1. Trang chủ
  2. » Công Nghệ Thông Tin

Tài liệu hướng dẫn tự học proshow – masking effect

12 1,5K 6
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tài liệu hướng dẫn tự học proshow – masking effect
Trường học Trường Đại Học
Thể loại Tài liệu hướng dẫn
Năm xuất bản 2010
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 1,11 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tài liệu hướng dẫn tự học proshow – masking effect

Trang 1

MASKING EFFECT

1/4/2010

Chú ý: trước khi đọc tài liệu này, hãy đảm bảo rằng bạn đã từng làm việc với photodex proshow

producer bản 3 hoặc 4

Tài liệu này được làm với bản proshow producer 3, proshow produce 4 tương tự

Có thể nói masking effect là 1 trong những phần hay nhất của proshow, kèm theo cái hay đó, nó đòi hỏi bạn phải tự tìm tòi, phân tích để có thể có những kinh nghiệm riêng của mình, từ đó phát triển ra những

ý tưởng tuyệt vời Nói chung là nó ko dễ dàng để nắm bắt trong mấy phút Để đạt được trình độ nhất định trong phần masking là ko đơn giản, bạn có thể xem clip masking effect của photodex proshow, trong clip đó, có những key farme khá phức tạp, ví dụ: hình đầu tiên trong clip ( tôi bị ấn tượng mạnh với hình đó), nó đã đạt được đến cảnh giới khá hoàn thiện về mặt cấu trúc

Intensity(grayscale) là masking kiểu làm hình mờ đi, hình là mask sẽ bị trong suốt, để lộ hình phía sau: Hình mask: chỗ màu tối của hình sẽ biến mất, phần màu sáng sẽ là tấm chắn của layer 2, sau đó, phần màu tối là ko có gì ở đó cả, và nếu có layer thứ 3 thì layer này sẽ là nền

Trang 2

A.INTENSITY

Hình gốc ví dụ 1 + 2:

Hãy chú ý vào những chỗ khoanh tròn

2

1

3

Trang 3

Ví dụ 1:

Trong ví dụ này, hình số 1 là mask, với chế độ intensity và dùng invest mark , chế độ này cho phép ảnh 1 làm mask như sau:

Những chỗ sáng trong ảnh 1 sẽ biến thành chỗ tối, và những chỗ tối trong ảnh sẽ biến thành những chỗ sáng

Sau đó, những chỗ tối vừa được thiết lập trong ảnh sẽ bị biến thành những chỗ trống, từ trống ở đây có nghĩa là chỗ đó, ảnh bị cắt rời ra, ko còn gì cả, màu đen trong ô khoanh tròn hình bầu dục là 1 khoảng trống, màu đen này biểu thị cho màu nền của khung( màu đen)

Những chỗ sáng bây h tạm coi như tấm kính mờ, nó đè trên hình số 2, do đó, những khoảng trắng được lấp bởi hình thứ 2, đó là layer của ảnh mask, cái ô màu đen được khoanh tròn thuần túy chỉ là cái ô màu đen trong ảnh 2, ko liên quan đến mask

Trang 4

Chú ý: những chỗ đen bị cắt trên hình 1 ko cho hình số 2 được chèn vào, chỗ đó, hoàn toàn được cắt xuyên qua hình số 2

Ví dụ 2:

ở ví dụ này, có thêm ảnh thứ 3, ảnh đó ở phía sau cụm mask, và do đó, bây h ảnh 3 làm nền cho slide Như đã nói ở ví dụ 1, chỗ được khoanh tròn hình bầu dục là chỗ trống, tại đó ko có gì Nhưng khi hình 3 được làm nền thì những chỗ tối đó được lấp đầy bởi những mảng màu của hình 3

Cái ô là của hình số 2, vẫn được giữ nguyên màu sắc

Chú ý đặc biệt: chế độ invest mark ko cho ảnh 2 là tấm kính mờ của ảnh 3 Vì vậy hình của ảnh 3 ko xuyên qua được ảnh 2 Điều này sẽ được giải thích kĩ hơn ở phần sau

Trang 5

Hình gốc ví dụ 3 + 4:

Hãy chú ý vào những chỗ khoanh tròn:

1

3

2

Trang 6

Ví dụ 3:

Trong ví dụ này, hình số 1 mà mask, với chế độ intensity và ko check ở ô invert mask, do đó, những chỗ nào trong hình 1 có màu tối sẽ trở thành những chỗ trống, hoàn toàn ko có gì Những chỗ sáng lại trở thành 1 tấm kính mờ, đè trên ảnh số 2,

Nhưngx chỗ khoanh tròn trên hình có màu xanh, ví dụ ở mắt , ở cằm là ví dụ về những vùng đen ở ảnh 1 gốc còn chỗ khoanh tròn trên vai em bé có màu xanh, màu xanh xuyên qua vai Sau đây, chúng ta saex tìm hiểu điều đó

Trang 7

Ví dụ 4:

Ví dụ 4 cũng giống như ví dụ 3, nhưng chỉ khác ở chỗ layer 3 là một tấm rèm đỏ, nó giúp những gì tôi muốn truyền đạt được đơn giản hơn

Như các bạn thấy, 2 vùng khoanh tròn trên mắt và vai em bé có tấm vải xuyên qua

Chỉ có 1 cách để lí giải điều này, đó là chế độ ko đánh dấu invert mask cho phép ảnh 2 là tấm kính trong suốt, co phép ảnh 3 có thể xuyên qua

Hãy nhớ lại phần chú ý ở ví dụ 2,nếu chọn invert mask thì ảnh 3 ko thể xuyên qua ảnh 2 được

Trang 8

Ví dụ 5:

Them 1 ví dụ nữa về chế độ ko chọn invert mask

Trang 9

nên làm là phẫu thuật các slide style của proshow cũng như của những người khác sau đó tự thiết lập những style mới cho riêng mình Vậy phải kiếm những style ở đâu? Câu trả lời là nó nhan nhản trên interner, người ta bán nó với giá từ $2 lên đến $50, ko hợp với thu nhập trung bình của người VN một chút nào, và việc kiếm được free style thì ko hề dễ, chẳng bác nào chịu share cả, cứ giữ bo bo

Các kì sau:

- Phẫu thuật 1 style đơn giản và 1 style phức tạp, để từ đó có những hiểu biết về style và tự lập cho mình style riêng

- Tạo 1 template đơn giản và 1 template phức tạp

- Kết hợp proshow và powerpoint

- Gradient

Chúc các bạn thành công với proshow

Trang 10

Gradient

(07/10/2010)

Được viết dựa trên proshow produce 4

Gradient được dùng trong masking effects (hiệu ứng mặt nạ) và adjustment effects (hiệu ứng hiệu chỉnh các thông số)

Đầu tiên bạn hãy vào layer option, và ấn vào dấu “+” Sau đó ấn vào add gradient, hoặc nếu bạn muốn tạo 1 adjustment layer hay masking layer thì ấn vào phần add adjustment layer hoặc add masking layer

và chọn tiếp add gradient

Và đây là cửa sổ gradient

Trong ô preset (thiết lập có sẵn) bao gồm: spectrums (màu quang phổ), metals (màu ánh kim loại), pastels (màu phấn), simple (màu đơn), special effects (màu theo hiệu ứng đặc biệt), se-mi transparent (màu giống khi chuyển cảnh), mask (mặt nạ)

Và trong ô bên dưới type, có 6 loại: linear (đường thẳng), radial (sóng đồng tâm), angular (vách sáng xuất phát từ tâm), rectangular (hình vuông đồng tâm), diamond (hình thoi đồng tâm), plasma (hình dung

nó như những đám mây cho dễ hiểu)

Trang 11

Tiếp theo, sang ô colors, có 1 keyframe timeline và 5 keyframe, bạn có thể thêm hoặc bớt 1 hoặc nhiều keyframe bằng cách ấn vào dấu cộng trừ nhưng như thế sẽ ko tiện vì keyframe mới sẽ xuất hiện giữa keyframe 1 và 2, có cách khác hay hơn, bạn kích đúp lên phần keyframe timeline mà bạn muốn thêm Bạn hoàn toàn có thể copy, pase keyframe có sẵn bằng cách click chuột phải lên keyframe có sẵn

Bạn có thể xem lại hình ảnh, rất tiện trong hình bên cạnh

Trong phần color, bạn có thể set 1 màu khác lên Còn phần reverse sẽ làm màu đổi ngược lại 180 độ Sang phần quan trọng: ta xét tiếp opacity, giá trị của nó từ 0 đến 100 và nó chỉ ảnh hưởng đến khoảng không gian giữa keyframe đó mà thôi mà ko ảnh hưởng gì đến khoảng không gian bị ngăn cách bởi 2 keyframe khác (dấu gạch màu đen là chỉ vị trí keyframe)

Tiếp theo đến phần position: cũng như opacity, vị trí của keyframe được hiệu chỉnh chỉ tác động đến keyframe đó và chỉ được phép hiệu chỉnh trong khoảng không gian giữa 2 keyframe kẹp nó

Tiếp tục sang phần Colorspace:

HSV is the default value, which stands for Hue, Saturation, and Value It’s a more accurate display of color changes RGB, which stands for Red, Green, Blue, is your other option This is the more traditional method of displaying colors on a monitor All you need to do is pick the one that you think looks the best though HSV is considered the more modern and ‘correct’ version

Trang 12

Đó là nguyên văn của photodex, nói nôm na dễ hiểu là như sau: dạng không gian màu RGB là chỉ gồm 3 màu xanh lục, xanh lá và đỏ tạo thành (kiểu như pha màu chỉ có 3 màu đó) Còn HSV là có tất cả các màu (nói thế thôi nhưng tất cả làm sao được) và nó khuyên nên dùng chế độ HSV, cái này tôi không ứng dụng nhiều nên cũng chẳng quan tâm lắm

Tiếp theo, một phần khá hay là gradient setting

Nó sẽ hiểu thị position, angle, seed trong một số trường hợp khác nhau và được chia làm 4 dạng:

Dạng 1: hiển thị thông tin angle (góc) và resolution (biến đổi kích thước ảnh) Đó là khi bạn chọn style là linear Bạn chỉ có thể thay đổi angle tức là góc của chùm sáng

Dạng 2: hiển thị thông tin position và resolution Đó là khi bạn chọn style rectangular hoặc diamond Bạn chỉ có thể thay đổi vị trí tâm của hình vuông

Dạng 3: hiển thị thông tin position, angle, resolution Đó là khi bạn chọn style radial, angular

Dạng 4: hiển thị thông tin seed (ko biết dịch thế nào cho đúng nên ko dich) và resolution Đó là khi bạn chọn style plasma.Bạn có thể chọn random seed hoặc set cái seed đó 1 giá trị nhất định

Bạn có 1 màn hình trực quan nên có thể quan sát dễ dàng mọi thông số khi thay đổi Một điểm đáng lưu

ý là bạn có thể thay đổi seed, angle và position bằng tay Chỉ cần ấn chuột vào màn hình với plasma hoặc

ấn chuột và di với cái khác

Đó là tất cả những gì về gradient, nó cần kết hợp với layer khác để trở thành masking layer hoặc

adjustment layer (đọc phần masking effects)

Ngày đăng: 31/12/2013, 23:43

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình gốc ví dụ 1 + 2: - Tài liệu hướng dẫn tự học proshow – masking effect
Hình g ốc ví dụ 1 + 2: (Trang 2)
Hình gốc ví dụ 3 + 4: - Tài liệu hướng dẫn tự học proshow – masking effect
Hình g ốc ví dụ 3 + 4: (Trang 5)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w