1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

QUY HOẠCH TỔNG THỂ ĐIỀU TRA CƠ BẢN TÀI NGUYÊN NƯỚC

20 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 57,87 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quản lý tài nguyên nước là tổng hợp các biện pháp, luật pháp, chính sách kinh tế, kỹ thuật, tổ chức. Quản lý và vận hành cần thiết để quy hoạch, xây dựng các công trình sử dụng nguồn nước . Cũng như thực hiện quản lý nguồn nước của lưu vực sông ( theo Savanije1997). Quản lý tài nguyên nước kết hợp các tài nguyên khác. Nhằm tối đa hóa các lợi ích kinh tế xã hội một cách công bằng. Mà không gây hại đến tính bền vững của các hệ sinh thái thiết yếu.

Trang 1

ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP.HCM

KHOA MÔI TRƯỜNG VÀ TÀI NGUYÊN

TIỂU LUẬN CÁ NHÂN

MÔN HỌC QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN NƯỚC

ĐIỀU 11:

QUY HOẠCH TỔNG THỂ ĐIỀU TRA CƠ

BẢN TÀI NGUYÊN NƯỚC

HỌC VIÊN:

NGUYỄN CÔNG MẠNH

TP HCM, 03/ 2017

MỤC LỤC.

Trang 2

ĐẶT VẤN ĐỀ

Tài nguyên nước đang ngày càng khan hiếm, suy giảm cả về số lượng và chất lượng, kèm theo đó hạn hán và lũ lụt xảy ra gay gắt ở cả quy mô, mức độ và thời gian trong khi nhu cầu sử dụng nước ngày càng tăng và đó chính là nguyên nhân gây ra khủng hoảng về nước Việc quản lý, khai thác và sử dụng có hiệu quả tài nguyên nước có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của con người vì vậy nó đã trở thành chủ đề quan trọng không chỉ đối với Việt Nam mà luôn là chủ đề được bàn thảo nhiều nhất trên các diễn đàn Quốc tế Giải quyết các vấn đề liên quan đến tài nguyên nước cần thiết phải xem xét các yếu tố có liên quan trên quan điểm tổng hợp, toàn diện và mục tiêu cuối cùng là đạt được sự hài hòa trong phát triển kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường

Lâm Đồng có đặc điểm địa hình vùng núi có độ dốc địa hình lớn, chia cắt mạnh nên mạng lưới sông suối khá phong phú, là nơi phát nguyên của hệ thống sông Đồng Nai

và một số sông nhỏ chảy ra biển đông phía Ninh Thuận và Bình Thuận (sông Lũy), cũng như các nhánh chảy về phía Tây thuộc hệ thống sông Mê Kông (sông Krông Nô) Toàn tỉnh có khoảng 60 sông, suối có chiều dài trên 10 km, mật độ sông suối 0,18- 1,1 km/km2, trừ các Huyện Cát Tiên, Đạ Huoai, Đạ Tẻh còn lại các địa bàn đều cạn kiệt và mất dòng

do sự điều tiết nhiều các thủy điện lớn, nhỏ tập trung Trong những thập niên qua, việc khai thác sử dụng tài nguyên nước và công tác phòng, chống thiên tai do nước gây ra đã

có những thành tựu quan trọng, góp phần to lớn cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh So với các tỉnh lân cận, Lâm Đồng có lượng mưa tương đối lớn, tuy nhiên, trong một thời gian dài do chưa nhận thức đầy đủ về ý nghĩa và tầm quan trọng của tài nguyên nước đối với đời sống, sức khỏe và môi trường, chưa chú trọng đến quản lý và bảo vệ cũng như quy hoạch sử dụng tài nguyên nước đã đến những biểu hiện suy thoái tài nguyên nước cả về số lượng lẫn chất lượng, tình trạng ô nhiễm nguồn nước, thiếu nước, khan hiếm nước đã xuất hiện ở nhiều nơi và đang có xu hướng gia tăng, tình trạng sử dụng nước lãng phí, kém hiệu quả, thiếu quy hoạch, thiếu tính liên ngành còn khá phổ biến Trong khi đó, nhu cầu dùng nước của các ngành kinh tế không ngừng gia tăng, cân bằng nước giữa cung và cầu nhiều lúc, nhiều nơi không đảm bảo, đã trở thành áp lực lớn đối với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong điều kiện dân số gia tăng, biến đổi khí hậu toàn cầu Trước tình hình đó, đòi hỏi phải chuyển đổi hình thức quản lý tài nguyên nước từ truyền thống sang quản lý tổng hợp Để làm được điều này trước hết

Trang 3

phải đánh giá đầy đủ và toàn diện về nguồn nước, tình hình khai thác sử dụng, tiến tới quy hoạch và quản lý tài nguyên nước trên các lưu vực sông thuộc địa bàn tỉnh

Đê thực hiện tốt các nội dung quản lý Nhà nước theo Luật Tài nguyên nước năm

2012, được sự cho phép của UBND tỉnh Lâm Đồng, trong năm 2014 - 2015, Sở Tài nguyên và Môi trường đã triển khai thực hiện dự án Điều tra, đánh giá tài nguyên nước trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng Quá trình thực hiện, Dự án đã lấy ý kiến của các cấp, các ngành và các nhà khoa học tại 2 hội nghị và được Hội đồng nghiệm thu của tỉnh thông qua Ngày 21/01/2016, UBND tỉnh Lâm Đồng đã ban hành quyết định 149/QĐ-UBND V/v phê duyệt dự án Điều tra, đánh giá tài nguyên nước trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng với các nội dung cơ bản như sau:

Từ đó việc báo cáo chuyên đề: “ Quy hoạch tổng thể điều tra cơ bản tài nguyên nước ” thuộc điều 11 của luật Tài nguyên nước số 17 có hiệu lực thi hành từ

ngày 01 tháng 01 năm 2013 của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam nhằm tìm ra cách giải quyết về mặt quản lý nguồn nước của nước ta hiện nay

Trang 4

CHƯƠNG 1 TÀI NGUYÊN NƯỚC.

1.1.Nước và vai trò của nước.

1.1.1. Khái niệm tài nguyên nước.

Trong luật 17/2012/QH13 đề cập một số khái niệm liên quan đến tài nguyên nước như sau

Tài nguyên nước bao gồm nguồn nước mặt, nước dưới đất, nước mưa và nước

biển thuộc lãnh thổ của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Nguồn nước là các dạng tích tụ nước tự nhiên hoặc nhân tạo có thể khai thác,

sử dụng bao gồm sông, suối, kênh, rạch, hồ, ao, đầm, phá, biển, các tầng chứa nước dưới đất; mưa, băng, tuyết và các dạng tích tụ nước khác

Nước mặt là nước tồn tại trên mặt đất liền hoặc hải đảo

Nước dưới đất là nước tồn tại trong các tầng chứa nước dưới đất hay còn gọi

là nước ngầm

Nguồn nước liên tỉnh là nguồn nước phân bố trên địa bàn từ hai tỉnh, thành

phố trực thuộc trung ương trở lên

Nguồn nước nội tỉnh là nguồn nước phân bố trên địa bàn một tỉnh, thành phố

trực thuộc trung ương

Nguồn nước liên quốc gia là nguồn nước chảy từ lãnh thổ Việt Nam sang lãnh

thổ nước khác hoặc từ lãnh thổ nước khác vào lãnh thổ Việt Nam hoặc nguồn nước nằm trên đường biên giới giữa Việt Nam và quốc gia láng giềng

Lưu vực sông là vùng đất mà trong phạm vi đó nước mặt, nước dưới đất chảy

tự nhiên vào sông và thoát ra một cửa chung hoặc thoát ra biển

− Lưu vực sông gồm có lưu vực sông liên tỉnh và lưu vực sông nội tỉnh

Lưu vực sông liên tỉnh là lưu vực sông nằm trên địa bàn từ hai tỉnh, thành phố

trực thuộc trung ương trở lên

Lưu vực sông nội tỉnh là lưu vực sông nằm trên địa bàn một tỉnh, thành phố

trực thuộc trung ương

Nước sinh hoạt là nước sạch hoặc nước có thể dùng cho ăn, uống, vệ sinh của

con người

Nước sạch là nước có chất lượng đáp ứng quy chuẩn kỹ thuật về nước sạch

của Việt Nam

Nguồn nước sinh hoạt là nguồn nước có thể cung cấp nước sinh hoạt hoặc có

thể xử lý thành nước sinh hoạt

Ô nhiễm nguồn nước là sự biến đổi tính chất vật lý, tính chất hóa học và thành

phần sinh học của nước không phù hợp với tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật cho phép, gây ảnh hưởng xấu đến con người và sinh vật

Trang 5

Suy thoái nguồn nước là sự suy giảm về số lượng, chất lượng nguồn nước so

với trạng thái tự nhiên hoặc so với trạng thái của nguồn nước đã được quan trắc trong các thời kỳ trước đó

Cạn kiệt nguồn nước là sự suy giảm nghiêm trọng về số lượng của nguồn

nước, làm cho nguồn nước không còn khả năng đáp ứng nhu cầu khai thác, sử dụng và duy trì hệ sinh thái thủy sinh

Khả năng tiếp nhận nước thải của nguồn nước là khả năng nguồn nước có thể

tiếp nhận thêm một lượng nước thải mà vẫn bảo đảm chất lượng nguồn nước cho mục đích sử dụng theo tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật Việt Nam hoặc tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật nước ngoài được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép áp dụng

Dòng chảy tối thiểu là dòng chảy ở mức thấp nhất cần thiết để duy trì dòng

sông hoặc đoạn sông nhằm bảo đảm sự phát triển bình thường của hệ sinh thái thủy sinh và bảo đảm mức tối thiểu cho hoạt động khai thác, sử dụng nguồn nước của các đối tượng sử dụng nước

Ngưỡng khai thác nước dưới đất là giới hạn cho phép khai thác nước dưới đất

nhằm bảo đảm không gây xâm nhập mặn, suy thoái, cạn kiệt nguồn nước, sụt, lún đất, tác động xấu đến nguồn nước mặt và môi trường liên quan

Vùng bảo hộ vệ sinh khu vực lấy nước sinh hoạt là vùng phụ cận khu vực lấy

nước từ nguồn nước được quy định phải bảo vệ để phòng, chống ô nhiễm nguồn nước sinh hoạt

Hành lang bảo vệ nguồn nước là phần đất giới hạn dọc theo nguồn nước hoặc

bao quanh nguồn nước do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định

1.1.2. Vai trò nước đối với con người.

Nước có vai trò đặc biệt quan trọng với cơ thể con người Nước chiếm khoảng 70% trọng lượng cơ thể, 65-75% trọng lượng cơ, 50% trọng lượng mỡ, 50% trọng lượng xương Nước tồn tại ở hai dạng: nước trong tế bào và nước ngoài tế bào Nước ngoài tế bào có trong huyết tương máu, dịch limpho, nước bọt… Huyết tương chiếm khoảng 20% lượng dịch ngoài tế bào của cơ thể (3-4 lít) Nước là chất quan trọng để các phản ứng hóa học và sự trao đổi chất diễn ra không ngừng trong cơ thể Nước là một dung môi, nhờ đó tất cả các chất dinh dưỡng được đưa vào cơ thể, sau đó được chuyển vào máu dưới dạng dung dịch nước Một người nặng 60 kg cần cung cấp khoảng 2 lít nước để đổi mới lượng nước của có thể, và duy trì các hoạt động sống bình thường

Uống không đủ nước ảnh hưởng đến chức năng của tế bào cũng như chức năng các hệ thống trong cơ thể như suy giảm chức năng thận Những người thường xuyên uống không đủ nước da thường khô, tóc dễ gãy, xuất hiện cảm giác mệt mỏi, đau đầu, có thể xuất hiện táo bón, hình thành sỏi ở thận và túi mật Khi cơ thể mất trên 10% lượng

Trang 6

nước có khả năng gây trụy tim, hạ huyết áp, nhịp tim tăng cao Nguy hiểm hơn, bạn có thể tử vong nếu lượng nước mất trên 20% Bên cạnh oxy, nước đóng vai trò quan trọng thứ hai để duy trì sự sống

Tóm lại, nước rất cần cho cơ thể, mỗi người phải tập cho mình một thói quen uống nước để cơ thể không bị thiếu nước Có thể nhận biết cơ thể bị thiếu nước qua cảm giác khát hoặc màu của nước tiểu, nước tiểu có màu vàng đậm chứng tỏ cơ thể đang bị thiếu nước Duy trì cho cơ thể luôn ở trạng thái cân bằng nước là yếu tố quan trọng bảo đảm sức khỏe của mỗi người

1.1.3. Vai trò nước đối với sinh vật.

Nước chứa trong cơ thể sinh vật với một hàm lượng rất cao, từ 50 - 90% khối lượng

cơ thể sinh vật là nước, có trường hợp nước chiếm tỷ lệ cao hơn, tới 98% như ở một số cây mọng nước, thủy tức

Mặt khác, nước là nguyên liệu cho cây trong quá trình quang hợp tạo ra các chất hữu cơ Nước là môi trường hoà tan chất vô cơ và phương tiện vận chuyển chất vô cơ và hữu cơ trong cây, vận chuyển máu và các chất dinh dưỡng ở động vật

1.1.4. Vai trò nước đối với sản xuất.

Trong nông nghiệp: tất cả các cây trồng và vật nuôi đều cần nước để phát triển Từ một hạt cải bắp phát triển thành một cây rau thương phẩm cần 25 lít nước; lúa cần 4.500 lít nước để cho ra 1 kg hạt Dân gian ta có câu: “Nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống”, qua đó chúng ta có thể thấy được vai trò quan trọng của nước trong sản xuất nông nghiệp Theo FAO, tưới nước và phân bón là hai yếu tố quyết định hàng đầu là nhu cầu thiết yếu, đồng thời còn có vai trò điều tiết các chế độ nhiệt, ánh sáng, chất dinh dưỡng, vi sinh vật,

độ thoáng khí trong đất, làm cho tốc độ tăng sản lượng lương thực vượt qua tốc độ tăng dân số thế giới

Trong Công nghiệp: sử dụng nước cho nhu cầu sản xuất công nghiệp là rất lớn Nước dùng để thực hiện quá trình trao đổi nhiệt (làm nóng-gia nhiệt hoặc làm nguội-làm mát), tạo áp lực làm quay các tubin, là dung môi hòa tan các hóa chất màu và là môi trường để các phản ứng hóa học xảy ra Để sản xuất 1 tấn gang cần 300 tấn nước, một tấn xút cần 800 tấn nước Mỗi ngành công nghiêp, mỗi loại hình sản xuất và mỗi công nghệ yêu cầu một lượng nước khác nhau

Nước góp phần làm động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế, xã hội Nếu không có nước thì chắc chắn toàn bộ các hệ thống sản xuất công nghiệp, nông nghiệp…trên hành tinh này đều ngừng hoạt động và không tồn tại

1.2.Hiện trạng tài nguyên nước.

Trang 7

1.2.1.Hiện trạng sử dụng nước trên thế giới.

Ba phần tư diện tích trái đất được bao phủ bởi nước Tuy nhiên lượng nước ngọt trên trái đất chỉ chiếm một lượng nhỏ – khoảng 3% Nước đóng một vai trò quan trọng trong cuộc sống hàng ngày, thiếu nước thì không có sự sống Chúng ta đang được tận hưởng rất nhiều nước và đó là nước sạch, nhưng cũng có không ít người đang phải sống trong cảnh thiếu thốn nước và họ phải chấp nhận dùng nước bẩn Nước sạch là nguồn tài nguyên thiên nhiên có thể tái tạo, nếu tình trạng khai thác và sử dụng không hợp lý như hiện nay còn tiếp diễn thì một ngày không xa sẽ cạn kiệt nguồn nước Khi đó con người

sẽ đứng trước thảm họa không có nước sạch để duy trì sự sống

Nhu cầu về nước ngày càng tăng, tại nhiều quốc gia trên thế giới tài nguyên nước đã

bị khai thác quá mức, vượt quá khả năng của nguồn nước Hơn nữa, do tác động của biến đổi khí hậu, tình trạng khan hiếm nước càng thêm trầm trọng hơn Do đó, vấn đề cạnh tranh về nước đang ngày càng trở nên căng thẳng giữa các quốc gia, khu vực, đô thị, nông thôn, hoặc giữa các ngành nghề, lĩnh vực hoạt động khác nhau Điều đó khiến cho nước đang dần trở thành một trong những vấn đề chính trị tại nhiều quốc gia trên thế giới

Mặt khác, giữa nước và nghèo đói có mối liên hệ khăng khít với nhau – số người có mức sống dưới 1,25 đô la Mỹ một ngày gần trùng với số người thiếu nước uống sạch an toàn Tình trạng này ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe của con người Hầu hết 80% bệnh tật ở các nước đang phát triển đều liên quan đến nước Theo thống kê, mỗi ngày có khoảng 5.000 trẻ em, hay cứ sau 17 giây lại có 1 trẻ chết vì bệnh tả Nếu như được tăng cường về cấp nước, điều kiện vệ sinh và quản lý tài nguyên nước thì cả thế giới có thể tránh được 1/10 bệnh tật

Nhu cầu về nước chưa bao giờ cao như hiện nay Khai thác nước sạch đã tăng gấp 3 lần trong vòng 50 năm qua Diện tích đất tưới cũng tăng gấp đôi trong chừng ấy năm và hiện tượng này liên quan mật thiết với sự gia tăng dân số Dân số thế giới hiện nay là 6,6

tỷ người và mỗi năm tăng thêm 80 triệu người Điều đó có nghĩa, nhu cầu về nước sạch mỗi năm tăng thêm khoảng 64 tỷ mét khối Song, đáng tiếc là 90% số dân trong số 3 tỷ người dự kiến tăng thêm vào năm 2050 lại tập trung ở các nước đang phát triển, nơi mà ngay từ bây giờ đã đang chịu cảnh khan hiếm nước

Sản xuất nhiên liệu sinh học tăng nhanh trong những năm qua đã gây những tác động đáng kể đến nhu cầu về nước Sản lượng ethanol năm 2008 là 77 tỷ lít, gấp 3 lần giai đoạn từ 2000 đến 2007 và dự kiến sẽ đạt 127 tỷ lít vào năm 2017 Mỹ và Brazil là các nhà sản xuất hàng đầu, đáp ứng 77% nhu cầu của toàn thế giới Năm 2007, 23% sản lượng ngô ở Mỹ và 54% mía đường của Brazil là dành để sản xuất ethanol Trong năm

Trang 8

2008, 47% lượng dầu thực vật sản xuất tại Cộng đồng Châu Âu được dùng làm nhiên liệu diesel sinh học Tuy vậy, mặc dù việc gia tăng sử dụng cây trồng cho nhiên liệu sinh học, nhưng tỷ lệ so với tổng sản lượng vẫn còn nhỏ Trong năm 2008, ước tính thị phần về ethanol trên thị trường nhiên liệu vận tải của Mỹ, Brazil và Cộng đồng Châu Âu tương ứng là 4.5%, 40% và 2.2% Với khả năng giúp làm giảm bớt sự lệ thuộc vào năng lượng chất đốt, xem ra với công nghệ hiện tại, nhiên liệu sinh học đang đặt lên môi trường và đa dạng sinh học một áp lực không tương ứng Vấn đề chính là phải cần một lượng lớn nước

và phân bón để gieo trồng Để làm ra 01 lít nhiên liệu sinh học phải cần khoảng từ 1000 đến 4000 lít nước

Trong khi đó, nhu cầu về năng lượng đang tăng nhanh, đồng nghĩa với tăng nhu cầu

về nước Nhu cầu năng lượng toàn cầu dự kiến tăng lên khoảng 55% vào năm 2030 và chỉ riêng Trung Quốc và Ấn Độ đã chiếm tới 45% lượng tăng này Sản xuất điện từ nguồn thủy điện dự kiến tăng trung bình hàng năm ở mức 1.7% từ năm 2004 đến 2030, gia tăng tổng thể là 60% Tuy bị chỉ trích là nguyên nhân gây ảnh hưởng nặng nề đến môi trường

và khiến nhiều người dân bị mất chỗ ở, nhưng với nhiều người các đập thủy điện vẫn được xem là một giải pháp nhằm đáp ứng các nhu cầu năng lượng hiện nay

Nước là vấn đề cốt yếu nhất đối với các nước đang phát triển Tuy nhiên, cho đến nay, tỷ lệ đầu tư vào cơ sở hạ tầng và tăng cường năng lực cho ngành nước từ nguồn ngân sách nhà nước và nguồn vốn ODA là không thỏa đáng Hỗ trợ phát triển quốc tế cho toàn ngành nước đang ngày càng giảm sút và vẫn chỉ duy trì ở mức 5% tổng nguồn tài trợ Thực tế trên khiến nguồn nước dùng trong sinh hoạt của con người bị ô nhiễm nghiêm trọng Một nửa số bệnh nhân nằm viện ở các nước đang phát triển là do không được tiếp cận những điều kiện vệ sinh phù hợp (vì thiếu nước) và các bệnh liên quan đến nước Thiếu vệ sinh và thiếu nước sạch là nguyên nhân gây tử vong cho hơn 1,6 triệu trẻ

em mỗi năm Tổ chức Lương Nông LHQ (FAO) cảnh báo trong 15 năm tới sẽ có gần 2 tỷ người phải sống tại các khu vực khan hiếm nguồn nước và 2/3 cư dân trên hành tinh có thể bị thiếu nước

1.2.2. Hiện trạng sử dụng, khai thác, và nguy cơ cạn kiệt nguồn nước tại Việt Nam

Việt Nam có rất nhiều con sông lớn nhỏ chảy qua và người Việt có tập quán cư trú

và canh tác dọc theo hai bên bờ sông Nền kinh tế của Việt Nam hiện nay đang định hướng phát triển công nghiệp nhưng vẫn là nước phát triển chính dựa vào nông nghiệp, phụ thuộc lớn vào đặc điểm tài nguyên nước mà trong đó dòng chảy sông ngòi đóng vai trò vô cùng quan trọng Cả nước có 2.732 con sông có chiều dài từ 10 – 586 km với tổng lượng chảy/ năm khoảng 830 - 840 tỷ mét khối nước; lượng nước sinh ra trên đất Việt

Trang 9

Nam chiếm 38,5%, phần từ nước ngoài chảy vào Việt Nam chiếm khoảng 61,5% Lượng nước không đồng đều giữa các hệ thống sông, hệ thống sông MeKong “Cửu Long ” chiếm 60,4%, hệ thống sông Hồng chiếm 15,1% và các con sông còn lại chiếm 24,5% Hiện nay, mặc dù các cấp, các ngành đã có nhiều cố gắng trong việc thực hiện chính sách và pháp luật về bảo vệ môi trường, nhưng tình trạng ô nhiễm nước là vấn đề rất đáng lo ngại Tốc độ công nghiệp hoá và đô thị hoá khá nhanh và sự gia tăng dân số gây

áp lực ngày càng nặng nề dối với tài nguyên nước trong vùng lãnh thổ Môi trường nước

ở nhiều đô thị, khu công nghiệp và làng nghề ngày càng bị ô nhiễm bởi nước thải, khí thải và chất thải rắn ở các thành phố lớn, hàng trăm cơ sở sản xuất công nghiệp đang gây

ô nhiễm môi trường nước do không có công trình và thiết bị xử lý chất thải Ô nhiễm nước do sản xuất công nghiệp là rất nặng Ví dụ: ở ngành công nghiệp dệt may, ngành công nghiệp giấy và bột giấy, nước thải thường có độ pH trung bình từ 9-11; chỉ số nhu cầu ô xy sinh hoá (BOD), nhu cầu ô xy hoá học (COD) có thể lên đến 700mg/1 và 2.500mg/1; hàm lượng chất rắn lơ lửng cao gấp nhiều lần giới hạn cho phép

Miền Trung và Tây Nguyên có một số khu vực chất lượng nước giảm do việc đổi dòng phục vụ các công trình thủy lợi (hiện tượng ô nhiễm trên sông Ba vào mùa khô) Nguồn ô nhiễm chính khu vực Đông Nam Bộ là nguồn ô nhiễm nước mặt chủ yếu do nước thải công nghiệp và sinh hoạt Sông Đồng Nai khu vực thượng lưu sông chất lượng nước tương đối tốt nhưng khu vực hạ lưu (đoạn qua TP Biên Hòa) nước sông đã bị ô nhiễm

Sông Sài Gòn trong những năm gần đây mức độ ô nhiễm mở rộng hơn về phía thượng lưu Sông Thị Vải các khu vực ô nhiễm trước đây đã từng bước được khắc phục một số điểm ô nhiễm cục bộ Hệ thống sông ở Đồng bằng sông Cửu Long nước thải nông nghiệp lớn nhất nước (70% lượng phân bón được cây và đất hấp thụ, 30% đi vào môi trường nước) Vì vậy chất lượng nước sông Tiền và sông Hậu đã có dấu hiệu ô nhiễm hữu

cơ (mức độ ô nhiễm sông Tiền cao hơn sông Hậu) Sông Vàm Cỏ bị ô nhiễm bởi nhiều yếu tố: Hoạt động sản xuất từ nhà máy, khu dân cư tập trung Sông Vàm Cỏ Đông có mức độ ô nhiễm cao hơn sông Vàm Cỏ Tây

Mức độ ô nhiễm nước đang ngày càng gia tăng do không kiểm soát nguồn gây ô nhiễm hiệu quả Tình trạng này đang gây ra những ảnh hưởng đến sức khỏe của người, làm tăng nguy cơ ung thư, sảy thai và dị tật bẩm sinh, dẫn đến suy giảm nòi giống Tại một số địa phương của Việt Nam, khi nghiên cứu các trường hợp ung thư, viêm nhiễm ở phụ nữ, đã thấy 40 - 50% là do từ sử dụng nguồn nước bị ô nhiễm

Việt Nam cũng đang đứng trước thách thức hết sức lớn về nạn ô nhiễm môi trường nước, đặc biệt là tại các khu công nghiệp và đô thị Hiện nay chất lượng nước ở vùng thượng lưu các con song chính còn khá tốt Tuy nhiên ở các vùng hạ lưu đã và đang có

Trang 10

nhiều vùng bị ô nhiễm nặng nề Đặc biệt mức độ ô nhiễm tại các con sông tăng cao vào mùa khô khi lượng nước đổ về các con sông giảm

CHƯƠNG 2 NỘI DUNG QUY HOẠCH TỔNG THỂ ĐIỀU TRA

CƠ BẢN TÀI NGUYÊN NƯỚC

2.1.Yêu cầu đối với việc lập quy hoạch tổng thể điều tra cơ bản tài nguyên nước.

2.1.1. Đáp ứng yêu cầu xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, quy hoạch vùng, chiến lược tài nguyên nước

Ngày đăng: 11/10/2021, 23:06

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
4. Quyết định số 149/QĐ-UBND của tỉnh Lâm Đồng về “Điều tra, đánh giá tài nguyên nước trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra, đánh giá tàinguyên nước trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng
1. Lê Quốc Tuấn, 2002. Khả năng làm sạch nước của hai loài thực vật thủy sinh trong hệ nuôi thủy sản. Tập san khoa học kỹ thuật nông lâm nghiệp. Nhà xuất bản nông nghiệp Khác
2. Luật Bảo vệ môi trường số 55/2014/QH13 đã được Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam thông qua ngày 23/16/2014 hiệu lực 01/01/2015 Khác
3. Luật Tài nguyên nước được Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam thông qua ngày 21/6/2012 Khác
5. Quyết định Số: 81/2006/QĐ-TTg ngày 14/04/2006 của Thủ tướng Chính phủ về việc Phê duyệt Chiến lược quốc gia về tài nguyên nước đến năm 2020” Khác
6. Thông tư 56/2014/TT-BTNMT ngày 24/09/2014 Quy định điều kiện về năng lực tổ chức, cá nhân thực hiện điều tra cơ bản tài nguyên nước, tư vấn lập quy hoạch tài nguyên nước, lập đề án, báo cáo trong hồ sơ đề nghị cấp giấy phép tài nguyên nước.7 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w