1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sự thay đổi về phong tục tổ chức tang ma của người dân raglay tại khánh nam – khánh vĩnh – khánh hòa

40 602 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Sự thay đổi về phong tục tổ chức tang ma của người dân Raglay tại khánh nam – khánh vĩnh – khánh hòa
Tác giả Trần Thị Vân
Trường học Trường Đại Học Khánh Hòa
Thể loại Luận văn tốt nghiệp
Thành phố Khánh Hòa
Định dạng
Số trang 40
Dung lượng 353,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo một số cuộc nghiên cứu thì ở cộng đồng người Raglaicũng có khá nhiều những nét đặc trưng trong văn hóa cũng như trong việc tổ chức cácnghi thức trong đời sống hằng ngày như các lễ h

Trang 1

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP

54 dân tộc anh em của Việt Nam họ sống tập trung chủ yếu tại các vùng núi, hiểm trở vàkhó khăn trong việc đi lại Theo một số cuộc nghiên cứu thì ở cộng đồng người Raglaicũng có khá nhiều những nét đặc trưng trong văn hóa cũng như trong việc tổ chức cácnghi thức trong đời sống hằng ngày như các lễ hội ngày mùa, đền ơn đáp nghĩa để thểhiện lòng hiếu thảo của con cái với cha mẹ, hay các lễ cưới hỏi, tang ma… mỗi lễ hội mỗiphong tục lại có những ý nghĩa riêng của nó Tuy nhiên với cùng một cộng đồng dân tộcnhưng khi ở những khu vực khác nhau chịu những sự chi phối cũng như tác động khácnhau của các yếu tố khách quan cũng như chủ quan thì những hình thức văn hóa của họcũng có một số điểm khác biệt tạo và từ đó tạo ra những nét đặc trưng riêng của từng khuvực

Trước khi đến với chuyến thực tập tại vùng đất khánh nam – khánh vĩnh – khánh hòathì với mong muốn được tìm hiểu về đời sống văn hóa tinh thần những cách thức tổ chứcvăn hóa cũng như phong tục tập quán của người dân nơi đây để có thể hiểu hơn về cuộcsống của họ thì em cũng đã có tìm hiểu về một số phong tục cũng như lễ hội của ngườidân nơi đây thế những khi đến nơi và sau những ngày sống tại đấy cũng như sau nhữngcuộc phỏng vấn và tìm hiểu thì em thấy rằng đa phần những nét đặc trưng trong phongtục tổ chức các nghi lễ cũng như lễ hội của người dân nơi đây đã bị mại một mà đăc biệt

là trong việc tổ chức tang ma đã được người dân thay đổi khá nhiều cũng chính từ nhữngthay đổi đó đã đặt ra trong em những câu hỏi rằng tại sao lại có những thay đổi đó và tại

Trang 2

sao người dân Raglai tại đấy lại không gìn giữ những nét đặc trưng trong văn hóa củamình mà lại để nó mai một đi như thế

Đó chính là lí do tại sao em lại chọn đề tài: “Sự thay đổi về phong tục tổ chức tang

ma của người dân Raglay tại khánh nam – khánh vĩnh – khánh hòa” việc lựa chọn đề

tài này để có thể tìm hiểu sâu về phong tục tổ chức tang ma ngày xưa của người dân nơiđây để có thể thấy được sự khác biệt so với những cộng đồng người Raglai tại những khuvực khác cũng đồng thời tìm ra nguyên nhân tại sao lại dẫn đến những thay đổi trong việc

tổ chức tang ma của người dân nơi đây

2 Đối tượng – khách thể nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: sự thay đổi phong tục tổ chức tang ma

- Khách thể nghiên cứu: cộng đồng dân tộc người Raglai ở Khánh Vĩnh – KhánhHòa

3 Mục tiêu nghiên cứu

a Mục tiêu nghiên cứu tổng quát

Đề tài tập trung tìm hiểu sự thay đổi về phong tục tổ chức đám tang của người dânRaglay tại khánh nam – khánh vĩnh – khánh hòa

b Mục tiêu cụ thể:

 Tìm hiểu những nét đặc trưng trong văn hóa tổ chức nghi lễ tang ma

 Những thay đổi trong văn hóa tổ chức tang ma của người raglay tạikhánh nam-khánh vĩnh-khánh hòa

 Lý do dẫn đến sự thay đổi đó và đâu là nguyên nhân chính

 Đưa ra một một số giải pháp và khuyến nghị để nhằm làm giảm bớt

sự mai một cũng như gìn giữ được những nét đặc trưng trong vănhóa của người dân Raglay

2 Những phương pháp nghiên cứu sử dụng trong đề tài

Phương pháp điều tra xã hội học chủ yếu được sử dụng trong đề tài là thu thập vàphân tích dữ liệu thứ cấp kết hợp công cụ thu thập thông tin định tính phương phápphỏng vấn sâu và thảo luận nhóm

Trang 3

a Phương pháp thu thập và phân tích dữ liệu thứ cấp.

Nghiên cứu và phân tích các tài liệu sẵn có liên quan đến đề tài Dữ liệu thứ cấp thuthập từ các nguồn chính: dữ liệu từ chuyến thực tập, các báo cáo, công trình nghiên cứu

và các tài liệu sẵn có đăng tải trên báo

b Phương pháp nghiên cứu định tính.

Phương pháp được sử dụng trong nghiên cứu định tính là phương pháp phỏng vấn sâu

và thảo luận nhóm Phương pháp này sử dụng câu hỏi mang tính chất gợi mở để có thể

mô tả được hết những nét đặc trưng trong việc tổ chức nghi lễ trong đám tang của ngườidân Raglay cũng nhưng có thể biết được những yếu tố tác động đến sự thay đổi của nó.Nguồn dữ liệu: nguồn dữ liệu chính được sử dụng trong đề tài là những dữ liệu định tính

và những thông tin sẵn có từ chuyến thực tập trong đề tài: “Tình hình đời sống người Raglay Huyện Khánh Vĩnh, Tỉnh Khánh Hòa trong bối cảnh CNH-HĐH”

3 Giới hạn của đề tài.

Đề tài chỉ tập trung vào tìm hiểu về phong tục tổ chức tang ma và những thay đổi của những phong tục đó khi điều kiện sống thay đổi của người dân Khánh Nam – Khánh Vĩnh – Khánh Hòa

Do giới hạn về thời gian và kinh nghiệm nên đề tài chưa nghiên cứu sâu vào nhiềukhía cạnh trong văn hóa của người Raglai mà chỉ nghiên cứu một mảng nhỏ trong phong tục của người Raglai Hi vọng trong tương lai đề tài sẽ được mở rộng hơn

4 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của đề tài.

a Ý nghĩa lý luận:

Việc nghiên cứu “ sự thay đổi trong phong tục tổ chức tang ma của người dânRaglay tại Khánh Nam – Khánh Vĩnh – Khánh Hòa” trong bối cảnh kinh tế xã hội ngàycàng phát triển thì tôi mong muốn: với sự mới mẽ của đề tài, nghiên cứu thu thập một sốthông tin định tính với mong muốn những nét văn hóa đặc trưng trong đời sống hằngngày của các dân tộc thiểu số được duy trì và gìn giữ

b Ý nghĩa thực tiễn:

Đề tài: “sự thay đổi trong phong tục tổ chức tang ma của người dân Raglay tạiKhánh Nam – Khánh Vĩnh – Khánh Hòa” Vì đây là luận văn cử nhân nên đề tài chỉ mang

Trang 4

tính chất tìm hiểu những sự thay đổi một số phong tục tập quán của một số dân tộc thiểu

số khi tiếp xúc với các nền văn hóa khác nhau

Tìm hiểu về đề tài để có thể giúp các nhà họach định chính sách, những người cótrách nhiệm trong việc bảo tồn những nét đặc trưng trong văn hóa của các dân tộc có cáinhìn sâu sắc hơn về văn hóa của cộng đồng người Raglai tại Khánh Vĩnh – Khánh Hòa từ

đó có thể đưa ra một số biện pháp thiết thực và hiệu quả để có thể gìn giữ và bảo tồnnhững nét đặc trưng trong văn hóa của người dân nơi đây

Đề tài cũng có thể làm tài liệu tham khảo cho những ai muốn tìm hiểu vấn đề nàysâu hơn và cho các sinh viên khoá sau

5 Những thuận lợi và khó khăn trong quá trình làm đề tài.

Thuận lợi.

Sự chỉ dẫn tận tình của cô hướng dẫn, sự giúp đỡ nhiệt tình của các thầy cô trongkhoa giúpcho người thực hiện khóa luận luôn tự tin và hoàn thành đúng tiến độ Sự độngviên ủng hộ về mặt vất chất và tinh thần của gia đình cùng với sự giúp đỡ hết mình củabạn bè là một hậu thuẫn và là những nguồn động viên lớn của người viết trong suốt quátrình thực hiện đề tài

Đề tài được thực hiện dựa vào dữ liệu của chuyến thực tập cuối khóa tại KhánhNam – Khánh Vĩnh – Khánh Hòa đã tạo điều kiện thuận lợi cho khóa luận trong quá trìnhthực hiện về mặt thời gian cũng như về mặt kinh phí

Khó khăn.

Đề tài về tang ma tuy không phải là một đề tài mới trong giai đoạn hiện nay, đã cónhiều tác giả nghiên cứu về nó tuy nhiên những đề tài nghiên cứu đó đều là những đề tàiriêng của các trường nên rất khó để tìm, những bài viết có thể tìm kiếm được chỉ là nhữngbài viết về một khía cạnh nào đó của phong tục tổ chức tang ma trên các báo và trangweb mạng nên gây nhiều khó khăn cho người viết trong quá trình tổng quan và khamkhảo tài liệu Do đó nguồn tổng quan tài liệu của bài viết chưa được phong phú

Bản thân người viết chưa có nhiều kinh nghiệm và cũng như vốn kiến thức cònhạn chế nên đề tài không tránh khỏi những khuyết điểm và thiếu xót

Trang 5

6 Kết cấu cấu khóa luận.

Kết cấu khóa luận gồm 3 phần chính: Mở đầu, nội dung và kết luận

- Phần mở đầu bao gồm: lý do chọn đề tài

Đối tượng – khách thể nghiên cứuMục tiêu nghiên cứu

Những phương pháp nghiên cứu sử dụng trong đề tàiGiới hạn của đề tài

Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của đề tài

Những thuận lợi và khó khăn trong quá trình làm đề tài.

- Phần nội dung bao gồm 2 chương:

Chia làm 2 phần:

Phần 1: Khái quát về người Raglai

Lược sử hình thành tộc người Raglai

Dân số và sự phân bố địa bàn cư trúHoạt động kinh tế

Tổ chức xã hội truyền thống của người RaglayCác đặc điểm tổ chức sinh hoạt văn hóa

Nhà ở

Phần 2: Tang ma của người Raglai.

Tang lễ truyền thống của người Raglai

Trang 6

Việc tổ chức tang ma của người Raglay tại Khánh Nam –Khánh Vĩnh – Khánh Hòa

Tang ma của người Raglai Khánh Nam – Khánh Vĩnh hiện nay

Những nguyên nhân dẫn đến sự biến đổi trong quan niệmcũng như cách thức tổ chức tang ma

- Phần kết luận gồm có: kết luận và khuyến nghị

II NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

CHƯƠNG I: cơ sở lý luận

1 Tổng quan tình hình nghiên cứu.

Văn hóa Raglai từ lâu đã trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều nhà khoa học như Hải Liên, Nguyễn Thế Sang, Phan Quốc Anh, Trần Kiêm Hoàng, Phan Văn Dốp, Phan Văn Biên… và nhiều công trình nghiên cứu về lịch sử , văn hóa xã hội của người Raglai sau đây sẽ là một số bài viết được xuất bản và công bố trên các tạp chí

GS.VS.TSKH Trần Ngọc Thêm với công trình: “Tìm về bản sắc văn hoá Việt Nam”, Nxb Tổng hợp Tp.Hồ Chí Minh (1996/2004) và “Cơ sở văn hoá Việt Nam”, Nxb

Giáo dục (1999) Đây là hai công trình chứa đựng đầy tâm huyết của tác giả về văn hoá của Việt Nam trong đó có tín ngưỡng và phong tục của ngươi việt nam nói chung

Nxb khoa học xã hội-1998 với “ văn hóa và xã hội người Raglai ở Việt Nam”, của các tác giả Phan Xuân Biên - Phan An - Phan Văn Dốp – Võ Công Nguyện – Nguyễn Văn Huệ Tìm hiểu về lịch sử, văn hóa và xã hội người Raglai

Nxb Văn Hóa Giáo Dục với “lễ tang của người Raglai Cực Nam Trung Bộ” củatác giả Hải Liên Giới thiệu khái quát về người Raglai và lễ tang của người Raglai cựcNam Trung bộ - Việt Nam nhằm phản ánh nhân sinh quan và thế giới quan của dân tộcRaglai

Tác giải Lê Ngọc Luyến Hội văn học nghệ thuật Ninh Thuận với bài viết “Vănhóa Raglai những sắc màu” Tài liệu giới thiệu đến bạn đọc những vấn đề chung việc gìngiữ và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc nói chung và mọi khía cạnh về văn hóa Raglai;

Trang 7

tìm hiểu bản sắc văn hóa dân tộc trong mối quan hệ với cuộc đấu tranh chống phản vănhóa ở Bác Ái, Ninh Thuận đồng thời nêu quan điểm, giải pháp cơ bản để giữ gìn và pháthuy bản sắc văn hóa dân tộc.

Đại học Quốc gia Hà Nội tác giả Trần Kiêm Hoàng với “Yếu tố biển trầm tích trong văn hóa Raglai” và “yếu tố rừng trong văn hóa Raglai” Giới thiệu cơ sở lý luận và thực tiễn về văn hóa Raglai

Tác giả Phan Quốc Anh với “ Văn Hóa Raglai” và “văn hóa Raglai những gì còn lại” Viện văn hóa nghệ thuật Việt Nam

Đề tài luận văn “ phong tục tang ma của người Raglai” của Chamaléa Thị Thủy Văn phòng HĐND và UBND huyện Bác Ái

Một số bài viết trên các trang web mạng như:

Bài viết “việc tang của người raglai” tác giả trần kiêm hoàng

Bài viết “phong tục của người ralai” tác giả trần vũ đăng trên web

http://nguoncoi.vn/chitiettin.php?idTin=24

Bài “ người raglai với luật làng” tác giả thiên kim anh đăng trên web http://cema.gov.vn/modules.php?mid=9633&name=Content&op=details#ixzz1rR5gPyXm ngày 14-02-2008Bài viết “Lễ đền ơn đáp nghĩa của người Raglai” Việt Báo(Theo Cinet.gov.vn)

Ngoài ra còn một số bài có liên quan đến văn đề đang nghiên cứu nhưng được thực hiện tại một số cộng đồng dân tộc khác như:

Đề tài “Tang ma của người khmer An Giang” của tác giả Phan Thái Bình

Bài viết “Tập quán tang ma của người Tày Poọng ở Tương Dương, Nghệ An” tác giả Trần Bình và Lý Hành Sơn

Trong các nghiên cứu trên thì có đề tài : “ văn hóa và xã hội người Raglai ở Việt Nam”, của các tác giả Phan Xuân Biên - Phan An - Phan Văn Dốp – Võ Công Nguyện –Nguyễn Văn Huệ Tìm hiểu về lịch sử, văn hóa và xã hội người Raglai Đã sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng sử dụng công cụ bảng hỏi để thu thập thông tin

Trang 8

Còn với đề tài “Tang ma của người khmer An Giang” của tác giả Phan Thái Bìnhthì sử dụng phương pháp quan sát tham dự để thu thập thông tin ngoài ra còn sử dụngthem phương pháp phỏng vấn bán cấu trúc Mục đích của việc phỏng vấn bán cấu trúcnày là nhằm cung cấp dữ liệu định tính cho việc đưa ra một cái nhìn tổng quát về tang macùng các lễ thức có liên quan.

2 Cách tiếp cận và lý thuyết áp dụng.

2.1 Cách tiếp cận lối sống:

Lối sống là tổng thể những đặc trưng cơ bản nhất, điển hình nhất, ổn định nhất củanhững hình thức hoạt động sống của con người nó được quy định và chịu sự tác động bởiđiều kiện khách quan của xã hội như kinh tế - chính trị - xã hội…, và khả năng lựa chọncủa con người về một hình thức hoạt động nào đó, những phương thức có mục đích rõràng, những định hướng giá trị của con người từ đó tạo nên mặc chủ quan của lối sống.(Bài giảng bộ môn xã hội học lối sống , PGS-TS Trần Thị Kim Xuyến)

Từ cách tiếp cận này ta thấy được sự tác động qua lại của điệu kiện sống và lốisống khi điều kiện sống thay đổi thì lối sống của người dân cũng được thay đổi để phùhợp với điều kiện hiện tại

2.2 lý thuyết tiếp biến văn hóa:

Theo lý thuyết tiếp biến văn hóa( Acculturation) cho rằng “các nền văn hóa khôngngừng thay đổi, điều này có thể là do sự tác động của những nhân tố bên trong, những sựphát hiện và đổi mới, hoặc do sự tiếp xúc với các nền văn hóa khác, tức là do ảnh hưởng

ở bên ngoài”

Lý thuyết này giải thích cho chúng ta rằng: trong những năm gần đây, xãhội thì đang trong quá trình phát triển và hội nhập, cuộc sống của con người đã có nhữngbước thay đổi tích cực, kéo theo sự thay đổi của bộ mặt xã hội, nhu cầu đòi hỏi của conngười ngày càng cao, Lý thuyết giải thích cho chúng ta biết được một số nguyên nhân,yếu tố tác động đến sự thay đổi trong phong tục tổ chức đám tang của người dân

3 Các khái niệm liên quan:

Trang 9

Phong tục: gắn liền với tín ngưỡng là phong tục Đó là những thói quen ăn sâu vàođời sống xã hội từ lâu đời, được đại đa số mọi người thừa nhận và làm theo (phong: gió, tục: thói quen Phong tục: thói quen lan rộng) phong tục có trong mọi mặc đời sống ( Cơ cở văn hóa Việt Nam, Trần Ngọc Thêm, Nhà xuất bản Giáo dục, trang 143).

4 Giả thuyết nghiên cứu và khung phân tích

4.1 giả thuyết nghiên cứu.

 Có sự thay đổi trong việc tổ chức nghi lễ đám tang của người Raglai saukhi được chuyển xuống núi

 Việc thay đổi điều kiện sống và môi trường sống cũng như giao lưu văn hóavới cộng đồng người Kinh là nguyên nhân dẫn đến những thay đổi trongvăn hóa người Raglai

4.2 Khung phân tích.

5 Mô tả địa bàn nghiên cứu:

Phong tục tang ma

Trang 10

a Sợ lược về tỉnh khánh hòa

Vị trí địa lý

Tỉnh Khánh Hòa ở về phía khu vực duyên hải Nam Trung Bộ của Việt Nam, phía Bắc giáp ba huyện Sông Hinh, Đông Hòa và Tây Hòacủa tỉnh Phú Yên, phía Tây giáp haihuyện M'Drăk và Krông Bông của tỉnh Đắk Lắk, phía Nam giáp huyện Bác Ái và Thuận Bắc của tỉnhNinh Thuận, phía Tây Nam giáp huyện Lạc Dương của tỉnh Lâm Đồng, phía Đông giáp Biển Đông Tỉnh lỵ của Khánh Hòa là thành phốNha Trang, cách Thành phố

Hồ Chí Minh 447 km và cách thủ đô Hà Nội 1.278 km đường bộ

Khánh Hòa có diện tích tự nhiên là 5.197 km² Phần đất liền của tỉnh nằm kéo dài

từ tọa độ địa lý 12°52’15" đến 11°42’50" vĩ độ Bắc và từ 108°40’33" đến

109°27’55" kinh độ Đông Điểm cực Đông trên đất liền của Khánh Hòa nằm tại Mũi Đôi trên bán đảo Hòn Gốm, huyện Vạn Ninh và cũng là điểm cực đông trên đất liền của Việt Nam Chiều dài vào khoảng 150 km, chiều ngang chỗ rộng nhất vào khoảng

90 km

Địa hình

Là một tỉnh nằm sát dãy núi Trường Sơn, đa số diện tích Khánh Hòa là núi non, miền đồng bằng rất hẹp, chỉ khoảng 400 km², chiếm chưa đến 1/10 diện tích toàn tỉnh.[

Miền đồng bằng lại bị chia thành từng ô, cách ngăn bởi những dãy núi ăn ra biển Do đó

để đi suốt dọc tỉnh phải đi qua rất nhiều đèo như đèo Cả, đèo Cổ Mã, đèo Chín Cụm, đèo Bánh Ít, đèo Rọ Tượng, đèo Rù Rì

Địa chất - tài nguyên

Cấu tạo địa chất của Khánh Hòa chủ yếu là đá granit và ryolit, dacit có nguồn gốc mác ma xâm nhập hoặc phún trào kiểu mới Ngoài ra còn có các loại đá cát, đá trầm tích ở một số nơi Về địa hình kiến tạo, phần đất của tỉnh Khánh Hòa đã được hình thành

từ rất sớm, là một bộ phận thuộc rìa phía Đông-Nam của địa khối cổ Kom Tom, được nổilên khỏi mặt nước biển từ đại Cổ sinh, cách đây khoảng 570 triệu năm Trong đại Trung sinh có 2 chu kỳ tạo sản inđôxi và kimêri có ảnh hưởng một phần đến Khánh Hòa Do quá trình phong hóa vật lý, hóa học diễn ra trên nền đá granit, ryolit đã tạo thành những

Trang 11

hình dáng độc đáo, đa dạng và phong phú, góp phần làm cho thiên nhiên Khánh Hòa có nhiều cảnh đẹp nổi tiếng.

Khánh Hòa có nhiều tài nguyên khoáng sản như than bùn, cao lanh, sét, sét chịu lửa, vàng sa khoáng, cát thuỷ tinh, san hô, đá granit, quặng ilmênit, nước khoáng, phục

vụ sản xuất vật liệu xây dựng và công nghiệp khai thác Ngoài ra còn có nhiều tài nguyênbiển, bao gồm các nguồn rong, tảo thực vật, trữ lượng hải sản lớn cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến hải sản; các điều kiện thuận lợi để khai thác sinh vật biển và nuôi trồng thuỷ sản

Sông ngòi

Sông ngòi ở Khánh Hòa nhìn chung ngắn và dốc, cả tỉnh có khoảng 40 con sông dài từ 10 km trở lên, tạo thành một mạng lưới sông phân bố khá dày Hầu hết, các con sông đều bắt nguồn tại vùng núi phía Tây trong tỉnh và chảy xuống biển phía Đông Dọc

bờ biển, cứ khoảng 5-7 km có một cửa sông

Mặc dù hướng chảy cơ bản của các sông là hướng Tây - Đông, nhưng tùy theo hướng của mạch núi kiến tạo hoặc do địa hình cục bộ, dòng sông có thể uốn lượn theo các hướng khác nhau trước khi đổ ra biển Đông Đặc biệt là sông Tô Hạp, bắt nguồn từ dãy núi phía Tây của huyện Khánh Sơn, chảy qua các xã Sơn Trung, Sơn Bình, Sơn Hiệp, Sơn Lâm, Thành Sơn rồi chảy về phía Ninh Thuận Đây là con sông duy nhất của tỉnh chảy ngược dòng về phía Tây Hai con sông lớn nhất tỉnh là Sông Cái (Nha Trang)

và sông Dinh Sông Cái có độ dài 79 km, bắt nguồn từ hòn Gia Lê cao 1.812 m chảy qua Khánh Vĩnh, Diên Khánh, Nha Trang rồi đổ ra biển qua Cửa Bé (Tiểu Cù Huân) và Cửa Lớn (Đại Cù Huân) Sông Dinh bắt nguồn từ vùng núi Chư H'Mư (đỉnh cao 2.051 m) thuộc dãy Vọng Phu, có tổng diện tích lưu vực 985 km2, chảy qua thị xã Ninh Hòa và

đổ ra đầm Nha Phu

Khí hậu

Khánh Hòa là một tỉnh ở vùng duyên hải cực Nam Trung Bộ, nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa Song khí hậu Khánh Hòa có những nét biến dạng độc đáo với các đặc điểm riêng biệt So với các tỉnh, thành phía Bắc từ Đèo Cả trở ra và phía Nam

từ Ghềnh Đá Bạc trở vào, khí hậu ở Khánh Hòa tương đối ôn hòa hơn do mang tính chất

Trang 12

của khí hậu đại dương Thường chỉ có 2 mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa nắng Mùa mưa ngắn, từ khoảng giữa tháng 9 đến giữa tháng 12 dương lịch, tập trung vào 2 tháng 10 và tháng 11, lượng mưa thường chiếm trên 50% lượng mưa trong năm Những tháng còn lại

là mùa nắng, trung bình hàng năm có tới 2.600 giờ nắng Nhiệt độ trung bình hàng năm của Khánh Hòa cao khoảng 26,7 °C riêng trên đỉnh núi Hòn Bà (cách Nha Trang 30 km đường chim bay) có khí hậu như Đà Lạt và Sa Pa Độ ẩm tương đối khoảng 80,5%

Từ tháng 1 đến tháng 8, có thể coi là mùa khô, thời tiết thay đổi dần Những tháng đầu mùa, trời mát, nhiệt độ từ 17-25 °C, nhưng từ tháng 5 đến tháng 8 trời nóng nực, nhiệt độ có thể lên tới 34 °C (ở Nha Trang) và 37-38 °C (ở Cam Ranh) Tháng 9 đến tháng 12, được xem như mùa mưa, nhiệt độ thay đổi từ 20-27 °C (ở Nha Trang) và 20-

26 °C (ở Cam Ranh) Khánh Hòa là vùng ít gió bão, tần số bão đổ bộ vào Khánh Hòa thấp chỉ có khoảng 0,82 cơn bão/năm so với 3,74 cơn bão/năm đổ bộ vào bờ biển Việt Nam Các trận bão được dự đoán sẽ đổ bộ vào Khánh Hòa trong những năm gần đây thường lệch hướng vào Nam hoặc tan ngay khi gần vào bờ Tuy vậy, do địa hình sông suối có độ dốc cao nên khi có bão kèm theo mưa lớn, làm nước dâng cao nhanh chóng, trong khi đó sóng bão và triều dâng lại cản đường nước rút ra biển, nên thường gây ra lũ lụt

Dân cư

Theo số liệu điều tra ngày 1 tháng 4 năm 2011 dân số tỉnh Khánh Hòa là

1.174.848 người với mật độ dân số toàn tỉnh là 225 người/km², trong đó nam giới có khoảng 581.299 người (49.47%) và nữ giới khoảng 593.549 người (50.53%); tỷ lệ tăng dân số của tỉnh bình quân từ năm 1999-2009 là 1,1%; tỷ số giới tính là 97,9% Theo điều tra biến động dân số năm 2011, Khánh Hòa có 568.459 người sinh sống ở khu vực đô thị (48.4% dân số toàn tỉnh) và 606.389 người sống ở khu vực nông thôn (51,6%) Số lượng

và tỷ lệ dân thành thị đông khiến Khánh Hòa trở thành tỉnh đô thị hóa cao nhất trong các tỉnh khu vực miền Trung

Dân số Khánh Hòa hiện nay phân bố không đều Dân cư tập trung đông nhất ở thành phố Nha Trang (chiếm 1/3 dân số toàn tỉnh), trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của tỉnh Huyện Diên Khánh và thành phố Cam Ranh cũng có mật độ dân số khá cao (xấp

Trang 13

xỉ 400 người/km²) thị xã Ninh Hòa và các huyện còn lại ở đồng bằng có mật độ dân cư không chênh lệch lớn và gần bằng mức trung bình toàn tỉnh (khoảng 200 người/km²), cáchuyện miền núi có mật độ dân số tương đối thấp là Khánh Sơn (62 người/km²) và Khánh Vĩnh (29 người/km²) Nơi có mật độ dân số thấp nhất tỉnh là huyện đảo Trường Sa (0.39 người/km²) Theo số liệu của Tổng cục Thống kê Việt Nam năm 2010 thì toàn tỉnh có khoảng 519.600 người sinh sống tại khu vực thành thị và 648.100 sinh sống ở khu vực nông thôn

Về độ tuổi năm 2009 toàn tỉnh có 526.061 người dưới 25 tuổi (45% dân số), 450.393 người từ 25 đến 50 tuổi (39% dân số) và 183.150 trên 50 tuổi (16%)

Dân tộc

Hiện nay có 32 dân tộc đang sinh sống trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa, trong đó dân tộc Kinh có 1.095.981 người sống phân bố đều khắp huyện, thị, thành phố, nhưng tập trung nhiều nhất vẫn là các vùng đồng bằng, thành phố, thị xã, thị trấn Dân tộc thiểu số lớn nhất là người Raglai với 45.915 người sống tập trung chủ yếu ở hai huyện Khánh Sơn, Khánh Vĩnh và 1 vài xã miền núi các huyện Diên Khánh, Cam Lâm và thành

phố Cam Ranh trong các bản làng (palây) Tại các khu vực giáp ranh với Lâm

Đồngvà Đăk Lăk có khoảng 4.778 người Cơ-ho và 3.396 người Ê-đê sinh sống Dân tộc Hoa có khoảng 3.034 người tập trung chủ yếu ở thành phố Nha Trang (khoảng 2.000 người), thị xã Ninh Hòa và các xã phía Đông huyện Diên Khánh Một nhóm thiểu số chính khác là người Tày (1.704) và người Nùng (1.058) di cư từ các tỉnh phía Bắc vào trong cuộc di cư năm 1954 và trong các năm gần đây sinh sống chủ yếu ở huyện Khánh Vĩnh Ngoài các nhóm chính trên còn có các nhóm dân tộc chiếm 1 thiểu số rất nhỏ dân

số như Mường, Thái, Chăm, Khmer, Thổ Người Chăm là cư dân bản địa ở Khánh Hòa Tuy nhiên do những điều kiện lịch sử, từ giữa thế kỷ XVII về sau này, người Chăm ở Khánh Hòa lần lượt di chuyển vào các tỉnh phía Nam Vì vậy mà ngày nay, người Chăm

ở Khánh Hòa chỉ còn khoảng 290 người Trên địa bàn thành phố Nha Trang cũng có một vài nhóm người nước ngoài sinh sống và làm việc thường xuyên trong những năm gần đây, một ít trong số họ hiện đã định cư lâu dài và nhập quốc tịch Việt Nam

Trang 14

Tôn giáo

Theo báo cáo của Tổng cục Thống kê Việt Nam, toàn tỉnh Khánh Hòa vào thời điểm của cuộc tổng điều tra dân số năm 2009, Khánh Hòa có 293.586 người tự khẳng định mình có tín ngưỡng, nhiều nhất là Phật giáo 170.980 người; tiếp đến là Công

giáo 101.616 người, đạo Tin Lành 13.726 người, đạo Cao Đài 6.819 người và các tôn giáo khác Phật giáo tập trung nhiều nhất ở Nha Trang (50,4%) và Diên Khánh; Công giáo tập trung nhiều ở Cam Lâm, đạo Cao Đài tập trung ở Cam Ranh; đạo Tin Lành tập trung ở Khánh Sơn và Khánh Vĩnh

Khoa học - Giáo dục

Nền khoa học ở Khánh Hòa được đặt nền móng từ thời Pháp thuộc với việc hình thành hai cơ sở khoa học thực nghiệm là Viện Pasteur Nha Trang vào năm 1891, nghiên cứu về vệ sinh dịch tễ và Sở Ngư nghiệp Đông Dương năm 1922 (tiền thân của Viện Hải dương học Nha Trang) chuyên nghiên cứu về biển và động vật biển Lĩnh vực khoa học

từ đó dần dần được mở rộng sang các ngành khoa học ứng dụng để đáp ứng cho nhu cầu phát triển kinh tế của tỉnh Các công trình nghiên cứu tiêu biểu tại Khánh Hòa gồm có việc bảo tồn và phát triển trầm hương, kỳ nam, duy trì và nuôi dưỡng chim yến, nghiên cứu các hình thức nuôi trồng thủy sản trên biển

Trước thời nhà Nguyễn, vì là đất mới được mở mang, lại xa kinh đô, nên nền giáo dục Khánh Hòa gần như không phát triển Người Khánh Hòa thời đó không có đóng góp

gì trong địa hạt văn chương thi phú Mãi đến đời vua Gia Long, triều đình mới cho lập trường dạy chữ ở phủ Diên Khánh và Bình Hòa Học sinh sau khi có bằng Tiểu học phải lên Quy Nhơn hoặc các tỉnh khác để tiếp tục học lên Trung học, cho đến năm 1936, khi trường trung học đầu tiên được mở tại Nha Trang là Trường trung học tư thục Kim Yến (Institution Kim Yến), làm nơi học tập cho học sinh từ Phan Thiết đến Quy Nhơn Đầu năm 1947, Trường Trung học Nha Trang (tiền thân của Trường Phổ thông trung học Lý

Tự Trọng) được thành lập Sang đến năm 1952, trường đổi tên thành Trường Trung học

Võ Tánh và chuyển đến địa điểm hiện nay Năm 1957, trường Võ Tánh được Bộ Giáo dục Quốc gia nâng cấp lên bậc Đệ nhị cấp (tương đương bậc Phổ thông trung học ngày nay) Kể từ đó, học sinh tại Khánh Hòa có thể đi học đến khi tốt nghiệp Tú tài ngay tại

Trang 15

tỉnh nhà mà không phải khăn gói đi ra ngoài Năm 1971, Khánh Hòa có cơ sở đào tạo bậcđại học đầu tiên là Đại Học Cộng Đồng Duyên Hải tại Nha Trang Sau ngày thống nhất đất nước, Trường Đại học Thủy sản Nha Trang, được chuyển từ Hải Phòng vào Hiện nay, Khánh Hòa có đầy đủ các bậc học, ngành học, phục vụ cho tất cả các đối tượng học sinh sinh viên tại tỉnh

Các lễ hội tiêu biểu:

 Lễ hội Tháp Bà: diễn ra hàng năm từ ngày 20 đến ngày 23 tháng ba âm lịch tại khu

di tích Tháp Po Nagar - thành phố Nha Trang, tưởng niệm nữ thần Mẹ Xứ sở (Po Ino Nogar) Đây là lễ hội văn hóa dân gian lớn nhất của hai dân tộc Việt – Chăm ở KhánhHòa và khu vực Nam Trung Bộ, thu hút đông đảo người Việt, người Chăm, người Hoa và du khách đến dự Năm 2001, lễ hội Tháp Bà được Bộ Văn hóa Thông tin xếp hạng là một trong 16 lễ hội quốc gia

 Lễ hội Am Chúa: tổ chức vào ngày 22 tháng 4 âm lịch để tưởng niệm nữ

thần Thiên Y A Na, còn gọi là Bà Chúa

 Lễ hội đình làng nông nghiệp: là dịp để người dân trong làng tưởng nhớ đến tổ tiên, có khác nhau về ngày giờ ở mỗi vùng

 Lễ hội Ăn mừng lúa mới của người Raglai ở Khánh Hòa: diễn ra hằng năm sau mỗi vụ thu hoạch

 Lễ hội Cầu ngư: tổ chức vào ngày giỗ của ông Nam Hải - hiện thân của loài cá voi Đây là một tục thờ được diễn ra tại các đình làng

Văn hóa

Trang 16

Khánh Hòa là địa danh thu hút nhiều du khách với những khu di tích chiến khu, căn cứ cách mạng Ngoài ra, tỉnh cũng đầu tư chú trọng đến văn nghệ và nghệ thuật để phục vụ người dân và thu hút du khách; các đội chiếu bóng phục vụ ở những nơi hẻo lánh, miền núi hiểm trở Hệ thống thư viện, các câu lạc bộ cũng phát triển mạnh nhằm đáp ứng nhu cầu của quần chúng

Khánh hòa có 11 di tích văn hóa-lịch sử cấp quốc gia Công tác bảo tồn, trùng tu bảo tàng và quản lý các khi di tích cũng được chú trọng, có nhiều đợt trưng bày quy mô lớn thu hút hàng chục ngàn du khách tham quan Công tác sưu tầm, nghiên cứu giới thiệu văn hóa phi vật thể đã và đang tiếp tục được phát triển Những công trình nghiên cứu tiêu biểu như: sự nghiên cứu về chữ viết của người Ra Glai, truyện cổ, trường ca và một số loại hình văn hóa dân gian có ảnh hưởng khác, bao gồm một số công trình

được Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam đánh giá cao

b Sơ lược về huyện khánh vĩnh

Khánh Vĩnh là huyện miền núi của tỉnh Khánh Hòa, diện tích tự nhiên 1.165km2,trong đó đất lâm nghiệp chiếm 72,2%, đất sản xuất nông nghiệp chiếm 9,5% và các diệntích đất khác chiếm 18,3% Do địa hình tự nhiên có nhiều đồi núi và sông suối có độ dốclớn nên việc khai thác tiềm năng đất đai chủ yếu là phục vụ sản xuất lâm nghiệp, trồngrừng, riêng đối với sản xuất nông nghiệp còn gặp nhiều khó khăn, chủ yếu khai thác cácdiện tích đất sản xuất nông nghiệp có độ dao dưới 100m Dân số toàn huyện có 33.293người Nhờ thực hiện chính sách định canh định cư nên dân cư ở các xã hiện nay phân bốtập trung thành các khu, điểm dân cư lớn và khá tập trung ven các trục đường giao thông,gần nguồn nước, thuận lợi cho việc phục vụ các yêu cầu về điện, nước sinh hoạt, y tế,giáo dục và sản xuất Nhân lực lao động dồi dào, chiếm 52,3% nhưng do mặt bằng dân trí

và điều kiện kinh tế-xã hội còn hạn chế nên chủ yếu là lao động trong lĩnh vực sản xuấtnông-lâm nghiệp, lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật chiếm tỉ lệ rất thấp trongtổng nguồn lao động của huyện và chủ yếu làm việc trong các cơ quan nhà nước, doanhnghiệp

Là khu vực có nhiều cộng đồng người dân tộc sinh sống mà chủ yếu là ngườiRaglai Khi được di chuyển xuống khu vực đồng bằng này thì đời sống của người dân tộc

Trang 17

ở đây đã được quan tâm và có nhiều chính sách ưu đãi Thế những cũng chính sự thay đổi

về nơi sống về điều kiện sinh hoạt, thay đổi hình thức canh tác và việc được hưởng nhữngchính sách ưu tiên dành cho người dân tộc đã dẫn đến việc ỷ lại trong tâm lý trong chờvào nhà nước của người dân và đặc biệt là sự giao lưu về văn hóa với cộng động dân tộckhác mà đặc biệt là người Kinh đã làm cho những nét văn hóa đặc trừng của cộng độngngười dân Raglai bị mai một và có nguy cơ là mất đi

Chương 2: những thay đổi trong phong tục tổ chức tang ma của người dân Raglay tại Khánh Nam – Khánh Vĩnh – Khánh Hòa.

Phần 1: Khái quát về người Raglai

1 Lược sử hình thành tộc người Raglai.

Người Raglai ở Việt Nam có số dân khoảng trên 84.000 người, cư trú ở các tỉnh Nam Trung bộ (Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận và Lâm Đồng), trong đó, Ninh Thuận là nơi có số lượng đông nhất (trên 50%) Người Raglai mang đầy đủ trên mình những yếu tố văn hóa truyền thống của các dân tộc trong nhóm ngữ hệ Nam Đảo ở Việt Nam Địa bàn rừng núi – nơi người Raglai cư trú chính là vùng kháng chiến (khu VI) củahai cuộc chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ ở địa bàn cực Nam Trung bộ Raglai là một trong năm tộc người thuộc ngữ hệ Malayo - Polinésien (Nam đảo) ở Việt Nam Tên tộc người này được các tài liệu phiên âm và dùng các ký tự khác nhau như: Raglai, Radlai, Oranglai, Roglai, Răclây.v.v… Người Raglai cư trú ở vùng núi cao, dọc triền Đông cuối dãy Trường Sơn ở các tỉnh cực Nam Trung bộ Điều kiện giao thông, đi lại vùng này rất khó khăn nên văn hóa truyền thống của người Raglai chưa được nghiên cứunhiều Người Raglai lại chưa có chữ viết nên tư liệu thành văn cổ hầu như không có Những tài liệu nghiên cứu về văn hóa Raglai của các nhà khoa học trong và ngoài nước rất ít, có thể nói là ít nhất trong 5 dân tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Malayo – Polinésien ở Việt Nam

Hiện nay, các nhà khoa học vẫn chưa thống nhất nguồn gốc tộc người của các cư dân thuộc nhóm ngôn ngữ Malayo – Polinésien ở Việt Nam (Chăm, Raglai,Chu-ru, Ê-đê, Gia-rai) Có hai luận thuyết đáng chú ý Một luận thuyết cho rằng các tộc người này đều

có nguồn gốc hải đảo Đông Nam Á (những giả thuyết này dùng những căn cứ như: hình

Trang 18

thuyền trên kagor nhà mồ trong lễ bỏ mả, lễ ăn trâu và một số tư liệu chứng minh họ có nguồn gốc văn hóa biển)2 Các nhà khoa học Nga cũng cho rằng các dân tộc Nam đảo di

cư từ các đảo vùng biển nam Trung Quốc xuống Đông Nam Á Luận thuyết thứ hai cho rằng các dân tộc đều di cư theo đường bộ từ Nam Trung Quốc, qua Việt Nam, Lào rồi từ

đó di cư ra hải đảo Gần đây, có ý kiến cho rằng, do trước đây các đảo Đông Nam Á đều

“dính” với đất liền, các dân tộc Đông Nam Á đều ở đất liền Qua quá trình tạo sơn, các hải đảo “tách” ra, trôi xa dần đất liền Một bộ phận dân cư “trôi” theo, trở thành các cư dân hải đảo ngày nay Tóm lại, lịch sử quá trình tộc người của các dân tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Malayo – Polinésien ở Việt Nam (Chăm, Raglai, Chu - ru, Ê - đê, Gia-rai) vẫn mới chỉ dừng lại ở một vài giả thuyết Nhưng rõ ràng, các dân tộc trong một nhóm ngôn ngữ (có thể không phải cùng một nguồn gốc chủng tộc) nhưng chắc chắn phải có mối quan hệ gắn bó mật thiết với nhau trong lịch sử tồn tại và phát triển Điều đó nói lên mối

quan hệ giữa người Raglai với người chăm, người Chu-ru, Gia-rai, Ê-Đê

Trong mối quan hệ lịch sử tộc người Raglai ở Ninh Thuận và Bình Thuận, đáng chú ý là mối quan hệ giữa người Raglai với người Chu-ru và người Chăm

(nguồn: theo “ văn hóa Raglai” thư viện Ninh Thuận Trích từ Tr 5, 19-21 Văn hóa Raglai những gì còn lại /Phan Quốc Anh.- Hà Nội: Văn hóa dân tộc, 2007.-

439tr.;21cm.)

2 Dân số và sự phân bố địa bàn cư trú

Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người RaGlai ở Việt Nam có dân

số 122.245 người, có mặt tại 18 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố Người Ra Glai cư trú tậptrung tại các tỉnh:Ninh Thuận (58.911 người, chiếm 48,2 % tổng số người Ra Glai tạiViệt Nam), Khánh Hòa (45.915 người, chiếm 37,6 % tổng số người Ra Glai tại ViệtNam), Bình Thuận (15.440 người) và Lâm Đồng (1.517 người)

(nguồn: Ban chỉ đạo Tổng điều tra dân số và nhà ở trung ương Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam năm 2009: Kết quả toàn bộ Hà Nội, 6-2010 Biểu 5, tr.134- 225)

3 Hoạt động kinh tế

Trang 19

Với việc phân bố chủ yếu tại các vùng rừng núi do đó người dân Raglai đã thích ứng với các loại hình săn bắn, hái lựu, khai thác cái tài nguyên rừng, sản xuất nông nghiệp nương rẩy và đây có thể xem là loại hình sản xuất chủ đạo xuyên suốt trong tiến trình hoạt động kinh tế truyền thống của người dân Raglai Mỗi làng thường chọn cho mình một hay nhiều ngọn núi gần nhau để làm rẩy và nương rẩy của họ phần lớn nằm cheo leo bên sườn của những ngọn núi cao, dưới hình thức du canh du cư chuyển đổi canh tác theo tập quán cổ truyền Bắp và lúa là nguồn lương thực chính được trồng để nuôi sống cộng đồng còn các loại hoa màu khác được trồng là không đáng kể Lúa nước được người dân Raglai trồng trên ở thung lung ven chân núi những nơi tương đối bằng phẳng và gần nguồn nước sông, suối để đắp đập dẫn nước vào ruộng và thực hiện công cuộc cày bừa, gieo cấy Ngoài ra việc chăn nuôi gia súc như trâu, bò, heo, gà cũng đã đápứng một phần nhu cầu về thực phẩm cho người dân đồng thời nó còn phục vụ cho các dịp

lễ hội trong sản xuất nông nghiệp và tết cổ truyền

Hoạt động các nghề thủ công như rèn sắt, chế tạo các công cụ sản xuất, đan lát, làm gốm …đã phát huy tác dụng tích cực trong đời sống thường ngày của người Raglai, nhằm phục vụ cho sản xuất và các hoạt động sinh hoạt của cộng đồng Dựa vào đặc điểm,điều kiện tự nhiên cảu vùng đất núi, người Raglay đã tìm kiếm lựa chọn, khai thác và đưavào sử dụng các nguyên liệu sẵn có để làm thành nhiều sản phẩm thủ công hữu dụng cho đời sống cư dân Sự phát triển các nghề thủ công truyền thống xưa cảu người Raglai nhìn chung đang trong trình độ kỷ thuật – công nghệ sản xuất cổ Các sản phẩm thủ công do

họ tạo nên còn thô sơ, đơn giản Quy mô các nghề thủ công của người Raglai còn nhỏ lẻ phân tán có tính tự sản, tự tiêu ở mỗi gia đình và hoạt động phụ thuộc vào thời gian rỗi trong sản xuât nông nghiệp nương rẩy

Với người Raglai đất núi, rừng cây đã cung cấp cho họ nhiều nguồn lợi kinh tế kháquan trọng trong săn bắn, hái lượm để đảo bảo nhu cầu đời sốn hằng ngày của cộng động

cả xưa kia lẫn ngày nay Vì vậy việc tìm kiếm và khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên của rừng vẫn tồn tại dai dẳng như là một bộ phận sinh hoạt kinh tế truyền thống phổ biến của mỗi gai đình người Raglai

Trang 20

Qua đó ta thấy cuộc sống gắn liền với rừng núi đã tạo ra cho người dân Raglai những loại hình hoạt động kinh tế phù hợp với điều kiện tự nhiên cũng như tận dụng những nguồn tại nguyên sẳn có từ thiên nhiên để phục vụ cho đời sống hằng ngày của mình.

(nguồn: “ văn hóa và xã hội người Raglai ở Việt Nam” nxb khoa học xã hội-1998)

4 Tổ chức xã hội truyền thống của người Raglay

Người Raglai sinh sống thành từng làng (Palây) Làng vừa là đơn vị cư trú, vừa làđơn vị tổ chức xã hội truyền thống của đồng bào Người có công đầu trong việc khai khẩnđất hoang lập làng được giữ chức vụ chủ làng (pôpalây) ở người Raglai cũng đã có hiệntượng liên minh giữa các làng cư trú kế cận nhau để tạo thành một laga với một ngườiđứng đầu gọi là chủ laga hoặc chủ núi (pô laga) Cũng như chủ làng, chủ laga đều donhững người có công khai phá đất đai, lập làng nắm giữ Họ chỉ có quyền duy nhất vềmặt tín ngưỡng trong các cộng đồng Đó là người có quyền đại diện cho cộng đồng làng

để tổ chức lễ cúng các thần linh, trời đất, khi bị hạn hán, mất mùa hoặc khi dân làng bịdịch, bệnh Ngoài ra, họ không có một đặc quyền, đặc lợi nào khác về kinh tế

5 Các đặc điểm tổ chức sinh hoạt văn hóa.

Người Ra Glai có những trường ca, truyện thần thoại, truyện cổ tích mang giá trị lịch sử, nghệ thuật và có tính giáo dục sâu sắc.Hình thức hát đối đáp khá phổ biến trong sinh hoạt văn nghệ Nhạc cụ của người Ra Glai gồm nhiều loại, ngoài chiêng, cồng còn

có đàn bầu, kèn môi, đàn ống tre Hàng năm sau mùa thu hoạch, cả làng hội tụ thịt trâu,

bò, lợn để cúng Giàng và ăn mừng lúa mới

(nguồn: theo trang“ http://vi.wikipedia.org/wiki/Ng%C6%B0%E1%BB%9Di_Ra_Glai”)

6 Nhà ở

Ngôi nhà dài truyền thống Raglai kết cấu vững chắc, thông thường các cột chính

có đường kính hơn ba gang tay, cao hơn 4m Riêng phần thềm - phần sàn từ sân đất lên hết cầu thang trước khi bước vào các gian nhà chính bên trong - rộng hơn 3m chạy suốt

Ngày đăng: 01/01/2014, 11:25

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình thức - Sự thay đổi về phong tục tổ chức tang ma của người dân raglay tại khánh nam – khánh vĩnh – khánh hòa
Hình th ức (Trang 9)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w