1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sự vận dụng quy luật mâu thuẫn CNHHDH ở huyện minh hòa tỉnh quảng bình

75 898 6
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Sự Vận Dụng Quy Luật Mâu Thuẫn Cnhh Đh Ở Huyện Minh Hóa Tỉnh Quảng Bình
Tác giả Đinh Thị Tuyết Mai
Người hướng dẫn TS. Hồ Minh Đồng
Trường học Trường Đại học Khoa học Huế
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2011
Thành phố Huế
Định dạng
Số trang 75
Dung lượng 746,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong mỗi sự vật, mâu thuẫn hình thành không phải chỉ làmột mà là nhiều mâu thuẫn, và sự vật trong cùng một lúc có nhiều mặt đối lậpthì mâu thuẫn này mất đi thì mâu thuẫn khác lại hình t

Trang 1

Lời cảm ơn

Để hoàn thành khoá luận tốt nghiệp này, em xin chân thành cảm

ơn Trường Đại học Khoa học Huế, quý thầy cô giáo Khoa Lý luận chính trị, Huyện uỷ huyện Minh Hoá và tập thể lớp Triết K31 cùng gia đình, bạn bè đã tạo điều kiện, giúp đỡ em trong quá trình thực hiện khoá luận.

Đặc biệt em xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc đến thầy giáo: TS Hồ Minh Đồng đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ

em trong quá trình thực hiện khoá luận này.

Em xin chân thành cảm ơn.

Huế, tháng 5/ 2011 Sinh viên thực hiện Đinh Thị Tuyết Mai

Trang 2

A MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong thư gửi A.M.Goocki, Lênin viết: “Quả là nhà triết học Hêghen đãnói đúng: “Cuộc sống tiến lên thông qua những mâu thuẫn, và những mâuthuẫn sống thì lại phong phú hơn nhiều, nhiều vẻ hơn nhiều và có một nộidung dồi dào hơn nhiều so với điều mà trí tuệ con người cảm thấy lúc banđầu ’’ [26; 297]

Phép biện chứng suy cho cùng là biện chứng về những mâu thuẫn Do tầmquan trọng của nó mà Lênin đã xem lý luận về sự thống nhất của các mặt đối lập

là hạt nhân của phép biện chứng

Quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập (Quy luật mâu thuẫn)

là quy luật quan trọng nhất của phép biện chứng duy vật, là hạt nhân của phépbiện chứng duy vật Vì nó vạch ra nguồn gốc động lực của sự vận động, pháttriển của thế giới khách quan và vì nó là chìa khóa, là cơ sở giúp chúng ta nắmvững thực chất của tất cả các quy luật và phạm trù của phép biện chứng duy vật.Mâu thuẫn là hiện tượng có trong tất cả các lĩnh vực: tự nhiên, xã hội và tư duycủa con người Trong hoạt động kinh tế cũng mang tính phổ biến, chẳng hạnnhư cung - cầu, tích lũy - tiêu dùng… Mâu thuẫn tồn tại khi sự vật xuất hiện đếnkhi sự vật kết thúc Trong mỗi sự vật, mâu thuẫn hình thành không phải chỉ làmột mà là nhiều mâu thuẫn, và sự vật trong cùng một lúc có nhiều mặt đối lậpthì mâu thuẫn này mất đi thì mâu thuẫn khác lại hình thành… Cho nên nắmvững quan điểm macxit về mâu thuẫn sẽ giúp người ta hình thành phương pháp,hình thành tư duy khoa học biết khám phá bản chất của sự vật và giải quyết cácmâu thuẫn nảy sinh, thúc đẩy sự vật phát triển

Quy luật này có ý nghĩa rất quan trọng, nó cho ta chìa khóa để tìm hiểu mọi

sự vận động và phát triển, đi sâu vào bản chất của sự vật và hiện tượng Trong

Trang 3

công tác thực tiễn, chúng ta cần tìm hiểu sự vật và hiện tượng bằng phương phápphân tích mâu thuẫn, đồng thời chuẩn bị điều kiện đầy đủ để giải quyết mâuthuẫn Mâu thuẫn mà không được giải quyết sẽ cản trở sự phát triển của sự vật,hiện tượng.

Chúng ta nhận thấy rằng công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) là xuhướng phát triển của các nước trên thế giới Đó cũng là con đường tất yếu củanước ta để đi lên mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ,văn minh’’ Hiểu một cách chung nhất, công nghiệp hoá, hiện đại hoá là quátrình phát triển sản xuất và quản lý kinh tế, xã hội dựa trên sự phát triển củacông nghiệp và tiến bộ khoa học - công nghệ nhằm tạo ra năng suất lao động xãhội cao Ngày nay, quá trình công nghiệp hoá gắn liền với hiện đại hoá CNH,HĐH là con đường tất yếu để phát triển của các quốc gia trên thế giới, đặc biệt

là những nước công nghiệp lạc hậu như Việt Nam

Công nghiệp hoá, hiện đại hoá là quá trình biến đổi một nước có nền kinh

tế lạc hậu trở thành một nước công nghiệp hiện đại Qua các kỳ đại hội VI, VII,VIII Đảng ta luôn xác định CNH, HĐH là một nhiệm vụ trọng tâm trong suốtthời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta Do đó việc vận dụng quy luật mâu thuẫnvào việc giải quyết các vấn đề nảy sinh trong quá trình CNH, HĐH là hết sứccần thiết, đặc biệt có ý nghĩa quan trọng đối với một huyện nghèo như MinhHóa ở Quảng Bình Việc vận dụng quy luật mâu thuẫn trong tiến trình CNH,HĐH ở huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình đòi hỏi phải có sự hiểu biết về quyluật vận động, phát triển nói chung và quy luật mâu thuẫn nói riêng cũng nhưkhả năng phát hiện mâu thuẫn và giải quyết mâu thuẫn Trong quá trình pháttriển kinh tế xã hội nói chung cũng như trong tiến trình công nghiệp hóa, hiệnđại hóa của huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình luôn xuất hiện những khó khăn,những mâu thuẫn đòi hỏi phải được giải quyết Nếu những mâu thuẫn đó khôngđược giải quyết sẽ cản trở sự phát triển của huyện

Chính vì vậy, nghiên cứu về quy luật mâu thuẫn để vận dụng chúng vàothực tiễn là một đòi hỏi thường xuyên đối với những nhà quản lý nói chung vàngười làm công tác triết học nói riêng

Trang 4

Từ những nhận thức trên về vai trò, vị trí của vấn đề phát hiện, giải quyếtmâu thuẫn để từ đó vận dụng vào tiến trình CNH, HĐH ở huyện Minh Hóa, tỉnhQuảng Bình Chính vì lý do trên mà tôi chọn đề tài: “Sự vận dụng Quy luật mâuthuẫn trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở huyện Minh Hóa, tỉnhQuảng Bình’’ làm đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình Tôi hy vọng việc nghiêncứu đề tài này sẽ góp phần làm sáng tỏ thêm lý luận về mâu thuẫn và những vấn

đề mâu thuẫn nảy sinh trong thực tiễn của tiến trình CNH, HĐH ở Huyện MinhHóa, Tỉnh Quảng Bình, cũng như việc vận dụng các biện pháp giải quyết mâuthuẫn nhằm đảm bảo cho thắng lợi của quá trình CNH, HĐH ở Minh Hóa,Quảng Bình nói riêng và của sự nghiệp CNH, HĐH nước ta nói chung

2 Tình hình nghiên cứu của đề tài

Trong hệ thống triết học của mình, khi cho rằng “Tất cả mọi vật đều có tínhchất mâu thuẫn trong bản thân nó”, Hêghen khẳng định: “Mâu thuẫn là nguồngốc của tất cả mọi sự vận động của tất cả mọi sự sống” [25; 147]

Với tầm quan trọng của mâu thuẫn, từ trước đến nay, việc nghiên cứu xoayquanh vấn đề này đạt được những kết quả đa dạng và không kém phần sâu sắc.Mỗi công trình đó đều tiếp cận và nghiên cứu về quy luật mâu thuẫn ở nhiềuphương diện, nhiều khía cạnh và mức độ khác nhau Nhìn chung, các công trìnhnày ngoài việc làm rõ những nội dung cơ bản của quy luật còn gắn với vấn đềthực tiễn nào đó, một địa phương nào đó, hoặc với một giai đoạn lịch sử nhấtđịnh Với những mảng đề tài như: “Mâu thuẫn một số vấn đề lý luận và thựctiễn” của Nguyễn Tấn Hùng Cuốn sách đã làm rõ về quy luật mâu thuẫn theoquan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin và vai trò của nó đối với sự phát triển xãhội “Về mâu thuẫn cơ bản, mâu thuẫn chủ yếu và cách giải quyết trên conđường phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa” của GS.TS PhạmNgọc Quang Tác giả đã khái quát được những mâu thuẫn cơ bản và những mâuthuẫn chủ yếu của nước ta Trên cơ sở đó tác giả đề xuất một số giải pháp giảiquyết các mâu thuẫn đó phù hợp với thực tế phát triển đất nước và xu thế củathời đại “Công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam, lý luận và thực tiễn”, Nhàxuất bản Chính trị Quốc gia Hà Nội, 2002 của tác giả Nguyễn Trọng Chuẩn,

Trang 5

Nguyễn Thế Nghĩa, Đặng Hữu Toàn Các tác giả đã đi sâu phân tích đánh giátính tất yếu của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa; tập trung phân tích cácnguồn lực cho tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa; nêu lên mối quan hệ củaquá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa với vấn đề xây dựng và phát triển nềnkinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa… Từ đó tác giả định hình được

mô hình của tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta hiện nay Côngtrình nghiên cứu của Nguyễn Thị Hiền (2008), “Lý luận mâu thuẫn và sự vậndụng của Đảng Cộng sản Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945” Tác giả đã kháiquát một cách logic về quy luật mâu thuẫn trong lịch sử triết học và đã vận dụngquy luật mâu thuẫn vào việc xác định và giải quyết mâu thuẫn trong giai đoạnlịch sử của dân tộc từ 1930 – 1945 Đề tài “Quy luật mâu thuẫn trong lịch sửtriết học và sự vận dụng vào công tác tuyên truyền ở Thừa Thiên Huế” của tácgiả Nguyễn Thái Sơn (2002) Tác giả đã khái quát sơ lược về quy luật mâuthuẫn trong lịch sử triết học và từ đó vận dụng vào công tác tuyên truyền ở ThừaThiên Huế…

Các vấn đề về mâu thuẫn cũng như công nghiệp hóa, hiện đại hóa cũngđược các nhà nghiên cứu tranh luận trên các tạp chí chuyên ngành Như các bàiđăng trên tạp chí Triết học: Nguyễn Thế Nghĩa: Nguồn nhân lực – động lực củacông nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước (Số 1, 2 – 1996) Tác giả đã đi sâu phântích nguồn nhân lực, xem đó là yếu tố quyết định cho sự thành công của quátrình công nghiệp hóa, hiện đại hóa Qua đó đưa ra một số giải pháp nhằm nângcao chất lượng nguồn nhân lực ở nước ta

Trần Đắc Hiến: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn ởViệt Nam: Một số vấn đề đặt ra và hướng giải quyết (Số 11, 11 - 2007) Trongbài viết này, tác giả đã phân tích một số vấn đề đặt ra từ thực tiễn tiến hành côngnghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn ở nước ta hiện nay Trên cơ sở

đó, tác giả luận chứng những biện pháp cần thiết để giải quyết, khắc phục nhữngvấn đề nảy sinh nhằm nâng cao hiệu quả của tiến trình công nghiệp hóa, hiện đạihóa nông nghiệp, nông thôn

Trang 6

Trần Nguyên Ký: “Về phương pháp kết hợp các mặt đối lập để giải quyếtmâu thuẫn xã hội trong thời kỳ quá độ”… và nhiều bài viết của các tác giả khácđăng trên các tạp chí Triết học, tạp chí Cộng sản… Các công trình nói trên đãnghiên cứu quy luât mâu thuẫn dưới những góc độ khác nhau Tuy nhiên chưa

có công trình nào nghiên cứu về mâu thuẫn với tính cách vận dụng quy luật mâuthuẫn trong tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Minh Hóa, Quảng Bình

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là: Quan niệm về mâu thuẫn và quy luậtmâu thuẫn

Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu những quan niệm khác nhau về mâuthuẫn trong lịch sử triết học và đi sâu tìm hiểu quy luật mâu thuẫn trong triết họcmácxít, từ đó vận dụng vào trong tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ởhuyện Minh Hóa, Quảng Bình

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích của khoá luận là làm rõ hơn tiến trình công nghiệp hoá, hiện đạihoá ở huyện Minh Hoá, tỉnh Quảng Bình thông qua việc phân tích và giải quyếtmâu thuẫn

Để thực hiện được mục đích đó, khoá luận có nhiệm vụ:

Một là, khảo sát một cách có hệ thống và làm rõ những tư tưởng về mâuthuẫn trong lịch sử triết học, đồng thời làm rõ nội dung của quy luật mâu thuẫn.Hai là, từ sự phân tích, thấy rõ được tầm quan trọng của lý luận đó và vậndụng trong tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Minh Hóa, Quảng Bình

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Khoá luận được nghiên cứu dựa trên cơ sở thế giới quan và phương phápluận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Các quanđiểm của Đảng Cộng sản Việt Nam, của Chủ tịch Hồ Chí Minh về công nghiệphóa, hiện đại hóa Đồng thời khoá luận còn dựa trên cơ sở thực tiễn ở huyệnMinh Hóa, tỉnh Quảng Bình

Phương pháp nghiên cứu: Khoá luận kết hợp nguyên tắc thống nhất giữa lýluận và thực tiễn Vận dụng linh hoạt các phương pháp cụ thể như phân tích,

Trang 7

tổng hợp, logic - lịch sử, so sánh - đối chiếu, khái quát hoá … để làm sáng tỏ cácvấn đề mà nhiệm vụ nghiên cứu đề tài đặt ra.

6 Đóng góp của khoá luận

Khoá luận làm rõ một số mâu thuẫn trong tiến trình công nghiêp hóa, hiệnđại hóa ở huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình và một số cách thức giải quyếtnhững mâu thuẫn đó

7 Bố cục của khóa luận

Ngoài phần mở đầu và kết luận, phần nội dung gồm có 2 chương:

Chương 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUY LUẬT MÂU THUẪN

1.1 Một số quan niệm về mâu thuẫn

1.2 Nội dung của quy luật mâu thuẫn

1.3 Ý nghĩa phương pháp luận của quy luật mâu thuẫn

Chương 2: VẤN ĐỀ GIẢI QUYẾT MÂU THUẪN TRONG TIẾN TRÌNH CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ Ở HUYỆN MINH HOÁ, TỈNH QUẢNG BÌNH

2.1 Khái niệm công nghiệp hoá, hiện đại hoá

2.2 Tính tất yếu của công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong giai đoạn hiện nay ở nước ta

2.3 Thực trạng kinh tế - xã hội ở huyện Minh Hoá, tỉnh Quảng bình2.4 Một số mâu thuẫn trong tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá

ở Minh Hoá, Quảng Bình

2.5 Sự vận dụng của huyện Minh Hoá trong việc giải quyết các mâu thuẫn

Trang 8

B NỘI DUNG

CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUY LUẬT MÂU THUẪN 1.1 Một số quan niệm về mâu thuẫn

1.1.1 Khái niệm “mâu thuẫn”

Khái niệm mâu thuẫn là để nói về tính hai mặt của tất cả các sự vật, hiệntượng: trong âm có dương, trong tốt có xấu, như vậy mọi sự vật đều vận độngtheo hướng hài hòa Triết học phương Tây kết luận rằng mâu thuẫn là động lựccủa sự phát triển, bởi vì trong mỗi sự vật đều có ít nhất hai mặt, hai lập trường,hai thế lực đối kháng, và các thế lực đó sẽ tìm cách triệt tiêu nhau để chiếm lĩnhchủ thể, quá trình đó đẩy mâu thuẫn phát triển đến đỉnh điểm và khi mâu thuẫnphát triển đến đỉnh điểm thì chủ thể sẽ biến đổi cả về lượng và chất sang mộthình thái mới Còn triết học phương Đông thì cho rằng, các nhân tố âm dươngtrong một chủ thể luôn vận động và biến đổi luân hồi, âm thịnh thì dương suy, bĩcực thái lai, như vậy là khai thác khía cạnh thời gian của việc phát sinh và giảiquyết mâu thuẫn chứ không nhìn vào khía cạnh biến đổi của chủ thể khi giảiquyết mâu thuẫn

Mâu thuẫn là phạm trù của phép biện chứng, biểu hiện nguồn gốc bên trongcủa mọi sự vận động, gốc rễ của sự sống, nguyên lý của sự phát triển

Mâu thuẫn biện chứng tồn tại trong cả tự nhiên lẫn trong xã hội và tư duy.Mâu thuẫn biện chứng trong tư duy là sự phản ánh mâu thuẫn trong hiện thực và

là nguồn gốc phát triển của nhận thức, của tư duy trên con đường vươn tới chân

lý khách quan, chân lý tuyệt đối về hiện thực

Cần phân biệt mâu thuẫn biện chứng được phản ánh vào trong tư duy, trongcác khái niệm, lý luận với cái gọi là những mâu thuẫn logic biểu hiện sự mơ hồtính chất không triệt để của tư tưởng

Những mâu thuẫn logic hình thức chỉ tồn tại trong tư duy, nó xuất hiện dosai lầm trong tư duy Mâu thuẫn logic hình thức là mâu thuẫn được tạo thành từhai phán đoán phủ định nhau về cùng một quan hệ cùng một thời điểm; trong haiphán đoán đối lập đó, chỉ có một là chân lý

Trang 9

Quy luật mâu thuẫn là sự phản ánh vào tư duy tính xác định về vật chất củacác khách thể, là sự phản ánh cái sự thật giản đơn là nếu không nói đến sự biếnđổi của khách thể, thì nó không thể đồng thời có được những đặc tính bài trừ lẫnnhau.

Mọi sự vật đều chứa đựng mâu thuẫn bên trong, bởi vì bản chất của mọi sựvật là động chứ không tĩnh, khi sự vật vận động thì mâu thuẫn phát sinh

Như vậy, chúng ta nên hiểu rằng mâu thuẫn là đương nhiên tồn tại và là tốtchứ không phải xấu, vì nó giúp cho sự phát triển

1.1.2 Quan niệm trước Mác về mâu thuẫn

Có thể nói, sự vận động và phát triển của mọi sự vật hiện tượng bao giờcũng là sự thống nhất giữa tính ổn định và tính thay đổi Thống nhất và đấutranh giữa các mặt đối lập quy định tính ổn định và thay đổi của sự vật Do vậy,mâu thuẫn chính là nguồn gốc của sự vận động và phát triển Vấn đề này sớmđược các nhà triết học trước Mác quan tâm nghiên cứu, và có những phỏng đoánthiên tài về sự tương tác giữa các mặt đối lập, xem nó là nguyên nhân của sựhình thành, vận động và biến đổi của vũ trụ, vạn vật

Những nhận định ban đầu của các nhà triết học Trung Quốc cổ đại, tuy mớidừng lại ở phỏng đoán, cảm tính của các triết gia thuộc trường phái Âm Dương– Ngũ Hành về bản chất của sự vật, hiện tượng nhưng phần nào đã biểu lộ thếgiới quan duy vật, không chỉ thừa nhận sự tồn tại khách quan của sự vật, hiệntượng mà còn khẳng định các sự vật, hiện tượng vận động và phát triển là dochính sự tác động của các yếu tố đối lập chứa đựng trong bản thân chúng

Thuyết Âm Dương - Ngũ Hành là một trong chín trường phái triết học củacủa Trung Quốc thời cổ đại Thuyết Âm Dương - Ngũ Hành là thuyết thể hiệnquan niệm duy vật chất phác về tự nhiên, và ở đó cũng thể hiện tư tưởng biệnchứng sơ khai về tự nhiên, con người và xã hội của người Trung Quốc thời cổđại Nó giải thích nguồn gốc của quá trình biến hóa của vạn vật Các triết giatrong trường phái này cho rằng thế giới các hiện tượng và sự vật vẫn chứa đựnghai yếu tố vừa đối lập nhau, vừa thống nhất với nhau, vừa bao hàm tương tác lẫnnhau Âm - Dương là hai thế lực đối chọi nhau nhưng lại thống nhất với nhau

Trang 10

trong vạn vật, là khởi nguyên của mọi sinh thành biến hóa Âm - Dương khôngphải là hủy thể của nhau mà là điều kiện tồn tại của nhau, động lực của mọi vậnđộng, phát triển.

Âm - Dương và Ngũ Hành là hai thuyết quan trọng trong tư tưởng triết họcTrung Hoa Chính những tư tưởng duy vật đó đã làm lu mờ vai trò của thầnthánh, của lực lượng siêu nhiên Tư tưởng của trường phái Âm Dương - NgũHành đã hé lộ phần nào tư tưởng biện chứng về thế giới

Các triết gia thuộc trường phái này cho rằng, hai mặt đối lập vốn tồn tạitrong tất cả các sự vật, hiện tượng, từ cái nhỏ nhất đến cái lớn nhất, từ cái đơngiản đến phức tạp, từ giới tự nhiên đến xã hội, từ thể chất đến tinh thần conngười Nó vừa biến dịch mà bất dịch, mâu thuẫn và thống nhất, đối lập mà vẫnhài hòa với nhau Biểu hiện cụ thể của Âm - Dương là các mặt đối lập như: mặttrời - mặt trăng; cao - thấp; nóng - lạnh; quân tử - tiểu nhân; cha - mẹ; nhanh -chậm

Âm - Dương tuy đối lập, mâu thuẫn, song không tách rời nhau mà xâmnhập vào nhau, quấn quýt lấy nhau Âm - Dương không phải là tuyệt đối mà làtương đối, không phải là đại biểu cố định cho một số sự vật nào đó mà là đạibiểu cho sự chuyển biến, đối lập tất cả các sự vật

Hai thế lực Âm - Dương không tồn tại biệt lập mà thống nhất, chế ước lẫnnhau theo các nguyên lý: Âm - Dương thống nhất thành Thái cực (Thái cựcđược coi như nguyên lý của sự thống nhất hai mặt Âm - Dương) Nguyên lý nàynói lên tính toàn vẹn, tính chỉnh thể, cân bằng của cái đa và cái duy nhất Chính

nó bao hàm tư tưởng về sự thống nhất giữa cái bất biến và biến đổi Trong Âm

có Dương, trong Dương có Âm nguyên lý này nói lên khả năng biến đổi Âm Dương đã bao hàm trong mỗi mặt đối lập của Thái cực Trong Thái âm (âm lớn)

-có Thiếu dương (dương nhỏ), trong Thái dương (dương lớn) -có Thiếu âm (âmnhỏ), “dương nhỏ” trong “âm lớn” phát triển đến cùng thì có sự chuyển hóa “âmlớn” trở thành “dương lớn” và ngược lại Và cứ như thế sự vật vận động, pháttriển không ngừng

Trang 11

Các nguyên lý trên được khái quát bằng vòng tròn khép kín, có hai hìnhđen trắng tượng trưng cho Âm Dương, hai hình này tuy cách biệt hẳn nhau, đốilập nhau nhưng ôm lấy nhau, xoắn lấy nhau Trong Âm có Dương, trong Dương

có Âm Âm thịnh dần thì Dương suy dần, ngược lại Dương thịnh dần thì Âmcũng suy dần

Thuyết Âm - Dương từ nghiên cứu sự vật, hiện tượng trong tự nhiên đãđược vận dụng vào đời sống xã hội, được liên hệ với con người và bản chất củacon người Người Trung Quốc cho rằng, tốt nhất là cân bằng Âm - Dương:người có hình thức trau chuốt lại ăn nói sắc sảo - thuộc tính của Dương, thì ít cóđức nhân là thuộc tính của Âm Lão Tử nói rằng: Răng cứng thì chống gãy, lưỡimềm thì bền lâu

Thuyết Âm - Dương Ngũ hành phản ánh tư tưởng về sự biến hóa của muônvật, thể hiện tính năng của năm loại vật chất: Kim, Thủy, Mộc, Hỏa, Thổ Cácyếu tố vật chất đó không ở trạng thái tĩnh mà là động, không phải cô lập vớinhau mà là có quan hệ mật thiết, hơn nữa còn biện chứng với nhau, cái nàychuyển hóa thành cái kia Cơ chế của quá trình chuyển hóa ấy được biểu đạt làcái này “thắng” (khắc) cái kia và cái này “sinh” cái kia (gọi là “tương sinh”,

“tương khắc”) theo chu trình lập lại có tính chất tuần hoàn:

Thổ sinh Kim, Kim sinh Thủy, Thủy sinh mộc, Mộc sinh Hỏa, Hỏa sinhThổ- và tiếp tục quá trình : Thổ sinh Kim…

Thổ khắc Thủy, Thủy khắc Hỏa, Hỏa khắc Kim, Kim khắc Mộc, Mộc khắcThổ - và tiếp tục quá trình: Thổ khắc Thủy…

Năm loài vật chất này tương sinh và tương khắc với nhau Điều đó lý giảinguồn gốc của các sự vật và hiện tượng trong tự nhiên và xã hội, thuyết minhthế giới là một thể thống nhất, có trật tự

Quá trình “tương sinh” và “tương khắc” là quá trình sinh – diệt, và thựcchất của quá trình tồn tại của vật chất là quá trình sinh diệt không thôi đó Nhưvậy, thuyết Âm – Dương Ngũ hành đã thừa nhận tính vật chất của thế giới, giảithích quy luật phát triển khách quan của thế giới Tuy còn chất phác và máy mócnhưng rõ ràng nó có tác dụng chống lại chủ nghĩa duy tâm và mục đích luận

Trang 12

trong quan niệm về tự nhiên Tuy thế, các triết gia thuộc trường phái này mangtính bảo thủ trong nhân sinh quan, cải lương trong giải quyết mâu thuẫn.

Lão Tử - người sáng lập ra Đạo gia, một trong những trường phái triết họclớn của Trung Quốc thời cổ đại, là nhà biện chứng số một của triết học phươngĐông Ông đã đưa ra nhiều tư tưởng có giá trị về mâu thuẫn Ông cho rằng mọi

sự sinh thành, biến hóa của vạn vật đều từ “Đạo” mà ra Đạo không chỉ là khởinguyên mà còn là động lực cho sự vận động và biến đổi của muôn loài, muônvật trong vũ trụ Quan niệm về biến động là sự tương tác giữa hai cực đối lập, đãđưa Lão Tử đến sự khám phá tính đối lập và tính thống nhất giữa hai cực củamâu thuẫn Theo Lão Tử, mọi sự vận động, biến đổi đều có nguồn gốc từ trongbản thân sự vật Mỗi vật đều là thể thống nhất của hai mặt đối lập vừa tươnghòa, vừa xung khắc, vừa đối lập lại vừa liên hệ, ràng buộc bao hàm nhau Tuynhiên, ông chưa nắm thực chất của sự chuyển hóa, hiểu chuyển hóa một cáchmáy móc Không nhấn mạnh đấu tranh với tư cách là phương thức giải quyếtmâu thuẫn, nhằm thực hiện sự phát triển, trái lại đề cao tư tưởng điều hòa mâuthuẫn

Nền triết học Trung Quốc là nền triết học có lịch sử lâu đời Nhìn chung,các nhà triết học Trung Quốc cổ đại khi luận giải những vấn đề về tự nhiên và

xã hội đã thừa nhận mâu thuẫn và sự chuyển hóa giữa các mặt đối lập trong các

sự vật, hiện tượng Tuy vậy, do bị hạn chế về thế giới quan và nhân sinh quan,

do địa vị giai cấp của mình nên các triết gia đã không thoát khỏi lập trường duytâm trong việc giải thích về sự vận động và biến đổi của lịch sử xã hội, đã làmmất đi tính duy vật, làm nghèo đi tính biện chứng ban đầu của nó Tuy có thừanhận mâu thuẫn và tính phổ biến của nó song lại chủ trương điều hòa mâu thuẫn

Có thể nói bên cạnh những suy tư sâu sắc về các vấn đề xã hội, nền triếthọc Trung Quốc thời cổ còn cống hiến cho lịch sử triết học thế giới những tưtưởng sâu sắc về sự biến dịch của vũ trụ Những tư tưởng về Âm – Dương Ngũhành tuy còn có những hạn chế nhất định, nhưng đó là những triết lý đặc sắcmang tính chất duy vật và biện chứng của người Trung Quốc cổ, đã có ảnh

Trang 13

hưởng to lớn tới thế giới quan triết học sau này không những của người TrungQuốc mà cả những nước chịu ảnh hưởng của nền triết học Trung Quốc.

Vấn đề mâu thuẫn trong tư tưởng của phương Đông cổ đại càng được làm

rõ trong triết học Ấn Độ cổ đại - nơi nền triết học chịu ảnh hưởng lớn của những

tư tưởng tôn giáo Cũng giống như nhiều nền triết học cổ đại khác, nó đã đặt ra

và giải quyết nhiều vấn đề triết học như bản thể luận, nhận thức luận…

Sự tồn tại dai dẳng của công xã nông thôn và chế độ quốc hữu về ruộng đất

là hai đặc điểm lớn nhất, ảnh hưởng tới toàn bộ các mặt của lịch sử Ấn Độ Từhai đặc điểm trên, dẫn đến hệ quả là các bước phát triển của lịch sử xã hội Ấn

Độ không mạch lạc như lịch sử xã hội của các nước châu Âu Sự phát triểnchậm chạp của xã hội Ấn Độ đã quy định đặc điểm của sự phát triển triết học Ấn

Độ cổ đại Khác với triết học phương Đông - thường có sự đan xen giữa các yếu

tố duy vật và duy tâm, biện chứng và siêu hình, triết học Ấn Độ lại có sự đanxen, hòa đồng giữa những tư tưởng triết học với tôn giáo Những phạm trù cơbản của quy luật mâu thuẫn như “mặt đối lập”, “sự thống nhất của những mặtđối lập” đã được đề cập đến

Các hệ thống triết học Ấn Độ đã thừa nhận thế giới vũ trụ vạn vật luôn luônvận động, phát triển và biến đổi không ngừng Trong triết học Phật giáo, thế giới

tự nhiên và nhân sinh đều được nhìn nhận qua sự phân tích nhân quả Nhân quả

là một chuỗi liên tục không gián đoạn và không hỗn loạn, một kết quả của mộtnguyên nhân nào đó sẽ là nguyên nhân của một kết quả khác Triết học Phậtgiáo đã tìm thấy sự đối lập của các mặt trong sự đồng nhất của chúng, vạch rađược những mâu thuẫn nội tại của chúng như bản thể tuyệt đối trong thế giớihiện tượng, ý thức và vô thức, niết bàn và vô minh

Các hệ thống triết học Ấn Độ đã thể hiện tư tưởng biện chứng khi thừanhận thế giới, vũ trụ là sự thống nhất mâu thuẫn, thống nhất của các mặt đối lập

Họ cho rằng thế giới vũ trụ không phải là cái gì đó thuần nhất, đơn giản mà làbao trùm trong đó hai mặt đối lập vừa bất biến vừa biến đổi, vừa đứng im vừavận động, vừa trong trạng thái thăng bằng, ổn định, vừa trong trạng thái khôngcân bằng, không ổn định Các trường phái này đều xem xét các yếu tố khởi

Trang 14

nguyên của thế giới là bất biến, tồn tại vĩnh viễn còn các sự vật hiện tượng cụthể thì biến đổi, chuyển hóa không ngừng Hoặc coi thế giới là tồn tại vĩnh viễncác hình thức, các dạng tồn tại của nó lại luôn luôn biến đổi, biến chuyển liêntục, không ngừng Thế giới sự vật và hiện tượng luôn luôn biến đổi theo chutrình sinh - trụ - dị - diệt (hoặc thành - trụ - hoại - không) theo luật nhân quả.Phật giáo khẳng định tồn tại là vô thường, luôn luôn biến đổi.

Trong các tác phẩm Veda, Upanisad cũng như hệ thống triết học Vedanta

đã đứng trên lập trường duy tâm - tôn giáo trong việc giải thích nguồn gốc của

sự vận động, biến đổi của thế giới vạn vật Theo quan niệm của Upanisad thìBrahman là tinh thần vũ trụ tối cao, là nguyên lý sáng tạo nên toàn vũ trụ, làthực thể duy nhất, phổ biến nhất ẩn sau toàn bộ thế giới hữu hình Brahman biểuhiện trong con người là Atman, Atman đồng nhất với Brahman Nghĩa là sựthống nhất của muôn vật với tinh thần vũ trụ duy nhất Brahman, khẳng định sựthống nhất và chuyển hóa giữa các mặt đối lập Theo đó các hệ thống tư tưởngnày cho rằng, mọi sự vật, hiện tượng vận động, biến đổi tất cả đều bị chi phối,điều khiển bởi tinh thần vũ trụ tối cao Brahman Đạo Bàlamôn thì khẳng định,

sự vận động biến đổi của vạn vật chủ yếu do hai vị thần sáng tạo Brahman vàthần hủy diệt Visnu chi phối

Triết học Ấn Độ cổ đại đã đặt ra và bước đầu giải quyết nhiều vấn đề củatriết học Các trường phái triết học Ấn Độ cổ đại từ nhiều góc độ khác nhau đã

đề cập đến mâu thuẫn của sự vật, hiện tượng trong vũ trụ, đã phác thảo đượcnhững nét ban đầu về mâu thuẫn Tuy nhiên các nhà triết học Ấn Độ cổ đại đãkhông chú trọng đến quá trình giải quyết mâu thuẫn để tạo ra động lực phát triển

cả về mặt lý luận cũng như vận dụng vào thực tiễn Triết học Ấn Độ có tínhhướng nội nên nền triết học này vận động chậm chạp, không thể trở thành mộtthứ triết học mới cao hơn

Triết học Hy Lạp cổ đại ra đời từ xã hội chiếm hữu nô lệ với những mâuthuẫn gay gắt giữa tầng lớp chủ nô dân chủ và chủ nô quý tộc Triết học Hy Lạp

cổ đại là triết học của giai cấp chủ nô, cho nên nó mang tính đảng, tính giai cấpsâu sắc Điều này thể hiện ở cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa

Trang 15

duy tâm; giữa phương pháp biện chứng và phương pháp siêu hình Những quanniệm và tư tưởng biện chứng đã chiếm một vị trí đáng kể trong thế giới quan vàphương pháp luận triết học của người Hy Lạp Triết học Hy Lạp cổ đại đượcđánh giá là đã khai sinh ra hình thức biện chứng đầu tiên Vì vậy, một trongnhững nội dung nhận được sự quan tâm của các nhà triết học là căn nguyên củavạn vật và tác nhân của sự biến đổi của từng sự vật và thế giới.

Một trong những đặc trưng quan trọng của triết học Hy Lạp cổ đại là nhữngmối liên hệ của nó với thần thoại và các hình thức sinh hoạt tôn giáo nguyênthủy Từ đó phép biện chứng mang tính nhân hình trong truyện thần thoại, mọihình thức và dạng cơ bản tư tưởng biện chứng được phác họa rõ nét trong lịch

sử phát triển của phép biện chứng cổ đại “Theo nghĩa đen, phép biện chứng là

sự nghiên cứu mâu thuẫn trong ngay bản chất của các đối tượng” [34; 429].Trường phái triết học Milê ra đời đã đánh dấu giai đoạn khởi đầu của triếthọc Hy Lạp cổ đại Các nhà triết học đã đứng trên quan điểm duy vật trực quancảm tính để giải thích căn nguyên thế giới Mặc dù “phép biện chứng tự nhiênngây thơ” của Hy Lạp đã có nhiều điều viển vông nhưng nó đã chứa đựng mầmmống của thế giới quan mới – đó cũng là đóng góp của người Hy Lạp cổ đại vàotrong lịch sử phát triển tư duy biện chứng [34; 101] Đánh giá mặt tích cực vàhạn chế của quan điểm biện chứng chất phác thời cổ đại, Ph.Ănghen cho rằngtrong quan điểm đó người ta thấy được sự liên hệ, sự vận động và phát triển,nhưng chưa làm rõ được cái gì đang liên hệ cũng như những quy luật nội tại của

sự vận động và sự phát triển

Mâu thuẫn được coi là hạt nhân của phép biện chứng và ngay từ đầu đãđược Hêraclit bàn đến Hêraclit là nhà biện chứng lỗi lạc nổi tiếng ở Hy Lạp cổđại - người được Lênin coi là nhà sáng lập ra phép biện chứng Ông khôngnhững nổi tiếng với học thuyết dòng chảy mà còn trở nên bất hủ trong quanniệm độc đáo về sự hài hòa và đấu tranh của các mặt đối lập, về tính thống nhấtcủa vũ trụ Ông cho rằng mọi sự vật đều là sự thống nhất của các mặt đối lập,mọi cái đồng nhất luôn luôn tồn tại trong sự khác biệt đó, cái hài hòa của nhữngcái căng thẳng, đối lập: đối lập giữa thiện và ác, giữa trẻ và già, sống và chết…

Trang 16

Ông coi đó là sự “tương phản”, “tương hành” trong vũ trụ Khi tồn tại trong một

sự vật thì các mặt đối lập luôn có sự ràng buộc với nhau Hêraclit khẳng địnhđấu tranh là nguồn gốc của mọi cái đang diễn ra trong vũ trụ và đó là một mặttrong “sự sống” của mọi sự vật đang biến đổi Ông cũng coi vận động và đứng

im là một sự thống nhất của của các mặt đối lập, giống như đấu tranh và hài hòachúng tồn tại thông qua nhau và là điều kiện tồn tại của nhau Ông thừa nhận sựthống nhất của vận động và đứng im có tính phổ biến

Hêraclit là người đầu tiên sử dụng logos với tính cách là một khái niệmtriết học và khái niệm này về sau trở nên phổ biến trong toàn bộ nền triết học HyLạp cổ đại

“Logos” được hiểu không chỉ là từ ngữ, mà còn là quy luật khách quan của

vũ trụ, quy định trật tự và chuẩn mực của mọi cái Logos cũng chính là lửa,nhưng dưới góc độ xem xét của trí tuệ Vì vậy giữa logos và lửa không thể táchrời nhau, bởi thế giới chính là ngọn lửa cháy vĩnh viễn, mà logos là trật tự thốngtrị thế giới, là quy luật của tồn tại, đảm bảo sự phát triển hài hòa của thế giới.Theo cách hiểu của Hêraclit, logos tồn tại cả dưới dạng khách quan và chủ quan.Trong đó logos khách quan là trật tự khách quan của mọi cái đang diễn ra trongthế giới, biến cả thế giới thành một chỉnh thể thống nhất đầy sống động Logoschủ quan là từ ngữ, học thuyết, lời nói, được Hêraclit hiểu như là chuẩn mực củamọi hoạt động tư tưởng, suy nghĩ của con người Hêraclit đã tiếp cận được quanniệm đúng đắn cho rằng về nguyên tắc thì logos chủ quan phải phù hợp vớilogos khách quan, nhưng nó biểu hiện ở từng người có khác nhau

Hêraclit thừa nhận sự tồn tại và thống nhất của các mặt đối lập nhưng trongcác mối quan hệ khác nhau Bản thân logos là sự thống nhất của các mặt đối lập

Vũ trụ là thể thống nhất, nhưng trong lòng nó luôn luôn diễn ra các cuộc đấutranh giữa các sự vật, lực lượng đối lập nhau Nhờ các cuộc đấu tranh đó mà mới

có hiện tượng sự vật này chết đi, sự vật khác ra đời Điều đó làm cho vũ trụthường xuyên phát triển và trẻ mãi không ngừng Vì thế đấu tranh là vương quốccủa mọi cái, là quy luật phát trển của vũ trụ Bản thân cuộc đấu tranh giữa cácmặt đối lập luôn diễn ra trong sự hài hòa nhất định, dựa trên sự quy định của

Trang 17

logos Như vậy, Hêraclit đã thừa nhận tính phổ biến của vận động, đồng thờiông đã tìm ra nguyên nhân của sự vận động ngay trong bản thân sự vật.

Đóng góp của Hêraclit là cách trình bày đầu tiên về quy luật thống nhất vàđấu tranh của các mặt đối lập Hêraclit cho rằng, logos vũ trụ là cái tạo ra “dòngchảy” liên tục của vạn vật thông qua sự đấu tranh hài hòa của các mặt đối lập,logos vũ trụ chính là chân lý, là tri thức khách quan về vạn vật trong quá trìnhthường xuyên, liên tục “trôi đi, chảy đi theo dòng chảy của chúng” Tuy Hêraclit

đã cố thể hiện bản chất mâu thuẫn của các sự vật trong logos chủ quan, song đãgặp trở ngại về vấn đề khả năng phản ánh bản chất mâu thuẫn của các sự vật, kể

cả bản chất mâu thuẫn vận động vào logos của khái niệm

Đóng góp cho nền triết học Hy Lạp còn phải kể đến Đêmôcrit với khuynhhướng nguyên tử luận Trong các công trình của mình tư tưởng của ông phảnánh về mâu thuẫn, về sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập, đó là sựthống nhất giữa linh hồn và thể xác, giữa tập hợp và phân tán trong quá trình vậnđộng của nguyên tử Ông diễn tả sự vận động của thế giới vật chất như là mộtquá trình vĩnh viễn, vô tận từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, vận động

là thuộc tính của các nguyên tử, “các nguyên tử bản chất là bất động, đã vậnđộng được là nhờ va chạm”

Chúng ta cũng cần thừa nhận sự đóng góp của của Dênôn và Platon chonền triết học Hy Lạp cổ đại, mặc dù đó là những đại biểu đối lập với những tưtưởng biện chứng Dênon yêu cầu tuân thủ quy luật logic Platon đã nhận thứcđược một số yếu tố quan trọng dẫn đến tư duy biện chứng chân chính – đó làmuốn nhận thức đúng về các mâu thuẫn hiện thực, đòi hỏi tuân thủ nghiêm ngặt,nhất quán quy luật mâu thuẫn logic

Như vậy, trong quan niệm về mâu thuẫn, triết học Hy Lạp cổ đại chỉ dừnglại ở giới hạn nêu vấn đề Nhiều nhà triết học đã nhận thức được sự tồn tại củacác mặt đối lập trong sự vật, hiện tượng Thừa nhận có mâu thuẫn, có các mặtđối lập nhưng chỉ là những phỏng đoán thiên tài, chưa được chứng minh mộtcách khoa học, cũng như chưa được nghiên cứu một cách tự giác Tuy nhiênnhững quan niệm về mâu thuẫn của các nhà triết học Hy Lạp cổ đại là mầm

Trang 18

mống cho sự phát triển của các quan niệm sau này, đặc biệt là quan niệm củatriết học Mác.

Đỉnh cao của triết học phương Tây là triết học cổ điển Đức, đây được xem

là giai đoạn phát triển mới về chất trong lịch sử tư tưởng phương Tây, đồng thời

có ảnh hưởng to lớn đến triết học hiện đại Trong triết học cổ điển Đức, phépbiện chứng đã trở thành một lý luận được xây dựng một cách có hệ thống Từgiữa thế kỷ XVIII trở đi, khoa học tự nhiên chuyển dần trọng tâm sang việcnghiên cứu các quá trình trong sự liên hệ, trong sự vận động và phát triển củachúng Những thành quả do nó mang lại đã chứng minh rằng tự bản thân thếgiới tồn tại một cách biện chứng Quan điểm siêu hình bị chính khoa học tựnhiên làm mất đi cơ sở tồn tại của nó Nhưng việc phủ định quan điểm siêu hìnhlúc này lại dẫn tới việc xác lập vị trí ưu trội của phép biện chứng duy tâm kháchquan mà đỉnh cao là ở triết học của Hêghen

Hêghen là đại biểu xuất sắc nhất của nền triết học cổ điển Đức Theonhận xét của Ănghen: “Hêghen không chỉ là một thiên tài sáng tạo, mà còn lànhà triết học có tri thức bách khoa, nên những phát biểu của ông tạo thànhthời đại” [33; 422] Cống hiến lớn nhất của Hêghen là phép biện chứng, mặc dù

đó là phép biện chứng duy tâm Hêghen được Ph.Ănghen đánh giá là người đầutiên trong lịch sử triết học trình bày toàn bộ thế giới tự nhiên, lịch sử, xã hội,tinh thần của con người dưới dạng một quá trình, tức là trong sự vận động vàphát triển Tuy nhiên, sự vận động và phát triển trong hệ thống triết học của ông

là sự vận động, phát triển trong một hệ thống khép kín

Hêghen đã xây dựng lý luận mâu thuẫn và đưa ra cách thức giải quyết mâuthuẫn Trong “học thuyết về bản chất” của “khoa học logic”, Hêghen đã triểnkhai mâu thuẫn: đồng nhất - khác nhau - đối lập - căn cứ và coi đó là quy luậtbên trong của bản chất Theo Hêghen, lúc đầu bản chất là sự đồng nhất giữanhững sự quy định khác nhau, rồi sau, trong sự đồng nhất, phát hiện ra sự khácbiệt, khác biệt lại chuyển thành mặt đối lập, và cuối cùng là xuất hiện mâuthuẫn Mâu thuẫn bao hàm trong ngẫu nhiên, thể hiện ra ở chỗ cái ngẫu nhiên có

cơ sở lại vừa không có cơ sở, và do đó ngẫu nhiên biểu hiện tính chất hai mặt

Trang 19

của bản thân hiện thực trong sự thống nhất giữa hiện thực với khả năng và trong

sự đối lập của nó với khả năng

Hêghen nhấn mạnh, bất kỳ sự đồng nhất nào cũng bao hàm sự khác biệt vàmâu thuẫn Ông coi mâu thuẫn là nguồn gốc của vận động, là nguyên lý của pháttriển Ông khẳng định: Mâu thuẫn là nguồn gốc của tất cả mọi sự vận động vàcủa tất cả mọi sự sống, chỉ trong chừng mực một vật chứa đựng trong bản thân

nó một mâu thuẫn thì nó mới vận động, mới có xung lực và hoạt động, tất cảmọi vật đều có tính chất mâu thuẫn trong bản thân nó Chính sự không ngừngnảy sinh và giải quyết mâu thuẫn giữa những quan hệ xã hội là một trong nhữngđộng lực thúc đẩy xã hội phát triển Đây là một khám phá vĩ đại của Hêghen vềvai trò nền tảng của mâu thuẫn trong sự phát triển của thế giới khách quan vàtrong sự nhận thức nó của con người

Vì là nhà triết học duy tâm nên Hêghen không tránh khỏi những hạn chếnhất định trong lý luận về mâu thuẫn Hêghen đã có tư tưởng biện chứng về mâuthuẫn, dự đoán được mâu thuẫn là nguồn gốc của sự vận động, phát triển của sựvật Tuy nhiên, mâu thuẫn trong hệ thống triết học của ông không phải là mâuthuẫn của hiện thực khách quan mà là của tinh thần thế giới, ý niệm tuyệt đối.Hơn nữa, do bị chi phối bởi quan niệm dân tộc và lợi ích giai cấp mà ông đạidiện nên ông có quan điểm thỏa hiệp khi giải quyết mâu thuẫn Vì thế dẫn đếnkết cục hệ thống triết học của ông mâu thuẫn với phép biện chứng của ông.C.Mác và Ph.Ănghen đã phê phán một cách triệt để các hạn chế trong triết họcHêghen, đồng thời hai ông đã tiếp nhận “hạt nhân hợp lý” của phép biện chứngcủa Hêghen – học thuyết phát triển thông qua mâu thuẫn để xây dựng và pháttriển học thuyết về phép biện chứng duy vật của mình

Cantơ là một trong những nhà triết học vĩ đại nhất của lịch sử tư tưởngphương Tây trước Mác Cantơ với học thuyết về mâu thuẫn cũng đã góp phầnquan trọng trong sự phát triển phép biện chứng với tư cách là logic và phươngpháp luận Ông cho rằng lý tính con người có khát vọng xâm nhập vào lĩnh vực

“vật tự nó” để đạt tới tri thức tuyệt đối vượt ra ngoài giới hạn của kinh nghiệmcảm tính Điều đó nảy sinh những mâu thuẫn (antinômia) Cantơ nêu lên bốn

Trang 20

mâu thuẫn, mỗi mâu thuẫn được cấu tạo từ hai luận đề đối lập nhau Cantơ cóđóng góp cho phép biện chứng là ông xem mâu thuẫn là thuộc về bản chất, cáitính quy định của tư duy Việc tìm ra các atinômia – mâu thuẫn của Cantơ đượcxem là một thành tựu quan trọng của nhận thức triết học, bởi vì bằng điều đóvận động biện chứng của tư duy được đề cao Tuy vậy, Cantơ cũng đã bộc lộnhững hạn chế: ông mới chỉ thừa nhận mâu thuẫn trong tư tưởng, trong lý tínhcon người, chưa nhìn thấy được mâu thuẫn có trong toàn bộ đời sống hiện thựckhách quan Cantơ cũng mới dừng lại ở việc phân tích các mặt đối lập để kếtluận đúng sai, chứ chưa đề xuất các giải pháp để giải quyết mâu thuẫn, và vì thếchưa thấy động lực của việc nảy sinh và giải quyết mâu thuẫn Trên thực tế tất

cả các sự vật, hiện tượng đều chứa đựng mâu thuẫn nhưng ở Cantơ - ông đã hạnchế số lượng các Antinômia - mâu thuẫn

Triết học cổ điển Đức dù chỉ trải qua một giai đoạn lịch sử tương đối ngắnnhưng nó đã tạo ra những thành quả kỳ diệu trong lịch sử triết học Mác đã kếthừa những tư tưởng biện chứng, nâng lên ở trình độ mới của chủ nghĩa duy vậthiện đại

1.1.3 Quan niệm về mâu thuẫn trong triết học Mác - Lênin

Triết học Mác - Lênin ra đời vào những năm 40 của thế kỷ XIX Nó ra đời

do đòi hỏi thực tiễn chính trị - xã hội và là quá trình phát triển hợp quy luật củatriết học và của nhận thức khoa học Triết học Mác là sự kế thừa tất cả nhữngtinh hoa trong lịch sử tư tưởng của nhân loại từ thời cổ đại đến thời đại các ông,dựa trên những thành tựu mới nhất của khoa học hiện đại, khái khát thực tiễnthời đại mình, C.Mác và Ph.Ănghen đã phát triển học thuyết mâu thuẫn biệnchứng lên một tầm cao mới

Các nhà triết học trước Mác tuy đã đề xuất những tư tưởng biện chứng,song nhìn chung còn mang tính chất siêu hình và duy tâm, đặc biệt là nhà triếthọc duy tâm người Đức Hêghen Hêghen có tư tưởng biện chứng về quy luậtlượng – chất Tuy nhiên, sự thay đổi về lượng dẫn đến những thay đổi về chất vàngược lại trong hệ thống triết học của ông chỉ là sự thay đổi thuần túy của cáckhái niệm: chất, lượng, độ Ông cũng có tư tưởng biện chứng về quy luật phủ

Trang 21

định của phủ định Tuy nhiên phủ định trong triết học của ông là hiện thân củatinh thần thế giới chứ không phải của hiện thực khách quan Hêghen cũng có tưtưởng biện chứng về các phạm trù: riêng – chung; bản chất – hiện tượng; nguyênnhân – kết quả… Tuy nhiên, những cặp phạm trù này cũng chỉ là kết quả thahóa của tinh thần thế giới.

Mác và Ănghen đã cải tạo một cách duy vật phép biện chứng duy tâm củaHêghen sau khi tách “hạt nhân hợp lý” vốn có của nó, vứt bỏ lối giải thích duytâm về các hiện tượng tự nhiên và xã hội Các ông cũng đã phê phán và kế thừasáng tạo tri thức nhân loại để tạo nên sự thống nhất giữa chủ nghĩa duy vật vàphép biện chứng Khắc phục sự tách rời giữa thế giới quan duy vật và phươngpháp biện chứng trong lịch sử triết học, C.Mác và Ănghen đã tạo nên sự thốngnhất hữu cơ không thể tách rời giữa chúng là chủ nghĩa duy vật biện chứng Trong phép biện chứng duy vật, các quy luật cơ bản có quan hệ chặt chẽvới nhau Trong đó, quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập đượcxem là hạt nhân của phép biện chứng Triết học Mác đã quan niệm về mâu thuẫnvới tư cách là nguồn gốc động lực của vận động và phát triển trong giới tựnhiên, xã hội và tư duy

C.Mác và Ph.Ănghen trong khi xây dựng phép biện chứng duy vật khoahọc triết học về sự phát triển phổ biến và tính quy luật của việc cải tạo cáchmạng thế giới đã luôn dựa vào thước đo là thực tiễn, đã tiến hành trên lậptrường chính đảng vô sản, một cuộc đấu tranh không mệt mỏi và triệt để với hệ

tư tưởng tư sản và tiểu tư sản Phép biện chứng đã gạt bỏ sự thỏa hiệp với hệ tưtưởng của giai cấp thống trị Thực ra chỉ đứng trên lập trường của giai cấp vôsản, giai cấp mang sứ mệnh phá vỡ xã hội cũ bóc lột, xây dựng xã hội mớicộng sản chủ nghĩa mới có khả năng xây dựng thế giới khoa học triết học duyvật biện chứng

Triết học Mác đã quan niệm về mâu thuẫn với tư cách là nguồn gốc độnglực của vận động và phát triển trong giới tự nhiên, xã hội và tư duy

Trang 22

C.Mác và Ph.Ănghen trong khi xây dựng phép biện chứng duy vật khoahọc triết học về sự phát triển phổ biến và tính quy luật của việc cải tạo cáchmạng thế giới đã luôn dựa vào thước đo là thực tiễn, đã tiến hành trên lập trườngchính đảng vô sản, một cuộc đấu tranh không mệt mỏi và triệt để với hệ tưtưởng tư sản và tiểu tư sản Phép biện chứng đã gạt bỏ sự thỏa hiệp với hệ tưtưởng của giai cấp thống trị C.Mác đã phân tích trước hết cái đơn giản nhất,quen thuộc nhất, thông thường nhất, cái thường gặp, mối quan hệ của xã hội tưsản: sự trao đổi hàng hóa Sự phân tích, phát hiện trong cái hiện tượng đơn giản

ấy mầm mống của tất cả những mâu thuẫn của xã hội hiện đại C.Mác đã nghiêncứu các hiện tượng kinh tế trong mối liên hệ lẫn nhau và trong trạng thái vậnđộng, tức là trong tình trạng mâu thuẫn luôn luôn phát sinh và được giải quyết.Hàng hóa đã được xem xét như là tế bào kinh tế của xã hội tư sản, tức khôngxem nó một cách biệt lập mà xem đó là điểm xuất phát của một chỉnh thể Đồngthời nghiên cứu mâu thuẫn của hàng hóa, mâu thuẫn giữa giá trị và giá trị sửdụng, trong trao đổi giá trị chuyển từ mâu thuẫn bên trong thành mâu thuẫn bênngoài, thành mâu thuẫn giữa hình thái giá trị tương đối và hình thái ngang giá,nhờ có tiền tệ mà mâu thuẫn này đã tìm được lối giải quyết

Mác đã phát hiện ra những mâu thuẫn bên trong của hệ thống tư bản chủnghĩa và coi đó là bản tính tồn tại của nó, là nguồn gốc của sự vận động, pháttriển và tiêu vong của nó Những mâu thuẫn của hệ thống tư bản chủ nghĩa trướchết là những antinomia (mâu thuẫn trong quy luật, sự xung đột của quy luật vớibản thân nó) trong bản chất, tương ứng với những điều đó ông phát hiện ranhững antinomi gay gắt khách quan trong khái niệm chân chính về mỗi quá trìnhthực hiện của nó Mác đã đề cập đến khía cạnh giải quyết mâu thuẫn Sự xungđột định đề và phản đề (antinomi) chẳng qua chỉ là hình thức logic có nội dungmang tính phạm trù của việc đặt bất cứ vấn đề nào nói chung, của việc đặt vàdiễn giải vấn đề bằng ngôn ngữ của bản thân đối tượng Ta thấy rằng thực chấtcủa mâu thuẫn biện chứng chỉ được vạch ra với điều kiện tất yếu là hiểu đượctoàn bộ chức năng đặc thù của nó trong quá trình nhận thức, cụ thể là chức năngcủa nó với tư cách là cái hình thức logic chứa đựng nội dung của chân lý

Trang 23

Trong tác phẩm “Chống Đuyrinh”, Ănghen đã đề cập đến mâu thuẫn Khixem xét các sự vật trong sự vận động sự biến đổi, sự sống sự tác động lẫn nhaucủa chúng, lúc đó chúng ta sẽ lập tức rơi vào những mâu thuẫn, bản thân sự vậnđộng đã là một mâu thuẫn, đó là ở chỗ mâu thuẫn đó cứ luôn luôn sản sinh ra vàđồng thời cũng tự giải quyết lấy Như vậy đã có một mâu thuẫn tồn tại một cáchkhách quan ở trong bản thân các sự vật và các quá trình

Mâu thuẫn là thuộc tính khách quan tồn tại trong tất cả các sự vật, hiệntượng Mâu thuẫn tự đề ra và tự giải quyết không ngừng và khi mâu thuẫn đã hếtthì sự sống cũng không còn nữa Mâu thuẫn tồn tại và được giải quyết trong sựvận động đi lên vô tận

Như vậy, Mác và Ănghen đã có một bước tiến trong việc khám phá quyluật mâu thuẫn, từ đó nguồn gốc và động lực của sự phát triển được lý giải mộtcách đúng đắn

Lênin đã nghiên cứu học thuyết macxit về mâu thuẫn, tiếp tục phát triểnnhững quan điểm của Mác - Ănghen về mâu thuẫn phù hợp với hoàn cảnh mớicủa thời đại

Mác đã chỉ ra rằng, mâu thuẫn cơ bản của xã hội tư sản là mâu thuẫn đốikháng giữa giai cấp tư sản và giai cấp vô sản Mác và Ănghen đã khẳng định vaitrò đấu tranh của các mặt đối lập, xem cuộc đấu tranh giai cấp giữa giai cấp vôsản và giai cấp tư sản là một động lực quan trọng để xóa bỏ chế độ tư bản chủnghĩa, hình thành nên chế độ cộng sản chủ nghĩa Như vậy đấu tranh giai cấp màđỉnh cao là thời kỳ cách mạng được xem như là đòn bẩy để thay đổi hình tháikinh tế xã hội Do đó, đấu tranh giai cấp là động lực trực tiếp của lịch sử xã hội

có giai cấp

Lênin đã phát triển và cụ thể hóa những tư tưởng của Mác Lênin chỉ rarằng sự xuất hiện của chủ nghĩa đế quốc đã dẫn đến chỗ làm xuất hiện hàng loạthiện tượng lịch sử và điều kiện về nguyên tắc của xã hội chế độ tư bản có mâuthuẫn cơ bản của nó là sự đối kháng giữa giai cấp tư sản và vô sản Lênin khẳngđịnh, biện chứng của sự phát triển xã hội trong thời đại đế quốc chủ nghĩa đãlàm nổi lên hai hình thức cơ bản của các mâu thuẫn xã hội Các mâu thuẫn đối

Trang 24

kháng đã tồn tại trong các hình thái có giai cấp trước chủ nghĩa xã hội Chúng cóđặc điểm đó là tính thống nhất của các mặt đối lập về kinh tế, chính trị, tâm lý

xã hội và tư tưởng Trong dạng mâu thuẫn này, một bên là bảo thủ, phản động,

và cố kìm hãm việc giải quyết nó, với một bên là tiến bộ cách mạng, đang làmcho mâu thuẫn này phát triển cao, đó là mâu thuẫn giữa lao động và tư bản,ngoài ra còn có mâu thuẫn giữa chủ nghĩa đế quốc và cuộc đấu tranh giải phóngdân tộc bị áp bức Phương thức giải quyết mâu thuẫn đối kháng này là đấu tranhgiai cấp mà hình thức cao nhất của nó là cách mạng xã hội

Lênin cho rằng trong thời đại đế quốc sẽ xuất hiện một số dạng mâu thuẫnmới Một trong những dạng ấy là mâu thuẫn trong nội bộ bản thân giai cấp cácnhà tư bản, giữa các tổ chức độc quyền riêng rẻ, các liên minh của các tổ chứcđộc quyền, các nhóm cường quốc - đế quốc Dạng đối kháng này có đặc điểm làhai mặt của nó về bản chất đều bảo thủ và phản động Tuy nhiên chỉ bằng sứcmạnh của mình thì giai cấp tư sản không thể giải quyết mâu thuẫn, cũng nhưviệc giải quyết mâu thuẫn sẽ không tránh khỏi việc dẫn đến chỗ làm suy yếu hệthống thế giới của chủ nghĩa đế quốc, thu hẹp ngày càng nhiều lĩnh vực thống trịkinh tế và chính trị của nó Khi phân tích hình thức đối kháng của các mâu thuẫn

xã hội trong chủ nghĩa đế quốc, Lênin đã đi đến kết luận, nó có tính chất lịch sửnhất thời và tất yếu sẽ biến mất cùng với sự diệt vong của chủ nghĩa tư bản vàcủa tất cả các hình thức người bóc lột người khác

Tư tưởng của Lênin về tính chất của các mâu thuẫn đối kháng là cơ sở lýluận quan trọng cho sự phân tích khoa học hiện đại biện chứng của sự phát triển

xã hội và của các mặt, các yếu tố của nó, là những mầm mống của tương lai, của

sự phát triển tiến bộ nhất

Trong thời kỳ quá độ, thời kỳ chứa đựng đối lập giữa cái cũ và cái mới,cuộc đấu tranh của các giai cấp khác nhau và dưới những hình thức khác nhau,thì việc tiếp tục nghiên cứu lý luận về mâu thuẫn và về việc ứng dụng nó trênthực tế là có ý nghĩa hàng đầu Trong thời kỳ ấy, hình thành những tính quy luậtkhác so với chế độ tư bản chủ nghĩa và những tính quy luật này đã quy địnhphương hướng tư tưởng của Lênin

Trang 25

Lênin khảo sát về quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập, lýluận về những mâu thuẫn biện chứng liên quan đến thời kỳ quá độ Khi nghiêncứu vấn đề về những mâu thuẫn của thời kỳ quá độ, Lênin xem xét chúng trong

sự tác động qua lại và liên hệ qua lại, với tính cách là một hệ thống những mâuthuẫn, và đã xác định những mâu thuẫn chủ yếu và thứ yếu, phổ biến và đặc thù,bên trong và bên ngoài Lênin đã đóng góp nhiều điều mới mẻ vào mặt này củahọc thuyết Macxit về mâu thuẫn

Lênin chỉ ra rằng, mâu thuẫn chủ yếu là mâu thuẫn có ý nghĩa hàng đầu đốivới một hiện tượng hay một quá trình ở một giai đoạn phát triển nhất định củanó

Lênin cũng đã đưa ra định nghĩa về mâu thuẫn cơ bản, đó là mâu thuẫn thểhiện chính bản chất của một hiện tượng nào đó, của một quá trình nào đó và cóảnh hưởng quyết định tới tất cả những mâu thuẫn khác

Trong học thuyết mácxít về mâu thuẫn, Lênin cũng đã cụ thể hóa cả vấn đềtác động qua lại giữa mâu thuẫn bên trong và mâu thuẫn bên ngoài Lênin nhấnmạnh sự cần thiết phải tính đến sự tác động qua lại của mâu thuẫn bên trong vàmâu thuẫn bên ngoài nhằm đánh giá đúng đắn vai trò của mâu thuẫn này haymâu thuẫn khác trong sự phát triển của các hiện tượng và quá trình

Lênin đã phát hiện ra và luận chứng một cách toàn diện tính quy luật củabước quá độ từ chủ nghĩa tư bản sang chủ nghĩa xã hội với tính cách là một sựphát triển lịch sử từ những mâu thuẫn đối kháng sang mâu thuẫn không đốikháng Lênin đã phân tích tất cả các hình thức và các dạng mâu thuẫn trong thời

kỳ quá độ

Quy luật mâu thuẫn vạch ra nguồn gốc, động lực của sự vận động, pháttriển của bản thân sự vật, hiện tượng; phản ánh quá trình đấu tranh giải quyếtmâu thuẫn bên trong sự vật

Với tư cách là người kế tục và bảo vệ sự nghiệp của C.Mác và Ph.Ănghen,V.I.Lênin đã phát triển học thuyết về mâu thuẫn lên một tầm cao mới Lênin đãđưa ra những quan điểm đầy đủ và sâu sắc, cùng với nó là những luận chứng sắc

Trang 26

bén nhằm làm rõ thêm quy luật mâu thuẫn với tư cách là hạt nhân của phép biệnchứng

1.2 Nội dung của quy luật mâu thuẫn

Lịch sử phát triển của triết học là lịch sử phát triển của tư duy triết học gắnvới cuộc đấu tranh của hai phương pháp tư duy – biện chứng và siêu hình Chínhcuộc đấu tranh lâu dài của hai phương pháp này đã thúc đẩy tư duy triết học pháttriển và được hoàn thiện dần với thắng lợi của tư duy biện chứng duy vật

Phép biện chứng duy vật là sự thống nhất hữu cơ giữa lý luận và phươngpháp Hệ thống các quy luật, phạm trù của nó không chỉ phản ánh đúng đắn thếgiới khách quan mà còn chỉ ra những cách thức để định hướng cho con ngườinhận thức và cải tạo thế giới Phép biện chứng duy vật không chỉ khái quátnhững thành tựu của tất cả các khoa học cụ thể, mà còn kết tinh những tinh hoatrong quá trình phát triển tư tưởng triết học của nhân loại Phép biện chứng duyvật trình bày một cách có hệ thống chặt chẽ tính chất biện chứng của thế giớithông qua những phạm trù và những quy luật chung nhất của thế giới (tự nhiên,

xã hội và tư duy)

Ba quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật có ý nghĩa phương phápluận chỉ đạo mọi hoạt động của con người, trong đó, quy luật thống nhất và đấutranh của các mặt đối lập (gọi tắt là quy luật mâu thuẫn) là hạt nhân của phépbiện chứng Nghiên cứu quy luật này để thấy rõ được nguồn gốc, động lực của

sự vận động và phát triển Quy luật này vạch ra nguồn gốc, động lực của sự pháttriển; phản ánh quá trình đấu tranh giải quyết mâu thuẫn bên trong sự vật Từ đó,phải vận dụng nguyên tắc mâu thuẫn mà ý đồ cơ bản của nó là phải nhận thứcđúng đắn mâu thuẫn của sự vật, trước hết là mâu thuẫn cơ bản và mâu thuẫn chủyếu, phải phân tích mâu thuẫn và quá trình đấu tranh giải quyết mâu thuẫn Đấutranh là phương thức giải quyết mâu thuẫn” Tuy nhiên, hình thức đấu tranh rất

đa dạng, linh hoạt, tùy thuộc mâu thuẫn cụ thể và hoàn cảnh lịch sử cụ thể

Theo quan điểm biện chứng thì sự vật nào cũng là một thể thống nhất củacác mặt đối lập, tức là, các mặt có xu hướng, khuynh hướng trái ngược nhau.Chính sự tác động lẫn nhau giữa các mặt đối lập tạo nên mâu thuẫn sự vật

Trang 27

Khi nói đến mâu thuẫn biện chứng là nói đến mâu thuẫn tất yếu của nhữngmặt trái ngược nhau Ví dụ, điện có cực âm, cực dương Trong các mặt đối lập,chúng vừa đấu tranh với nhau ( Với nghĩa tác động theo xu hướng trái ngượcnhau) nhưng các mặt đối lập lại là thống nhất với nhau.

Mâu thuẫn tồn tại từ khi sự vật xuất hiện cho đến khi sự vật kết thúc Trongcùng một sự vật, hiện tượng không chỉ có một mâu thuẫn mà có thể có rất nhiềumâu thuẫn, khi mâu thuẫn này được giải quyết thì mâu thuẫn khác lại hìnhthành Và cứ như vậy thế giới vật chất luôn vận động, biến đổi không ngừng

Sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập tạo thành xung lực nội tại của

sự vận động và phát triển, dẫn tới sự mất đi của cái cũ và nhường chỗ cho sự rađời của cái mới

1.2.1 Mâu thuẫn là một hiện tượng khách quan và phổ biến

Những nhà triết học theo quan điểm siêu hình phủ nhận mâu thuẫn bêntrong của sự vật hiện tượng, chỉ thừa nhận có sự đối kháng, sự xung đột bênngoài giữa các sự vật, hiện tượng với nhau, nhưng không cho đó là có tính quyluật

Phép biện chứng duy vật khẳng định rằng, mọi sự vật hiện tượng trong thếgiới đều tồn tại mâu thuẫn bên trong; mỗi sự vật hiện tượng đều là một thể thốngnhất giữa các mặt, các thuộc tính, các khuynh hướng đối lập nhau, những mặtđối lập nhau nhưng lại ràng buộc nhau nên nó tạo thành mâu thuẫn

Mâu thuẫn chẳng những là hiện tượng khách quan mà còn là hiện tượngphổ biến

Trong quan điểm của triết học Mác thì rõ ràng vật chất tự thân vận động,

nó hoàn toàn không phụ thuộc vào một lực lượng siêu nhiên nào, kể cả conngười Chính vì vậy mà khi thừa nhận mâu thuẫn là nguồn gốc của vận động thì

nó đã bao hàm mâu thuẫn là một hiện tượng khách quan, nó không những không

lệ thuộc vào ý thức của con người mà còn chi phối, quy định cả hoạt động thựctiễn của con người

Mâu thuẫn là cái vốn có ở mọi sự vật, hiện tượng Mâu thuẫn hình thành,phát triển là do cấu trúc tự thân bên trong sự vật quy định

Trang 28

Bản thân sự vận động đã là một mâu thuẫn, cho nên vận động chính là ởchỗ mâu thuẫn đó cứ luôn nảy sản sinh và đồng thời tự giải quyết lấy Như vậy,mâu thuẫn là thuộc tính khách quan tồn tại trong tất cả các sự vật, hiện tượng.Mâu thuẫn tự đề ra và tự giải quyết không ngừng, khi mâu thuẫn đã hết thì sựsống cũng không còn nữa Khẳng định tính phổ biến của mâu thuẫn là trong mọi

sự vật hiện tượng cũng như trong mọi giai đoạn phát triển của sự vật, hiện tượngđều có mâu thuẫn

Mâu thuẫn là hiện tượng phổ biến có nghĩa là mâu thuẫn tồn tại trong tất cảcác lĩnh vực tự nhiên, xã hội và tư duy Trong nguyên tử có mâu thuẫn giữa hạtnhân mang điện tích dương và các ê-léc-tơ-ron bao quanh mang điện tích âm.Trong sinh vật học có mâu thuẫn giữa đồng hóa và dị hóa, di truyền và biến dị.Trong xã hội có mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, giữa cơ

sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng, giữa các giai cấp đối kháng Trong tư duycũng có mâu thuẫn giữa biết và chưa biết, giữa đúng và sai Mâu thuẫn tồn tạiphổ biến chẳng những ở mọi sự vật hiện tượng, mà còn phổ biến trong suốt quátrình vận động và phát triển của chúng Chủ nghĩa tư bản từ khi ra đời tới lúcdiệt vong đều mang đầy mâu thuẫn và ở các giai đoạn phát triển của nó, hìnhthức và trình độ mâu thuẫn biểu hiện khác nhau Mâu thuẫn tồn tại từ khi sự vậtxuất hiện cho đến khi kết thúc Mâu thuẫn tồn tại ở mọi không gian, thời gian,mọi giai đoạn phát triển Mâu thuẫn này mất đi thì mâu thuẫn khác lại hìnhthành Trong mỗi sự vật không phải chỉ có một mâu thuẫn mà có thể có nhiềumâu thuẫn, vì trong cùng một lúc có rất nhiều mặt đối lập Quá trình tác độngchuyển hóa, bài trừ, phủ định lẫn nhau tạo thành động lực bên trong của mọi quátrình vận động và phát triển khách quan của chính bản thân các sự vật, hiệntượng

Mâu thuẫn là hiện tượng khách quan và phổ biến, trong tất cả các sự vậtđều tồn tại mâu thuẫn, sự vật hiện tượng khác nhau thì chứa đựng những mâuthuẫn khác nhau, bản thân sự mâu thuẫn cũng có sự vận động và biến đổi khácnhau trong từng giai đoạn Trong những điều kiện cụ thể khác nhau, mâu thuẫnthể hiện ra dưới nhiều hình thức đa dạng và phong phú khác nhau:

Trang 29

Mâu thuẫn bên trong và mâu thuẫn bên ngoài.

Mâu thuẫn cơ bản và mâu thuẫn không cơ bản

Mâu thuẫn chủ yếu và mâu thuẫn thứ yếu

Mâu thuẫn đối kháng và mâu thuẫn không đối kháng

1.2.2 Các măt đối lập của mâu thuẫn vừa thống nhất vừa đấu tranh với nhau

Trong mâu thuẫn, hai mặt đối lập vừa có quan hệ thống nhất với nhau, vừađấu tranh với nhau

Trong phép biện chứng duy vật, khái niệm mặt đối lập là sự khái quátnhững thuộc tính, những khuynh hướng ngược chiều nhau tồn tại trong cùngmột sự vật hiện tượng, tạo nên sự vật hiện tượng đó Do đó, cần phải phân biệtrằng không phải bất kỳ mặt đối lập nào cũng tạo thành mâu thuẫn Bởi vì trongcác sự vật hiện tượng của thế giới khách quan không phải chỉ tồn tại hai mặt đốilập Trong cùng một thời điểm ở mỗi sự vật hiện tượng có thể cùng tồn tại nhiềumặt đối lập Chỉ có những mặt đối lập là tồn tại thống nhất trong cùng một sựvật như một chỉnh thể, nhưng có khuynh hướng phát triển ngược chiều nhau, bàitrừ, phủ định và chuyển hoá lẫn nhau (sự chuyển hoá này tạo thành nguồn gốcđộng lực, đồng thời quy định bản chất, khuynh hướng phát triển của sự vật, thìhai mặt đối lập như vậy mới gọi là hai mặt đối lập mâu thuẫn)

Khái niệm “thống nhất” trong quy luật mâu thuẫn có nghĩa là hai mặt đốilập liên hệ nhau, ràng buộc nhau và quy định lẫn nhau Mặt đối lập này lấy mặtđối lập kia làm tiền đề cho sự tồn tại của mình và ngược lại Nếu thiếu một tronghai mặt đối lập chính tạo thành sự vật thì nhất định không có sự tồn tại của sựvật Bởi vậy sự thống nhất của các mặt đối lập là điều kiện không thể thiếu đượccho sự tồn tại của bất kỳ sự vật, hiện tượng nào

Khái niệm “thống nhất” trong quy luật mâu thuẫn còn đồng nghĩa với kháiniệm “đồng nhất”, đó là sự thừa nhận những khuynh hướng mâu thuẫn bài trừlẫn nhau trong tất cả các hiện tượng, các quá trình của tự nhiên, xã hội và tưduy, song “đồng nhất” còn có ý nghĩa khác, đó là sự chuyển hoá lẫn nhau giữacác mặt đối lập; và như vậy sự “đồng nhất” là không tách rời với sự khác nhau

Trang 30

và đối lập (Ví dụ liên hệ: một vật vừa là nó vừa không phải là nó Quan điểmnày hoàn toàn đối lập với quan điểm siêu hình phiến diện, xem sự vật mang tínhđồng nhất thuần tuý không có đối lập, không có sự chuyển hoá)

Chúng ta biết rằng, tất cả mọi sự vật và hiện tượng luôn luôn ở trạng tháivận động và biến hóa Đó là sự thống nhất liên hệ ở bên trong của cái đang tồntại và cái đang biến hóa, của tính đồng nhất và khác biệt, của yên tĩnh và vậnđộng, của cái biến đi và cái xuất hiện Cần phải chú ý đến những mặt của nó,xem xét những mặt đó trong mối liên hệ với nhau, thâm nhập vào nhau để thấy

và giải thích được sự vận động Sự vận động và biến hóa là sự thống nhất, sựthâm nhập lẫn nhau giữa các mặt đối lập, sẽ không có mặt này nếu không có mặtkia, sẽ không có cái toàn bộ nếu không có mối liên hệ giữa hai mặt đó Sự thốngnhất giữa các mặt đối lập là ở chỗ mỗi sự vật, hiện tượng chứa đựng bên trongmình cái khác với nó, cái đối lập với nó, nhờ vậy mà nó vượt ra khỏi giới hạntồn tại của nó và trong một ý nghĩa nhất định nó đồng nhất với cái không tồn tại

Sự thống nhất của các mặt đối lập đó là sự cùng tồn tại, sự liên kết, nươngtựa, bổ sung cho nhau của các mặt đối lập trong trong cùng một sự vật Nếukhông có sự thống nhất giữa chúng sẽ không có bất kỳ sự “tự vận động” tất yếu ,

sẽ không có bất kỳ sự phát triển nào

Đấu tranh của các mặt đối lập:

Sự thống nhất của các mặt đối lập trong cùng một sự vật không tách rời sựđấu tranh chuyển hóa giữa chúng Bởi vì các mặt đối lập cùng tồn tại trong một

sự vật thống nhất như một chỉnh thể trọn vẹn nhưng không nằm yên bên nhau

mà điều chỉnh chuyển hoá lẫn nhau tạo thành động lực phát trển của bản thân sựvật Đấu tranh của các mặt đối lập trong mâu thuẫn biện chứng được hiểu là sựtác động qua lại theo xu hướng bài trừ, phủ định nhau của các mặt đối lập “Đấutranh” giữa các mặt đối lập trong thế giới khách quan diễn ra dưới nhiều hìnhthức rất phong phú và đa dạng, có cả trong tự nhiên, xã hội và tư duy

Ví dụ: Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong giai cấp có đối kháng,mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất tiến tiến với quan hệ sản xuất lạc hậu kìmhãm nó diễn ra rất quyết liệt và gay gắt Chỉ thông qua các cuộc cách mạng xã

Trang 31

hội bằng rất nhiều hình thức, kể cả bạo lực mới có thể giải quyết mâu thuẫn mộtcách căn bản.

Sự đấu tranh của các mặt đối lập là một quá trình phức tạp, diễn ra từ thấpđến cao và gồm nhiều giai đoạn, mỗi giai đoạn có những đặc điểm riêng Thôngthường, khi nó mới xuất hiện, hai mặt đối lập chưa thể hiện rõ xung khắc gaygắt, người ta gọi đó là giai đoạn khác nhau Tất nhiên không phải bất kỳ sự khácnhau nào cũng được gọi là mâu thuẫn Chỉ có những khác nhau tồn tại trong một

sự vật nhưng liên hệ hữu cơ với nhau, phát triển ngược chiều nhau, tạo thànhđộng lực bên trong của sự phát triển thì hai mặt đối lập ấy mới hình thành bướcđầu của một mâu thuẫn Khi hai mặt đối lập của một mâu thuẫn phát triển đếngiai đoạn xung đột gay gắt nó biến thành độc lập Sự vật cũ mất đi, sự vật mớihình thành Sau khi mâu thuẫn được giải quyết, sự thống nhất của hai mặt đốilập cũ được thay thế bởi sự thống nhất của hai mặt đối lập mới, hai mặt đối lậpmới lại đấu tranh chuyển hoá tạo thành mâu thuẫn, mâu thuẫn được giải quyết

sự vật mới xuất hiện Cứ như thế, đấu tranh giữa các mặt đối lập làm cho sự vậtbiến đổi không ngừng từ thấp đến cao Chính vì vậy, Lênin khẳng định “sự pháttriển là một cuộc “đấu tranh” giữa các mặt đối lập” [24; 379]

Quá trình phát triển của mâu thuẫn vừa có thống nhất vừa có đấu tranh.Thống nhất và đấu tranh có quan hệ chặt chẽ với nhau, không có thống nhất thìkhông có đấu tranh Nhưng hai mặt đó có tính chất và tác dụng khác nhau: thốngnhất là điều kiện của đấu tranh, đấu tranh là nguồn gốc của sự phát triển; thốngnhất là tương đối, đấu tranh là tuyệt đối

Khi bàn về mối quan hệ giữa sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đốilập, Lênin chỉ ra rằng: “Mặc dù thống nhất chỉ là điều kiện để sự vật tồn tại với

ý nghĩa là chính nó - nhờ có sự thống nhất của các mặt đối lập mà chúng ta nhậnbiết được sự vật, hiện tượng tồn tại trong thế giới khách quan” Song bản thâncủa sự thống nhất chỉ là tương đối và tạm thời, nghĩa là nó tồn tại trong trạngthái đứng im tương đối của sự vật hiện tượng Còn sự đấu tranh giữa các mặt đốilập mới là tuyệt đối Nó diễn ra thường xuyên, liên tục trong suốt quá trình tồntại của sự vật Kể cả trong trạng thái sự vật ổn định, cũng như khi chuyển hoá

Trang 32

nhảy vọt về chất Sự đấu tranh của các mặt đối lập tạo nên tính chất tự nhiên,liên tục của sự vận động, phát triển của sự vật Lênin viết: “Sự thống nhất (phùhợp, đồng nhất, tác dụng ngang nhau) của các mặt đối lập là có điều kiện, tạmthời, thoáng qua, tương đối Sự đấu tranh của các mặt đối lập bài trừ lẫn nhau làtuyệt đối, cũng như sự phát triển, sự vận động là tuyệt đối” [24; 379-280].

Thống nhất tương đối và đấu tranh tuyệt đối liên hệ khăng khít với nhau.Không thể tuyệt đối hóa mặt này mà phủ nhận mặt kia Tuyệt đối hóa đấu tranh

sẽ dẫn tới tả khuynh Tuyệt đối hóa tính tương đối của thống nhất sẽ dẫn tới hữukhuynh Mỗi sự vật và hiện tượng đều là sự thống nhất và đấu tranh của các mặtđối lập, trong đó đấu tranh của các mặt đối lập là nguồn gốc, động lực của sựphát triển

1.2.3 Sự đấu tranh và chuyển hóa của các mặt đối lập là nguồn gốc, động lực của sự phát triển

Như chúng ta đã biết, không phải bất kỳ sự đấu tranh của các mặt đối lậpđều dẫn đến sự chuyển hoá giữa chúng Chỉ có sự đấu tranh của các mặt đối lậpphát triển đến mức độ nhất định, hội tụ tất cả các điều kiện cần thiết mới dẫn đến

sự chuyển hoá, bài trừ phủ định lẫn nhau Trong giới tự nhiên, chuyển hoá củacác mặt đối lập thường diễn ra một cách tự phát, còn trong xã hội, chuyển hoácủa các mặt đối lập nhất thiết phải diễn ra thông qua hoạt động có ý thức củacon người

Do đó, không nên hiểu sự chuyển hoá lẫn nhau giữa các mặt đối lập chỉ là

sự hoán đổi vị trí một cách đơn giản, máy móc, mà đây là quá trình diễn ra hếtsức phức tạp, trải qua nhiều khâu trung gian Tùy mỗi sự vật, hiện tượng mà có

sự chuyển hóa khác nhau Thông thường thì mâu thuẫn chuyển hoá theo haiphương thức:

Phương thức thức nhất: Mặt đối lập này chuyển hoá thành mặt đối lập kia

và ngược lại nhưng ở trình độ cao hơn xét về phương diện chất của sự vật

Ví dụ: Mâu thuẫn giữa vô sản và tư sản biểu hiện thành cuộc cách mạng vôsản lật đổ giai cấp tư sản

Trang 33

Hay, lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong xã hội phong kiến đấutranh chuyển hoá lẫn nhau để hình thành quan hệ sản xuất mới là quan hệ sảnxuất tư bản chủ nghĩa và lực lượng sản xuất mới ở trình độ cao hơn.

Phương thức thứ hai: Cả hai mặt đối lập chuyển hoá lẫn nhau để thành haimặt đối lập mới hoàn toàn

Ví dụ: Giải quyết mâu thuẫn giữa nông dân và địa chủ (chế độ phong kiến),

xã hội lại xuất hiện mâu thuẫn mới là mâu thuẫn giữa tư sản và vô sản (chế độ tưbản chủ nghĩa)

Hay: Nền kinh tế Việt Nam chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung,quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo địnhhướng xã hội chủ nghĩa

Từ những mâu thuẫn trên cho ta thấy trong thế giới hiện thực, bất kỳ sự vậthiện tượng nào cũng chứa đựng trong bản thân nó những mặt, những thuộc tính

có khuynh hướng phát triển ngược chiều nhau Sự đấu tranh chuyển hoá của cácmặt đối lập trong điều kiện cụ thể tạo thành mâu thuẫn Mâu thuẫn là hiện tượngkhách quan, phổ biến của thế giới Mâu thuẫn được giải quyết, sự vật cũ mất đi,

sự vật mới hình hành Sự vật mới lại nảy sinh các mặt đối lập và mâu thuẫn mới.Các mặt đối lập trong mâu thuẫn mới lại đấu tranh chuyển hoá và phủ địnhlẫn nhau để tạo thành sự vật mới hơn, tiến bộ hơn Cứ như vậy mà các sự vật,hiện tượng trong thế gới khách quan thường xuyên phát triển và biến đổi khôngngừng Vì vậy mâu thuẫn là nguồn gốc và động lực của mọi quá trình vận độngphát triển của sự vật, hiện tượng Với câu nói nổi tiếng của Hêraclit càng minhchứng rõ điều này: “Chúng ta không thể tắm hai lần trên cùng một dòng sông”.Chủ nghĩa duy vật biện chứng tìm thấy nguồn gốc của sự vận động và pháttriển ở mâu thuẫn, ở sự đấu tranh giữa các khuynh hướng, các mặt đối lập tồn tạitrong các sự vật và hiện tượng C.Mác khẳng định rằng: Cái cấu thành bản chấtcủa sự vật biện chứng, chính là sự cùng tồn tại của hai mặt mâu thuẫn, sự đấutranh của hai mặt ấy và sự dung hợp của hai mặt ấy thành một phạm trù mới.Vậy mâu thuẫn là sự tác động lẫn nhau của các mặt, các khuynh hướng đối lập

Sự tác động qua lại, sự đấu tranh của các mặt đối lập quy định một cách tất yếu

Trang 34

những thay đổi của các mặt đang tác động qua lại, cũng như sự vật nói chung,

nó là nguồn gốc vận động và phát triển, là xung lực của sự sống Như vậy, tathấy rằng chính mâu thuẫn là nguồn gốc, là động lực của sự vận động và pháttriển của mọi sự vật, hiện tượng

1.2.4 Một số loại mâu thuẫn

Mâu thuẫn tồn tại trong tất cả các sự vật, hiện tượng cũng như trong tất cảcác giai đoạn phát triển của chúng Mâu thuẫn hết sức phong phú, đa dạng Tínhphong phú, đa dạng đó được quy định một cách khách quan bởi đặc điểm củacác mặt đối lập, bởi điều kiện tác động qua lại của chúng, bởi trình độ tổ chứccủa hệ thống (sự vật) mà trong đó mâu thuẫn tồn tại

+ Căn cứ vào quan hệ đối với sự vật được xem xét, người ta phân biệt cácmâu thuẫn thành mâu thuẫn bên trong và mâu thuẫn bên ngoài

Mâu thuẫn bên trong là mâu thuẫn nằm ngay trong chính bản thân sự vật,quyết định bản chất, xu thế vận động của chính bản thân sự vật Mâu thuẫn bênngoài là mâu thuẫn giữa các sự vật, hiện tượng với nhau

Việc phân chia mâu thuẫn thành mâu thuẫn bên trong và mâu thuẫn bênngoài chỉ là tương đối, tuỳ theo phạm vi xem xét

Mâu thuẫn bên trong có vai trò quyết định trực tiếp đối với quá trình vậnđộng và phát triển Tuy nhiên, mâu thuẫn bên trong và mâu thuẫn bên ngoàikhông ngừng tác động qua lại lẫn nhau Việc giải quyết mâu thuẫn bên trongkhông thể tách rời việc giải quyết mâu thuẫn bên ngoài; việc giải quyết mâuthuẫn bên ngoài là điều kiện để giải quyết mâu thuẫn bên trong

+ Căn cứ vào ý nghĩa đối với sự tồn tại và phát triển của toàn bộ sự vật,mâu thuẫn được chia thành mâu thuẫn cơ bản và mâu thuẫn không cơ bản

Mâu thuẫn cơ bản là mâu thuẫn quy định bản chất của sự vật, quy định sựphát triển ở tất cả các giai đoạn của sự vật, nó tồn tại trong suốt quá trình tồn tạicác sự vật Mâu thuẫn cơ bản được giải quyết thì sự vật sẽ thay đổi căn bản vềchất Mỗi sự vật, hiện tượng có một hoặc nhiều mâu thuẫn cơ bản tùy từng giaiđoạn phát triển khác nhau

Trang 35

Mâu thuẫn không cơ bản là mâu thuẫn chỉ đặc trưng cho một phương diệnnào đó của sự vật, nó không quy định bản chất của sự vật Mâu thuẫn đó nảysinh hay được giải quyết không làm cho sự vật thay đổi căn bản về chất Trongcùng một sự vật, hiện tượng mâu thuẫn cơ bản và mâu thuẫn không cơ bản tồntại gắn liền với nhau và mâu thuẫn không cơ bản chịu sự chi phối của mâu thuẫn

cơ bản

+ Căn cứ vào vai trò của mâu thuẫn đối với sự tồn tại và phát triển của sựvật trong một giai đoạn nhất định, các mâu thuẫn được chia thành mâu thuẫnchủ yếu và mâu thuẫn thứ yếu

Mâu thuẫn chủ yếu là mâu thuẫn nổi lên hàng đầu ở một giai đoạn pháttriển nhất định của sự vật, nó chi phối các mâu thuẫn khác trong giai đoạn đó.Giải quyết được mâu thuẫn chủ yếu trong từng giai đoạn là điều kiện cho sự vậtchuyển sang giai đoạn phát triển mới

Mâu thuẫn thứ yếu là mâu thuẫn ra đời và tồn tại trong một giai đoạn pháttriển nào đó của sự vật, nhưng nó không đóng vai trò chi phối mà bị mâu thuẫnchủ yếu chi phối Giải quyết mâu thuẫn thứ yếu là góp phần vào việc từng bướcgiải quyết mâu thuẫn chủ yếu

+ Căn cứ vào tính chất của các quan hệ lợi ích, người ta chia mâu thuẫntrong xã hội thành mâu thuẫn đối kháng và mâu thuẫn không đối kháng

Mâu thuẫn đối kháng là mâu thuẫn giữa những giai cấp, những tập đoànngười có khuynh hướng xã hội đối lập nhau về lợi ích cơ bản

Mâu thuẫn không đối kháng là mâu thuẫn giữa những lực lượng xã hội cóđối lập về lợi ích không cơ bản, cục bộ tạm thời

Việc phân biệt các nhóm mâu thuẫn ảnh hưởng đến việc lựa chọn cách thứcgiải quyết mâu thuẫn, xây dựng mục tiêu và phương pháp hành động

1.3 Ý nghĩa phương pháp luận của quy luật mâu thuẫn

Việc nghiên cứu quy luật mâu thuẫn có ý nghĩa quan trọng trong nhận thức

và hoạt động thực tiễn

Quy luật mâu thuẫn đem lại phương pháp luận khoa học cho việc xem xét

và giải quyết các vấn đề, phương pháp phân tích, giải quyết mâu thuẫn

Trang 36

Để nhận thức đúng bản chất sự vật và tìm ra phương hướng và giải phápđúng cho hoạt động thực tiễn, phải đi sâu nghiên cứu phát hiện ra mâu thuẫn của

sự vật Muốn phát hiện ra mâu thuẫn phải tìm ra trong thể thống nhất nhữngmặt, những khuynh hướng trái ngược nhau, tức tìm ra những mặt đối lập và tìm

ra những mối liên hệ, tác động qua lại lẫn nhau giữa các mặt đối lập đó V.Lêninviết: “Sự phân đôi của cái thống nhất và sự nhận thức các bộ phận của nó…, đó

là thực chất… của phép biện chứng” [24; 378]

Mâu thuẫn là hiện tượng phổ biến, nó tồn tại trong mọi mặt của đời sống xãhội dưới nhiều hình thức khác nhau: mâu thuẫn bên trong và mâu thuẫn bênngoài, mâu thuẫn cơ bản và mâu thuẫn không cơ bản, mâu thuẫn chủ yếu và mâuthuẫn thứ yếu, mâu thuẫn đối kháng và mâu thuẫn không đối kháng

Trong hoạt động thực tiễn, mâu thuẫn tồn tại dưới nhiều hình thức khácnhau, việc phân tích mâu thuẫn có ý nghĩa rất quan trọng Khi phân tích mâuthuẫn, phải xem xét quá trình phát sinh, phát triển của từng mâu thuẫn, xem xétvai trò, vị trí và mối quan hệ lẫn nhau của các mâu thuẫn; phải xem xét quá trìnhphát sinh, phát triển và vị trí của từng mặt đối lập, mối quan hệ tác động qua lạigiữa chúng, điều kiện chuyển hoá lẫn nhau giữa chúng Chỉ có như thế mới cóthể hiểu đúng mâu thuẫn của sự vật, hiểu đúng xu hướng vận động, phát triển vàđiều kiện để giải quyết mâu thuẫn

Như chúng ta đã biết trong mỗi sự vật, hiện tượng không chỉ có một mâuthuẫn mà cùng một lúc có thể có rất nhiều mâu thuẫn Việc giải quyết mâu thuẫn

là tất yếu, nhưng không thể cùng một lúc chúng ta giải quyết được tất cả cácmâu thuẫn Chính vì thế mà phải xác định xem mâu thuẫn nào phải giải quyếttrước Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Bất cứ địa phương nào, cơ quan nào, thườngtrong mọt lúc có nhiều công việc trọng yếu Trong một thời gian đó, lại có mộtcông việc trọng yếu nhất và vài ba việc trọng yếu vừa Người lãnh đạo trong địaphương hoặc cơ quan đó phải xem xét kỹ hoàn cảnh mà sắp đặt công việc chođúng Việc chính, việc gấp thì làm trước Không nên luộm thuộm, không có kếhoạch, gặp việc nào làm việc ấy, thành thử việc nào cũng là việc chính, lộn xộn,không có ngăn nắp”

Trang 37

Ví dụ: Một trong những nguyên nhân dẫn đến sự sụp đổ của chủ nghĩa xãhội hiện thực ở Liên xô và Đông Âu là: Tiến hành cải tổ không theo một trình tự

rõ ràng, đã có sự phê phán đối với “sự trì trệ” nhưng không xác định được mâuthuẫn nào cần được giải quyết trước, và chúng được thực hiện theo sự nhất quánnào, vào thời gian nào, trong điều kiện nào Từ đó dẫn đến hiện tượng luốngcuống, hỗn độn, mất ổn định của nhà nước và xã hội

Trong hoạt động thực tiễn, phát hiện và nhận thức mâu thuẫn là rất quantrọng, không nên lảng tránh và che dấu mâu thuẫn Việc đấu tranh giải quyếtmâu thuẫn phải phù hợp với trình độ phát triển của mâu thuẫn Phải tìm raphương thức, phương tiện và lực lượng để giải quyết mâu thuẫn Mâu thuẫn chỉđược giải quyết khi điều kiện đã chín muồi Một mặt, phải chống thái độ chủquan, nóng vội; mặt khác phải tích cực thúc đẩy các điều kiện khách quan đểlàm cho các điều kiện giải quyết mâu thuẫn đi đến chín muồi Mâu thuẫn khácnhau phải có phương pháp giải quyết khác nhau Phải tìm ra các hình thức giảiquyết mâu thuẫn một cách linh hoạt, vừa phù hợp với từng loại mâu thuẫn, vừaphù hợp với điều kiện cụ thể

Mâu thuẫn được giải quyết bằng quá trình đấu tranh theo quy luật kháchquan Cho nên trong đời sống xã hội chúng ta phải coi hành vi đấu tranh là chânchính

Ngày đăng: 01/01/2014, 11:26

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[15] Trần Thanh Giang, “Vấn đề lợi ích kinh tế của người nông dân trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta hiện nay”, Tạp chí triết học số 5(228), tháng 5 – 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề lợi ích kinh tế của người nông dân trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta hiện nay
[16] Lương Đình Hải, “Trách nhiệm đào tạo nguồn nhân lực trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay”, Tạp chí triết học số 12 (223), tháng 12 – 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trách nhiệm đào tạo nguồn nhân lực trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay
[18] Nguyễn Văn Hoà, “Phát triển giáo dục và đào tạo - một động lực để phát triển kinh tế tri thức ở nước ta hiện nay”, Tạp chí triết học số 12(223), tháng 12 – 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển giáo dục và đào tạo - một động lực để phát triển kinh tế tri thức ở nước ta hiện nay
[19] Trần Đức Hiến, “Về mâu thuẫn đối kháng và mâu thuẫn không đối kháng”, Tạp chí triết học số 2 - 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về mâu thuẫn đối kháng và mâu thuẫn không đối kháng
[22] Nguyễn Thị Hồng, “Quan niệm biện chứng của Lão Tử về thế giới”, Tạp chí triết học số 3, tháng 3 - 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan niệm biện chứng của Lão Tử về thế giới
[23] Đỗ Minh Hợp, “Ý nghĩa của phép biện chứng Hêghen”, Tạp chí triết học số 4, tháng 4 - 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ý nghĩa của phép biện chứng Hêghen
[29] Đặng Hữu Toàn, Khái niệm “logos” trong lịch sử triết học Hêraclit Tạp chí triết học số 4, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: logos
[1] Bộ giáo dục và đào tạo, giáo trình triết học Mác – Lênin, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội - 2002 Khác
[2] Bộ giáo dục và đào tạo, giáo trình kinh tế chính trị, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội - 2004 Khác
[3] Bộ giáo dục và đào tạo, Giáo trình triết học, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội - 2007 Khác
[4] Bộ giáo dục và đào tạo, Giáo trình những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội - 2009 Khác
[5] Nguyễn Trọng Chuẩn, Nguyễn Thế Nghĩa, Đặng Hữu Toàn, Công nghiệp hoá, hiện đại hoá lý luận và thực tiễn, Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội – 2002 Khác
[6] C.Mác - Ănghen: toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội - 1994, tập 20, 23 Khác
[8] Doãn Chính (chủ biên). Đại cương lịch sử triết học phương Đông cổ đại, Hà Nội - 1998 Khác
[9] Doãn Chính, Đại cương triết học Trung Quốc, Nhà xuất bản Thanh Niên, 2002 Khác
[10] Phạm Minh Chính, Một số giải pháp góp phần ổn định nền kinh tếViệt Nam năm 2011, Tạp chí Cộng sản, tháng 4 - 2011 Khác
[11] Nguyễn Tiến Dũng (2006), Lịch sử triết học phương Tây, Nxb Tổng hợp, Thành Phố Hồ Chí Minh Khác
[12] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb Sự thật, Hà Nội - 1994 Khác
[13] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội - 2001 Khác
[14] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w