Trong cuốn sách Về mâu thuẫn cơ bản, mâu thuẫn chủ yếu và cách giải quyết trên con đường phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa của tác giả Phạm Ngọc Quang, đã làm sáng tỏ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
QUÁCH THỊ HỒNG HÀ
SỰ KẾT HỢP CÁC MẶT ĐỐI LẬP TRONG TIẾN TRÌNH XÂY DỰNG KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
CHUYÊN NGÀNH TRIẾT HỌC
MÃ SỐ: 60.22.80
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC TRIẾT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS NGUYỄN THANH TÂN
Huế, 2010
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, chưa từng được công bố trong bất kỳ trong một công trình nghiên cứu nào khác.
Tác giả luận văn
Quách Thị Hồng Hà
Trang 3Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn đến thầy giáo: Ts Nguyễn Thanh Tân , người đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo tận tình, động viên và khích
lệ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn này.
Tôi xin chân thành cảm ơn quý thầy, cô giáo đã trực tiếp giảng dạy và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập.
Xin được tri ân các thầy giáo, cô giáo, các bạn đồng môn, đồng nghiệp đã cung cấp tài liệu và động viên tôi trong quá trình thực hiện
đề tài này.
Học viên Quách Thị Hồng Hà
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trang 4Trong phép biện chứng duy vật, quy luật thống nhất và đấu tranh củacác mặt đối lập (còn gọi là quy luật mâu thuẫn) có vị trí là hạt nhân, là nộidung quan trọng nhất, vì nó nói lên nguồn gốc và động lực của mọi sự vậnđộng, phát triển Nắm vững nội dung quy luật mâu thuẫn, đặc biệt là nắmvững các nguyên tắc biện chứng của việc giải quyết mâu thuẫn là cơ sở quantrọng nhất cho chúng ta xây dựng các phương pháp thực tiễn đúng đắn vàhiệu quả
Cuộc sống tiến lên thông qua những mâu thuẫn và những mâu thuẫncủa bản thân cuộc sống thì phong phú hơn rất nhiều so với cái mà trí tuệ conngười cảm thấy Trong công cuộc xây dựng và phát triển toàn diện nước tahiện nay, những mâu thuẫn hiện thực lại càng trở nên đa dạng và phong phú
Có những mâu thuẫn tất yếu của cả thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, cónhững mâu thuẫn trong chặng đường đầu tiên của thời kỳ quá độ, có nhữngmâu thuẫn của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, có nhữngmâu thuẫn do sự biến đổi phức tạp, nhanh chóng của thời đại, của quan hệquốc tế, của khu vực… Sự vận động tiến lên của đất nước ta trong thời kỳquá độ lên chủ nghĩa xã hội nói chung, trong lĩnh vực kinh tế nói riêng diễn
ra với tốc độ như thế nào là tuỳ thuộc vào khả năng chúng ta phát hiện và giảiquyết một cách kịp thời tất cả những mâu thuẫn đó
Bấy lâu nay, khi đề cập đến mâu thuẫn xã hội và phương pháp giảiquyết mâu thuẫn xã hội người ta hay nhấn mạnh đấu tranh giữa các mặt đốilập mà thường ít bàn về sự thống nhất của chúng Điều đó cũng từng dẫn đến
sự ngộ nhận rằng, trong quan hệ giữa các mặt đối lập chỉ có đấu tranh mà íthoặc thiếu sự thống nhất, hoặc dẫn đến việc giải quyết mâu thuẫn biện chứngtrong thực tiễn có lúc duy ý chí, chủ quan và hậu quả là mâu thuẫn khôngđược giải quyết trên thực tế, đã gây ra tình trạng trì trệ và khủng hoảngnghiêm trọng cho nền kinh tế Khi xem xét yếu tố thống nhất các mặt đối lậpđòi hỏi chủ thể - con người cần phải biết khai thác những điểm chung, tươngđồng giữa các mặt để từ đó vận dụng thực hiện việc kết hợp các mặt đối lậpmột cách biện chứng nhằm thúc đẩy sự phát triển Có thể nói, vận dụng sự
Trang 5kết hợp các mặt đối lập là một trong những cách thức tự giác để chủ thể thúcđẩy tiến trình giải quyết mâu thuẫn khách quan Trong hiện thực xã hội, ở cácmâu thuẫn, bên cạnh sự trái ngược nhau về tính chất hay xu hướng, giữa cácmặt đối lập còn có những nét tương đồng, phù hợp nhau, cân nhau, thuộc vềcùng một bản chất Đó chính là cơ sở khách quan của lý luận và phương phápkết hợp các mặt đối lập trong thực tiễn của chủ thể nhằm giải quyết một cách
có hiệu quả các mâu thuẫn xã hội, thúc đẩy tiến bộ xã hội Dĩ nhiên, khôngthể tiến hành kết hợp các mặt đối lập một cách tùy tiện, vô nguyên tắc màphải căn cứ vào tính chất, xu hướng khách quan của chúng, căn cứ vào yêucầu thực tiễn và mục tiêu thực tiễn của chủ thể Sự kết hợp đó phải luôn tuântheo nguyên tắc tôn trọng tính khách quan của mâu thuẫn, sự kết hợp nhằm
để đưa cuộc đấu tranh của các mặt đối lập tới một hình thức khác, tạo điềukiện cho mâu thuẫn được giải quyết tốt hơn, có lợi cho chủ thể Tránh nhậnthức sai lầm coi đây là hành động hoà tan hai mặt đối lập, là thủ tiêu đấutranh, thủ tiêu mâu thuẫn chứ không phải là giải quyết mâu thuẫn
Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đang được xâydựng ở nước ta hiện nay, tồn tại nhiều mâu thuẫn với tính chất, mức độ phứctạp khác nhau, đang diễn ra trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội đặc biệt làtrong lĩnh vực kinh tế Việc tìm ra mâu thuẫn và phương thức giải quyếtchúng phù hợp với từng giai đoạn cụ thể đang là vấn đề cấp bách Đảng vàNhà nước ta đã vận dụng phương pháp kết hợp các mặt đối lập vào giải quyếtcác mâu thuẫn nảy sinh trong cơ chế thị trường đang vận hành hiện nay vàmang lại nhiều tiến bộ đáng kể trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, giúpxây dựng và vận hành một cơ chế kinh tế ngày càng hợp lý, đồng bộ Tuynhiên, cũng phải thấy rằng việc kết hợp các mặt đối lập trong nền kinh tếnước ta hiện nay, cũng tiềm ẩn những nguy cơ không thể xem thường, thậntrọng quá mức, thiếu tỉnh táo sẽ bỏ lỡ thời cơ nhưng thiếu chủ động, kết hợpmột cách vô nguyên tắc cũng sẽ dẫn đến những sai lầm đáng tiếc
Với nhận thức ban đầu như trên, chúng tôi chọn vấn đề Sự kết hợp các
mặt đối lập trong tiến trình xây dựng kinh tế thị trường định hướng xã hội
Trang 6chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay, làm đề tài luận văn của mình.
2 Tình hình nghiên cứu và tính mới của đề tài
Đã có rất nhiều công trình tiếp cận và nghiên cứu trên nhiều phươngdiện, khía cạnh và ở nhiều mức độ khác nhau về quy luật mâu thuẫn nóichung và sự kết hợp các mặt đối lập trong việc giải quyết mâu thuẫn xã hộinói riêng
Trong cuốn sách Về mâu thuẫn cơ bản, mâu thuẫn chủ yếu và cách
giải quyết trên con đường phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa của tác giả Phạm Ngọc Quang, đã làm sáng tỏ quan điểm của chủ
nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của mâu thuẫn đối với
sự phát triển nói chung và sự phát triển của xã hội nói riêng, từ đó đề xuấthình thức và một số giải pháp giải quyết các mâu thuẫn cơ bản ở Việt Namphù hợp với xu thế của thời đại và thực tế phát triển đất nước theo địnhhướng XHCN
Trong sách Thử vận dụng lí luận về mâu thuẫn vào thời kỳ quá độ ở
nước ta, tác giả Phạm Ngọc Quang đã trình bày mâu thuẫn xã hội với tư cách
là một phạm trù cơ bản của phép biện chứng duy vật, xác định mâu thuẫn cơbản và phân tích về mặt phương pháp luận các mâu thuẫn kinh tế của thời kỳquá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam Từ đó, đề xuất những biện pháp tổchức giải quyết những mâu thuẫn đó trên thực tế
Trong cuốn sách Một số vấn đề kinh tế - xã hội trong thời kỳ quá độ
lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam (Vũ Hồng Tiến chủ biên), tập thể tác giả đã
tập trung làm rõ những quan điểm đó là phát triển kinh tế thị trường địnhhướng xã hội chủ nghĩa, trên cơ sở đa dạng hóa hình thức sở hữu và cácthành phần kinh tế, thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đạihóa, giải quyết tốt mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển dân số,môi trường, xóa đói giảm nghèo, đảm bảo tiến bộ và công bằng xã hội
Với cuốn sách Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của tác
giả Nguyễn Cúc, đã đề cập đến những vấn đề mới trong quá trình chuyểnsang nền kinh tế thị trường ở nước ta như xu hướng phát triển, các nhân tố
Trang 7định hướng, các giải pháp nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng và hiệu lựcquản lý của Nhà nước và phát huy tiềm năng con người
Bên cạnh những công trình chủ yếu trên, vấn đề mâu thuẫn cũng được
bàn nhiều trong các luận án, luận văn như Về phương pháp kết hợp các mặt
đối lập để giải quyết mâu thuẫn xã hội trong thời kỳ quá độ (2008) của Trần
Nguyên Kí, Lí luận mâu thuẫn và sự vận dụng của Đảng Cộng sản Việt Nam
giai đoạn 1930 - 1945 (2008) của Trần Thị Hiền, Vấn đề giải quyết mâu thuẫn trong cách mạng Miền Nam giai đoạn 1954 - 1975 (2008) của Nguyễn
Thị Kim Oanh, Tư duy biện chứng mác xít với tiến trình đổi mới nhận thức
của Đảng Cộng sản Việt Nam về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội (2006)
của Nguyễn Công An, Quy luật mâu thuẫn và vận dụng của Đảng Cộng sản
Việt Nam trên con đường tiến lên xã hội chủ nghĩa (2006) của Nguyễn Hồng
Thanh v.v
Ngoài các công trình đã bàn luận trên một cách tương đối có hệ thống,vấn đề giải quyết mâu thuẫn, nhất là vấn đề kết hợp các mặt đối lập cũngđược bàn luận trong nhiều bài viết đăng trên tạp chí Triết học như bài "Líluận của Lênin về sự kết hợp các mặt đối lập và cách mạng Việt Nam hiệnnay" (số 3, 1987) của Phạm Ngọc Quang, bài "Mấy suy nghĩ về vấn đề giảiquyết mâu thuẫn" (số 2, 1996) của Nguyễn Tấn Hùng, bài "Kết hợp các mặtđối lập trong giải quyết mâu thuẫn xã hội" (số1, 2004) của Trần Thành v.v
Những công trình, bài viết trên xuất phát từ yêu cầu thực tiễn và lýluận, đã đề cập những khía cạnh nhất định liên quan đến đề tài Trên cơ sở kếthừa thành quả của những người đi trước, luận văn góp một phần vào nghiêncứu khoa học đồng thời phục vụ cho công tác của bản thân tác giả sau này
3 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài
Mục đích của đề tài:
Làm rõ sự vận dụng lý luận về sự kết hợp các mặt đối lập trong thực
tiễn xây dựng và phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ởViệt Nam hiện nay
Nhiệm vụ của đề tài:
Trang 8- Phân tích lý luận về sự kết hợp các mặt đối lập và lý luận về kinh tếthị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
- Phân tích sự vận dụng lý luận về sự kết hợp các mặt đối lập trong
thực tiễn xây dựng và phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủnghĩa ở Việt Nam hiện nay
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Đề tài được thực hiện dựa trên cơ sở lý luận là các nguyên lý của chủnghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Trọng tâm là nguyên
lý của chủ nghĩa duy vật biện chứng về phương pháp kết hợp các mặt đối lậptrong tiến trình xây dựng và phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hộichủ nghĩa ở nước ta hiện nay
- Phương pháp nghiên cứu của đề tài là kết hợp các nguyên tắc nhậnthức biện chứng với việc sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, trừutượng hoá và khái quát hoá, phương pháp lôgíc và lịch sử…
5 Đóng góp của luận văn
- Luận văn làm rõ thêm nội dung của lý luận mácxít về phương phápkết hợp các mặt đối lập trong quá trình giải quyết mâu thuẫn, đồng thời làm
rõ cơ sở lý luận của nền kinh tế thị trường trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa
xã hội ở Việt Nam
- Góp phần làm rõ sự vận dụng lý luận mácxít về phương pháp kết hợpcác mặt đối lập trong quá trình giải quyết những mâu thuẫn kinh tế thời kỳquá độ ở nước ta hiện nay của Đảng Cộng sản Việt Nam
- Nâng cao nhân thức cho bản thân và có thể cung cấp một tài liệutham khảo có giá trị cho học sinh, sinh viên khi học tập nghiên cứu học phầntriết học Mác - Lênin
6 Kết cầu của đề tài
Ngoài Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn có
2 chương (4 tiết)
Trang 9Chương 1
LÝ LUẬN VỀ SỰ KẾT HỢP CÁC MẶT ĐỐI LẬP VÀ VỀ KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM
1.1 Lý luận về sự kết hợp các mặt đối lập
1.1.1 Quan điểm của C Mác và Ph Ăngghen về sự kết hợp các mặt đối lập
Tư tưởng biện chứng về các mặt đối lập đã sớm xuất hiện trong lịch sửnhân loại Trước khi phép biện chứng mácxít ra đời, tư tưởng đó đã đạt đến
Trang 10đỉnh cao nhất trong những học thuyết biện chứng của các nhà triết học cổđiển Đức như: I Cantơ và đặc biệt là G.V Hêghen Hêghen đã sớm nhận ratính phổ biến của mâu thuẫn và vai trò của nó trong quá trình vận động và
phát triển của thế giới, Hêghen đã khẳng định "Mâu thuẫn là nguồn gốc của
tất cả mọi sự vận động và của tất cả mọi sự sống" [35, tr.47] Đứng trên lập
trường duy vật, kế thừa một cách có phê phán tất cả những thành tựu có giátrị trong toàn bộ lịch sử triết học, dựa trên những thành tựu có tính chất vạchthời đại của khoa học hiện đại và thực tiễn lúc bấy giờ, C.Mác vàPh.Ăngghen đã phát triển học thuyết về mâu thuẫn trên cơ sở quan điểm duyvật biện chứng, khoa học và sau này Lênin coi học thuyết đó là hạt nhân củaphép biện chứng
Mâu thuẫn là khách quan, phổ biến và là nguồn gốc của mọi sự vậnđộng và phát triển Do đó, việc phát hiện mâu thuẫn, chấp nhận mâu thuẫn vàlựa chọn phương thức giải quyết nó có một ý nghĩa vô cùng quan trọng, giúpchủ thể thực hiện được mục đích đề ra và tạo điều kiện cho những bước pháttriển tiếp theo của sự vật, hiện tượng hàm chứa mâu thuẫn; ngược lại nếu sửdụng cách thức không phù hợp thì chẳng những không giải quyết được mâuthuẫn mà thậm chí còn làm cho mâu thuẫn trở nên gay gắt hơn, vượt khỏi tầmkiểm soát của chủ thể sẽ để lại hậu quả vô cùng nghiêm trọng
Năm 1847 đánh dấu sự trưởng thành về tư tưởng của C.Mác với tác
phẩm Sự khốn cùng của triết học Trong tác phẩm này, ông đã nêu ra tư tưởng
về sự cần thiết phải kết hợp các mặt đối lập trong thực tiễn xã hội khi cho rằng,Pruđông chưa thấy được mâu thuẫn của chế độ tư hữu, tốt và xấu, thiện và ác,chưa thấy được sự thống nhất vốn có của các mặt đối lập này nhằm tái hiện sựthống nhất của chúng trong nhận thức và hành động thực tiễn Vì vậy, phươngpháp của Pruđông là đem đối lập, tách rời chúng và cuối cùng là giải pháp củaông mang tính chất siêu hình: hiện thực là thủ tiêu mặt xấu giữ lại mặt tốt.Theo C.Mác, điều đó không phải là giải quyết mâu thuẫn mà là thủ tiêu mâu
thuẫn Đề xuất việc kết hợp các mặt đối lập, trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng
sản Mác và Ăngghen cũng cho rằng, người cộng sản cần có thái độ sẳn sàng
Trang 11hợp tác với các đảng phái đối lập vì lợi ích của phong trào công nhân.
Phê phán quan điểm duy tâm khách quan của Hêghen bàn về các mặtđối lập của mâu thuẫn biện chứng, C.Mác đã khẳng định sự tồn tại của hailoại đối lập, trên cơ sở đó phân loại thành hai mâu thuẫn cơ bản tồn tại tronghiện thực đó là mâu thuẫn của tồn tại và mâu thuẫn của bản chất Tương ứngvới hai loại mâu thuẫn cơ bản đó là hai cách giải quyết hợp lý, đem lại hiệuquả cao nhất Theo Mác, mặt đối lập biện chứng phải là những mặt (bộ phận,yếu tố, thuộc tính, khuynh hướng ) khác biệt trong cùng một bản chất xácđịnh của sự vật, hiện tượng, quá trình của thế giới khách quan Những mặtnày, vừa có đặc điểm chung giống nhau lại vừa có đặc điểm riêng biệt và vìthế, giữa chúng vừa có mối liên hệ ràng buộc, quy định lẫn nhau vừa có sựbài trừ, phủ định nhau Hai mặt đối lập biện chứng trong cùng một bản chấtxác định của sự vật, hiện tượng và quá trình liên hệ với nhau tạo thành mâuthuẫn biện chứng; các mặt đối lập biện chứng trong những điều kiện nhấtđịnh có thể chuyển hóa lẫn nhau
Mác phân chia làm hai loại đối lập: đối lập của sự tồn tại bao gồmnhững mặt (bộ phận, yếu tố, thuộc tính ) có cùng một bản chất; chẳng hạn,cực Bắc và cực Nam của thanh nam châm, nam giới và nữ giới của loài
người Theo ông, "cực Bắc và cực Nam cũng đều là những cực; bản chất
chúng là đồng nhất cũng vậy, nam giới và nữ giới tạo thành cùng một loài, cùng một bản chất - bản chất con người" [26, tr.26] Với quan niệm đó C.Mác
đi đến khẳng định: "mặt đối lập là những quy định đối lập của cùng một bản
chất, là những khác biệt của cùng một bản chất ở mức độ phát triển cao nhất của nó chúng là bản chất được phân hóa ra" [26, tr.26] Từ đấy, ông khẳng
định: tương tác của các mặt đối lập là nguồn gốc, động lực cho mọi sự vậnđộng và phát triển của sự vật, hiện tượng Còn đối lập của bản chất đó là haimặt đối lập có bản chất khác nhau nhưng cùng tồn tại trong một chỉnh thể sựvật, hiện tượng
Mác cũng đưa ra cách giải quyết thích hợp cho hai loại đối lập trên,nếu là đối lập của tồn tại thì cách giải quyết duy nhất là kết hợp các mặt đối
Trang 12lập với nhau Bởi vì, các mặt đối lập trong mâu thuẫn của tồn tại về thực chất
là cùng một bản chất như nhau, tồn tại không tách rời nhau, luôn luôn phảinương tựa vào nhau, nếu thiếu mặt này thì mặt kia cũng sẽ không thể tồn tại
và hệ quả tất yếu là quá trình phát triển của sự vật, hiện tượng hàm chứa mâuthuẫn sẽ không thể diễn ra bình thường, thậm chí là sự vật sẽ bị diệt vong
Khi sử dụng phương pháp kết hợp các mặt đối lập để giải quyết mâu thuẫn biện chứng, chúng ta cần xem xét đến hai cấp độ khác nhau: Thứ nhất,
sự kết hợp các mặt đối lập diễn ra một cách khách quan tự nó; Thứ hai, sự kết
hợp các mặt đối lập diễn ra một cách có ý thức, theo chủ đích của con người
Chúng ta thấy rằng, sự kết hợp các mặt đối lập theo nghĩa chung nhấtphải được hiểu là bao gồm cả sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập,không có thống nhất thì không có đấu tranh và thống nhất là tiền đề của đấutranh Mặt khác, cần hiểu rằng đấu tranh là sự đấu tranh giữa các mặt đối lậpcấu thành mâu thuẫn, chứ không phải dùng một lực lượng nào đó bên ngoài đểtriệt tiêu đi một mặt đối lập thì đó không phải là đấu tranh giữa các mặt đối lập
theo đúng nghĩa của nó C.Mác khẳng định rằng, cái cấu thành bản chất của
sự vận động biện chứng chính là sự cùng nhau tồn tại của hai mặt mâu thuẫn,
sự đấu tranh của hai mặt ấy là sự dung hợp của hai mặt ấy thành một phạm trù mới Ông còn nhận xét: "chỉ với việc tự đề ra cho mình vấn đề loại bỏ mặt xấu, người ta cũng đã chặn đứng sự vận động biện chứng rồi" [35, tr.48]
Như vậy, trong mâu thuẫn biện chứng có lúc tự bản thân nó đã thiết lậpmột sự kết hợp các mặt đối lập để giải quyết mâu thuẫn đang tồn tại màkhông cần đến sự can thiệp của chủ thể Đó chính là quá trình kết hợp cácmặt đối lập mang tính khách quan, tự nó Quá trình này diễn ra phổ biếntrong tự nhiên, chẳng hạn như đồng hóa và dị hóa, di truyền và biến dị lànhững mặt đối lập tạo nên những mâu thuẫn vốn có trong bản thân sinh vật,
sự kết hợp những mặt đối lập này là yếu tố đảm bảo cho sự sống diễn ra bìnhthường
Đồng hóa và dị hóa là hai quá trình có xu hướng trái ngược nhau, lànhững mặt đối lập của nhau nhưng tồn tại trong một chỉnh thể thống nhất - cơ
Trang 13thể sống Nếu đồng hóa là quá trình nạp và bổ sung những chất thiết yếu nuôi
cơ thể thì dị hóa là quá trình đào thải những chất đó sau khi đã hoàn thànhnhiệm vụ ra khỏi cơ thể, ra môi trường bên ngoài Trong cơ thể sống, nếukhông có quá trình đồng hóa thì quá trình dị hóa cũng không thể diễn ra vàngược lại Mỗi khi mà một trong hai quá trình ấy diễn ra không bình thườngthì ngay lập tức tác động xấu đến sự phát triển của sinh vật Vì vậy, để cơ thểsinh vật phát triển bình thường đòi hỏi hai quá trình này phải luôn luôn kếthợp nhịp nhàng với nhau, luôn bổ sung, nương tựa vào nhau để cùng hoànthành tốt nhiệm vụ của mình Hay như hiện tượng di truyền và biến dị, xảy ratrong quá trình tiến hóa của các sinh vật trong tự nhiên Đây là hiện tượngphổ biến và cũng chính là một ví dụ điển hình về sự tồn tại không thể tách rờinhau của các mặt đối lập trong cùng một mâu thuẫn Trong quá trình tiến hóacủa các loài sinh vật, những cá thể thuộc thế hệ sau bao giờ cũng có sự kếthừa những đặc điểm cơ bản của những cá thể cùng loài thuộc thế hệ trước,
đó chính là hiện tượng di truyền ở các loài sinh vật Nhưng cũng chính trongquá trình tiến hóa ấy lại xảy ra hiện tượng ngược lại, đó là các cá thể cùngloài thuộc thế hệ sau, không phải bao giờ cũng sao chép nguyên bản thế hệtrước mà xuất hiện đột biến ở một vài đặc điểm cơ bản nào đó hoặc thậm chí
là khác biệt hoàn toàn với thế hệ tổ tiên của nó, người ta gọi hiện tượng này
là biến dị Biến dị là hiện tượng xảy ra chủ yếu do sự biến đổi tự thân của cácloài sinh vật để thích nghi tốt hơn trước sự thay đổi của môi trường Ngoài ra,
ở các sinh vật sống còn xảy ra hiện tượng đột biến gen, hiện tượng này khôngphải là do sự điều chỉnh để thích nghi mà là do sự đột biến ngẫu nhiên nào đó
ở các loài sinh vật, song đây chỉ là hiện tượng xảy ra không phổ biến ở cácloài sinh vật Nếu hiện tượng di truyền đảm bảo cho các thế hệ cùng loài cónhững đặc điểm cơ bản giống nhau, dù quá trình tiến hóa đó diễn ra như thếnào chúng ta vẫn xác định được tên (gắn liền với đặc trưng cơ bản) của loàisinh vật ấy như buổi đầu nó xuất hiện, thì biến dị lại làm cho các thế hệ cùngloài có sự khác nhau và nếu không tìm tòi, nhiên cứu kỹ chúng ta sẽ rất khóxác định được chính xác tổ tiên của các thế hệ sinh vật đó là thuộc loại nào
Trang 14Hai mặt đối lập nhau, nhưng lại không tách rời nhau trong quá trình sinh tồncủa một loài, di truyền và biến dị luôn đồng hành cùng nhau trong quá trìnhtiến hóa của các loài sự vật Dù trải qua nhiều biến đổi song vẫn đảm bảo choloài đó dù ít hay nhiều cũng có kế thừa đặc điểm của thế hệ trước, đồng thờitạo cho nó một khả năng thích nghi tốt hơn trước sự biến đổi thường xuyêncủa môi trường
Trong xã hội, sự kết hợp các mặt đối lập được chủ thể tức con ngườinhận thức và thực hiện để giải quyết các mâu thuẫn biện chứng của hiện thựclịch sử Sự kết hợp các mặt đối lập ở đây được coi là hành động tự giác, tíchcực của chủ thể xuất phát từ nhu cầu và nhằm theo đuổi các lợi ích của mình.Dựa trên cơ sở khách quan của mâu thuẫn xã hội đó là các mặt đối lập tráingược nhau nhưng về cơ bản lại có những điểm chung, tương đồng Đồngthời, mặc dù có biểu hiện trái ngược nhưng các mặt đối lập ấy lại tồn tại trongmột chỉnh thể của sự vật, hiện tượng cho nên chúng có cùng một bản chất,chúng mang bản chất của sự vật, hiện tượng chứa đựng chúng Chính điều đócho phép con người với tư cách là chủ thể nhận thức và thực hiện kết hợpnhững mặt đối lập nhất định vào giải quyết những mâu thuẫn xã hội cụ thể
Dĩ nhiên, sẽ thật sự sai lầm khi cứ đơn giản nghĩ rằng có thể kết hợp bất kỳmặt đối lập nào trong bất kỳ điều kiện nào, trái lại việc kết hợp các mặt đốilập phải được xem là hoạt động của con người trong quá trình giải quyết mâuthuẫn xã hội cụ thể, phải tiến hành một cách tự giác, có chọn lọc, đáp ứngđược nhu cầu, lợi ích của chủ thể Hơn nữa, kết hợp phải luôn tôn trọng tínhkhách quan của mâu thuẫn, có nghĩa là sự kết hợp đó phải nhằm để đưa cuộcđấu tranh của các mặt đối lập tới các hình thức khác nhau, tạo điều kiện chomâu thuẫn được giải quyết tốt hơn, có hiệu quả hơn cho việc đạt được mụcđích của chủ thể Đặc biệt, cần tránh thái độ và hành động hòa tan các mặtđối lập, vì nếu làm thế có nghĩa là chúng ta đang thủ tiêu đấu tranh, thủ tiêumâu thuẫn chứ không phải là giải quyết mâu thuẫn Như vậy, việc kết hợpcác mặt đối lập cho việc giải quyết mâu thuẫn hoàn toàn khác với hành động
có tính chất triết trung, cũng như khác hoàn toàn với việc kết hợp có tính cải
Trang 15lương, vô nguyên tắc các mặt đối lập
Mâu thuẫn của tồn tại biểu hiện phong phú và đa dạng trong đời sống
xã hội và với chúng, chủ thể có thể dùng cách kết hợp các mặt đối lập để triểnkhai và giải quyết nhằm thúc đẩy sự phát triển Trong lịch sử đã có nhiều bàihọc rút ra từ việc sử dụng phương pháp giải quyết mâu thuẫn loại này, nếulựa chọn phương pháp giải quyết phù hợp sẽ thành công và ngược lại sẽ gánhhậu quả khôn lường Thất bại của Công xã Pari (1871) là một bài học xươngmáu đối với những người cách mạng trong việc lựa chọn phương pháp giảiquyết mâu thuẫn Công xã Pari là một trong những sự kiện nổi bật của phongtrào cộng sản và công nhân quốc tế thế kỷ XIX Khi phong trào mới nổ ra,quần chúng cách mạng đã thu được một số thắng lợi, nhưng sau đó bọn phảncách mạng lại quay lại phản công và cuối cùng lực lượng cách mạng khôngchống đỡ nổi, toàn bộ thành quả cách mạng bị mất, phong trào bị dìm trongbiển máu Sự thất bại của Công xã Pari có nhiều nguyên nhân nhưng trong đóphải kể đến nguyên nhân chủ quan vô cùng quan trọng đó là do những ngườilãnh đạo phong trào đã không xây dựng được khối liên minh công nông.Công nhân đại diện cho chế độ công hữu, còn nông dân lại gắn liền với chế
độ tư hữu, nhưng trong chế độ tư bản chủ nghĩa thì họ đều là những người laođộng làm thuê, đều bị bóc lột, bị áp bức như nhau Do đó, họ có chung một
kẻ thù đó là giai cấp tư sản, nên trong điều kiện lịch sử cụ thể này, họ là haimặt đối lập cùng bản chất Do không biết kết hợp sức mạnh của hai giai cấpthống khổ nhất đó, do phạm vi của phong trào tương đối hẹp (chỉ tập trung ởPari và một số vùng lận cận) lực lượng ít, không đủ mạnh nên Công xã Pari
đã thất bại Lịch sử ghi lại rằng, khi công nhân Pari tiến hành đấu tranh rầm
rộ trong các nhà máy, xí nghiệp, trên đường phố thì cách đó không xa nhữngngười nông dân vẫn thản nhiên làm việc trên các cánh đồng, hoặc những nơigần trung tâm phong trào, nông dân hầu như không biết chuyện gì xảy ra.Giữa công nhân và nông dân không hề có sự liên hệ nào trong suốt quá trìnhdiễn ra phong trào, vì vậy công nhân Pari phải đơn độc chiến đấu với kẻ thùmạnh hơn họ gấp nhiều lần mà không có những người bạn đồng minh đáng
Trang 16tin cậy đó là nông dân Theo Mác, thất bại của Công xã Pari là tất yếu TừCông xã Pari, Mác rút ra bài học là để cách mạng thành công là cần phải thiếtlập được khối liên minh công nông vững chắc, làm nồng cốt để liên hiệp vớicác giai cấp và giai tầng khác trong xã hội tạo ra một sức mạnh to lớn, đủ sứcchiến đấu và chiến thắng kẻ thù.
Quan điểm này của Mác, sau này được Lênin vận dụng có hiệu quả đãlàm nên Cách mạng tháng Mười Nga (1917) thành công rực rỡ, trở thành mộttrong những sự kiện vĩ đại nhất thế kỷ XX, mở ra một thời đại mới cho xã hộiloài người Chính sự tài tình của Lênin và Đảng Bônsêvích Nga trong việc xâydựng và củng cố khối liên minh công nông vững chắc, đã thu hút các lực lượngkhác vào Mặt trận cách mạng, tăng cường sức mạnh cho lực lượng cách mạng,
đủ sức lật đổ sự thống trị của chuyên chế Nga hoàng, bọn tư sản cá mập và bọn
Cu lắc (địa chủ ở nông thôn), đem lại quyền làm chủ hoàn toàn cho người laođộng Trong xã hội nước Nga tư bản lúc bấy giờ, công nhân và nông dân là haigiai cấp gắn liền với hai chế độ sở hữu khác nhau thậm chí đối lập nhưng họlại cùng chung số phận là giai cấp bị thống trị, bị áp bức, bị bóc lột Vì vậy, họ
có chung một kẻ thù là bọn phong kiến, tư sản Do đó, họ đoàn kết chặt chẽ
với nhau để cùng đánh thắng kẻ thù Lênin cũng nhận thấy "nông dân với tư
cách là người lao động = bạn đồng minh; với tư cách là người tư hữu và đầu
cơ = kẻ thù" [35, tr.49], từ đấy ông đã cùng những người cộng sản Nga giác ngộ
họ, đưa họ vào khối liên minh công nông và lấy liên minh này làm nồng cốtcủa cách mạng Thắng lợi của Cách mạng tháng Mười Nga đã chứng minhquan điểm đúng đắn của phép biện chứng mácxít về phương thức kết hợp cácmặt đối lập trong việc giải quyết mâu thuẫn của tồn tại
Như vậy, mâu thuẫn của tồn tại diễn ra phổ biến trong tự nhiên, xã hội
và tư duy con người và việc giải quyết mâu thuẫn loại này cũng là việc làmthường xuyên, cần thiết nhằm thúc đẩy sự vận động, phát triển của sự vậtnhưng không làm cho mâu thuẫn mất đi Giải quyết mâu thuẫn thuộc loại nàytrong phần lớn trường hợp, không phải là loại bỏ mâu thuẫn mà là tìm kiếmcon đường và phương pháp kết hợp các mặt đối lập với nhau trong cùng một
Trang 17bản chất, sao cho có thể tạo điều kiện thuận lợi để mâu thuẫn trở thành độnglực thực sự của sự phát triển
Đối với mâu thuẫn của bản chất đây là mâu thuẫn mà các mặt đối lập cóbản chất khác nhau nhưng tồn tại trong một chỉnh thể Một trong hai mặt đốilập luôn tìm cách phủ định, bài trừ mặt kia để vươn lên trở thành bản chất đốilập Mác cho rằng, phương thức duy nhất để giải quyết hiệu quả mâu thuẫnloại này là thủ tiêu một trong hai mặt đối lập, chỉ khi một trong hai mặt đối lậpkia mất đi thì mâu thuẫn mới thực sự được giải quyết Loại mâu thuẫn này xuấthiện chủ yếu trong lĩnh vực xã hội, có thể nói đây là loại mâu thuẫn mà quátrình hình thành, tồn tại và giải quyết nó được thực hiện trong hoạt động củacon người Chính hoạt động của con người đẩy nhanh sự chín muồi hoặc làmchậm quá trình phát triển của mâu thuẫn Việc kết hợp các mặt đối lập tronghiện thực xã hội, đòi hỏi chủ thể phải thể hiện được tính định hướng rõ ràngtrong hành động, kết hợp làm sao cho mặt đối lập đại diện cho cái tích cực, cáitiến bộ sẽ dần chiến thắng mặt đối lập kia đại diện cho cái tiêu cực, lạc hậu
Mâu thuẫn của bản chất biểu hiện tập trung trong mâu thuẫn giai cấpcủa xã hội như mâu thuẫn giữa giai cấp nô lệ và chủ nô, nông dân và địa chủ,
vô sản và tư sản Điều cần chú ý đối với mâu thuẫn loại này là, phải xácđịnh được giai đoạn tồn tại của mâu thuẫn để đưa ra cách giải quyết hợp lý,đem lại hiệu quả trong thực tiễn Chủ thể bằng ý thức của mình tìm ra nhữngphương thức giải quyết ở từng giai đoạn cụ thể của mâu thuẫn, có như vậymới tạo ra động lực cho sự phát triển của xã hội
Thường thì, trong giai đoạn đang triển khai và phát triển, việc giải quyếtmâu thuẫn không phải là sự thủ tiêu đối lập, mà phải nâng sự đối lập lên trình
độ hay nấc thang cao hơn Để giải quyết mâu thuẫn ở giai đoạn này, phươngthức kết hợp các mặt đối lập được coi là phương pháp tối ưu và hiệu quả nhất.Phân tích quá trình giải quyết mâu thuẫn giai cấp trong thời kỳ quá độ lên chủnghĩa xã hội, tồn tại những mâu thuẫn của xã hội quá độ được tạo nên bởi haimặt đối lập có sự khác nhau về bản chất Ở mâu thuẫn này, mặt đối lập thứnhất thường hướng về chủ nghĩa xã hội và mặt đối lập thứ hai thường hướng
Trang 18về chủ nghĩa tư bản Việc giải quyết mâu thuẫn cần phải được tiến hành trênnhững lĩnh vực khác nhau như kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội Trong lĩnhvực kinh tế của thời kì quá độ, tồn tại nhiều yếu tố thuộc về các phương thức
sản xuất khác nhau, "trong đó cái mới không thể tức khắc mọc ngay lên được
còn cái cũ cũng không thể tiêu tan đi trong chốc lát" [27, tr.27] Lênin cho rằng,
trong trạng thái kinh tế như thế, chế độ kinh tế duy nhất có thể thực hiện được
là kết hợp những đặc điểm của cả hai chế độ khác nhau đó, kết hợp dưới nhiềuhình thức và hành động khôn ngoan nhất là kết hợp các lực lượng thuộc cácquan hệ khác nhau trong các hình thức kinh tế quá độ, dưới sự chi phối của lựclượng kinh tế quốc doanh và nhà nước xã hội chủ nghĩa Điều đó, sẽ dẫn chúng
ta đi từ nền kinh tế tiểu nông tiến lên chủ nghĩa xã hội thông qua chủ nghĩa tưbản nhà nước Vậy, để xóa bỏ mâu thuẫn giai cấp trong xã hội chủ nghĩa khi
mà nó chưa phát triển đến độ chín muồi, khi mà xã hội chưa đủ điều kiện để
trở thành xã hội xã hội chủ nghĩa thực sự hay khi đang ở trong một thời kỳ quá
độ lâu dài, thì chủ thể cần lựa chọn phương pháp kết hợp các mặt đối lập có sự
khác nhau về bản chất này để giải quyết mâu thuẫn xã hội
Khi mâu thuẫn thực sự chín muồi, các mặt đối lập sẽ chuyển hóa vàgắn với điều đó là mâu thuẫn được giải quyết, sự vật cũ mất đi, sự vật mới rađời Lúc này, xã hội xã hội chủ nghĩa được xác lập, giai cấp tư sản bị xóa bỏ,thủ tiêu Quá trình xóa bỏ mâu thuẫn giai cấp không thể thực hiện trong mộtthời gian ngắn mà đòi hỏi một quá trình lâu dài, phức tạp và quanh co Thựctiễn nước Nga sau Cách mạng tháng Mười chính là một kinh nghiệm sống về
việc vận dụng thành công phương pháp kết hợp các mặt đối lập để giải quyết
mâu thuẫn xã hội, đưa nước Nga không chỉ thoát khỏi khủng hoảng mà cònvươn lên trở thành một quốc gia hùng mạnh Vậy, giai đoạn mâu thuẫn đã đạtđến độ chín muồi thì chúng ta tiến hành giải quyết mâu thuẫn bằng cách xóa
bỏ mâu thuẫn, tiến hành triệt tiêu một trong hai mặt đối lập tạo nên mâuthuẫn đó, đưa sự vật chuyển lên thang bậc phát triển cao hơn với những mâuthuẫn mới cùng xuất hiện và cùng tồn tại ở trong đó
Tóm lại, theo quan điểm của Mác có hai loại mâu thuẫn cơ bản, đó là
Trang 19mâu thuẫn của tồn tại và mâu thuẫn của bản chất; tương ứng với mỗi loạimâu thuẫn thì có một phương thức giải quyết thích hợp Đối với mâu thuẫncủa tồn tại, cách giải quyết tối ưu nhất đó là sử dụng phương pháp kết hợpcác mặt đối lập; còn đối với mâu thuẫn của bản chất thì căn cứ vào các giaiđoạn phát triển của nó để lựa chọn phương pháp giải quyết thích ứng Giaiđoạn mâu thuẫn chưa chín muồi có thể sử dụng phương pháp kết hợp các mặtđối lập, với điều kiện phải tiến hành kết hợp một cách có nguyên tắc, tôntrọng tính khách quan của mâu thuẫn, phù hợp với điều kiện lịch sử cụ thể.
Sự thỏa hiệp, nhượng bộ một cách vô nguyên tắc, vô điều kiện sẽ rơi vào cảilương chủ nghĩa, rơi vào chủ nghĩa chiết trung Khi mâu thuẫn đạt đến độchín muồi, lên đến chóp đỉnh thì tiến hành thủ tiêu một trong hai mặt đối lập,
sự vật cũ mất đi và sự vật mới ra đời Như vậy, kết hợp các mặt đối lập có thể
thực hiện được trong cả hai loại mâu thuẫn cơ bản trên đây của hiện thực xãhội, nhưng cách thức và mức độ thực hiện sự kết hợp ấy ở mỗi loại thì cókhác nhau
1.1.2 Quan điểm của V.I Lênin về sự kết hợp các mặt đối lập
Một nét nổi bật trong tư duy biện chứng của Lênin là tư tưởng về sựkết hợp các mặt đối lập Trong đấu tranh cách mạng và thực tiễn xây dựngchủ nghĩa xã hội, V.I Lênin coi sự kết hợp các mặt đối lập như là một sáchlược của Đảng Bônsêvích và của nhà nước Nga để thực hiện sự thỏa hiệp,hợp tác liên minh tạm thời với những lực lượng đối lập vì lợi ích của cáchmạng của chủ nghĩa xã hội V.I Lênin cho rằng thái độ của chủ nghĩa Mácđối với những chuyển biến quanh co của lịch sử cũng đã đề cao sự thỏa hiệp,
lợi dụng sự thỏa hiệp ấy Lênin giải thích rõ, khái niệm kết hợp có nghĩa là những sự vật khác nhau mà chúng ta cần phải kết hợp với nhau; sự kết hợp
có nghĩa là phải biết vận dụng các biện pháp của chính quyền nhà nước để bảo vệ những lợi ích vật chất và tinh thần của giai cấp vô sản đã hoàn toàn liên hợp lại để cho nó khỏi bị chính quyền nhà nước đó xâm phạm Ông
không những chỉ ra tính tất yếu của việc sử dụng sự kết hợp các mặt đối lậpnhư là một nghệ thuật, mà còn coi như đó là một chiến lược và sách lược của
Trang 20Đảng Cộng sản Liên Xô trong toàn bộ lịch sử đấu tranh của mình.
Từ thực tiễn những năm đầu tiên của chính quyền Xô viết, V.I Lênin
đã hình thành tư tưởng về sự cần thiết phải kết hợp một cách tự giác các mặt
đối lập Ông nhận xét rằng, "dù sao chúng ta cũng đã học được ít nhiều chủ
nghĩa Mác, đã học được rằng làm thế nào và khi nào có thể và cần thiết phải kết hợp các mặt đối lập" [30, tr.90] Phân tích mâu thuẫn xã hội nói chung và
mâu thuẫn trong đời sống kinh tế nước Nga nói riêng nhưng năm sau Cáchmạng tháng Mười, Lênin đề xuất tư tưởng về sự kết hợp các mặt đối lập vàcoi đó là phương thức có tính chất đặc thù để giải quyết một cách hiệu quảnhững mâu thuẫn kinh tế - xã hội ở nước Nga lúc bấy giờ, không những thếông còn đưa tư tưởng này vào thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nướcNga Sự kết hợp các mặt đối lập được nhận thức và thực hiện, bởi Lênin luôn
có tính nguyên tắc và điều này được thể hiện ở những điểm sau đây:
Thứ nhất, Lênin chú ý đến việc tìm những người bạn đồng minh tạm
thời để đấu tranh chống lại kẻ thù chung Bằng việc sử dụng một mặt đối lậptrong mâu thuẫn nội bộ kẻ thù để tạo điều kiện thuận lợi cho cách mạng,Lênin đã thực hiện một sự kết hợp các mặt đối lập vì lợi ích chung, tạm thời
có lợi cho cách mạng
Trong thời kỳ đấu tranh chống lại sự can thiệp của chủ nghĩa đế quốc,bảo vệ chính quyền Xô viết non trẻ, Lênin đã chú ý đến hai khuynh hướngđối lập tồn tại trong hiện thực giữa các nước đế quốc đó là khuynh hướngmuốn chinh phục, thôn tính và khuynh hướng muốn trao đổi, buôn bán, sửdụng các mối liên hệ kinh tế, thị trường, tài nguyên giàu có của nước Nga Xôviết Trong điều kiện đó, V.I Lênin đã đi đến vận dụng một cách sáng tạo sựkết hợp có ý thức các mặt đối lập nhằm giải quyết những mâu thuẫn của thời
kỳ quá độ, trong điều kiện có sự bao vây của chủ nghĩa đế quốc Đó cũngchính là biểu hiện của chính sách đối ngoại vô sản có nguyên tắc, mềm dẻo,linh hoạt, tôn trọng tính biện chứng khách quan của thời kỳ quá độ trong điềukiện bao vây của chủ nghĩa đế quốc
Thứ hai, Lênin quan tâm đến sự kết hợp các mặt đối lập ở biểu hiện
Trang 21giữa hai nhân tố chất cũ (chủ nghĩa tư bản) và chất mới (chủ nghĩa xã hội) tồntại trong nền kinh tế quốc dân thời kỳ quá độ vì thắng lợi của chủ nghĩa xã
hội Sự kết hợp này biểu hiện rõ nhất trong Chính sách kinh tế mới được
Lênin soạn thảo và thực hiện trong thực tế
Trong quá trình giải quyết những nhiệm vụ kinh tế của chuyên chính
vô sản, đấu tranh với sự tự phát triển tư bản chủ nghĩa ở thời kỳ quá độ, giaicấp vô sản đã sử dụng tư sản, sử dụng sự hiểu biết, trí thông minh và vốnkinh nghiệm quản lý của giai cấp tư sản để góp phần hình thành, ổn định nềnsản xuất lớn chủ nghĩa xã hội, tạo cơ sở vật chất lớn mạnh để đẩy lùi tính tự
phát tiểu tư sản Chính sách kinh tế mới được Lênin soạn thảo là tấm gương
sáng về sự kết hợp các mặt đối lập trong điều kiện lịch sử của thời kỳ quá độ,sao cho chiến thắng được giai cấp tư sản và nêu cao vai trò lãnh đạo củaĐảng, lôi kéo được những người sản xuất hàng hóa nhỏ, những người tiểu tưsản về phía mình
NEP - từ gọi tắt của Chính sách kinh tế mới được Lênin đưa ra lần đầu
tiên vào tháng 2 năm 1922 nhưng tư tưởng về Chính sách kinh tế mới củaông thì đã xuất hiện từ tháng 1 năm 1918, khi chính quyền Xô viết giànhđược thời gian tạm nghỉ bằng con đường hòa bình Đất nước Xô viết ra khỏichiến tranh gặp phải sự tàn phá về kinh tế đến mức độ chưa từng có trước đó.Những hậu quả nặng nề của bảy năm chiến tranh đế quốc và nội chiến đã làmcho tình hình kinh tế - xã hội trở nên nóng bỏng Để giải quyết cuộc khủnghoảng kinh tế - xã hội lúc bấy giờ, Chính sách kinh tế mới được Lênin đưa ranhằm giải quyết mục tiêu trước mắt và cấp bách với năm nội dung chủ yếu
Từ việc triển khai các nội dung của chính sách kinh tế mới, Lênin chú ý đềcập đến việc khôi phục và phát triển sản xuất hàng hóa trong nông nghiệpthông qua trao đổi sản phẩm giữa nông nghiệp và công nghiệp Thực hiện nộidung này nhằm đáp ứng được nhu cầu nhiều mặt của sản xuất và tiêu dùngcho nông dân và cho xã hội, giúp nhà nước giải quyết vấn đề lương thực mộtcách vững chắc, đồng thời khôi phục và phát triển kinh tế hàng hóa trongnông nghiệp, làm sống động lại các ngành kinh tế và toàn bộ sinh hoạt xã hội
Trang 22Cùng với việc triển khai nội dung trên đây, Lênin chú trọng việc sửdụng chủ nghĩa tư bản nhà nước trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội,bởi vì việc khôi phục và phát triển kinh tế hàng hóa trong nông nghiệp còn kéotheo cả sự khôi phục và kích thích xu hướng tư bản chủ nghĩa Theo Lênin đó
là điều đương nhiên, sự phát triển của trao đổi tư nhân, của chủ nghĩa tư bản làmột sự phát triển không tránh được khi có hàng triệu người sản xuất nhỏ vàviệc ngăn cấm hay chặn đứng sự phát triển đó là có hại cho cách mạng, Lênincho đó là sự dại dột và tự sát đối với đảng nào muốn áp dụng nó
Tuy nhiên, Lênin cũng nhấn mạnh không được coi thường hay buônglỏng việc kiểm tra, kiểm soát sự phát triển của xu hướng tư bản chủ nghĩa
Muốn vậy, theo ông phải sử dụng hình thức kinh tế chủ nghĩa tư bản nhà
nước, coi chủ nghĩa tư bản nhà nước không đáng sợ mà là đáng mong đợi và
phải được học tập vì lợi ích của chủ nghĩa xã hội
Quan điểm trên của Lênin biểu hiện cái nhìn biện chứng có tínhnguyên tắc trong giải quyết mâu thuẫn, quá trình khôi phục và phát triển sảnxuất hàng hóa mà đồng nghĩa với nó là việc khôi phục và kích thích xuhướng tư bản chủ nghĩa trong nền kinh tế thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xãhội; điều đó cho thấy, Lênin đang thực hiện sự kết hợp các mặt đối lập giữayếu tố tư bản chủ nghĩa và yếu tố xã hội chủ nghĩa vì lợi ích cách mạng
Thực ra, Lênin chủ trương sử dụng chủ nghĩa tư bản nhà nước trongquá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội nhằm chống lại tính tự phát tiểu tư sản.Coi hình thức chủ nghĩa tư bản nhà nước là hình thức kinh tế cơ bản trong cơcấu nền kinh tế nhiều thành phần Biểu hiện của hình thức chủ nghĩa tư bảnnhà nước trong kinh tế đó là những hình thức như tô nhượng trong côngnghiệp, hình thức hợp tác xã của những người sản xuất nhỏ, hình thức tưnhân làm đại lý cho nhà nước trong thương nghiệp, hình thức nhà nước cho
tư nhân thuê xí nghiệp, vùng mỏ, khu rừng, khu đất
Đề xuất chủ trương này, Lênin đã đi từ phân tích đời sống kinh tế củađất nước Xô viết lúc bấy giờ, làm sáng tỏ vị trí, tính chất, khuynh hướng vậnđộng của năm thành phần kinh tế đang tồn tại ở nước Nga, bao gồm kinh tế
Trang 23nông dân mang tính chất tự nhiên, sản xuất hàng hóa nhỏ, kinh tế tư bản tưnhân, kinh tế tư bản nhà nước, kinh tế xã hội chủ nghĩa Trong năm thànhphần kinh tế đó, ông xem tính tự phát tiểu tư sản là kẻ thù nguy hiểm nhấtcủa chủ nghĩa xã hội Vì vậy, Lênin chỉ ra thực chất mối quan hệ giai cấp lúcnày không phải là chủ nghĩa tư bản nhà nước đấu tranh với chủ nghĩa xã hội
mà là giai cấp tiểu tư sản và chủ nghĩa tư bản tư nhân cùng nhau chống lạichủ nghĩa tư bản nhà nước lẫn chủ nghĩa xã hội
Từ những phân tích trên, Lênin đi đến chủ trương liên minh nhà nước
vô sản và chủ nghĩa tư bản nhà nước để chống lại các thế lực tự phát tiểu tưsản Ông chỉ rõ rằng, bằng việc kết hợp các mặt đối lập với nhau, cụ thể là kếthợp giữa nhà nước vô sản và nhà nước tư sản sẽ giúp cho nền công nghiệpđược phục hưng Đó cũng chính là điều kiện để cải tạo có hiệu quả nền côngnghiệp sản xuất nhỏ và người nông dân tư hữu, thu hút công nhân trở lại nhàmáy, chấm dứt tình trạng họ phải tự sản xuất ra bật lửa rồi lại tự mình mang
ra tiêu thụ ngoài thị trường Việc người công nhân xa rời nhà máy, để sốnganh ta phải làm đủ mọi việc linh tinh sẽ làm tha hóa ngay chính bản thân của
họ, đẩy họ về phía những người sản xuất nhỏ Do vậy, liên minh với chủnghĩa tư bản nhà nước để khôi phục lại nền đại công nghiệp là con đường cóhiệu quả nhất nhằm cứu vớt ngay bản thân công nhân - giai cấp lãnh đạo củachuyên chính vô sản
Thứ ba, liên quan đến những mâu thuẫn phát sinh trong quá trình xây
dựng chủ nghĩa xã hội, Lênin đề cập đến sự kết hợp giữa chính sách dàn đều
và chính sách trọng điểm, biểu hiện của sự kết hợp có ý thức này là giữa vấn
đề dân tộc và quốc tế, giữa nhiệt tình cộng sản và hoạch toán kinh tế, giữadân chủ và tập trung trong nguyên tắc tập trung dân chủ, giữa thuyết phục vàcưỡng bức, giữa động viên tư tưởng và khuyến khích vật chất, giữa quy luậtchiến tranh và quy luật xây dựng hòa bình Trong quá trình thực hiện sự kếthợp giữa chính sách dàn đều và chính sách trọng điểm, Lênin nhấn mạnh đếnyếu tố thời điểm, hoàn cảnh Vấn đề đặt ra là phải suy nghĩ cho thật kỹ haichính sách và vận dụng làm sao cho phù hợp với từng hoàn cảnh cụ thể nhằm
Trang 24đem lại lợi ích cho cách mạng.
Sự kết hợp các mặt đối lập trong tư tưởng của Lênin không phải là thái
độ chiết trung, mà luôn có tính nguyên tắc và biện chứng; nó dựa trên quanđiểm thừa nhận và lấy cái mới làm yếu tố chủ đạo, làm chủ lực cho sự pháttriển theo hướng xã hội chủ nghĩa Nếu vi phạm nguyên tắc biện chứng trongkhi thực hiện sự kết hợp các mặt đối lập sẽ biến cái mới thành cái cũ, biến cáikích thích sự phát triển thành cái kìm hãm sự phát triển Chẳng hạn, khithực hiện sự kết hợp các mặt đối lập trong nguyên tắc tập trung dân chủ cầnphải phân định rõ giữa tập trung dân chủ khác với tập trung quan liêu và tính
tự phát, vô tổ chức Lênin nhấn mạnh "không có gì sai lầm bằng việc lẫn lộn
chế độ tập trung dân chủ với chủ nghĩa quan liêu và lối rập khuôn máy móc"
[30, tr.95] Do vậy, không thể áp dụng sự kết hợp các mặt đối lập một cáchtùy tiện, máy móc hoặc vô nguyên tắc, Lênin đã đưa ra một nhận định hết sức
xác đáng: có thể kết hợp các khái niệm đối lập với nhau thành một điệu nhạc
chối tai nhưng cũng có thể kết hợp chúng lại thành điệu nhạc êm tai.
Lênin coi sự kết hợp các mặt đối lập như là một hình thức đặc biệt củacuộc đấu tranh giữa chúng Theo ông, đấu tranh có nhiều hình thức khácnhau: có đấu tranh thủ tiêu cả hai mặt đối lập; có đấu tranh dẫn đến thủ tiêumột mặt còn mặt kia được biến đổi; có đấu tranh làm kích thích lẫn nhau,hoàn thiện lẫn nhau và cùng nhau phát triển Hiểu như vậy, chúng ta có thểkhẳng định rằng, trong mâu thuẫn biện chứng sự thống nhất của các mặt đốilập luôn bao hàm trong mình sự khác biệt, đối lập và xung đột Chính trong
sự thống nhất ấy mà các mặt đối lập tương tác một cách biện chứng với nhau,
và đó cũng là sự đấu tranh của các mặt đối lập làm nên nguồn gốc, động lực
phát triển của sự vật, hiện tượng V.I Lênin khẳng định rằng, sự phát triển là một cuộc đấu tranh giữa các mặt đối lập, đấu tranh là tuyệt đối, chính nhờ
đấu tranh mà các sự vật vận động, chuyển hóa lẫn nhau, làm cho thế giới trởnên vô hạn, vĩnh viễn và bất diệt Trong đó, sự kết hợp các mặt đối lập vừađược coi là một hình thức đặc biệt của cuộc đấu tranh giữa các mặt đối lập,đồng thời đó cũng là một phương thức mà chủ thể lợi dụng những điểm
Trang 25chung, tương đồng của các mặt đối lập trong sự thống nhất giữa chúng đểgiải quyết mâu thuẫn nhất là các mâu thuẫn xã hội.
Có thể khẳng định, việc kết hợp biện chứng các mặt đối lập với tư cách
là một phương thức đi tới giải quyết mâu thuẫn, đã được Lênin sử dụng đểlãnh đạo nhân dân Nga xây dựng chủ nghĩa xã hội trong thời kỳ thực hiện
chính sách kinh tế mới (NEP) những năm 1921 - 1924 Chính sách này nhằm
khắc phục hậu quả tiêu cực từ việc kéo dài chính sách cộng sản thời chiến
trước đó V.I Lênin đã tiến hành kết hợp một cách biện chứng giữa chủ nghĩa
tư bản và chủ nghĩa xã hội, giữa kinh tế tư bản và nhà nước Xô viết Biểuhiện tập trung nhất của việc kết hợp này trong NEP chính là chủ trương thựchiện chủ nghĩa tư bản nhà nước Thực chất của chủ nghĩa tư bản nhà nướcnhư Lênin khẳng định đó là việc chấp nhận sự tồn tại của chủ nghĩa tư bảntrong khuôn khổ của sự kiểm kê, kiểm soát của nhà nước Xô viết Mục đíchcủa việc phát triển tư bản nhà nước kiểu mới này là nhằm khai thác, lợi dụngmặt tích cực của chủ nghĩa tư bản (về vốn, kỹ thuật, kinh nghiệm quản lý )
để đem lại lợi ích cho chủ nghĩa xã hội
Rõ ràng, đây là hành động chủ động, tự giác, tích cực của Đảng và Nhànước Xô viết trong việc hợp tác với chủ nghĩa tư bản và các nhà tiểu tư sản.Nhưng cũng chính vì là hoạt động tự giác của nhà nước Xô viết, cho nên việckết hợp này phải luôn đặt trong giới hạn, khuôn khổ chủ nghĩa xã hội Bởi lẽ,việc hợp tác với chủ nghĩa tư bản trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hộicũng giống như sử dụng con dao hai lưỡi, vì xét về bản chất, chủ nghĩa tư bản
và các nhà tư bản trong quan hệ với chủ nghĩa xã hội không phải vì lợi íchcủa chủ nghĩa xã hội mà là vì lợi ích của chính giai cấp tư sản Lênin hiểuđiều đó, nên đã ra sức bảo vệ NEP nói chung và chủ nghĩa tư bản nhà nướcnói riêng, tạo mọi điều kiện cho chủ nghĩa tư bản nhà nước phát triển với việctăng cường sự kiểm tra, kiểm soát của chính quyền Xô viết Lênin yêu cầu
phải luôn coi công tác kiểm kê, kiểm soát này là một cái trạm trung gian để
đi đến chủ nghĩa xã hội, tránh chệch hướng chủ nghĩa xã hội Chỉ trong điềukiện như vậy, việc thực hiện chủ nghĩa tư bản nhà nước mới là cần thiết, đáng
Trang 26mong đợi và là bắc cầu để đi vào chủ nghĩa xã hội.
Như vậy, sự kết hợp các mặt đối lập được nêu ra trong chính sách kinh
tế mới của Lênin là sách lược có nguyên tắc, có điều kiện chứ không phải làtùy tiện, vô nguyên tắc Việc Lênin phát hiện ra các mặt đối lập và sáng tạo,linh hoạt trong việc kết hợp chúng vào những điều kiện, hoàn cảnh nhất địnhđem lại lợi ích cho cách mạng mà biểu hiện cụ thể của tư tưởng đó ở chínhsách kinh tế mới, đã đem lại một ý nghĩa hết sức to lớn Tư tưởng này đã mở
ra một khả năng, một phương pháp giải phóng những mâu thuẫn xã hội, nảysinh trong quá trình đi lên chủ nghĩa xã hội ở những nước lạc hậu, tiền tưbản V.I Lênin cho thấy đối với một nước còn ở tình trạng tiểu nông là chủ
yếu, để có thể đi lên chủ nghĩa xã hội phải thực hiện bước quá độ gián tiếp, phải qua những khâu trung gian, những hình thức quá độ đặc biệt Một trong những hình thức của khâu trung gian, quá độ ấy là chủ nghĩa tư bản nhà nước
và đó cũng là kết quả tất yếu của sự kết hợp biện chứng giữa hai mặt đối lập,kinh tế tư bản và nhà nước vô sản Thực hiện NEP, ông khẳng định rằng, phảibắc những nhịp cầu nhỏ, đi qua những nấc thang, những mắc xích trung gian,
áp dụng những giải pháp vừa tầm, thích hợp với những nước tiểu nông, biếtcách thỏa hiệp với họ, kiên nhẫn chờ đợi, thuyết phục họ đi đến chủ nghĩa xãhội Đó là bước quá độ gián tiếp lên chủ nghĩa xã hội phù hợp với các nướclạc hậu, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa
Bên cạnh đó, V.I Lênin cũng đã nắm bắt được những mâu thuẫn phátsinh trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội biểu hiện ra ở các quan hệtrong đời sống xã hội như kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội , từ đó đi đếnvận dụng sự kết hợp các mặt đối lập để đưa ra chính sách đối ngoại vô sảnlinh hoạt, mềm dẻo nhằm tăng cường lực lượng, tìm các nước đồng minh tạmthời, cùng liên kết đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc bảo vệ chính quyền Xôviết non trẻ Tư tưởng kết hợp các mặt đối lập còn được Lênin vận dụng mộtcách triệt để vào việc giải quyết mâu thuẫn xã hội trong mọi lĩnh vực của đờisống; kết hợp giữa chính sách dàn đều và chính sách có trọng điểm tùy vàođiều kiện, hoàn cảnh đương thời để lựa chọn chính sách nào đóng vai trò
Trang 27quyết định; kết hợp giữa động viên tư tưởng với khuyến khích vật chất nhằmtạo ra động lực cho người lao động cùng đoàn kết, bảo vệ thành quả cáchmạng và xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Tóm lại, với tư cách là những nhà triết học thực tiễn, những nhà duy vật chiến đấu C Mác, Ph Ăngghen và V.I Lênin đã đạt đến trình độ cao của
tư duy biện chứng về sự kết hợp các mặt đối lập và vận dụng nó vào tronghoạt động thực tiễn cách mạng Tư tưởng của các ông đã bước đầu xây dựng
nên cơ sở lý luận về phương pháp kết hợp các mặt đối lập và đã có những
thành công nhất định trong thực tiễn cải tổ đất nước Liên Xô và các nước chủnghĩa xã hội ở Đông Âu Chính sách kinh tế mới (NEP) với tư cách là mộtchiến lược, được Lênin vạch ra đã giải quyết thắng lợi cuộc khủng hoảng vềkinh tế - xã hội trong thời gian dài từ 1921 - 1924 ở nước Nga Xô viết, đưanước Nga từ khủng hoảng đi tới hồi sinh và phát triển Suốt nhiều thập kỷqua, chính sách kinh tế mới của Lênin vẫn được các nước ở những trình độphát triển khác nhau, trong những hoàn cảnh khác nhau nhận thức và vậndụng Có thể nói, thiên tài Lênin thể hiện tập trung nhất trong chính sách kinh
tế mới và trong thực tiễn lãnh đạo, tổ chức thực hiện chính sách đó Ông đãnêu ra kiểu mẫu về thái độ trung thành với chủ nghĩa Mác trong hành động,trong phong cách lãnh đạo táo bạo, kiên quyết và đầy tính nghệ thuật, lái conthuyền cách mạng vượt qua gian nguy, tạo nền móng vững chắc cho mọithắng lợi sau này Nhờ có NEP, lý luận của chủ nghĩa xã hội khoa học lầnđầu tiên đi vào hiện thực Lênin không chỉ đặt nền móng cho lý luận mà cònnêu ra mẫu mực về chiến lược và sách lược tiến hành cách mạng chủ nghĩa
xã hội từ những điểm xuất phát khác nhau, phản ánh đúng đắn đòi hỏi củaquy luật ra đời và phát triển chủ nghĩa xã hội trong điều kiện thời đại mới Tưtưởng kinh tế của Lênin mà nhất là chính sách kinh tế mới đang soi sáng,hướng dẫn mỗi bước tiến lên của cách mạng ở các nước có trình độ khácnhau Ở nước ta, việc nghiên cứu phép biện chứng trong điều kiện mới,nghiên cứu phương pháp giải quyết mâu thuẫn của V.I Lênin được cụ thể hóatrong chính sách kinh tế mới, giúp chúng ta thấy được tính phức tạp của cuộc
Trang 28đấu tranh giữa cái mới và cái cũ, đòi hỏi sự vận dụng sáng tạo lý luận cáchmạng vào điều kiện riêng của đất nước.
1.1.3 Quan điểm của Hồ Chí Minh về sự kết hợp các mặt đối lập
Quán triệt sâu sắc tinh thần biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin, chủtịch Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo, linh hoạt vào giải quyết các mâuthuẫn xã hội nảy sinh trong từng thời kỳ cách mạng, đưa cách mạng ViệtNam vững bước đi lên giành thắng lợi Giải quyết mâu thuẫn xã hội, do đóthực sự là một nghệ thuật trong hệ tư tưởng của Hồ Chí Minh
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Hồ Chí Minh luôn chú
ý đến tính phổ biến của mâu thuẫn trong các sự vật, sự việc và quá trình.Người cho rằng cái gì cũng có mâu thuẫn như có biến âm, biến dương, cósinh có tử, có quá khứ và có hiện tại, có mới có cũ , đó là những mâu thuẫntrong mọi sự vật Khi có mâu thuẫn thì phải tìm cách giải quyết và muốn vậyphải biết phân tích các mâu thuẫn để phân loại chúng thành chính hay phụ, từ
đó có cách giải quyết thích hợp Trong đấu tranh giải phóng dân tộc và đấutranh giai cấp, có nhận thức đúng mâu thuẫn mới xác định rõ đâu là kẻ thù vàđâu là bạn đồng minh Nhờ xác định và phân loại đúng mâu thuẫn một cáchkhách quan, khoa học nên Hồ Chí Minh luôn vạch ra được phương pháp phùhợp, huy động được những lực lượng cần thiết để giải quyết mâu thuẫn kịpthời, đúng đắn, hiệu quả cho mọi giai đoạn của cách mạng
Nghệ thuật giải quyết mâu thuẫn xã hội trong tư tưởng Hồ Chí Minhđược kế thừa trực tiếp từ tư tưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin, đặc biệt là tư
tưởng của V.I Lênin về kết hợp các mặt đối lập để giải quyết mâu thuẫn kinh
tế - xã hội Phương pháp tư duy mềm dẻo, biện chứng truyền thống theo kiểuphương Đông đã giúp Hồ Chí Minh phát hiện mâu thuẫn và tìm ra phươngthức giải quyết thích hợp, chèo lái con thuyền cách mạng đi đến bến bờ thànhcông
Xuất phát từ đặc điểm văn hóa - xã hội, từ quan hệ giữa các giai tầngtrong lịch sử dân tộc ta và để giải quyết các mâu thuẫn xã hội ở trong đó, Hồ
Chí Minh thường nhấn mạnh chữ đồng và hạn chế khai thác những dị biệt
Trang 29giữa các mặt đối lập Chữ đồng trong tư tưởng Hồ Chí Minh bao hàm một nội
dung hết sức phong phú, sinh động và biện chứng đó là đồng tâm, đồng lòng,đồng mục tiêu, đồng lý tưởng, đồng lợi ích
Nhất quán với tư tưởng này trong việc giải quyết mâu thuẫn xã hội, HồChí Minh chủ trương khai thác triệt để những điểm tương đồng giữa các mặt
đối lập nhằm tìm kiếm một giải pháp có tính chất mềm dẻo, dễ dung hòa để
hướng tới mục tiêu chung là cùng có lợi, tránh đổ máu hoặc thiệt hại khôngcần thiết Người đã vận dụng tài tình tư tưởng đó vào giải quyết các mâuthuẫn trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, đồng thời coi đó là một phươngpháp, một sách lược hết sức quan trọng để đạt mục tiêu to lớn của cách mạngnước ta là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội
Từ rất sớm trong cuộc đời hoạt động của mình, Hồ Chí Minh đã nhìnnhận sự vật dưới con mắt phân tích mâu thuẫn và giải quyết mâu thuẫn.Người thấy muốn chiến thắng được đế quốc Pháp thì phải hiểu rõ thực lựccủa kẻ thù và thực lực của ta, thấy được nguyên nhân làm nên sức mạnh củaPháp và nguyên nhân đưa tới sự yếu kém của dân tộc ta Thực tế cho thấy, đếquốc Pháp hùng mạnh vì có nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, còn Việt Nam yếu
vì đất nước còn bị giam hãm trong vòng sản xuất phong kiến lạc hậu Do đó,mâu thuẫn giữa Việt Nam và Pháp không những là mâu thuẫn giữa hai dântộc mà còn là mâu thuẫn giữa nền sản xuất tiên tiến với nền sản xuất lạc hậu.Trước Hồ Chí Minh chưa có một tấm gương nào của thế giới về một dân tộcthuộc địa, lạc hậu đánh tháng một đế quốc tư bản chủ nghĩa hùng mạnh Tìnhthế đó, thôi thúc Hồ Chí Minh tìm kiếm những biện pháp thích hợp, có íchcho sự nghiệp cách mạng Nghiên cứu sâu hơn mối tương quan giữa ta vàđịch, Người vận dụng phép biện chứng tuần hoàn của phương Đông đã họcđược trong thời niên thiếu như âm cực dương hồi, bĩ cực thái lai, cùng tắcbiến, biến tắc thông Đây là tư duy biện chứng mà trước đó đã được nhiềunhà hoạt động xã hội ở phương Đông nhiều thời đại xem xét và vận dụng, nó
đã gieo vào lòng Người một niềm tin rằng có thể thay đổi được thực trạng đấtnước Đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh tiếp nhận các nguyên lý
Trang 30như nhìn nhận sự vật trong đấu tranh và thống nhất giữa các mặt đối lập,trong sự chuyển hóa về lượng thành những thay đổi về chất và nhờ vào đó,Người đã đưa những quan niệm biện chứng phương Đông lên một bước mới,củng cố và nâng cao quyết tâm làm thay đổi tình hình đất nước.
Trong thời kì cách mạng dân tộc dân chủ, vận dụng phép biện chứngduy vật vào phân tích xã hội thuộc địa nửa phong kiến Việt Nam đầu thế kỉ
XX, Hồ Chí Minh đã phát hiện ra hai mâu thuẫn cơ bản: một là, mâu thuẫn
vốn có của xã hội phong kiến là mâu thuẫn giữa nông dân với địa chủ phong
kiến; hai là, mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với bọn thực dân
Pháp xâm lược Từ đó, Hồ Chí Minh xác định, nhân dân Việt Nam có hai kẻthù chính là đế quốc và phong kiến tay sai, cách mạng dân tộc dân chủ nhândân ở Việt Nam có hai nhiệm vụ cơ bản là chống đế quốc giành lại độc lậpcho dân tộc và chống lại phong kiến đem lại ruộng đất cho dân cày Để giảiquyết mâu thuẫn đối kháng trên, Hồ Chí Minh đã vận dụng phép biện chứngcủa chủ nghĩa Mác - Lênin để phân tích mâu thuẫn xã hội Người thấy rằng,các mặt đối lập làm nên mâu thuẫn ngoài tính đối lập ra còn có tính thốngnhất và tính thống nhất ở đây ngoài ý nghĩa là tiền đề tồn tại của các mặt đốilập thì còn có sự đồng nhất ở một số điểm nào đó trong hai mặt đối lập Từ
đó, Hồ Chí Minh đã vận dụng vào để giải quyết mâu thuẫn xã hội, Hồ Chí
Minh đã luôn đề cao chữ đồng, mặt thống nhất, đoàn kết Người sử dụng
phương pháp kết hợp các mặt đối lập để tạo nên sức mạnh đoàn kết trongnhân dân Chẳng hạn như, trong cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân,
Hồ Chí Minh thấy được bên ta cũng có lòng yêu nước, độc lập, dân chủ vàyêu hòa bình còn bên địch về cơ bản thì trái lại, nhưng xét ở một nhóm nào
đó trong trường hợp, hoàn cảnh nào đó thì bên địch cũng có những yếu tốtrên, cụ thể là trong hàng ngũ của Pháp chống lại ta, cũng có những người đãtừng là chiến sĩ đấu tranh cho độc lập của nước Pháp, đấu tranh để giải phóngnước Pháp khỏi ách chiếm đóng của phát xít Đức vì thế ở những người đócũng ít nhiều có lòng trắc ẩn với dân tộc ta đó là điểm tương đồng, thốngnhất Hoặc bên ta, tuy yêu nước nhưng họ còn lưu luyến với xã hội phong
Trang 31kiến và tư sản, số người này lại thống nhất lập trường với giai cấp bên kia Nhìn rõ vấn đề đó, Hồ Chí Minh đã khơi dậy tinh thần đoàn kết mọi lựclượng miễn là có lòng trung thành với Tổ quốc, không phản lại quyền lợi củadân chúng, không kể đó là Việt gian, thân Pháp hay thân Nhật.
Hồ Chí Minh chủ trương kết hợp các mặt đối lập trong thời kỳ cách
mạng dân tộc dân chủ nhân dân, để giải quyết mâu thuẫn đối kháng giữa dântộc Việt Nam với thực dân Pháp xâm lược, Người đã đề cao sự đoàn kết,thống nhất các lực lượng nhân dân trong nước và đồng thời chủ trương đoànkết, tranh thủ triệt để sự ủng hộ của nhân dân tiến bộ Pháp và các nước trênthế giới, coi đó là sức mạnh để giải phóng dân tộc Với tư tưởng đoàn kếtrộng rãi, chặt chẽ, lâu dài với tất cả những ai có thể đoàn kết được vì mục tiêuchung Trên nguyên tắc đó, Hồ Chí Minh đã đoàn kết tất cả những người yêunước, không phân biệt xu hướng chính trị, tín ngưỡng, tôn giáo, không phânbiệt họ thuộc đảng phái nào và quá khứ họ đã hợp tác với phe nào Vì vậy,
Hồ Chí Minh đã quy tụ được toàn thể nhân dân thuộc các giai cấp, tầng lớp,các dân tộc, tôn giáo, kể cả những người trước đây từng mắc lỗi lầm nhưngnay đã thực sự ăn năn, hối cải tập hợp dưới ngọn cờ cách mạng, tạo thànhkhối đại đoàn kết toàn dân, có sức mạnh vô địch thực hiện thắng lợi cuộccách mạng giải phóng dân tộc
Ngoài chủ trương kết hợp các mặt đối lập, Người còn đưa ra sách lượcphân hóa cao độ trong hàng ngũ địch, bằng cách tìm ra những mặt đối lập tạonên mâu thuẫn gay gắt trong hàng ngũ của chúng, để không những làm chonhân dân căm ghét chúng hơn mà còn làm cho chúng bị cô lập trên thế giới
Khi cách mạng thành công, chính quyền về tay nhân dân, Hồ Chí Minhlại một lần nữa giải quyết những mâu thuẫn phát sinh trong nội bộ lực lượngcách mạng, trong nội bộ nhân dân nhằm xây dựng, mở rộng và phát huyquyền làm chủ của nhân dân, củng cố và tăng cường khối đại đoàn kết toàndân trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội Người nhấn mạnh, muốn làmđược điều đó cần phải đấu tranh ngăn chặn những phần tử tiêu cực, thoái hóa,biến chất trong nội bộ Đảng, chính quyền cách mạng Hồ Chí Minh xác định
Trang 32đây là vấn đề còn khó khăn hơn gấp nhiều lần so với trong chiến tranh chống
giặc ngoại xâm Hồ Chí Minh lại một lần nữa chú trọng đến chữ đồng, mặt
thống nhất, đoàn kết thông qua phương pháp kết hợp các mặt đối lập được
Người tiến hành một cách khách quan, biện chứng Tất cả những điểm chung,điểm tương đồng giữa các mặt đối lập của mâu thuẫn xã hội được Người vậndụng theo hướng có lợi cho sự nghiệp cách mạng Người chỉ rõ, đối với mâuthuẫn nội bộ nhân dân thì thực hành dân chủ, đối với mâu thuẫn của đế quốc,phong kiến và bè lũ phản động thì thực hành chuyên chính để đàn áp chúng
Tư tưởng kết hợp các mặt đối lập của Hồ Chí Minh được thể hiện rõtrong chủ trương, đường lối, chiến lược và sách lược cách mạng của Người.Sau khi tìm thấy con đường cứu nước giải phóng dân tộc - con đường cáchmạng vô sản, Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo phép biện chứng của chủnghĩa Mác - Lênin, phù hợp với đặc điểm và điều kiện cụ thể ở Việt Nam
Trong Tuyên ngôn Đảng Cộng sản Mác và Ăngghen viết: "Hãy xóa bỏ tình
trạng người bóc lột người thì tình trạng dân tộc này bóc lột dân tộc khác cũng sẽ bị xóa bỏ" [19, tr.21] Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin
nhấn mạnh đấu tranh giai cấp và cho rằng giải phóng giai cấp là điều kiện cơbản để giải phóng dân tộc Hồ Chí Minh không giáo điều khi vận dụng tưtưởng đó, Người cho rằng, trong hoàn cảnh một nước thuộc địa nửa phongkiến như nước ta, giải phóng dân tộc sẽ tạo điều kiện để giải phóng giai cấp
Hồ Chí Minh nhận thấy, mâu thuẫn xã hội cơ bản nỗi lên hàng đầu đó là mâuthuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với chủ nghĩa thực dân đế quốc và bọntay sai; dưới chế độ thống trị của thực dân đế quốc, trừ bọn Việt gian và phảnđộng, các giai cấp và các tầng lớp trong cộng đồng dân tộc Việt Nam baogồm giai cấp công nhân, nông dân, tầng lớp tư sản, tiểu tư sản, trí thức tuy
có lợi ích khác nhau nhưng đều bị bóc lột nặng nề, đều có chung một nhu cầu
và ý chí đánh đuổi đế quốc xâm lược, giành quyền lợi về cho giai cấp HồChí Minh nhận thấy, các giai cấp và các tầng lớp dù có những sự đối lập, sựkhác biệt nhưng họ vẫn có những điểm chung, tương đồng, từ đó Người đặtnhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu Hồ Chí Minh chủ trương kết hợp
Trang 33các mặt đối lập, kết hợp các giai cấp, tầng lớp khác nhau, đối lập nhau vì mụctiêu chung Sự liên minh, đoàn kết cả cộng đồng dân tộc trong xã hội đã nêucao tinh thần yêu nước, ý chí bất khuất, kiên cường của dân tộc Việt Nam,điều đó đã huy động được sức mạnh to lớn trong cộng đồng dân tộc Chínhsức mạnh to lớn đó đã đưa cách mạng giải phóng dân tộc đến thành công, tạotiền đề cho cuộc đấu tranh giải phóng giai cấp, giải phóng con người trong xãhội.
Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Hồ Chí Minh đã tiến hànhkết hợp các mặt đối lập một cách có ý thức, đồng thời Người luôn xác định,muốn cách mạng thành công phải luôn kết hợp nhuần nhuyễn vấn đề dân tộc
và vấn đề giai cấp Ngay trong Chính cương vắn tắt của Đảng do Người soạn thảo, có viết: làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới
xã hội cộng sản, có nghĩa là trước làm cách mạng dân tộc dân chủ đánh đổ
thực dân đế quốc và phong kiến, sau làm cách mạng xã hội chủ nghĩa Đặt ranhiệm vụ đó, Hồ Chí Minh không chỉ nghĩ đến lợi ích dân tộc mà còn thấyđược, để bảo vệ lợi ích và kiên định lập trường của giai cấp công nhân thìtrước hết phải giải phóng được dân tộc
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ cho những người cộng sản Việt Namrằng, sự nghiệp giải phóng giai cấp công nhân phụ thuộc vào sự thành côngcủa sự nghiệp giải phóng dân tộc Sự nghiệp giải phóng dân tộc không hoànthành thì muôn đời giai cấp cũng không được giải phóng Để làm được điều
đó, Người đặt niềm tin vào sức mạnh toàn dân tộc, sức mạnh ở sự tập hợpđông đảo mọi tầng lớp nhân dân, mọi tầng lớp xã hội, mọi giai cấp vào mục
tiêu cách mạng Hồ Chí Minh từng nói: "trong bầu trời không có gì quý bằng
nhân dân Trong thế giới không có gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết nhân dân" [44, tr.154] Cuộc cách mạng dân tộc dân chủ của chúng ta, phải trải qua
kháng chiến lâu dài mới giành được thắng lợi hoàn toàn Tính chất của cuộckháng chiến là toàn dân, toàn diện, phải huy động tối đa tiềm lực mọi mặt củatoàn dân tộc Người đã khơi dậy và động viên toàn dân giành chính quyền,làm nên Cách mạng tháng Tám Hồ Chí Minh luôn đề cao sự kết hợp vấn đề
Trang 34dân tộc với vấn đề giai cấp, trong đó Người đề cao truyền thống yêu nước của
dân tộc Việt Nam; Người thường ví đó như là năm ngón tay có ngón ngắn,
ngón dài, sự giác ngộ cách mạng của từng người dân không phải đồng đều, nhưng tinh thần yêu nước thì ai cũng có, chỉ cần được khơi dậy, làm cho cái quý nằm trong tủ kính, trong bình pha lê, cất kín trong rương hòm được đưa
ra trưng bày.
Vốn có niềm tin mãnh liệt ở lòng yêu nước, tự hào dân tộc của nhân
dân ta, thấm sâu tư tưởng lấy dân làm gốc và từ nỗi đau mất nước, Người
thấu hiểu tinh thần quất cường của dân tộc ta Để từ đó, phát huy tinh thầnyêu nước của các giai cấp, tầng lớp trong xã hội mặc dù có quyền lợi và mụctiêu giai cấp khác nhau Như đối với giai cấp công nhân trong cuộc cáchmạng dân tộc dân chủ, luôn đặt ra cho mình một mục tiêu lật đổ sự thống trịcủa giai cấp tư sản, phong kiến, đưa giai cấp mình bước lên vũ đài chính trị,đảm đương sứ mệnh lịch sử giải phóng các giai cấp, tầng lớp khác trong xãhội; đối với giai cấp nông dân mục tiêu đặt ra là lấy lại ruộng đất đã bị địachủ phong kiến tước đoạt; mục tiêu của tầng lớp tiểu tư sản được tự do buônbán, kinh doanh; đối với tầng lớp tri thức đòi quyền tự do tư tưởng, tự dosáng tác, tự do phản ánh đời sống hiện thực Mặc dù khác nhau, không đồngnhất về mục tiêu, quyền lợi nhưng họ có chung kẻ thù, đều có tinh thần yêunước, vì thế họ cố kết với nhau, cùng chống thù trong giặc ngoài vì mục tiêugiải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp Người chủ trương lấy cái chung,tương đồng khắc phục cái riêng, cái dị biệt làm cho các tầng lớp nhân dânnhân nhượng lẫn nhau, hòa thuận lẫn nhau, toàn dân cùng đoàn kết, khôngchia già trẻ, giàu nghèo để giữ gìn nền độc lập, chống kẻ thù chung
Ở Hồ Chí Minh, chúng ta thấy một tư duy biện chứng chịu ảnh hưởngsâu sắc triết học Phương Đông và phép biện chứng mácxít Tư duy biệnchứng của Người còn được biểu hiện rõ trong tư tưởng về mối quan hệ giữacái bất biến và cái vạn biến Tư tưởng biện chứng giữa cái bất biến và cái vạnbiến xuyên suốt trong đường lối, sách lược và chiến lược cách mạng của HồChí Minh Cái bất biến trong tư duy Hồ Chí Minh được coi là quy luật, cái
Trang 35tồn tại lâu dài, còn cái vạn biến là hiện tượng, là sự biểu hiện đa dạng của quyluật, cho nên có thể dựa vào quy luật mà lý giải hiện tượng, hay ngược lại từphân tích vô vàn hiện tượng để tìm ra quy luật tương ứng Vậy, cái bất biếnđược coi là cái thống nhất, mặt ổn định của sự vật, Hồ Chí Minh thường bắtđầu từ cái bất biến đi tới cái khả biến của xã hội và con người
Trước khi sang Pháp năm 1946, Người chỉ dặn lại cụ Huỳnh một câu:
Mong cụ ở nhà, dĩ bất biến, ứng vạn biến Đó cũng chính là Hồ Chí Minh đang
nói đến mối quan hệ giữa mục tiêu và phương pháp, nguyên tắc và sách lược.Mục tiêu của chúng ta là độc lập, thống nhất Tổ quốc, tự do, hạnh phúc chonhân dân là điều bất biến; còn phương pháp, sách lược có thể tùy tình hình màbiến hóa đa dạng, thay đổi linh hoạt nhưng không xa rời cái bất biến Người
nói: mục đích bất di bất dịch của ta vẫn là hòa bình, thống nhất, độc lập dân
tộc, nguyên tắc của ta thì phải vững chắc, nhưng sách lược của ta thì linh hoạt Hồ Chí Minh đã vận dụng phương pháp biện chứng này một cách hiệu
quả trong chỉ đạo cách mạng, đưa cách mạng đi tới những thắng lợi to lớn
Xuất phát từ tư duy biện chứng về mối quan hệ giữa cái bất biến và cáivạn biến (cái khả biến), Hồ Chí Minh đã kết hợp một cách có ý thức hai mặtđối lập - cái bất biến và cái khả biến; đó cũng là thể hiện sự kết hợp giữa tínhkiên định về nguyên tắc với tính mềm dẻo, linh hoạt về sách lược, lấy cái đạiđồng để khắc phục cái tiểu dị, biến nó thành đường lối chỉ đạo cách mạng đi
đến những thắng lợi Đúng như một nhà báo Pháp đã nhận xét: "chính sự kết
hợp mà không ai bắt chước nỗi giữa tính mềm dẻo với tính cương nghị, giữa tính linh hoạt về chính trị với tính cứng rắn về nguyên tắc, giữa việc vận dụng truyền thống yêu nước với sự phân tích Mácxít đã tạo nên tính độc đáo của ông Hồ Chí Minh" [34, tr 336].
Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹxâm lược đã chứng tỏ đường lối, sách lược và chiến lược của Hồ Chí Minh làđúng đắn; chứng tỏ tư duy kết hợp các mặt đối lập của Hồ Chí Minh đã đemlại hiệu quả thiết thực, đã tăng cường khối liên minh công nông và mở rộngMặt trận dân tộc thống nhất và khẳng định sự kết hợp vấn đề dân tộc và vấn
Trang 36đề giai cấp của Hồ Chí Minh là hoàn toàn đúng Và cho đến ngày nay, vấn đềliên minh giai cấp, đoàn kết cộng đồng dân tộc, kết hợp vấn đề dân tộc và vấn
đề giai cấp vẫn còn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với công cuộc đổi mớicủa Đảng Cộng sản Việt Nam Trên tất cả mọi lĩnh vực của đời sống xã hội:kinh tế, chính trị, văn hóa Đảng ta vẫn tiếp tục thực hiện nhất quán, lâu dàichính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thịtrường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa nhằmkết hợp hài hòa lợi ích của các bộ phận, tầng lớp nhân dân Trên cơ sở đảmbảo độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, trong đó tiếp tục đổi mới,phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế nhà nước để làm tốt vai trò chủ đạo,cùng với kinh tế hợp tác xã dần trở thành nền tảng của nền kinh tế quốc dân.Còn đối với các thành phần kinh tế khác, Đảng có chủ trương, chính sách cụthể nhằm khai thác hiệu quả các tiềm năng của chúng đem lại lợi ích chonhân dân và vì mục tiêu chủ nghĩa xã hội Đảng và Nhà nước ta cũng luônkhẳng định mối quan hệ giữa các giai cấp, các tầng lớp xã hội là quan hệ hợptác, đoàn kết nhằm xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc dựa trên nền tảngliên minh công - nông - trí thức vì sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.Trên lĩnh vực chính trị, Đảng chủ trương xây dựng nhà nước của dân, do dân
và vì dân, mang bản chất của giai cấp công nhân do Đảng Cộng sản lãnh đạo.Điều đó, vừa thể hiện bản chất giai cấp công nhân của Đảng cầm quyền vừaphát huy được sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc Trên lĩnh vực vănhóa, gìn giữ bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc, đồng thờitiếp thu những tinh hoa văn hóa của nhân loại Cho đến nay, trong bất kì giaiđoạn nào, Đảng ta cũng luôn xác định dân tộc chứa đựng một sức mạnh tolớn, giải quyết vấn đề dân tộc không thể tách rời lập trường giai cấp vô sản,nền độc lập thực sự của dân tộc chỉ có thể đảm bảo một cách bền vững khigắn liền với mục tiêu, lý tưởng của giai cấp công nhân
Như vậy, tư tưởng Hồ Chí Minh về phương pháp kết hợp các mặt đốilập là một phần quan trọng trong phương pháp biện chứng Hồ Chí Minh, nổibật lên đó là sự kết hợp giữa cái bất biến và cái khả biến, giữa tính kiên định
Trang 37về nguyên tắc với tính mềm dẻo, linh hoạt về sách lược, lấy cái đại đồng để khắc phục cái tiểu dị, đi từ dân tộc đến giai cấp nhằm mục tiêu đại đoàn kết
toàn dân tộc, phân hóa và cô lập kẻ thù, giành thắng lợi cho dân tộc để từng
bước đi lên chủ nghĩa xã hội Phương pháp kết hợp các mặt đối lập của Hồ
Chí Minh có ý nghĩa hết sức to lớn đối với công cuộc đổi mới của chúng tahiện nay, đặc biệt trong bối cảnh quốc tế đang có những bước chuyển biến
nhanh chóng và phức tạp như hiện nay Chú trọng chữ đồng, mặt thống nhất,
đoàn kết trong giải quyết mâu thuẫn xã hội ở tư tưởng Hồ Chí Minh hoàn
toàn xa lạ với thái độ thỏa hiệp giữa các mặt đối lập, cũng không phải là sự
kết hợp có tính chất chiết trung, cải lương hay là quan điểm sai lầm, xóa bỏnguyên tắc đấu tranh giữa các mặt đối lập mà là sự kết hợp khoa học, biện
chứng Tư duy biện chứng của Hồ Chí Minh, đặc biệt chú trọng việc kết hợp
các mặt đối lập như một sách lược, một biện pháp, một nghệ thuật để giải
quyết các mâu thuẫn xã hội đã được Đảng và Nhà nước ta vận dụng một cáchsáng tạo trong thời đại mới - thời đại của xu thế hội nhập kinh tế quốc tế vàtoàn cầu hóa
Tóm lại, quá trình giải quyết mâu thuẫn xã hội trong tư tưởng Hồ Chí
Minh, đã kế thừa trực tiếp tư tưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin và đặc biệt là
tư tưởng của Lênin về sự kết hợp các mặt đối lập Cùng với phương pháp tư
duy mềm dẻo, biện chứng truyền thống theo kiểu phương Đông, Hồ ChíMinh luôn nhìn thấy các mặt đối lập không phải là những đại lượng tĩnh tại
mà luôn biến động và thay đổi, chuyển hóa, giữa các mặt đối lập bên cạnh
những điểm khác biệt còn có những điểm tương đồng, từ đó vận dụng lý luận
của chủ nghĩa Mác - Lênin để liên kết các giai cấp, tầng lớp đối lập nhautrong xã hội thành một khối thống nhất, tạo nên sức mạnh đánh thắng kẻ thùđồng thời giành chính quyền về tay giai cấp vô sản, xây dựng nhà nước xãhội chủ nghĩa vì mục tiêu giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóngcon người
1.2 Lý luận về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
1.2.1 Khái niệm kinh tế thị trường và kinh tế thị trường định hướng
Trang 38xã hội chủ nghĩa
Khái niệm kinh tế thị trường
Lịch sử của xã hội loài người trước hết là lịch sử phát triển khôngngừng của lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội, đồng thời cũng
là quá trình thay thế lẫn nhau của các phương thức sản xuất Trong đó, kinh
tế thị trường ra đời và tồn tại dựa trên yêu cầu tất yếu của lịch sử Bất kỳ xãhội nào muốn tồn tại và phát triển cần phải có một tổ chức kinh tế - xã hội,trong lịch sử có hai kiểu tổ chức kinh tế - xã hội, đó là kinh tế tự nhiên vàkinh tế hàng hóa (giai đoạn cao là kinh tế thị trường)
Kinh tế tự nhiên là hình thức kinh tế đầu tiên của xã hội loài người;
trong đó, sản phẩm được sản xuất ra nhằm thỏa mãn nhu cầu cá nhân củangười sản xuất trong nội bộ một đơn vị kinh tế nhất định, người sản xuấtquyết định về số lượng, chủng loại sản phẩm theo nhu cầu của mình, gắn vớiđiều kiện tự nhiên và phong tục tập quán cổ truyền, trình độ phân công laođộng, công cụ lao động, phương thức tổ chức sản xuất còn rất thấp và giảnđơn, sản xuất mang tính tự cấp, tự túc, khép kín theo từng vùng, địa phương,lãnh thổ Nền kinh tế tự nhiên chủ yếu tồn tại trong các xã hội như công xãnguyên thủy, chiếm hữu nô lệ, phong kiến
Kinh tế hàng hóa ra đời từ kinh tế tự nhiên, kế tiếp của kinh tế tự nhiên
trên cơ sở phát triển của phân công lao động xã hội và sự tách biệt về kinh tếcủa những người sản xuất Kinh tế hàng hóa là hình thức kinh tế trong đó conngười sản xuất sản phẩm không phải để thỏa mãn nhu cầu trực tiếp của mình,
mà nhằm để trao đổi, để bán trên thị trường Vì vậy, số lượng và chủng loạisản phẩm đều do người mua quyết định, việc phân phối sản phẩm được thựchiện thông qua quan hệ trao đổi (mua - bán) trên thị trường
Kinh tế hàng hóa ra đời từ rất sớm - vào thời kỳ tan rã của chế độ công
xã nguyên thủy, tồn tại trong nhiều phương thức sản xuất mà hình thức đầutiên của nó là kinh tế hàng hóa giản đơn Đó là kiểu sản xuất do những ngườinông dân, thợ thủ công tiến hành trên cơ sở tư hữu nhỏ về tư liệu sản xuất vàsức lao động của chính bản thân người sản xuất, họ trực tiếp trao đổi sản
Trang 39phẩm với nhau trên thị trường Khi quan hệ hàng hóa - tiền tệ phát triểnmạnh, đặc biệt là trong thời kỳ tan rã của phương thức sản xuất phong kiến
và quá độ sang chủ nghĩa tư bản, kinh tế hàng hóa giản đơn phát triển thànhkinh tế hàng hóa tư bản chủ nghĩa Kinh tế tư bản chủ nghĩa là hình thức sảnxuất hàng hóa cao nhất, phổ biến nhất trong lịch sử dựa trên sự tách rời tưliệu sản xuất với sức lao động Đặc điểm của nền kinh tế hàng hóa tư bản chủnghĩa là dựa trên cơ sở chế độ sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sảnxuất và bóc lột lao động làm thuê Nền kinh tế tư bản chủ nghĩa trải qua haigiai đoạn: kinh tế thị trường tự do (cổ điển) và kinh tế thị trường hỗn hợp(hiện đại) Như vậy, sự ra đời và phát triển của chủ nghĩa tư bản đã làm chokinh tế hàng hóa giản đơn phát triển thành kinh tế hàng hóa phát triển hay
còn gọi là kinh tế thị trường.
Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là đồng nhất kinh tế thị trường vớisản xuất hàng hóa tư bản chủ nghĩa Khi nói sản xuất hàng hóa tư bản chủnghĩa là muốn nhấn mạnh mặt xã hội của sản xuất, tính chất của nền sản xuất;còn nói kinh tế thị trường là muốn nhấn mạnh mặt tự nhiên của sản xuất dựatrên trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Ngày nay, kinh tế hàng hóa đãphát triển và phổ biến trên phạm vi toàn thế giới Kinh tế thị trường tiếp tụctồn tại và phát triển cả dưới chế độ tư bản chủ nghĩa và chế độ xã hội chủnghĩa Nền kinh tế thị trường trong xã hội chủ nghĩa khác với kinh tế thịtrường tư bản chủ nghĩa, tiêu chí nói lên sự khác biệt giữa kinh tế thị trường
tư bản chủ nghĩa với kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa chủ yếu là mục tiêucông bằng và tiến bộ xã hội Kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa là nền kinh
tế thị trường lớn có quan hệ giữa người lao động làm thuê và người thuê laođộng do đó còn tình trạng bất công, còn kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa lànền kinh tế trong đó phải thực hiện và đảm bảo được công bằng xã hội Thực
tế, hiện nay trên thế giới vẫn chưa có nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa
do chưa thực hiện được mục tiêu công bằng xã hội
Tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Đảng ta khẳng định: sảnxuất hàng hóa không đối lập với chủ nghĩa xã hội mà là thành tựu phát triển
Trang 40của nền văn minh nhân loại, tồn tại khách quan cần thiết cho công cuộc xâydựng chủ nghĩa xã hội và cả khi chủ nghĩa xã hội đã được xây dựng Thựctiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay cho thấy, kinh tế thịtrường không phải là đặc trưng riêng có của chủ nghĩa tư bản, mà ngược lại
nó đã từng có ở nhiều chế độ xã hội khác nhau trong lịch sử Sự ra đời kinh tế
tư bản chủ nghĩa chỉ đẩy kinh tế thị trường lên một giai đoạn phát triển caohơn về chất, về cả quy mô, tính chất và mức độ bao quát của nó Tiếp tục xuhướng tất yếu đó, nền kinh tế của chủ nghĩa xã hội nói chung và thời kỳ quá
độ lên chủ nghĩa xã hội nói riêng là một sự phát triển mang tính phủ địnhbiện chứng đối với kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa, từ đấy ra đời nền kinh
tế thị trường mới về chất Nếu trong chế độ tư bản, kinh tế thị trường đặt dưới
sự quản lý của nhà nước tư sản độc quyền vì lợi ích của giai cấp tư sản, thìtrong chủ nghĩa xã hội nền kinh tế thị trường nằm dưới sự quản lý của nhànước vô sản nhằm phục vụ lợi ích của nhân dân, góp phần thực hiện mục tiêugiải phóng con người, vì con người
Như vậy, kinh tế thị trường là trình độ phát triển cao của kinh tế hàng
hóa, trong đó toàn bộ các yếu tố đầu vào và đầu ra của sản xuất đều thông
qua thị trường Kinh tế thị trường chỉ có thể được xác lập và phát triển trên cơ
sở đảm bảo những điều kiện sau:
Thứ nhất, phải tồn tại nền kinh tế hàng hóa Việc đẩy mạnh phân công lao
động xã hội và đa dạng hóa các hình thức sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất
và sản phẩm được coi là điều kiện tiên quyết để phát triển kinh tế thị trường
Thứ hai, phải dựa trên cơ sở tự do kinh tế, tự do sản xuất, tự do kinh
doanh Đây là điều kiện hết sức cần thiết cho quá trình giải phóng sức laođộng và điều hòa lợi ích giữa người mua và người bán, đồng thời giúp cho thịtrường tuân theo sự chi phối của các quy luật kinh tế trong sản xuất và lưuthông hàng hóa
Thứ ba, nền kinh tế phải đạt đến một trình độ phát triển nhất định được
thể hiện ở sự phát triển các ngành kinh tế thuộc hệ thống cơ sở hạ tầng, cơ sở vậtchất - kỹ thuật cùng với hệ thống tiền tệ, phương tiện để lưu thông hàng hóa