Đánh giá việc vận dụng của Đảng trong thực tiễn cách mạng……….16 Kết luận……….18 Lời mở đầu Trong công cuộc xây dựng đất nước, ý thức toàn dân là một yếu tố quan trọng và là một vấn đề bức
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
THẢO LUẬN NHÓM
ĐỀ TÀI:
Quan niệm của chủ nghĩa duy vật biện chứng về ý thức Sự vận dụng của Đảng trong thực tiễn cách mạng Việt Nam.
Học phần: Triết học Mác- Lênin Lớp : 2006MLNP0221
Nhóm: 13 Giảng viên hướng dẫn: Nguyễn Quỳnh Hương Thành viên nhóm:
19D180049- Nguyễn Thị Tố Uyên 19D180118- Phạm Thị Kim Uyên 19D180050- Nguyễn Thị Vân 19D180119- Nguyễn Thu Vân 19D180120- Phạm Huy Vũ 19D180051- Khuất Thị Vy 19D180121- Nguyễn Hải Yến 19D180052-Trương Thị Hoàng Yến
Trang 2 Mục lục
Lời mở đầu……….2
A Cơ sở lý luận……… 3
1 Quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng về nguồn gốc của ý thức………3
2 Quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng về bản chất của ý thức………5
B Sự vận dụng của Đảng trong thực tiễn cách mạng Việt
Nam………7
1 Sự vận dụng của Đảng trong thực tiễn cách mạng trước thời kỳ đổi mới……… 7
2 Sự vận dụng của Đảng trong thực tiễn cách mạng sau thời kỳ đổi mới……… 10
3 Đánh giá việc vận dụng của Đảng trong thực tiễn cách mạng……….16
Kết luận……….18
Lời mở đầu
Trong công cuộc xây dựng đất nước, ý thức toàn dân là một yếu tố quan trọng và là một vấn đề bức thiết.Xây dựng ý thức xã hội mới là sự nghiệp của toàn dân, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, trên cơ
sở xây dựng và phát triển nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống” Trong hàng loạt nhân tố tạo nên sự thành công của quá trình đổi mới tư duy lý luận ở Việt Nam, triết học Mác - Lênin có vai trò đặc biệt quan trọng Trong điều kiện hiện nay, triết học Mác - Lênin vẫn giữ được tính khoa học và đúng đắn, vẫn giữ nguyên giá trị định hướng cho những người cách mạng; nó giúp cho Đảng Cộng sản và nhân dân Việt Nam nhận thức đúng các vấn đề của thời đại có liên quan chặt chẽ đến đổi mới tư duy lý luận; đồng thời, là cơ sở lý luận và phương pháp để tư duy đúng đắn
Trang 3về con đường phát triển của cách mạng Việt Nam Xây dựng ý thức xã hội mới, chúng ta cần phải đẩy mạnh công cuộc xây dựng đời sống kinh tế mới, văn hoá mới, con người mới; không ngừng hoàn thiện ý thức xã hội theo hướng khoa học, cách mạng, tiến bộ; đồng thời tăng cường công tác
tuyên truyền, giáo dục ý thức xã hội mới Đất nước ta đã trải qua bao nhiêu những thăng trầm lịch sử
xây dựng và bảo vệ đất nước Điều làm nên những chiến thắng vang dội là tinh thần yêu nước, ý thức bảo vệ đất nước, đoàn kết chống giặc ngoại xâm của nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Dưới sự vận dụng linh hoạt của Cách mạng Liên Xô, ý thức bảo vệ đất nước là yếu tố lòng cốt
để một đất nước nhỏ bé đứng vững trên chiến trường bom đạn Ngày nay khi đất nước đã hòa bình thì việc xây dựng Đảng vững mạnh là một trong những chủ trương bức tiết yêu cầu người dân phải
có ý thức xây dựng Việc tiếp nối truyền thống văn hóa yêu nước ngàn đời, tạo một cộng đồng gắn kết, xây dựng một hệ tư tưởng, tình cảm giữa mọi người để cùng nhau xây dựng Đảng, đất nước vững mạnh
Ý thức là một trong hai phạm trù thuộc vấn đề cơ bản của triết học Nó là hình thức cao của sự phản ánh của thực tại khách quan, hình thức mà riêng con người mới có Ý thức của con người là cơ năng của cái “ khối vật chất đặc biệt phức tạm mà người ta gọi là bộ óc con người” (theo LêNin) Ý thức không có khả năng cải tiến thành hiện thực nhưng thông qua hoạt động thực tiễn của con người, ý thức có thể cải biến được tự nhiên thâm nhập vào sự vật, thực hiện hóa mục đích mà nó đề ra cho hoạt động của mình Tác động của ý thức xã hội đối với con người là vô cùng to lớn Nó không những là kim chỉ nam cho hoạt động thực tiễn mà con là động lực thực tiễn Sự thành công hay thất bại của thực tiễn, tác động tích cự hay tiêu cực của thức đối với sự phát triển của tự nhiên, xã hội chủ yếu phụ thuộc vào vai trò chỉ đạo của ý thức mà biểu hiện ra là vai trò của khoa học văn hoá và tư tưởng Ý thức đóng góp một phần quan trọng trong thực tiễn cách mạng Việt Nam từ trước đến nay
Nó là tiền đề thúc đẩy cho mọi chiến thắng của dân tộc
Dưới sự tìm hiểu về quan niệm của chủ nghĩa duy vật biện chứng về ý thức và sự hướng dẫn của giảng viên học phần nhóm chúng em tiến hành nghiên cứu đề tài: “Quan niệm của chủ nghĩa duy vật biện chứng về ý thức Sự vận dụng của Đảng trong thực tiễn cách mạng Việt Nam” Nhóm đã vận dụng kiến thức trong giáo trình Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác- Lênin, tìm hiểu tài liệu qua sách, báo, internet để hoàn thiện bài làm một cách rõ ràng, đầy đủ nhất Qua đây mong muốn làm rõ tầm quan trọng của ý thức qua quan niệm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, và là vai trò hàng đầu trong thực tiễn cách mạng Việt Nam
A Cơ sở lý luận
I Quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng về nguồn gốc của ý thức
1 Nguồn gốc tự nhiên
Các yếu tố tạo thành nguồn gốc tự nhiên của ý thức là bộ óc con người và hoạt động của nó cùng mối quan hệ giữa con người với thế giới khách quan; trong đó, thế giới
Trang 4con người về thế giới khách quan Như vậy, ý thức chính là sự phản ánh của con người
về thế giới khách quan
Phản ánh là sự tái tạo những đặc điểm của dạng vật chất này ở dạng vật chất khác trong quá trinh tác động qua lại lẫn nhau giữa chúng Phản ánh là thuộc tính của tất cả các dạng vật chất song phản ánh được thể hiện dưới nhiều hình thức: phản ánh vật lý, hoá học; phản ánh sinh học; phản ánh tâm lý và phản ánh năng động, sáng tạo (tức phản ánh ý thức) Những hình thức này tương ứng với quá trình tiến hoá của vật chất
tự nhiên
+ Phản ánh vật lý, hoá học là hình thức thấp nhất, đặc trưng cho vật chất vô sinh Phản ánh vật lý, hoá học thể hiện qua những biến đổi về cơ, lý, hoá (thay đổi kết cấu, vị trí, tính chất lý – hoá qua quá trình kết hợp, phân giải các chất) khi có sự tác động qua lại lẫn nhau giữa các dạng vật chất vô sinh Hình thức phản ánh này mang tính thụ động, chưa có định hướng lựa chọn của vật nhận tác động
+ Phản ánh sinh học là hình thức phản ánh cao hơn, đặc trưng cho giới tự nhiên hữu sinh Tương ứng với quá trình phát triển của giới tự nhiên hữu sinh, phản ánh sinh học được thể hiện qua tính kích thích, tính cảm ứng, phản xạ Tính kích thích là phản ứng của thực vật và động vật bậc thấp bằng cách thay đổi chiều hướng sinh trưởng, phát triển, thay đổi màu sắc, thay đổi cấu trúc, v.v khi nhận sự tác động trong môi trường sống Tính cảm ứng là phản ứng của động vật có hệ thần kinh tạo ra năng lực cam giác, được thực hiện trên cơ sở điều khiển của quá trình thần kinh qua cơ chế phản xạ không điều kiện, khi có sự tác động từ bên ngoài môi trường lên cơ thể sống
+ Phản ánh tâm lý là sự phản ánh đặc trưng cho động vật đã phát triển đến trình độ có
hệ thần kinh trung ương, được thực hiện thông qua cơ chế phản xạ có điều kiện đối với những tác động của môi trường sống
+ Phản ánh ý thức là hình thức phản ánh năng động,sáng tạo chỉ có ở con người Đây
là sự phản ánh có tính chủ động lựa chọn thông tin, xử lý thông tin để tạo ra những thông tin mới, phát hiện ý nghĩa của thông tin
2 Nguồn gốc xã hội
Nhân tố cơ bản nhất và trực tiếp nhất tạo thành nguồn gốc xã hội của ý thức là lao động và ngôn ngữ
- Lao động là quá trình con người sử dụng công cụ tác động vào giới tự nhiên nhằm thay đổi giới tự nhiên cho phù hợp với nhu cầu của con người; là quá trình trong đó bản thân con người đóng vai trò môi giới, điều tiết sự trao đổi vật chất giữa mình với giới tự nhiên Trong quá trình lao động, con người tác động vào thế giới khách quan làm thế giới khách quan bộc lộ những thuộc tính, những kết cấu, những quy luật vận động của nó, biểu hiện thành những hiện tượng nhất định mà con người có thể quan sát được Những hiện tượng ấy, thông qua hoạt động của các giác quan, tác động vào bộ
Trang 5óc người, thông qua hoạt động của bộ não con người, tạo ra khả năng hình thành nên những tri thức nói riêng và ý thức nói chung
Như vậy, sự ra đời của ý thức chủ yếu do hoạt động cải tạo thế giới khách quan thông qua quá trình lao động
- Ngôn ngữ là “cái vỏ vật chất” của ý thức, tức hình thức vật chất nhân tạo đóng vai trò thể hiện và lưu giữ các nội dung ý thức
Sự ra đời của ngôn ngữ gắn liền với lao động Lao động ngay từ đầu đã mang tính tập thể Mối quan hệ giữa các thành viên trong lao động nảy sinh ở họ nhu cầu phải có phương tiện để giao tiếp, trao đổi tri thức, tình cảm, ý chí,… giữa các thành viên trong cộng đồng con người Nhu cầu này làm cho ngôn ngữ nảy sinh và phát triển ngay trong quá trình lao động sản xuất cũng như trong sinh hoạt xã hội Nhờ có ngôn ngữ, con người không chỉ giao tiếp, trao đổi trực tiếp mà còn có thể lưu giữ, truyền đạt nội dung
ý thức từ thế hệ này sang thế hệ khác…
Xem xét nguồn gốc tự nhiên và nguồn gốc xã hội của ý thức thấy được ý thức xuất hiện là kết quả của quá trình tiến hóa lâu dài của giới tự nhiên, của lịch sử trái đất, đồng thời là kết quả trực tiếp của thực tiễn xã hội- lịch sử của con người Trong đó, nguồn gốc tự nhiên là điều kiện cần, còn nguồn gốc xã hội là điều kiện đủ để ý thức hình thành, tồn tại và phát triển
II Quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng về bản chất của ý thức.
Trên cơ sở lý luận phản ánh và dựa vào các thành tựu khoa học, chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định: ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong bộ óc con người một cách năng động, sáng tạo; là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan
- Tính sáng tạo của ý thức thể hiện:
+ Nó là quá trình xử lý, chế biến thông tin biến các đối tượng vật chất được phản ánh thành hình ảnh tinh thần trong đầu óc con người
+ Nó có thể tạo ra những tri thức mới, những sự vật mới trên cơ sở những đối tượng vật chất đã và đang có trong hiện thực khách quan
+ Nó có thể tạo ra những câu chuyện tưởng tượng, những huyền thoại, truyền thuyết
để phản ánh hiện thực khách quan
+ Nó có thể tiên đoán, dự đoán được tương lai góp phần định hướng cho con người trong hoạt động thực tiễn, thậm chí ý thức ở một số người có năng lực đặc biệt như: tiên tri, thôi miên, thấu thị
Trang 6- Sự sáng tạo của ý thức là sự sáng tạo trong khuôn khổ và theo quy luật của cái phản ánh, nghĩa là xét cho cùng, tính sáng tạo của ý thức vẫn có nguồn gốc từ vật chất, do vật chất quyết định
- Ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan nghĩa là: ý thức là hình ảnh về thế giới khách quan, hình ảnh ấy bị thế giới khách quan quy định cả về nội dung cả về hình thức biểu hiện nhưng nó không còn y nguyên như thế giới khách quan mà nó đã cải biến thông qua lăng kính chủ quan (tâm tư, tình cảm, nguyện vọng, kinh nghiệm, tri thức, nhu cầu ) của con người Ý thức “chẳng qua chỉ là vật chất được đem chuyển vào trong đầu óc con người và được cải biến đi trong đó” (Mác)
Mặt khác, ý thức là một hiện tượng xã hội, được hình thành và phát triển trong và cùng với xã hội, do nhu cầu giao tiếp của xã hội và điều kiện sinh hoạt hiện thực của con người quy định Vì vậy, ý thức về bản chất còn mang tính xã hội
III Ý nghĩa phương pháp luận
1 Phải luôn xuất phát từ hiện thực khách quan trong mọi hoạt động.
- Trong quá trình nhận thức, học tập, nghiên cứu, con người phải bắt đầu từ việc quan sát, xem xét, phân tích đối tượng vật chất Qua việc tác động vào chúng, ta sẽ bắt đối tượng vật chất phải bộc những thuộc tính, quy luật của nó Khi đó, ta sẽ thu nhận được tri thức
Bằng việc lặp đi lặp lại nhiều lần chu trình trên, con người sẽ có kiến thức ngày càng phong phú về thế giới
- Để sản xuất vật chất, cải tạo thế giới khách đáp ứng nhu cầu của mình, con người phải căn cứ vào hiện thực khách quan để đánh giá tình hình, từ đó xác định phương hướng, biện pháp, lộ trình kế hoạch
Muốn thành công, con người phải tuân theo những quy luật khách quan vốn có của sự vật, hiện tượng Phải luôn đặt mình, cơ quan, công ty trong những hoàn cảnh, điều kiện thực tế, nhất là về vật chất, kinh tế
- Cần luôn nỗ lực loại bỏ bệnh chủ quan, duy ý chí trong cuộc sống Đó là việc tránh
xa thói quen chỉ căn cứ vào nhu cầu, ước muốn, niềm tin của mình để hành động mà không nghiên cứu, đánh giá đầy đủ tình hình các đối tượng vật chất
2 Phát huy tính năng động, sáng tạo, sức mạnh to lớn của yếu tố con người
- Trong nhận thức và hoạt động thực tiễn, con người phải luôn chủ động, phát huy hết trí thông minh, khả năng suy nghĩ của mình Phải luôn tìm tòi, sáng tạo ra cái mới trên
cơ sở tích lũy, kế thừa những cái cũ phù hợp Có như vậy, con người mới ngày càng tài năng, xã hội ngày phát triển
Trang 7- Con người phải không ngừng rèn luyện, tu dưỡng, nâng cao thể lực, trí lực để nâng cao năng lực nhận thức và lao động của mình Phải kiên trì, nỗ lực vượt qua khó khăn, không bỏ cuộc giữa chừng
- Tuyệt đối không được thụ động, trông chờ, ỷ lại trong mọi tình huống Điều ngày cũng đồng nghĩa với việc tránh sa vào lười suy nghĩ, lười lao động
- Không được tuyệt đối hóa vai trò của các điều kiện vật chất trong nhận thức và hoạt động thực tiễn Vật chất có vai trò quyết định, chi phối nhưng không có nghĩa là những thiếu hụt đối tượng vật chất sẽ khiến con người thất bại trong việc tìm ra giải pháp khả thi
B Sự vận dụng của Đảng trong thực tiễn cách mạng
I Sự vận dụng của Đảng trong thực tiễn cách mạng Việt Nam trước đổi mới
1 Tình hình cách mạng trước đổi mới :
Nhân dân chịu muôn vàn những lầm than của xiềng xích nô lệ dưới sự xâm lược của thực dân Đất nước bị tàn phá, bóc lột một cách nặng nề Sự chiếm hữa của thực dân gây ra bao khổ đau nhân dân, những mất mát đau thương chảy theo từng dòng máu của những chiến sĩ đã ngã xuống nơi chiến trường bom đạn
Từ năm 1975 - 1986, Việt Nam phải đối phó với vô vàn khó khăn Những hậu quả và
tệ nạn xã hội do chiến tranh để lại, dòng người tị nạn, chiến tranh ở biên giới Tây Nam chống diệt chủng Khme đỏ, chiến tranh ở biên giới phía Bắc, bao vây, cấm vận của Mỹ
và các nước phương Tây, thêm vào đó thiên tai liên tiếp xảy ra đã đặt Việt Nam trước những thử thách khắc nghiệt Hơn nữa, những khó khăn càng trầm trọng do xuất phát từ các nguyên nhân chủ quan, nóng vội và duy ý chí muốn xây dựng lại đất nước nhanh chóng mà không tính đến những điều kiện cụ thể Vào đầu những năm 1980, khủng hoảng kinh tế - xã hội ở Việt Nam trở nên gay gắt, tỉ lệ lạm phát lên đến 774,7% vào năm 1986
Sau chiến thắng lịch sử mùa xuân năm 1975, đất nước ta bắt đầu bước vào quá trình khôi phục và phát triển đất nước Tuy nhiên chúng ta vấp phải rất nhiều khó khăn Nền kinh tế tăng trưởng chậm, lạm phát nghiêm trọng Nhiều chỉ tiêu chủ yếu của kế hoạch 5 năm lần thứ 2,3 không thực hiện được Cơ sở vật chất yếu kém, thiếu đồng
bộ, trình độ kĩ thuật lạc hậu Đại bộ phận vẫn lao động thủ công ,nền kinh tế chủ yếu
là sản xuất nhỏ, phân công lao động sản xuất xã hội kém phát triển ,năng suất lao động rất thấp Sản xuất phát triển chậm chạp , không đủ cho tiêu dùng, làm không đủ ăn phải dựa vào bên ngoài rất lớn Phân phối lưu thông rối ren Thị trường, tài chính tiền
tệ không ổn định Ngân sách nhà nước bội chi liên tục Gía cả leo thang từng ngày
Trang 8Đời sống nhân dân ngày càng khó khăn , nhất là công nhân viên, lực lượng vũ trang và một bộ phận nông dân Tiêu cực và bất công xã hội tăng lên Trật tự xã hôi bị giảm sút Lòng tin của nhân dân vào Đảng bị lung lay,nguy cơ mất chính quyền là rất lớn
2 Sư vận dụng của Đảng trước tình hình đất nước trước đổi mới
Tư tưởng của Hồ Chí Minh là hệ thống những quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, không chỉ giải quyết vấn đề thuộc về
tư duy lý luận mà cao hơn, đó là tư duy hành động, nhằm giải quyết những vấn đề thực tiễn cách mạng Việt Nam đòi hỏi Tư tưởng của Người được hình thành, phát triển trên
cơ sở kế thừa, chọn lọc những tư tưởng, giá trị truyền thống của dân tộc Việt Nam, phù hợp với thực tiễn hoàn cảnh lịch sử của Việt Nam; tiếp thu, tiếp biến và vận dụng sáng tạo tinh hoa văn hóa nhân loại: văn hóa phương Đông, phương Tây mà đỉnh cao là chủ nghĩa Mác - Lênin Cơ sở thế giới quan, phương pháp luận của tư tưởng Hồ Chí Minh
là chủ nghĩa Mác - Lênin mà hạt nhân lý luận là chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử Vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo nhân dân Việt Nam giành độc lập dân tộc; đã nỗ lực xây dựng chế độ dân chủ cộng hòa, xây dựng nhà nước của dân, do dân, vì dân, với một Đảng phụng sự và liêm chính, Chính phủ liêm kiết và sáng tạo, đội ngũ cán bộ, đảng viên có đạo đức cách mạng, thực hiện cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư… Cuộc đời, sự nghiệp và tư tưởng của Người đã “để lại một dấu ấn trong quá trình phát triển của nhân loại ; là biểu tượng kiệt xuất về quyết tâm của cả một dân tộc, đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam, góp phần vào cuộc đấu tranh chung của các dân tộc vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội” Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, miền Bắc được giải phóng và đi lên CNXH, miền Nam tiếp tục cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân Đường lối cách mạng XHCN đã bước đầu hình thành
- Đại hội III của Đảng (năm 1960) đánh dấu một mốc lịch sử quan trọng: vạch ra con đường tiến lên CNXH ở miền Bắc và con đường giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà
Đại hội đã xác định đường lối chung của Đảng trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở miền Bắc: Đoàn kết toàn dân, phát huy tinh thần yêu nước, truyền thống phấn đấu anh dũng
và lao động cần cù của nhân dân ta, đồng thời tăng cường đoàn kết với các nước XHCN anh em do Liên Xô đứng đầu, để đưa miền Bắc tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên CNXH, xây dựng đời sống ấm no, hạnh phúc ở miền Bắc và củng cố miền Bắc thành cơ sở vững mạnh cho cuộc đấu tranh thực hiện hòa bình thống nhất nước nhà, góp phần tăng cường sức mạnh khối XHCN, bảo vệ hòa bình ở Đông Nam
Á và thế giới…
-Đến Đại hội IV của Đảng (năm 1976), với khí thế của người chiến thắng, Đảng ta đã
đề ra đường lối đẩy nhanh quá trình đi lên CNXH trên phạm vi cả nước
Trang 9-Đại hội IV cũng xác định đường lối chung cách mạng XHCN ở nước ta là: nắm vững chuyên chính vô sản, phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động, tiến hành đồng thời 3 cuộc cách mạng: cách mạng về quan hệ sản xuất, cách mạng khoa học - kỹ thuật, cách mạng tư tưởng và văn hóa, trong đó cách mạng khoa học - kỹ thuật là then chốt; đẩy mạnh công nghiệp hóa XHCN là nhiệm vụ trung tâm của thời kỳ quá độ lên CNXH; xây dựng chế độ làm chủ tập thể XHCN, xây dựng nền sản xuất lớn XHCN, xây dựng nền văn hóa mới, con người mới XHCN; xóa bỏ chế độ người bóc lột người, xóa bỏ nghèo nàn lạc hậu…; xây dựng thành công Tổ quốc Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất và XHCN; góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới
vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và CNXH
Như vậy, nhìn một cách tổng quát, thời kỳ trước đổi mới, nhận thức của Đảng ta về mục tiêu, bản chất của CNXH và sự nghiệp xây dựng CNXH ở nước ta là đúng đắn - giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người Điều này phù hợp với chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh
Quan điểm, chủ trương của Đảng về xây dựng văn hóa qua các giai đoạn:
a) Giai đoạn 1943 - 1954:
- “Đề cương văn hóa Việt Nam” xác định lĩnh vực văn hóa là một trong 3 mặt trận (kinh tế, chính trị, văn hóa) của cách mạng Việt Nam và đề ra 3 nguyên tắc của nền văn hóa mới: dân tộc hóa, đại chúng hóa, khoa học hóa Nền văn hóa mới Việt Nam có tính chất dân tộc về hình thức, dân chủ về nội dung Từ quan điểm và chủ trương trên, đến trước 09/1945, Đảng ta xác định nhiệm vụ đầu tiên xây dựng văn hóa của nước Việt Nam độc lập là chống nạn mù chữ và giáo dục lại tinh thần nhân dân
- Trong báo cáo “Chủ nghĩa Mác và văn hóa Việt Nam” (7/1948) đường lối văn hóa kháng chiến gồm những nội dung cụ thể sau:
+ Xác định mối quan hệ giữa văn hóa và cách mạng giải phóng dân tộc, cổ động văn hóa cứu quốc
+ Xây dựng nền văn hóa dân chủ mới Việt Nam có tính chất dân tộc, khoa học, đại chúng mà khẩu hiệu thiết thực lúc này là dân tộc, dân chủ (nghĩa là yêu nước và tiến bộ)
+ Tích cực bài trừ nạn mù chữ, mở trường đại học và trung học, cải cách việc học theo tinh thần mới, bài trừ cách dạy học nhồi sọ
+ Giáo dục lại nhân dân, cổ động thực hành đời sống mới
+ Phát triển cái hay trong văn hóa dân tộc
+ Bài trừ cái xấu xa hủ bại, ngăn ngừa sức thâm nhập của văn hóa thực dân, phản động; đồng thời, học cái hay, cái tốt của văn hóa thế giới
+ Hình thành đội ngũ trí thức mới đóng góp tích cực cho công cuộc kháng chiến, kiến quốc và cho cách mạng Việt Nam
b) Giai đoạn 1955 - 1986:
- Đại hội Đảng lần III (9/1960) chủ trương tiến hành cuộc cách mạng tư tưởng và văn hóa đồng thời với cuộc cách mạng về quan hệ sản xuất và cách mạng khoa học - kỹ thuật, xây dựng và phát triển nền văn hóa mới, con người mới Mục tiêu là làm cho nhân dân thoát nạn mù chữ và thói hư tật xấu do xã hội cũ để lại, có trình độ văn hóa
Trang 10ngày càng cao, có hiểu biết cần thiết về khoa học, kỹ thuật tiên tiến để xây dựng chủ nghĩa xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa
- Đại hội Đảng lần IV (12/1976) và lần V (3/1982) tiếp tục đường lối phát triển văn hóa của Đại hội III, xác định nền văn hóa mới là nền văn hóa có nội dung xã hội chủ nghĩa và tính chất dân tộc, có tính đảng và tính nhân dân Nhiệm vụ văn hóa quan trọng trong giai đoạn này là tiến hành cải cách giáo dục trong cả nước, phát triển mạnh khoa học, văn hóa nghệ thuật, giáo dục tinh thần làm chủ tập thể, chống tư tưởng tư sản và tàn dư tư tưởng phong kiến, phê phán tư tưởng tiểu tư sản, xóa bỏ ảnh hưởng của tư tưởng, văn hóa thực dân mới ở miền Nam
3 Những thành tựa đạt được
Trước những mâu thuẫn xã hội ngày càng gay gắt trong thời kỳ trước đổi mới đòi hỏi Đảng phải có những giải pháp nhanh chóng kịp thời gỡ bỏ những rối ren trong đời sống nhân dân Trong thời kỳ này việc bảo vệ chính quyền là một nhiệm vụ quan trọng nhất Nếu mất đi sự ủng hộ của nhân dân là một ngòi lửa thiêu trụi đất nước dưới tay thực dân xâm lược Vì vậy việc củng cố tư tưởng nhân dân là một trong những quốc sách khôn ngoan, một bước đi lâu dài để bảo vệ nền độc lập tự do của nước nhà Từ đó chung ta xây dựng lên một quần chúng nhân dân đồng lòng với tinh thần yêu nước không ngừng được củng cố và minh chứng rõ ràng nhất là những trận chiến vang rội rung chuyển đất trời của quân dân ta.Con người được sống trong một nền văn hóa tiến
bộ, xóa đói giảm nghèo,giáo dục tinh thần chủ động tập thể, nâng cao đời sống văn hóa tinh thần, bài trừ được những hủ tục phong kiến xây dựng đời sống ấm no dựng lại nền hòa bình độc lập cho nước nhà
II S ự vận dụng của Đảng trong thực tiễn cách mạng Việt Nam sau đổi mới
1 Thực tiễn của đất nước
Sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Xã hội Chủ nghĩa Đông
Âu cuối thể kỷ 20 là sự sụp đổ của một loại mô hình chủ nghĩa xã hội không phù hợp quy luật Ở Việt Nam, sau khi thống nhất đất nước, trước những yêu cầu đặt ra của tình hình kinh tế - xã hội của đất nước, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra đường lối lãnh đạo công cuộc đổi mới một cách toàn diện, mà trước hết là đổi mới kinh tế với nội dung trọng tâm là chuyển đổi mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; đồng thời thực hiện chính sách mở cửa, hội nhập quốc tế Cơ sở của đường lối đổi mới đó là một quá trình đúc kết từ thực tiễn đời sống kinh tế - xã hội của đất nước lúc bấy giờ và những bài học đắt giá từ mô hình xã hội chủ nghĩa cũng như công cuộc cải cách, cải tổ ở các nước xã hội chủ nghĩa
2 Sự vận dụng của Đảng ta trong quá trình đổi mới đất nước
Nhận thức được những sai lầm và khuyết điểm xuất phát từ việc chưa quán triệt đầy đủ nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn thời kì trước đổi mới, từ ĐH Đảng lần
VI (1986), Đảng đã khởi xướng công cuộc đổi mới toàn diện tất cả các lĩnh vực của