1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

SỰ TƯƠNG ĐỒNG và KHÁC BIỆT GIỮA TRIẾT học đạo GIA và TRIẾT học PHÁP GIA ở TRUNG QUỐC THỜI cổ đại

23 1,5K 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Sự tương đồng và khác biệt giữa Đạo gia và Pháp gia ở Trung Quốc thời cổ đại
Tác giả Phạm Văn Binn
Trường học Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Triết học
Thể loại Tiểu luận
Năm xuất bản 2012
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 649 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những tư tưởng triết học cơ bản củatrường phái Đạo gia được thể hiện trong lý luận về đạo và đức.. Tư tưởng triết học trong Đạo đức kinh của Lão Tử: 1.1 Lý luận về đạo và đức: + Đạo là p

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC



ĐỀ TÀI TIỂU LUẬN:

SỰ TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT GIỮA

TRIẾT HỌC ĐẠO GIA VÀ TRIẾT HỌC PHÁP GIA Ở

TRUNG QUỐC THỜI CỔ ĐẠI

Sinh viên thực hiện: Phạm Văn Bin

Trang 2

để lại nhiều bài học quý báu mà đến ngày nay vẫn còn nguyên giá trị

Bài tiểu luận này sẽ đi sâu vào nghiên cứu về những điểm tương đồng và khácbiệt giữa hai trường phái triết học này nhằm mục đích tìm ra ý nghĩa phươngpháp luận và bài học kinh nghiệm, áp dụng trong thực tiễn trong công cuộc xâydựng và phát triển đất nước tại Việt Nam

Trong quá trình nghiên cứu, học viên đã sử dụng một số tài liệu như tài liệu giấy

in ấn, sách và tài liệu trên mạng internet nhằm mục đích nghiên cứu, điều đó đãđược học viên ghi lại chi tiết trong phần Tài liệu tham khảo (đính kèm phía sau)Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong quá trình thực hiện đề tài, tuy nhiên việc hạnchế về thời gian nghiên cứu dẫn đến không thể tránh khỏi sai sót trong quá trìnhlàm bài Mong nhận được sự phản hồi chỉ bảo của thầy, em xin chân thành cảmơn

Trang 3

Chương 1: NHỮNG TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC TRƯỜNG PHÁI ĐẠO GIA.

I Sơ lược sự hình thành và phát triển Đạo gia:

- Đạo gia được Lão Tử (còn gọi là Lão Đam, tên Lý Nhĩ, người nước Sở, có thờilàm quan sử giữ kho sách ở Lạc Ấp, sống khoảng thế kỷ VI TCN) sáng lập ra vàsau đó được Trang Tử (người nước Tống, 369 - 286 TCN) phát triển thêm vàothời Chiến quốc Kinh điển của Đạo gia chủ yếu được tập trung lại trong bộ Đạođức kinh và bộ Nam hoa kinh Đạo đức kinh có khoảng 5000 câu do Lão Tửsoạn, nó gồm 2 thiên nói về Đạo và Đức Nam hoa kinh gồm các bài do Trang Tử

và một số người theo phái Đạo Gia viết Những tư tưởng triết học cơ bản củatrường phái Đạo gia được thể hiện trong lý luận về đạo và đức Lý luận này thểhiện quan niệm biện chứng về thế giới, và là cơ sở để Lão Tử xây dựng thuyết vô

vi

- Đạo gia là tên gọi với tư cách một trường phái triết học lớn, lấy tên của phạmtrù “Đạo”, một phạm trù trung tâm và nền tảng của nó Nguồn gốc tư tưởng củaĐạo gia xuất phát từ những quan điểm về vũ trụ luận, thiên địa, ngũ hành, âmdương, Kinh Dịch…

- Đạo gia ra đời và phát triển rực rỡ từ cuối thời Xuân Thu đến cuối thời ChiếnQuốc và sau đó có tác động ảnh hưởng to lớn đến nhiều lĩnh vực như chính trị,kinh tế, triết học, văn chương, nghệ thuật, âm nhạc, y thuật, sinh học, hoá học, vũthuật, địa lí… ở Trung Quốc và một số nước châu Á khác

II Một số tư tưởng triết học cơ bản của Đạo gia:

1 Tư tưởng triết học trong Đạo đức kinh của Lão Tử:

1.1 Lý luận về đạo và đức:

+ Đạo là phạm trù triết học vừa để chỉ bản nguyên vô hình, phi cảm tính, phingôn từ, sâu kín, huyền diệu của vạn vật, vừa để chỉ con đường, quy luật chungcủa mọi sự sinh thành, biến hóa xảy ra trong thế giới

+ Đạo được tạm hiểu như là cái tự nhiên tĩnh mịch, yên lặng, mộc mạc, hỗn độn,mập mờ, thấp thoáng, không có đặc tính, không có hình thể; là cái mắt không

Trang 4

thấy, tai không nghe, tay không nắm bắt, ngôn ngữ không thể diễn đạt, tư duykhông nhận thức được; là cái năng động tự sinh sôi, nảy nở, biến hóa… TheoLão Tử, đạo vừa là cái có trước vừa là cái nằm trong bản thân sự vật; nhưng khi

có sự can thiệp của con người thì đạo không còn là đạo nữa

+ Đức là phạm trù triết học dùng để thể hiện sức mạnh tiềm ẩn của đạo, là cáihình thức nhờ đó vạn vật được định hình và phân biệt được với nhau, là cái lý sâusắc để nhận biết vạn vật Theo Lão Tử, đạo sinh ra vạn vật, đức nuôi nấng, bảotồn vạn vật Vạn vật nhờ đạo mà được sinh ra, nhờ đức mà thể hiện, và khi mất đi

là lúc vạn vật quay trở về với đạo Đạo sinh ra Một (khí thống nhất), Một sinh raHai (âm, dương đối lập), Hai sinh ra Ba (trời, đất, người), Ba sinh ra vạn Vật

- Nói tóm lại, Đạo gia đã đề cập đến Đạo một cách phi thường, siêu việt, không

đứng trên lập trường duy vật hay duy tâm thuần túy, mà ta chỉ nhận biết đượcđiều đó khi xem xét trong quá trình đề cập đến sự vận hành, tác động của nó. Khi dùng hai chữ “đạo đức”, tức là vừa nói tới mặt bản thể của “đạo” nói chungvừa nhấn mạnh thêm mặt Dụng Khi Đạo ở dạng “thể” thì không có tên, nhưngđến “dụng” (đức) thì có tên Vạn vật nhờ “đức” mà có tên, phân biệt, lễ nghĩa…Cho nên: “Mất đạo rồi mới có đức, mất đức rồi sinh nhân, mất nhân sinh nghĩa,mất nghĩa sinh lễ…” (Đạo đức kinh) Nó ẩn chứa lý lẽ sống chưa hiển lộ

1.2 Quan niệm niệm biện chứng về thế giới của Lão Tử:

- Trong triết học của Lão Tử, quan niệm biện chứng về thế giới gắn liền với quanniệm về đạo – đức Nhờ đức mà đạo nằm trong vạn vật luôn biến hóa Lão Tửcho rằng bất cứ sự vật nào cũng đều là thể thống nhất của hai mặt đối lập Chúngràng buộc, bao hàm lẫn nhau Trong vạn vật, các mặt đối lập không chỉ thốngnhất mà chúng còn xung đột, đấu tranh, chuyển hóa lẫn nhau tạo ra sự thay đổi,biến hoá không ngừng của vạn vật trong vũ trụ Tuy nhiên, theo Lão Tử, sự đấutranh, chuyển hóa của các mặt đối lập này không làm xuất hiện cái mới, mà làtheo vòng tuần hoàn khép kín

Trang 5

- Lão Tử khẳng định càng tách xa đạo, xã hội càng chứa nhiều mâu thuẫn Mâuthuẫn là tai họa của xã hội Vì vậy, để xoá bỏ tai họa cho xã hội, phải thủ tiêumâu thuẫn trong xã hội

- Theo Lão Tử, mâu thuẫn trong xã hội được thủ tiêu bằng cách đẩy mạnh mộttrong hai mặt đối lập để tạo ra sự chuyển hóa theo quy luật phản phục (quay trởlại cái ban đầu), hay cắt bỏ một trong hai mặt đối lập để làm cho mặt đối lập kia

tự mất đi theo quy luật quân bình (cân bằng nhau

- Như vậy, phép biện chứng của Lão Tử mang tính chất máy móc Vạn vật chỉvận động tuần hoàn, lặp đi lặp lại một cách buồn tẻ mà không có sự ra đời của cáimới, nghĩa là không có sự phát triển

1.3 Quan niệm về nhân sinh và chính trị - xã hội

1.3.1 Thuyết vô vi:

- Khi xuất phát từ nguyên lý Đạo pháp tự nhiên và mở rộng quan niệm về đạovào lĩnh vực đời sống xã hội, Lão Tử xây dựng thuyết vô vi để trình bày quanđiểm của mình về các vấn đề nhân sinh và chính trị - xã hội

- Vô vi là sống và hành động theo lẽ tự nhiên, thuần phác, không giả tạo, không

gò ép trái với bản tính của mình và ngược với bản tính của tự nhiên; là từ bỏ tínhtham lam, vị kỷ để không làm mất đức Chỉ khi nào từ bỏ được thói tư lợi thì mớinhận thấy đạo; và chỉ khi nhận thấy đạo mới có thể vô vi được

- Đối lập với vô vi là hữu vi Hữu vi là sống và hành động không theo lẽ tự nhiên,

là đem áp đặt ý chí của mình vào sự vật, là can thiệp vào đất trời Lão Tử phảnđối mọi chủ trương hữu vi, vì ông cho rằng hữu vi chỉ làm xáo trộn trật tự tựnhiên vốn mang tính điều hòa, làm mất bản tính tự nhiên của con người, dẫn đến

sự xa lánh và làm mất đạo

1.3.2 Về đường lối trị nước an dân:

- Về đường lối trị nước an dân, quan điểm của Lão Tử hoàn toàn đối lập với quanđiểm của Khổng Tử Lão Tử cho rằng hành động hay nhất là đừng can thiệp đếnviệc đời; nhưng, nếu đời cần ta phải làm thì ta hãy làm cái không làm một cách

Trang 6

kín đáo, khéo léo Ông coi đây là giải pháp an bang tế thế Ông viết: Chính phủyên tĩnh vô vi thì dân sẽ biến thành chất phác, chính phủ tích cực làm việc thì dânđầy tai họa.

- Nếu Khổng Tử đòi hỏi người trị vì thiên hạ phải là bậc Thánh nhân với cácphẩm chất đạo đức như nhân, lễ, nghĩa, trí…; thì Lão Tử chủ trương bậc Thánhnhân trị vì thiên hạ phải bằng lẽ tự nhiên của đạo vô vi Nếu Khổng Tử chủtrương xây dựng xã hội đại đồng, thì Lão Tử chủ trương xóa bỏ hết mọi ràngbuộc về mặt đạo đức, pháp luật đối với con người để trả lại cho con người cáibản tính tự nhiên vốn có của nó

2 Trang Tử và sự phát triển của Đạo gia:

- Trang Tử (369 – 286 TCN), tên thật là Trang Chu, tác giả bộ Nam Hoa kinh, làmột trong hai bộ kinh điển của Đạo gia Bộ sách gồm ba phần, chứa 33 thiên.Trong đó, có nhiều điểm lấy từ Đạo Đức kinh làm chủ đề

- Sang thời chiến quốc, Trang Tử đã biến các yếu tố biện chứng trong triết họcLão Tử thành chủ nghĩa tương đối và thuyết ngụy biện Từ đó ông xây dựngquan niệm nhân sinh thoát tục – vị ngã – toàn sinh đầy tính duy tâm, tiêu cựctrong trường phái Đạo gia

- Xuất phát từ quan niệm của Lão Tử coi vận vật đều do đạo sinh ra, Trang Tửcho rằng, trời đất và ta cùng sinh ra, vạn vật với ta đều là một, mà đã là một thìcần chi phân biệt cái này cái kia làm gì Từ đó ông cho rằng, đúng – sai, trên –dưới, sang – hèn, bần – tiện … đều như nhau

- Do thoát tục mà phải sống trong trần tục nên Trang Tử chủ trương, phải toànsinh và vị ngã, nghĩa là phải yên theo thời mà ở thuận, vì cái tự nhiên nào cũnghợp lý cả

Tóm lại, những tư tưởng sâu sắc và độc đáo về đạo, về đức, về phép biện chứng,

về vô vi trong hệ thống triết học của Lão Tử đã nâng ông lên vị trí những nhàtriết học hàng đầu trong nền triết học Trung Hoa cổ đại Chúng là mạch suốinguồn làm phát sinh nhiều tư tưởng triết học đặc sắc của nền triết học phươngĐông nói chung và triết học Trung Hoa nói riêng Tuy nhiên cách sống dửng

Trang 7

dưng, thoát tục, vị ngã của trường phái đạo gia là một phản ứng tiêu cực trước sự

bế tắc của thời cuộc nhưng nó phù hợp với quan niệm nhân sinh của nhiều ngườilúc bấy giờ, nhất là tầng lớp quý tộc sa sút trong cuộc chiến triền miên Vì vậy,trường phái đạo gia được nhiều người ủng hộ tin theo

Chương 2: NHỮNG TƯ TƯỞNG CƠ BẢN CỦA TRIẾT HỌC PHÁP GIA

I Sơ lược sự hình thành và phát triển Pháp gia:

- Vào thời Xuân Thu, Quản Trọng (? - 645 TCN) được coi là người đầu tiên bàn

về pháp luật như một cách trị nước, và chủ trương công bố pháp luật rộng rãitrong công chúng Đối với ông, người trị nước phải coi trọng luật, lệnh, hình,chính

- Sang nửa đầu thời Chiến quốc, tư tưởng pháp trị được tiếp tục phát triển Để caitrị đất nước, Thận Đáo (370 - 290 TCN) chủ trương dùng thế, Thân Bất Hại (401

- 337 TCN) chủ trương dùng thuật, còn Thương Ưởng (390 - 338 TCN) chủtrương dùng pháp

- Cuối thời Chiến quốc, Hàn Phi (280 - 233 TCN) không chỉ tổng hợp ba quanđiểm về pháp, thế, thuật của 3 nhà triết học trên thành một học thuyết có tính hệthống và trình bày trong sách Hàn Phi mà ông còn kết hợp 3 học thuyết Nho,Lão, Pháp lại với nhau, trong đó, Nho gia được coi là “vật liệu để xây dựng xãhội”, Đạo gia là “kỹ thuật thi công”, còn Pháp gia là “bản thiết kế”

II Một số tư tưởng triết học cơ bản của Pháp gia:

1 Những tư tưởng của Hàn Phi 

1.1 Ba cơ sở của thuyết pháp trị Hàn Phi

- Một là, thừa nhận sự tồn tại của lý – tính quy luật hay những lực lượng khách

quan trong xã hội Lý chi phối mọi sự vận động của tự nhiên và xã hội Ông yêucầu con người phải nắm lấy cái lý của vạn vật luôn biến hóa mà hành động chophù hợp

- Hai là, thừa nhận sự biến đổi của đời sống xã hội Do không có chế độ xã hộinào bất di bất dịch nên không có khuôn mẫu chung cho mọi xã hội Theo ông,

Trang 8

người thống trị phải căn cứ vào nhu cầu khách quan của lịch sử, dựa vào đặcđiểm của thời thế mà lập ra chế độ, đặt ra chính sách, vạch ra cách trị nước saocho thích hợp Ông cho rằng, không có một thứ pháp luật nào luôn luôn đúng vớimọi thời đại Pháp luật mà biến chuyển được theo thời đại thì thiên hạ trị, cònthời thế thay đổi mà phép trị dân không thay đổi thì thiên hạ loạn.

- Ba là, thừa nhận bản tính con người là ác: do bản tính con người là ác và dotrong xã hội người tốt cũng có nhưng ít, còn kẻ xấu thì rất nhiều nên muốn xã hộiyên bình, không nên trông chờ vào số ít, mong họ làm việc thiện (thực hành nhânnghĩa trị) mà phải xuất phát từ số đông, ngăn chặn không cho họ làm điều ác(thực hiện pháp trị)

1.2 Phép trị quốc của của Hàn Phi là một thuyết có nội dung hoàn chỉnh được

tổng hợp từ pháp, thế, thuật; trong đó pháp là nội dung của chính sách cai trị, thế

và thuật là phương tiện để thực hiện chính sách đó Cả ba pháp, thế, thuật đều làcông cụ trị nước của bậc đế vương

- Pháp được hiểu là quy định, luật lệ có tính chất khuôn mẫu mà mọi người trong

xã hội phải tuân theo; là tiêu chẩn khách quan để định rõ danh phận, trách nhiệmcủa con người trong xã hội Ông đòi hỏi, bậc minh chủ sai khiến bề tôi, khôngđặt ý ngoài pháp, không ban ơn trong pháp, không hành động trái pháp

- Thế được hiểu là địa vị, thế lực, quyền uy của người cầm đầu chính thể Địa vị,thế lực, quyền uy đó của người trị vì phải là độc tôn (Tôn tuân quyền) Theo HànPhi Tử, thế quan trọng đến mức có thể thay thế vai trò của bậc hiền nhân Muốnthi hành được pháp thì phải có thế Pháp và thế không tách rời nhau

- Thuật được hiểu là phương pháp, thủ thuật, cách thức, mưu lược khiển việc,khiến người ta triệt để thực hiện mệnh lệnh mà không hiểu người sai dùng họnhư thế nào Thuật bao gồm ba mặt là bổ nhiệm, khảo hạch và thưởng phạt HànPhi Tử đòi hỏi vua phài dùng pháp như trời, dùng thuật như quỷ Và nếu phápđược công bố rộng rãi trong dân, thì thuật là cơ trí ngầm, là thủ đoạn của vuađược giấu kín Nhờ thuật mà vua chọn được người tài năng, trao đúng chức vụquyền hạn, và loại được kẻ bất tài

Trang 9

Chương 3: NHỮNG NÉT TƯƠNG ĐỒNG GIỮA ĐẠO GIA VÀ PHÁP GIA

 Thời điểm ra đời: Đều xuất hiện trong thời Xuân Thu - Chiến Quốc, làthời kỳ suy tàn của chế độ chiếm hữu nô lệ và quá độ sang chế độ phongkiến, trật tự xã hội rối loạn

 Tư tưởng chủ đạo: đều lấy phạm trù "Đạo" làm phạm trù trung tâm và nềntảng của nó

 Sức ảnh hưởng: đều có tác động ảnh hưởng to lớn đến nhiều lĩnh vực(chính trị, kinh tế, triết học, văn chương ) của Trung Quốc và 1 số nướcChâu Á thời bấy giờ

 Mục tiêu: hướng tới một xã hội thống nhất, ấm no, yên bình

 Quan điểm "vô vi" về mặt chính trị - xã hội: Cả hai đều cho rằng trongđường lối trị quốc phải có "vô vi"

 Tư tưởng biện chứng: đều sử dụng quan điểm biện chứng duy vật để nhìnnhận nhân sinh quan và vũ trụ quan Sự tác động giữa các mặt đối lập dẫnđến sự chuyển hóa, phát triển

 Cả hai đều chịu ảnh hưởng tư tưởng của Nho Gia

 Cả đạo gia và pháp gia đều nhấn mạnh tinh thần nhân văn

 Tập trung vào lĩnh vực luân lý đạo đức, xem việc thực hành đạo đức như

là hoạt động thực tiễn căn bản nhất của một đời người

 Nhấn mạnh sự hài hoà, thống nhất giữa tự nhiên và xã hội Các nhà triếthọc nhấn mạnh sự hài hoà, thống nhất giữa các mặt đối lập, coi trọng tínhđồng nhất của các mối liên hệ tương hỗ của các khái niệm, coi việc điềuhoà các mâu thuẫn là mục tiêu cuối cùng để giải quyết các vấn đề

 Tư duy trực giác Đặc điểm nổi bật của phương thức tư duy triết học cổđại Trung Quốc là nhận thức trực giác, tức là có trong sự cảm nhận haythể nghiệm Cảm nhận tức là đặt mình giữa đối tượng, tiến hành giao tiếp

lý trí, ta và vật ăn khớp, khơi vậy linh cảm, quán xuyến nhiều chiều trongchốc lát, từ đó mà nắm bản thể trừu tượng Phương thức tư duy trực giác

Trang 10

đặc biệt coi trọng tác dụng của cái tâm, coi tâm là gốc rễ của nhận thức,

“lấy tâm để bao quát vật”

 Ảnh hưởng rất sâu rộng đến nền văn minh Trung Hoa, và cả Đông Á

 Ảnh hưởng tới các lĩnh vực chính trị, kinh tế, triết học, văn chương, nghệthuật, âm nhạc dưỡng sinh, y khoa, hoá học, võ thuật và địa lý

 Đạo gia lấy con người và xã hội làm trung tâm của sự nghiên cứu, và giảithích những vấn đề về thực tiễn chính trị và đạo đức của xã hội

Chương 4: NHỮNG NÉT KHÁC BIỆT GIỮA ĐẠO GIA VÀ PHÁP GIA

Đạo gia được liệt là tôn giáo đặc hữu chính thống của Trung Quốc là một trongtam giáo tồn tại từ thời cổ đại, song song với Nho gia ( thường gọi là Nho giáo)

và Phật giáo.Trong khi Pháp gia là một trong sáu học phái lớn của tiết học TrungQuốc thời cổ đại

Sau đây là một số nét khác biệt cơ bản của Đạo gia và Pháp gia:

I Về đại biểu đại diện cho hai trường phái Triết học, nội dung cơ bản, bản chất con người và quan hệ giữa người – người giữa hai trường phái Triết học Đạo gia và Pháp gia:

2 Nội dung cơ bản:

Đạo gia: nội dung cơ bản của Đạo gia là đề cao sự tự do Vạn vật chỉ vận độngtuần hoàn, lặp đi lặp lại một cách buồn tẻ mà không có sự ra đời của cái mới,

nghĩa là không có sự phát triển.

Trang 11

Pháp gia: Đề cao vai trò của pháp trị và chủ trương dùng pháp trị hà khắc để trịnước Pháp luật mà biến chuyển theo thời đại thì thiên hạn trị, còn thời thế thayđổi mà phép trị dân không thay đổi thì thiên hạn loạn.

3 Bản chất con người:

Đạo gia: Bản chất con người là thiện Là "vô vi", không có ham muốn, dục vọng

Vì vậy người đứng đầu (nếu có) là do thiên mệnh Con người là thụ động, thuậntheo tự nhiên Con người tự ý thức, tự quản lẫn nhau

Pháp gia: Bản chất của con người là ác Vì vậy muốn xã hội ổn định thì phải cóngười đại diên để cai trị Xã hội rối ren là do con người tạo ra thì phải do conngười xử lý Phải có người "chủ động" đứng ra trị những người "thụ động" Phápluật dùng để trị những người không có ý thức, không tự giác

4 Quan hệ giữa người - người:

Đạo gia: Theo chiều ngang (Ngang hàng, không thứ bậc) Bất cứ sự vật nàocũng là một thể thống nhất của hai mặt đối lập, chúng rang buộc, bao hàm lẫnnhau

Pháp gia: Theo chiều dọc (Trên - Dưới, thứ bậc) Vua là người thống trị, có địa

vị, thế lực, quyền uy, quy định luật lệ có tính chất khuôn mẫu mà mọi ngườitrong xã hội phải tuân theo Tập trung quyền hành để trị

II Nguồn gốc tư tưởng, định hướng phát triển xã hội, quan niệm về người lãnh đạo, phương châm ứng xử:

1 Nguồn gốc tư tưởng:

Đạo gia: xuất phát từ những quan điệm về vũ trụ như: vũ trụ luận, thiên địa, ngũhành, âm dương, Kinh dịch

Pháp gia:

Một là, mục đích trị quốc là làm cho phú quốc binh

Hai là, muốn có phú quốc binh cường một mặt phải phát triển nông, công

thương nghiệp, mặt khác phải đặt ra và thực hiện lệ chuộc

Ba là, chủ trương phép trị nước phải đề cao "Luật, hình, lệnh, chính" Luật là

để định danh phận cho mỗi người, Lệnh là để cho dân biết việc mà làm, Hình

là để trừng trị những kẻ làm trái luật và lệnh, Chính là để sửa cho dân theo

Ngày đăng: 01/01/2014, 11:26

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w