Đặc trưng riêng của hạch toán kế toán là nghiên cứu sự vận động lien tục của tài sản và nguồn hình thành tài sản đóKết luận: Đối tượng của hạch toán kế toán là nghiên cứu các loại tài sả
Trang 1BÀI GIẢNG MÔN HỌC: NGUYÊN LÝ KẾ TOÁNCHƯƠNG 1:
BẢN CHẤT VÀ ĐỐI TƯỢNG CỦA HẠCH TOÁN KẾ TOÁN 1.1 Bản chất của hạch toán ké toán:
1.1.1 Khái niệm kế toán
Có rất nhiều khái niệm về kế toán:
- GS TS Robet Anthony – một nhà nghiên cứu lý luận kinh tế nổi tiếng của trường Đại
học Harward của Mỹ cho rằng: “Kế toán là ngôn ngữ của kinh doanh,
- Theo Ronald J Thacker thì cho rằng: “Kế toán là là một phương pháp cung cấp thông tin cần thiết cho quản lý có hiệu quả và để đánh giá hoạt động của mọi tổ chức,
- Liên đoàn kế toán quốc tế – IFAC (International Federation of Accountant) đã định
nghĩa: “Kế toán là nghệ thuật ghi chép, phân loại và tổng hợp theo cách riêng có bằng những khoản tiền, bằng các nghiệp vụ và các sự kiện mà chúng có ít nhất một phần tính chất tài chính và trình bầy kết quả của nó,
- Theo Điều 4, luật kế toán Việt Nam được Quốc hội khía XI, kỳ họp thứ 3 thông qua
ngày 19/6/2003 và có hiệu lực vào ngày 1/1/2004: “ Kế toán là việc thu thập, xử lý, kiểm tra, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính dưới hình thái giá trị, hiện vật và thời gian lao động,
Từ các định nghĩa trên có thể hiểu kế toán trên các khía cạnh sau:
Xét trên khía cạnh khoa học: là khoa học về thông tin
Xét trên khía cạnh nghề nghiệp: là công việc tính toán ghi chép bằng con số
1.1.2 Bản chất của hạch toán kế toán
- Hạch toán kế toán là một môn khoa học xã hội
- Hạch toán kế toán cần phải sử dụng các phương pháp chuyên môn riêng có của mình để thực hiện các bước quan sát, ghi chép các hoạt động xẩy ra trong đơn vị và được thể hiện qua sơ
đồ sau:
Trang 2Sơ đồ mối quan hệ của hệ thống kế toán với môi trường kinh doanh
Bản chất của hạch toán kế toán là một hệ thống quan sát, đo lường, tính toán và ghi chép các hoạt động kinh tế bằng những phương pháp riêng của kế toán
1.1.3 Sử dụng các thông tin kế toán
- Thông tin kế toán có vai trò trong quá trình ra quyết định của người sử dụng
- Thông tin kế toán có tính logic vì số liệu kế toán bao giờ cũng cung cấp được thông tin
về việc sử dụng tài sản trong trạng thái luôn vận động và thông tin có tính 2 mặt (Khi biến động tăng giảm của một tài sản đều đồng thời với việc thay đổi của các tài sản khác hay của nguồn vốn)
- Kế toán cung cấp thông tin cho nhiều nhu cầu, nhiều đối tượng khác nhau trong xã hộiSau đây là những đối tượng sử dụng thông tin kế toán của doanh nghiệp:
Kết thúc bằng việc ghi chép số liệu
Kết thúc bằng hoạt động báo cáo
Kết thúc bằng việc lưu giữ và lập báo cáo
Trang 3Sơ đồ: Sử dụng thông tin kế toán
Chủ DN
Thông tin
kế toán
Người sử dụng ngoài doanh nghiệp
Người sử dụng trong doanh nghiệp
Người có lợi ích trực tiếp
Cơ quan chức năng
Ban quản lý
Hội đồng quản trị
Phòng vật tưNhà đầu tư
Các cổ đông
Nhà cung cấp
Các ngân hàng
Tổ chức khác
Cơ quan thuế
Nhà quản
lý doanh nghiệp
Các phòng
hoạch
Trang 41.1.4 Các bộ phận của hạch toán
Gồm: Hạch toán nghiệp vụ, hạch toán thống kê và hạch toán kế toán
* Hạch toán nghiệp vụ:
- Khái niệm: Là sự quan sát, phán ánh và giám đốc trực tiếp từng nghiệp vụ kinh tế -
kỹ thuật cụ thể nhằm mục đích chỉ đạo kịp thời và thường xuyên các nghiệp vụ đó
- Đối tượng nghiên cứu: Các nghiệp vụ kinh tế kỹ thuật cụ thể: như quy trình sản xuất,
tình hình cung cấp vật tư, tình hình thực hiện các yếu tố của sản xuất…
- Phương pháp nghiên cứu:
+ Sử dụng cả 3 loại thước đo hiện vật và thước lao động, thước đo giá trị để cung cấp thông tin cần thiết mà không chuyên sâu vào thước đo nào
+ Phương tiện thu thập và truyền tin đơn giản: chứng từ ban đầu, điện thoại, điện báo, truyền miệng…
- Đặc điểm thông tin:
+ Là thông tin dùng cho lãnh đạo nghiệp vụ kỹ thuật nên yêu cầu cung cấp những thông tin nhanh, gọn, kịp thời cho việc chỉ đạo nghiệp vụ kỹ thuật hàng ngày
+ Hệ thống thông tin nghiệp vụ thường không phản ánh được một cách toàn diện và rõ nét về sự vật hiện tượng, các quá trình kinh tế – kỹ thuật
+ Tuỳ theo yêu cầu có thể chỉ thông tin một phần nhỏ cần thiết nhất cho lãnh đạo hoặc hoạt động nghiệp vụ
* Hạch toán thống kê:
- Khái niệm: Là một môn khoa học nghiên cứu mặt lượng trong mối quan hệ với mặt
chất của các hiện tượng kinh tế - xã hội số lớn trong điều kiện thời gian và địa điểm cụ thể nhằm rút ra bản chất và tính quy luật trong sự phát triển của hiện tượng đó
- Đối tượng nghiên cứu:
+ Nghiên cứu trên diện rộng thuộc phạm vi cả nước các hiện tượng kinh tế xã hội số lớn như: dân số, xã hội học
+ Nghiên cứu cả các trường hợp cá biệt của các hiện tượng kinh tế xã hội
- Phương pháp nghiên cứu:
+ Sử dụng cả 3 loại thước mà không chuyên sâu vào thước đo nào
+ Các phương pháp thu thập, phân tích và tổng hợp thông tin như:
Trang 5điều tra thống kêphân tổ thống kê
Số tương đối, số tuyệt đối, số bình quânPhương pháp chỉ số
- Đặc điểm thông tin:
+ Biểu hiện bằng các số liệu cụ thể
+ Thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau
+ Mang tính tổng hợp cao, đã qua phân tích, xử lí
* Hạch toán kế toán:
- Khái niệm: Là môn khoa học bằng phương pháp chuyên môn riêng đã ghi chép, phân
tích, tổng hợp những nghiệp vụ kinh tế phát sinh trong mỗi doanh nghiệp hay đơn vị
- Đối tượng nghiên cứu:
+ Cá hoạt động kinh tế, tài chính: sự biến động về tài sản, nguồn vốn, sự tuần hoàn và chu chuyển của vốn…
+ Sử dụng 3 thước đo nhưng thước đo giá trị là vô cùng quan trọng và là chủ yếu
+ Các phương pháp riêng gồm: phương pháp lập chứng từ, kiểm kê, phương pháp đánh giá và tính giá thành, phương pháp đối ứng tài khoản và ghi sổ kép, phương pháp cân đối để lập các báo cáo tài chính – kế toán
- Đặc điểm thông tin
+ Thông tin kế toán là thông tin động về tuần hoàn của tài sản, phản ánh và giám đốc một cách liên tục, toàn diện và có hệ thống các loại tài sản, nguồn vốn trong hoạt động sản xuất kinh doanh của một đơn vị từ khâu cung cấp, sản xuất đến tiêu thụ
+ Thông tin kế toán luôn mang tính 2 mặt: tài sản – nguồn hình thành, tăng – giảm, chi phí – kết quả
+ Thông tin kế toán là kết quả của quá trình có tính 2 mặt: thông tin và kiểm tra
Kết luận:
- Ba loại hạch toán trên là ba bộ phận cấu thành của hạch toán kinh tế.
- Chúng bổ sung cho nhau tạo thành bộ phận thống nhất trong quá trình hạch toán ban đầu
- Chúng thu thấp và cung cấp các thông tin về kinh tế – tài chính, là công cụ quan trọng trong việc tổ chức quản lý sản xuất, chỉ đạo điều hành và ra quyết định
Trang 61.2 Các nguyên tắc cơ bản của hạch toán kế toán
Có 12 nguyên tắc cơ bản của kế toán, đó là:
1 Nguyên tắc thước đo tiền tệ:
+ Nguyên tắc này khẳng định 1 đơn vị thống nhất trong việc tính toán và ghi chép các nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh là tiền tệ.( những nghiệp vụ kinh tế phát sinh không thể biểu hiện bằng tiền thì kế toán không thể ghi nhận được)
+ Kế toán lựa chọn và và sử dụng một đơn vị tiền tệ làm thước đo (thông thường thước
đo tiền tệ được lựa chọn là đơn vị tiền tệ chính chức của quốc gia mà đơn vị kế toán đăng ký hoạt động)
2 Nguyên tắc đơn vị kế toán:
+ Đơn vị kế toán là một đơn vị kinh tế sử dụng các tiềm lực về tài sản để tiến hành sản xuất – kinh doanh, thực hiện quá trình ghi chép, tổng hợp và báo cáo kết quả hoạt động của mình
+ Về mặt kế toán, mỗi doanh nghiệp, mỗi đơn vị quốc doanh, công ty trách nhiệm hữu hạn… được xem là một tổ chức độc lập, đều là đơn vị kế toán
3 Nguyên tắc hoạt động liên tục:
Nguyên tắc này quy định việc ghi chép kế toán phải được đặt ra trên giả thiết là doanh nghiệp sẽ hoạt động liên tục vô thời hạn hay ít nhất là không bị giải thể trong tương lai gần Do vậy kế toán không quan tâm đến giá thị trường của tài sản, tiền vốn hay công nợ mà nó đang giám đốc Ví thế mà công tác kế toán đều được phản ánh theo giá phí và giá gốc
4 Nguyên tắc kỳ kế toán:
+ Theo Luật kế toán kỳ kế toán là khoản thời gian xác định từ thời điểm đơn vị kế toán bắt đầu ghi sổ kế toán đến thời điểm kết thúc việc ghi sổ kế toán, khoá sổ để lập báo cáo tài chính (là thời điểm báo cáo tài chính được lập lên)
+ Kỳ kế toán chính thức thường là 1 năm – 12 tháng
+ Kỳ kế toán tạm thời có thể theo tháng, quý
Đối với Việt Nam năm tài chính kết thúc vào ngày 31/12 hàng năm
5 Nguyên tắc giá phí:
+ Mọi ghi chép, tính toán vật tư, tài sản, công nợ, chi phí…phải dựa vào giá trị thực tế
là giá vốn hay giá gốc mà không chịu ảnh hưởng của giá thị trường lúc tăng lúc giảm Vì theo
Trang 7nguyên tắc hoạt động liên tục nên nó không quan tâm đến giá thị trường (trừ trường hợp đặc biệt khi giá thị trường của những hàng tồn kho tụt xuống thấp hơn giá phí)
+ Giá phí của tài sản được tính theo số tiền hoặc các khoản tương đương tiền đã trả, phải trả hoặc tính theo giá trị hợp lý của tài sản vào thời điểm tài sản được ghi nhận
6 Nguyên tắc doanh thu thực hiện:
+ Thời điểm ghi nhận doanh thu là trùng với thời điểm chuyển quyền sở hữu sản phẩm hàng hoá, dịch vụ
+ Doanh thu chỉ được ghi nhận khi đơn vị đã hoàn thành trách nhiệm cung cấp sản phẩm, hàng hoá hay dịch vụ cho khách hàng và đã được khách hàng trả tiền hoặc chấp nhận thanh toán
+ Quy định việc xác định chi phí để tính kết quả cuối cùng (lãi, lỗ) của doanh nghiệp Chi phí để tính lãi lỗ là tất cả các chi phí phải gánh chịu để tạo nên doanh thu đã ghi nhận trong
kỳ Đối với những chi phí trả trước phải được tính toán và phân bổ vào các kỳ sau
8 Nguyên tắc khách quan:
+ Đòi hỏi mọi quá trình ghi chép kế toán phải được đặt trên cơ sở khách quan, có thể kiểm tra được tức là khi ghi sổ kế toán phải có chứng từ gốc kèm theo để đảm bảo tính trung thực của nguồn số liệu Ví dụ như hoá đơn, thoả thuận, hợp đồng…
+ Số liệu kế toán được ghi chép và lập báo cáo đảm bảo độ tin cậy và giúp các nhà chuyên môn kiểm tra dẽ dàng
Trong hoạt động ghi chép, phản ánh thông tin tài chính, kế toán có thể có nhiều bằng chứng khác nhau như bao giờ cũng phải dựa vào những bằng chứng khách quan nhất
9 Nguyên tắc nhất quán:
Trang 8+ Quá trình kế toán phải áp dụng tất cả các khái niệm, nguyên tắc, các chuẩn mực, các phương pháp tính toán phải trên cơ sở nhất quán từ kỳ này sang kỳ khác
+ Trong trường hợp có sự thay đổi thì phải có sự giải trình trong thuyết minh báo cáo tài chính
+ Mục đích vì nó giúp cho người sử dụng thông tin trên báo cáo tài chính có thể so sánh
và phân tích được thông tin qua các kỳ, hiểu được những thay đổi về tình hình tài chính của đơn vị
10 Nguyên tắc thận trọng:
+ Khi có nhiều giải pháp hãy chọn giải pháp ít ảnh hưởng nhất tới vốn chủ sở hữu.+ Thận trọng là việc xem xét, cân nhắc, phán đoán cần thiết để lập các ước tính kế toán
Theo Chuẩn mực kế toán số 1 – chuẩn mực chung đòi hỏi:
1 Phải lập các khoản dự phòng nhưng không lập quá lớn
2 Không đánh giá cao hơn giá trị của các tài sản và các khoản thu nhập
3 Không đánh gía thấp hơn giá trị của các khoản nợ phải trả và chi phí
4 Doanh thu và thu nhập chỉ được ghi nhận khi có bằng chứng chắc chắn về khả năng thu được lợi ích kinh tế, còn chi phí phải được ghi nhận khi có bằng chứng về khả năng phát sinh chi phí
Như vậy: Nguyên tắc thận trọng là ghi việc tăng vốn chủ sở hữu khi nào chúng có chứng
cớ chắc chắn nhưng ghi giảm ngay khi chúng có chứng cớ chưa chắc chắn
11 Nguyên tắc công khai:
+ Tất cả các hoạt động kinh tế diễn ra trong kỳ của đơn vị đều phải được phản ánh đầy
đủ trong hệ thống báo cáo, phải giải thích rõ ràng các số liệu quan trọng để người đọc báo cáo hiểu đúng tình hình tài chính của đơn vị
+ Theo nguyên tắc này các báo cáo tài chính phải phản ánh trung thực, khách quan về tình hình tài chính đã phát sinh trong kỳ kế toán
12 Nguyên tắc trọng yếu (thực chất):
+ Đòi hỏi ghi chép các yếu tố được coi là quan trọng bỏ qua những yếu tố được coi là không quan trọng nếu yếu tố bỏ qua đó không ảnh hưởng đến sự nhận xét, đánh giá đối với người sử dụng thông tin kế toán
Trang 9+ Các vấn đề không quan trọng có thể được bỏ qua nếu chúng không làm thay đổi bản chất của thông tin kế toán (bỏ qua nhưng không có nghĩa là không ghi nhận mà có thể không tuân cần tuân theo đúng bản chất của sự kiện
1.3 ĐỐI TƯỢNG CỦA HẠCH TOÁN KẾ TOÁN
1.3.1 Khái quát về đối tượng của kế toán
- Đối tượng chung của các môn khoa học kinh tế là quá trình tái sản xuất xã hội trong
đó mỗi môn khoa học nghiên cứu một góc độ riêng
- Hạch toán kế toán là một môn khoa học khác với các môn khoa học khác, vì nó là: phương pháp phản ánh và giám đốc các loại vốn kinh doanh, các quá trình kinh doanh
công cụ để phục vụ quản lý kinh tế – tài chính trong toàn bộ các khâu của nền kinh
- Vốn ban đầu tham gia vào 3 giai đoạn sản xuất: cung cấp, sản xuất và tiêu thụ sản phẩm Do đó vốn này tồn tại dưới nhiều dạng khác nhau (vất chất hoặc phi vật chất), được đo bằng tiền gọi là tài sản
Kế toán phải phản ánh đầy đủ và giám đốc chặt chẽ các loại vốn kinh doanh trong từng giai đoạn của sản suất
- Tài sản được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau Do vốn tự có, có thể do vay mượn,
do góp vốn liên doanh liên kết…
Kế toán phải phản ánh được nguồn hình thành của vốn kinh doanh, mục đích của mỗi loại nguồn vốn nhằm quản lý một cách chặt chẽ các loại tài sản của mình.
Trong quá trình sản xuất, tài sản của đơn vị vận động không ngừng qua các giai đoạn khác nhau, nó biến đổi về mặt hình thái và mặt giá trị Tiền – Hàng – Hàng – Tiền
Trang 10Đặc trưng riêng của hạch toán kế toán là nghiên cứu sự vận động lien tục của tài sản và nguồn hình thành tài sản đó
Kết luận: Đối tượng của hạch toán kế toán là nghiên cứu các loại tài sản trong mối quan
hệ 2 mặt vốn và nguồn vốn, nghiên cứu sự vận động không ngừng của tài sản trong doanh nghiệp thông qua các nghiệp vụ kinh té phát sinh
1.3.2 Tài sản
* Sự hình thành tài sản:
Theo định nghĩa của Uỷ ban Tiêu chuẩn Kế toán quốc tế (IASC) thì:
“Tài sản là nguồn lực (kinh tế) do doanh nghiệp kiểm soát, nó là kết quả của các sự kiện đã phát sinh trong quá khứ và mang lại lợi ích kinh tế trong tương lai cho doanh nghiệp,
- Tài sản biểu thị lợi ích mà đơn vị sẽ thu được trong tương lai VD: nguyên vật liệu, lao động qua quá trình sản xuất sẽ tạo ra sản phẩm
- Tài sản là tiềm năng của đơn vị phục vụ cho các hoạt động kinh tế theo chức năng, nhiêm vụ
- Tài sản của doanh nghiệp gồm nhiều loại: Nhà xưởng, máy móc, nguyên vật liệu,…Mỗi loại tài sản đều có nguồn gốc hình thành gọi là nguồn vốn
- Không tài sản nào không có nguồn gốc hình thành
- Giá trị tài sản và nguồn hình thành tài sản chỉ là 2 mặt khác nhau của 1 tài sản chứ không phải là 2 tài sản riêng biệt
+ Xét về mặt giá trị tài sản biểu hiện: tài sản phản ánh cái đang có, gọi là vón kinh doanh
+ Xét về nguồn hình thành: tài sản biểu hiện mặt trừu tượng cho biết tài sản hình thành
2 Nguồn vốn = Nợ phải trả + Nguồn chủ sở hữu
3 Tài sản = Nợ phải trả + Nguồn chủ sở hữu
4 Nguồn chủ sở hữu = Tài sản - Nợ phải trả
Trang 11(Vì tài sản của bất kỳ doanh nghiệp nào cũng đều hình thành từ 2 nguồn: Nguồn vốn của chủ sở hữu và các món nợ phải trả)
Phương trình kế toán này thể hiện tính cân bằng về mặt lượng luôn luôn được đảm bảo trong bất kỳ thời điểm kinh doanh
* Phân loại tài sản
Xét theo kết cấu của tài sản, tài sản gồm: Tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn
* Tài sản ngắn hạn: là những tài sản thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp có thời gian
luân chuyển và thu hồi vốn trong vòng 1 năm TSLĐ gồm: vốn bằng tiền, các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn, các khoản phải thu, …
- TS trong lĩnh vực sản xuất: bao gồm những tài sản đã và đang dự trữ cho sản xuất
gồm:
+ Nguyên vật liệu, nhiên liệu, công cụ, dụng cụ:
+ Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang:
- TS trong lưu thông: là những tài sản đã và đang chuẩn bị tham gia vào quá trình lưu
thông phân phối gồm:
+ Vốn bằng tiền, các khoản nợ phải thu, các khoản tạm ứng
+ Thành phẩm, hàng hoá dự trữ trong kho hoặc đang gửi bán
+ Các khoản tài sản tham gia đầu tư tài chính ngắn hạn
* Tài sản dài hạn: là những tài sản có giá trị lớn thời gian luân chuyển vốn dài (thường
là > 1 năm hoặc lớn hơn 1 chu kỳ kinh doanh) TSCĐ gồm: TSCĐ hữu hình, TSCĐ vô hình, Các khoản đầu tư dài hạn
- TSCĐ hữu hình: là các tài sản có hình thái vật chất cụ thể, và nếu thoả mãn đồng thời
cả 4 tiêu chuẩn (theo chế độ kế toán ban han hành kèm theo quyết định số 15/2006/QĐ- BTC ngày 20/3/2006 của Bộ Tài chính)
1 Chắc chắn thu được lợi ích kinh tế trong tương lai từ việc sử dụng tài sản đó
2 Nguyên giá tài sản phải được xác định một cách tin cậy
3 Có thời hạn sử dụng từ một năm trở lên
4 Có giá trị theo quy định hiện hành (từ 10.000.000 đ trở lên)
Bao gồm: nhà cửa, máy móc thiét bị, phương tiện vận tải, vườn cây lâu năm, súc vật làm việc…
Trang 12+ TSCĐ vô hình là những tài sản không có hình thái vật chất cụ thể Nó chứa một lượng giá trị lớn đã đầu tư cho hoạt động sản xuất kinh doanh gồm: quyền sử dụng tài sản, bằng phát minh sáng chế, nhãn hiệu hàng hoá, chi phí nghiên cứu…
- Các khoản đầu tư dài hạn là những khoản đầu tư có thời hạn thu hồi vốn trên một năm với mục đích lấy lãi như góp vốn liên doanh dài hạn, đầu tư chứng khoán dài hạn
Sơ đồ khái quát cách phân loại tài sản
TS lưu thông
Hàng đang đi trên đgNguyên liệu, vật liệuCông cụ, dụng cụChi phí SXKDD
Vốn bằng tiềnĐầu tư TC ngắn hạn
Nợ phải thu
TSCĐ hữu hình
TSCĐ
Máy móc thiết bị
Quyền sử dụng đấtBằng phát minh sáng chế
Thành phẩm
Hàng hoá
Nhà cửa, vật kién trúc
Trang 131.3.3 Nguồn hình thành tài sản
Nguồn hình thành của toàn tài sản gồm nguồn vốn chủ sở hữu và nguồn nợ phải trả
Nguồn vốn chính là nguồn gốc hình thành nên tài sản
1.3.3.1 Nguồn vốn chủ sở hữu:
Theo định nghĩa của Uỷ ban Tiêu chuẩn quốc tế (IASC): Vốn chủ sở hữu phản ánh phần
sở hữu còn lại đối với tài sản của doanh nghiệp, sau khi đã rừ đi tất cả các khoản nợ của doanh nghiệp
Nguồn chủ sở hữu = Tài sản - Nợ phải trả
- Vốn chủ sở hữu bao gồm số vốn của các chủ sở hữu, các nhà đầu tư đóng góp mà doanh nghiệp không phải cam kết thanh toán (vì đây không phải là một khoản nợ)
- Vốn chủ sở hữu ngoài số vốn hình thành ban đầu còn bao gồm:
+ Vốn đầu tư ban đầu và đầu tư bổ sung của các chủ sở hữu
+ Lãi hàng năm phân phối để hình thành và bổ sung các quỹ: quỹ phát triển sản xuất, quỹ dự trữ, quỹ dự phòng…
+ Các loại vốn chủ sở hữu khác: nguồn vốn XDCB, chêch lệch tỷ giá…
- Tuỳ thuộc các loại hình khác nhau có thể có 1 hoặc nhiều chủ sở hữu Theo Luật doanh nghiệp có hiệu lực kể từ ngày 1/7/2006:
+ Đối với doanh nghiệp tư nhân: Vốn chủ sử hữu là vốn của tư nhân (cá nhân)
+ Đối với công ty TNHH là vốn góp của thành viên hoặc các thành viên trong công ty+ Đối với công ty cổ phần: Vốn chử sở hữu là vốn của các cổ đông
+ Đối với công ty hợp danh: Vốn chủ sở hữu là vốn do các bên hợp dand góp vốn theo
tỷ lệ thoả thuận
1.3.3.2 Nợ phải trả
Theo định nghĩa của Uỷ ban Tiêu chuẩn quốc tế (IASC): phản ánh nghĩa vụ hiện thời của doanh nghiệp, phát sinh từ các nghĩa vụ, sự kiện trong quá khứ, thanh toán nợ sẽ dẫn tới sự mất đi của các nguồn lực mang lợi ích kinh tế của doanh nghiệp
- Nợ phải trả: là nguồn tài trợ từ bên ngoài nhắm đảm bảo cho doanh nghiệp có đủ vốn kinh doanh Đây là các khoản doanh nghiệp đã đi vay, chiếm dụng của các đơn vị, cá nhân, tổ chức và doanh nghiệp phải có tránh nhiệm trả Nợ phải trả gồm: nợ ngắn hạn và nợ dài hạn
+ Nợ ngắn hạn: là khoản nợ mà doanh nghiệp có trách nhiệm phải thanh toán trong thời gian 1 năm hoặc 1 chu kỳ kinh doanh gồm nợ tín dụng và nợ chiếm dụng
Trang 14Nợ tín dụng là khoản nợ phải trả cả gốc lẫn lãi gồm các khoản vay ngắn hạn ngân hàng,
nợ dài hạn đã đến hạn trả…
Nợ chiếm dụng là khoản nợ mà doanh nghiệp chiếm dụng của người khác mà không phải trả lãi gồm: phải trả người bán, phải trả công nhân viên, thuế phải nộp cho nhà nước…
+ Nợ dài hạn: là khoản nợ doanh nghiệp phải có trách nhiệm thanh toán với thời gian >
1 năm (hay > 1 chu kỳ kinh doanh) gồm nợ dài hạn tín dụng
Nợ dài hạn tín dụng: vay dài hạn, vay đầu tư mua sắm TSCĐ…
Nợ dài hạn chiếm dụng: như ký quỹ, ký cược, nợ người bán
Ví dụ luyện tập:
1.3.4 Sự tuần hoàn và chu chuyển của vốn
- Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh tài sản của doanh nghiệp sẽ không ngừng vận động, nó biến đổi cả về hình thái và lượng giá trị: Sự biến đổi về hình thái tồn tại của các loại tài sản chủ yếu phụ thuộc vào chức năng cơ bản của doanh nghiệp
* Đối với doanh nghiệp sản xuất: Chức năng cơ bản là sản xuất và tiêu thụ sản phẩm
làm ra nên tài sản của đơn vị sẽ thay đổi hình thái qua 3 giai đoạn: cung cấp, sản xuất và tiêu thụ
Giai đoạn 1: cung cấp
T H (Để chuẩn bị sản xuất) ( vốn tiền tệ => vốn dự trữ )
Tài sản từ hình thái tiền tệ chuyển sang hình thái hiện vật
Giai đoạn 2: sản xuất
H H’(chế tạo ra sản phẩm) (Vốn dự trừ Vốn sản xuất
Tài sản từ hình thái hiện vật sang thành thái hiện vật
Giai đoạn 3: tiêu thụ
H T’ (bán sản phẩm) (Vốn sản xuất Vốn tiêu thụ)
Tài sản từ hình thái hiện vật sang hình thái tiền tệ
Vậy qua 3 giai đoạn vốn kinh doanh của doanh nghiệp đã trải qua một vòng và trở về hình thái ban đầu là tiền tệ tạo thành một chu kỳ khép kín gọi là sự tuần hoàn của vốn Và chu
kỳ này lặp đi lặp lại không ngừng
Trang 15Sơ đồ tuần hoàn của vốn kinh doanh
Chú thích: T và T’: Vốn bằng tiền
H: Vật tư cho sản xuất
H’: Thành phẩm, kết quả sản xuất
* Đối với doanh nghiệp thương mại: Chức năng cơ bản là mua và bán hàng hoá
Tương ứng với 2 quá trình này, quá trình sản xuất của doanh nghiệp diễn ra qua 2 giai đoạn: vì vậy vốn của thương mại chỉ vận động từ
+ Giai đoạn 1: Vốn tiền tệ chuyển thành vốn hàng hoá
+ Giai đoạn 2: Vốn hàng hoá chuyển thành vốn bằng tiền
Sự biến đổi này cũng mang tính tuần hoàn và thực hiện hoạt động lưu thông phân phối
sẽ tạo ra T’ > T, thu được lợi nhuận để duy trì các tổ chức thương mại
1.4 Vị trí và nhiệm vụ của công tác kế toán
1.4.1 Ví trí của hạch toán kế toán
- Hạch toán kế toán là công cụ đắc lực cho quản lý kinh tế tài chính, có vai trò quan trọng trong quản lý kinh tế tài chính
Trang 16- Nhằm mục đích tăng cường khâu quản lý các hoạt động kinh tế trong từng đơn vị để mang lại hiệu quả kinh tế cao, các nhà quản lý kinh tế ra quyết định kinh tế, hạch toán kế toán thực hiện thu nhận xử lý và cung cấp thông tin đầy đủ, kịp thời công tác quản lý của đơn vị và của nhà nước.
- Nền sản xuất xã hội ngày càng phát triển, yêu cầu và trình độ quản lý ngày càng cao,
kế toán càng khẳng định được và trò là công cụ đắc lực cho quản lý kinh tế, tài chính, đặc biệt trong lĩnh vực sản xuất, lưu thông và trao đổi hàng hóa
- Từ khi nền kinh tế thị trường phát triển các loại hình và các đơn vị kinh tế không những ngày càng nhiều về số lượng mà còn không ngừng mở rộng qui mô và phạm vi hoạt động Bên cạnh đó trên lĩnh vực hoạt động sản xuất kinh doanh có sự cạnh tranh ngày càng khốc liệt giữa các công ty trong nước và công ty nước ngoài Vì vậy các doanh nghiệp để có thể cạnh tranh tồn tại và phát triển được chính các đơn vị phải tổ chức thu nhận đầy đủ, nhanh chóng, kịp thời thông tin về tình hình và kết quả hoạt động kinh tế để từ đó đề ra các quyết định kinh tế phù hợp, kịp thời và hữu hiệu
1.4.3 Yêu cầu của hạch toán kế toán
Để thực hiện tốt chức năng và nhiệm vụ của mình hạch toán kế toán cần phải đáp ứng một số yêu cầu sau:
1/ Kế toán phải chính xác, trung thực và khách quan:
2/ Kế toán phải thống nhất:
3/ Kế toán phải kịp thời:
4/ Kế toán phải đầy đủ:
5/ Kế toán phải rõ ràng, dễ hiểu:
6/ Kế toán phải tiết kiệm:
1.5 Các hình thức đo lường sử dụng trong hạch toán kế toán
Để ghi chép và phản ánh được số lượng, chất lượng các loại tài sản, nguồn hình thành tài sản thì hạch toán kế toán sử dụng các loại thức đo: Thước đo hiện vật, thước đo lao động, thước đo tiền tệ
1.5.1 Thước đo hiện vật
- Đặc điểm: Đây là loại thước đo lấy đơn vị tính phù hợp với thuộc tính tự nhiên hay
đặc điểm vật lý để xác định số đơn vị tổng thể của đối tượng hạch toán
Đối tượng hạch toán biểu hiện theo: Số lượng, trọng lượng, khối lượng, diện tích
Trang 17- Ưu điểm: + Sử dụng thước đo hiện vật để tính toán các loại vật tư, tài sản tính toán số
lượng vật tư dự trữ, số lượng vật liệu tiêu hao cho 1 đơn vị sản phẩm, cho tổng sản phẩm sản xuất ra
+ Sử dụng thước đo hiện vật có ý nghĩa quan trọng trong việc: Bảo vệ tài sản, Giám đốc
tình hình thực hiện các chỉ tiêu kế hoạch về mặt số liệu
+ Sử dụng thước đo hiện vật trong hạch toán chi tiết ghi chép cac sổ kế toán chi tiết như:
sổ chi tiết sản phẩm vật tư hàng hoá, sổ tài sản cố định…
- Nhược điểm: Thước đo hiện vật chỉ dùng để quan sát, xác định số lượng các loại hiện
vật, sản phẩm có cùng chất lượng Nó không thể tổng hợp chung cho nhiều loại sản phẩm và vật
tư có chất lượng khác nhau
1.5.2 Thước đo lao động
- Đặc điểm: là loại thước đo lấy đơn vị tính là ngày công, giờ công để xác định thời gian
lao động hao phí trong quá trình sản xuất – kinh doanh nào đó
- Ưu điểm: + Dùng thước đo này cho phép quản lý lao động, tính được một số chỉ tiêu: Năng suất lao động, làm căn cứ để tính lương cho công nhân, so sánh lượng hao phí lao động
sản xuất ra…
+ Dùng thước đo lao động để phản ánh vào bảng chấm công bảng thanh toán tiền lương
và sổ chi tiết tiền lương …
- Nhược điểm: Không thể tổng hợp được toàn bộ các loại lao động khác nhau do tính
chất công việc khau
1.5.3 Thước đo giá trị
- Đặc điểm: lấy tiền tệ làm đơn vị tính thống nhất để phản ánh và tổng hợp các loại tài
- Nhược điểm: Nếu chỉ sử dụng thước đo giá trị thì không phản ánh được kế toán chi
tiết về vật tư hàng hoá, tiền công, tiền lương trong đơn vị…
Kết luận: Tất cả 3 loại thước đo trên đều cần thiết và bổ sung cho nhau để phản ánh và
giám đốc các hoạt động kinh tế một cách đầy đủ và toàn diện
Trang 18 Trong công tác hạch toán, thước đo tiền tệ thường được sử dụng kết hợp với thước đo hiện vật và lao động
1.6 Các phương pháp chuyên môn của hạch toán kế toán
Hệ thống phương pháp kế toán là một hệ thống phương pháp khoa học, có quan hệ với nhau một cách biện chứng:
1.6.1 Lập chứng từ và kiểm kê
- Lập chứng từ: Lập chứng từ kế toán là phương pháp phản ánh các nghiệp vụ kinh tế
phát sinh đã hoàn thành bằng giấy tờ theo một mẫu quy định
- Kiểm kê: Kiểm kê là phương pháp kiểm tra tại chỗ các loại tài sản hiện có nhằm xác
định chính xác số lượng, chất lượng các loại tài sản hiện có, phát hiện các khoản chênh lệch giữa số liệu thực tế và số liệu trên sổ kế toán
1.6.2 Tính giá
- Đánh giá: Đánh giá là phương pháp dùng tiền để biểu hiện giá trị vật tư của doanh
nghiệp theo những nguyên tắc nhất định
- Tính giá thành: Tính giá thành là phương pháp tổng hợp các loại chi phí đã hao phí
trong quá trình sản xuất chứa đựng trong sản phẩm sản xuất ra Nó bao gồm cả lao động sống và lao động vật hoá kết tinh trong sản phẩm
1.6.3 Tài khoản và ghi sổ kép
- Tài khoản: Phương pháp tài khoản kế toán: Là phương pháp kế toán phân loại các đối
tượng kế toán để phản ánh và kiểm tra một cách thường xuyên, liên tục, có hệ thống tình hình và
sự vận động của từng đối tượng kế toán riêng biệt
- Ghi sổ kép: là phương pháp phản ánh các nghiệp vụ kinh tế phát sinh vào các tài
khoản kế toán theo đúng nội dung kinh tế của nghiệp vụ trong mối quan hệ khách quan giữa các đối tượng kế toán
1.6.4 Phương pháp cân đối và các báo cáo tài chính
- Phương pháp cân đối: là phương pháp kế toán mà việc thiết kế và sử dụng các bảng
tổng hợp cân đối kế toán để tổng hợp số liệu từ các sổ kế toán theo các chỉ tiêu kinh tế tài chính cần thiết nhằm cung cấp thông tin cho việc điều hành, quản lý các hoạt động kinh tế của đơn vị
và những người có lợi ích liên quan đến đơn vị
Trang 19- Các báo cáo tài chính: là phương pháp tổng hợp số liệu từ sổ sách của kế toán theo
những chỉ tiêu cần thiết vào những biểu mẫu quy định
Kết luận: - Các phương pháp kế toán này có mối quan hệ mật thiết với nhau, hỗ trợ lẫn
nhau, phương pháp này làm tiền đề cho phương pháp kia
- Các phương pháp này không tiến hành một cách độc lập
Trang 20CHƯƠNG 2: LẬP CHỨNG TỪ VÀ KIỂM KÊ 2.1 LẬP CHỨNG TỪ
2.1.1 Khái niệm về chứng từ kế toán
- Khái niệm: Chứng từ kế toán là những minh chứng bằng giấy tờ về nghiệp vụ kinh tế
đã phát sinh và đã thực sự hoàn thành
- Tác dụng:
+ Làm căn cứ để ghi sổ
+ Để minh chứng cho tính chính xác, trung thực của kế toán
+ Là căn cứ để giải quyết các khiếu nại, tranh chấp
+ Chống hiện tượng tham ô, tham nhũng
- Hệ thống chứng từ kế toán có 2 loại:
+ Hệ thống chứng từ kế toán thống nhất, bắt buộc: Gồm các loại chứng từ đã được Nhà nước tiêu chuẩn hoá về quy cách biểu mẫu, chỉ tiêu phản ánh, phương pháp lập và được áp dụng thống nhất cho tất cả các doanh nghiệp, các thành phần kinh tế (In sẵn theo mẫu)
+ Hệ thống chứng từ kế toán hướng dẫn: Gồm những chứng từ sử dụng trong nội bộ đơn
vị Nhà nước hướng dẫn các chỉ tiêu đặc trưng trên cơ sở đó các doanh nghiệp vận dụng vào cho phù hợp với yêu cầu của đơn vị mình Có thể thêm bớt một số chỉ tiêu nhưng phải đảm bảo những yếu tố cơ bản của chứng từ và phải có sự thoả thuận bằng văn bản của Bộ Tài chính
2.1.2 Phương pháp lập chứng từ
Lập chứng từ là phương pháp kế toán chủ yếu nhằm quan sát hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp kiểm soát và phản ánh ban đầu các hoạt động kinh tế trong phạm vi đối tượng hạch toán kế toán
Nội dung phương pháp lập chứng từ
+ Ghi chép vào chứng từ các nội dung kinh tế phát sinh các chỉ tiêu tính toáncủa nghiệp
vụ kinh tế phát sinh nhằm chứng minh tính hợp pháp của việc hình thành các nghiệp vụ kinh tế làm căn cứ ghi sổ
+ Lập kế hoạch luân chuyển chứng từ để tiếp tục các phần hành của kế toán
Với phương pháp lập chứng từ các quan hệ phát sinh của đối tượng kế toán được ghi chép 1 cánh kịp thời, phù hợp với đặc điểm và sự vận động của từng đối tượng
Trang 212.1.3 Nội dung của chứng từ
- Nội dung các yếu tố của mỗi chứng từ được quy định bởi mục đích, tính chất của nghiệp vụ mà chứng từ đó phản ánh Tất cả các loại chứng từ phải mang 1 số yếu tố cơ bản nhằm khái quát được đặc trưng của nghiệp vụ kinh tế về số lượng, chất lượng, không gian và thời gian phát sinh
- Các yếu tố cơ bản của chứng từ kế toán:
+ Tên gọi của chứng từ: Giúp phân loại chứng từ và tổng hợp số liệu của các nghiệp vụ cùng loại dễ dàng
+ Chữ ký của người lập và những người chịu trách nhiệm về tính chính xác của nghiệp vụ
- Yêu cầu về chứng từ kế toán:
+ Lập đầy đủ số liên theo quy định
+ Ghi chép rõ ràng, trung thực, gạch bỏ phần để trống
+ Không tẩy xoá, sửa chữa, nếu viết sai cần huỷ bỏ, không xé rời ra khỏi cuốn
+ Thủ trưởng đơn vị và kế toán không được ký trên chứng từ trắng
2.1.4 Phân loại
* Phân loại chứng từ theo công dụng
- Chứng từ mệnh lệnh: mang quyết định của chủ thể quản lý như lệnh chi tiền, lệnh xuất kho
Trang 22- Chứng từ thể hiện: là loại chứng từ phản ánh các nghiệp vụ kinh tế đã phát sinh và thực sự hoàn thành, là căn cứ để ghi sổ Ví dụ: phiếu thu, phiếu chi, phiếu xuất , phiếu nhập
- Chứng từ liên hợp là loại chứng từ kết hợp 2 nội dung của 2 loại chứng từ trên VD như lệnh kiêm phiếu chi, lệnh kiêm phiếu xuất kho
* Phân loại theo địa điểm lập chứng từ
- Chứng từ bên trong: do các bộ phận nội bộ của doanh nghiệp lập
- Chứng từ bên ngoài: phản ánh các nghiệp vụ kinh tế tài chính có liên quan đến đơn vị
và được lập từ các đơn vị bên ngoài
* Phân loại chứng từ theo nội dung của nghiệp vụ kinh tế phát sinh phản ánh trên chứng từ
Đây là cánh phân loại dựa theo nội dung kinh tế của nghiệp vụ phản ánh trên chứng từ
để sắp xếp các chứng từ được chia thành các loại như sau:
- Chứng từ tiền mặt
- Chứng từ tiền gửi ngân hàng
- Chứng từ vật tư hàng hoá
- Chứng từ TSCĐ
* Phân loại theo mức độ khái quát số liệu phản ánh trên chứng từ
- Chứng từ gốc: phản ánh trực tiếp tại chỗ các nghiệp vụ kinh tế phát sinh như phiếu thu, phiếu chi, phiếu xuất, phiếu nhập
- Chứng từ tổng hợp: được dùng để tổng hợp số liệu từ các chứng từ gốc theo từng nghiệp vụ kinh tế nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc ghi sổ kế toán
* Phân loại chứng từ theo phương thức lập chứng từ
- Chứng từ lập một lần: việc ghi chép nghiệp vụ kinh tế phát sinh chỉ tiến hành 1 lần và sau
đó được chuyển vào ghi sổ kế toán
- Chứng từ nhiều lần: ghi một nghiệp vụ kinh tế phát sinh tiếp diễn nhiều lần Sau mỗi lần ghi các con số được cộng dồn tới một giới hạn đã được xác định trước thì không sử dụng tiếp được nữa và được chuyển vào ghi sổ kế toán
2.1.5 Kiểm tra và xử lý chứng từ kế toán
* Kiểm tra chứng từ
Xác minh là đúng, là hợp lệ, hợp pháp thì mới được dùng để ghi sổ
Nội dung của việc kiểm tra chứng từ kế toán bao gồm:
- Kiểm tra tính chính xác của số liệu thông tin trên chứng từ
Trang 23- Kiểm tra tính hợp pháp, hợp lệ của nghiệp vụ kinh tế phát sinh
- Kiểm tra tính đầy đủ, rõ ràng, trung thực của các chỉ tiêu phản ánh trên chứng từ.Nếu kiểm tra phát hiện hành vi vi phạm thì phải từ chối thực hiện, đồng thời báo ngay cho thủ trưởng đơn vị và kế toán trưởng biết để xứ lý kịp thời theo đúng quy định của pháp luật hiện hành Đối với những chứng từ kế toán lập không đúng thủ tục, nội dung và con số không rõ ràng thì người chịu trách nhiệm kiểm tra và ghi sổ hoặc trả lại hoặc báo cho nơi lập chứng từ biết để làm lại hay làm thêm thủ tục và điều chỉnh sau đó mới dùng làm căn cứ ghi sổ
* Chỉnh lý chứng từ
Là công việc chuẩn bị cho việc vào sổ kế toán Bao gồm:
- Ghi giá trên chứng từ (đối với loại chứng từ có yêu cầu này)
- Ghi các yếu tố cần thiết khác
- Phân loại chứng từ theo từng loại nghiệp vụ kinh tế, từng thời điểm phát sinh phù hợp với yêu cầu ghi sổ kế toán
- Lập định khoản kế toán hoặc lập chứng từ ghi sổ
* Tổ chức luân chuyển chứng từ và ghi sổ kế toán
- Luân chuyển chứng từ là giao chuyển chứng từ lần lượt tới các bộ phận có liên quan để những bộ phận này nắm được tình hình, kiểm tra, phê duyệt, lấy số liệu ghi vào sổ kế toán
- Tuỳ theo từng loại chứng từ mà có trình tự luân chuyển phù hợp
- Yêu cầu của luân chuyển chứng từ là hợp lý, nhanh chóng, kịp thời
* Bảo quản và lưu trữ chứng từ
- Vì là tài liệu gốc, có giá trị pháp lý nên sau khi dùng làm căn cứ vào sổ, chứng từ kế toán phải được sắp xếp theo trình tự, đóng gói cẩn thận và phải được bảo quản, lưu trữ để khi cần có cơ sở đối chiếu, kiểm tra
- Trước khi đưa vào lưu trữ, chứng từ được sắp xếp, phân loại để thuận tiện cho việc tìm kiếm và bảo đảm không bị hỏng, mất mát
- Thời gian lưu trữ ở phòng kế toán không quá 1 năm sau đó đưa vào kho lưu trữ, thời gian lưu trữ ở kho thì tuỳ theo từng loại chứng từ được quy định cụ thể trong các văn bản pháp quy
về chế độ lưu trữ tài liệu kinh tế, tài chính
Tóm lại: Chứng từ kế toán là một khâu rất quan trọng trong quá trình kế toán Chất
lượng của công tác kế toán phụ thuộc trước hết vào chất lượng của chứng từ kế toán Vì vậy, lập chứng từ kế toán là công việc cần hết sức coi trọng để đảm bảo tính hợp pháp của chứng từ:
Trang 24tuân theo đúng nguyên tắc lập và phản ánh đúng sự thật nghiệp vụ kinh tế Cần lưu ý cải tiến công tác chứng từ kế toán trong đơn vị theo hướng:
+ Giảm số lượng chứng từ tránh trùng lặp Sử dụng nhiều chứng từ liên hợp, chứng từ nhiều lần Xác định đúng những bộ phận cần lưu chứng từ để giảm số liên của chứng từ tới mức hợp lý
+ Đơn giản hoá nội dung chứng từ: Chỉ gồm những nội dung thật cần thiết
+ Hợp lý hoá thủ tục, ký, xét duyệt chứng từ: Quy chế hoá các bước xử lý từng loại chứng từ Xây dựng sơ đồ luân chuyển chứng từ khoa học
2.2 KIỂM KÊ TÀI SẢN
2.2.1 Khái niệm và tác dụng của kiểm kê
Yêu cầu của kế toán là phải đảm bảo phản ánh chính xác số thực có về các loại tài sản của doanh nghiệp, số dư của các tài khoản ở sổ kế toán phải phù hợp với số liệu thực tế hiện còn Tuy nhiên, giữa số liệu kế toán và số liệu thực tế có thể có chênh lệch do những nguyên nhân:
+ Khi thu, phát, đo lường không chính xác (Có thể do hữu ý hoặc vô ý)
+ Hao hụt tự nhiên trong quá trình bảo quản
+ Tham ô, mất mát…
Để đảm bảo cho số liệu kế toán chính xác, ngoài việc tổ chức tốt chứng từ kế toán còn phải thực hiện kiểm kê tài sản để kiểm tra tài sản hiện có, đối chiếu giữa sổ sách kế toán và thực tế để phát hiện kịp thời những hiện tượng, nguyên nhân gây chênh lệch và điều chỉnh sổ kế toán cho phù hợp với thực tế
- Kiểm kê là việc cân đong, đo đếm các loại tài sản trên thực tế để so sánh hay đối chiếu với thực tế trên sổ sách nhằm xác minh số chênh lệch và xử lý số chênh lệch nếu có
- Đối tượng của kiểm kê: Kho, quỹ, công nợ
- Tác dụng của kiểm kê:
+ Ngăn ngừa các hiện tượng tham ô, tham nhũng, lãng phí làm thất thoát tài sản
+ Giúp việc ghi chép, báo cáo số liệu đúng tình hình thực tế
+ Giúp cho lãnh đạo nắm chính xác số lượng, chất lượng các loại tài sản hiện có, phát hiện tài sản ứ đọng để có biện pháp giải quyết thích hợp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn
2.2.2 Phân loại
* Theo phạm vi và đối tượng kiểm kê
Trang 25- Kiểm kê toàn bộ: Là kiểm kê toàn bộ tài sản của đơn vị Loại kiểm kê này mỗi năm tiến hành ít nhất một lần trước khi lập bảng tổng kết tài sản cuối năm.
- Kiểm kê từng phần: Là kiểm kê từng loại tài sản nhất định phục vụ yêu cầu quản lý hay khi có nghiệp vụ bàn giao tài sản
* Theo thời gian tiến hành
- Kiểm kê định kỳ: kiểm kê theo kỳ hạn quy định trước : hàng ngày đối với tiền mặt, hàng tuần đối với tiền gửi, hàng tháng đối với sản phẩm, hàng hoá…
- Kiểm kê bất thường: Tổ chức kiểm kê không kỳ hạn quy định: khi thay đổi người quản lý, khi có các sự cố (cháy, mất cắp ) chưa xác định thiệt hại, khi cơ quan chủ quản, tài chính thanh tra, kiểm tra
2.2.3 Thủ tục và phương pháp tiến hành kiểm kê
- Trước khi kiểm kê:
- Tiến hành kiểm kê: Tuỳ theo đối tượng mà có phương pháp phù hợp
+ Kiểm kê hiện vật (hàng hoá, vật tư, thành phẩm, tài sản cố định, ), tiền mặt, các chứng khoán có giá trị như tiền… :
+ Kiểm kê tiền gửi ngân hàng, tài sản trong thanh toán:
- Kết quả kiểm kê được phản ánh trên các biên bản, có chữ ký của nhân viên kiểm kê và nhân viên quản lý tài sản đúng mẫu phiếu kiểm kê quy định
- Sau kiểm kê: các biên bản, báo cáo được gửi cho phòn kế toán để đối chiếu kết quả kiểm kê với số liệu trên sổ sách kế toán Toàn bộ kết quả kiểm kê, kết quả đối chiếu phải được báo cáo với thủ trưởng đơn vị Các cấp lãnh đạo sẽ quyết định cách xử lý theo từng trường hợp
cụ thể và kế toán căn cứ vào đó để phản ánh vào sổ sách
Tóm lại: Tuy kiểm kê là công việc có tính chất chỉ là cân đong đo đếm nhưng lại là
công việc hết sức quan trọng đặc biệt đối với vấn đề bảo vệ tài sản của đơn vị Do đó, phải tiến hành kiểm kê định kỳ và bất thường khi cần thiết và coi trọng đúng mức công tác này
Trang 26CHƯƠNG 3: TÀI KHOẢN VÀ GHI SỔ KÉP 3.1 TÀI KHOẢN KẾ TOÁN
3.1.1 Khái niệm
- Theo quy trình kế toán khi phát sinh nghiệp vụ kinh tế phát sinh kế toán phải ghi chép, theo dõi những sự tăng giảm của các đối tượng kế toán bằng cách dành một trang riêng của sổ
kế toán cho mỗi loại tài sản, nguồn vốn….và theo một dấu hiệu riêng
- Mỗi trang sổ dành cho một đối tượng kế toán riêng của kế toán như vậy gọi là tài khoản
Vậy tài khoản kế toán là phương pháp kế toán dùng để phân loại các nghiệp vụ kinh tế phát sinh theo nội dung kinh tế nhằm phản ánh và giám đốc một cách thường xuyên, liên tục
và có hệ thống số hiện có và tình hình vận động của từng đối tượng kế toán cụ thể
- Tài khoản kế toán được mở cho từng đối tượng cụ thể và mở ra để tập hợp những
nghiệp vụ kinh tế phát sinh có cùng nội dung kinh tế như nhau Do vậy mỗi tài khoản có nội dung kinh tế riêng và có tên gọi riêng.
- Tài khoản kế toán là phương tiện để tóm tắt tất cả các nghiệp vụ kinh tế phát sinh ảnh hưởng tới từng đối tượng kế toán riêng biệt như tiền mặt, tiền gửi ngân hàng, nợ phải thu, nợ phải trả…
- Sổ tài khoản là loại sổ sách riêng có của hạch toán kế toán, chủ yếu sử dụng thước đo tiền tệ để ghi chép các nghiệp vụ kinh tế phát sinh hàng ngày
3.1.2 Nội dung và kết cấu của tài khoản
3.1.2.1 Kết cấu
Mỗi đối tượng kế toán có nội dung kinh tế, ý nghĩa và yêu cầu quản lý khác nhau, nhưng xét về sự vận động của chúng thì bất kỳ đối tượng kế toán cụ thể nào cũng luôn luôn vận động theo hai mặt đối lập nhau Ví dụ:
Sự vận động của: Tiền mặt là: thu và chi
Nguyên vật liệu là: nhập và xuấtTiền gửi ngân hàng là: tăng và giảm…
=> Để phản ánh riêng biệt 2 mặt đối lập của sự vận động, tài khoản là một trang sổ được chia làm 2 bên chủ yếu để phản ánh từng mặt vận động riêng biệt của đối tượng kế toán
Vì vậy, mà kết cấu tài khoản theo kiểu chữ T để ghi chép các nghiệp vụ phát sinh
hàng ngày, và được thể hiện gồm 2 cột: là cột Nợ và cột Có
Trang 27Bên trái chữ T được ghi Nợ và gọi là bên Nợ
Bên phải chữ T được ghi Có và gọi là bên Có
Nợ, Có chỉ mang tính quy ước chứ không hàm ý kinh tế
Ở giữa là ghi tên của tài khoản
Thực chất chữ T là nhắc từ một trang trong sổ cái để phục vụ cho học tập và nghiên cứu còn trong thực tế tài khoản kế toán được biểu hiện dưới dạng một trang trong sổ cái:
Ví dụ: Sổ cái tài khoản tiền mặt
Sổ cái
Tài khoản: Tiền mặt Số hiệu: 111
đối ứng
Số tiền
Số dư đầu thángCộng phát sinh
Số dư cuối tháng
3.1.2.2 Nội dung
- Tên tài khoản: Theo hệ thống tài khoản có quy định tên gọi ứng với số hiệu riêng cho
mỗi tài khoản
Tên tài khoản có:
+ Tài khoản cấp 1 hay còn gọi là tài khoản tổng hợp gồm 3 chữ số đi liền nhau
Ví dụ: Tài khoản tiền mặt: TK 111
Tài khoản nguyên vật liệu: TK 152Tài khoản xác định kết quả kinh doanh: TK 911+ Tài khoản cấp 2: tài khoản chi tiết gồm 4 chữ số đi liền nhau, trong đó 3 chữ số đầu là tên tài khoản cấp 1 mà nó phụ thuộc
Tài khoản CóNợ
Trang 28Ví dụ: Tài khoản nguyên vật liệu: TK 152
Tài khoản nguyên vật liệu chính: TK 1521+ Có thể có tài khoản cấp 3, cấp 4 tùy doanh nghiệp mở
- Cột giấy chia chữ T thành 2 phần: Bên Nợ và bên Có
+ Ghi Nợ một tài khoản: Ghi số tiền vào bên Nợ của tài khoản đó
+ Ghi Có một tài khoản: Ghi số tiền vào bên Có của tài khoản đó
+ Các nghiệp vụ kinh tế gây nên sự vận động tăng tập hợp vào một bên và bên còn lại tập hợp các nghiệp vụ gây nên sự vận động giảm của đối tượng phản ánh
Vì do có rất nhiều nghiệp vụ kinh tế phát sinh nhưng đều không nằm ngoài sự biến động tăng và giảm
3.1.3 Phân loại tài khoản kế toán
3.1.3.1 Phân loại theo nội dung kinh tế
- Tài khoản kế toán có nhiều loại, đứng trên các góc độ đánh giá khác nhau có các loại khác nhau, mỗi loại có chức năng và mức độ phản ánh khác nhau
(1) Căn cứ theo nội dung kinh tế:
- Tài khoản phản ánh tài sản (loại 1, 2):
Phản ánh giá trị của tài sản hiện có của doanh nghiệp bao gồm tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn Cụ thể: tài khoản tiền mặt, tài khoản tiền gửi ngân hàng tài khoản nguyên vật liệu, tài khoản tài sản cố định hữu hình…
Nội dung và kết cấu chung
Bên Nợ phản ánh các nghiệp vụ làm tăng giá trị tài sản
Bên Có phản ánh các nghiệp vụ làm giảm giá trị tài sản
Nợ Tài khoản tài sản Có
Số dư ĐK (S1): Tài sản hiện có đầu kỳ
Trang 29Số dư CK (bên Nợ) = Số dư ĐK (Bên Nợ) + Phát sinh tăng (bên Nợ)
- Phát sinh giảm (Bên Có)
Số dư là số cộng dồn cuối kỳ Số dư cuối kỳ thể hiện giá trị tài sản hiện còn cuối kỳ Tài khoản phản ánh tài sản là các tài khoản thuộc loại 1 và loại 2 trong bảng hệ thống kế toán
- Ví dụ:
- Tài khoản phản ánh nguồn vốn (loại 3, 4)
Phản ánh nguồn gốc hình thành của tài sản của doanh nghiệp bao gồm nguồn vốn chủ sở hữu và nguồn nợ phải trả Cụ thể: tài khoản phải trả người bán, tài khoản vay ngắn hạn ngân hàn, tài khoản nguồn vốn kinh doanh…
Nội dung và kết cấu chung
Bên Nợ phản ánh các nghiệp vụ làm giảm nguồn vốn
Bên Có phản ánh các nghiệp vụ làm tăng nguồn vốn
Số dư CK (Bên Có) = Số dư ĐK (Bên Có) + Phát sinh tăng (Bên Có)
- Phát sinh giảm (Bên Nợ)
Số dư là số cộng dồn cuối kỳ Số dư cuối kỳ thể hiện nguồn vốn hiện còn cuối kỳ
Tài khoản phản ánh nguồn vốn là các tài khoản thuộc loại 3 và loại 4 trong bảng hệ thống kế toán Ví dụ
Nợ Tài khoản nguồn vốn Có
Phát sinh giảm
Cộng phát sinh
S1: Nguồn vốn hiện có ĐK Phát sinh tăng
Cộng phát sinh
S2: Nguồn vốn hiện có CK
Trang 30Mối quan hệ giữa tài khoản tài sản và tài khoản nguồn vốn
(2) Tài khoản phản ánh quá trình và kết quả hoạt động kinh tế
+ Tài khoản phản ánh các khoản thu (loại 5,7)
Bên Nợ phản ánh các nghiệp vụ làm giảm các khoản thu và kết chuyển các khoản thu
Bên Có phản ánh các nghiệp vụ làm tăng các khoản thu
Nợ TK các khoản thu Có
Phát sinh giảm Kết chuyển
Nợ Tài khoản nguồn vốn Có
Phát sinh giảm
Cộng phát sinh
Số dư ĐK(S1): xxx
Phát sinh tăng
Cộng phát sinh
Số dư CK(S2): xxxTổng tài sản = Tổng nguồn vốn
Tổng tài sản = Tổng nguồn vốn
Trang 31Tài khoản phản ánh các khoản thu là các tài khoản thuộc loại 5 và loại 7 trong bảng hệ thống kế toán Các khoản thu được kết chuyển để xác định kết quả nên nó không có số dư cuối kỳ
Ví dụ:
+ Tài khoản phản ánh các khoản chi (loại 6, 8)
Nợ phản ánh các nghiệp vụ làm tăng các khoản chi
Bên Có phản ánh các nghiệp vụ làm giảm các khoản chi và kết chuyển các khoản chiTài khoản phản ánh các khoản chi là các tài khoản thuộc loại 6 và loại 8 trong bảng hệ thống kế toán Các khoản chi được kết chuyển để xác định kết quả nên nó không có số dư cuối kỳ
+ Tài khoản xác định kết quả (loại 9)
TK Xác định kết quả
Nợ TK các khoản chi Có
Trang 32Mối quan hệ giữa các tài khoản thu, chi và xác định kết quả
3.1.3.2 Phân loại theo tính chất kinh tế (hay theo công dụng và kết cấu)
Tức dựa vào tính chất của các tài khoản để phân hệ thống tài khoản thành các loại như sau:
- Loại tài khoản cơ bản: Là những tài khoản dùng để phản ánh trực tiếp tình hình biến
động của tài sản theo giá trị và nguồn hình thành Bao gồm 3 nhóm:
+ Nhóm phản ánh giá trị tài sản như: tiền mặt, tiền gửi, TSCĐ hữu hình, TSCĐ vô hình… Các tài khoản này mang tính chất tài tài khoản phản ánh tài sản (loại 1,2)
+ Nhóm phản ánh nguồn hình thành như: vay ngắn hạn ngân hàng, nguồn vốn kinh doanh… Tính chất của những tài khoản này là tài khoản phản ánh nguồn (loại 3,4)
Nợ Tài khoản chi Có
Cộng phát sinh
Nợ Tài khoản thu Có
Phát sinh giảm Kết chuyển thu
Cộng phát sinh
Trang 33Nhóm tài khoản phản ánh tài sản và tài khoản phản ánh nguồn vốn chúng ta đã nghiên cứu tiết trước Mời 2 sinh viên lên phản ánh vào tài khoản chữ T nội dung và kết cấu 2 nhóm tài khoản này (SV giả định)
+ Nhóm tài khoản hỗn hợp: là nhóm tài khoản vừa mang kết cấu của tài khoản tài sản, vừa mang kết cấu của tài khoản nguồn hình thành tài sản tức là có thể có số dư ở cả 2 bên Nợ và
Có như tài khoản phải thu khách hàng, phải trả cho người bán, phải thu khác…
Kết cấu chung:
Ví dụ: Tài khoản phải trả cho người bán thông thường có số Dư bên Nợ nhưng nếu: số tiền phải trả là 20 triệu nhưng số đã trả 21 triệu (số đã trả >số phải trả, trả thừa), hoặc ứng trước tiền hàng….thì TK331 xuất hiện số sư bên Nợ
- Loại 2: Loại tài khoản điều chỉnh: Là loại tài khoản mang tính chất chuyên dùng để
điều chỉnh, tính toán lại các chỉ tiêu đã được phản ánh ở các tài khoản cơ bản nhằm cung cấp số liệu sát thực về tình hình tài sản tại thời điểm tính toán Gồm 3 nhóm:
+ Nhóm tài khoản điều chỉnh giảm: gồm những tài khoản mà số liệu phản ánh của nó dùng để điều chỉnh giảm cho số liệu đã phản ánh trên tài khoản cơ bản gồm
nhóm tài khoản điều chỉnh giảm giá trị tài sản:
TK 214: dùng để điều chỉnh giảm cho TK TSCĐ (TK211,212,213)
TK 129: dùng để điều chỉch giảm cho TK đầu tư ngắn hạn (TK121,128)
TK 139: dùng để điều chỉch giảm cho TK phải thu (TK131,138)…
S1: Giá trị tài sản hiện có đầu kỳ
SPS: Tăng giá trị tài sản
Nguồn vốn giảm trong kỳ
Cộng phát sinh
S2: Giá trị tài sản hiện có cuối kỳ
S1: Nguồn vốn hiện có đầu kỳ
SPS: Giảm giá trị tài sản Nguồn vốn tăng trong kỳCộng phát sinh
S2: Nguồn vốn hiện có cuối kỳ
Nợ Tài khoản hỗn hợp Có
Trang 34Nội dung kết cấu của tài khoản điều chỉnh bao giờ cũng ngược với tài khoản mà nó điều chỉnh
Chú ý: Các tài khoản điều chỉnh giảm này khi lập bảng cân đối kế toán vẫn phản ánh phần tài sản nhưng ghi âm (ghi bằng mực đỏ hoặc đóng mở ngoặc)
nhóm tài khoản điều chỉnh giảm nguồn hình thành tài sản (không có trong hệ thống kế toán Việt Nam)
+ Nhóm tài khoản điều chỉnh vừa tăng, vừa giảm: nhằm điều chỉnh tăng lên hoặc giảm
đi tài sản và nguồn vốn gồm những tài khoản chênh lệch đánh giá lại tài sản và tài khoản chênh lệch tỷ giá
nhóm tài khoản điều chỉnh tăng giảm tài sản (không có htkt VN)
nhóm tài khoản điều chỉnh tăng giảm nguồn vốn
Nội dung kết cấu TK chêch lệch đánh giá lại tài sản
Nợ TK 214 Có
Phát sinh giảm
Cộng phát sinh
S1: Số dư đầu kỳPhát sinh tăngCộng phát sinh
Số dư CK: Chêch lệch giảm chưa
Số dư ĐK:
Phát sinh tăng: điều chỉnh tăng TS (giá mới>giá cũ)
Xử lý chêch lệch
Cộng phát sinh