Báo cáo thực tập tốt nghiệp
Trang 1MỤC LỤC 1
Lời nói đầu 2
CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN GIẤY HẢI
1.1 Lịch sử hình thành Công ty cổ phần Hapaco 3
1.2 Các giai đoạn phát triển của Công ty cổ phần Hapaco 5
1.3 Hệ thống cung cấp điện cho nhà máy và các thiết bị 8
1.4 Ứng dụng PLC và WinCC trong nhà máy 13 CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN VỀ SƠ ĐỒ CÁC THIẾT BỊ VÀ HỆ THỐNG GIÁM SÁT BƠM BỂ BỘT BẰNG WINCC 16
2.1 Sơ đồ động lực và điều khiển các thiết bị trong nhà máy 16
2.2 Giới thiệu phần mềm WinCC 32
2.3 Thiết lập thuộc tính chạy thực 33
2.4 Giao tiếp WinCC với PLC S7-300 thông qua driver có sẵn 36
CHƯƠNG 3 SỬ DỤNG PHẦN MỀM WINCC ĐIỀU KHIỂN BƠM BỂ BỘT
38
3.1 Sơ đồ đấu dây 38
3.2 Giao diện trên WinCC 39
3.3 Chạy mô phỏng 40
KẾT LUẬN 45
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
Trong thời kì công nghiệp hóa ngày càng phát triển của đất nước ta và nhu cầucủa con người ngày càng được cải thiện và nâng cao Khi đó việc áp dụng nền côngnghiệp hóa, hiện đại hóa vào sản xuất là một điều rất cần thiết và là cả một vấn đềđược chúng ta quan tâm
Lĩnh vực tự động hóa xí nghiệp, công nghiệp cũng đóng góp một phần khôngnhỏ Ví dụ như: các băng truyền, băng tải, động cơ… đều áp dụng tự động hóa xínghiệp để cải tiến và nó đã giúp con người tiết kiệm được sức lao động, thay thếđược nhiều công nhân, thuận tiện hơn cho việc sử dụng Các công nghệ đều đượcđiều khiển tự động bằng nhiều phần mềm khác nhau với mục đích chung là giúpcon người thuận tiện trong khi làm việc
Trong đợt thực tập này, chúng em đã tiếp xúc với các tủ điện công suất lớn vàcác loại động cơ khác nhau, các thiết bị có tính năng cao như OMRON, biến tần,cảm biến, các tủ PLC
Thời gian thực tập tuy ngắn nhưng thực sự chúng em cũng đã có được kinhnghiệm rất quý báu để làm hành trang cho công việc sau này
Chúng em chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của thầy Trần Tiến Lương và cácnhân viên của phòng kỹ thuật nhà máy giấy HAPACO trong thời gian chúng emthực tập tại nhà máy
Trang 3CHƯƠNG 1.GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN
GIẤY HẢI PHÒNG - HAPACO
1.1 Lịch sử hình thành Công ty cổ phần Hapaco
Công ty Cổ phần Giấy Hải Phòng - Hapaco ngày nay là tiền thân của Xínghiệp Giấy bìa Đồng Tiến được thành lập ngày 03/02/1960 trên cơ sở một Phânxưởng sản xuất giấy nhỏ, theo quyết định của Ủy ban Hành chính Thành phố HảiPhòng
Địa điểm sản xuất của Phân Xưởng đóng tại khu nuôi bò của Tây Đen ở ngõLửa Hồng - Làng An Dương - Huyện An Hải (nay là khu An Dương - Quận LêChân - Thành Phố Hải Phòng ) Với một cơ sở sản xuất nghèo nàn, nhà xưởng lợp
lá, thiết bị cũ kỹ lạc hậu gồm có 2 lò nấu rơm thủ công, một cối xay rơm bằng đá,một máy nghiền và 400 dao đế bằng đá, một máy là giấy Với số lao động là 18người, trong đó có 6 công nhân thuê ngoài, 12 công nhân là thân nhân và con hainhà Tư sản Sản phẩm chủ yếu là giấy bìa carton tấm chất lượng thấp bán cho cácnhà ga làm vé xe, vé tàu hỏa, sản lượng khoảng 30 tấn/năm
Những năm tiếp theo từ năm 1961 đến năm 1967 Xí nghiệp đã lần lượt bổsung máy móc tiết bị như lắp đặt têm 3 bàn ép vít me, 2 máy nghiền, 1 máy xén kẻ,
1 máy cắt, xây thêm 3 lò nấu rơm, 1 lò sấy và hệ thống bể chứa bột dùng cho xeogiấy mỏng, giấy bìa học sinh Đội ngũ cán bộ công nhân viên được tăng cường kịpthời, sản lượng bình quân đạt 183.7 tấn/năm, chất lượng sản phẩm của Xí nghiệpcũng được nâng lên, ngoài các sản phẩm cũ Xí Nghiệp còn sản xuất thêm các mặthang mới như carton cốt áo, cốt giấy và các loại hòm, hộp bao bì Nhưng cũng
Trang 4Đồng Tiến, Xí nghiệp 23, Xí nghiệp 25, thành Xí nghiệp giấy Đồng Tiến HảiPhòng Đến tháng 1 năm 1970 Ủy ban nhân dân Thành phố ra Quyết định sát nhậptiếp cơ sở sản xuất mũ ép tại địa diểm Cầu Tre - Ngô Quyền - Hải Phòng vào Xínghiệp giấy Đồng Tiến Cơ sở này mới khánh thành từ cuối tháng 9 năm 1969, khisát nhập cùng với Xí nghiệp giấy Đồng Tiến chỉ duy trì sản xuất được hết năm
1970 Trong quãng thời gian này cơ cấu bộ máy quản lý, cơ cấu tổ chức của Xínghiệp có nhiều thay đổi, nhưng cơ bản ổn định hơn so với thời gian trước, do đó
kế hoạch sản xuất thực hiện đều hoàn thành
Đầu năm 1972 Đế quốc Mỹ lại một lần nữa mở rộng chiến tranh leo thang ramiền Bắc, với những trận ném bom rải thảm bắn phá ác liệt xuống các cơ quan đầunão, các trung tâm chính trị, kinh tế thương mại của hai Thành phố là Hà Nội vàHải Phòng Xí nghiệp giấy bìa Đồng Tiến cũng là một trong những mục tiêu bịbom đạn Mỹ bắn phá Thực hiện phương châm chỉ đạo của Ủy ban nhân dân Thànhphố, Xí nghiệp tiếp tục bám trụ kết hợp sản xuất trực chiến sẵn sàng chiến đấu bảo
vệ Thành phố, bảo vệ nhà máy Thời gian này do ảnh hưởng của chiến tranh, nêncác yếu tố đầu vào phục vụ cho sản xuất như : Thu mua vận chuyển nguyên, nhiênvật liệu, thiết bị phụ tùng phục vụ cho việc thay thế sửa chữa v v cho các dâytruyền sản xuất trở nên thiếu thốn nghiêm trọng dẫn đến sản xuất bị gián đoạn lientục Công suất của Xí nghiệp giai đoạn này cũng chỉ khiêm tốn ở mức sản lượngnhỏ với chất lượng một số sản phẩm thấp, phục vụ được một phần nào giấy chonhân dân Thành phố trong những năm tháng chiến tranh
Năm 1986, thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước về tăng cường, mởrộng quy mô các doanh nghiệp Nhà nước, Xí nghiệp sản xuất giấy bìa được đổi tênthành Nhà máy giấy Hải Phòng; đến tháng 12 năm 1992 chuyển tên thành Công tygiấy Hải Phòng
Năm 1998, thực hiện Nghị định số 28/1996/NĐ-CP ngày 07/5/1996 củaChính phủ về việc cổ phần hóa các doanh nghiệp Nhà nước, Nhà máy giấy HảiPhòng được cổ phần hóa và đổi tên thành Công ty cổ phần giấy Hải Phòng -
Trang 5Hapaco; đến năm 1999 hợp nhất thành Công ty cổ phần HAPACO.
Đầu năm 2002 với bước thăng tiến mang tính đột phá mới đi tiên phong mởđường trên thị trường Chứng khoán Việt Nam, nhằm đa dạng hóa các kênh huyđộng vốn cho đầu tư Từ nguồn vốn này Công ty đã đầu tư xây dựng dự án Nhàmáy giấy Hải Phòng sản xuất giấy bao bì công nghiệp công suất 50.000 tấn/năm,tại khu công nghiệp đường 5 km 17 Xã Đại Bản, Huyện An Hải (nay là Huyện AnDương), Thành phố Hải Phòng Sau 2 năm xây dựng, đến đầu quý II năm 2004 Nhàmáy đã đi vào hoạt độngvà ổn định hoạt động cho tới bây giờ
Tháng 8/2009, Công ty chính thức đổi tên thành Công ty cổ phần Tập đoàn Hapaco (tên giao dịch là Tập đoàn Hapaco)
1.2 Các giai đoạn phát triển của Công ty cổ phần Hapaco
- Đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh từ năm 1975 – 1998
Năm 1975 Đất nước được hoàn toàn giải phóng cả nước bắt tay vào công cuộckhác phục hậu quả chiến tranh, xây dựng mới và xây dựng lại các công trình, cáctrung tâm kinh tế công nông thương nghiệp, dịch vụ, đào tạo, các trung tâm nghiêncứu khoa học, y tế, giáo dục v v Xí nghiệp cũng tiến hành lần lượt di chuyển các
Xí nghiệp đóng lẻ trên các địa bàn các Huyện thị và Nội đô tập chung về một mốitại địa điểm gần cầu treo An Dương - Xã An Đồng - Huyện An Hải - Hải Phòng
Từ đó thuận lợi cho công tác quản lý chỉ đạo và điều hành sản xuất Thời điểm này
do nhu cầu giấy viết, giấy in tài liệu, giấy làm bao bì của các cơ quan trong Thànhphố tăng nhanh Xí nghiệp mở rộng đầu tư them một dây chuyền sản xuất giấymỏng của trung Quốc có công suất 300 tấn/năm Sản phẩm giấy in, giấy viết, giấy
Trang 6thuật chuyên ngành, nâng tổng số lao động của Xí nghiệp tăng từ 226 lao động năm
1975 lên 322 lao động năm 1980 và 356 lao động vào những năm 1984 – 1985,đồng thời sắp xếp bố trí lại một số công đoạn sản xuất cho phù hợp Từ đây côngsuất của Xí nghiệp tăng nhanh từ 300 tấn/năm lên 759 tấn/năm, đồng thời mở rộngthị trường tiêu thụ sang các Tỉnh lân cận như Quảng Ninh, Hà Nam Ninh, TháiBình, Hải Hưng v v đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng của nhân dân và các cơ quantrên địa bàn những tỉnh này
Năm 1986 thực hiện chủ trương của Đảng, Nhà nước về tăng cường và mởrộng quy mô của các Doanh nghiệp nhà nước Đến tháng 12 năm 1986 Xí nghiệpgiấy bìa Đồng Tiến đổi tên thành Nhà máy giấy Hải Phòng Cùng thời gian nàyNhà máy giấy Bãi Bằng tỉnh Vĩnh Phú bắt đầu đi vào sản xuất với các sản phẩmmới như giấy viết và giấy in chất lượng cao, với sản lượng lớn, đáp ứng được nhucầu của người tiêu dung Chất lượng các sản phẩm cùng loại của Nhà máy GiấyHải Phòng không thể cạnh tranh được Để khắc phục khó khăn Lãnh đạo Nhà máy
đã quyết định chọn phương thức sản xuất sản phẩm mới cho thị trường phía Bắc.Cấp tốc cử cán bộ vào Miền Nam học hỏi kinh nghiệm và công nghệ sản xuất giấy
vệ sinh, giấy mỏng trên dây chuyền thiết bị cũ nâng cao công suất, tiết kiệm đượchàng tỉ đồng so với nhập dây chuyền mới
Năm 1990, Nhà máy Giấy Hải Phòng một lần nữa lại rơi vào tình trạng hếtsức khó khăn do sự biến động của thị trường các nước Đông Âu, Liên Xô (cũ) Sảnxuất bị đình trệ, lực lượng cán bộ, công nhân từ 370 người xuống còn 60 công nhânvới mức thu nhập rất thấp
Đến năm 1991, Nhà máy đã nhanh chóng tìm kiếm và tiếp cận thị trườngmới với Đài Loan được lựa chọn là một điểm đến mới cho hàng hóa cua Nhà máy.Nhà máy đã đầu tư thêm hai dây chuyền thiết bị và công nghệ sản xuất giấy
đế, một mặt hàng hoàn toàn mới tại Việt Nam khi đó và xuất khẩu mang lại doanhthu ổn định, vững chắc
Tháng 12 năm 1992, Nhà máy thành lập lại và đổi tên thành Công ty Giấy
Trang 7Hải Phòng – HAPACO Từ thời điểm này công ty Giấy Hải Phòng đã lớn mạnhkhông ngừng, bình quân tăng trưởng hàng năm là 31% Thời điểm này Công tyGiấy Hải Phòng trở thành Công ty đứng thứ hai Miền Bắc.
Năm 1994, trong tiến trình công nghiệp hóa hiện đại hóa Thực hiện phương
án đầu tư trong nước lên miền núi của Đảng và nhà nước, Công ty đã đưa 6 dâychuyền thiết bị lên tỉnh Yên Bái, thành lập đơn vị liên doanh là: Công ty Tráchnhiệm hữu hạn Hải Yên và Xí Nghiệp giấy đế xuất khẩu Yên Sơn, góp phần làmtăng sản lượng giấy xuất khẩu, đạt hiệu quả cao và thu được hết vốn đầu tư
Năm 1996, doanh thu của công ty đạt gần 4 triệu USD và là một trong nhữngCông ty thu nhiều Ngoại tệ cho thành phố, giúp giải quyết việc làm ổn định và thunhập cao cho gần 600 lao động
Đầu năm 1998, thực hiện Nghị đinh 28/1990 NĐ- CP ngày 7 tháng 5 năm
1996 của chính phủ về việc Cổ Phần hóa Doanh Nghiệp nhà nước và Quyết định số
956 QĐ/UB-CPH ngày 10/5/1997 của Ủy ban nhân dân Thành phố Hải phòng.Công ty Giấy Hải Phòng đã thí điểm thành lập Công ty Cổ phần Hải Âu (HASCO),
và chính thức đi vào hoạt động từ tháng 6/1998 và đạt được những kết quả thật kìdiệu và được thành phố quyết định chỉ đạo cổ phần hóa phần còn lại của công tygiấy Hải Phòng theo Nghị đinh 44/1998 NĐ_CP của Chính Phủ
- Từ năm 1999 đến nay
Ngày 28/10/1999, theo Quyết định số 1912 QĐ/UB của Ủy ban nhân dânThành Phố Hải Phòng Công ty Giấy Hải Phòng chính thức thành hợp nhất vàoCông ty cổ phần Hải Âu, và đổi tên thành Công ty Giấy Hải Phòng Tên giao dịch
Trang 81.3 Hệ thống cung cấp điện cho nhà máy và các thiết bị.
- Trạm số 1+2: Cung cấp điện cho nhà xưởng sản xuất giấy Kraft
S1=S2=1200KVA
35/22/0.4KV
Hình 1.1: Sơ đồ máy biến áp số 1 và 2
- Trạm số 3+4: Cung cấp điện cho nhà xưởng sản xuất bột giấy, xưởng sản xuất giấy vệ sinh, hệ thống nồi hơi
S1=S2=1600KVA
35/22/0.4KV
Trang 9Hình 1.2 Sơ đồ máy biến áp số 3 và 4
Trang 10Hình 1.3: Trạm biến áp số 1,2,3,4 ( Trạm đặt trọng nhà)
Trang 11- Trạm số 5: cung cấp điện cho văn phòng, xưởng sản xuất giấy thành phẩm và chiếu sáng.
S5=320KVA
35/22/0.4KV
Hình 1.4: Sơ đồ máy biến áp số 5
Trang 12Hình 1.5: Trạm biến áp số 5 ( Trạm đặt trên không)
- Tác dụng của công tác song song các máy biến áp ở trạm số 1 và 2, 3 và 4:
Trang 13+Khi không có sẵn một máy biến áp đủ công suất => Đáp ứng nhu cầu tổng tải+ Nhu cầu sử dụng năng lượng tăng theo thời gian, đòi hỏi phải tăng công suất máy biến áp => Đảm bảo công suất
+ Khi 1 máy biến áp gặp sự cố hoặc bảo dưỡng, ta vẫn còn 1 máy biến áp để hoạt động => Đảm bảo độ tin cậy khi cung cấp điện năng
+ Giảm công suất tiêu thụ cho tải
- Điều kiện vận hành
+ Các máy biến áp cùng tổ đấu dây
+ Các máy biến áp phải cùng tỉ số biến, hoặc chênh nhau không quá 0,5%+ Điện áp ngắn mạch Uk chênh nhau không quá 10%
+ Các máy biến áp hoàn toàn đồng pha
- Vận hành
+ Đóng cao thế => hạ thế
+ Cắt hạ thế => cao thế
- Khi ngắt 1 máy biến áp:
Ta cắt phía hạ áp rồi cắt cao thế ở 1 trong 2 máy biến áp và không được làm ngược lại
1.4 Ứng dụng PLC và WinCC trong nhà máy
Trong phân xưởng sản xuất giấy của nhà máy được trang bị hệ thống WinCC
là hệ thống điều khiển và giám sát PLC S7-300, CPU314 2DP cộng thêm cácmodule mở rộng kết nối truyền thông công nghiệp với máy tính công nghiệp Máytính được cài phần mềm WinCC version 6.0
Trang 14Hình 1.6: PLC S7-300, CPU314 2DP và module mở rộng.
Hình 1.7: Hệ thống điều khiển và giám sát lưu lượng, nồng độ và mức bể bộtCIC 41XX: Cảm biến nồng độ
FIC 41XX: Cảm biến lưu lượng
V XX: Van điều khiển tự động
Trang 15Trên giao diện ta thấy đường bột J1 đi vào bể bột LIC4101, chỉ số màu đỏ làchỉ số thực tế, chỉ số màu xanh là chỉ số đặt Bơm có thể được điều khiển bằng tay(manual) hoặc tự động (auto), nếu để ở chế độ điều khiển bằng tay thì ta ấn on/offbăm sẽ được bật hoặc tắt theo ý người vận hành, còn chế độ tự động thì mình sẽ đặtmức bột yêu cầu là bao nhiêu vào ô màu xanh thì bơm sẽ tự động duy trì khi đầybột bơm sẽ tự động ngắt
Tiếp theo ta có thể thấy cảm biến nồng độ cũng sẽ có hai chế độ là điềukhiển bằng tay hoặc tự động
VD: Nồng độ bột giấy của nhà máy thường là từ (2÷5)% ví dụ nếu mình cần 3% thìmình sẽ đặt 3.0 vào ô xanh Chỉ số đỏ là chỉ số thực tế thì nó sẽ tự động đóng mởvan để đạt được nồng độ thực tế, ví dụ nồng độ loãng quá thì nó tự động khóa bớtvan lại còn nếu đặc quá thì nó sẽ tự động mở van ra để pha thêm nước trắng vào đểđạt được nồng độ mong muốn Tương tự thì điều khiển lưu lượng bột giấy cũng sẽ
có hai chế độ điều khiển thông quả thông tin phản hồi từ cảm biến lưu lượng
CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG GIÁM SÁT BẰNG WINCC
2.1 Sơ đồ động lực và điều khiển các thiết bị trong nhà máy
- Nhà máy sử dụng các khay phối điện để tiện cho việc thay thế và sửa chữa 1 cách
dễ dàng Một số sơ đồ khay phối điện, thực chất là các khởi động từ đơn:
Trang 16Hình 2.1: Sơ đồ khay phối điện loại CĐ – 01
Hình 2.2: Sơ đồ khay phối điện loại CĐ – 02
Trang 18Hình 2.4 Mạch động lực và đèn báo
Trang 19Hình 2.5: Mạch điều khiển
- Máy nghiền đĩa: Tạo tính lí hóa cho bột giấy:
Trang 20Hình 2.6: Mạch động lực và đèn báo
Trang 21Hình 2.7: Mạch điều khiển
- Cần trục 10T: Đưa giấy loại vào máy nghiền thủy lực, thay thế cho băng tải
Trang 22Hình 2.8: Bảng điều khiển và máy biến áp
Trang 24Bảng 2.1: Trạm biến áp số 3 phân phối tới các tủ điện và các thiết bị:
ST
MÃHIỆU
CÔNG SUẤT(KW)
GHICHÚ
1
Lọc cát nồng độ cao J1, J3,
J4
Đã thayđộng cơ
45 kw
Trang 27- Quy trình công nghệ sản xuất bột giấy từ giấy loại
Sau khi giấy loại (AOCC) được đánh tơi, lọc nồng độ cao, sàng, lọc nồng độtrung bình, từ thiết bị phân tách sợi lần 1, dòng bột được chia thành xơ sợi ngắn và
xơ sợi dài Xơ sợi ngắn tiếp tục được xử lý dùng để làm lớp giữa tờ giấy Xơ sợidài tiếp tục được phân tách ở thiết bị phân tách lần hai để lại phân thành hai loại xơsợi Loại dài hơn được gia công tiếp và rồi lại phân thành hai nhóm xơ sợi sau khiphân tách nóng Nhóm sợi tốt nhất được chuyển sang dây chuyền chuẩn bị sợi từbột nguyên để làm lớp mặt tờ giấy Nhóm sợi kém hơn được xử lý rồi cùng với loạisợi ngắn hơn sau lần phân tách thứ hai ở công đoạn nghiền để làm lớp lưng tờ giầy
Xơ sợi ngắn được tách ra ở thiết bị phân tách thứ hai được gia công để làm lớplưng tờ giấy
Trang 28AOCC Nồng độ bột cho hoạt động tối ưu là 4 - 4,5% Lượng nạp liệu đặc biệt caonhờ dòng xoáy nước tối ưu được tạo ra bởi thiết kế hoàn hảo của cánh khuấy vàthành bể Máy được thiết kế đặc biệt kiểu D hoặc Sigma, nâng cao đáng kể hiệuquả nghiền vụn đồng thời giảm tiêu hao năng lượng và tiêu hao nước Thiết bịHDC là thiết bị lọc hình côn có đường kính phần hình trụ tương đối lớn Thiếtbịđược thiết kếđể lọc những mảnh tạp chất thô (như những mẩu kim loại, thủy tinh,nhựa… có kích thước lớn) mà chúng mới bị máy nghiền thủy lực làm vỡ ra và vẫncòn lẫn trong dòng bột tái sinh Nồng độ bột trong thiết bị này khoảng 3 – 4,5% (sovới nồng độ bột trong thiết bị lọc côn ở khâu lọc sạn cát là <1%) vì vậy nó được gọi
là thiết bị lọc nồng độ cao
Sau khi qua thiết bị lọc thô nồng độ cao, bột tái sinh qua thiết bị sàng để loại
bỏ khỏi dòng bột những đám bột chưa bị đánh tan hết sau quá trình nghiền thủylực Ở đây dùng sàng áp lực 4 giai đoạn nên thu hồi gần triệt để lượng bột tốt cònlẫn trong dòng bột thải Nồng độ bột là 2 - 4,5%
Sau đó dòng bột đi tới thiết bị lọc nồng độ trung bình để loại bỏ những tạpchất kích thước nhỏ Nồng độ bột ở thiết bị khoảng từ 2 – 4% Qua thiết bị này,một lần nữa các tạp chất bị loại bỏ khỏi dòng bột (nhựa, keo, cát…)
Tiếp theo dòng bột được đưa vào thiết bịphân tách riêng xơ sợi dài và xơ sợingắn
Trong sản xuất giấy làm hòm hộp các tông từ OCC, để tận dụng hiệu quả xơsợi cần tách riêng bột sợi dài (dùng làm lớp mặt, vì nó làm tăng độ bền cơ lý vàtính mỹ quan của giấy) và bột sợi ngắn (dùng làm lớp giữa) từ dòng bột tái sinh.Thiết bị này có cấu tạo giống như sàng áp lực dạng lỗ, nhưng lỗ sàng ở đây thườngnhỏ khoảng 1,4 mm, nồng độ bột khoảng 3,5 - 4%
Đầu tiên dòng bột được đưa vào thiết bị phân tách sợi lần thứ nhất Dòng bột
ra được chia làm hai nhánh:
Ở nhánh thứ nhất, dòng bột chứa xơ sợi ngắn tiếp tục qua thiết bị lọc nồng độthấp 3 giai đoạn để loại bỏ những tạp chất nhẹ (mảnh vụn nhựa, sáp nến, băng