Mặc khác, vai trò của tu sĩ Phật giáo Nam tong viết tắt: PGNT hiện nay trong điều kiện phát triển của đồng sống xã hội đối với người Khmer vẫn còn nhiều vấn đề cần phải bàn luận liên qua
Trang 1HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
Mã số: 9229009 (Cũ: 62220309)
HÀ NỘI - 2020
Trang 2Công trình được hoàn thành tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Người hướng dẫn khoa học: 1 TS Nguyễn Quốc Tuấn
2 PGS, TS Đỗ Lan Hiền
Phản biện 1:………
Phản biện 2:………
Phản biện 3:………
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Học viện
họp tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh Vào hồi ……giờ……phút, ngày ………tháng….… năm 2020
Có thể tìm hiểu luận án tại:
- Thư viện Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
- Thư viện Quốc gia Việt Nam
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Tây Nam Bộ (viết tắt: TNB) gồm: 13 tỉnh, thành với diện tích tự nhiên gần 40.000 km2, có đường biên giới giáp Campuchia trên 340 km,
có dân số khoảng 17,7 triệu người; trong đó, có khoảng 1,3 triệu người Khmer sinh sống tập trung ở thành phố Cần Thơ và các tỉnh Trà Vinh, Sóc Trăng, An Giang, Kiên Giang, Bạc Liêu, Cà Mau, Hậu Giang, Vĩnh Long Đây là vùng có tiềm năng và lợi thế để phát triển kinh tế và là vùng có vị trí chiến lược quan trọng về chính trị, đối ngoại và an ninh quốc phòng Đối với Phật giáo Nam tông Khmer (viết tắt: PGNTK) thì trong việc thực hành tôn giáo, tu sĩ là người “thay mặt tam bảo” chăm lo phần hồn cho các tín đồ; trong hoạt động Phật sự, xã hội là người điều hành nền hành chính đạo; trong hoạt động truyền đạo thì họ là trụ cột để phát triển tín đồ Hơn nữa, họ là người đại diện cho từng chùa, từng phum, sóc nên thường xuyên có mối quan hệ với cấp uỷ Đảng, chính quyền, Mặt trận và các đoàn thể chính trị - xã hội ở địa phương Với vai trò quan trọng như vậy, tu sĩ PGNTK luôn có vai trò ảnh hưởng trực tiếp đối với đời sống xã hội trong cộng đồng người Khmer
Đặc biệt là trong công tác vận động quần chúng nói chung và công tác vận động tu sĩ PGNTK nói riêng được các cấp ủy Đảng quan tâm, chỉ đạo
và tạo điều kiện cho các vị phối hợp với các ngành chức năng ở địa phương tham gia vận động quần chúng là Phật tử tích cực lao động sản xuất, thực hiện tốt nghĩa vụ công dân, đồng hành cùng dân tộc; có ý thức phòng ngừa và đấu tranh với những hoạt động lợi dụng dân tộc, tôn giáo gây mất ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội ở địa phương
Tuy nhiên xã hội ngày càng biến động và yêu cầu cần xây dựng một
xã hội tốt đẹp, trong đó sự đóng góp của cộng đồng Khmer ở TNB là hết sức quan trọng Trong xã hội biến động thì xã hội người Khmer cũng biến động hết sức gay gắt và khắc nghiệt Đã một bộ phận người Khmer bỏ tôn giáo của mình, bỏ tôn giáo truyền thống, bỏ phong tục tập quán để đi theo tôn giáo khác Ngoài ra còn bỏ phum, sóc để đi nơi khác hoặc đi nước ngoài định cư dẫn đến bản sắc Khmer không còn thuần túy
Bên cạnh đó một số ít tu sĩ PGNTK chưa nhận thức đầy đủ về hiến pháp và pháp luật Việt Nam, có thái độ thiếu hợp tác với chính quyền đi
Trang 4ngược lại với những gì tốt đẹp của tôn giáo và lợi ích dân tộc Nhận thức
về vai trò của tu sĩ PGNTK của một bộ phận cán bộ trong hệ thống chính trị chưa đầy đủ và thống nhất; còn xem nhẹ công tác vận động họ trong quá trình tổ chức thực hiện nhiệm vụ chính trị ở địa phương
Mặc khác, vai trò của tu sĩ Phật giáo Nam tong (viết tắt: PGNT) hiện nay trong điều kiện phát triển của đồng sống xã hội đối với người Khmer vẫn còn nhiều vấn đề cần phải bàn luận liên quan đến vấn đề thực hiện tốt Nghị định số 82/2010/NĐ-CP ngày 15/7/2010 của Chính phủ, về việc tổ chức thực hiện giảng dạy ngôn ngữ Khmer, Pali, giáo lý tại các điểm chùa của một số tỉnh, thành chưa được quan tâm đúng mức; việc giữ gìn và bảo tồn các giá trị văn hóa dân tộc chưa được phát huy một mạnh mẽ Với
những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài “Vai trò của tu sĩ Phật giáo Nam
tông trong đời sống xã hội của người Khmer ở Tây Nam Bộ hiện nay” để
làm luận án tiến sĩ Chuyên ngành Tôn giáo học
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Luận án nghiên cứu về vai trò của tu sĩ PGNT trong đời sống xã hội
của người Khmer ở TNB hiện nay Qua đó, chỉ ra những mặt tích cực và hạn chế; đồng thời, đưa ra những giải pháp nhằm tiếp tục phát huy vai trò của tu sĩ PGNT đối với đời sống xã hội của người Khmer vùng TNB trong thời gian tới
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục tiêu tổng quát luận án có nhiệm vụ nghiên cứu các nội dung cụ thể như sau:
- Đặc điểm tình hình vùng TNB và PGNTK
- Vai trò của tu sĩ PGNT trong đời sống xã hội của người Khmer ở TNB
- Thực trạng và vấn đề đặt ra đối với tu sĩ PGNT trong đời sống xã hội của người Khmer ở TNB
- Đề ra các giải pháp để tiếp tục phát huy vai trò và nâng cao hiệu quả hoạt động của tu sĩ PGNT trong đời sống xã hội người Khmer ở TNB
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là: “Vai trò của tu sĩ Phật giáo Nam tông trong đời sống xã hội của người Khmer ở Tây Nam Bộ hiện nay”
Trang 53.2 Phạm vi nghiên cứu
- Thời gian: từ năm 1991 đến nay (từ khi có Chỉ thị 68/CT-TW ngày
18/4/1991 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng - khóa VI)
và Nhà nước đối với dân tộc, tôn giáo Ngoài ra, luận án còn sử dụng một
số lý thuyết khác để vận dụng phân tích các vấn đề tương ứng trong luận
án như: Lý thuyết cấu trúc - chức năng của tôn giáo; lý thuyết vùng văn hóa; lý thuyết thực thể tôn giáo…
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Thực hiện luận án này, chúng tôi vận dụng các phương pháp luận nghiên cứu tôn giáo học mác xít, lý thuyết cấu trúc, chức năng của tôn giáo, lý thuyết thực thể tôn giáo, lý thuyết vùng văn hóa, lý thuyết hành
động xã hội Đồng thời, luận án còn sử dụng các phương pháp cụ thể như
phương pháp lịch sử - logic, phương pháp phân tích và tổng hợp, thống kê,
so sánh, quan sát, điền dã, phỏng vấn, khảo sát, tham gia phương pháp nghiên cứu chuyên ngành và liên ngành như: phương pháp tôn giáo học, sử học, xã hội học tôn giáo
4.3 Cách tiếp cận
Cách tiếp cận dân tộc học và tôn giáo học: Dùng lý thuyết thực thể tôn giáo (niềm tin, thực hành, cộng đồng) để xem xét mối tương tác giữa tu sĩ PGNT trong cộng đồng người Khmer
Cách tiếp cận sử học: Được áp dụng nghiên cứu về lịch sử quá trình hình thành cộng đồng người Khmer và PGNTK ở TNB
Cách tiếp cận triết học: Được áp dụng nghiên cứu về vai trò của tôn giáo như một thành tố của thuộc kiến trúc thượng tầng tác động đến các thành tố khác của kiến trúc thượng tầng và hạ tầng cơ sở như: Kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội
5 Đóng góp mới của luận án
Luận án nghiên cứu một cách hệ thống “Vai trò của tu sĩ PGNT trong đời sống xã hội người Khmer ở Tây Nam Bộ hiện nay” Qua đó, đề xuất
những giải pháp nhằm phát huy những giá trị tích cực về vai trò của tu sĩ
Trang 6PGNT trong đời sống xã hội người Khmer ở TNB hiện nay; đồng thời, khuyến nghị Đảng và Nhà nước về việc thực hiện chính sách tôn giáo, dân tộc nói chung; chính sách đối với PGNTK và dân tộc Khmer nói riêng
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
6.1 Ý nghĩa lý luận
Luận án góp phần bổ sung cho lý thuyết tôn giáo học đương đại về vai trò của tu sĩ nói chung, PGNTK nói riêng Luận án góp phần bổ sung, hoàn thiện thể chế, chính sách về dân tộc, tôn giáo nói chung, dân tộc Khmer và PGNTK nói riêng trong bối cảnh hội nhập quốc tế như hiện nay
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của luận án có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho các công trình nghiên cứu khoa học, giảng dạy và học tập chuyên ngành tôn giáo học và các lĩnh vực khác có liên quan Kết quả luận án cung cấp những luận cứ khoa học để bổ sung và hoàn thiện chính sách đặc thù đối với PGNTK nói chung, tu sĩ PGNTK nói riêng
Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CÁC VẤN ĐỀ
LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1 NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 1.1.1 Nhóm công trình liên quan đến vấn đề dân tộc Khmer
Trước năm 1975, vấn đề dân tộc Khmer Nam Bộ - Việt Nam được nhiều học giả người nước ngoài nghiên cứu, tuy nhiên các công trình của
họ chủ yếu đề cập đến từng khía cạnh riêng biệt về lịch sử, mỹ thuật, kiến trúc chùa, nghi lễ tôn giáo, sinh hoạt dân gian, thơ ca dân gian Thời điểm
này, đáng chú ý là công trình“Người Việt gốc Miên” của Lê Hương xuất bản (1969) tại Sài Gòn và bản ghi chép “Chân lạp phong thổ ký” của Châu
Đạt Quan do Lê Hương dịch (1973), có thể xem là những công trình đầu tiên trình bày tổng quan khá đầy đủ về người Khmer Nam Bộ - Việt Nam,
cụ thể là về nguồn gốc, dân số, sinh hoạt, xã hội, phong tục, tập quán, tín ngưỡng, tôn giáo, văn hóa, giáo dục, kinh tế, địa danh, lịch sử,… Bên cạnh đó, tác giả cũng có đề cập đến vấn đề Phật giáo trong cộng đồng người Khmer Tuy nhiên tác giả chỉ nghiên cứu trong phạm vi ở tỉnh Vĩnh
Trang 7Bình (tỉnh Trà Vinh hiện nay) qua các mối quan hệ xã hội, phong tục tập quán, tín ngưỡng; đây là tư liệu quí để chúng tôi làm cơ sở nghiên cứu luận án
Sau năm 1975, các công trình nghiên cứu liên quan đến người Khmer Nam Bộ liên tục được chú trọng và đạt nhiều kết quả đáng quan tâm; Năm
2002, tác giả Nguyễn Mạnh Cường viết về Vài nét về người Khmer Nam bộ,
Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Công trình giới thiệu về người Khmer Nam
bộ như một cộng đồng dân tộc trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam với nhiều cách tiếp cận: nhân học, dân tộc học, khảo cổ học, lịch sử, văn hóa và tôn giáo của người Khmer trong bối cảnh của Nam bộ Đặc biệt, năm 2009,
tác giả Phan An có sách “Dân tộc Khmer Nam Bộ”, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, công trình dày 188 trang của giúp chúng tôi hiểu thêm về lịch
sử, thực trạng đời sống kinh tế xã hội, bản sắc văn hóa dân tộc của cộng đồng cư dân Khmer tại đồng bằng sông Cửu Long
Nhìn chung, qua nội dung công trình các tác giả đánh giá được sự thay đổi và sự lớn mạnh không ngừng của vùng đồng bằng sông Cửu Long trong quá trình đổi mới và hội nhập của Việt Nam trên trường quốc tế Người dân vùng đồng bằng sông Cửu Long đang hàng ngày, hàng giờ giàu mạnh hơn trước đây Các dân tộc anh em cùng chung lưng đấu cật, đoàn kết với nhau trong niềm tin vào đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước trên các mặt kinh tế, văn hóa- xã hội, chính trị, ngoại giao và an ninh quốc phòng nhằm chống lại các thế lực thù địch trên mọi mặt trận, nhất là mặt trận tư tưởng, tôn giáo, tín ngưỡng
1.1.2 Nhóm công trình liên quan đến vấn đề Phật giáo Nam tông Khmer
Năm 2008, tác giả Nguyễn Mạnh Cường đã xuất bản công trình:
Phật giáo Khmer Nam bộ (Những vấn đề nhìn lại), Nxb Tôn giáo, Hà
Nội Công trình bằng tiếng việt, dày 310 trang, đây là chuyên đề nghiên cứu sâu về đồng bào dân tộc Khmer, mô tả đời sống tinh thần của người Khmer Nam Bộ gắn liền với PGNT, những định hướng và những đề xuất các chủ trương, chính sách phù hợp với tâm tư, nguyện vọng với người Khmer Trong công trình này, tác giả đã nêu lịch sử hình thành và phát triển vùng đồng bằng sông Cửu Long, quá trình hình thành người Khmer ở Nam bộ, sự hình thành người Khmer khu vực Đông Nam Á, người Khmer ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, mối quan hệ giữa người Môn với người Khmer
Trang 8Kỷ yếu hội thảo khoa học với đề tài nhánh: “Chính sách đối với tổ chức, hội đoàn, chức sắc, nhà tu hành, cơ sở thờ tự của Phật giáo Nam tông Khmer vùng Tây Nam Bộ” (10/2014), do PGS.TS Hoàng Minh Đô
(chủ nhiệm), Kỷ yếu dày 389 trang và bằng tiếng Việt tập hợp được 17 bài viết của các nhà nghiên cứu, nhà quản lý về công tác dân tộc, tôn giáo đầu ngành Đây là tài liệu có các bải viết nghiên cứu sâu về vùng đất, cư dân,
về các thể chế chính trị trong lịch sử; về tình hình tôn giáo trong cộng đồng người Khmer Ngoài ra, các tác giả cũng đặt ra những vấn đề cấp bách cần giải quyết và đưa ra những giải pháp góp phần để bổ sung, hoàn thiện các chính sách đối với tổ chức, hội đoàn, chức sắc, nhà tu hành, cơ sở thờ tự của Phật giáo Nam tông Khmer và đồng bào Khmer vùng Tây Nam
Bộ đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030
Nhìn chung, dưới những góc độ khác nhau, các công trình nghiên cứu của các tác giả đã khái quát được bức tranh khá toàn diện về đặc điểm tự nhiên, lịch sử hình thành vùng đất; nơi cư trú, sinh hoạt của các dân tộc ở vùng đồng bằng sông Cửu Long; các tác giả đã cập đến nhiều khía cạnh liên quan đến đồng bào Khmer và vai trò ảnh hưởng của Phật giáo Nam tông Khmer đối với đời sống xã hội của người Khmer ở Nam Bộ Đây là những công trình góp phần tác động và có tầm ảnh hưởng rộng đối với công chúng; là những công trình rất bổ ích, giúp chúng tôi được tiếp cận tìm hiểu, nghiên cứu, tổng hợp và chắc lọc các kết quả đã nghiên cứu để kế thừa hoàn thiện đề tài luận án
1.1.3 Những vấn đề đặt ra cần nghiên cứu
Đề tài luận án “Vai trò của tu sĩ Phật giáo Nam tông trong đời sống
xã hội của người Khmer ở Tây Nam Bộ hiện nay” là bước nghiên cứu
phát triển tiếp theo của đề tài luận văn thạc sĩ “Vai trò của sư sãi Phật
giáo Nam tông trong đời sống xã hội của người Khmer ở thành phố Cần Thơ hiện nay” tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh Tuy nhiên, ở
cấp độ cao học, luận văn chủ yếu dừng lại ở việc khảo tả vấn đề trong phạm vi hẹp của một địa phương mà chưa đi sâu luận giải vấn đề mang tính lý luận Mặt khác, vai trò của tu sĩ Phật giáo Nam tông trong đời sống
xã hội của người Khmer ở TNB hiện nay chưa được nghiên cứu một cách
hệ thống và mang tính chuyên đề nên có rất nhiều vấn đề còn bỏ ngõ cần
phải tiếp tục nghiên cứu làm rõ
Trang 91.1.4 Giả thuyết nghiên cứu
Một là, tu sĩ PGNTK thực sự có vai trò gì đối với cộng đồng người
Khmer ?
Hai là, phải chăng hiện nay hoạt động của tu sĩ PGNTK đang có
những những vấn đề bất cập cần giải quyết?
Ba là, cần phải có chính sách đặc thù gì đối với tu sĩ PGNTK để các vị
có điều kiện phát huy vai trò của mình đối với cộng đồng người Khmer?
1.2 MỘT SỐ LÝ THUYẾT NGHIÊN CỨU
1.2.1 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu liên ngành
- Phương pháp hệ thống - cấu trúc
- Phương pháp phân tích tài liệu
1.2.2 Cơ sở lý thuyết
Chúng tôi vận dụng phương pháp luận, quan điểm của Mác - Lênin và
tư tưởng Hồ Chí Minh về dân tộc, tôn giáo để phân tích và lý giải những vấn đề đặt ra trong đề tài luận án nhằm làm rõ hơn vai trò của PGNTK nói chung, tu sĩ PGNTK nói riêng trong đời sống xã hội ở vùng TNB
- Sử học tôn giáo: Sử học tôn giáo có mối quan hệ mật thiết với sử
học, khảo cổ học; nó nghiên cứu tôn giáo thông qua mô tả lịch sử, khảo sát ngôn ngữ, thực tiễn khảo cổ
- Xã hội học tôn giáo: Xã hội học tôn giáo cho rằng tôn giáo chính là nhân tố kết cấu của xã hội loài người có nội dung hết sức hiện thực
1.2.3 Khung lý thuyết nghiên cứu
1.2.3.1 Lý thuyết thực thể tôn giáo
Nghiên cứu bài viết “Tiếp cận hệ thống về thực thể tôn giáo: Một cách nhìn khác về tôn giáo”, Nghiên cứu tôn giáo, số 3 (129) phát hành
năm 2014 của tác giả Nguyễn Quốc Tuấn, chúng tôi nhận thấy: Khái niệm thực thể tôn giáo đã được giới nghiên cứu ở Phương Tây đề cập đến từ khá lâu, nhưng nó mới được sử dụng trong những thập niên gần đây
Mô hình lý thuyết “tứ tố”: Đặng Nghiêm Vạn là người đầu tiên coi
tôn giáo là một “thực thể” khách quan của xã hội trong cuốn Bước đầu tìm hiểu đạo Cao Đài, xuất bản năm 1995
Mô hình thuyết “ngũ tính”: Trước đây, tôn giáo được nhìn nhận tôn
giáo không chỉ là một hình thái ý thức xã hội nhưng nghiên cứu tôn giáo ở Việt Nam đã có quan điểm đổi mới với việc nhìn nhận tôn giáo là một thực
Trang 10thể xã hội đã đạt được những thành tựu quan trọng, nhận thức xã hội, về vấn đề tôn giáo đã được nâng cao
Tuy nhiên, theo quan điểm của các nhà lý luận của thuyết thế tục hóa đương đại, thế tục là sự chuyển giao quyền lực từ tổ chức tôn giáo cho tổ chức thế tục, bao gồm hai khía cạnh: chủ quan và khách quan Khía cạnh chủ quan liên quan đến tư tưởng tôn giáo, cảm giác và hình ảnh thu được
từ sự hiểu biết về sự vật trên thế giới khiến cho tôn giáo không còn tồn tại như một lực lượng độc lập, hoặc chỉ giới hạn ở sự thờ phụng cái siêu việt trừu tượng Điều đó dẫn đến tình trạng con người thực hiện các nghĩa vụ, giải quyết và tổ chức cuộc sống hàng ngày không cần đến thần thánh
1.3 MỘT SỐ THUẬT NGỮ ĐƯỢC SỬ DỤNG TRONG LUẬN ÁN
- Thuật ngữ “Vùng”: Vùng là thuật ngữ địa lý được sử dụng theo
nhiều cách khác nhau tùy theo từng ngành khác nhau Tuy nhiên, trong phạm vi nghiên cứu của đề tài luận án, khái niệm Vùng hoặc Vùng Tây Nam Bộ) được hiểu: là diện tích trung bình của một vùng đất hoặc theo cách hiểu thông thường, một vùng là một bộ phận giới hạn của không gian trái đất
- Khái niệm“tu sĩ”: Nghiên cứu Luật Tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam chúng tôi không thấy đề cập đến thuật ngữ “tu sĩ” mà chỉ đề cập đến
“nhà tu hành” Do đó, khi nghiên cứu tài liệu Bách khoa toàn thư mở có định nghĩa: “Tu sĩ hay nhà tu hành, thầy tu là người tu dưỡng tôn giáo khổ hạnh, sống một mình hoặc với một nhóm các thầy tu khác trong tu viện Thầy tu có thể là người cống hiến cuộc đời mình để phụng sự chúng sinh hoặc là một người tu hành khổ hạnh tránh xa trần thế để sống cuộc sống cầu nguyện và chiêm nghiệm cuộc đời”
- Phật giáo Nam tông Khmer: Năm 1950, tại Đại hội Liên hữu Phật
giáo Thế giới (WFB) ở Srilanka đã có qui định cách gọi Phật giáo Tiểu
thừa (Theravada) Phật giáo Nguyên thủy - Thượng tọa bộ thành Phật
giáo Nam tông hoặc Phật giáo Nam truyền, từ đó khái niệm Phật giáo
Trang 11Bắc tông (Mahayana) Phật giáo Bắc truyền và PGNT ra đời và sử dụng
đến hiện nay Hiện nay thuật ngữ “Phật giáo Nam tông Khmer” được
dùng trong hệ thống GHPGVN để phân biệt PGNT của người Kinh và
PGNT trong cộng đồng người Khmer ở Nam Bộ
Chương 2 KHÁI QUÁT VỀ VÙNG TÂY NAM BỘ VÀ PHẬT GIÁO NAM TÔNG KHMER
2.1 KHÁI QUÁT VỀ ĐIỀU KIỆN ĐỊA LÝ, KINH TẾ, CHÍNH TRỊ, XÃ
HỘI VÙNG TÂY NAM BỘ
2.1.1 Đặc điểm vị trí, địa lý
TNB có 13 tỉnh, thành phố gồm: Long An, Tiền Giang, Bến Tre,
Đồng Tháp, Trà Vinh, Vĩnh Long, Cần Thơ, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà
Mau, Hậu Giang, An Giang và Kiên Giang Diện tích tự nhiên gần 4 triệu
ha, bờ biển dài 743 km, vùng lãnh hải rộng 36.000 km2, có 143 hòn đảo
(trong đó có 44 đảo có dân cư sinh sống) Môi trường tự nhiên ở TNB
phong phú và đa dạng, có đồng bằng, có núi, có rừng, có biển, có đảo, có
nhiều sông lớn với hệ thống kênh rạch trằn trịt tạo nên nguồn lực dồi dào
về lương thực và thực phẩm
Nhìn chung, vùng TNB có tài nguyên thiên nhiên trù phú, màu mỡ, là
điều kiện rất thuận lợi cho phát triển kinh tế nông, lâm, ngư nghiệp và lợi
thế này đã được khai thác, tận dụng tối đa trong nhiều năm qua Tuy nhiên,
trình độ sản xuất và năng lực lao động của vùng nói chung, vùng đồng bào
dân tộc Khmer nói riêng còn kém so với mặt bằng chung cả nước
2.1.2 Đặc điểm về tộc người
Trong cộng đồng các dân tộc ở Việt Nam, mỗi một nghề, mỗi một đặc
điểm sinh hoạt của mỗi một tộc người đều có cái riêng của nó Cái khác
của đồng bào Khmer trong phát triển kinh tế là ý thức hệ dân tộc - hệ tư
tưởng tín ngưỡng tôn giáo Người Khmer TNB thích một cuộc sống thảnh
thơi, an nhàn, kinh tế chủ yếu là hoạt động nông nghiệp Họ không thích
hơn thua, cạnh tranh, đua chen để làm giàu lớn Họ thường chịu nhịn, chịu
thua thiệt để tránh chuyện bất hòa Công việc làm ăn của họ đều trông ở số
phận, họ tin rằng khi họ sống tốt thì cuộc sống mới trở nên tốt đẹp và giàu
Trang 12được Quan niệm sống của họ không thiên nhiều về vật chất mà thiên về tinh thần, họ thường quyên góp xây dựng chùa khang trang, nguy nga,
đồ sộ trong khi đó đại đa số nhà cửa của đồng bào bằng tre lá chỉ đủ che mưa, che nắng Như vậy có thể thấy rằng người Khmer TNB họ sống theo một định hướng là để ngày mai - kiếp sau về được cõi Niết Bàn, khi chết vào chùa
2.1.3 Đặc điểm kinh tế - xã hội
Trong giai đoạn 2011-2017, tình hình kinh tế - xã hội vùng TNB đạt được nhiều kết quả tích cực, tăng trưởng kinh tế duy trì ổn định ở mức khá, tăng trưởng GDP bình quân của vùng ước đạt 8,87%/năm Xuất khẩu tăng trưởng khá, kim ngạch xuất khẩu năm 2014 ước đạt trên 12,3 tỷ USD, bằng 8,2% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước, tốc độ tăng trưởng bình quân ước đạt 14,7%/năm Tỷ lệ hộ nghèo toàn vùng giảm tương đối nhanh (còn 3,54%) Tuy đã đạt được một số thành tựu nhất định nhưng thực trạng kinh tế - xã hội của vùng chưa tương xứng với tiềm năng của nó; vẫn còn nhiều hạn chế, yếu kém, phát triển chưa bền vững và đang đứng trước nguy cơ thách thức mới
2.1.4 Đặc điểm về quốc phòng - an ninh
Quốc phòng, an ninh vùng TNB được giữ vững, ta chủ động kiểm soát được tình hình Tuy vậy, tình hình an ninh, chính trị vẫn luôn tiềm ấn những nhân tố phức tạp, nhất là trong lĩnh vực an ninh tư tưởng, tôn giáo, dân tộc, khiếu kiện
2.2 KHÁI QUÁT VỀ TÔN GIÁO, TÍN NGƯỠNG VÙNG TÂY NAM BỘ 2.2.1 Khái quát về tôn giáo trong cộng đồng người Khmer ở TNB
TNB là vùng tôn giáo và văn hóa đa dạng, đan xen nhất Việt Nam Ở đây vừa có các tôn giáo được du nhập từ ngoài vào, đồng thời có nhiều tôn giáo nội sinh Bên cạnh những tôn giáo lớn có truyền thống lâu đời được
du nhập từ nước ngoài như Phật giáo Bắc tông, PGNT, Công giáo, Tin Lành, Hồi giáo, còn có cả những tôn giáo bản địa và các tôn giáo mới phát sinh như Bửu Sơn Kỳ Hương, Tứ Ân hiếu nghĩa, Cao Đài, Phật giáo Hòa Hảo… Chính sự đa dạng về văn hóa và tôn giáo như vậy khiến cho TNB trở thành nơi có những đặc trưng văn hóa và tôn giáo rất đa dạng và độc đáo Đây là nét đặc sắc song cũng là thách thức cho chính sách tôn giáo
của Đảng và Nhà nước ta đối với vùng đất này
Trang 13Phật giáo đã được truyền vào cộng đồng người Khmer trên 2000 năm,
kể từ ngày 2 vị Thánh tăng: Soṇatthera và Uttaratthera theo tàu buôn từ Ấn
Độ đặt chân vào vùng cảng cổ Óc Eo (Tứ giác Long Xuyên ngày nay) truyền giáo đầu tiên trước công nguyên vào Phật lịch 234 Đến nay vùng Khmer Nam bộ có trên 450 chùa Phật giáo tu hành theo hệ phái Nam tông (Nam truyền: Dakkhiṇànikaya) Suốt chiều dài lịch sử ngót 2000 năm, Phật giáo luôn đồng hành cùng dân tộc, cùng sự thăng trầm của đất nước
Phật giáo Nam tông Khmer giữ vai trò rất lớn trong việc giáo dục hình thành nhân cách, đạo đức, dân trí của cộng đồng dân tộc Khmer Thông qua triết lý mang tính nhân đạo và quan niệm nhân quả của đạo Phật đã tác động sâu sắc đến từng thành viên trong gia đình, trong cộng đồng dân tộc Khmer; làm cho mọi người muốn hướng thiện, làm việc lành, tránh điều
ác Con người biết khiêm tốn, nhường nhịn, tương trợ giúp đỡ nhau, làm cho cái tâm họ không bị vẫn đục bởi tiền tài vật chất cám giỗ Việc tu học theo PGNTK, việc hình thành các trường chùa, đã góp phần nâng cao dân trí, đáp ứng các ngành nghề để có thể phục vụ cuộc sống đời thường
2.2.2 Khái quát về hệ thống tín ngưỡng trong cộng đồng người Khmer ở Tây Nam Bộ
Tín ngưỡng bao gồm hầu hết các hoạt động, nghi thức, thể hiện niềm tin, sự tưởng nhớ và cả lòng biết ơn của của con người đối với thần, thánh, các thế lực siêu nhiên và cả những người quá cố Hoạt động tín ngưỡng có ở mỗi người, mỗi nhà, mỗi cộng đồng dân tộc, nhưng khi thực hành hoạt động tín ngưỡng ở mỗi cộng đồng dân cư, mỗi vùng miền cụ thể thì lại không giống nhau Đối với tộc người Khmer, tính đặc thù và bản sắc văn hóa được thể hiện gắn với các nghi lễ trong tôn giáo
và tín ngưỡng, như: Tín ngưỡng liên quan đến nông nghiệp; Tín ngưỡng hồn lúa; Tín ngưỡng Nặc Tà; Tín ngưỡng Àrăk; Tín ngưỡng liên quan đến vòng đời người
2.3 KHÁI QUÁT VỀ PHẬT GIÁO NAM TÔNG KHMER VÙNG TÂY NAM BỘ
Trang 14tôn giáo truyền thống của họ, thậm chí họ còn coi chùa chiền là niềm tin,
là chỗ dựa tinh thần vững chắc Mỗi khi có việc không lành xảy ra, họ thường tìm đến đây để van vái, cầu mong cho Phật, Pháp, Tăng phù hộ để sớm thoát nạn Khi có chiến tranh, chùa là nơi để họ trú ẩn, để tránh mối hiểm nguy Họ cho rằng, đây là vùng đất linh thiêng có thể che chở, có thể tránh được các mối đe dọa cuộc sống của họ, cho nên trong thời gian xảy
ra chiến tranh, hầu hết người Khmer đã tập trung về sống xung quanh chùa
để tránh bom đạn, tránh mối hiểm nguy cho bản thân, cho gia đình và người thân của họ
2.3.2 Giáo lý, giáo luật, nghi lễ, cơ cấu tổ chức
Phật giáo Nam tông từ lâu đã in đậm trong tâm khảm và chi phối mạnh
mẽ đời sống tinh thần của các thế hệ người Khmer Đối với đồng bào Khmer, triết lý Phật giáo là chân lý, đức Phật là niềm tin, ngôi chùa là điểm tựa về tinh thần, sư sãi là tấm gương đạo đức Vì vậy, mỗi người Khmer được sinh
ra đã được xem mình là một người Phật tử Ngoài ý nghĩa xuất gia để báo hiếu, tu gieo duyên còn tôi luyện đạo đức, tu sĩ PGNTK còn được trau dồi kiến thức và trí tuệ để phụng sự đạo pháp và dân tộc PGNTK có hệ thống
tổ chức 4 cấp là trung ương, tỉnh, huyện, cơ sở (chùa) Các tổ chức này đều tập trung hoạt động về công tác tôn giáo, quan hệ với các đạo khác, quan
hệ với các cấp chính quyền… nhằm giải quyết các công việc đạo sự
2.3.3 Tu sĩ và tín đồ
Đối với tín đồ, tu sĩ là một mẫu hình của chuẩn mực đạo đức thực hành đạo hạnh của Đức Phật Trong các chùa Khmer, tu sĩ được phân công giữ gìn giới luật trong chùa Vị nào vi phạm giới luật sẽ bị xử lý nghiêm khắc, với các hình thức khác nhau: Vi phạm nhẹ thì người vi phạm phải sám hối, vi phạm nặng sẽ bị xử phạt hoặc bị lột áo cà sa, trục xuất ra khỏi chùa…
Ngoài tu hành rèn luyện đạo hạnh, tu sĩ còn phải học tập thông hiểu giáo
lý, vị tu sĩ được kính trọng là vị tu sĩ tinh tiến trong tu học thông hiểu giáo lý
và có đạo hạnh trang nghiêm