hay một dân tộc đã đạt được trong quan hệ với thiên nhiên, với xã hội vàtrong sự phát triển bản thân mình; nói tới giá trị văn hóa cũng là nói tới thái
độ, trách nhiệm và những quy tắc ứng xử của mỗi người trong quan hệ củabản thân với gia đình, xã hội và thiên nhiên; giá trị văn hóa cũng là nhữngbiểu tượng của cái chân - thiện - mỹ trong đời sống Cho nên, có thể hiểurằng, chỉ những hoạt động nào thể hiện được những sức mạnh bản chất củacon người, những sức mạnh biểu trưng cho chân - thiện - mỹ mới hiện diệnnhư những giá trị văn hóa
Trang 36Những biểu hiện của giá trị văn hóa được cá nhân và cộng đồng thừanhận, duy trì, bảo vệ và phát triển Bởi vì, trong hoạt động thực tiễn, conngười hướng tới sự hoàn thiện và các giá trị văn hóa được xem là kết quả củaquá trình này Khi hình thành những giá trị thì giá trị văn hóa với tư cách làcái tích cực, nó tác động trở lại đối với hoạt động nhận thức, định hướng,đánh giá và điều chỉnh hoạt động của cá nhân và cộng đồng Đồng thời, giá trịvăn hóa chiếm một vị thế đặc biệt đối với tư tưởng, đạo đức, lối sống của conngười.
Giá trị văn hóa mang tính lịch sử khách quan, gắn liền với dân tộc, giaicấp và nhân loại, cho nên nó cũng mang tính phổ biến Tuy nhiên, giá trị vănhóa cũng như giá trị, nó không phải là cái cố định mà biến đổi cùng sự biếnđổi của xã hội, phụ thuộc vào trình độ phát triển của nhận thức và chuẩn mực
xã hội Các giá trị văn hóa biểu hiện trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội,
từ tư tưởng, tình cảm, quan niệm, biểu tượng, đạo đức thẩm mỹ, lối sống đếnnhững giá trị tinh thần do con người sáng tạo nên như nghệ thuật, kiến trúc,hội họa, âm nhạc Rõ ràng rằng, những biểu hiện của văn hóa này hình thành
và được khẳng định trong quá trình tồn tại phát triển của con người và xã hội.Giá trị văn hóa luôn hiện hữu trong hành động, hoạt động hiện tại của dân tộc,thể hiện bản sắc của một dân tộc và có những yếu tố được đặt trong sự tươngđồng với các dân tộc khác Giá trị văn hóa của mỗi dân tộc như là cái phổbiến trong phạm vi mỗi cộng đồng dân tộc và là cái đặc trưng trong phạm vi
xã hội đa cộng đồng Suy rộng ra, giá trị văn hóa là cái tạo nên nét độc đáo,truyền thống, bản sắc dân tộc Từ đó, có thể phân biệt được những đặc trưng
về văn hóa của dân tộc này với dân tộc khác
1.3.2 Phát huy giá trị văn hóa
Phát huy giá trị văn hóa là hoạt động thực tiễn trên lĩnh vực văn hóa.Giá trị văn hóa là cái chuẩn mực tương đối ổn định được hình thành và phát
Trang 37triển trong lịch sử xã hội Song theo thời gian và trước sự tác động của nhữngnhân tố bên ngoài, giá trị văn hóa nếu không được gìn giữ sẽ có nguy cơ mờnhạt Nên việc phát huy giá trị văn hóa dân tộc là hoạt động trực tiếp gópphần thúc đẩy tiến bộ xã hội.
Phát huy giá trị văn hóa là hoạt động có tính kế thừa, bao gồm việc bảotồn những giá trị được thực tiễn kiểm nghiệm và phát triển chúng trong điềukiện lịch sử mới Làm cho những giá trị, chuẩn mực, cái hay, cái đẹp, cái có ýnghĩa đã được khẳng định trong đời sống tiếp tục tồn tại, thích nghi và pháttriển theo thời gian Xu thế phát triển bao hàm tính kế thừa, chắt lọc giá trị cũ.Nhưng nếu không giữ gìn, không có cách thức bảo tồn thì sẽ không tạo được
cơ sở cho sự phát triển
Phát triển văn hóa phải theo xu thế tạo sự thống nhất trong đa dạng vềbản sắc Bởi vì, mỗi dân tộc đều có những giá trị và sắc thái văn hóa riêng.Các giá trị và sắc thái luôn bổ sung làm phong phú cho nhau Sự hình hành vàphát triển nền văn hóa thống nhất gắn liền với quá trình hình thành và pháttriển quốc gia, gắn liền với sự thống nhất của cộng đồng dân tộc Nét đặctrưng nổi bật và là nét đặc sắc của nền văn hóa Việt Nam là ở sự thống nhất
mà đa dạng, thống nhất trên cơ sở bình đẳng, tôn trọng sự đa dạng và nhằmphát triển bản sắc riêng của văn hóa các dân tộc, tuyệt nhiên là không phảithống nhất trên cơ sở đồng hóa hoặc thôn tính Vì vậy, nói thống nhất là cóbao hàm tính đa dạng
Trong xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam hiện nay cầnhướng vào việc củng cố và phát triển sự thống nhất, tạo ra sức mạnh tinh thầnchung của toàn dân tộc Đồng thời phải khai thác và phát triển mọi sắc thái vàgiá trị văn hóa của các dân tộc, đáp ứng nhu cầu văn hóa ngày càng cao vànhu cầu phát triển của từng dân tộc Do đó, việc bảo tồn và phát huy giá trị
Trang 38văn hóa của mỗi dân tộc trong cộng đồng dân tộc Việt là giữ gìn và phát huytính đa dạng về bản sắc văn hóa trong tính thống nhất.
Phát huy giá trị văn hóa phải chú trọng đến việc bảo tồn bản sắc dântộc Nói đến bản sắc dân tộc là nói đến những đặc trưng tiêu biểu, riêng có,không thể trộn lẫn của một nền văn hóa, của một dân tộc khác, biểu hiện sứcsống, sức sáng tạo, sức phát triển của dân tộc
Vị trí rất quan trọng của bản sắc văn hóa dân tộc thể hiện ở chỗ, chínhbản sắc văn hóa dân tộc đảm bảo cho dân tộc tồn tại, đứng vững qua tất cảbiến động của lịch sử Nhờ có bản sắc văn hóa dân tộc, chúng ta biểu lộ được
sự trọn vẹn, sự hiện của một bản sắc văn hóa trong giao lưu quốc tế, trong xuthế hội nhập Chỉ có giữ vững được bản sắc văn hóa dân tộc thì mới có điềukiện giao lưu bình đẳng với các nền văn hóa thế giới Bản sắc văn hóa dân tộcluôn biến động, bổ sung qua các thời kỳ lịch sử Có giá trị được hình thành từ
xa xưa, lại có những giá trị mới đã có vị trí rất quan trọng Từ năm 1967 cũng
là mới hơn 30 năm nay, với lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, giá trị
"không có gì quý hơn độc lập tự do" đã nghiễm nhiên trở thành giá trị văn hóarất quan trọng của dân tộc ta
Trước yêu cầu của thời kỳ phát triển mới, trước nguy cơ đồng nhất vềvăn hóa (văn hóa nước lớn thống trị) thì bản sắc văn hóa có ý nghĩa cực kỳ tolớn Khi nói đến văn hóa dân tộc cần tránh cả hai khuynh hướng: "đóng cửa,thu mình" chỉ "khư khư" giữ bản sắc, không mở cửa giao lưu, tiếp thu tinhhoa văn hóa của nhân loại, hoặc phục hồi tất cả những cái lỗi thời
Phát huy giá trị văn hóa cần được đặt trong mối quan hệ với yếu tố đốilập Nhận diện mặt phản văn hóa, mặt đối lập với giá trị để dần dần loại bỏchúng khỏi tiến trình phát triển Trong mỗi nền văn hóa, những phong tục, tậpquán lạc hậu là những nhân tố kìm hãm sự phát triển Cần nâng cao nhận thức
Trang 39để khắc phục dần yếu tố lạc hậu này vốn đã ăn sâu vào nếp sống của cộngđồng.
Bên cạnh việc bảo tồn những di sản vật thể và phi vật thể, phát huy giátrị văn hóa cũng cần chú trọng đến việc phát huy về mặt tư tưởng Kích thíchphát triển những tư tưởng tiến bộ và xóa bỏ những tư tưởng, quan điểm lạchậu trong đời sống văn hóa của dân tộc Một tư tưởng tiến bộ sẽ có tác dụngtích cực trong việc nhận thức, xóa bỏ cái lạc hậu và hướng đến cái phù hợp
Trong quá trình phát huy giá trị văn hóa, phải đặt trong mối quan hệ vớikinh tế Xuất phát từ tính quyết định của vật chất đối với ý thức, việc pháttriển văn hóa phải đặt trên nền tảng kinh tế, xem kinh tế là môi trường để giátrị văn hóa được phát huy Việc nâng cao đời sống trong mỗi cộng đồng dântộc có vai trò quan trọng cho việc nâng cao nhận thức, tạo điều kiện cho tưtưởng tiến bộ hình thành và phát triển
Việc xây dựng và phát triển kinh tế phải nhằm mục tiêu cuối cùng là vănhóa và tạo điều kiện cho con người phát triển toàn diện Nhưng văn hóa khôngthể chỉ là kết quả của kinh tế mà còn là và phải là động lực của sự phát triểnbền vững về kinh tế Do văn hóa có mặt trong các lĩnh vực và mọi hoạt động xãhội, vì vậy cần phát huy tối đa sức mạnh của văn hóa trong các lĩnh vực và hoạtđộng đó Các nhân tố văn hóa phải gắn kết chặt chẽ với đời sống và hoạt động
xã hội trên mọi phương diện chính trị, kinh tế, xã hội, luật pháp, kỷ cương ,biến văn hóa thành một nguồn lực nội sinh quan trọng nhất của phát triển
Tại kỳ họp Quốc hội lần thứ 10 (khóa VIII), Thủ tướng Võ Văn Kiệt đãnhấn mạnh: “Kinh tế và văn hóa gắn bó với nhau hết sức chặt chẽ Kinh tếkhông tự mình phát triển nếu thiếu nền tảng văn hóa và văn hóa không phải làsản phẩm thụ động của kinh tế Phát triển trên cơ sở kết hợp hài hòa kinh tế
và văn hóa là sự phát triển năng động, có hiệu quả và vững chắc nhất”[46,tr.278]
Trang 40Văn hóa với tinh thần động lực của sự phát triển kinh tế- xã hội thể hiện
ở chỗ, văn hóa khơi dậy và nhân lên mọi tiềm năng sáng tạo của con người,tạo ra nguồn lực nội sinh quyết định sự phát triển Vì vậy, trong mỗi chínhsách kinh tế- xã hội phải bao hàm nội dung văn hóa, kết hợp các yêu cầu, mụctiêu chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và phải hướng vào việc vun trồng, khơidậy sức sáng tạo của con người Con người là trung tâm của các chính sáchkinh tế- xã hội
Trong cơ chế thị trường có nhiều yếu tố tác động mạnh đến tâm tư, tìnhcảm, cách ứng xử, quan hệ giữa người với người, giữa người với côngviệc, có những giá trị truyền thống bị thay đổi Phát huy giá trị văn hóa phải
đi từ việc bảo tồn những giá trị truyền thống đến phát triển nó lên tầm cao hơnphù hợp với điều kiện xã hội
Kết luận chương 1 Văn hóa xét về mặt tinh thần là một trong những hình thái ý thức xã
hội, phản ánh trình độ phát triển của lịch sử nhất định của một xã hội haycộng đồng dân cư Lịch sử của văn hóa gắn liền với lịch sử tồn tại và pháttriển của xã hội loài người Với tư cách là sản phẩm sáng tạo của con ngườitrong thực tiễn xã hội lịch sử của họ, văn hóa có khả năng chi phối toàn bộđời sống tâm lý, lối sống và phương thức hoạt động của con người trong xãhội
Với những chức năng giáo dục, thẩm mỹ, nhận thức và cải tạo hiệnthực bằng thực tiễn, văn hóa thúc đẩy sự tiến bộ xã hội, tác động tích cực đến
sự phát triển và hoàn thiện bản chất con người Ngày nay, trong xu thế đổimới và hội nhập, văn hóa luôn được xem là động lực của sự phát triển, trong
đó những giá trị văn hóa truyền thống là nhân tố đảm bảo cho tính bền vững