1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sự vận dụng nguyên lý về sự phát triển vào công tác quy hoạch đội ngũ cán bộ huyện thọ xuân, tỉnh thanh hóa

78 3,1K 41
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Sự vận dụng nguyên lý về sự phát triển vào công tác quy hoạch đội ngũ cán bộ huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa
Tác giả Trịnh Thị Yến
Người hướng dẫn TS. Hồ Minh Đồng
Trường học Trường Đại Học Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn - Đại Học Huế
Chuyên ngành Triết học, Quản lý hành chính, Quy hoạch đội ngũ cán bộ
Thể loại Luận văn tốt nghiệp
Năm xuất bản 2011
Thành phố Huế
Định dạng
Số trang 78
Dung lượng 355 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tính cấp thiết của đề tài Nguyên lý về sự phát triển là một trong hai nguyên lý quan trọng của phépbiện chứng duy vật, là cơ sở khoa học cho sự hình thành quan điểm toàn diện.Nguyên lý v

Trang 1

ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

TRỊNH THỊ YẾN

SỰ VẬN DỤNG NGUYÊN LÝ VỀ SỰ PHÁT TRIỂN

VÀO CÔNG TÁC QUY HOẠCH CÁN BỘ

HUYỆN THỌ XUÂN, TỈNH THANH HÓA

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

CỬ NHÂN TRIẾT HỌC

Huế, 5/ 2011

Trang 2

ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

CỬ NHÂN TRIẾT HỌC

SỰ VẬN DỤNG NGUYÊN LÝ VỀ SỰ PHÁT TRIỂN VÀO CÔNG TÁC QUY HOẠCH ĐỘI NGŨ CÁN BỘ

HUYỆN THỌ XUÂN, TỈNH THANH HÓA

Giáo viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:

TS HỒ MINH ĐỒNG TRỊNH THỊ YẾN

Huế, 5/2011

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp tiết của đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu của đề tài 3

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 3

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 4

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 4

6 Đóng ghóp của đề tài 5

7 Kết cấu của khóa luận 5

NỘI DUNG 6

Chương 1: NHỮNG NỘI DUNG CHỦ YẾU CỦA NGUYÊN LÝ VỀ SỰ PHÁT TRIỂN 6

1.1 Một số quan niệm về sự phát triển trong triết học trước Mác 6

1.1.1 Quan niệm về sự phát triển trong triết học phương Đông 7

1.1.2 Quan niệm về sự phát triển trong triết học hy lạp cổ đại 14

1.1.3 Quan niệm về sự phát triển trong triết học cổ điển Đức 21

1.2 Quan niệm về sự phát triển trong triết học Mác- Lênin 27

1.2.1 Tính khách quan 28

1.2.2 Sự phát triển có tính phổ biến 30

1.2.3 Sự phát triển có tính kế thừa 31

1.2.4 Sự phát triển có tính đa dạng, phong phú 32

1.3 Mối quan hệ giữa nguyên lý về sự phát triển với vấn đề quy hoạch đội ngũ cán bộ quản lý huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa 33

Chương 2: SỰ VẬN DỤNG NGUYÊN LÝ VỀ SỰ PHÁT TRIỂN VÀO CÔNG TÁC QUY HOẠCH ĐỘI NGŨ CÁN BỘ QUẢN LÝ HUYỆN THỌ XUÂN, TỈNH THANH HÓA 37

2.1 Thực trạng của công tác quy hoạch cán bộ quản lý huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa 37

2.1.1 Tổng quan về huyện Thọ Xuân 37

2.1.2 Tính khách quan của công tác quy hoạch cán bộ 39

2.1.3 Thực trạng của vấn đề quy hoạch đội ngũ cán bộ quản lý huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa 47

2.2 Những tác động ảnh hưởng đối với công tác quy hoạch đội ngũ cán bộ quản lý huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa 54

2.2.1 Những tác động tích cực 54

2.2.2 Những tác động tiêu cực 58

2.3 Giải pháp, kiến nghị đối với công tác quy hoạch cán bộ quản lý huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa 62

KẾT LUẬN 72

Trang 4

Lời Cảm Ơn!

Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp, em xin chân thành gửi lời cảm ơn tới:

Các thầy cô trong khoa lý luận chính trị, đặc biệt gửi lời cảm ơn và tri

ân tới Tiến sĩ Hồ Minh Đồng, người thầy đáng kính đã tận tình hướng dẫn, và giúp đỡ trong từng bước đi, cách làm Sự giúp đỡ của thầy là nguồn động viên

to lớn để em vượt qua những khó khăn trong quá trình tiếp nhận và làm khóa luận tốt nghiệp này.

Xin chân thành cảm ơn tới huyện ủy huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa, là

cơ quan đã cung cấp cho em nhiều số liệu, tài liệu có liên quan tới khóa luận của mình một cách nhiệt tình.

Xin chân thành cảm ơn tới các bạn trong lớp, đặc biệt là những người bạn đã luôn sát cánh kề vai những lúc khó khăn trong quá trình thực hiện Các bạn là người đã ghóp ý những thiếu sót trong kiến thức cũng như cung cấp tài liệu trong quá trình em thực hiện đề khóa luận này.

Để có được kết quả như ngày hôm nay, một lần nữa xin gởi lời cảm ơn chân thành tới tất cả quý thầy cô và các bạn.

Sinh viên thực hiện:

Trịnh Thị Yến

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Nguyên lý về sự phát triển là một trong hai nguyên lý quan trọng của phépbiện chứng duy vật, là cơ sở khoa học cho sự hình thành quan điểm toàn diện.Nguyên lý về sự phát triển của phép biện chứng duy vật phản ánh đặctrưng phổ quát nhất của thế giới, mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới kháchquan đều có sự vận động và phát triển, sự vận động phát triển ấy là khôngngừng, có khi nhanh, khi chậm, khi tuần tự, có khi nhảy vọt, có lúc có nhữngbước thụt lùi, nhưng nếu nhìn ở cả một chặng đường thì tất cả đều là phát triển.Phát triển là những cái mới ra đời thay thế cái cũ, nhưng vẫn trên cơ sở kế thừanhững hạt nhân hợp lý của cái cũ, cải tạo và phát triển những hạt nhân hợp lý ấy

để nó trở thành điều kiện, tiền đề vững chắc cho cái mới phát triển nhanh,mạnh, vững hơn Phát triển là đặc trưng phổ biến, phát triển là một tất yếukhách quan

Quán triệt quan điểm phát triển là nguyên tắc chung nhất chỉ đạo mọihành động suy nghĩ của con người Yêu cầu của nguyên tắc này đòi hỏi khi xemxét sự vận động, biến đổi, và phát triển của nó phải tư duy, năng động, linhhoạt, mềm dẻo, phải nhận thức cái mới và ủng hộ cái mới

Thọ Xuân, một huyện phía Tây của tỉnh Thanh Hóa có tiềm năng phát triểnkinh tế- xã hội cao Trong những năm qua huyện đã có những bước tiến vôcùng quan trọng trên mọi lĩnh vực của đời sống Huyện Thọ Xuân nói riêng,tỉnh Thanh Hóa nói chung đã cùng với cả nước thực hiện tốt đường lối đổi mớicủa Đảng, Nhà nước, cùng cả nước quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội, thu đượcnhững kết quả rất đáng khích lệ Là tấm gương sáng cho các huyện khác trongtỉnh học tập và noi theo

Trang 6

Xác định để có một nền kinh tế phát triển nhanh, mạnh và bền vững , mộttình hình chính trị ổn định thì một trong những điều kiện tiên quyết là cần phải

có một đội ngũ cán bộ có đầy đủ phẩm chất đạo đức tốt, có năng lực phù hợpvới nhiệm vụ được giao Cán bộ như ngọn đèn soi đường chỉ lối, là ngườihướng dẫn quần chúng nhân dân học tập, noi theo

Với vai trò, vị trí tầm quan trọng như vậy vấn đề quy hoạch đội ngũ cán bộ

là một nhiệm vụ quan trọng hàng đầu, quyết định sự thành công hay thất bạitrong phát triển kinh tế - xã hội của huyện

Vận dụng nguyên lý về sự phát triển của chủ nghĩa Mác- Lênin vào côngtác quy hoach đội ngũ cán bộ là một cách làm hay, có hiệu quả của huyện ủyhuyện Thọ Xuân Xuất phát từ lập trường quan điểm phát triển nhận thấy đểcông tác quy hoạch cán bộ đạt chất lượng phải không ngừng tạo điều kiện chocán bộ học hỏi, trau dồi những kiến thức mới, tạo điều kiện và có cách thức thuhút thế hệ trẻ có năng lực, phẩm chất, là những cán bộ đủ đức đủ tài trong tươnglai thay thế những lớp cán bộ già Vận dụng quan điểm phát triển để thấy đượcrằng giữa những thế hệ cán bộ cần có sự học hỏi, trao đổi kinh nghiệm vớinhau, tạo điều kiện để công việc có hiệu quả…

Từ việc vận dụng nguyên lý về sự phát triển của chủ ngĩa Mác- Lênin vàoxây dựng, quy hoạch đội ngũ cán bộ đã cho thấy những kết quả đạt được vàđồng thời vạch ra những biện pháp, phương hướng phát triển cho đội ngũ cán

bộ trong tương lai của huyện Thọ Xuân

Đây là một đề tài tôi cảm thấy rất tâm đắc và với sự đồng ý, ủng hộ củathầy Hồ Minh Đồng, tôi đã mạnh dạn triển khai thành một bài khóa luận tốt

nghiệp mang tựa đề: “Vận dụng nguyên lý phát triển vào công tác quy họach

đội ngũ cán bộ huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa”.

2 Tình hình nghiên cứu của đề tài

Trang 7

Nguyên lý về sự phát triển không phải là một đề tài mới lạ, ngược lại đã córất nhiều công trình nghiên cứu của các nhà triết học, những học giả nổi tiếng

có tâm huyết với triết học Có thể điểm qua một vài công trình nghiên cứu nhưsau:

“Giáo trình triết học Mác- Lênin” Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006;

“Lich sử phép biện chứng”(6 tập), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002;

“Triết lý phát triển ở Việt Nam” Phạm Xuân Mai, Nxb Khoa học xã hội, Hà

Nội 2005;

Mai Văn Ninh, “Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ ở tỉnh Thanh Hóa hiện

nay”, tạp chí Lý Luận Chính Trị, số 5-2005

Lê Khắc Ngọc, “Xây dựng đội ngũ cán bộ công chức quản lý nhà nước về kinh

tế cấp cơ sở của tỉnh Thanh Hóa”, tạp chí Lý luận chính trị 8- 2008.

Nguyễn Ngọc Lâm, Một số giải pháp nâng cao chất lượng quy hoạch cán bộ

hiện nay, tạp chí Lý Luận Chính Trị, số 4-2006.

Nguyễn Văn Quynh(2011), “Tiếp tục đổi mới công tác đào tạo và bồi dưỡng

cán bộ”, Tạp chí Xây dựng Đảng số 1+ 2

Nguyễn Doãn Khánh(2011), “Để xây dựng đội ngũ cán bộ của dân, do dân, vì

dân,” Tạp chí Xây dựng Đảng, số 4

Lê Thị Anh(2011), “Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ các xã vùng sâu, vùng

xa, vùng dân tộc thiểu số ở Thanh Hóa”, Tạp chí Xây dựng Đảng, số 3

Những công trình nghiên cứu nói trên đã đề cập, phân tích, làm rõ vềnguyên lý phát triển, và những cách tiếp cận vận dụng chủ nghĩa duy vật biệnchứng vào các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội con người, cũng như cácbài viết nghiên cứu về công tác cán bộ, công tác quy hoạch cán bộ

Tuy nhiên nếu kể riêng về việc vận dụng nguyên lý về sự phát triển vàocông tác quy hoạch đội ngũ cán bộ cho đến nay chưa có công trình nào, tác giảnào đề cập một cách trực tiếp Đây cũng chính là lý do tôi chọn đề tài này, bên

Trang 8

cạnh những điều đã được đề cập tới thì sự vận dụng nó vào lĩnh vực cụ thể nào

đó lại là một nội dung mới rất hay Qua đề tài này tôi muốn một phần nào đólàm rõ sự vận dụng nguyên lý về sự phát triển vào công tác quy hoạch đội ngũcán bộ ở huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

Mục đích:

Mục đích nghiên cứu của đề tài nhằm làm rõ nguyên lý về sự phát triểnvận dụng vào trong công tác quy hoạch đội ngũ cán bộ huyện Thọ Xuân, tỉnhThanh Hóa

Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài:

Trình bày một cách cơ bản có hệ thống những nội dung của nguyên lý về

sự phát triển

Làm rõ thực trạng của vấn đề quy hoạch đội ngũ cán bộ của huyện ThọXuân, tỉnh Thanh Hóa Đề ra một số biện pháp, phương hướng giải quyết vấn

đề quy hoach đội ngũ cán bộ tại huyện

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.

Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là tập trung làm rõ nguyên lý về sựphát triển vận dụng vào trong công tác quy hoạch đội ngũ cán bộ của huyệnThọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa trong giai đoạn hiện nay

Phạm vi nghiên cứu của đề tài này là tập trung làm sáng tỏ việc vận dụngnguyên lý về sự phát triển vào trong công tác quy hoạch cán bộ của huyện ThọXuân, tỉnh Thanh Hóa trên cơ sở những số liệu từ năm 2000- 2010

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận: Dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng,

chủ nghĩa duy vật lịch sử, quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin về sự pháttriển, áp dụng vào trong công tác quy hoạch cán bộ huyện Thọ Xuân, tỉnhThanh Hóa

Trang 9

Phương pháp nghiên cứu của đề tài: Sử dụng các phương pháp như: phân

tích và tổng hợp, lịch sử và logic, thống kê, so sánh…nhằm làm rõ vấn đề

6 Đóng ghóp của đề tài

Làm rõ một cách có hệ thống những nội dung cơ bản về sự phát triển vàviệc vận dụng nguyên lý về sự phát triển của chủ nghĩa Mác vào công tác quyhoạch cán bộ huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa trong giai đoạn hiện nay

Đưa ra những kiến nghị và giải pháp cho công tác quy hoạch cán bộ ởhuyện Thọ Xuân, tỉnh Thah Hóa

7 kết cấu của khóa luận:

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, khóa luậnđược kết cấu với 2 chương và 6 tiết

Trang 10

Khái niệm “phát triển” đã xuất hiện từ những ngày đầu của lịch sử triếthọc, tồn tại và không ngừng hoàn thiện cùng với sự tồn tại và hoàn thiện của hệthống triết học nhân loại Tuy vậy, trước hết chúng ta cần có sự phân biệt cáckhái niệm: “phát triển”, “phát triển bền vững” và “vận động”.

“Phát triển” là biến đổi theo hướng hoàn thiện của sự vật Phát triển làquá trình phát sinh và giải quyết mâu thuẫn khách quan vốn có của sự vật là quátrình thống nhất giữa phủ định những yếu tố tiêu cực và kế thừa, nâng cao nhân

tố tích cực từ sự vật cũ trong hình thái mới của sự vật “Phát triển bền vững”:Thuật ngữ phát triển bền vững xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1980 trong ấn

phẩm “chiến lược bảo tồn thế giới” được công bố bởi hiệp hội bảo vệ thiên

nhiên và tài nguyên thiên nhiên quốc tế IUCN “phát triển bền vững” là mộtkhái niệm mới nhằm định nghĩa một sự phát triển về mọi mặt trong hiện tại màvẫn đảm bảo tiếp tục phát triển trong tương lai xa Khái niệm này hiện đang làmục tiêu hướng tới của nhiều quốc gia trên thế giới Mỗi quốc gia sẽ dựa vàođặc thù kinh tế, xã hội, chính trị, địa lý… để hoạch định chiến lược phù hợpnhất với quốc gia đó “Vận động” là mọi biến đổi nói chung, chưa nói đếnkhuynh hướng cụ thể đi lên hay đi xuống, tiến bộ hay lạc hậu

Ngay từ thời cổ đại triết học đã rất phát triển, cũng chính ngay lúc này cóthể nhận thấy triết học đã có sự phân chia thành hai trường phái đối lập đó làchủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm.Thời gian không phải là liều thuốc đểxoa dịu hay rút ngắn khoảng cách, sự đối lập ấy mà ngược lại cuộc chiến tưtưởng ấy lại càng trở nên sâu sắc, quyết liệt hơn Trong rất nhiều những đối lập,mâu thuẫn thì nguyên lý về sự phát triển là một điển hình

1.1.1 Quan niệm về sự phát triển trong triết học phương Đông

Với tư cách là một khoa học lịch sử triết học thì lịch sử triết học phươngĐông có đầy đủ những đặc điểm, tính chất, đối tượng và phương pháp nghiêncứu của lịch sử triết học Sự phát triển của triết học phương Đông chính là sự

Trang 11

giao thoa tư tưởng và văn hóa khu vực mang bản sắc riêng vô cùng độc đáo sovới triết học phương Tây.

Trung Quốc và Ấn Độ là hai trung tâm văn minh, văn hóa lớn của nhânloài Đồng thời nơi đây cũng là hai nền triết học lớn của các dân tộc phươngĐông cổ đại nói chung và các dân tộc châu Á nói riêng Tính đa dạng, phongphú, sâu sắc của triết học phương Đông mà tiêu biểu là triết học Trung Quốc và

Ấn Độ nói lên rằng bất cứ sự coi thường nào về văn hóa và tư tưởng của cácdân tộc châu Á đều là chủ quan trong khoa học về lịch sử, cắt xén lịch sử, do đókhông nhận thấy được tính đa dạng trong sự thống nhất của lịch sử triết họcnhân loại

Mác từng nói rằng lịch sử phương Đông là lịch sử tôn giáo, điều này đặcbiệt thích hợp với Ấn Độ Ổ Ấn Độ đã có nhiều hệ thống tôn giáo tồn tại và các

hệ thống triết học thường gắn liền với tôn giáo Đã gắn với tôn giáo thì khótránh khỏi duy tâm hay hữu thần dầu có lúc nhà triết học đã cố tách khỏi- hayquên mình là nhà tôn giáo Với tất cả sự phong phú đa dạng như thế triết học

Ấn Độ đã hiện ra trước mắt ta như một tòa lâu đài đồ sộ, chứa đầy những khobáu của tư duy nhân loại

Trong triết học Ấn Độ có nhiều trường phái khác nhau, và mỗi phái lại cócho riêng mình những tư tưởng, quan niệm, quan điểm khác nhau Quan niệm

về sự phát triển cũng không nằm ngoài số đó

Phái Sàmkhuya, một trong những trường phái triết học lớn của Ấn Độ cổ

đại “Theo trường phái này thì sự phát triển của thế giới đi từ biểu hiện đến

không biểu hiện”[31, 27], họ cũng coi “ thế giới này là vật chất, nguyên nhân của thế giới vì thế cũng là vật chất” [32, 126] Thế giới vật chất là bao la, vô

cùng, vô tận, không ngừng biến đổi, vận động từ dạng này sang dạng khác, nótồn tại vĩnh hằng, không mất đi Theo quan niệm của trường phái này thì thếgiới được cấu tạo bởi sự biến đổi của các yếu tố: Sattva(là trí tuệ, trí năng với

Trang 12

thuộc tính nhẹ, sáng, tươi vui), Rajas(là năng lượng với những thuộc tính động,kích thích), Tamas(là khối lượng, quán tính với những thuộc tính nặng, khókhăn) Chính sự tác động giữa các yếu tố nói trên đã phá vỡ sự cân bằng vốn cócủa thế giới vật chất và tạo nên sự biến đổi, phát triển Ở đây họ rơi vào siêuhình khi quy sự vận động của vật chất về một số thuộc tính vận động cụ thể.Nhưng điều đáng quý chính là cho chúng ta thấy từ rất sớm đã hình thành tưtưởng nguyên nhân của thế giới là vật chất, thế giới không ngừng vận động,phát triển Mặc dù cách lý giải còn giản đơn, mang tính siêu hình như đã nói ởtrên nhưng những tư tưởng của trường phái Sàmkhuya đã rất tiến bộ khi chỉ rathế giới các sự vật tồn tại và biến đổi trong không gian và thời gian.

Phái Jaina nội dung triết học nhìn một cách khái quát ban đầu họ duy vậtchất phác về sau họ là nhị nguyên mang màu sắc tôn giáo Phái Jaina cũng đãdiễn tả được sự biến đổi không ngừng của thế giới vật chất từ dạng này sang

dạng khác chứ không đứng yên “Vật chất, vật thể là những biểu hiện của

Ajiva, có đặc tính sờ mó được, có âm thanh, mùi, sắc và vị…”[31, 42] Để giải

thích cho mọi sự tồn tại trên thế giới họ đưa ra khái niệm “tồn tại đầu tiên” Chính cái “tồn tại đầu tiên” đã sản sinh ra muôn vật và để duy trì thế giới đa

dạng nó cần tồn tại một cách bất biến, vô thủy, vô chung Thế giới này là bấtbiến, nhưng là luôn luôn vận động biến đổi, chứ không phải bất biến đứng yên

Như vậy có thể thấy rằng trong quan niệm của phái Jaina, đặc biệt làtrong quan niệm về thế giới vừa mang tính siêu hình vừa biện chứng, vừa lộdiện khuynh hướng duy vật, nhưng đồng thời thể hiện tính chất duy tâm

Phái Lokàyata “Lokàyata là triết học duy vật triệt để nhất trong các

trường phái triết học Ấn Độ cổ”[32, 141] Phái đã khẳng định thế giới sự vật

hiện tượng có nguồn gốc từ vật chất và luôn luôn vận động biến đổi Thế giớinày có nguồn gốc từ bốn yếu tố vật chất là đất, nước, lửa, không khí Mỗi yếu

tố đều tồn tại trong sự vận động và tác động lẫn nhau chính từ đó cấu thành nên

Trang 13

vạn vật, là cơ sở tạo nên sự biến đổi đa dạng phong phú của thế giới vật chất.Cũng theo họ ý thức nảy sinh từ vật chất Đây là một trong những tư tưởng cókhuynh hướng duy vật, tuy nhiên lại chưa có phươg pháp luận đúng đắn, khoahọc nên không phát triển và dần bị mai một.

Triết học Phật giáo

Buddaha Trung Quốc dịch là Phật, có nghĩa là đấng giác ngộ, sáng suốt

và giác ngộ người khác Ở Ấn Độ Phật giáo là một trong ba trường phái tà đạocủa toàn bộ chín hệ thống triết học Ấn Độ cổ Phật giáo là trường phái triết họccách mạng so với các trường phái triết học khác, và nó có ảnh hưởng lớn trênphạm vi thế giới

Nguyên lý “nhân duyên khởi” coi vạn vật trong vũ trụ đều có nguyên

nhân tự thân, không do một đấng thần linh nào tạo ra cả Sự đa dạng của tồn tại

là do “ nhân duyên ” tạo ra Nhân duyên hội thì sự vật tạo ra, nhân duyên hết

thì sự vật không còn “ Nhân duyên” quan hệ với “Nhân quả” Nhân là nghiệplực Qủa là nghiệp lực đã thành hiện thực nhờ hội đủ duyên “ Nhân duyênkhởi” và “ Nhân quả” là nguyên lý phổ biến tuyệt đối của mọi tồn tại “Duyên ởđây phải được hiểu vừa là nguyên nhân sinh ra cái mới, vừa là kết quả của quátrình biến đổi cái cũ trước đó Nhân nhờ duyên mà thành quả, quả nhờ duyên

mà thành nhân mới, nhân mới nhờ duyên mà thành quả mới…quá trình cứ thếnối nhau vô cùng, vô tận mà thế giới, vạn vật, muôn loài sinh sinh hóa hóakhông ngừng.”[31, 52]

Như vậy có thể thấy rằng trong quan niệm của Phật giáo nhìn nhận thếgiới tự nhiên cũng như nhân sinh bằng quy luật “ Nhân- quả” Theo quy luậtnày nhân- quả không bao giờ bị gián đoạn, hỗn loạn, và nhân nào thì quả ấy Họquan niệm bản chất của sự tồn tại là một dòng chuyển biến liên tục(vô thường ).Không thể tìm ra nguyên nhân đầu tiên do vậy không ai tạo ra thế giới cũngkhông có vĩnh hằng Sự vật, hiện tượng luôn luôn biến đổi theo một chu trình

Trang 14

của luật nhân- quả, kết quả của quá trình cũ có thể là nguyên nhân của quá trìnhsau và cứ tiếp diễn như vậy.

Tất cả các sự vật hiện tượng trong vũ trụ(vạn pháp) luôn biến đổi không ngừngtheo quy trình: sinh- trụ- dị- diệt, thành- trụ- hoại- không và đều tuân theo luậtnhân- quả, theo lý “nhân duyên khởi”

Phật giáo coi mọi sự vật hiện tượng trong vũ trụ đều là “ảo”và “giả”,không có thực chỉ do vô minh đem lại và chấp mà có “tất cả mọi vật đều vôthường đều thay đổi, không có vật nào là ngã cả”[31, 55] Dòng biến chuyển ấy

là vô thủy, vô chung, vô cùng, vô tận, không có khởi đầu không có kết thúc

Quan niệm về sự phát triển trong triết học Phật giáo đã có nhiều điểmtiến bộ song họ lại rơi vào yếu thế khi thừa nhận sự phát triển đạt tới một giớihạn là cõi “niết bàn”

Triết học Ấn Độ cổ đại với nhiều giáo phái khác nhau đã đề cập đến sựvận động của các sự vật hiện tượng, sự thay đổi của vạn vật qua không gian,thời gian, nhưng lại chưa trình bày được quan điểm về sự phát triển một cáchkhoa học Họ mới chỉ lý giải sự vận động đó được tạo bởi một nguyên nhân tiềnđịnh mơ hồ nào đó, không thấy được nguồn gốc, phương thức, khuynh hướngcủa sự phát triển

To lớn về mặt diện tích, đồ sộ về mặt văn hóa, khi nói về lịch sử triết họcnói chung, triết học châu Á nói riêng không thể không kể tới triết học TrungQuốc Cũng như triết học Ấn Độ cổ, triết học Trung Quốc cổ đại cũng có những

lý luận hết sức sâu sắc khi bàn về sự phát triển Đầu tiên phải kể đến thuyếtÂm- Dương, Ngũ Hành

Thuyết Âm- Dương là thuyết thể hiện quan niệm duy vật chất phác về tựnhiên, và ở đó đã thể hiện tư tưởng biện chứng sơ khai về tự nhiên, xã hội vàcon người

Trang 15

Âm- Dương là hai thế lực đối chọi nhau nhưng lại thống nhất với nhautrong vạn vật, là khởi nguyên của mọi sinh thành biến hóa Âm- Dương khôngphải là hủy thể của nhau mà là điều kiện tồn tại của nhau, là động lực của mọivận động, phát triển.

Theo thuyết Âm- Dương sự vận động và biến đổi bắt nguồn từ hai thế lựcđối lập Âm và Dương Chúng đối lập và thống nhất trong sự chuyển hóa lẫnnhau, vừa khẳng định vừa phủ định nhau trong suốt quá trình tồn tại của mình

Âm và Dương là sự kết hợp giữa trên và dưới, yếu và mạnh mềm và cứng, cânbằng và biến đổi Âm- Dương đối lập nhau nhưng không tách rời mà đan xennhau Trong Âm có Dương, trong Dương có Âm, Âm tiến Dương lùi…sự vậnđộng là không ngừng, sự vật luôn luôn biến đổi Quy trình đó là tất yếu Tháicực sinh Lưỡng nghi( Âm- Dương), Lưỡng nghi sinh Tứ tượng( Thái Dương,Thiếu Âm, Thiếu Dương, Thái Âm ), Tứ tượng sinh Bát quái( Càn, Khảm, Cấn,Chấn, Tốn, Ly, Khôn, Đoài ), Bát quái sinh ra vạn vật vô cùng vô tận

Thuyết Âm- Dương giải thích vạn vật dựa vào hai thế lực đối lập thìthuyết Ngũ Hành dựa vào năm yếu tố khởi thủy: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ.Năm yếu tố này là tượng trưng cho tính chất, màu sắc và phương hướng, chúngkhông tồn tại biệt lập tuyệt đối mà trái lại chi phối lẫn nhau theo nguyên tắctương sinh, tương khắc

“ Họ cho rằng quá trình tương sinh( bồi đắp, nuôi dưỡng) và tươngkhắc(ước chế ) là quá trình sinh diệt, và thực chất của quá trình tồn tại của vậtchất là quá trình sinh- diệt không thôi đó”[32, 53]

Như vậy thuyết Âm- Dương, Ngũ Hành đã thừa nhận tính vật chất củathế giới, giải thích quy luật phát triển khách quan của thế giới Tuy còn chấtphác và máy móc nhưng thuyết Âm- Dương, Ngũ Hành đã có tác dụng chốnglại chủ nghĩa duy tâm và mục đích luận trong quan niệm tự nhiên

Trang 16

Trong triết học Lão Tử, những tư tưởng về sự phát triển được thể hiện ởphép biện chứng chất phác Theo Lão Tử, ông cho rằng mọi sự vật đều biến hóasinh thành từ “Đạo” mà ra Đạo của lão tử nhiều khi được dùng như một thuậtngữ để chỉ trật tự của tự nhiên, về tính quy luật: “ người theo quy luật của đất,đất theo quy luật của trời, trời theo quy luật của “đạo”, “đạo” theo quy luật của

tự nhiên”

Nhiều khi “Đạo” của Lão Tử để hình dung vạn vật, có khi “đạo” có trướcvạn vật, có trước hiện tượng tự nhiên “đạo” sinh ra “khí thống nhất”, “khíthống nhất” sinh ra thứ âm- dương đối lập, hai thứ âm- dương đối lập sinh ra balực lượng là: trời, đất, người Ba lực lượng ấy sinh ra vạn vật

“Đạo theo Lão Tử còn là quy luật chung của sự biến hóa của sự vật, vừa cótrước sự vật, vừa nằm trong sự vật Quy luật biến hóa tự thân của sự vật gọi làĐức( Đức trong tư tưởng Đạo gia thuộc về phạm trù vũ trụ quan)”[27, 30]

Lão Tử nói “cái đạo có thể gọi ra được không phải đạo vĩnh cửu, cái tên

có thể nói lên ược không phải là cái tên vĩnh cửu không có tên đó là nguồn gốccủa trời đất, có tên là cái sinh ra muôn vậ Cho nên, thường thì không để chongười ta thấy cái huyền diệu của nó Hai cái đó cùng một nguồn gốc mà hiện ratên gọi khác nhau, cùng gọi là huyền diệu, cái đạo lớn đã lan tràn như nước, cóthể lan tràn khắp mọi bề, muôn vật dựa vào đó mà sinh…đạo thường vô vi màcũng bất vô vi”[27, 31]

Lão Tử khẳng định chính sự liên hệ tác động giữa các mặt các khuynhhướng đối lập nhau trong sự vật hiện tượng đã tạo ra sự vận động biến đổikhông ngừng của vũ trụ, và sự vận động của vũ trụ tất yếu phải tuân theo “đạo” Đây là những quy luật chi phối tới toàn bộ sự vật hiện tượng, không bất

cứ sự vật nào nằm ngoài quy luật đó Theo Lão Tử thì toàn vũ trụ bị chi phốibởi hai quy luật cơ bản nhất là: luật quân bình và luật phản phục Luật quânbình làm cho vũ trụ đượcvận động biến đổi trong trạng thái cân bằng, theo trật

Trang 17

tự điều hòa tự nhiên, không có gì thái quá không có gì bất cập phá vỡ trạng tháicân bằng đó Quy luật phản phục tức là cái gì phát triển đến tột đỉnh tất sẽ trởthành cái đối lập với chính nó, sự vật khi phát triển đến cực điểm các tính chấtcủa nó thì những tính chất ấy lại đi ngược lại và trở thành tương phản với chínhnó.

Tư tưởng biện chứng của Lão Tử tuy mang những yếu tố hợp lý nhưngnhìn chung về cơ bản nó vẫn mang tính chất tự phát ngây thơ dựa trên nhữngkinh nghiệm có tính trực quan cảm tính, chủ yếu mới chỉ dừng lại ở việc mô tảbiến chuyển của sự vật, hiện tượng xảy ra trong tự nhiên cũng như trong xã hội

Nó chưa có cơ sở để vạch ra bản chất bên trong của sự biến đổi

Triết học Trung Quốc cổ đại do đứng trên lập trường duy tâm để giảithích các sự vật hiện tượng trên thế giới, bởi vậy tuy có quan điểm về sự vậnđộng, biến đổi không ngừng nhưng chỉ dừng lại ở một vòng tuần hoàn nhất địnhnào đó Xuất phát điểm của sự vận động, biển đổi đó nhiều khi được giải thíchhết sức huyền bí, vô cùng, vô tận, khó nắm bắt, khó nhìn nhận Vì những hạnchế như vậy các nhà tư tưởng triết học Trung Quốc cổ đại chưa đưa ra đượcnguồn gốc, phương thức, khuynh hướng của sự phát triển, mà mới chỉ chỉ ra sựvận động đơn thuần, chưa đầy đủ

1.1.2 Quan niệm về sự phát triển trong triết học Hy Lạp cổ đại

Trong triết học Hi Lạp cổ đại, một số nhà tư tưởng đã có khuynh hướngduy vật, đã xem nguồn gốc thế giới thống nhất trong tính đa dạng của vạn vật

Họ muốn phủ nhận quan niệm của thần học và tôn giáo bằng những lý giải vậtchất khi giải thích về sự vận động và phát triển của sự vật hiện tượng Những lýgiải về sự phát triển của các nhà triết học Hi Lạp cổ đại hết sức phong phú, mặc

dù có những hạn chế nhưng tính tích cực của những tư tưởng đó là điều chúng

ta không thể chối cãi

Trang 18

Mở đầu là Talét, “người sáng lập ra trường phái triết học Milet và đượcxem là một trong bảy nhà hiền triết tài danh nhất lúc bấy giờ Đồng thời theođánh giá của Aristote thì Talét chính là ngườ đã sáng lập ra kiểu triết học duyvật sơ khai”[6, 17] Talét coi nước là khởi nguyên của vạn vật Mọi vật đều sinh

ra từ nước rồi tan biến vào nước

“Mọi thứ đều sinh ra từ nước, thứ nhất bản nguyên của mọi động vật là tinhdịch, mà tinh dịch thì ẩm ướt, thứ hai, mọi thực vật đều sống bằng nước và đâmhoa kết trái bằng nước, sẽ khô héo nếu thiếu nước, thứ ba, bản thân ánh sángmặt trời và các thiên thể cũng tiêu thụ hơi nước, giống như bản thân vũ trụ”[6,18]

Như vậy trong quan niệm của Talét thì vạn vật được sinh sôi nảy nở từbản nguyên đầu tiên là nước, tồn tại và biến đổi với nước, khi mất đi hay tồn tạicao hơn chúng lại trở về với nước Toàn bộ thế giới là một chỉnh thể thống nhất,tồn tại như một vòng tuần hoàn mà nước là là nền tảng của vòng tuần hoàn đó

Xét về mặt bản thể luận những quan điểm của Talét mặc dù còn mộcmạc thô sơ nhưng đã hàm chứa những yếu tố biện chứng tự phát Nước là kháiniệm triết học, là cái quy định sự chuyển biến từ dạng vật chất này sang dạngvật chất khác, là cái tạo nên sự thống nhất của thế giới, là cái gắn kết giữa cáiđơn và cái đa, là cái chứa đựng tiềm tàng giữa bản chất và hiện tượng

Khi nhận xét về triết học Talét nói chung, nhưng quan niệm về sự tồn tại

và phát triển của thế giới sự vật hiện tượng nói riêng Ghéc-xe(1818- 1870) viết:

“Vậy ở đâu trong tự nhiên, trong vòng chuyển biến không ngừng đó, nơi màchúng ta không thấy cùng một số đặc điểm ở hai lần, ở đâu trong đó mà ta tìmđược khởi nguyên chung, ít nhất là tìm ra được một phương diện mà thể hiệnchính xác nhất tư tưởng về sự thống nhất và đứng im trong sự đa dạng luônluôn biến đổi của thế giới vật lý? Không có gì có thể tự nhiên hơn là việc coinước là khởi nguyên của các tính chất đó Nó không có một hình thức xác định,

Trang 19

đứng im, nó ở khắp nơi có sự sống, nó là vận động vĩnh hằng và bình yên vĩnhhằng…”[6, 19]

So với Talét triết học của Anaximan đã có một sự phát triển đáng kể,phức tạp hơn, sâu sắc hơn và biệ chứng hơn

Nếu như Talét đi tìm khởi nguyên từ một hành chất có thể cảm nhânđược bằng giác quan và liên quan chặt chẽ với đời sống của con người là nước,thì bản nguyên Anaximan lại là một cái không xác định là Apeirôn Ông khôngnói rõ Apeiron là cái gì cụ thể mà khẳng định đó là một cái vô định hình, vôcùng tận, tồn tại vĩnh viễn, bất diệt

Ngay từ thời cổ đại khái niệm Apeiron đã không thống nhất, có nhiềucách hiểu, cách định nghĩa khác nhau Tuy nhiên có thể tìm thấy cách lý giảithống nhất đó là cho rằng Apeiron mang tính vật chất, một dạng vật chất khôngxác định Chính điểm thống nhất này đã trở thành một đóng ghóp vô cùng quantrọng của Anaximan vào sự phát triển quan niệm nền tảng của chủ nghĩa duyvật: vật chất

Khác với Talet ông cho rằng Apeiron ngay từ đầu trong nó đã chứa đựngnhững mặt đối lập, sau đó chúng được tách ra rồi lại quay về với nó Toàn bộthế giới được tạo thành từ Apeiron như một vòng tuần hoàn biến đổi khôngngừng Phê phán các quan niệm trực quan của các thần thoại và tôn giáonguyên thủy về thế giới, Anaximan cho rằng những gì mà bề ngoài thế giới hiện

ra trước mắt chúng ta chưa hẳn là bản thân thế giới một cách đích thực Dầu vậycũng như các nhà triết học thời kỳ này Anaximan cũng chịu sự chi phối ảnhhưởng của thần thoại và tôn giáo, khẳng định tồn tại điểm tận cùng giới hạn củathế giới Mọi vật theo ông đều bắt nguồn từ apeiron và có lỗi lầm với nhau,chính lỗi lầm này đã phá vỡ giới hạn của chúng Mọi cái cuối cùng đều trởthành apeiron, theo cách lý giải này thì ít nhiều apeiron trở thành cái thần bí

Trang 20

Acnaximen- học trò của Anaximan, ông khẳng định: “không khí là bảnnguyên của mọi sự vật hiện tồn”[6, 23] Giống như Talet, Acnaximen đã tìmkiếm khởi đầu của vạn vật trong những yếu tố vật chất có liên quan mật thiếtđối với đời sống của con người, với ông khởi đầu đó chính là không khí “Thở

và không khí bao trùm khắp vũ trụ, mọi thứ đều xuất hiện từ chúng và quay vềvới chúng” Không khí sinh ra vạn vật muôn loài bằng hai cách làm đặc vàloãng Ông viết “không khí sinh ra mọi vật, mọi sự tiếp nối của nó bằng conđường cô đặc và làm loãng, nhưng bản thân không khí là thực thể trong suốt,không nhìn thấy được” Acnaximen quan niệm rằng ngay cả chính linh hồn củacon người cũng là không khí, các vị thần cũng sinh ra từ không khí Cách giảithích quá trình sinh ra của sự vật đã thể hiện tư tưởng biện chứng tự phát củaông

Acnaximen đã cảm nhận được nguyên tắc tự thân vận động, nhưng ônglại chịu ảnh hưởng của thần thoại Những hạn chế của tri thức lúc bấy giờ đãkhông cho phép ông giải thích được sâu sắc, rõ ràng hơn về sự vận động, pháttriển đó Nhưng dẫu vậy những đóng ghóp của ông cũng hết sức quý báu

Hêraclit là người chiếm giữ vị trí trung tâm trong lịch sử phép biện chứngcủa Hi Lạp cổ đại, Lênin nhận xét về Heraclit “một trong những người sáng lập

ra phép biện chứng”

Với Hêraclit bản nguyên của thế giới, của vạn vật không phải là nướcnhư Talet, Apeiron như Acnaximan, không khí như Acnaximen, mà là ngọn lửađang bùng cháy trong từng nhà, là ánh sáng chói chang của mặt trời cho conngười phân biệt được ngày và đêm, là ánh trăng huyền thoại mơ mộng, lànhững tinh tú xa xôi đang ngày đêm không ngừng lấp lánh

Theo Hêraclit thì lửa sinh ra vạn vật, là bản nguyên đầu tiên, là khơi đầucủa tất cả Cái thống nhất duy nhất trong thế giới này không gì khác hơn là lửa.Các hiện tượng ngày- đêm, nắng- mưa…không phải là những hiện tượng thần

Trang 21

bí mà chỉ là những trạng thái khác nhau của lửa Tất cả đều được qui đổi lấylửa, lửa lấy tất cả như vàng trao đổi lấy hàng hóa, còn hàng hóa lấy vàng.

Nhưng theo Hêraclit thì chuẩn mực của mọi sự vật là logos, đươc hiểukhông chỉ là từ ngữ mà còn là quy luật khách quan của vũ trụ Quy định trật tự

và chuẩn mực của mọi cái Cái logos đó tồn tại vĩnh viễn, phổ biến và thưc chất

đó là quy luật của tự nhiên Theo ông mọi sự vật hiện tượng trong thế giới đềuthay đổi, vận động và phát triển không ngừng

Trước Hêraclit các nhà triết học tự nhiên như Talet,Acnaximen,Acnaxximan của trường phái Milet đã bằng cách này hay cách kháccũng đã tiếp cận với qua niệm về vận động và biến đổi của thế giới Song phảiđến Hêraclit thì mới tồn tại với tư cách một học thuyết về vận động Một câunói nổi tiếng mà khi nhắc tới ông người ta sẽ liên tưởng ngay tới đó là: “chúng

ta không thể tắm hai lần trên cùng một dòng sông”

Theo Hêraclit thì vận động của sự vật gắn liền với thống nhất và đấu tranh giữacác mặt đối lập Chính mâu thuẫn tồn tại một cách phổ biến trong sự vật đã trởthành nguồn gốc phát triển của vạn vật “Vũ trụ là một thể thống nhất, nhưngtrong lòng nó luôn diễn ra các cuộc đấu tranh giữa các sự vật, lực lượng đối lậpnhau”[32, 158], như vậy đấu tranh chính là quy luật phát triển của vũ trụ Lênin

đã đánh giá cao vai trò những quan niệm của Hêraclit, cho rằng những quanniệm đó đã thực hiện một trong những điểm cơ bản của phép biện chứng, mọicái chỉ xảy ra một lần, không lặp lại mặc dù giữa các sự vật có thể có những kếthừa nhất định

Đêmôcrit một trong những nhà triết học duy vật tiêu biểu của triết học HiLạp cổ đại

Đêmôcrit cho rằng khởi nguyên của các thế giới là nguyên tử Cácnguyên tử được ông cho là nhỏ nhất không phân chia được, chúng chỉ khácnhau về trật tự, hình dạng, tư thế…Vận động được xem là bản chất của nguyên

Trang 22

tử, “có vô số thế giới, chúng ta có đại lượng khác nhau, xuất hiện từ nhữngkhoảng vô tận, sinh ra và tiêu vong…Một thế giới đang phát triển, số khác đãđạt tới sự trưởng thành, số thứ ba đang suy thoái Các thế giới đang ra đời ở mộtnơi, nhưng lại đang biến mất ở nơi khác Chúng bị hủy diệt, khi va chạm vàonhau Một số thê giới không có động vật và thực vật và hoàn toàn không cónước” Đêmôcrit tán đồng với quan điểm của Hêraclit khi cho rằng từ sự vật bénhất cho đến thế giới không có gì là trường tồn cả, tất cả đều là một quá trìnhbiến đổi không ngừng.

Như vậy dựa vào nguyên tử luận Đêmôcrit đã giải thích được sự vậnđộng và phát triển của muôn vật có nguồn gốc từ bên trong sự vật, sự vận động,phát triển không phụ thuộc vào những thế lực thần bí bên ngoài, không có gìsinh ra hay mất đi một cách ngẫu nhiên mà đều có nguyên nhân của nó.Đêmôcit đã tiến đến khẳng định tính quy luật trong sự phát triển của các sự vật.Tuy nhiên ông vẫn không thoát khỏi các hạn chế khi đã lẫn lôn vật chất với ýthức, coi ý thức và linh hồn không phải là hiện tượng tinh thần mà là hiện tượngvật chất, đồng nhất linh hồn con người như là tổng thể của nguyên tử Ông chorằng linh hồn chết cùng thể xác

Trong triết học Hy Lạp cổ đại ngoài những tư tưởng mang khuynh hướngduy vật, thì bên cạnh đó những tư tửng duy tâm về sự vận động và phát triểncũng hết sức phong phú Nổi bật phải kể đến quan niệm về thế giới ý niệm củaPlaton và thuyết hình dạng của Aristot

Ý niệm là gì? Trong triết học cổ đại Hi Lạp, Platon không phải người đầutiên sử dụng thuật ngữ này Theo tiếng Hi Lạp ý niệm chính là những nghĩa rấtrộng như loài, giống, hình thức…Học thuyết ý niệm là vấn đề trung tâm của hệthống triết học Platon vì vậy không chỉ là nền tảng của thế giới quan mà còn là

cơ sở của nhận thức

Trang 23

Theo Platon thì sự vật chỉ là hiện thân của ý niệm, thế giới ý niệm là thếgiới bản nguyên tồn tại độc lập với thế giới hiện thực và nó chi phối hiện thực.Thế giới hiện thực chỉ là cái bóng của thế giới ý niệm, cũng chính vì vậy mà tựnhiên và con người phụ thuộc vào quyền lực thần bí Thế giới ý niệm là cáikhởi đầu, cái có trước tất cả, sinh ra tất cả và chi phối tất cả Mọi sự vật hiệntượng trong thế giới mà chúng ta đang sống chẳng qua chỉ là sự mô phỏng lại từthế giới ý niệm, là bản sao của thế giới ý niệm Quan niệm duy tâm về thế giới

đã chi phối quan niệm về xã hội và con người Sự khác biệt trong cấu trúc vàlinh hồn đã quy định sự khác nhau về đẳng cấp xã hội Tương ứng với ba phầncủa linh hồn con người (lý tính, cảm xúc, tình cảm) chia xã hội ra làm ba hạngngười tùy theo bộ phận linh hồn nào đóng vai trò chủ đạo, đó là những kẻ thốngtrị, tầng lớp võ sĩ, tầng lớp những người lao động Trong quan niệm về thế giớiPlaton đã theo lập trường duy tâm khách quan, coi mọi sự vật chỉ là sự hiệnthân hay là sự mô phỏng của ý niệm Quan niệm này của Platon đã phủ nhậnsạch trơn sự vận động, phát triển của sự vật, cho rằng bất cứ sự vật nào cũng chỉ

là sự thể hiện đặc thù các ý niệm tương ứng dưới dạng vật chất

Aristot, người được Mác đánh giá là “nhà tư tưởng vĩ đại nhất thời cổđại”, Ăngghen lại nói đó là “khối óc toàn diện nhất” trong số triết gia cổ đại HiLạp Cũng giống như triết học Platon, Aristot cũng bàn tới ý niệm, nhưngnhững quan niệm về thế giới ý niệm của Aristot đối lập hoàn toàn với những gì

mà Platon đã trình bày trong học thuyết của mình

Theo Aristot khởi nguyên của vạn vật, của thế giới đã có vật chất, đó làvật chất thuần túy chưa bị giới hạn trong bất kỳ một hình thức nào cả Tồn tạitrong một trạng thái không tồn tại, nghĩa là nó chưa là một cái gì cả, nhưng lạitồn tại với tư cách là khả năng trở thành một cái gì đó

Dạng vật chất này không do ai sinh ra, nó tồn tại mãi mãi, nhưng là tồntại thụ động Chúng trơ ỳ và mãi mãi trơ ỳ nếu như không được kết hợp với một

Trang 24

hình thức để trở thành một sự vật cụ thể Heghen đã nhận xét: “vật chất chỉ làcái nền tảng khô cứng mà trên đó diễn ra các biến đổi, và trong những biến đổi

ấy vật chất chỉ là cái chịu đựng”[32, 119]

Aristot quan niệm sự tồn tại xuất phát từ bốn nguyên nhân cơ bản là hìnhdạng, vật chất, vận động, mục đích Sự vật nào có đầy đủ những nguyên nhântrên mới tồn tại được Đồng thời ông chia vận động ra thành bốn loại: biến hóa

về bản chất, biến hóa về số lượng, biến hóa về tính chất, biến hóa về vị trí.Nhưng vận động cũng chỉ là một khía cạnh, nguyên nhân của hình dạng Ông

đã đi tới quan niệm sai lầm khi cho rằng hình dạng là hiện thực, vật chất là khảnăng Aristot đã không thừa nhận sự vận động tự thân của vật chất mà mongmuốn đi tìm nguyên nhân thực sự của vận động bên ngoài sự vật Đối với ông

sự phát triển được hiểu như là sự chuyển dịch giản đơn trong không gian, ông

đa không trình bày được sự phức tạp, biến hóa của sự phát triển Đó chính làđiểm hạn chế của ông, thể hiện sự dao động trong lập trường duy vật và duytâm của Aristot Những đóng ghóp của Aristot đối với sự phát triển của triết họcnói riêng, của đời sống nhân loại nói chung là hết sức lớn lao, mặc dù bên cạnh

đó không ít những hạn chế Hêghen nhận xét: “ bao chứa toàn bộ các quan niệmcủa con người, trí tuệ của Aristot đề cập tới mọi mặt và mọi lĩnh vực của thếgiới hiện thực”[5, 224]

1.1.3 Quan niệm về sự phát triển trong triết học cổ điển Đức

Triết học cổ điển Đức là đỉnh cao của triết học phương Tây, có ảnhhưởng sâu rộng và to lớn đến triết học hiện đại Thời kỳ này triết học thế giớighi nhân những nhà tư tưởng có tầm vóc thời đại, tuy nhiên đáng kể nhất, lớnnhất phải kể đến những nhà triết học cổ điển Đức như: Canto, Heeghen,Phoiơbăc Những tư tưởng triết học của các ông đã khắc phục những quan niệmtriết học trước đó bằng những quan niệm rõ ràng hơn về quá trình vận động vàphát triển của sư vật hiện tượng trong tự nhiên

Trang 25

Canto một trong những nhà triết học vĩ đại nhất của lịch sử tư tưởngphương Tây trước Mác Theo như đánh giá của Heghen thì Canto chính là điểmxuất phát của triết học Đức hiện đại.

Thời kỳ tiền phê phán Canto đã đưa những quan niệm hết sức tiến bộ vềnguyên lý phát triển Ông tuyên bố: “hãy cho tôi vật chất, tôi sẽ xây dựng thếgiới từ nó, nghĩa là hãy cho tôi vật chất, tôi sẽ chỉ cho các anh thấy thế giới đã

ra đời từ vật chất như thế nào”.[32, 379]

Theo Canto thế giới này được cấu tạo từ vật chất và luôn luôn vận động,biến đổi, tất cả các sự vật đều nằm trong mối liên hệ tương tác lẫn nhau thôngqua lực hút và lực đẩy Thế giới là kết quả của quá trình phát triển lâu dài của tựnhiên theo hướng ngày càng hoàn thiện Ông cho rằng không chỉ mọi sự vậttrong thế giới chúng ta mà cả toàn bộ vũ trụ nói chung đều nằm trong quá trìnhphát sinh phát triển và diệt vong như một quy luật

Học thuyết về nguồn gốc và hình thành vũ trụ của Canto đã đi vào lịch sửvới ý nghĩa cách mạng, vì nó tiến bộ hơn hẳn so với các giả thuyết trước đây về

vũ trụ, chứa đựng nhiều tư tưởng duy vật, đem lại quan niệm mới trong việcxem xét sự phát triển của thế giới Theo học thuyết này không chỉ có trái đất mà

cả vũ trụ là kết quả của sự tiến hóa lâu dài của chính nó, đã bác bỏ quan niệmsiêu hình khi cho rằng một thế giới chúng ta đang tồn tại thì bao giờ cũng nhưbây giờ “ mà trái đất và tất cả hệ thống mặt trời thể hiện ra như là một cái gì đãhình thành trong thời gian”[6, 422]

Ngoài giả thuyết về nguồn gốc và sự hình thành vũ trụ từ những đám tinh vân,Canto còn có giả thuyết khoa học về sự lên xuống của thủy triều do sức hút củamặt trăng và trái đất Ông cho rằng mỗi thiên thể trong vũ trụ ra đời hay kếtthúc chỉ là sự biến đổi từ trạng thái này sang trạng thái khác

Trong tác phẩm “Chống Đuyrinh” Ăngghen đã dánh giá cao hai giảthuyết khoa học này của Canto bởi hai giả thuyết khoa học này đã đem lại một

Trang 26

quan điểm biện chứng về sự phát triển về mối liên hệ của các sự vật hiện tượngtrong vũ trụ, đặc biệt phát minh thứ nhất đã đem lại quan điểm lịch sử vào địahạt vạn vật học lý thuyết.

Đến thời kỳ phê phán do chịu ảnh hưởng của Lepnit và chủ nghiã duytâm chủ quan của Hium nên Canto đã không thừa nhận tồn tạo khách quan, tự

nó của thế giới các sự vật Ông đã phủ nhận chính những dự đoán thiên tài củamình về nguồn gốc sự vận động và phát triển Canto đã có sự dao động giữa thếgiới quan duy vật với thế giới quan duy tâm, giữa nhất nguyên và nhị nguyên,giữa khả tri và bất khả tri, nhưng thực tiễn ở đây không gắn liền với hoạt độngsản xuất vật chất mà chỉ gắn với lý tính thực tiễn Quan điểm phát triển củaCanto tuy có nhiều điều chưa hợp lý nhưng những tiến bộ là điều rất đáng ghinhận Triết học của ông là cơ sở lý luận,tiền đề xuất phát của nhiều trào lưu triếthọc hiện đại sau này như: chủ nghĩa hiện sinh, chủ nghĩa thực dụng, chủ nghĩathực chứng, hiện tượng học…

Hêghe không chỉ là thiên tài triết học của Đức mà còn là của thế giới.Trước Mác, Hêghen là người trình bày sự vận động và phát triển một cách khúcchiết chặt chẽ nhất Hêghen coi sự vận động, phát triển không đơn thuần là tănghay giảm về lượng hay sự dịch chuyển vị trí của vật về không gian Quan điểmphát triển của Hêghen chính là cái nhìn mới trong triết học Ăngghen đã nhậnxét như sau về Hêghen trong tác phẩm “Chống Đuyrinh”: “Nền triết học cổđiển Đức đã đạt tới đỉnh cao của nó trong hệ thống của Heghen, trong đó lầnđầu tiên- Và đây là công lao lớn nhất của ông – toàn bộ thế giới tự nhiên, lịch

sử và tinh thần được trình bày như là một quá trình- nghĩa là được nhận thứctrong vận động, biến đổi, biến hóa và phát triển không ngừng và đã cố chứngminh mối liên hệ nội tại của sự vận động và phát triển ấy Theo quan điểm ấylịch sử loài người không còn thể hiện ra là một mớ hỗn độn kinh khủng baogồm những hành vi bạo lực vô nghĩa và đáng phải kết tội như nhau trước tòa án

Trang 27

của lý tính triết học ngày nay đã trưởng thành, và tốt hơn là người ta nên quênchúng đi thật nhanh- mà là một quá trình phát triển của bản thân loài người Vànhiệm vụ của tư duy hiện nay là phải theo dõi bước tiến tuần tự của quá trình ấyqua tất cả những bước lầm lạc của nó và chứng minh tính quy luật bên trongcủa nó qua tất cả những cái ngẫu nhiên bề ngoài Việc Hêghen không giải quyếtnhiệm vụ ấy ở đây không quan trọng Công lao lịch sử của là đề ra nhiệm vụấy”[18, 39-40]

Trong hành trình đi tìm bản nguyên của thế giới, Hêghen đã nhận được

sự cổ vũ đầy ấn tượng của học thuyết ý niệm của nhà triết gia lừng danh thờiHiLạp cổ đại là Platon Ý niệm tuyệt đối đã trở thành phạm trù xuất phát và làtrung tâm triết học của ông

Xuất phát điểm là phạm trù ý niệm tuyệt đối, Theo cách trình bày củaHêghen không thể tách rời quan điểm phát triển Phát triển là một quá trình phủđịnh biện chứng, là quá trình cái mới ra đời thay thế cái cũ trên cơ sở kế thừanhững yếu tố của cái cũ mà chúng có khả năng thúc đẩy sự phát triển

Quan điểm phát triển của Hêghen là cái nhìn mới trong triết học, khônggiống như quan niệm về sự phát triển của một số các nhà tư tưởng khác khi coiphát triển là sự tăng hoặc giảm đơn thuần về mặt lượng Theo Hêghen mọi sựvật trong thế giới chúng ta đều phát triển theo quy luật biện chứng Phát triển làmột quy luật tất yếu bên trong của sự vật Trước đây nhiều người hiểu phát triểnnhư là một sự chuyển động cơ học hay sự chuyển dần về mặt lượng, thì Hêghenlại cho rằng phát triển là sự thay đổi dần dần về lượng dẫn tới sự biến đổi nhảyvọt về chất, là sự nảy sinh và giải quyết mâu thuẫn giữa các mặt đối lập tronglòng mỗi sự vật, là sự phủ định quan không gì có thể cưỡng nổi

Hệ thống triết học của Hêghen được thiết định theo hình thức tam đoạnluận: chính đề- phản đề- hợp đề Tương ứng với ba giai đoạn phát triển ý niệmtuyệt đối: tinh thần chủ quan, tinh thần khách quan, tinh thần tuyệt đối Ba giai

Trang 28

đoạn này là biểu hiện của quá trình phát sinh và giải quyết mâu thuẫn các mặtđối lập vật chất và tinh thần, khách thể và chủ thể trong bản thân ý niệm tuyệtđối Đó cũng là biểu hiện của mâu thuẫn giữa con người và tự nhiên Con ngườikhông chỉ là chủ thể mà còn là kết quả của quá trình hoạt động.

Hêghen tuy đưa ra những quan điểm biện chứng về sự phát triển nhưnglại đứng trên lập trường duy tâm khách quan nên đã thiếu khoa học trong suyluận Tuy nhiên những quan điểm trên của Heghen mới chỉ dừng ở góc độ biệnchứng của khái niệm chứ chưa nói chính xác biện chứng khách quan của duyvật Bởi Hêghen chỉ coi sự vật hiện tựơng chỉ là một dạng tồn tại khác của “ýniệm tuyệt đối” Sự vật hiện tượng dù có sự chuyển hóa về chất nhưng khôngphải là sự vận động đi lên, hướng về tương lai, mà là vận động đi xuống hướng

về quá khứ Và ngay cả với những tri thức, ý thức của con người cũng chỉ lànhững gì đã có trước đây trong quá khứ Sự vận động chỉ có trong thế giới cáckhái niệm, trong thế giới hiện thực thì đều chết cứng, tất cả đều không pháttriển, mà chỉ là sự phản ánh của một thế giới khác, thế giới ý niệm Mác đãnhận xét như sau về Hêghen : “tính chất thần bí mà phép biện chứng đã mắcphải trong tay Hêghen tuyệt nhiên không ngăn cản Hêghen trở thành người đầutiên trình bày một cách bao quát và có ý thức những hình thái vận động chungcủa phép biện chứng ấy Ở Hêghen phép biện chứng bị lôn ngược đầu xuôngđất Chỉ cần dựng nó lại là sẽ phát hiện được cái hạt nhân hợp lý của nó đằngsau lướp vỏ thần bí”[18, 209]

Lút-vic-Phoi ơ-bắc là nhà triết học duy vật kiệt xuất người Đức Chủnghĩa duy vật của ông là một trong những di sản tư tưởng mà Mác và Ăngghen

đã kế thừa Khi chống lại luận điểm duy tâm của Hêghen coi thế giới tự nhiên là

“tồn tại khác” của tinh thần thì Phoi- ơ- bắc đã khẳng định thế giới là vật chất,giới tự nhiên không do ai sáng tạo ra,không phụ thuộc vào bất cứ hệ thống triếthọc nào, tự nhiên là cội nguồn của tư duy

Trang 29

Phạm trù con người rất được nhà triết học này quan tâm, ông nói: “Chân

lý không phải là chủ nghĩa duy vật hay chủ nghĩa duy tâm…, chân lý là nhânbản học”[6, 497] Trong quan niệm của ông thì con người không ai sáng tạo ra

mà theo quy luật tự nhiên, đặc biệt hơn khi ông cho rằng chính con người sángtạo ra thượng đế Quan điểm này mặc dù hết sức “ngây thơ” nhưng đã có tácdụng chống lại chủ nghĩa duy tâm thần bí Những tư tưởng của ông đã có ảnhhưởng lớn tới Mác và Ăngghen sau này Với Phoi- ơ – bắc thì con người là trừutượng, phi xã hội mang những thuộc tính sinh học bẩm sinh Do xuất phát từtrừu tượng phi hiện thực nên ông không hiểu thực chất của sự vận đông và pháttriển nói chung, sự phát triển của xã hội và con người nói riêng, không thấy conngười tồn tại trong sự phụ thuộc vào các quan hệ xã hội, và cũng không nhậnthấy con người có thể thông qua các công cụ lao động tác động vào thế giới tựnhiên gây biến đổi bộ mặt của tự nhiên, làm cho tự nhiên thích ứng với nhu cầucủa con người, ông quên đi hoặc không nhận thấy hoạt động thực tiễn của conngười diễn ra trong đời sống xã hội

Như vậy mặc dù Phoi- ơ- bắc có đề cập tới sự phát triển của giới tựnhiên, nhưng quan niệm của ông vẫn mang tính siêu hình vì ông không chú ýđến tính biện chứng của giới tự nhiên như mâu thuẫn, lượng- chất, phủ định…lànhững cái khách quan vốn có của tự nhiên

Ông đã rất tiến bộ khi phê phán chủ nghĩa duy tâm nhưng lại hạn chế khicho rằng cần một tôn giáo tình yêu làm động lực thúc đẩy cho sự phát triển của

xã hội Lênin đã đánh giá các quan điểm của Phoi- ơ- bắc về thế giới là rõ ràngnhưng còn nông cạn và chưa sâu Tuy nhiên cũng khẳng định: “ Tính chất thần

bí mà phép biện chứng đã mắc phải trong tay Hêghen- tuyệt nhiên không ngăncản Hêghen trở thành người đầu tiên trình bày một cách bao quát và có ý thứcnhững hình thái vận động chung của phép biện chứng”[19, 35]

Trang 30

Như vậy qua nghiên cứu lịch sử triết học trước Mác về sự phát triển chothấy bên cạnh những đóng ghóp tích cực các nhà triết học trải từ phương Đôngđến phương Tây, từ thời kỳ cổ đại đến cận đại, hiện đại đã vấp phải những hạnchế Những hạn chế này đã được các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác- Lêninkhắc phục và làm hoàn thiện Xây dựng một triết học mới: triết học duy vậtbiện chứng, là nền triết học không chỉ có khả năng giải thích thế giới mà đặcbiệt hơn còn cải tạo thế giới.

1.2 Quan niệm về sự phát triển trong triết học Mác- Lênin

Nguyên lý phát triển là một trong hai nguyên lý cơ bản của phép biệnchứng duy vật Ph.Ăngghen định nghĩa: “phép biện chứng chẳng qua chỉ làmôn khoa học về những quy luật phổ biến của sự vận động và phát triển của tựnhiên, của xã hội loài người và của tư duy” [32, 201] Trong phép biện chứngduy vật, phát triển dùng để khái quát quá trình vận động đi lên từ thấp đến cao,

từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn Qúa trình đóvừa diễn ra dần dần vừa nhảy vọt làm cho sự vật, hiện tượng cũ mất đi, sự vật,hiện tượng mới về chất ra đời Phát triển là tự thân Động lực của sự phát triển

là mâu thuẫn giữa các mặt bên trong sự vật hiện tượng Phát triển đi theo đường

“xoáy ốc”, cái mới dường như lặp lại một số đặc trưng, đặc tính của cái cũnhưng trên cơ sở cao hơn, thể hiện tính quanh co phức tạp, có thể có nhữngbước thụt lùi trong sự phát triển

Phát triển là một trường hợp đặc biệt của vận động Trong quá trình pháttriển, sự vật, hiện tượng chuyển hóa sang chất mới, cao hơn, phức tạp hơn, làmcho cơ cấu tổ chức, phương thức vận động và chức năng của sự vật ngày cànghoàn thiện hơn Phát triển có tính khách quan, tính phổ biến, tính đa dạng, vàtính kế thừa Từ nguyên lý về sự phát triển con người rút ra được những quanđiểm, nguyên tắc chỉ đạo hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn

1.2.1 Tính khách quan

Trang 31

Tính khách quan biểu hiện trong nguồn gốc của sự vận động và pháttriển, là quá trình bắt nguồn từ bản thân sự vật hiện tượng, là quá trình giảiquyết mâu thuẫn trong sự vật, hiện tượng đó Qúa trình giải quyết mâu thuẫn làmột quá trình mà trong đó những yếu tố không còn phù hợp, đã trở nên lỗi thời,lạc hậu sẽ bị trừ khử, biến mất Những yếu tố còn phù hợp sẽ được cải tạo vàphát triển Phát triển không phụ thuộc vào ý muốn của con người, không mơ hồ,thần bí, không phải sự điều khiển chi phối bởi lực lượng thần linh… Phát triển

là một khuynh hướng tất yếu, một thuộc tính khách quan

Nói về sự phát triển, trong tác phẩm “Chống Đuyring”Ăngghen đã nhậnxét như sau “chừng nào chúng ta xem xét các sự vật như là đứng im và không

có sinh khí, cái nào riêng cho cái ấy, cái này bên cạnh cái kia và hết cái này đếncái kia, thì chắc chắn chúng ta không thấy được một mâu thuẫn nào trong các sựvật cả Chúng ta tìm thấy trong số đó một số những thuộc tính phần thì giốngnhau, phần thì khác nhau, thậm chí mâu thuẫn với nhau nữa, nhưng trongtrường hợp này các thuộc tính đó lại phân ra trong những sự vật khác nhau vànhư thế là ngay trong những thuộc tính đó cũng không chứa đựng mâu thuẫn.Trong giới hạn của lĩnh vực xem xét này, chúng ta dùng phương pháp tư duythông thường, phương pháp siêu hình cũng có thể giải quyết được” Đồng thờiông nói: “Nhưng tình hình sẽ khác nếu chúng ta xem xét sự vật trong sự vậnđộng , trong sự biến đổi, sự sống, sự tác động lẫn nhau giữa chúng” Chỉ có nhưvậy thì lúc đó chúng ta mới có thể thấy sự vật vận động là một mâu thuẫn, ngaymột lúc sự vật vừa là nó lại không phải là nó nữa Cho nên vận động, sự tácđộng lẫn nhau làm cho mâu thuẫn xuất hiện thường xuyên, đồng thời cũngthường xuyên được giải quyết Mâu thuẫn tồn tại là khách quan và sự phát triểncũng là khách quan, chúng tồn tại và không hề phụ thuộc vào ý muốn chủ quancủa con người, không phụ thuộc vào sự chi phối hay những tác động làm cho sự

Trang 32

vật đi theo hướng mà con người mog muốn Sự vật luôn luôn phát triển theokhuynh hướng chung của thế giới vật chất.

Để nhận thức rõ hơn về tính khách quan của sự phát triển, chúng ta có thểvận dụng vào đời sống hiện thực như sau Nếu trước đây trong tư tưởng củanhững triết gia Trung Quốc cũng như tư tưởng của lễ giáo phong kiến Việt Namthì phạm trù “trung” là trung với vua, vì vua mà phục vụ, thậm chí xả thân vìvua Tư tưởng này trải qua quá trình không gian và thời gian, ngày nay “trung”

đã có sự thay đổi về ý nghĩa, không còn bó hẹp ở việc trung thành với một vịvua nào đó, một thế lực có sức mạnh áp chế nào đó mà là trung với Đảng, vớiNhà nước, trung thành với lợi ích của toàn thể nhân dân, vì lợi ích của nhân dân

mà phục vụ ( Trung với nước, hiếu với dân) Cũng là một chữ trung nhưng ýnghĩa đã hoàn toàn khác Chữ “trung” được như ngày hôm nay đã phải trải quabao cuôc đấu tranh đầy máu và nước mắt trong lịch sử, xóa bỏ chế độ phongkiến, rồi thực dân phong kiến, xóa bỏ đi chế độ nông nô, thân phận người nô lệ

bị áp bức bóc lột Giờ đây nhân dân ta sống nhà nước Xã Hội Chủ Nghĩa hướngtới Chủ Nghĩa Cộng Sản, không áp bức, bóc lột, bất công Con người được làmchủ chính mình, là chủ nhân của đất nước Chữ “trung’’ là một quá trình giảiquyết những mâu thuẫn bên trong nó, và rồi dần dần thích ứng với điều kiệnbên ngoài, là một sự phát triển có tính chất khách quan

Như vậy qua những gì đã phân tích trên đây có thể một lần nữa khẳngđịnh rằng, sự phát triển là một tất yếu khách quan của sự vật, là một quá trìnhliên tục giải quyết những mâu thuẫn nảy sinh trong sự tồn tại và vận động pháttriển của sự vật

1.2.2 Sự phát triển có tính phổ biến

Tính phổ biến của sự phát triển được hiểu là nó diễn ra ở mọi lĩnh vực, tựnhiên, xã hội và tư duy, ở bất cứ sự vật, hiện tượng nào của thế giới khách quan.Ngay cả các khái niệm, các phạm trù phản ánh hiện thực cũng nằm trong quá

Trang 33

trình vận động và phát triển, chỉ trên cơ sở của sự phát triển , mọi hình thức của

tư duy, nhất là các khái niệm và phạm trù mới có thể phản ánh đúng đắn hiệnthực luôn luôn vận động và phát triển

Sự phát triển diễn ra trong tất cả các mặt các lĩnh vực của xã hội, tư duy

và con người, diễn ra trong tự nhiên, trong bản thân của tất thảy những sự vật,hiện tượng của thế giới khách quan Qúa trình phát triển ở mỗi sự vật, hiệntượng là không giống nhau và ngay trong bản thân của sự vật, hiện tượng đó thìquá trình phát triển cũng không giống nhau Qúa trình sinh trưởng và phát triểncủa cây lúa khác với cây ngô(hình thức phát triển, thời gian phát triển, điều kiệnphát triển…), sinh trưởng và phát triển của con người khác với những loài độngvật khác Và ngay trong bản thân của con người, của các loài động, thực vật,cũng khác nhau trong từng giai đoạn phát triển, chu kỳ phát triển Nhưng dùbước phát triển của các sự vật, hiện tượng có tuần tự hay nhảy vọt thì nhìnchung tất cả đều nằm trong trạng thái phát triển, kể cả tư duy, ý thức của conngười cũng vậy

Trong tư duy ý thức của con người, ta thấy sự phát triển là không ngừng.Đứa trẻ sinh ra từ chỗ chỉ biết khóc biết cười, dần dần qua thời gian, không giansống, với những dưỡng chất nuôi bé lớn khôn, bé đã biết nói, rồi nhận biết đồvật, định hình đồ vật giản đơn trong những trò chơi, kế đến là những sự vật hiệntượng trong thế giới tự nhiên, xã hội như: mưa, nắng, buồn, vui…sự phát triển

đó là không ngừng hoàn thiện, từ giản đơn đến phức tạp, từ chưa hoàn thiện đếnhoàn thiện

Trong tự nhiên, tất cả các động thực vật, từ vô cơ đến hữu cơ, từ thực thểđơn bào, hay đa bào, từ những động vật chưa có hệ thần kinh trung ương đến cóđầy đủ, tất cả đều trong trạng thái vận động và phát triển không ngừng

Trong xã hội, sự phát triển thể hiện qua những thay đổi về kết cấu giaicấp, cơ cấu ngành, lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất…

Trang 34

1.2.3 Sự phát triển của sự vật có tính kế thừa

Sẽ thật thiếu sót nếu chúng ta không nói tới tính kế thừa- một trong bốntính chất của sự phát triển trong quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin Theochủ nghĩa Mác thì phát triển không chỉ là sự ra đời của cái mới, cái mới loại bỏ,triệt tiêu cái cũ mà còn cần phải có sự kế thừa và phát triển Vậy kế thừa cái gì?

Đó là kế thừa những mảng, những nhân tố còn hợp lý, có ý nghĩa tích cực đốivới sự phát triển của cái mới Sẽ không có bất cứ cái mới nào ra đời và tồn tại,phát triển mà không dựa một phần nào đó của những yếu tố tích cực của cái cũ

Sự vật hiện tượng mới ra đời không phải là ngẫu nhiên, là tự dưng mà có, nóhình thành và phát triển trên cơ sở chọn lọc những yếu tố còn hợp lý và có thểcải tạo được của cái cũ “Sự phát triển dường như diễn ra lại những giai đoạn đãqua nhưng với một hình thức khác ở trình độ cao hơn, sự phát triển có thể nói làtheo đường xoáy trôn ốc chứ không phải theo đường thẳng”

Tuy nhiên chúng ta cần hiểu rằng cái mới ra đời trên cơ sở kế thừa nhữngmảnh ghép, những cái cũ hợp lý chứ không phải kế thừa một cách nguyên xi,máy móc Những nhân tố tích cực của cái bị phủ định được cải tạo, nâng lênmột tầm cao hơn Có những người theo quan diểm siêu hình, họ phủ định sạchtrơn tất cả, không dung nạp bất cứ một nhân tố nào của cái cũ dù là hợp lý nhất.Tuy nhiên khi cần thì họ lại ngang nhiên quay lại thừa nhận cái cũ, không phêphán, không cải tạo, không loại bỏ…Điều này trên thực tế đã thấy rất rõ, trướcđây trong thời kỳ hán chiến chống Mỹ và khi đất nước ta vừa giành được hòabình, cả nước cùng tiến lên Chủ Nghĩa Xã Hội Để khắc phục những khó khăntrước mắt về kinh tế- xã hội, Đảng và nhà nước đã chỉ đạo thực hiện chính sáchbao cấp, mở rộng hình thức hợp tác xã, hợp tác xã bậc thấp đến hợp tác xã bậccao Bên cạnh những mặt tích cực đã đạt được, các hợp tác xã đã dần bộc lộnhững khiếm khuyết, lạc hậu, thái độ làm việc của người lao động không cao,tình trạng lơ là, ỷ lại diễn ra là phổ biến…Từ những nguyên nhân này hợp tác

Trang 35

xã đã dần tan rã Tuy nhiên hiện nay, một thực trạng là đang dần có những trangtrại kinh tế, các mô hình kinh tế làm ăn theo kiểu hợp tác xã, những nôngtrường, những nhà máy sản xuất liên hợp với nhau tạo thành những khâu sảnxuất vô cùng hiện đại, từ cung cấp nguyên vật liệu, đến nơi sản xuất và nơittieeu thụ sản phẩm… Đây là một biểu hiện tích cực của hợp tác xã trên cơ sở

kế thừa những yếu tố hợp lý, tích cực đã có trước đây, loại bỏ những hạn chế,lỗi thời đã trở nên không phù hợp

Như vậy sự phát triển bao giờ cũng ra đời trên nền tảng của cái cũ, kếthừa không phải là kế thừa máy móc nguyên xi mà trên cơ sở lọai bỏ, cải tạo

Kế thừa là một tất yếu của sự phát triển Là một mắt xích quan trọng gắn kếtgiữa cái cũ và mới, giữa quá khứ và hiện tại…vì vậy khi nghiên cứu hay đánhgiá về sự phát triển chúng ta cần lưu ý hết sức tới tính kế thừa

1.2.4 Sự phát triển có tính đa dạng phong phú

Sự phát triển còn có tính đa dạng phong phú Phát triển là khuynh hướngchung của mọi sự vật, mọi hiện tượng, song mỗi sự vật hiện tượng lại có quátrình phát triển không giống nhau Tồn tại ở không gian và thời gian khác nhau,

sự vật phát triển cũng sẽ khác nhau Đồng thời trong quá trình phát triển củamình sự vật còn chịu tác động của các sự vật, hiện tượng khác, của rất nhiềunhững yếu tố, những sự kiện Sự tác động đó có thể thúc đẩy, có thể kìm hãm

sự phát triển của các sự vật, đôi khi có thể làm thay đổi chiều hướng sự pháttriển của sự vật, thậm chí là làm cho sự vật thụt lùi

Một ví dụ đơn giản như sau để thấy sự phát triển là đa dạng phong phú.Trước đây bà con nông dân canh tác trên đất trồng lúa, chỉ có thể gieo hạt vàthu hoạch từ 1 đến 2 vụ, năng xuất lúa thấp bởi vì giống không tốt, dài ngày lạinhiều sâu bệnh mà với phương pháp kỹ thuật giản đơn từ lâu đời không ngănchặn được Ngày nay, cũng trên những thuở ruộng đó người nông dân có thểcanh tác tới 3 vụ, cây lúa sinh trưởng phát triển nhanh, ngắn ngày mà hiệu quả

Trang 36

năng suất cao, trong quá trình canh tác có đưa vào sử dụng những phương pháp

và công cụ máy móc hiện đại Không chỉ vậy còn có thể xen canh trồng một sốloại cây trồng khác trên đất lúa như: ngô, khoai mà không làm ảnh hưởng tớithời vụ Ở những vùng cũng trồng lúa, nhưng nếu chưa có sự phối hợp với trình

độ khoa học công nghệ hiện đại thì năng suất về lúa, chất lượng của cây lúacũng như trước đây mà thôi Như vậy, sự vận động và phát triển của những sựvật khác nhau cũng khác nhau Đó chính là tính đa dạng phong phú của các sựvật trong thế giới hiện thực bao gồm cả giới tự nhiên, xã hội loài người và cảtrong lĩnh vực tư duy.Tính đa dạng trong sự phát triển của sự vật, hiên tượngcòn có nguyên nhân từ sự khác nhau giữa các vật về nhịp độ và về quy mô củanhững bước nhảy vọt Bước nhảy vọt về chất có diễn ra một cách nhanh chóngmang tính đột biến, cũng có thể diễn ra một cách dần dần từ từ mang tính tiếnhóa Khi nhấn mạnh về tính đa dạng phong phú của các sự vật cũng cần nhấnmạnh tới tính lặp của thế giới các sự vật, bởi vì mỗi sự vật và hiện tượng cùngmột lúc vừa tồn tại trong vận động vừa tồn tại trong sự ổn định tạm thời thoángqua Sự biến đổi thường xuyên và tuyệt đối đã trở thành căn nguyên cho tính đadạng, còn sự ổn định tương đối là cơ sở của tính lặp lại, của tính quy luật

1.3.Mối quan hệ giữa nguyên lý về sự phát triển với vấn đề quy hoạch đội ngũ cán bộ quản lý huyện Thọ Xuân, Tỉnh Thanh Hóa

Nguyên lý về sự phát triển cho thấy rằng phát triển chính là một quy luậtcủa tự nhiên, xã hội và tư duy, là một tất yếu khách quan mà con người với tất

cả sức mạnh và khả năng của mình cũng không thể chi phối được

Mọi sự vật hiện tượng đều nằm trong quá trình vận động và phát triển,nên trong nhận thức và hoạt động của bản thân chúng ta phải có quan điểm pháttriển Điều đó có nghĩa là khi xem xét bất kỳ sự vật, hiện tượng nào chúng tacũng phải đặt chúng trong sự vận động, sự phát triển, vạch ra xu hướng biếnđổi, chuyển hóa của chúng

Trang 37

Quan điểm phát triển cho thấy rằng chúng ta không chỉ nắm bắt nhữngcái đang tồn tại ở sự vật, mà còn phải thấy rõ những khuynh hướng phát triểntrong tương lai của chúng Phải thấy được những biến đổi đi lên cũng nhưnhững biến đổi có tính chất thụt lùi Song điều cơ bản là phải khái quát đượcnhững biến đổi để vạch ra khuynh hướng biến đổi chính của sự vật Xem xétquá trình phát triển còn cho chúng ta biết cần phải phân chia quá trình phát triểncủa sự vật ấy thành những giai đoạn, trên cơ sở ấy tìm ra phương pháp nhậnthức cũng như cách tác động phù hợp để sự vật tiến nhanh hơn hoặc kìm hãm

sự phát triển của nó, tùy theo sự phát triển đó có lợi hay hại đối với đời sốngcon người Quan điểm phát triển ghóp phần khắc phục tư tưởng bảo thủ, trì trệ,định kiến trong hoạt động nhận thức Bởi vậy chúng ta cần phải tăng cườngphát huy nổ lực của bản thân trong việc hiện thực hóa quan điểm phát triển vàotrong nhận thức và cải tạo sự vật nhằm phục vụ nhu cầu, lợi ích của chúng ta vàtoàn xã hội

Sự phát triển hết sức phong phú và đa dạng, quanh co và phức tạp,là mộtquá trình biện chứng đầy mâu thuẫn Mỗi chúng ta nếu không nhận biết rõ điềunày sẽ rất dễ rơi vào dao động, hoang mang, trong quá trình công tác sẽ gặpnhững bất lợi có ảnh hưởng tới bản thân và tập thể

Nắm vững quan điểm phát triển của triết học Mác- Lênin mang lại mộtcách nhìn biện chứng về vấn đề xây dựng và quy hoạch đội ngũ cán bộ Đặt nótrong quá trình vận động và phát triển, phải thấy được sự thống nhất giữa sựbiến đổi về lượng với sự biến đổi về chất trong sự phát triển, phải phát hiện racác xu hướng vận động, biến đổi, chuyển hóa của chúng Như đã nói quan điểmphát triển không chỉ đòi hỏi phải nhận thức được sự vật hiên tượng trong quákhứ, hiện tại mà còn dự báo sự phát triển trong tương lai Trong quá trình pháttriển sự vật đồng thời với những biến đổi tiến lên và có những biến đổi thụt lùi.Cũng chính vì những đặc điểm đó, khi vận dụng quan điểm phát triển vào công

Trang 38

tác quy hoạch đội ngũ cán bộ của huyện Thọ Xuân cần phải hiểu rõ những xuhướng vận động, biến đổi từ đó đề ra những giải pháp, biện pháp đúng đắn đểcông tác quy hoạch cán bộ đạt được hiệu quả tốt nhất.

Sự phát triển của sự vật hiện tượng đi theo đường “xoáy ốc”, cái mới có

sự kế thừa, lặp lại một số yếu tố của cái cũ nhưng là trên cơ sở cao hơn, thể hiệntính quanh co, phức tạp Và không loại trừ khả năng có những bước thụt lùiđáng kể trong sự phát triển

Như vậy trong quá trình vận dụng nguyên lý về sự phát triển vào trongcông tác quy hoạch đội ngũ cán bộ phải luôn luôn nhạy cảm với cái mới, sớmphát hiện ra nhân tố mới, ủng hộ và tạo điều kiện cho những nhân tố mới đóphát triển Cần tránh và xử lý nghiêm hết sức thái độ làm việc lơ là, thiếu tráchnhiệm, trì trệ, bảo thủ Trong quá trình thay thế cái cũ cũng cần biết kế thừa cóchọn lọc những yếu tố hợp lý, tích cực trong cái cũ

Quán triệt quan điểm phát triển vào trong công tác quy hoạch cán bộnhận ra rằng quy hoạch nguồn cán bộ cần phải đặt trong mối liên hệ với cáclĩnh vực khác như giáo dục, những chính sách của Đảng và Nhà nước…Chỉ khiđặt trong mối liên hệ với các lĩnh vực khác, dù liên quan trực tiếp hay gián tiếpmới có thể thực hiện đúng được

Nguyên lý về sự phát triển như đã nói ở trên, là một trong hai nguyên lý

cơ bản của phép biện chứng duy vật Cho đến triết học hiện đại và ngay cả đếnnay triết học cũng chưa phải là một hệ thống có sự thống nhất, vẫn còn tồn tạinhững quan điểm khác nhau, lập trường khác nhau, trường phái khác nhau, và

ai cũng tìm ra cho mình những lập luận cho là chặt chẽ nhất hòng chứng minhđiều mà mình tin là đúng đắn, là chân lý

Vấn đề không phải ở chỗ những quan điểm, trường phái đó nói gì, điềucốt yếu là chúng ta tin vào cái gì, và cái chúng ta tin theo đó thực sự đã đúngvới hoạt động thực tiễn của chúng ta, giúp ích cho bản thân ta và cộng đồng

Trang 39

xung quanh ta Nguyên lý về sự phát triển cũng như vậy, từ nguyên lý phát triểncon người đã rút ra được những nguyên tắc, những nguyên tắc chỉ đạo hoạtđộng nhận thức và hoạt động thực tiễn, khắc phục những quan điểm duy tâm vàsiêu hình khi xem xét về sự vận động và phát triển của sự vật Vì vậy cần phảinắm vững mối quan hệ về sự phát triển với vấn đề quy hoạch cán bộ quản lýhiện nay, điều này là một nhiệm vụ quan trọng không chỉ với huyện Thọ Xuân,tỉnh Thanh Hóa nói riêng mà đối với cả nước ta hiện nay Vận dụng nguyên lý

về sự phát triển trong công tác quy hoạch cán bộ sẽ giúp cho chúng ta thực hiệntốt hơn, tránh hết sức những sai phạm không đáng có, những hạn chế thiếu sót

có thể lường trước được, cán bộ và nhân dân cùng nhau thực hiện những nhiệm

vụ về kinh tế- xã hội, an ninh- quốc phòng được vững chắc, tiến nhanh, tiếnthẳng, tiến bền vững lên chủ nghĩa xã hội, đúng như nguyện vọng mà sinh thờichủ tịch Hồ Chí Minh và biết bao người con Việt Nam đã anh dũng hi sinhhằng mong muốn

CHƯƠNG 2 VẬN DỤNG NGUYÊN LÝ PHÁT TRIỂN VÀO CÔNG TÁC QUY

HOẠCH CÁN BỘ HUYỆN THỌ XUÂN,

Ngày đăng: 01/01/2014, 11:26

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê Thị Anh (2011), “Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ các xã vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số ở Thanh Hóa”, Tạp chí xây dựng Đảng, số 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ các xãvùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số ở Thanh Hóa”, Tạp chí" xâydựng Đảng
Tác giả: Lê Thị Anh
Năm: 2011
2. Ph. Ăngghen (1976), Lútvic Phoi-ơ- bắc và sự cáo chung triết học cổ điển Đức, Nxb Sự Thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lútvic Phoi-ơ- bắc và sự cáo chung triết học cổđiển Đức
Tác giả: Ph. Ăngghen
Nhà XB: Nxb Sự Thật
Năm: 1976
3. Ăngghen (1984), “Chống Đuyrinh”, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chống Đuyrinh”
Tác giả: Ăngghen
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1984
4. Bộ Giáo dục đào tạo (1996), Triết học, tập 2, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Triết học, tập 2
Tác giả: Bộ Giáo dục đào tạo
Nhà XB: Nxb Chính trị quốcgia
Năm: 1996
5. Bộ Giáo dục đào tạo (2004),Giáo trình triết học Mác- Lênin, Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình triết học Mác- Lênin
Tác giả: Bộ Giáo dục đào tạo
Nhà XB: NxbChính trị quốc gia Hà Nội
Năm: 2004
6. Nguyễn Tiến Dũng(2006) Lịch sử triết học phương Tây, Nxb Tổng Hợp, thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử triết học phương Tây
Nhà XB: Nxb TổngHợp
7. Doãn Chính (2008),Vấn đề triết học trong tác phẩm của C. Mác- Ph.Ăngghen, V. I. Lênin, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề triết học trong tác phẩm của C. Mác- Ph."Ăngghen, V. I. Lênin
Tác giả: Doãn Chính
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2008
10. Đảng Cộng Sản Việt Nam, Văn kiện hội nghị lần thứ 5, ban chấp hành Trung ương khóa IX, Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội,2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện hội nghị lần thứ 5, ban chấphành Trung ương khóa IX
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội
11. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V, Nxb Sự Thật, Hà Nội, 1982 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lầnthứ V
Nhà XB: Nxb Sự Thật
12. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lầnthứ VIII
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
13. Lê THị Hằng (2009), “Vấn đề nâng cao đạo đức công chức trong cải cách hành chính ở nước ta hiện nay”, Tạp chí Triết học, số 6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề nâng cao đạo đức công chức trongcải cách hành chính ở nước ta hiện nay”, Tạp chí "Triết học
Tác giả: Lê THị Hằng
Năm: 2009
14. G. V. Ph. Hêghen (1974), Những bài giảng lịch sử triết học, Nxb Tư Tưởng, Matxcơva Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những bài giảng lịch sử triết học
Tác giả: G. V. Ph. Hêghen
Nhà XB: Nxb TưTưởng
Năm: 1974
15. Nguyễn Doãn Khánh (2001), “Để xây dựng đội ngũ cán bộ của dân, do dân, vì dân”, Tạp chí Xây dựng Đảng, số 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Để xây dựng đội ngũ cán bộ của dân,do dân, vì dân”, Tạp chí "Xây dựng Đảng
Tác giả: Nguyễn Doãn Khánh
Năm: 2001
16. V.I.Lênin (1981), Bút kí triết học, V.I.Lênin, V.I.Lênin toàn tập, tập 29, Nxb Tiến bộ Mátxcơva Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bút kí triết học
Tác giả: V.I.Lênin
Nhà XB: Nxb Tiến bộ Mátxcơva
Năm: 1981
17. Nguyễn Ngọc Lâm (2006), “Một số giải pháp nâng cao chất lượng quy hoạch cán bộ hiện nay”, tạp chí Lý Luận Chính Trị, số 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số giải pháp nâng cao chất lượngquy hoạch cán bộ hiện nay”, tạp chí "Lý Luận Chính Trị
Tác giả: Nguyễn Ngọc Lâm
Năm: 2006
18. C. Mác, Ph. Ăngghen(1982), tuyển tập, tập 3, Nxb Sự Thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: tuyển tập, tập 3
Tác giả: C. Mác, Ph. Ăngghen
Nhà XB: Nxb Sự Thật
Năm: 1982
19. C.Mác và Ăngghen (1994), toàn tập, tập 23, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: toàn tập, tập 23
Tác giả: C.Mác và Ăngghen
Nhà XB: Nxb Chính trị quốcgia
Năm: 1994
20. C.Mác và Ăngghen (1994), toàn tập, tập 20, Nxb Chính Trị Quốc Gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: toàn tập, tập 20
Tác giả: C.Mác và Ăngghen
Nhà XB: Nxb Chính Trị QuốcGia
Năm: 1994
21. Hồ Chí Minh (2000) toàn tập, tập 5, Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: toàn tập, tập 5
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội
22. Hồ Chí Minh (1996) toàn tập, tập 6, Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ) toàn tập, tập 6
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w