1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

NỘI SAN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐÔ THỊ VÀ NÔNG THÔN

71 1,4K 6
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nội san Quản lý nhà nước về đô thị và nông thôn
Trường học Học viện Hành chính Quốc gia
Chuyên ngành Quản lý nhà nước về đô thị và nông thôn
Thể loại Nội san
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 71
Dung lượng 1,26 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

dạy chúng ta làm con người phải biết phấn đâu nỗ lực, phải tận dụng hết mọi khả năng của mình đẻ trở thành người hoàn hảo

Trang 1

LỜI NÓI ĐẦU

Bộ môn Quản lý nhà nước về Đô thị và Nông thôn được thành lập ngày 6-1995 với tên gọi Bộ môn Hành chính Đô thị và Nông thôn thuộc Khoa Khoa họchành chính theo Quyết định số 145/HCQG-TCCB Ngày 22-10-1996, theo Quyếtđịnh số 256/HCQG của Giám đốc Học viện, Bộ môn QLNN về Đô thị và Nôngthôn được tách ra khỏi Khoa Khoa học hành chính trở thành Bộ môn thuộc Họcviện Hành chính Quốc gia kể từ ngày 01-11-1996

30-Tháng 11-1999, Bộ môn sáp nhập vào Khoa QLNN về Kinh tế

Tháng 01-2001, Bộ môn được tách ra độc lập thuộc Học viện Hành chính CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ

Giảng dạy và nghiên cứu khoa học về những vấn đề có liên quan đến quản lýnhà nước đối với đô thị và nông thôn cho tất cả các đối tượng, các hệ đào tạo vàbồi dưỡng của Học viện và ngoài Học viện (kể cả sau đại học, chuyên viên, chuyênviên chính, chuyên viên cao cấp)

CƠ CẤU TỔ CHỨC - NHÂN SỰ

- Tổng số cán bộ, giảng viên: 13 người; trong đó, có 1 Phó giáo sư - tiến sĩ; 2tiến sĩ; 6 thạc sĩ (3 đang làm nghiên cứu sinh) và 3 cử nhân; 02 giảng viên kiêmchức

- Trưởng bộ môn : TS Hoàng Sỹ Kim

- Phó Trưởng bộ môn : ThS Nguyễn Thị Thanh Thuỷ

TS Nguyễn Ngọc HiếuĐiện thoại: 37.730514

và cho phép của Lãnh đạo Học viện Hành chính, lãnh đạo Bộ môn và tập thể cán

bộ, giảng viên của đơn vị đã quyết định cho ra đời Nội san QLNN về Đô thị &

Trang 2

Nông thôn nhằm đáp ứng phần nào nhu cầu trên, đặc biệt với đội ngũ cán bộ giảng

dạy, nghiên cứu khoa học tuổi còn trẻ, tập san là nơi để CB, GV của Bộ môn giúpnhau trong lĩnh vực giảng dạy, học tập và nghiên cứu khoa học Với kinh nghiệmcòn ít, đặc biệt anh chị em lại chưa quen với công tác xuất bản, chắc chắn khôngthể tránh khỏi những sai sót cả về chuyên môn và hình thức của ấn bản phẩm Vớitinh thần học hỏi, kính mong nhận được sự quan tâm, góp ý và trao đổi của các GS,

TS, đội ngũ cán bộ giảng dạy, nghiên cứu khoa học, các học viên, sinh viên trong

và ngoài Học viện để Nội san trong những lần ấn bản sau được tốt hơn

Trân trọng cảm ơn những ý kiến đóng góp quý báu của bạn đọc và xin đượcgiới thiệu Nội san số 1 QLNN về Đô thị & Nông thôn

BỘ MÔN QLNN VỀ ĐÔ THỊ & NÔNG THÔN

Trang 3

Coi trọng ý kiến cộng đồng trong quy hoạch đô thị

TS Hoàng Sỹ Kim Học viện Hành chính

Những năm gần đây, các dự án cải tạo và phát triển đô thị ngày một nhiềuhơn với quy mô lớn hơn Cơ sở pháp lý của các dự án cải tạo, nâng cấp đô thị làcác đồ án quy hoạch đô thị Chất lượng sống và cơ hội phát triển của các cộngđồng phụ thuộc vào chất lượng của công tác này

Quy hoạch đô thị là việc phân chia và xác định chỉ tiêu sử dụng đất quyhoạch đô thị, yêu cầu quản lý kiến trúc, cảnh quan của từng lô đất, bố trí hạ tầng

kỹ thuật, công trình hạ tầng xã hội nhằm cụ thể hóa nội dung của quy hoạchphân khu hoặc quy hoạch chung Quản lý nhà nước về quy hoạch đô thị là việc

sử dụng quyền lực Nhà nước tác động vào quá trình tổ chức, điều hành, điềuchỉnh hành vi của các bên tham gia vào việc thay đổi trong sử dụng không gian,kết cấu hạ tầng, và tài nguyên thiên nhiên theo quy định của chính sách và phápluật

Thông qua các quy định điều chỉnh các hành vi xây dựng, quy định về hạnchế quyền phát triển, hoặc thậm chí bắt buộc di dời giải tỏa, quy hoạch đô thịvừa tạo cơ hội mới cho rất nhiều hộ gia đình, doanh nghiệp, cộng đồng, nhưngcũng có thể ảnh hưởng bất lợi trực tiếp cho một số khác Trên thực tế, nhiềuvướng mắc trong cải tạo, di dời, đền bù và triển khai các dự án đầu tư xây dựng

có liên hệ với những bất cập của giai đoạn lập quy hoạch đô thị

Nâng cao chất lượng tổ chức và giám sát việc lấy ý kiến của người dânkhi xây dựng quy hoạch đô thị là một yếu tố quan trọng góp phần nâng cao chấtlượng quy hoạch đô thị Vấn đề đặt ra liệu các đồ án quy hoạch đô thị đã giảiquyết hài hòa các mối quan hệ lợi ích với các bên liên quan trong quá trình pháttriển chưa? Đã đại diện cho lợi ích số đông, phản ánh đúng chính sách đường lối

và các nguyên tắc trong cải tạo phát triển và bảo vệ lợi ích công cộng chưa? Đãphản ánh được nhu cầu, xu hướng, và các tín hiệu thị trường của các chủ thể bênngòai bộ máy nhà nước chưa? Gần đây, việc tham vấn và lấy ý kiến cộng đồng

đã và đang được triển khai sau nhiều nghiên cứu thí điểm và thể chế hóa Từ saukhi có Luật Xây dựng 2003 và đặc biệt là Luật Quy hoạch 2009, các nhà quản lý

đã có cơ sở pháp lý ban đầu cho sự tham gia của cộng đồng vào quá trình lậpquy hoạch đô thị Dư luận cho rằng quá trình lập quy hoạch vẫn đang còn nhữngbất cập và cộng đồng gặp khó khăn trong bảo vệ quyền lợi của mình Những vụviệc gần đây như cải tạo nhà B6 Giảng Võ, quận Ba Đình, Hà Nội năm 2007,quy hoạch mở rộng đường vành đai 3 đoạn Khuất Duy Tiến năm 2008, chuyểnđổi công năng của ‘Sân con voi’ ở phường Trung Tự, quận Đống Đa, Hà Nộinăm 2009 cho chúng ta cần nhìn lại khâu lấy ý kiến cộng đồng trong bối cảnhchính quyền, cộng đồng, và chủ đầu tư theo đuổi các mục tiêu khác nhau khi

Trang 4

quy hoạch Mặc dù đã có cơ chế lấy ý kiến; tuy nhiên, theo đánh giá của nhiềuchuyên gia, quá trình này còn mang nặng tính hình thức, chưa cầu thị, chưa bàibản Sau khi Luật Quy hoạch 2009 được thông qua ngày 17/06/2009; các nhàquản lý và nghiên cứu cần những lời giải và bằng chứng rõ ràng thông qua cácnghiên cứu tổng kết có tính hệ thống để trả lời nhiều câu hỏi liên quan như lựachọn cách thức tiếp cận phù hợp cho các loại đồ án quy hoạch khác nhau, bốicảnh phát triển khác nhau, và giai đoạn thực thi khác nhau để đạt được mục tiêucuối cùng là chất lượng của phát triển, lợi ích công cộng và cá nhân được bảo vệbên cạnh việc có được một bản đồ án quy hoạch phát triển đô thị cho đúng thờihạn

Tham khảo một số mô hình tổ chức và giám sát lấy ý kiến cộng đồng trênthế giới chúng ta học hỏi được nhiều kinh nghiệm quý Thí dụ Luật quy hoạch

đô thị của Thụy Điển ngắn gọn, đơn giản và gộp chung cả quy hoạch, xây dựng,

và một số nội dung về môi trường xây dựng trong một đạo luật Các vấn đề cótính nguyên tắc được trình bày đơn giản và rõ ràng nhưng có tính chi tiết để cóthể thực thi ngay không cần hướng dẫn Vấn đề trung tâm trong đạo luật là bảo

vệ lợi ích công cộng, lợi ích quốc gia và bảo vệ quyền tài sản khi xem xét việc

sử dụng đất và mặt nước nhằm bảo vệ môi trường và giảm thiểu rủi ro Việc tổchức lấy ý kiến cộng đồng trong Luật quy định ngắn gọn và cụ thể với việc lấy ýkiến bao gồm tham vấn ý kiến của chuyên gia và các tổ chức Quy hoạch đô thịtại Nhật Bản là một quá trình có sự tham gia của cộng đồng Chính quyền địaphương có vai trò quan trọng trong việc định hướng, tổ chức thực hiện quyhoạch khu vực (quy hoạch khu phố) với sự tham gia của cộng đồng Ngay từkhâu xác định mục đích, mục tiêu của quy hoạch, chính quyền địa phương đãkêu gọi sự tham gia cộng đồng và các tổ chức cộng đồng Trước khi phê chuẩnmột quy hoạch, chính quyền địa phương thông báo công khai, để cho côngchúng có dịp tham gia thảo luận Sau năm 1989, Luật Quy hoạch Trung quốc đãđưa khái niệm ‘tham gia cộng đồng trong lập quy hoạch’

Ở Việt Nam quy hoạch đô thị được chuyển đổi từ hệ thống lập quy hoạchtập trung hình thành trong cơ chế bao cấp Quy hoạch đô thị thường là nhữngbản đồ hoạch định xây dựng cho cả thành phố một cách tổng thể Hình thức nàyphát triển như một phần của nền kinh tế chỉ huy nên có tính chất tập trung cao.Làm quy hoạch thời bao cấp là nhiệm vụ ‘của Nhà nước’, trong đó, hầu hết thẩmquyền quản lý từ cấp vốn cho đến thiết kế, thẩm định, phê duyệt, và triển khaithực hiện được giao cho cấp trung ương (Bộ quản lý ngành là Xây dựng chỉ đạochuyên môn), và cấp địa phương (chủ yếu là UBND Tỉnh và cơ quan tham mưu

là Sở Xây dựng) chỉ đạo việc tổ chức lập và thực hiện các đồ án quy hoạch.Trước khi có Luật Quy hoạch đô thị 2009, ở đô thị có hai loại đồ án chính là

Quy hoạch chung và Quy hoạch chi tiết Ngoài ra, để lập quy hoạch chung còn

cần sơ đồ liên hệ vùng và quy hoạch vùng và để đầu tư dự án phát triển còn cần

Quy hoạch (chi tiết) phân lô và đồ án Thiết kế đô thị

Trang 5

hững năm gần đây, việc lấy ý kiến cộng đồng ra bên ngoài khu vực nhànước đã được nghiên cứu và tổ chức thực hiện thí điểm cùng với sự thayđổi về bản chất phát triển đô thị

N

Trước khi có Luật Xây dựng 2003 và thậm chí từ thời bao cấp, đã cónhững đồ án quy hoạch được công bố và thu thập ý kiến đóng góp của nhân dânnhư quy hoạch khu trung tâm Ba Đình, quy hoạch xây dựng nhà Quốc Hội, hayquy hoạch Thủ đô từ những năm 1980 Mới đây, đồ án quy hoạch thành phố haibên sông Hồng đã được triển lãm kéo dài trong nhiều tháng để thu thập ý kiếnnhân dân và chuyên gia năm 2008

Tuy nhiên chúng ta chưa có quy định lấy ý kiến cộng đồng sẽ được xử lýthế nào, thời gian trả lời là bao lâu, cơ quan hay cá nhân nào sẽ chịu tráchnhiệm giải trình, cơ quan nào sẽ giám sát quá trình lấy ý kiến để đảm bảo các ýkiến đó thực sự được lắng nghe và được sử dụng Phải chăng đã đến lúc chươngtrình cần cụ thể hóa các điều khoản về tổ chức thực hiện Trong quá trình lậpnhiệm vụ quy hoạch, cơ quan tư vấn tổ chức lấy ý kiến cộng đồng về cả mụcđích và phạm vi nội dung nhiệm vụ quy hoạch thí dụ việc tổ chức triển lãm vềquy hoạch phải đảm bảo đủ để người dân có đủ thời gian để góp ý Thời hạn tốithiểu để thông báo trước khi triển lãm là 3 ngày làm việc tham gia Cơ quan tổchức cần thông báo rõ thời gian trình bày và giải trình các ý kiến tham vấn chocộng đồng bị ảnh hưởng bằng các công cụ tuyên truyền phù hợp Cùng đó cầnnâng cao trách nhiệm giám sát đảm bảo quyền lợi của cộng đồng Trong quátrình thiết kế quy hoạch, bên cạnh lợi ích quốc gia và lợi ích công cộng, chínhquyền cần giám sát đơn vị tư vấn về nội dung tạo điều kiện ổn định cải thiện đời

sống cộng đồng và cải thiện chỗ ở các hộ dân cư Trước khi thông qua đồ án và

phê duyệt, cộng đồng cần biết ý kiến của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân

cấp phường và công khai biên bản tổng kết cuộc họp lấy ý kiến cộng đồng dân

cư sở tại Trong trường hợp có vướng mắc, cộng đồng được tạo điều kiện trìnhbày ý kiến và Hội đồng thông qua phải bố trí thời gian đủ để nghe trình bàycũng như không hạn chế phạm vi trình bày về những vấn đề thiết yếu và có liênquan mật thiết đến đời sống của cộng đồng

Trang 6

Đô thị hoá và những biến đổi kinh tế, xã hội và lãnh thổ vùng ven đô

PGS TS: Phạm Kim Giao Học viện Hành chính

I Đô thị hoá

1.1.Khái niệm đô thị hoá :

Có nhiều cách định nghĩa hay xây dựng khái niệm khác nhau về đô thị hoá

do cách tiếp cận khác nhau khi nghiên cứu về đô thị hoá Có thể tổng quát rằng

đô thị hoá là một quá trình:

- Làm gia tăng dân số đô thị cả về tương đối (% so với tổng số dân-tỉ lệ đô thịhoá và tăng tuyệt đối số dân đô thị) do chuyển dịch dân cư nông thôn vào các đôthị và qua đó làm tăng quy mô dân số của các đô thị

- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế-xã hội, hoàn thiện và nâng cao điều kiện sống,phong cách sống đô thị theo hướng hiện đại, văn minh

- Làm chuyển hoá diện mạo và tính chất của các điểm dân cư nông thônthành các đô thị hay theo kiểu đô thị

Như vậy quá trình đô thị hoá không chỉ tác động ảnh hưởng đến các đô thị

mà còn đến sự phát triển của các điểm dân cư nông thôn theo hướng đô thị (đôthị hoá nông thôn)

Và như vậy đô thị hoá được hiểu là một quá trình phát triển mang tính kinhtế-xã hội-lịch sử của các hình thái cư trú (định cư) và của các điều kiện sống đôthị hay theo kiểu đô thị Đô thị hoá không chỉ là sự gia tăng tương đối hay tuyệtđối của dân cư đô thị, sự phát triển của các đô thị hay quần cư đô thị (siêu đôthị), sự phát triển của hình thức cư trú kiểu đô thị mà còn gắn liền với nhữngthay đổi kinh tế-xã hội ở đô thị và nông thôn, gắn kết với sự thay đổi về cơ cấu

xã hội, nghề nghiệp, nhân khẩu học, dân số học, phong cách sống, trình độ vănhoá của dân cư cũng như sự phân bố của dân cư và lực lượng sản xuất xã hộitrên phạm vi quốc gia và vùng lãnh thổ

1.2.Tổng quát về đô thị hoá ở Việt Nam

Việt Nam có điểm khởi đầu đô thị hóa muộn và tỉ lệ đô thị hoá thấp hơn sovới các nước trong khu vực và thế giới Đầu thế kỉ thứ XIX (năm1800) tỉ lệ đôthị hoá trung bình của thế giới là 3-4% thì tỉ lệ đô thị ở Việt Nam Vào đầu thế

kỉ XX (1900) hiện nay tỉ lệ đô thị hoá ở Việt Nam khoảng 30%, trung bình củathế giới là khoảng 50%, các nước phát triển khoảng 75-80%, các nước đang pháttriển thì khoảng 35-40% Nguyên nhân là Việt Nam hàng nghìn năm dưới chế

độ phong kiến, thuộc địa của đế quốc, lại phải tiến hành chiến tranh giải phóngdân tộc trong nhiều thập kỉ cộng với kinh tế tập trung bao cấp cho đến cuối

Trang 7

những năm 80 của thế kỉ trước đã tạo nên sự trì trệ trong phát triển kinh tế và tốc

độ tăng trưởng chậm của đô thị hoá

Từ những năm 86,87 trở lại đây ,do chuyển đổi cơ chế từ tập trung bao cấpsang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh Công nghiệphoá-Hiện đại hoá đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực với những cơchế, chính sách đổi mới, khuyến khích đầu tư, không những kinh tế-xã hội mà

đô thị hoá đều có tốc độ tăng nhanh, cụ thể:

Năm Tỉ lệ đô thị hoá(%)

Trong những năm tới tốc độ tăng trưởng đô thị hoá sẽ còn tăng nhanh hơn,vào năm 2010 và 2020 là 33% và 45% (Định hướng phát triển đô thị Việt Namđến năm 2020)

Theo đó số lượng đô thị cũng tăng nhanh Năm 2000 có 649, năm2005 là

708, hiện nay là khoảng 750, đến năm 2010 là 1223 và năm 2020 là 1956 đô thị(Định hướng phát triển đô thị Việt Nam đến năm 2020) Ngoài ra, chúng ta cóhàng trăm khu công nghiệp, chế xuất, công nghệ cao, hàng chục khu đô thị mới

và khu kinh tế cửa khẩu nằm ngoài đô thị và nhiều nghìn thị tứ trên địa bàn nôngthôn

Đến năm 2030, tỉ lệ đô thị hoá của Việt Nam có thể đạt tới 60%, sau đó tốc

độ tăng trưởng của đô thị hoá chậm dần lại, đến cuối thế kỉ này sẽ đạt khoảng90%

1.3.Một số đặc điểm của đô thị hoá Việt Nam hiện nay

- Sự tăng trưởng đô thị hoá khác nhau khá rõ giữa các vùng Theo TS Phạm

Sĩ Liên, tỉ lệ đô thị hoá của các vùng năm 2002 :

Trang 8

Tên vùng Tỉ lệ đô thị hoá (%)

- Cơ cấu cuả hệ thống đô thị mất cân đối.So với các nước công nghiệp pháttriển, tỉ lệ giữa đô thị lớn: trung bình: nhỏ là khoảng 1:10:100 còn ở Việt Nam, tỉ

lệ này khoảng1:4:40.Chúng ta thiếu rất nhiều các đô thị vừa và nhỏ, cho nên các

đô thị lớn luôn bị sức ép dân số dịch chuyển từ nông thôn vào đô thị gây nêntình trạng quá tải, xuống cấp (nhất là Hà Nội và TP Hồ Chí Minh)

- Các đô thị phân bố chưa đồng đều phù hơp với sự phân bố của lực lượngsản xuất của cả nước Phần lớn các đô thị hình thành và phát triển ở hai khu vựcđồng bằng Bắc Bộ và sông Cửu Long hay ven biển Vùng miền núi trung du,Tây Nguyên đô thị còn thưa thớt (chủ yếu là đô thị tỉnh lị và huyện lị) Đô thịtrung tâm khu vực nông thôn phát triển còn yếu

- Sự tăng trưởng cơ học dân số đô thị nước ta không hoàn toàn do nhu cầu vềlao động trong khối công nghiệp và dịch vụ, mà một phần lớn do tình trạng thấtnghiệp, thiếu việc làm ở nông thôn và điều kiện sống thành thị-nông thôn quáchênh lệch, làm gia tăng làn sóng di dân nông thôn-đô thị Kinh tế phi chính qui(kinh tế vỉa hè) và tỉ lệ đói nghèo ở đô thị tăng lên (chuyển nghèo từ nông thônvào đô thị) Đồng thời, do không kiểm soát chặt chẽ, dân cư nông thôn chuyểnvào đô thị nên tệ nạn xã hội, buôn lậu, bạo lực đường phố gia tăng, lối sống vănhoá đô thị bị pha tạp, xuống cấp

Trang 9

Cùng với qúa trình đô thị hoá, phương tiện giao thông cơ giới ở nước ta tănglên rất nhanh Giao thông vận tải đã trở thành một nguồn gây ô nhiễm chính đốivới môi trường không khí ở đô thị , nhất là các thành phố lớn như Hà Nội, TP

Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng Theo đánh giá của các chuyên gia môitrường, ô nhiễm không khí ở đô thị do giao thông vận tải gây ra chiếm tỉ lệkhoảng 70%

Diện tích nhà ở trung bình chỉ bằng 1/3 tiêu chuẩn thế giới, hệ thống cấpnước bị thất thoát tới 40%, nguồn nước, không khí và môi trường ô nhiễm trầmtrọng… Đó là phác thảo sơ bộ chân dung đô thị Việt Nam của các chuyên giaWorld Bank

Qua các điều tra, nghiên cứu, Ngân hang Thế giới (WB) đã công bố số liệukhảo sát mới nhất ở Việt Nam Theo đó, cơ sở hạ tầng đô thị Việt Nam hiệntrong tình trạng khá xập xệ Diện tích nhà ở trung bình là 10m2/người, chỉ bằng1/3 diện tích tiêu chuẩn trên đầu người ở các đô thị tiên tiến trên thế giới; tỷ lệđất giao thông rất thấp; hệ thống cấp nước bị thất thoát tới 30-40%; tỉ lệ thu gomrác và xử lí rác thải chỉ đạt 70%; ô nhiễm trầm trọng vê nguồn nước; không khí,môi trường, tiếng ồn Ô nhiễm đang khiến hang nghìn phụ nữ và trẻ em mắcbệnh; sức khoẻ bị suy giảm nghiêm trọng

II.Ảnh hưởng và tác động của đô thị hoá tới làng xã nông thôn ven đô thị lớn

2.1.Biến đổi kinh tế-xã hội:

Sự phát triển của các đô thị lớn gắn liền với quá trình đô thị hoá các làng xãvùng ven và vùng có mật độ dân cư nông thôn tập trung dày đặc ở diện rộng nhưvùng đồng bằng sông Hồng và vùng đồng bằng sông Cửu Long Quá trình đô thịhoá làm biến đổi không gian do mở rộng các khu đô thị mới ra vùng nông thônven đô, đồng thời ôm gọn trong lòng đô thị nhiều làng, xã nông nghiệp-tiểu thủcông nghiệp, làng nghề truyền thống tồn tại khá lâu đời Đây là một tính chấtphổ biến ở các đô thị lớn vùng đồng bằng Bắc và Nam Bộ Với đặc thù của lốisống cộng đồng, với lịch sử lâu đời, quá trình đô thị hoá các làng xã là quá trìnhchuyển đôỉ cơ cấu kinh tế, cơ cấu dân cư, xã hội và chuyển biến không gianphức tạp Do vậy, chuyển đổi cấu trúc làng xã đang đô thị hoá là vấn đề lớn cầnđược quan tâm, nghiên cứu để có thể tìm ra các chính sách và giải pháp hợp lícho quá trình đô thị hoá vùng ven

Những làng xã lọt vào đô thị đã có sự thay đổi lớn về cấu trúc dân cư, một bộphận dân cư nông thôn thuộc làng, xã được sáp nhập với một khu vực dân cư đôthị mới được hình thành tạo thành một đơn vị hành chính cơ sở Một số làng xã

bị chia cắt, di chuyển dân cư do tuyến giao thông do tuyến giao thông đô thịđược mở rộng Như vậy, làng xã nông thôn đã được đô thị hoá bởi sự thay đổiđịa giới hành chính Điều này trong một quá trình dài cũng làm thay đổi nghềnghiệp cuả dân cư Một bộ phận, tuy rằng sẽ giảm dần, tồn tại làng nghề nông

Trang 10

nghiệp đồng thời số khác làm lao động phi nông nghiệp như công nhân, thợ thủcông, thợ xây dựng, buôn bán nhỏ, thực phẩm truyền thống, giáo dục, dịch vụ, ytế lao động và các cơ sơ sản xuất phi nông nghiệp tăng lên.

2.2.Xuất hiện và gia tăng các mối quan hệ với nội đô

Gia tăng dịch chuyển lao động, tìm việc làm trong nội thành nội thị theo sựphát triển tự phát, tự do sẽ dân tăng lên

- Đối với vùng ven đô thị lớn thì dịch chuyển theo tuyến kiểu "con lắc" đi

đi-về đi-về của lao động nông thôn và nội thành đểtìm kiếm việc làm, tăng thu nhậpnhư đi chợ, buôn bán nông sản thực phẩm nhỏ, rau quả tươi, bánh trái, đồ ăn đặcsản, nội trợ gia đình thuê và làm việc trong các cơ sở công nghịêp và dịch vụtrong nội thành

- Đối với các khu vực nông thôn nằm trong vùng ảnh hưởng của các thànhphố lớn và thậm chí cả các vùng khó phát triển kinh tế và thu nhập, họ đa số lànhữnh người nghèo dịch chuyển dân cư ra thành phố lớn theo mùa vụ, cố địnhthường xuyên, nhiều trường hợp chuyển thành di dân lâu dài

- Các dòng di dân hiện nay nước ta diễn ra mạnh mẽ chưa từng có đã có dấuhiệu, hiện tượng phổ biến giống các nước tronh khu vực.Nó mang tính quy luậtcủa sự điều tiết bởi kinh tế thị trường, hoàn toàn khác với kiểu hoạch định, phân

bố dân cư của nền kinh tế kế hoạch hoá trước kia Tính chất của nó là không thểngăn cản bằng một biện pháp hành chính cứng nhắc Nên thừa nhận có nhiều tácdụng tích cực cho phát triển kinh tế, và tất nhiên cũng có nhiều tiêu cực kèmtheo cho xã hội, môi trường, an ninh, văn hóa nội thành, nội thị

Vấn đề này đặt ra nhiều dự án, đề tài, nghiên cứu để tìm ra các biện phápmang tính định hướng cho nó tới những mục đích và những hiệu quả tốt hơn cho

xã hội Phải thừa nhận rằng, di dân tự do làm cho người nông dân, nhũng ngườinghèo, người thu nhập thấp kiếm được việc làm cho mình để thu nhập tốt hơn

Họ trở nên năng động hơn, nhạy bén hơn và thông minh hơn trong cách làm ăn

Họ tự tạo hoặc tự tìm việc làm, tức là tự giải quyết cung cầu lao động cho sinhthái kinh tế cân bằng động tự nhiên Họ góp phần không nhỏ trong việc pháttriển kinh tế đô thị Nhưng quá trình di dân tự phát này đã tác động tiêu cực đénvấn đề môi trường; trật tự an toàn giao thông và an ninh đô thị; quản lí đô thịngày càng khó khăn hơn Quá trình này cũng đông thời taoc ra sự xâm nhập lốisông đô thị vào người dân nông thôn và sự hội nhập của họ trong đô thị Đó là

sự biến đổi về chất với tốc độ nhanh hơn nhiều so với các thập kỉ trước

Trước nhũng thách thức của lán sóng di dân, chính quyền không thể dùngbiện pháp cấm đoán, ngăn chặn mà chúng ta điều chỉnh no vào quỹ đạo sao chochính quyền có thể kiểm soát, để phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực

2.3.Sự biến đổi không gian lãnh thổ các vùng nông thôn ven đô

Trang 11

Các làng xã ven đô trong quá trình đô thị hoá, phát triển lấp đầy hoặc đan xenvùng bao Các làng xã này thường được bao bọc bởi các tuyến giao thông đô thị.Khu vực phía ngoài nhanh chong bị lấp đầy bởi các "phố"nhà ở chiếm chỗ cómật độ cao cùng các công trình công cộng của thành phố, trong đó có các cơ sởsản xuất và dịch vụ.

Bên trong các khu dân cư làng xã cũng phát triển lấp đầy do nhu cầu pháttriển nhà ở của các hộ gia đình lớn Hơn nữa dân đô thị hoặc người ngoại tỉnhcũng mua đất làm nhà tại các khu vực này Bởi vậy đất vườn ruộng 5% và ao hồtrong làng xã được chia nhỏ để xây dựng nhà ở, mật độ xây dựng được tăngnhanh

Phát triển các khu đô thị mới tại các khu ven đô đã và đang tăng nhanh Vànhững khu đô thị mới đang phát triển nhanh và mạnh này cũng góp phần tíchcực tăng tốc độ đô thị hoá và không gian vật thể và chất lượng của vùng.Hơn thếnữa, các khu đô thị mới sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới các làng xã gần đó về lối sông

đô thị và nhận thức văn hoá xã hội

Sự phát triển không gian đô thị thông qua việc phát triển các đô thị vệ tinhmới hoặc các thị trấn, thị xã, các đô thị mới.Sự phát triển các khu đô thị mới tạo

ra các khu công nghệ cao, các chế xuất, các khu vực nghiên cứu khoa học đàotạo, các khu du lịch nghỉ mát Nó gia tăng tốc độ đô thị hoá, kích thích phát triểnkinh tế-xã hội của các vùng nông thôn trong khu vực đó và khu vực xung quanh.Đầu tiên là tác động về đất đai, sau đó là cơ hội tạo việc làm và chuyển đổi cơcấu kinh tế trong khu vực Chính tại đây sẽ diễn ra sự chuyển biến và xâm nhậplối sống văn minh đô thị về nông thôn

Trang 12

Còn đó những trăn trở

về xây dựng đường sắt cao tốc Bắc – Nam 1

TS Nguyễn Ngọc Hiếu

Chương 1.Nhu cầu đi lại có ảo tưởng?

1 Tiếp nối theo ý kiến của TS Trần Đình Bá về nhu cầu đi lại Có lẽ đây là vấn

đề cần thẩm định kỹ nhất của dự án đường sắt cao tốc (ĐSCT) Bắc-Nam.

Phương pháp tính Vitranss2 công bố theo mô hình 4 bước, trong đó dự báonhu cầu đi lại đến năm 2030-2050 là dự báo gộp của tổng nhu cầu đi lại tínhtrên toàn quốc, rồi phân bổ của các chặng giữa các đô thị lớn trên tòan tuyếnHN-TP Hồ Chí Minh Phương pháp tính gộp này sử dụng nhiều giả định.Song đây chính là vấn đề khi khả năng dự báo dài hạn, phân bổ loại hình vận

tải có thể dẫn đến nhầm lẫn về nhu cầu thực sự phải xây dựng ĐSCT trên toàn tuyến Bắc Nam mới đáp ứng nhu cầu đi lại bởi các lý do sau

Nhu cầu đi lại trên toàn tuyến dựa vào tăng trưởng đô thị, nhưng tăng trưởng đô thị bản thân nó cũng đã khó dự báo Dự báo nhu cầu đi lại của

Vitranss2 dựa trên giả định tăng trưởng dân số trên dọc trục Bắc – Nam là138% tốc độ đô thị hóa toàn quốc Con số này không phải không có cơ sở

bởi vùng duyên hải sẽ phát triển đô thị nhanh hơn, nhưng cần chú ý là tăng trưởng dân số đô thị trên tuyến (cơ sở chính của dự báo) vốn đã không rải đều trên tòan tuyến Vùng Hà Nội và TP HCM đã, đang, và dự báo sẽ

có tốc độ tăng trưởng cao hơn các đô thị còn lại trên trục (hiện đang là 3-5%/năm – các đô thị khác chỉ 1-2%, thậm chí thấp hơn)

Trong khi đó, các số liệu dự báo về phát triển đô thị Việt Nam có độ tin cậy chưa cao TP Vinh 10 năm vừa qua dân số chỉ tăng bình quân

1.8%/năm, dù dự báo năm 2000 là giai đoạn 2000-2010 tăng trưởng4-5%/năm Tình hình tương tự xảy ra ở Đà Nẵng, Huế, và một số thành phốkhác Các đô thị ở miền trung thường có tốc độ tăng trưởng dân số và kinh tế

chậm hơn so với khu vực hai đầu Do đó nhu cầu đi lại cự ly ngắn, nội vùng ở quanh Hà Nội và TP-HCM sẽ tăng nhanh hơn nhiều nhu cầu đi lại cự ly dài đến các đô thị miền trung, cơ sở khiến khách hàng sẽ chọn phương tiện ĐSCT Hơn nữa, với mức độ gia tăng đầu tư vào hai vùng kinh

tế trọng điểm ở hai đầu sau quy hoạch vùng thủ đô và vùng thành phố Hồ

1 Bài đã được trích đăng trên Vietnamnet với tiêu đề ‘đường sắt cao tốc dành cho ai, số 30/05/10, theo đường dẫn sau:

Trang 13

http://www.tuanvietnam.net/2010-05-25-duong-sat-cao-toc-danh-cho-ai-Chí Minh như hiện nay thì nhu cầu đi lại càng tập trung ở các chùm đô thị

kề cận Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh chứ chưa lan tỏa ra các chuỗi dọc

trục Điều này làm sự phân bổ nhu cầu đi lại trên chuỗi ở thời gian dài dựa trên các giả định sẽ có sai số lũy kế đáng kể.

2 Trong khoa học dự báo, dự báo dài hạn luôn ẩn chứa rất nhiều rủi ro và sai số rất lớn bởi chúng dựa vào nhiều giả định

Chỉ cần xem xét nhu cầu đi lại của ngành đường sắt sẽ thấy ngay vấn đề.

Vitranss2 đưa ra một con số đáng kinh ngạc với dự báo khách đi tàu năm

2020 đạt 48’000 người/ngày, bằng 8 lần hiện tại năm 2010 (khoảng 6000

khách/ngày) Trong 10 năm tăng 8 lần, tức là số lượng khách sẽ tăng bình

quân 23.2%/năm Con số này cách rất xa với tăng trưởng quá khứ và hiện tại bởi tốc độ tăng nhu cầu đi lại bằng đường sắt trong 3 năm trở lại đây

gần như bằng không (có thể do khủng hoảng kinh tế), và trong 10 năm trở lạithì chỉ xấp xỉ 5%/năm Lưu ý là phương pháp cơ bản để tính nhu cầu đi lạitương lai thường dựa vào số liệu thống kê nhu cầu đi lại quá khứ Nếu giảđịnh tốc độ tăng trưởng nhu cầu đi lại là 10% đều đặn (tương đương mô hìnhtính của Vitranss22) mà tốc độ tăng thực là 5% (tốc độ tăng trong 10 năm vừa

qua) thì sau 40 năm sai số dự báo và thực tế sẽ khuếch đại hơn 6 lần (643%) Con số này đủ để phá sản tất cả các phương án hòan vốn, hiệu quả kinh tế và tài chính

 Cơ sở để khẳng định phải có ĐSCT là nhu cầu đi lại tăng rất nhanh songhành với GDP; nhưng sai số tính toán chính ở chỗ này Khi mức thu nhập

càng cao, GDP có xu hướng tăng chậm lại, và tốc độ gia tăng nhu cầu đi lại cũng giảm vì vậy Ví dụ, nếu dự báo tăng trưởng GDP Hà Nội tăng đều

10%/ năm (theo Nghị quyết thành ủy Hà Nội năm 2010) thì với thu nhậpbình quân 2’000USD/người/năm hiện tại, đến năm 2050, GDP bình quân đầu

người ở Hà Nội sẽ là 90’519USD/năm Liệu người Hà Nội có giàu hơn gấp đôi dân Hoa Kỳ (bây giờ) vào năm 2050 không? Chắc ít người lạc quan dám nghĩ tới điều này bởi chỉ so với ASEAN thôi, sau 10 năm nữa chúng ta sẽ khó lòng tăng trưởng cao và cạnh tranh với họ nếu lương và giá thành sản phẩm cao ngang họ Và nếu không có năng suất lao động cao hơn, cái bẫy các nước thu nhập trung bình sẽ níu kéo GDP của chúng ta ở lại mức mức 3000-6000USD/năm Cơ hội để hóa rồng như Hàn Quốc, Nhật Bản sẽ là bao nhiêu? Và khả năng nhu cầu đi lại tăng cao có đến mức như vậy?

2 Mô hình tính của Vitranss2 cho rằng nhu cầu đi lại tăng liên tục trên nền tăng trưởng kinh tế 6.4%/năm, liên tục trong 40 năm Con số 273000 người/ngày tương đương với tốc độ gia tăng nhu cầu hành khách 10%/năm liên tục

Trang 14

Mô hình tính theo tăng trưởng kinh tế có khả năng sai số lớn do cách chia thị phần cho các loại hình vận tải Giả định chia thị phần cho ĐSCT là 13.5% dường như đến từ mục tiêu trong chiến lược phát triển giao thông của Bộ GTVT Trong khi đó, thị phần vận tải thực tế hình thành do lựa chọn của người tiêu dùng chứ không phụ thuộc vào ý chí chủ quan Nếu

nhu cầu cao, giá thành và chất lượng cao, và khả năng chi trả cao thì ĐSCT

sẽ có thị phần cao và ngược lại Hơn nữa, liệu trong 40 năm tới, các loạihình vận tải khác như đường bộ, đường không có đứng yên để nhìn loại hình

ĐSCT mở rộng thị phần hơn gấp đôi? (hiện thị phần đang từ 4-5%)

Vitranss2 dùng số liệu thống kê hiện trạng, nhưng dự báo lại theo kịch bản tăng trưởng kinh tế, sau đó tính ngược về nhu cầu đi lại, và phân bổ cho ĐSCT Đã có quá nhiều giả định đưa ra để làm nên con số hành khách lớn như vậy Nếu các giả định có vấn đề thì nhu cầu hành khách

sẽ giảm bao nhiêu lần?

Chương 2.ĐSCT dành cho ai?

1 Trong một hệ thống vận tải đường dài liên đô thị, ĐSCT luôn là phân khúc thị phần dành cho nhóm những người thu nhập cao hoặc có khả năng chi trả cao nhất Chất lượng và giá thành luôn đi đôi với nhau nên ĐSCT

luôn có giá thành và giá bán cao hơn các phương tiện khác

 Tại châu Âu, giá vé ĐSCT luôn bằng và cao hơn giá vé máy bay (trừ nhữnglúc khuyến mại) Tàu cao tốc là loại hình đi lại khá ‘thượng lưu’, bởi giá vécủa chúng thường cao hơn vé máy bay, bằng 1,5 lần tàu thường và bằng 2-3lần xe ca đường dài Trung Quốc có nhà nước trợ giá nên ĐSCT ở một số

chặng có giá thành thấp và phù hợp với túi tiền của đa số dân chúng Tuy nhiên, liệu ngân sách Việt Nam có khả năng trợ giá trong khi còn rất nhiều nhu cầu chính sách xã hội khác?

 Cần chú ý là với quy mô vốn nhỏ như hiện nay, chi phí khấu hao hạ tầngđường sắt rất ít do hầu như không xây mới thì hàng năm ngành này vẫn cầnđược trợ cấp khoảng 1000tỉ đồng để đảm bảo duy trì hoạt động, phục vụnhân dân theo giá phê duyệt và đảm bảo yêu cầu duy trì hạ tầng quốc gia.Rủi ro về nợ chỉ là một phần của vấn đề, bởi rủi ro đến từ chính hoạt động

quản lý và khai thác Nếu quy mô đầu tư tăng hàng chục lần, lên cả sáu chục tỉ đô la Mỹ thì ngân sách có đủ khả năng trả giá không nếu các nhà quản lý kinh doanh không kịp ‘lớn’ đủ tẩm và sử dụng vốn hiệu quả như dự kiến?

2 Những người làm giao thông đều biết đường sắt và đặc biệt ĐSCT rất khócạnh với đường bộ về giá thành ở cự ly trung bình và ngắn Ở cự ly dài trên

Trang 15

1000Km thì khó cạnh tranh với loại hình máy bay Hiện nay thị phần hànghóa đường sắt vẫn đang mất dần vào tay đường bộ do tính linh hoạt và giá

thành của loại hình này cao hơn ĐSCT thường phục vụ tốt trong các cung đường trung bình với điều kiện nhu cầu đi lại tương đối ổn định với số lượng lớn, đòi hỏi cao GS Nguyễn Xuân Trục cũng đã chỉ rõ ĐSCT

phục vụ tốt cho những người đi làm (thu nhập khá trở lên) đòi hỏi cao vềchất lượng và thường xuyên dùng chúng Ở châu Âu, Nhật Bản, và Hoa Kỳ,ngày cuối tuần nhu cầu đi lại sụt giảm nên các công ty đường sắt phải giảmgiá khuyến mại vì tàu vẫn phải chạy Nhưng liệu mô hình nhu cầu kháchhàng đi lại trong phân khúc cao cấp này ở Việt Nam có giống như vậy? Vớimức giá dự kiến = 75% máy bay, lượng khách đi lại trên tuyến chủ yếu là du

lịch, trung lưu, và thương gia Vậy mùa du lịch thấp điểm liệu nhà tàu có trụ được về mặt tài chính?

3 Cho đến khi Việt Nam có lượng dân số ở tầng lớp trung lưu đủ lớn (dấu hiệucủa xã hội công nghiệp), có khả năng chi trả cho dịch vụ chất lượng cao vớinhu cầu lớn thì khách hàng tiềm năng đi ĐSCT vẫn là nhóm khách hàng cóthu nhập cao Nếu tính toán nhu cầu khách đi tàu không tăng nhanh như dự

kiến; đầu tư có tàu xong Nhà nước chắc sẽ không bỏ rơi nhà tàu … và

ngân sách nếu bù lỗ sẽ trợ giá cho những người thu nhập khá Điều này

đi ngược lại nguyên tắc cơ bản của chính sách xã hội.

4 Khác với hạ tầng giao thông đường bộ khi đầu tư sẽ cho phép hầu như tất cảmọi người dân trên tuyến tham gia và khai thác sử dụng bằng các loạiphương tiện của mình với mức độ và khả năng chi trả khác nhau (xe ca, xecon, xe máy, kể cả xe bò) Đường bộ và đường sắt thường còn vận chuyển

hàng hóa khối lượng lớn Trong khi đó, ĐSCT không vận chuyển hàng hóa (trừ dạng bưu phẩm nhỏ) ĐSCT cũng chỉ cho phép nhân dân tham gia

sử dụng khi họ dùng tàu với mức ‘giá sàn’ - chắc chắn là cao hơn nhiều sovới đường bộ Nói cách khác, hạ tầng này chỉ trở thành ‘của nhân dân’ khi

họ dùng tàu ‘viên đạn’ Còn không, hạ tầng giao thông này vẫn nằm ngoài tầm với của người dân dọc các tuyến tàu chạy qua.

Đúng là khai thác hiệu quả thương mại phi vận tải có thể có hiệu quả cao.Nhìn chung xây các ga kết hợp làm thương mại sẽ thu lãi cho người đầu tư riêngcác các công trình bất động sản thương mại quanh các ga và trong ga Khôngphải ngẫu nhiên các nhà đầu tư Nhật Bản tỏ ý sẵn sàng đầu tư vào xây dựng các

ga tàu ĐSCT làm thương mại dọc tuyến tăng lên, nhưng chú ý là thu nhập tănglên này cũng đi kèm với suy giảm về thu nhập và giá đất ở nơi khác Giống nhưsau khi có cầu thì những người phục vụ phà sẽ mất việc, giá đất và lưu chuyểnhàng hóa tại các ga và các đô thị có ga tàu tăng lên cũng làm giảm khách đến địa

Trang 16

phương tàu không dừng và giảm giá đất các khu vực xa ga tàu Tính toán hiệu quả kinh tế xã hội thường hay bỏ qua các con số này và cho rằng tất cả đều tăng lên, nhưng không hẳn như vậy.

3 Có còn những vấn đề khác?

5 Việt Nam là nước nông nghiệp còn nhiều vùng lạc hậu, kỷ cương còn lỏnglẻo, tinh thần thượng tôn pháp luật và tính cưỡng chế pháp luật còn yếu Cácnước công nghiệp phát triển và 3 nước công nghiệp mới đang sử dụng ĐSCTđều là các nước có kỷ cương rất nghiêm Khả năng vận hành an toàn ở cácnước này có thể tốt hơn VN đáng kể Cần chú ý là VN có tỉ lệ tai nạn GT vàoloại cao nhất thế giới, và nguyên nhân rất lớn là ý thức trình độ và pháp luậtcòn kém hiệu lực Nếu xảy ra mất an toàn thì ĐSCT cũng có nguy cơ lớn

6 ĐSCT đòi hỏi an toàn cao và cần chú ý là tàu này rất nhạy cảm với thời tiếtnhư sương mù, mưa lớn, ngập lụt, bão, và sạt lở Ở Anh Quốc, mùa lá rụngnhiều cũng làm tàu phải dừng lại bởi tàu không chạy nếu lá che lấp khôngnhìn thấy đường ray Độ tin cậy chạy tàu cao hơn, nhưng khả năng phải dừng

và hoãn tàu của ĐSCT cũng cao hơn nếu tính trên toàn tuyến dài 1570 kmchạy qua rất nhiều vùng địa chất yếu, khả năng sạt lở cao, khí hậu khắcnghiệt

7 Vấn đề an toàn và an ninh liên quan mật thiết đến vấn đề kinh tế - tài chính.Đường sắt Eurostar (nối Anh và Pháp), khi thiết kế dự án là có lãi, và hòanvốn nhanh; nhưng khi chạy thử thấy không thể đảm bảo an toàn cho xe ô tôcác loại đi qua hầm nếu xảy ra cháy Giải pháp cho xe hơi và xe tải chuyểntải lên đường sắt đòi hỏi chi phí lớn và bất tiện nên euro star đã mất khách.Đường hầm này chỉ chủ yếu khai thác chở người đi tàu nên giảm doanh thu

và lỗ hàng tỉ euro Phải nhờ chính phủ Anh, Pháp bảo lãnh vay thì tập đoàn

này mới tránh phá sản Vé tàu này vì thế cũng càng đắt hơn do các chi phí

an tòan và an ninh ngày càng cao

8 ĐSCT Shinkanshen khi xây dựng không thể khai thác đa năng hàng hóa, không cho phép liên kết và đấu nối với các hệ thống ĐS của Việt Nam hiện tại và với quốc tế Hệ thống này cũng không làm tăng khả năng phòng thủ nếu rủi ro chiến tranh ĐSCT là hệ thống dễ bị tổn thương nhất

bởi rất dễ bị phá hoại và tấn công khủng bố Nước Nga có mạng lưới đườngsắt chiến lược sử dụng cả đầu máy chạy bằng nhiên liệu gỗ bởi điện hay dầu

có thể bị cắt khi chiến tranh xảy ra, nhưng lại rất sẵn có ở các cánh rừngSiberi

Trang 17

2.1 Kết luận

9 Để đảm bảo những người quyết định có đủ thông tin về dự án trước khi raquyết định chủ trương đầu tư, cần thẩm định các giả định trong mô hình tínhnhu cầu đi lại và các yếu tố khác như khả năng chi trả, tài chính, năng lựcquản lý, xu hướng cạnh tranh của các loại hình phương tiện

10.Cái chúng ta cần là đáp ứng nhu cầu đi lại phù hợp với khả năng chi trả của

xã hội Phát triển ĐSCT là một lựa chọn, nhưng không phải duy nhất bởi còn

có đường sắt nhanh, đường sắt cận cao tốc với chi phí suất đầu tư thấp hơnnhiều để đáp ứng khối lượng vận chuyển hành khách số lượng lớn

11.Nếu tính toán xong và lựa chọn ĐSCT, cần phân kỳ đầu tư theo yếu tố kinh

tế có lợi nhất Việc quy hoạch ĐSCT vẫn có thể tiến hành theo đề xuất dựkiến, nhưng phân kỳ đầu tư chọn lọc hơn Trong số các cung đoạn tính toán,Vitranss2 dự báo lưu lượng khách TP.HCM – Nha Trang vượt trội so với cáccung đoạn khác Nếu đúng là đường sắt thường, đường bộ cao tốc, và máy

bay cộng lại vẫn không đủ vận chuyển hết khách thì đoạn này sẽ cần đầu tư đầu tiên Cung đoạn này liên kết các chuỗi đô thị du lịch đáp ứng nhu cầu đi

lại của khách hàng có khả năng chi trả cao nên khả năng thành công cũngcao Sau khi khai thác đoạn này chúng ta sẽ có kinh nghiệm quản lý và đầu

tư các đoạn khác như đoạn Hà Nội – Vinh Phân kỳ đầu tư như vậy có tổngmức đầu tư thấp hơn, phù hợp với khả năng cân đối vốn, và huy động vốn từ

xã hội tham gia đầu tư Khả năng hòan vốn của 2 đoạn này sẽ lớn hơn đáng

kể so với các đoạn còn lại do mật độ đô thị cao hơn Khi tiềm lực kinh tế đủmạnh chúng ta có thể làm các đoạn còn lại nối thông các tuyến và không phụthuộc quá nhiều vào vốn đi vay

Hy vọng rằng các đại biểu Quốc hội sẽ có quyết định sáng suốt đúng đắn nhấtcho một dự án có tính sống còn với sự nghiệp phát triển kinh tế, hạ tầng, và đô thịcủa quốc gia trong 20-30 năm tới

Hà Nội, ngày 23/05/10

Trang 18

MÔ HÌNH ĐỐI TÁC CÔNG – TƯ, GIẢI PHÁP CHO PHÁT TRIỂN HẠ TẦNG KỸ THUẬT ĐÔ THỊ VIỆT NAM

ThS Nguyễn Thị Thanh Thủy

Bộ môn QLNN về Đô thị và Nông thôn

ĐẶT VẤN ĐỀ

Tại Việt Nam, những vấn đề về hạ tầng kỹ thuật đô thị đang hàng ngày, hànggiờ trở thành vấn đề được sự quan tâm của cả xã hội trong những năm gần đây.Những năm tới, tốc độ đô thị hóa ở Việt Nam được dự báo là tăng cao sẽ làm chovấn đề này càng trở nên bức thiết hơn Tình hình đó buộc Nhà nước và chính quyềncác đô thị (đặc biệt là các đô thị lớn như Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh) phảinghiên cứu, xem xét tìm hướng giải quyết tốt hơn cho việc phát triển hệ thống hạtầng kỹ thuật đô thị để đáp ứng với đòi hỏi của cuộc sống Bài viết này mong muốngiới thiệu một hình thức hợp tác giữa Nhà nước và chính quyền các đô thị với khu

vực tư nhân - mô hình đối tác công - tư, một giải pháp để giải quyết vấn đề hạ

tầng kỹ thuật đô thị đang đặt ra hiện nay

1 Mô hình đối tác công – tư

Hợp tác đầu tư nhà nước - tư nhân (Public Private Partnership - PPP) là mộtkhái niệm không mới trên thế giới và cũng đã hình thành ở Việt Nam được mộtthời gian dưới hình thức BOT, BTO, BT và đã có những dự án PPP của nhà đầu tưnước ngoài và dự án PPP trong nước trong lĩnh vực phát triển cơ sở hạ tầng và dịch

vụ công

Theo định nghĩa về PPP của Ngân hàng Thế giới (WB) thì mô hình PPP là

quan hệ đối tác giữa khu vực công và khu vực tư nhân để thực hiện một dự án hoặc một dịch vụ do khu vực công đảm nhiệm Còn theo định nghĩa của các chuyên gia

trong nước, đối tác công - tư là hình thức nhà nước và khu vực tư nhân cùng thực

hiện dự án đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội, cung cấp dịch vụ công trên cơ sở hợp đồng phân chia rõ trách nhiệm lợi ích và rủi ro; theo đó một phần hoặc toàn bộ dự án sẽ do khu vực tư nhân thực hiện trên cơ sở đấu thầu cạnh tranh, đảm bảo các lợi ích công cộng, đáp ứng các tiêu chuẩn chất lượng công trình hoặc dịch vụ do nhà nước quy định.

Trên thực tế, mô hình PPP là mô hình đối tác giữa một thành phố (hoặc mộtđơn vị hành chính) với một công ty tư nhân trong đó chính quyền giao cho công ty

tư nhân việc cung cấp một loại dịch vụ hạ tầng kỹ thuật, chính quyền vẫn giữ quyềnchủ quản đối với hạ tầng kỹ thuật đó Hình thức đối tác này kết hợp được giữa sứmệnh công và hiệu quả của doanh nghiệp tư, nó cho phép chính quyền đô thị tiếp

Trang 19

cận được với trình độ tác nghiệp chuyên nghiệp cao của doanh nghiệp đồng thờivẫn giữ được quyền kiểm soát đối với các dịch vụ hạ tầng do tư nhân cung cấp chongười dân Trong mô hình này, mối quan hệ giữa Nhà nước và tư nhân là mối quan

hệ bình đẳng theo những điều khoản được ghi trong hợp đồng

Trong quan hệ đối tác công – tư, sự phân chia vai trò giữa chính quyền và các công ty tư nhân được xác định một cách chặt chẽ theo hợp đồng có ấn định thời hạn, thông thường vai trò của mỗi bên như sau:

Chính quyền Công ty tư nhân

- Đưa ra chính sách

- Giám sát và đánh giá hiệu quả

của công ty tư nhân

- Định giá và mức độ hiệu quả

- Vẫn giữ vai trò sở hữu cơ sở hạ

tầng

- Có mục tiêu hiệu quả

- Quản lý hàng ngày đối với việc xâydựng và cung cấp hạ tầng kỹ thuật

- Đảm bảo tính liên tục của dịch vụ

- Đề xuất chương trình đầu tư vốn vàxem xét dài hạn

Việc áp dụng mô hình đối tác công – tư là cần thiết bởi những lý do sau:

- Thứ nhất, về kỹ thuật: tận dụng được kỹ năng kỹ thuật và cách thức quản lý

tiên tiến của khu vực tư nhân, để nhanh chóng ứng dụng các thành tựu mớinhất về công nghệ trên thế giới từ đó có khả năng lồng ghép hạ tầng kỹ thuậtvới mạng lưới quốc tế

- Thứ hai, về quản lý nguồn nhân lực: tiến hành quản lý nguồn nhân lực linh

hoạt hơn và có hiệu quả hơn do các công ty tư nhân quan tâm hơn đến đàotạo, đánh giá và thúc đẩy nguồn nhân lực trong bối cảnh cạnh tranh tốt hơn

- Thứ ba, về kiểm soát giá cả: đạt được mức giá tối ưu cho cả danh nghiệp và

người sử dụng các dịch vụ công trong khi Nhà nước (chính quyền) vẫn giữđược vai trò kiểm soát giá cả

- Thứ tư, về tài chính: mô hình này là một giải pháp huy động vốn từ khu vực

tư nhân để gánh đỡ những khó khăn về vốn của Nhà nước trong phát triển

hạ tầng kỹ thuật đô thị; thêm vào đó, thì sự vận hành tốt của các công trình

hạ tầng và dịch vụ công sẽ làm tối ưu hóa hệ số chất lượng/ giá cả của đầu

tư và làm giảm nhu cầu đầu tư vốn cho những năm sau.[4]

Mô hình đối tác PPP đã được Giáo sư Fukunari Kimura, thuộc Khoa Kinh tế

- Đại học Keio (Nhật Bản) khẳng định tại Diễn đàn đối tác Nhà nước – tư nhân do

Bộ Kế hoạch và Đầu tư (Việt Nam) phối hợp với Bộ Kinh tế - Thương mại và

Công nghiệp (Nhật Bản) được tổ chức vào tháng 3/2007: “Đây là mô hình đem lại

Trang 20

hiệu quả cao do những lợi ích về tài chính, giảm thiểu rủi ro và xét về mặt cạnh tranh trong quản lý, vận hành thì sẽ hiệu quả hơn so với khu vực Nhà nước đầu tư 100%” Và cũng trong Diễn đàn này, từ những thực tế thu hút đầu tư ở Việt Nam

trong thời gian qua, ông Trần Bộ - Phó Vụ trưởng Vụ Kết cấu hạ tầng (Bộ Kế

hoạch và Đầu tư) đã thừa nhận “Nhu cầu đầu tư cho phát triển cơ sở hạ tầng kinh

tế - xã hội là rất lớn, trong khi khả năng nguồn lực tài chính của Nhà nước không thể đáp ứng được thì việc khuyến khích đầu tư PPP là mô hình đối tác tối ưu hiệu quả đầu tư và cung cấp dịch vụ công cộng chất lượng cao” Như vậy, qua phân tích

lý thuyết và phát biểu của các chuyên gia, nhà quản lý, có thể khẳng định rằng thựchiện mô hình PPP là một giải pháp đối với vấn đề hạ tầng kỹ thuật đô thị bởi môhình này giúp giải quyết vấn đề đặt ra trong hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật đô thị, nógiải quyết được vấn đề vốn, vấn đề hiệu quả đầu tư và vấn đề chất lượng dịch vụ

2 Tại sao cần áp dụng mô hình này trong phát triển hạ tầng kỹ thuật

đô thị ở Việt Nam

Hạ tầng đô thị là lực lượng vật chất nền tảng của đô thị, tất cả các hoạt độngkinh tế, văn hóa, xã hội và đời sống ở đô thị đều tồn tại và phát triển trên nền tảngvật chất này Do vậy, hạ tầng kỹ thuật đô thị là một trong những yếu tố quan trọngnhất thúc đẩy sự phát triển của đô thị Đây cũng chính là tiêu chuẩn để so sánh,đánh giá trình độ phát triển của các đô thị Ngược lại, nếu hạ tầng kỹ thuật đô thịkhông đủ khả năng đáp các nhu cầu của đời sống đô thị sẽ gây ra tác động tiêu cực,cản trở đến tốc độ tăng trưởng của đô thị và gây khó khăn cho các hoạt động ở đôthị Ví dụ như tình trạng ách tắc giao thông sẽ gây lãng phí về thời gian và của cải

xã hội do thời gian đi lại tăng lên, gây ô nhiễm môi trường không khí do khí thảităng; sự yếu kém của hệ thống thoát nước thải sẽ gây ra ngập úng tại các khu vực

đô thị, làm nước thải thoát ra ngoài hoặc tồn đọng hủy hoại đến môi trường sốngcủa dân cư đô thị; thiếu nước sạch sinh hoạt làm đời sống sinh hoạt của người dânkhó khăn và nguy cơ mắc bệnh tật tăng cao,…Dịch vụ công liên quan trực tiếp đếnđời sống của người dân đô thị nên nó chính là yếu tố quan trọng góp phần ổn định

xã hội

Đô thị càng phát triển thì hệ thống hạ tầng kỹ thuật đô thị càng có ý nghĩaquan trọng Sự phát triển của các ngành hạ tầng kỹ thuật đô thị có ảnh hưởng trựctiếp đến sự phát triển kinh tế - xã hội của đô thị Với chức năng làm cầu nối giữasản xuất với sản xuất, giữa sản xuất với tiêu dùng, kết cấu hạ tầng đô thị còn tạomối quan hệ chặt chẽ giữa sản xuất và lưu thông, mở rộng thị trường, mở rộng mốiquan hệ giao lưu giữa các vùng lãnh thổ trong nước và quốc tế, do vậy nó quyếtđịnh đến sự tăng trưởng và phát triển của các ngành, lĩnh vực sản xuất kinh doanh,tạo ra sự thay đổi trong cơ cấu kinh tế đô thị Mặt khác, dịch vụ hạ tầng kỹ thuật đôthị cũng đóng góp rất lớn vào xã hội đô thị, điều đó được biểu hiện ở các vấn đề

Trang 21

như: xã hội trật tự, an toàn; tâm lý thoải mái trong cuộc sống của người dân; lòngtin và sự ủng hộ của dân đối với chính quyền;……

Tại Việt Nam, quá trình thực hiện công cuộc Đổi mới do Đảng khởi xướng

đã đem lại những thành tựu phát triển kinh tế - xã hội to lớn được cả thế giới côngnhận và khâm phục Những thành tựu đó được biểu hiện rõ rệt nhất ở sự phát triển

đô thị Tốc độ phát triển đô thị tăng nhanh, các thành phố lớn có tốc độ tăng trưởnghàng năm cao nhất nước (trên 10%/năm), các thành phố này không ngừng mở rộng

về diện tích (Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh), nhiều đô thị mới ra đời Tuy nhiên,

sự phát triển quá nhanh như vậy cũng bộc lộ rất nhiều sự bất cập giữa nhu cầu vàkhả năng đáp ứng đối với các dịch vụ hạ tầng kỹ thuật đô thị

Trong cuộc hội thảo tại Hội nghị đô thị toàn quốc lần thứ hai được tổ chứcngày 06/11/2009, Bộ trưởng Bộ Xây dựng Nguyễn Hồng Quân đã thừa nhận rằng:

“Tốc độ tăng trưởng và đô thị hóa cao tại phần lớn các đô thị lớn dẫn đến sự mất

cân đối trong khả năng đáp ứng của hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị Nhiều

đô thị cũng đang lúng túng trong việc tìm ra nguồn lực đầu tư hệ thống hạ tầng thoát nước, xử lý chất thải rắn, giao thông đô thị”

Một lượng lớn các dự án đầu tư phát triển, công nghiệp, kết cấu hạ tầng trởthành động lực cho phát triển kinh tế - xã hội và từ đó, tốc độ đô thị hóa ở ViệtNam có sức lan tỏa rộng hơn Số liệu thống kê cho thấy, nếu năm 1997 đạt 20,5%,thì chỉ sau có hai năm tốc độ đô thị hoá đã tăng lên 23,6% và hiện đạt 28% Theo

dự báo của Bộ Xây dựng, năm 2020, tốc độ đô thị hoá tại Việt Nam sẽ đạt khoảng45% Riêng hai thành phố loại đặc biệt là Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, tỷ lệ

đô thị hóa được dự kiến đạt 30 - 32% năm 2010 và nhảy vọt thành 55 - 65% vàonăm 2020 Đi cùng sự phát triển này sẽ cần một nguồn vốn khổng lồ để đầu tư pháttriển đô thị Nhà nước sẽ không thể tự bỏ vốn ra để đầu tư cho nhu cầu này được

Vì vậy, vấn đề quan trọng đặt ra là cần huy động nguồn từ đâu để phát triển cơ sở

hạ tầng đô thị? Với những ý nghĩa và lợi ích đã được phân tích ở trên thì mô hìnhPPP sẽ là một giải pháp cần được lựa chọn để giải quyết vấn đề này.[1,2,3]

3 Những điều kiện để thực hiện mô hình đối tác công – tư ở Việt Nam

Hiện nay, rất nhiều nước trên thế giới đã và đang triển khai thành công môhình đối tác công – tư Các chuyên gia khẳng định rằng quan hệ đối tác công – tưgiữa nhà nước và tư nhân hiện đang là một xu hướng trên thế giới và Việt Namđang nằm trong xu hướng đó

Có thể lấy một số ví dụ điển hình tại một số nước như là một gợi ý để thựchiện tốt mô hình này tại Việt Nam

Tại Trung Quốc, thực hiện mô hình cổ phần Hình thức ưa thích được ápdụng ở Trung Quốc là chính phủ hợp tác với tư nhân thông qua các công ty cổ

Trang 22

phần Trong những năm qua, rất nhiều dự án giao thông đường bộ đã được thựchiện theo hình thức PPP dưới dạng này.

\

Ảnh: Thượng Hải, một thành phố rất thành công trong thực hiện mô hình

PPP ở Trung Quốc (Nguồn: Tài liệu tại Hội thảo quốc tế về “Đối tác công tư” do

chuyên gia CHLB Đức trình bày tại Học viện Hành chính tháng 9/2009)

Các hợp đồng thường là gồm các đơn thầu độc lập với quy mô khác nhau.Nguồn tài trợ trong nước có thể huy động thông qua phát hành trái phiếu quốc tế vàtrong nước hoặc thông qua thị trường dài hạn Cơ cấu tài trợ của nhiều dự án đường

bộ thu phí ở Trung Quốc dựa trên các khoản vay và trái phiếu quốc tế Ngoài ra,chứng khoán hóa cũng được sử dụng như một cách thức tài trợ dự án Điều này còn

có nghĩa là một công ty dự án được niêm yết ở Trung Quốc, điều này chỉ xảy ra chocác công ty có lợi nhuận dương thường xuyên trong ít nhất 3 năm, đây là cách duy

Trang 23

nhất cho tái tài trợ các dựa án Tuy nhiên, một nguy cơ của dự án là mức phí gtTuynhiên, một nguy cơ của dự án là mức phí giao thông ở Trung Quốc khá cao và đangtương đương với nhiều nước phát triển trên thế giới Điều này dẫn tới hệ quả là cáclợi ích kinh tế và tài chính tính toán để hấp dẫn các nhà đầu tư vẫn chưa đạt được

do giao thông được định giá quá cao

Tại Hàn Quốc, chương trình PPP được bắt đầu từ năm 1994 với Luật Thúcđẩy tư nhân đầu tư vốn cho toàn xã hội Chương trình này nhằm xây dựng mộtchính sách nhất quán trong các lĩnh vực khác nhau Sau Luật này, đã có khoảng

100 dự án hạ tầng được thực hiện theo hình thức PPP Tuy nhiên, trong 4 năm đầuchỉ có 42 dự án được hoàn thành Do sự thành công còn hạn chế, chính phủ HànQuốc đã phải ban hành Luật PPP mới vào tháng 2/1998 Luật này đã cải thiện hìnhthức các hợp đồng, cách thức xử lý các dự án đơn lẻ, đồng thời quy định nghiêncứu khả thi bắt buộc, hệ thống hỗ trợ rủi ro khác nhau và thiết lập hẳn một trungtâm PPP mang tên PICKO Ngoài ra, Hàn Quốc còn khuyến khích sự phát triển củaPPP bằng việc miễn giảm cả thuế VAT Trong nhiều hợp đồng, có thể đàm phán,chính phủ có thể bảo lãnh doanh thu lên tới 90%, điều này khiến cho khu vực tưnhân hầu như không có rủi ro doanh thu mà phần rủi ro này được phần lớn chuyểnsang chính phủ Chính vì vậy mà tốc độ phát triển của các dự án PPP tăng lênnhanh chóng

Đối với Việt Nam, các chuyên gia Nhật Bản gợi ý là cần xây dựng một môhình riêng khi đề cập việc xây dựng mô hình PPP tại Việt Nam Lý giải về điềunày, ông Toru Mihara - GĐ Viện Chiến lược toàn cầu của Mitsui cho rằng, do sựkhác nhau về các yếu tố lịch sử, hoàn cảnh kinh tế - xã hội, nên mô hình PPP ở mỗiquốc gia cũng khác nhau, được thiết lập tuỳ theo tình trạng của nền kinh tế và cácchính sách công đi kèm Bởi vậy, để mô hình hợp tác PPP thành công, quan trọngtrong lúc này là Việt Nam phải có một sự lựa chọn chính sách hợp lý [5]

Để thu hút nguồn lực rất lớn từ trong dân vào phát triển đô thị thì nhữngchính sách về tín dụng, về qui hoạch cần phải được minh bạch hơn nữa Coi tưnhân là đối tác quan trọng nhất cùng nhà nước trong phát triển đô thị Các cơ quannhà nước cần chuyển dần từ “ban phát” sang là người bảo vệ (bằng pháp luật), hỗtrợ (bằng chính sách), tạo điều kiện (vật chất và tinh thần) cho đô thị phát triển Lúc

đó, Nhà nước sẽ đóng vai trò là “nhà tổ chức” và “điều phối viên” đảm bảo cho mọinguồn lực xã hội được huy động tối đa, hiệu quả và các thành phần tham gia bìnhđẳng vào phát triển đô thị

Trang 24

Ảnh: Dự án trục đường Lê Văn Lương kéo dài do Tập đoàn Nam Cường làm

chủ đầu tư là điển hình cho mô hình hợp tác PPP tại Hà Nội

(Nguồn: http://dddn.com.vn)

Từ thực tiễn phát triển cơ sở hạ tầng, học hỏi kinh nghiệm của một số quốcgia thực hiện mô hình PPP, tác giả bài báo đưa ra một số gợi ý để áp dụng mô hìnhnày tại các đô thị của Việt Nam như sau:

Một là, Nhà nước cần xây dựng một cơ chế hỗ trợ đối với các dự án thực hiện theo mô hình PPP.

Một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng tới sự thành công của mô hìnhnày là vốn đầu tư Vốn đầu tư đến từ nhiều nguồn, trong đó vốn tự có thường chỉchiếm 30%, còn lại là đi vay Các đối tác cho vay sẽ tính toán và đặt niềm tin vàohiệu quả của dự án nên nếu không có sự tham gia của Nhà nước thì khả năng huyđộng là rất khó khăn Mặt khác, các nhà đầu tư cũng hỗ trợ các dự án theo mô hìnhPPP với tư cách là người bảo lãnh và xúc tiến khả thi như hỗ trợ các nhà đầu tư huyđộng vốn dài hạn thông qua phát hành trái phiếu công trình, hỗ trợ phần còn thiếuthông qua phát hành trái phiếu Chính phủ và ngân sách Nhà nước hoặc xây dựngcác quỹ đầu tư phát triển đô thị

Trang 25

Hai là, Nhà nước cần quy định khung khổ ổn định, làm môi trường pháp lý

và kinh tế có thể dự kiến trước ở mức tối đa và giảm thiểu nguy cơ có thay đổi lớn về quy tắc trong quá trình thực hiện mối quan hệ đối tác.

Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tại Việt Nam hiện nay có khoảng 80 dự ántheo hình thức BOT (xây dựng – kinh doanh – chuyển giao, đây là một trong cáchình thức của mô hình PPP) với tổng số vốn đầu tư khoảng 90.000 tỷ đồng nhưnghầu hết các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng là không thành công bởi thiếu khung pháp lýthống nhất và đồng bộ mặc dù đã có Nghị định số 78/2007/NĐ - CP về đầu tư theohình thức hợp đồng BOT, BTO, BT, nhưng bản thân văn bản pháp lý cao nhất nàycũng đang tồn tại nhiều bất cập làm hạn chế thu hút đầu tư tư nhân trong nước vànước ngoài Việc thiếu năng lực quản lý cũng như thể chế pháp luật liên quan đãdẫn đến tình trạng các cơ quan nhà nước bị “hớ” trong quá trình thương thảo hợpđồng với các nhà đầu tư tư nhân, dẫn đến tâm lý “cảnh giác” với giới đầu tư tưnhân Ông Đặng Huy Đông, Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư nói “Các cơ quannhà nước không có đủ thông tin thì làm sao có thể đứng ra đại diện cho lợi ích củanhân dân và của quốc gia để đàm phán các dự án với tư nhân” Đánh giá của quanchức này thể hiện mối lo ngại nói chung của các nhà hoạch định chính sách trongviệc thu hút đầu tư tư nhân vào phát triển cơ sở hạ tầng [5]

Do vậy, cần xây dựng khung khổ quy định cơ bản định hướng cho quan hệđối tác giữa Nhà nước và tư nhân để tránh những mâu thuẫn quyền lợi, xây dựngniềm tin đối với những đối tác góp vốn Những quy định này phải mang tính ổnđịnh để các nhà đầu tư tư nhân được đảm bảo lợi ích trong quan hệ đối tác với Nhànước và do vậy họ mới yên tâm tham gia vào các dự án phát triển hạ tầng kỹ thuật

đô thị thông qua hình thức PPP

Thứ ba, mối quan hệ đối tác PPP cần được thực hiện thông qua ký kết một hợp đồng tốt.

Một hợp đồng là quy định các hành vi chuẩn mực cho một mối quan hệ, dovậy để mối quan hệ đối tác công – tư diễn ra được lâu dài thì cần phải xây dựngđược một hợp đồng tốt Hợp đồng PPP tốt là trong đó quy định một cách rõ ràngquyền và trách nhiệm và nghĩa vụ của Nhà nước (hay chính quyền đô thị), của tổchức tư nhân tham gia đối tác, đồng thời cũng cần xác định rõ các mục tiêu và tiêuchí hiệu quả của dự án để làm cơ sở đánh giá kết quả thực hiện Thêm vào đó, tronghợp đồng cũng cần có những điều khoản cho phép có sự điều chỉnh bởi những vấn

đề có thể xảy ra mà không dự kiến trước được do việc thực hiện công trình hạ tầng

kỹ thuật đô thị có thể được tiến hành trong một thời gian dài nên chịu ảnh hưởngcủa rất nhiều yếu tố thay đổi (giá cả vật liệu xây dựng, thời tiết,….)

Thứ tư, cho phép phía tư nhân đủ quyền tự chủ để thực hiện được nhiệm vụ của họ một cách hiệu quả.

Trang 26

Quyền tự chủ là một đảm bảo cho các doanh nghiệp tư nhân đối tác với Nhànước phát huy hết được khả năng chuyên môn của họ Quyền tự chủ này càng đượcđảm bảo khi Nhà nước tạo điều kiện hỗ trợ phía tư nhân về các mặt thủ tục cấp vốn,thanh quyết toán thuận lợi, nhanh gọn, công khai hóa thông tin, đảm bảo kiểm toánminh bạch.

KẾT LUẬN

Hạ tầng kỹ thuật và dịch vụ hạ tầng kỹ thuật đô thị luôn là vấn đề trọng tâmcủa Nhà nước và chính quyền của tất cả các đô thị bởi nó là tiền đề cho sự pháttriển của đô thị Vấn đề này càng trở nên nặng nề hơn khi Việt Nam bắt đầu bướcvào thời kỳ phát triển theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa với nhu cầu đòihỏi khối lượng xây dựng hạ tầng kỹ thuật vô cùng lớn, do vậy, điều kiện tiên quyết

để có thể giải quyết vấn đề hạ tầng kỹ thuật đô thị đó là tìm ra phương thức cùngvới các chính sách để có thể huy động được các nguồn vốn từ khu vực tư nhân và

cả bên ngoài Một trong những cách thức đó là thực hiện mô hình đối tác công – tưPPP với những các giải pháp đã được nêu trên./

Tài liệu tham khảo

1 Nguyễn Hồng Tiến, Thực trạng hạ tầng kỹ thuật đô thị, theo

http:/www.baoxaydung.vn ngày 06/11/2009;

2 Báo Kinh tế đô thị, Hạ tầng kỹ thuật đô thị: thiếu và yếu, ngày 11/12/2008;

3 Hiệu quả đầu tư cơ sở hạ tầng đô thị Hà Nội từ vốn ngân sách Nhà nước,

(Tham luận của Đại diện UBND thành phố Hà Nội tại Hội thảo “Hiệu quảđầu tư trong xây dựng cơ bản” của Tổng Hội Xây Dựng Việt Nam tổ chứcvào tháng 5/2007);

4 Tài liệu tại Hội thảo quốc tế về “Đối tác công tư” do chuyên gia CHLBĐức trình bày tại Học viện Hành chính tháng 9/2009;

5 http://dddn.com.vn

6 http://vietnamnet.vn

Trang 27

MỘT SỐ Ý KIẾN VỀ ĐỔI MỚI NỘI DUNG GIẢNG DẠY MÔN HỌC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ NÔNG NGHIỆP VÀ NÔNG THÔN

ThS Nguyễn Quốc Tuấn

Phó Giám đốc Trung tâm Tin học – Thư việnGiảng viên kiêm chức Bộ môn QLNN về Đô thị & Nông thôn

Qua thực tiễn giảng dạy và tham gia biên tập, ấn hành Giáo trình Quản lýnhà nước về Nông nghiệp và Nông thôn, tác giả xin có một số ý kiến nhỏ về việcđổi mới nội dung giảng dạy môn học QLNN về Nông nghiệp và Nông thôn:

1 Giáo trình QLNN về Nông nghiệp và Nông thôn cho các hệ đào tạo tạiHọc viện Hành chính đã được biên soạn và ấn hành chính thức từ năm 1997 đếnnay và đã qua nhiều lần chỉnh lý, bổ sung Đây là một công trình nghiên cứu khoahọc nghiêm túc của đội ngũ cán bộ quản lý, cán bộ nghiên cứu khoa học, đội ngũcán bộ giảng dạy của Bộ môn QLNN về Đô thị & Nông thôn; là kết quả của việctrao đổi và đóng góp ý kiến quý báu của các nhà giáo, nhà nghiên cứu khoa học,của học viên, sinh viên trong và ngoài Học viện Hành chính Bộ giáo trình đã đượcđưa vào giảng dạy chính thức theo các loại hình đào tạo của Học viện Hành chính,đáp ứng được nội dung chương trình khung theo quy định của Bộ Giáo dục & Đàotạo, đồng thời đây cũng là bộ giáo trình giảng dạy chính thống và đáp ứng được yêucầu học tập của học viên, sinh viên theo học các hệ đào tạo, bồi dưỡng tại Học việnHành chính tương thích với điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước trong từng giaiđoạn cụ thể Có thể nói, tập giáo trình đã hoàn thành sứ mạng lịch sử trong giảngdạy và học tập từ năm 1997 đến nay

2 Trước yêu cầu đổi mới nội dung chương trình, phương pháp dạy và họccủa Bộ Giáo dục & Đào tạo nói chung và của Học viện Hành chính nói riêng, đặcbiệt, trước đòi hỏi ngày càng cao về mặt lý luận, kiến thức chuyên môn và thực tiễncủa người học, nhất là trong giai đoạn thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toànquốc lần thứ XII của Đảng Cộng sản Việt Nam và tiếp tục thực hiện sự nghiệpcông nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước từ nay đến năm 2020, theo ý kiến cánhân, bộ giáo trình cần tiếp tục được chỉnh lý và bổ sung, cập nhật thông tin, mới

có thể đáp ứng yêu cầu của người học và người giảng

3 Thực hiện chủ trương của lãnh đạo Học viện về việc đổi mới nội dunggiáo trình, đề cương bài giảng, đưa thêm các môn học chuyên ngành vào chươngtrình khung của các hệ đào tạo tại Học viện Hành chính; trong quá trình biên soạnlại nội dung của các môn học thuộc chương trình chung, việc giảng dạy môn học

Trang 28

QLNN về Nông nghiệp và Nông thôn vẫn hết sức cần thiết Theo ý kiến cá nhântôi, việc biên soạn, chỉnh lý lại nội dung giảng dạy môn học QLNN về Nôngnghiệp và Nông thôn cần tập trung theo hướng:

3.1 Thực hiện chủ trương của Bộ Giáo dục & Đào tạo chuyển các môn học

lý luận cơ sở (Triết học Mác – Lênin, Kinh tế chính trị học Mác – Lênin, Chủ nghĩa

xã hội khoa học) thành môn học Nguyên lý cơ bản về Chủ nghĩa Mác-Lênin, ngoàinhững nguyên lý cơ bản nói trên, trong quá trình giảng dạy cần bổ sung các kiếnthức về Triết học Mác – Lênin, Kinh tế chính trị học Mác – Lênin, Chủ nghĩa xãhội khoa học vào các môn học cụ thể

Đối với môn học QLNN về Nông nghiệp và Nông thôn (có liên quan đến đốitượng con người – giai cấp nông dân), có thể khảng định, QLNN về nông nghiệp vànông thôn là lĩnh vực kinh tế quan trọng, liên quan đến yếu tố con người, vừa chịuảnh hưởng của các điều kiện tự nhiên, vừa chịu ảnh hưởng của các yếu tố xã hộitrong từng giai đoạn cụ thể, do vậy cần đưa những nguyên lý cơ bản của Chủ nghĩaMác Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và thực tiễn Việt Nam vào biên soạn giáo trình,xây dựng đề cương bài giảng và giáo án; muốn vậy cần trả lời các câu hỏi:

a Đánh giá thành tựu, ưu, nhược điểm của quá trình phát triển nông nghiệp

và nông thôn thật sự duy vật biện chứng và duy vật lịch sử

Quá trình phát triển Nông nghiệp, Nông thôn và vấn đề Nông dân đã có đủđiều kiện, tiền đề:

+ Chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng:

- Có lúc nào duy ý chí và siêu hình không?

- Đã tuân thủ chặt chẽ 2 nguyên lý (mối liên hệ phổ biến và phát triển khôngngừng) hay chưa? (đã đặt vấn đề quản lý, phát triển nông nghiệp, nông thôn và vấn

đề nông dân trong tổng thể các mối quan hệ xã hội, có liên quan chặt chẽ, có cơ cấukinh tế hợp lý với lĩnh vực công nghiệp, dịch vụ chưa? Quá trình này đã phổ biến

và không ngừng phát triển hay không?);

- Đã tuân thủ các quy luật tự nhiên và xã hội (vấn đề đấu tranh giữa các mặtđối lập, giải quyết triệt để các mâu thuẫn; đã tuân thủ quy luật phủ định của phủđịnh hoặc lượng đổi thì chất đổi hay chưa? Hay chỉ tích luỹ về lượng nhưng chưavượt qua giới hạn độ đã mong muốn có sự vật, hiện tượng khác xảy ra?);

- Việc vận dụng 6 cặp phạm trù trong quá trình quản lý và phát triển lĩnh vựcnông nghiệp, nông thôn và vấn đề nông dân như thế nào?

- Lý luận về nhận thức trong thực tiễn, đặc biệt giai đoạn trước thời kỳ đổimới – 1986?

+ Chủ nghĩa duy vật lịch sử:

Trang 29

- Đã nghiên cứu kỹ triết học Mác – Lênin về hình thái kinh tế - xã hội?

- Về vấn đề giai cấp, đấu tranh giai cấp và vấn đề dân tộc trong giai đoạnhiện nay?

- Vấn đề cách mạng xã hội và Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa (cuộcđấu tranh ai thắng ai giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản, việc phát triển kinh

tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với việc giảm và triệt tiêu các khuyết tậtcủa kinh tế thị trường trong việc phát triển nông nghiệp, nông thôn và chăm lo đờisống giai cấp nông dân; vai trò của Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam trongvấn đề liên minh công – nông và tầng lớp trí thức XHCN trong giai đoạn côngnghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước)

- Vấn đề ý thức xã hội, đặc biệt là ý thức pháp luật của giai cấp nông dân(chiếm tới 70% dân số Việt Nam)?

- Vấn đề tiến bộ xã hội nói chung và tiến bộ xã hội ở khu vực nông nghiệp vànông thôn đã đạt được những thành tựu gì, còn những gì cần phải khắc phục trongquá trình QLNN ở lĩnh vực này?

- Một số vấn đề triết học về con người (trong đó, đã thật sự đặt con ngườivào vị trí trung tâm của mọi chiến lược phát triển kinh tế - xã hội? việc phân phốilợi nhuận trong khu vực nông nghiệp, nông thôn đã đảm bảo lợi ích người lao động

- tập thể và Nhà nước với cơ cấu hợp lý? việc liên kết giữa nhà quản lý, nhà nông,nhà khoa học và doanh nghiệp đã thật sự tốt chưa?)

b Kinh tế nông nghiệp, nông thôn đã tuân thủ các quy luật kinh tế cơ bản:

- Quan hệ sản xuất đã thật sự phù hợp với tính chất và trình độ lực lượng sảnxuất, đặc biệt trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội?

- Quy luật giá cả và giá trị (trong quá trình sản xuất, phân phối và lưu thông?Trong quá trình tái sản xuất mở rộng? vấn đề trích giá trị lao động xã hội để tái sảnxuất mở rộng, phát triển kinh tế nông nghiệp và nông thôn, làm quỹ phúc lợi xãhội, cung cấp dịch vụ và hàng hoá công ở khu vực nông nghiệp và nông thôn diễn

ra như thế nào?)

- Quy luật cung - cầu trong khu vực kinh tế nông nghiệp (đảm bảo an ninhlương thực, dự trữ quốc gia, dự trữ chính phủ, dự trữ sản xuất - kinh doanh và dựtrữ lưu thông và tiêu dùng? vấn đề xuất nhập khẩu máy móc, trang thiết bị, phânbón, hoá chất, ứng dụng khoa học-công nghệ trong phát triển nông nghiệp và nôngthôn?)

- Vấn đề hội nhập kinh tế nông nghiệp và nông thôn với các nước trong khuvực và trên thế giới, đã tuân thủ đầy đủ các luật chơi hay chưa (pháp luật quốc tế đãđược cụ thể hoá thành pháp luật trong nước)?

Trang 30

c Vấn đề kiến trúc thượng tầng và hạ tầng cơ sở ở nông thôn:

- Vai trò và vị trí của kiến trúc thượng tầng ở khu vực nông nghiệp và nôngthôn (hệ thống pháp luật, cơ cấu tổ chức bộ máy nhà nước ở nông thôn, vấn đề đạođức XHCN ở khu vực này? );

- Hạ tầng cơ sở (đặc biệt là kết cấu cơ sở hạ tầng: đường, điện, trường trạm,

cơ sở chăn nuôi, chế biến tại chỗ, việc ứng dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật, côngnghệ? )

d Vấn đề nông dân:

Việc đáp ứng nhu cầu vật chất và tinh thần của nông dân, đánh giá năng lựcchuyên môn, trình độ quản lý, khả năng cống hiến, vấn đề đào tạo tại chỗ, đào tạo

từ xa; chú trọng tâm lý giai cấp v.v…

3.2 Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam, của Nhà nước Việt Nam và vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong quá trình QLNN về nông nghiệp, nông thôn

và nông dân:

- Tính kế thừa và phát huy những quan điểm của Đảng và Nhà nước trongviệc phát triển kinh tế nông nghiệp và nông thôn, trong quản lý và phát huy vai tròcủa nông dân, đặc biệt từ năm 1986 đến nay;

- Chú trọng quan điểm Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 khoá X của ĐảngCộng sản Việt Nam, về nông nghiệp, nông dân và nông thôn;

- Các quan điểm của Đảng tại Đại hội đại biểu toàn quốc Đảng Cộng sảnViệt Nam lần thứ XII

Tất cả những chủ trương, đường lối, nghị quyết, cương lĩnh của Đảng cầnđược cụ thể hoá thành Hiến pháp, Luật và trong việc xây dựng hệ thống văn bảnquy phạm pháp luật, trong quá trình hoạch định chính sách, ra quyết định quản lý,hình thành các chế độ, chính sách cụ thể Việc áp dụng những tư tưởng và các quanđiểm trên trong quá trình biên soạn giáo trình, tài liệu tham khảo, xây dựng đềcương bài giảng và giáo án./

Trang 31

Tiềm năng và động lực phát triển đô thị ở Nghệ An

TS Nguyễn Ngọc Hiếu và CN Lê Hoàng Oanh

Những năm gần đây, khu vực Bắc Trung Bộ là địa bàn còn có tỷ lệ đô thị hóa thấp, nhưng kỳ vọng sẽ có nhiều thay đổi lớn trong giai đoạn tới Một số phân tích về quá trình đô thị hóa và phát triển không gian ở Nghệ An sẽ cung cấp thêm những thông tin để đánh giá sát hơn khả năng và động lực tăng trưởng nhằm phục vụ xây dựng chiến lược đô thị hóa bền vững trên địa bàn ở một tỉnh nông nghiệp đang trong thời kỳ công nghiệp hóa

Chương 3.Giới thiệu

Nghệ An là tỉnh có diện tích lớn nhất cả nước (1,6 triệu ha) với đầy đủ các dạngđịa hình Về mặt lãnh thổ, Nghệ An chia làm 3 vùng: vùng miền núi, vùng đồngbằng và vùng ven biển Mỗi vùng có một tiềm năng, thế mạnh khác nhau để pháttriển kinh tế Hiện nay, vùng phát triển nhất là vùng đồng bằng, vùng miền núi rộnglớn, nhiều tiềm năng nhưng là nơi kinh tế chậm phát triển, tỉ lệ hộ đói nghèo cao,sản xuất chủ yếu ở quy mô nhỏ, manh mún Dân số cả tỉnh (2009) là trên 3 triệungười, nhưng chỉ có trên 300 ngàn thị dân Tỉ lệ đô thị hóa cả tỉnh khoảng 12,6%,một trong những nơi thấp nhất trong cả nước

Chương 4.Phân bố không gian đô thị ở Nghệ An

Về mặt không gian, các đô thị ở Nghệ An được phân ra làm ba vùng chính vớimật độ dân số chênh lệch rất đáng kể:

 Vùng Vinh - Cửa Lò mật độ trên 3.000 người/km2;

 Vùng đồng bằng ven biển, 610 người/km2;

 Và vùng núi: Tây Bắc: 106 người/km2, và Tây Nam: 67 người/km2

Dân cư đô thị ở Nghệ An phân bố rất không đều, tập trung đến 60% tại thànhphố Vinh (số liệu 2009) Hệ số primate là 4.6 (nếu tính theo hệ số quy mô so với đôthị kế cận) cho thấy mức độ chi phối của thành phố Vinh so với các đô thị còn lại

về mặt kinh tế và xã hội là rất lớn bởi phân bố dân cư đi kèm với sức nặng kinh tế,ngành nghề, và trình độ lao động

Về vấn đề phát triển không gian, hầu hết các đô thị ở Nghệ An đã được quyhoạch và quy hoạch lại trong giai đoạn từ 2000 đến 2009 Sau khi quy hoạch lại,hầu hết các đô thị đã được cấp thêm quỹ đất để phát triển, bao gồm cả sáp nhập các

xã ngoại thị và khai thác đất chưa sử dụng trong nội thị Việc mở rộng phạm vi đấtnội thị góp phần làm giảm mật độ dân cư về tổng thể; nhưng không hẳn đã giảmmật độ dân cư ở khu vực trung tâm bởi đa phần quá trình cải tạo đều nâng tầng nhà,

Trang 32

gián tiếp tăng thêm không gian sống và có khả năng bố trí thêm dân cư vào trungtâm các thị trấn, thị xã, và thành phố

Về mặt đất đai, không gian dành cho phát triển đô thị được phân bố khá gần vớiphân bố dân số, tức là vẫn đang tập trung cao ở thành phố Vinh và thị xã Cửa Lò.Tuy nhiên, phân bố diện tích nội thị so với dân số cũng có một số khác biệt nhấtđịnh Thành phố Vinh và thị xã Cửa Lò vẫn có quỹ đất nội thị lớn, Quỳnh Lưu vàHưng Nguyên cũng có quỹ đất nội thị lớn, vượt trội hơn so với các đô thị khác ởvùng đồng bằng, dù cho dân số nội thị ở khu vực này chưa nhiều

So sánh mật độ dân số chung giữa các huyện cho thấy mật độ dân số khá thấp ởngoại thị tại Vinh và Cửa Lò Điều này phản ánh hai đô thị này có quỹ đất khá dồidào có thể dành cho phát triển Trong khi đó, mật độ dân số tại trung tâm các đô thịtrung tâm huyện đồng bằng khác khá cao nhưng ngoại thị cũng đã cao Quỹ đất mởrộng đô thị tại các huyện đồng bằng vì thế ít hơn Ngược lại, các thị trấn vùng caonhư Quỳ Châu, Quỳ Hợp, Con Cuông, Tương Dương, Kỳ Sơn thì mật độ dân số đôthị khá thấp Trong số các thị trấn vùng cao, riêng Quỳ Hợp có mật độ dân số nộithị khá cao do thiếu quỹ đất phát triển Với hiện trạng và xu hướng phát triển hiệntại, khu vực ngoại thị của thành phố Vinh và Cửa Lò sẽ phát triển mở rộng nhanhhơn so với các huyện thị khác do điều kiện thuận lợi về mật độ dân số, tốc độ tăngtrưởng, và sức ép tăng trưởng từ nội thị có mật độ cao

Khu vực các huyện đồng bằng có mật độ dân cư ngoại thị và nội thị chênh lệchkhông lớn Đây chính là khu vực tiềm năng phát triển các thị tứ bởi mật độ dân cưngoại thị đã cao rất cần sự phân bố lại để hợp lý hóa sản xuất và thương mại, dịch

vụ Trong số các huyện vùng đồng bằng, Diễn Châu là nơi có tiềm năng phát triểndân số đô thị cao hơn nếu xét riêng từ góc độ phân bố dân cư theo mật độ

Căn cứ vào một số chỉ tiêu trên, có thể đưa ra dự báo sơ bộ là Nghệ An có tiềm năng phát triển đô thị tại chỗ, nhất là các huyện đồng bằng hiện có mật

độ dân số cao Đa số các đô thị nhỏ (thị trấn) sẽ hình thành chủ yếu từ các thị

tứ làm động lực cho quá trình đô thị hóa.

Chương 5.Các cực tăng trưởng ở Nghệ An

Hiện trạng đô thị của Nghệ An có 7 trung tâm đô thị quan trọng, đó là Vinh,Cửa Lò, Thái Hòa, Hoàng Mai, Con Cuông, Phủ Diễn, và Đô Lương Nếu đồngnhất động lực phát triển của đô thị với tiểu vùng và đô thị với công nghiệp thì đây

là 7 khu vực động lực phát triển của Nghệ An Xét theo vùng kinh tế thì Vinh vàDiễn Châu có giá trị sản lượng tính theo đơn vị lãnh thổ lớn nhất chiếm tới 26%

GDP cả tỉnh (Xem hình dưới) Kế đến là Quỳnh Lưu với 12% Trong số các đơn vị

huyện có trên 5% GDP chỉ có Diễn Châu, Thanh Chương, Yên Thành, Nghi Lộc,Quỳ Hợp, và Nghĩa Đàn (nếu tính cả thị xã vào trong huyện)

Trang 33

Hình 1: So sánh GDP của các trung tâm tiểu vùng Nghệ An năm 2009

Tuy nhiên, nếu xét theo đô thị nói riêng thì cơ cấu này không đồng nhất docác khu vực đóng góp GDP đáng kể lại có nguồn gốc sản xuất nông nghiệp và dân

số đông Nếu xét trên chỉ tiêu đô thị thuần túy thì thành phố Vinh vẫn chi phối cảvùng xét về nhiều mặt chỉ tiêu Về mặt sản lượng kinh tế, dân cư đô thị, và nhiềumặt khác như nguồn lực tài chính, kỹ thuật Sự ảnh hưởng của thành phố Vinh đếnvới các đô thị khác còn thông qua các mạng lưới phân phối, cung cấp nguyên liệu,

và còn nhiều dạng khác nữa

Tuy nhiên, cực tăng trưởng này đang có sự dịch chuyển và biến động tronggiai đoạn sắp tới với các chiến lược biển, chiến lược phát triển khu công nghiệp vàkhu kinh tế ở hai đầu tỉnh, các chiến lược về nông nghiệp, phát triển dịch vụ vàthương mại Những thay đổi về địa bàn đầu tư (trước tiên là đô thị và khu côngnghiệp) sẽ giúp hình thành những đô thị mới làm thay đổi cán cân các cực tăngtrưởng ở đô thị

Trang 34

Vai trò động lực phát triển của Vinh và vùng kinh tế đông nam vẫn chiếm vịtrí then chốt (xấp xỉ 70% về dân số và 40% về diện tích Phân tích dưới đây so sánhcác viễn cảnh năm 2020 với hiện nay 2010 (số liệu sử dụng 2006) cho thấy sự vươnlên của một số trung tâm mới như Con Cuông, Đô Lương, hay Phủ Diễn chưa đủlớn; trong khi đó, sự ảnh hưởng của Thái Hòa và Hoàng Mai là hai trung tâm đô thị

có vai trò ngày càng quan trọng đối với sự phát triển kinh tế xã hội của Nghệ An.Trong quá trình đó, sức hút từ Vinh và Cửa Lò có suy giảm, song không nhiều,nhất là ở Vinh giữa hai kỳ quy hoạch

dân số 2020

diện tích 2006

diện tích quy hoạch 2020

Các chỉ tiêu so sánh

Thị xã Đô Lương

Thị xã Phủ Diễn (Diễn Châu)

Thị xã Con Cuông

Thị xã Hoàng Mai (Quỳnh Lưu)

Thị xã Thái Hoà Thị xã Cửa Lò Thành phố Vinh

Hình 2: biến động về cơ cấu các trung tâm tăng trưởng đô thị ở Nghệ An giữa hai kỳ quy hoạch 2006 và 2020.

Với kỳ vọng tăng trưởng cao về dân số và diện tích đô thị ở một số khu vựctrọng điểm, cơ cấu dân số và diện tích các đô thị Nghệ An năm 2020 sẽ có nhiềuthay đổi so với năm 2006 Hình vẽ dưới đây mô tả sự biến động về hai chỉ tiêu này

ở 7 đô thị sẽ trở thành cấp huyện tương lai

Trong viễn cảnh này, thành phố Vinh vẫn có sự vượt trội về dân số và diệntích, nhưng mật độ dân số không cao Thị xã Đô Lương và Phủ Diễn sẽ có mật độdân số cao hơn thành phố Vinh Sự biến động về diện tích đô thị cũng rất đáng kểbởi hầu hết các đô thị này đều có ranh giới mới mở rộng đáng kể Chỉ trừ ĐôLương và Cửa Lò không tăng nhiều về diện tích Tuy nhiên, Cửa Lò vốn đã có mật

độ dân số thấp so với các huyện miền biển nên nhu cầu tăng không nhiều

Trang 35

Hình 3: so sánh một số chỉ tiêu phát triển cơ bản của 7 cực tăng trưởng

đô thị lớn ở Nghệ An trong giai đoạn 2006-2020

(Nguồn: phân tích tổng hợp từ số liệu thống kê của tỉnh)

Có thể nói, sự tăng trưởng đô thị trong giai đoạn sắp tới cũng không làm thayđổi đáng kể sự phân bố dân cư đô thị theo vùng Chỉ có ba khu vực tăng trưởng cólàm thay đổi tính chất khu vực là Hoàng Mai, Thái Hòa, và Con Cuông Cùng với

Đô Lương, Phủ Diễn, và Cửa Lò, các cực phát triển mới này sẽ có sức hút lớn hơntrong phát triển các ngành kinh tế phi nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Tuy nhiên,cần lưu ý là tỉ trọng dân số của 6 cực còn lại này cũng mới bằng có ½ tỉ trọng dân

số của riêng thành phố Vinh Điều này cho thấy sức hút của Vinh vẫn rất lớn saunăm 2020

Chương 6.Kỳ vọng về tốc độ tăng trưởng đô thị hóa

Giai đoạn 2010-2025 là giai đoạn tỉnh Nghệ An kỳ vọng bứt phá về phát triển

đô thị So với giai đoạn trước (2000 – 2008), tốc độ tăng trưởng kỳ vọng tăng 8lần, từ trên dưới 1%/năm lên đến 8%/năm 2010 – 2015 và 2020 đề xuất tăng ở mức10%/năm3 Đây là mức tăng trưởng hơn gấp đôi bình quân cả nước và cao hơn bìnhquân của khu vực Hà Nội

Ngày đăng: 31/12/2013, 23:06

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w