Thực trạng và giải pháp nhằm đẩy mạnh sản xuất và xuất khẩu quế của Việt Nam
Trang 1Trong các loại cây lâm sản thì cây quế đợc biết đến nh một loại cây
đặc sản của vùng nhiệt đới và từ lâu cây quế đã trở thành một trong những mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam Trong thời phong kiến, cây quế là một mặt hàng không thể thiếu trong các loại lễ vật mà các vua chúa phong kiến Việt Nam mang đi tiến cống các vua chúa phơng Bắc Ngày nay, qua hàng chục năm, nhất là từ khi Việt Nam tiến hành cải cách mở cửa thì cây quế Việt Nam đã trở nên rất nổi tiếng trên thế giới Giá cả của nó lại cao hơn hẳn các loại nông sản khác và đặc biệt khi nhu cầu về quế và sản phẩm quế trên thế giới hiện nay tăng cao thì quế trở thành một mặt hàng đợc giá, mặt khác khả năng sản xuất lại có hạn nên cây quế nhiều khi có giá độc quyền Đây chính là một lợi thế rất lớn của Việt Nam
Trên thế giới chỉ có một số nớc nh Trung Quốc, Việt Nam, Srilanca, Seichelles, ấn Độ, Indonesia, Nhật Bản mới có điều kiện tự nhiên thuận lợi
để sản xuất cây quế Do đó giá cả mặt hàng quế rất cao và vì vậy mà hiệu quả của ngành sản xuất quế cao hơn rất nhiều so với sản xuất nông nghiệp Cây quế Việt Nam có điều kiện thuận lợi để phát triển nhng ngành sản xuất quế hiện nay còn quá nhỏ bé và vẫn còn trong tình trạng lạc hậu, lao động trong ngành trồng quế chủ yếu là các hộ đồng bào dân tộc ít ngời, cha có
đầu t lớn vì vậy năng suất và chất lợng cha cao nên cha đáp ứng đợc nhu cầu của thị trờng trong nớc và xuất khẩu Ngành xuất khẩu quế của Việt Nam còn quá nhỏ bé so với tiềm năng và chỉ dừng lại ở xuất khẩu sản phẩm thô nên kim ngạch còn rất khiêm tốn trong tổng kim ngạch xuất khẩu và so với các sản phẩm nông nghiệp, lâm nghiệp khác
Từ khi nớc ta tiến hành cải cách mở cửa đến nay, nền kinh tế đã có những chuyển biến mạnh mẽ Khoảng cách thu nhập giữa nông thôn và thành thị, giữa đồng bằng và miền núi ngày càng xa Đời sống nhân dân
Trang 2đồng bào các dân tộc miền núi còn gặp nhiều khó khăn, thiếu thốn Để giải quyết tình trạng này, Đảng và nhà nớc ta đã và đang tìm mọi cách để đa các phơng thức sản xuất mới áp dụng vào các vùng khó khăn, đa cơ cấu cây trồng, vật nuôi phù hợp để bà con nhân dân các dân tộc có thể thoát nghèo Một trong những cây trồng có thể giúp họ xoá đói, giảm nghèo chính là cây quế, đặc biệt là đối với bà con dân tộc các vùng Tiên Yên, Ba Chẽ (Quảng Ninh), Văn Yên, Văn Chấn, Trấn Yên (Yên Bái), Lang Chánh, Thờng Xuân (Thanh Hoá), Quế Phong, Quỳ Châu, Quỳ Hợp (Nghệ An), Trà My (Quảng Nam), Trà Bồng (Quảng Ngãi) nơi mà cây quế rất thích hợp với điều kiện tự nhiên.
Với lí do đó, tác giả đã chọn đề tài “ Thực trạng và một số giải pháp nhằm đẩy mạnh sản xuất và xuất khẩu quế của Việt Nam “ để viết Khoá
luận tốt nghiệp (KLTN) trờng Đại học Ngoại Thơng của mình
Mục đích của KLTN này nhằm nghiên cứu tình hình sản xuất và xuất khẩu mặt hàng quế của Việt Nam từ đó rút ra các giải pháp và một số kiến nghị đối với Nhà nớc, các Ban, ngành, địa phơng và các nhà sản xuất quế để
có thể đa ngành sản xuất và xuất khẩu quế phát triển hơn nữa
Đối tợng nghiên cứu của công trình này là các sản phẩm từ cây quế nhng tập trung chủ yếu vào mặt hàng chính là vỏ quế Phạm vi nghiên cứu của KLTN đợc giới hạn từ năm 1990 trở về đây và việc nghiên cứu chủ yếu tập trung vào bốn vùng sản xuất quế chính ở nớc ta là Yên Bái, Quảng Ninh, Thanh Hoá- Nghệ An và Quảng Nam- Quảng Ngãi
Để hoàn thành KLTN, tác giả đã sử dụng phơng pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, phơng pháp phân tích, tổng hợp trên cơ sở những thông tin thu thập đợc cùng các phơng pháp thống kê, so sánh để nghiên cứu những yêu cầu mà đề tài đặt ra Với một thời gian không dài và việc thu thập tài liệu còn gặp nhiều hạn chế nên KLTN này không tránh khỏi những
Trang 3thiếu sót Kính mong nhận đợc ý kiến đóng góp của các thầy cô giáo, các bạn sinh viên để Khoá Luận đợc hoàn thiện hơn
Nội dung của Khoá Luận Tốt Nghiệp bao gồm 3 chơng sau:
Chơng 1: Giới thiệu về mặt hàng quế và thị trờng quế trên thế giới
Chơng 2: Thực trạng sản xuất và xuất khẩu quế của Việt Nam
Chơng 3: Một số giải pháp và kiến nghị nhằm đẩy mạnh sản xuất và xuất khẩu quế của Việt Nam
Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban giám hiệu, Phòng Đào Tạo, Khoa KTNT và các Phòng Ban khác của trơng ĐH Ngoại Thơng đã tạo môi trờng thuận lợi cho tôi đợc học tập và rèn luyện 4 năm qua Đặc biệt tôi xin vô cùng cảm tạ Thạc sĩ Nguyễn Xuân Nữ, ngời đã nhiệt tình trực tiếp hớng dẫn tôi; Bác Nguyễn Đăng Chi, Phó Vụ trởng Vụ Quản lí Xuất Nhập khẩu, Bộ Thơng mại; Bác Cao Thị Cúc nguyên cán bộ của thviện, các cán bộ khác của th viện trờng và các bạn bè đã giúp đỡ tôi hoàn thành KLTN này Qua KLTN, tôi cũng tỏ lòng cảm ơn chân thành tới cha
mẹ, các anh chị và những ngời thân của tôi, những ngời đã ủng hộ tôi cả về vật chất lẫn tinh thần trong suốt 4 năm học vừa qua
Hà nội tháng 12 năm 2003
Sinh viên Đỗ Mạnh Cờng
Trang 4Chơng 1
Giới thiệu về mặt hàng quế và thị trờng quế trên
thế giới
I Đặc điểm mặt hàng quế
1 Vài nét về cây quế và sản phẩm quế
Cây quế tên khoa học là Cinnamomum Cassia BL thuộc họ long não Lauraceae Tên tiếng anh là Cinnamon, tên thông thờng là cây quế, ở Việt Nam, nhân dân ta gọi với tên gọi khác nhau theo từng địa phơng nh Quế Thanh, Quế Quỳ, Quế Quảng, Quế Yên Bái, Quế Bì, Mạy quế
Cây quế là loài cây thân gỗ, sống lâu năm, cây trởng thành có thể cao trên 15 mét, đờng kính thân cây có thể đạt 1,3 m Quế có lá đơn mọc cách hay gần đối lá, có ba gân gốc kéo dài đến tận đầu lá và nổi rõ ở mặt dới của lá, các gân bên gần nh song song, mặt trên lá xanh bóng, mặt dới lá xanh
đậm Quế lá to trởng thành dài từ 18-20 cm, quế lá nhỏ từ 6-8 cm, cuống lá dài khoảng 1 cm Quế có tán lá hình trứng, thờng xanh quanh năm, thân cây tròn đều, vỏ cây màu xám và hơi nứt rạn theo chiều dọc Các bộ phận của cây quế nh vỏ, lá, hoa, gỗ, rễ đều có chứa tinh dầu, trong đó vỏ cây có chứa nhiều tinh dầu nhất Tinh dầu quế có màu vàng, thành phần chủ yếu là Aldehyt Cinamic chiếm khoảng 70-90% Cây quế sinh trởng đến 8 hoặc 10 tuổi thì ra hoa, hoa quế mọc ở nách lá đầu cành, hoa ra thành từng chùm, hoa nhỏ bằng nửa hạt gạo, màu trắng hay phớt vàng.Quế ra hoa vào tháng 4,
5 và quả chín vào tháng 1, 2 năm sau Quả quế cha chín có màu xanh, khi chín chuyển màu tím than, mỗi quả chứa một hạt hình bầu dục, một kg hạt chứa khoảng 2500-3000 hạt Quế có bộ rễ phát triển mạnh, rễ cọc cắm sâu vào lòng đất, rễ bàng đan rộng và đan chéo vào nhau, vì vậy cây quế có khả năng sống tốt ở những vùng đồi núi dốc Cây quế lúc nhỏ a bóng râm, khi lớn thì cần nhiều ánh sáng và khi trởng thành thì hoàn toàn chịu sáng Tinh dầu quế có vị cay, thơm, ngọt nên rất đợc a chuộng
Trang 5Quế là một loại cây có yêu cầu tơng đối đặc biệt về điều kiện tự nhiên
và phát triển đợc ở một số nơi nhất định ở miền nhiệt đới, nắng lắm, ma nhiều, độ ẩm cao vv Cây quế phát triển thích hợp trên loại đất mùn xốp, thoáng nớc, có độ dốc 10-200, cây a mát với nhiệt độ trung bình 20-250 C
Do vậy trên thế giới chỉ có một số nớc mới có điều kiện thuận lợi để cho cây quế phát triển nh Việt Nam, Trung quốc, Indonesia, ấn Độ, Srilanca, Nhật Bản, Nga Song ở những nơi này cây quế cũng chỉ có thể sinh trởng đợc ở một số vùng nhất định, do vậy cây quế từ lâu đã trở thành một loại cây đặc sản của một số vùng nhiệt đới
Tất cả các bộ phận của cây quế đều có giá trị sử dụng cho một số ngành sản xuất Vỏ quế có thể dùng vào việc chữa bệnh, gia vị thực phẩm,
đồ dùng gia đình, vv Gỗ quế có thể dùng để chế tạo các đồ dùng nh bàn ghế, tủ, đồ mỹ nghệ, cành lá có thể dùng làm củi đốt Tuy nhiên vỏ quế lại là
bộ phận có giá trị nhất vì tinh dầu quế đợc chng cất chủ yếu từ vỏ cây
Cây quế ngoài thành phần chủ yếu là Andehyt Cinnamic, còn chứa nhiều chất khác nh ơgenola, saprola, fuaurola vv các chất này có công dụng trong một số lĩnh vực nh y học để làm thuốc chữa bệnh, trong công nghiệp chế biến hàng tiêu dùng Ngày nay, ngời ta thờng tách lấy andehyt từ cây quế rồi chuyển hóa thành những chất thơm có giá trị khác Trong công nghiệp thực phẩm quế đợc dùng làm gia vị để chế biến bánh kẹo, chất định hơng, trong công nghiệp hàng tiêu dùng, quế đợc dùng làm nguyên liệu chế biến xà phòng, nớc hoa, dầu chải, phấn sáp vv Nhiều nơi trên thế giới, ngời
ta đã biết dùng quế làm gia vị thực phẩm cách đây hàng trăm năm, ngày nay, quế, hồ tiêu, sa nhân, đinh hơng, gừng đã trở thành một tập đoàn gia vị có giá trị phù hợp với khẩu vị của nhiều nớc trên thế giới Đặc biệt hơn nữa, khi
y học hiện đại phát triển, ngời ta lại phát hiện ra nhiều công dụng chữa bệnh của cây quế
Trang 6Theo Đông y, cây quế có vị cay, tính đại nhiệt, vị đắng, thơm và ngọt,
có tác dụng bổ mật, thông huyết mạch, dùng để chữa chứng chân tay co quắp, đau bụng do khí lạnh, chữa phong hàn, viêm khớp, h tâm tỳ, mạch chạy nhỏ, bệnh dịch tả cấp tính Từ xa xa, nhân dân ta đã biết dùng vỏ của cây quế mài vào nớc đun sôi để nguội rồi uống sẽ chữa đợc các bệnh về tiêu hoá, hô hấp, kích thích sự tuần hoàn của máu, lu thông huyết mạch, làm cho cơ thể ấm lên Quế có tính năng chống lại giá lạnh, có tính sát trùng nên…
nó đợc nhân dân ta coi là một trong bốn loại thuốc quí bao gồm: Sâm, Nhung, Quế, Phụ Trong đời sống hàng ngày, quế đợc dùng để khử bớt mùi tanh của cá, làm cho món ăn thơm ngon, hấp dẫn hơn, kích thích đợc tiêu hoá Ngoài ra quế còn đợc dùng để sản xuất bánh kẹo, rợu nh bánh quế, kẹo quế, rợu quế Quế còn đ… ợc sử dụng làm hơng vị, bột quế đợc trộn với các vật liệu khác sau đó đem làm hơng khi đốt lên có mùi thơm dễ chịu, đợc sử dụng trong các đền chùa, đình miếu ở các nớc Châu á nơi có phong tục thờ cúng tổ tiên và theo đạo Khổng, đạo Hồi Gần đây, nhiều địa phơng còn sử dụng gỗ quế, vỏ quế để làm ra các sản phẩm thủ công mỹ nghệ nh bộ khay,
ấm, chén, đĩa bằng gỗ quế; vỏ quế đợc dùng để sản xuất các tấm lót giày, làm dép đi trong nhà Hiện nay các sản phẩm này đang rất đợc a chuộng Riêng mặt hàng dép đi trong nhà có tẩm bột quế đã đợc xuất khẩu đi một số nớc nh Hàn Quốc, Nhật Bản…
Nhiều nơi trên thế giới gọi cây quế là cây “chữa bách bệnh” Từ hàng ngàn năm qua, cây quế đã đợc nhân dân ta dùng làm thuốc chữa bệnh, và Quế Chi trở thành một vị thuốc không thể thiếu đợc trong các hiệu thuốc
đông y, trong các toa thuốc Chính vì quế có nhiều tính năng công dụng nhvậy nên từ lâu nó đã trở thành một loại hàng hoá đợc buôn bán ở khắp nơi trên thế giới
Một trong những tính chất đặc trng của cây quế là làm tăng khả năng chống lạnh của cơ thể ngời và động vật nên quế rất đợc a chuộng ở xứ lạnh Quế không chỉ đợc dùng làm gia vị cho con ngời mà nó còn đợc sử dụng để
Trang 7làm thức ăn cho gia súc ở một số nớc có ngành chăn nuôi phát triển, ngời ta còn dùng các loại quế kém phẩm chất hay các sản phẩm phụ của quế pha trộn với các loại thức ăn khác để sản xuất thức ăn tổng hợp nhằm kích thích tiêu hoá và phòng bệnh cho gia súc đặc biệt là vào mùa đông.
Tuy nhiên công dụng của cây quế có đợc khai thác triệt để hay không lại phụ thuộc vào trình độ sản xuất của công nghệ chế biến và trình
độ thâm canh và điều kiện thổ nhỡng, qui trình khai thác, bảo quản, chế biến cũng ảnh hởng không nhỏ tới chất lợng mặt hàng này
ở Việt Nam, nhân dân ta đã có tập quán trồng quế từ lâu đời và ngời trồng chủ yếu là bà con các dân tộc ít ngời ở các vùng miền núi Yên Bái, Quảng Ninh, Thanh Hoá, Nghệ An, Quảng Nam, Quảng Ngãi và một số
địa phơng khác nhng với diện tích không lớn lắm Hiện nay nhận thấy giá trị của cây quế rất lớn, bà con các dân tộc ở các vùng cao khác nh Hà Giang, Tuyên Quang, hay ở Tây Nguyên đã đa cây quế vào trồng thử nghiệm Qua một thời gian trồng thử, cây quế sinh trởng rất tốt Nhng vì thời gian thử nghiệm cha lâu, cây quế cha cho thu hoạch nên cha biết chất lợng quế trồng
ở những vùng đất mới nh thế nào Hi vọng rằng cây quế trồng trên đất thử nghiệm sẽ cho kết quả tốt để nhân dân có thể nhân rộng ra trồng ở nhiều nơi
Quế thờng đợc gieo trồng vào tháng 1, 2 âm lịch khi mà điều kiện thời tiết rất phù hợp cho cây con phát triển Trong 2 đến 3 năm đầu, ngời trồng tiến hành tỉa tha và trồng dặm để đảm bảo cho mật độ trồng không quá 3000 cây/ha Thời gian 5 năm đầu cần chú ý chăm sóc cây, che nắng cho cây con vì khi còn non cây a bóng râm, khi cây đã trởng thành thì không phải chăm sóc nhiều Sau khi trồng đợc khoảng 10 năm thì cây quế có thể cho thu hoạch Việc thu hoạch đợc tiến hành trong hai vụ, từ tháng 2 tới tháng 4 và
từ tháng 9 tới tháng 11 Thời kì này hàm lợng tinh dầu tập trung nhiều nhất trong vỏ quế
Trang 8Khi cây quế đến tuổi cho khai thác, ngời trồng sẽ tiến hành thu hoạch Việc thu hoạch có thể đợc tiến hành bằng cách chặt hạ cả cây xuống, sau đó chặt hết các cành lá rồi tiến hành bóc vỏ hoặc ngời ta không chặt cây mà chỉ khai thác một phần vỏ để cây quế có thể đợc khai thác nhiều lần Việc khai thác một phần vỏ đợc tiến hành bằng cách ngời ta không chặt cây quế mà chỉ bóc tách một phần vỏ quế Khi bóc vỏ ngời ta không bóc hết phần biểu bì ở trong cùng để sau một thời gian nó sẽ tự tái sinh thành lớp vỏ mới Sau khi khai thác đợc khoảng 1 năm thì cây quế lại có thể cho khai thác lần tiếp theo Cách khai thác này mới đợc nhân dân áp dụng gần đây và trong quá trình khai thác đòi hỏi ngời trồng quế phải rất khéo tay và có nhiều kinh nghiệm thì mới tiến hành đợc.
Từ lâu, nhân dân ta đã có kinh nghiệm trồng và chế biến các sản phẩm quế Cây quế có thể dùng làm thuốc bổ, thuốc chữa bệnh, dùng làm hơng liệu, thực phẩm Quế Việt Nam nổi tiếng từ thời Bắc thuộc, khi đó quế đợc mệnh danh là “Giao Chỉ ngọc quế” và luôn là vật phẩm dùng vào việc tiến cống cho các vua chúa phơng Bắc Ngày nay, do nhu cầu về sản phẩm quế ở trong nớc và trên thế giới ngày một tăng thì các vùng trồng quế ở nớc ta ngày càng đợc mở rộng để đáp ứng nhu cầu đó Trên thế giới có nhiều loại quế nhng quế Việt Nam vẫn đợc coi là một loại quế quí, vẫn đợc các nớc nhập khẩu đánh giá cao về chất lợng ở Việt Nam, quế đợc xuất khẩu dới dạng thô là vỏ quế còn cành, lá thì đợc chng cất thành tinh dầu sau đó dùng để sản xuất các loại dợc phẩm nh cao sao vàng, làm hơng liệu cho ngành công nghiệp thực phẩm, hàng tiêu dùng
Nh vậy, mặt hàng quế có rất nhiều công dụng trong cuộc sống đời ờng nên nó ngày càng đợc đánh giá cao và sử dụng phổ biến không chỉ ở thị trờng Việt Nam mà cả trên thế giới
th-2 Các giống quế chính ở Việt Nam
Trên thế giới phổ biến có hai loại quế chính, thứ nhất là quế Trung Quốc (Cinnamomum cassia BL) và thứ hai là quế Srilanca (Cinnamomum zeylacium) ở Việt Nam ngoài hai loại quế trên còn có quế Thanh
Trang 9(Cinamomum loureiri ness) thờng trồng ở Thanh Hoá, Nghệ An, ngoài ra còn có một số quế địa phơng nh quế Nghĩa Lộ, Yên Bái Nh vậy ở nớc ta có khoảng 10 loại quế trong đó đa phần là quế quí.
Loại quế Cinamomum cassia BL còn gọi là quế Đơn thân cao từ
12-17m, lá quế mọc cách, dai, sáng bóng và nhẵn ở mặt trên, có một lớp lông mịn ở mặt dới lá Gân lá nhỏ, mọc ngang song song, hoa mọc thành chùm Quả hình bầu dục đựng trong đấu nguyên hoặc hơi chia thuỳ Loại quế này thờng đợc trồng ở các tỉnh Quảng Ninh, Yên Bái và Quảng Nam, sản phẩm chủ yếu dùng làm gia vị và thực phẩm Quế Đơn có thể nói là một loại quế tốt nhất, một loại quế đặc sản, các nớc thờng đặt mua với giá rất cao để dùng làm dợc liệu chữa bệnh và làm thuốc bổ Tuy nhiên mùi vị của loại quế này thì lại khác nhau nếu đợc trồng ở nơi khác nhau Nếu trồng ở Yên Bái thì nó
có mùi cay dịu còn trồng ở Quảng Ninh hay Quảng Nam thì có mùi cay
đậm Trung bình một cây quế trồng ở Yên Bái khi 10 năm tuổi thì có đờng kính từ 15-20cm cho thu hoạch từ 15-30kg vỏ tơi ( 8-15 kg vỏ khô) 0,3- 0,5
m3 gỗ, 1,2 ste củi và 30 kg lá có thể chng cất đợc 0,21 kg tinh dầu
Giống quế Thanh hay còn có tên là quế Quỳ cây thờng cao từ
12-20m, cành non vuông chẵn Lá cây gần nh bầu dục, thuôn lại ở hai đầu, gần
nh mọc đối mũi nhọn ba gân rõ Hoa quế hợp thành chùm, quả hình trứng, khi non có màu lục, khi chín có màu nâu tím và sáng bóng Quả đựng trong
đấu có bao hoa tồn tại dới quả, thuỳ cắt cụt gần đỉnh Đây là loại quế có giá trị dợc liệu rất cao, nhân dân ta thờng dùng để chữa một số bệnh nh đau bụng, cảm lạnh và để bồi bổ sức khoẻ Trớc đây chúng ta không xuất khẩu loại quế này do diện tích trồng rất nhỏ, chủ yếu là các hộ gia đình và đợc tiêu dùng trong nớc Nhng hiện nay do nhận thấy đây là một loại quế quý và
do nhu cầu trên thế giới tăng cao nên chúng ta đã bắt đầu nhân rộng và xuất khẩu loại quế này Quế Thanh có thân cây cao, nếu trồng đợc 15-20 năm thì
sẽ có đờng kính 20-30 cm, cho 30-50 kg vỏ tơi ( 15-20 kg vỏ khô) , 0,3-0,5
m3 gỗ và khoảng 50 kg lá chng cất đợc 0,28-0,35 kg tinh dầu
Trang 10Giống quế Srilanca mà nhân dân ta thờng gọi với tên khác là quế
Quan có thân cao khoảng 20-25 m, cành non vuông, có lông ngắn và rải rác Lá quế Quan mọc đối, dài và có hình bầu dục, nhẵn bóng và hơi nhọn ở gốc,
tù ở đầu hoa Hoa mọc thành chùm, quả mọc hình bầu dục, trong đấu có ba hoa tồn tại, thuỳ cắt gọt ở giữa Loại quế này thích ứng rộng nên đợc trồng ở
các tỉnh nh Thanh Hoá, Nghệ An, Vũng Tàu và Tây Ninh So với hai loại quế trên thì loại quế này không đợc thị trờng thế giới a chuộng vì đây là loại quế thân nhỏ, hàm lợng tinh dầu ít và kém năng suất
Ngoài các giống quế trên, nớc ta còn có một số giống quế khác mọc tự nhiên ở các tỉnh Thanh Hoá, Nghệ An, Lào Cai, Hà Giang, Hoà Bình nh quế Nâu hay quế đỏ ( Cinamomum tetregomum Chev), quế Rành ( Cinamomum caryophyllus Moore), quế Lợn ( Cinamomum iners Reinw) các loại quế này thờng sống lâu năm trong rừng rậm và có giá trị dợc liệu cao
Từ trớc đến nay, chúng ta không chỉ khai thác quế trồng để xuất khẩu mà con khai thác cả quế rừng tự nhiên Việc khai thác quế tự nhiên một cách bừa bãi đã làm cho nguồn lợi này ngày một cạn kiệt Vì vậy chúng ta cần phải bảo vệ nguồn quế rừng tự nhiên không chỉ nhằm mục đích khai thác nguồn lợi mà còn để bảo vệ môi trờng tự nhiên, bảo vệ nguồn gen quý Lợi thế về cây quế của nớc ta là rất lớn Do đó chúng ta cần phải phát huy lợi thế này để đẩy mạnh sản xuất và xuất khẩu mặt hàng quế
3 Các sản phẩm chính của cây quế
Tuy cây quế là một loại thực vật sống lâu năm nhng sản phẩm chính của cây quế không phải là gỗ nh những loại cây khác mà lại là vỏ quế Từ trớc tới nay khi nói tới quế thì ngời ta thờng nghĩ ngay tới vỏ quế Tuy nhiên sản xuất quế không chỉ lấy mỗi vỏ mà cành và lá của nó cũng có thể dùng để ép
Trang 11lấy tinh dầu Từ lâu nay chúng ta chỉ chủ yếu xuất khẩu vỏ quế thô mà cha chú ý xuất khẩu tinh dầu quế mặc dù đây là một loại sản phẩm có giá trị xuất khẩu cao Xuất khẩu tinh dầu chỉ chiếm một tỷ trọng rất nhỏ trong tổng kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng quế bởi vì công nghệ chng cất tinh dầu quế của ta vẫn còn rất lạc hậu Ngoài hai sản phẩm chính trên, gỗ quế cũng
đợc dùng nhiều trong ngành công nghiệp và thủ công nghiệp khác
3.1 Vỏ quế
Đối với ngành sản xuất quế thì khai thác vỏ là chủ yếu Nh đã nói ở phần trên, vỏ quế tập trung rất nhiều Andehyt cinamic Do vậy đánh giá năng suất hay chất lợng của sản phẩm quế ngời ta dựa vào vỏ cây Cũng giống nh các ngành sản xuất lâm nghiệp khác, sản xuất quế có đặc điểm diễn ra trong thời gian dài Thông thờng sản xuất quế diễn ra trong khoảng thời gian từ 10- 15 năm Các điều kiện tự nhiên nh đất đai, khí hậu, độ ẩm,
ánh sáng, lợng ma sẽ quyết định tới năng suất và chất l… ợng quế Tuy nhiên nếu đợc chăm sóc tốt chất lợng của quế cũng sẽ đợc cải thiện Trung bình một cây quế có tuổi từ 10- 15 năm thờng có đờng kính từ 20- 30 cm sẽ cho 20-40 kg vỏ tơi Từ vỏ tơi này có thể làm gia vị thực phẩm, làm nguyên liệu chế biến hàng tiêu dùng hay đem xuất khẩu dới dạng vỏ nguyên liệu Cây quế nếu trồng dùng vào mục đích làm gia vị thực phẩm hay nguyên liệu cho ngành công nghiệp hàng tiêu dùng thì chỉ cần trồng trong thời gian 10 năm là có thể thu hoạch đợc Còn nếu trồng để làm dợc liệu thì thời gian th-ờng lâu hơn, có thể 20-30 năm với thời gian lâu nh vậy giá trị dợc liệu của cây quế mới phát huy hết công dụng ở Yên Bái, ngời ta trồng quế với mật
độ khoảng 2500- 3000 cây trên một héc ta, sau 10 năm thì thu hoạch cho năng suất 20- 25 tấn vỏ quế Tuy nhiên ngày nay do nhu cầu về cây quế rất cao nên thời gian sản xuất của cây quế rút ngắn xuống chỉ còn khoảng 10 năm
3.2 Gỗ và tinh dầu quế
Trang 12Đối với ngành sản xuất quế, ngoài khai thác vỏ quế là chủ yếu thì
ng-ời ta còn thu hoạch đợc gỗ, còn các phần còn lại nh lá, cành, rễ quế thì có thể dùng để chng cất tinh dầu Cây quế nếu đợc trồng với mật độ thích hợp
và đợc chăm sóc tốt thì có thể cho thu hoạch sản lợng vỏ rất cao, một lợng
gỗ tơng đối lớn có chất lợng tốt Mỗi cây quế sau khi thu hoạch vỏ thì còn lại hàng chục kg lá, cành và rễ Phần này đem đi chng cất lấy tinh dầu Tinh dầu quế tuy chiếm một tỷ trọng nhỏ nhng giá trị và công dụng của nó không phải là nhỏ Tinh dầu quế sau khi đợc chng cất sẽ dùng làm nguyên liệu đầu vào cho ngành công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng, công nghiệp dợc và mỹ phẩm Mỗi một hec ta quế sau khi thu hoạch, lột vỏ đi sẽ còn lại từ 8- 10 m3
gỗ, cho từ 5-8 ste củi Gỗ quế có nhiều giá trị sử dụng nh các loại cây khác,
có thể dùng gỗ quế để làm cốp pha xây dựng, đóng đồ mộc, làm gỗ trụ hầm
mỏ Gỗ quế đ… ợc đánh giá là có chất lợng tốt nh các lạo gỗ khác là bồ đề,
mỡ, bạch đàn Tuy nhiên điều đặc biệt là trong gỗ quế có một lợng tinh dầu nên không bị mối mọt Thân cây lại thẳng đều và cứng Vì vậy dùng gỗ quế vào làm trụ hầm mỏ rất bền
Bên cạnh đó gỗ quế lại có mùi thơm nên hiện nay ở một số địa phơng
nh ở Trà Bồng tỉnh Quảng Nam, ngời dân đã dùng gỗ quế để sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ Việc làm này vừa mang lại thu nhập cho nhân dân, vừa tận dụng đợc phụ phẩm của cây quế và lại còn góp phần bảo tồn ngành nghề truyền thống của cha ông Do đó đối với ngành sản xuất quế bên cạnh việc khai thác vỏ quế thì việc khai thác gỗ quế cũng là một hớng đi cần đợc các ngành, các cấp quan tâm trong vấn đề giải quyết yêu cầu về gỗ cho công nghiệp hầm mỏ, làm hàng thủ công mỹ nghệ để tránh tình trạng chặt phá rừng bừa bãi
Mặc dù cây quế phải 10 năm mới cho thu hoạch nhng không phải trong thời gian cây quế sinh trởng ngời trồng không khai thác đợc gì từ cây quế Trong thời gian chăm sóc cây quế, ngời trồng có thể chặt những cành
Trang 13con ở gần gốc để lấy lá, cành, thu hoạch những mầm non tập trung lại để
ch-ng cất tinh dầu ở các tỉnh Quảch-ng Ninh và Quảch-ng Nam mỗi năm một ha quế
có thể cho một lợng cành lá chng cất đợc một lợng tinh dầu vào khoảng
30-60 kg, ở Yên Bái là 50 kg Ngoài ra các cành nhỏ, mầm non cũng có thể cho thu hoạch khoảng 20-30 kg tinh dầu một năm Tiềm năng về tinh dầu của Việt Nam là tơng đối lớn, nhu cầu về tinh dầu quế trên thế giới ngày một tăng do sự tăng trởng của ngành công nghiệp hàng tiêu dùng Tuy nhiên nớc
ta mới chỉ xuất khẩu một lợng tinh dầu không đáng kể Bên cạnh đó công nghệ ép tinh dầu của nớc ta hiện nay còn thô sơ và lạc hậu nên tỷ lệ hao hụt khá cao và chất lợng tinh dầu đợc ép từ những loại máy móc này cha cao nên đa số cha phù hợp với yêu cầu của các nớc nhập khẩu
II Tình hình cung cầu sản phẩm quế trên thị
tr-ờng thế giới vài năm gần đây
Sản phẩm quế ở nớc ta là mặt hàng đợc buôn bán từ lâu đời Sự hình thành thị trờng quế từ nhỏ lẻ đến rộng lớn nh hiện nay là do nhu cầu về sản phẩm quế ngày một tăng trên thị trờng thế giới Do cây quế chỉ thích hợp ở một số nơi trên thế giới nên tình hình buôn bán mặt hàng này trên thế giới ngày một sôi động Những năm gần đây, trong các mặt hàng gia vị xuất khẩu thì chỉ có mặt hàng quế là có xu hớng tăng còn các mặt hàng khác nh
hồ tiêu, gừng, tỏi hay ớt quả thì có xu hớng chững lại hoặc có tăng nhng tăng chậm Từ trớc đến nay, chỉ có những nớc trồng quế mới có lợi thế xuất khẩu quế, mà những nớc nh thế không có nhiều trên thế giới Chính vì vậy
mà nhiều khi giá mặt hàng quế trở thành giá “độc quyền” của một số nớc ở các nớc này nhu cầu tiêu dùng thờng không lớn lắm mà chủ yếu tập trung cho xuất khẩu bên cạnh đó nhu cầu về mặt hàng quế cho sản xuất và tiêu dùng ở một số nớc lại luôn tăng và rất ổn định nên tình hình buôn bán quế và các sản phẩm quế trên thế giới hiện nay rất có triển vọng
Trang 141 Nhu cầu về sản phẩm quế trên thế giới
Từ hàng ngàn năm qua, quế đã là một mặt hàng luôn luôn đợc a chuộng
và đợc buôn bán trên thị trờng thế giới theo con đờng tơ lụa, gia vị từ Đông sang Tây Ngày nay, do sự phát triển mạnh mẽ của các ngành sản xuất hàng tiêu dùng nh công nghiệp mỹ phẩm, công nghiệp thực phẩm, công nghiệp d-
ợc phẩm nên mặt hàng quế ngày càng đợc sử dụng rộng rãi Theo tài liệu Plantation Crops, trên thế giới hiện nay, Mỹ là nớc tiêu thụ nhiều nhất mặt hàng quế Mỗi năm nớc này cần nhập một lợng khoảng 25 đến 30 ngàn tấn quế nhng do khả năng xuất khẩu của các nớc sản xuất có hạn nên chỉ đáp ứng đợc khoảng 15.000 tấn Các nớc tiếp theo là Nhật Bản với nhu cầu 10.000 tấn/năm, Mêhicô cần 3000 tấn/năm, Đức khoảng 1500 tấn/năm Nga
là một nớc có nhu cầu lớn nhng mỗi năm chỉ nhập khẩu khoảng 1000 tấn
ấn Độ là một thị trờng với trên 1 tỷ dân, sức tiêu thụ quế và các sản phẩm
có nguồn gốc từ quế cũng rất lớn Đây là những thị trờng đầy tiềm năng của các nớc xuất khẩu quế nh nớc ta
Sau đây là một số nớc có nhu cầu cao về sản phẩm quế trên thế giới:
Bảng 1: Nhu cầu và lợng nhập khẩu bình quân/năm mặt hàng quế
giai đoạn 1995-2000 (đơn vị: tấn)
Trang 15Qua bảng số liệu trên ta thấy nhu cầu về mặt hàng quế trên thế giới là rất lớn Các nớc có nhu cầu cao là những nớc có ngành công nghiệp thực phẩm, mỹ phẩm và hàng tiêu dùng rất phát triển Tuy nhiên trên thực tế số l-ợng quế xuất khẩu vẫn cha đủ đáp ứng nhu cầu của các nớc Có những nớc chỉ nhập khẩu đợc một lợng quế rất nhỏ so với nhu cầu trong nớc Số lợng quế nhập khẩu chỉ bằng 1/3 hay 1/4 nhu cầu thậm chí là 1/15 hay 1/20 nh
ấn Độ hay Nga Những năm qua, đa số các nớc không nhập đủ lợng quế cần thiết phục vụ nhu cầu tiêu thụ ngày một tăng của các ngành sản xuất trong n-
ớc Trong khi đó nhu cầu về tiêu thụ mặt hàng quế lại ngày một tăng Theo
dự báo của các chuyên gia thuộc Hiệp hội gia vị thế giới thì nhu cầu quế trên thế giới từ nay đến năm 2010 mỗi năm tăng 5% Đây quả thực là một vấn đề nan giải của các nớc nhập khẩu quế Đối với các mặt hàng khác thì có thể sản xuất thay thế đợc nhng riêng mặt hàng quế thì không phải nớc nào muốn
là có thể tự sản xuất ra đợc Bởi vì ngành sản xuất quế là một ngành sản xuất
đặc thù riêng có của một số nớc có điều kiện thuận lợi Muốn đáp ứng đủ nhu cầu về mặt hàng quế thì chỉ có thể dựa vào các nớc sản xuất ra nó mà thôi
Đức 2536 6243 2845 6316 2635 5962 2469 4862 2163 3525 Hong kong 6671 8678 1563 1970 749 798 415 490 275 261 Nhật 2360 5359 1809 3957 1797 3908 1479 3156 2052 4768 Hàn quốc 3589 5722 2628 3427 2355 2617 3612 3592 3052 2937
Mexico 5264 21175 5255 26389 5005 30031 5413 29892 5884 29629
Hà lan 3183 3173 3282 5184 5435 6331 7289 7168 5606 4663 Pakistan 742 1184 753 1016 1500 2030 1394 1713 1567 1912 Saudi arabi 1724 1637 1546 1550 2265 1993 2052 1367 1658 1281 Singapore 5387 7411 5514 6887 3139 3578 3415 3862 2548 2988 Anh 1207 2193 1251 2139 1391 2605 1139 1962 1168 1962
Trang 16Mỹ 17098 37363 17495 33273 19457 29256 17566 24030 16797 21115 Tổng 53595 108079 47728 99218 49606 95447 50155 87991 46860 80965
Nguồn: COMTRADE, UNSO
Ngày nay, nhu cầu về mặt hàng quế trên thế giới tăng mạnh do có xu hớng dùng các loại dợc phẩm bào chế từ các loại nguyên liệu có nguồn gốc
tự nhiên thay cho các sản phẩm hoá học, trong khi đó khả năng sản xuất và sản lợng lại có hạn do cây quế chỉ trồng đợc ở một số nơi nhất định Điều này làm cho cầu vợt quá cung dẫn đến cây quế càng trở thành một thứ hàng
“ độc”
Tuy nhiên lại có một nghịch lí là hầu hết các nớc có nhu cầu cao về mặt hàng quế lại không nhập khẩu đủ Nguyên nhân là do khả năng sản xuất của các nớc trồng quế bị hạn chế Đặc điểm của ngành này là thời gian sản xuất rất dài Từ khi trồng đến khi cho thu hoạch có thể kéo dài từ 10- 15 năm thậm chí còn lâu hơn nữa Do đó không thể ngay một lúc có thể cung cấp đ-
ợc một lợng quế lớn Việc mở rộng qui mô sản xuất cũng gặp khó khăn do cây quế chỉ thích hợp với chất đất ở một số vùng Thời gian quay vòng sản xuất cũng kéo dài và yêu cầu vốn đầu t cũng cần rất lớn, trong khi đó các n-
ớc sản xuất quế đều là những nớc đang phát triển nên khả năng đầu t vốn cho ngành sản xuất quế cũng hạn chế Các nớc này lại đang tập trung chủ yếu vốn vào ngành công nghiệp, xây dựng cơ sở hạ tầng nên phần nào…cũng hạn chế đầu t vào ngành trồng quế Bên cạnh đó, các vùng trồng quế lại nằm ở khu vực miền núi, đờng sá đi lại không thuận tiện, phơng thức canh tác lạc hậu, quá trình sản xuất gặp rất nhiều khó khăn nên khả năng mở rộng
và phát triển sản xuất là rất hạn chế Mặt khác cũng chính do giá của mặt hàng quế rất cao nên nhiều khi các nớc có nhu cầu rất cao nhng lại không có khả năng mua đợc, do đó mà tình hình cung cầu mới có hiện tợng mất cân bằng nh thế
2 Tình hình cung cấp mặt hàng quế trên thế giới hiện nay
Trang 17Trong những năm gần đây, khối lợng mặt hàng quế đợc buôn bán trên thế giới ngày một gia tăng, mỗi năm trên 50 ngàn tấn Những nớc tiêu dùng quế chính lại là những nớc không tự sản xuất đợc mặt hàng này do không có sự u
đãi của thiên nhiên về đất đai lẫn khí hậu Do đó các nớc này phụ thuộc hoàn toàn vào nguồn cung cấp từ các nớc sản xuất quế Các nớc cung cấp chính trên thế giới là Srilanca, Indonesia, Trung Quốc và Việt Nam Nớc xuất khẩu quế lớn nhất là Srilanca với gần 45%, tiếp đến là Indonesia với khoảng 25% sau đó là Trung Quốc 12,7% và Việt Nam khoảng 6%
Bảng 3: Các nớc xuất khẩu quế trên thế giới năm 2000
Tên nớc xuất
khẩu
Số lợng (Kg) (1000 USD)Giá trị
Nguồn: ITC/UNCTAD/WTO “Global Spice market- Import 1996-2000”
3 Giá cả mặt hàng quế trên thế giới
Do mặt hàng quế là một loại lâm đặc sản nên giá cả của nó khá cao so với các mặt hàng khác Tính từ năm 1990 trở lại đây, giá mặt hàng này luôn tăng trên thị trờng thế giới, năm tăng cao nhất là năm 1998 ở mức 2,69 USD/kg, nhng từ đó đến nay giá lại biến động giảm theo xu thế chung của các mặt hàng nông- lâm sản và hiện giá mặt hàng này chỉ đứng ở mức 1,39 USD/kg Tuy vậy đây vẫn là mức giá cao so với trớc đây
Bảng 4: Giá mặt hàng quế trên thế giới một số năm qua
Trang 18Qua bảng trên ta thấy, giá quế một số năm qua có sự biến động mạnh mẽ Biểu hiện rõ nhất là từ năm 1997 đến năm 2000 Năm 1998 mức tăng so với năm 1997 là 22,83% nhng đến năm 1999 lại giảm rất mạnh, gần 50% Từ năm 2000 đến nay giá quế giảm nhẹ không đến 5%.
Mặt hàng quế là một loại đặc sản riêng có ở một số nớc trên thế giới Tuy nhiên ngày nay giá cả của mặt hàng này không còn giữ đợc thế độc quyền
nh trớc đây nữa Nguyên nhân là do các nớc xuất khẩu quế đã đẩy mạnh sản xuất và tiêu thụ mặt hàng này Mặt khác cũng ở các nớc xuất khẩu quế có hiện tợng tranh giành khách hàng cả ở cấp quốc gia lẫn trong nội bộ các doanh nghiệp nên đã dẫn đến hiện tợng giá mặt hàng quế giảm trong những năm vừa qua Ngoài ra các nhà nhập khẩu nhiều khi o ép giá ngời bán bởi vì quế cũng là một mặt hàng nhạy cảm
4 Dự báo triển vọng thị trờng quế trên thế giới
Theo dự báo của Hiệp hội gia vị thế giới thì đến năm 2005, lợng quế mà các nớc có nhu cầu nhập khẩu sẽ ở vào khoảng 85.000 tấn đến 92.000 tấn Trong thời gian từ nay đến năm 2010, sức tiêu thụ quế trên thế giới dự đoán vẫn tiếp tục tăng lên, đó là do kết quả xu hớng sau đây:
- Ngành công nghiệp chế biến thực phẩm và ngành ăn uống công cộng sẽ tiếp tục phát triển nhanh ở cả những nớc công nghiệp phát triển và các n-
ớc đang phát triển sẽ dẫn đến tăng nhu cầu tiêu thụ mặt hàng quế trên qui mô toàn thế giới Ngoài ra ở các nớc phơng Tây hiện nay có xu hớng dùng nhiều Đông dợc trong đó có mặt hàng quế Do đặc điểm của cây quế có tác dụng chữa đợc nhiều bệnh, đặc biệt là các bệnh về mùa lạnh nên nó ngày càng đợc a dùng
- Quá trình toàn cầu hoá đang diễn ra rất mạnh mẽ hiện nay trên thế giới, trong đó có hiện tợng di dân Dòng ngời Châu á nhất là ngời Trung Quốc
di c sang các nớc phơng Tây làm ăn sinh sống ngày một nhiều Họ mang
Trang 19theo phong tục dùng thực phẩm truyền thống, trong đó có sản phẩm quế Mặt khác họ cũng thờng dùng sản phẩm này để làm dợc liệu Chính vì thế tơng lai mặt hàng quế sẽ vẫn tiếp tục đợc buôn bán sôi động trên thế giới.
- ở các nớc đang phát triển, dự đoán nhu cầu tiêu thụ quế sẽ tăng nhanh hơn ở các nớc phát triển do ngành công nghiệp chế biến thực phẩm sẽ rất phát triển bởi sự tăng dân số, tăng thu nhập sẽ kích thích tiêu dùng các sản phẩm có sử dụng quế nh mỹ phẩm, đồ uống
Chơng 2
Thực trạng sản xuất và xuất khẩu quế
của Việt Nam
I Thực trạng sản xuất quế ở Việt Nam
1 Những thuận lợi và khó khăn trong ngành sản xuất quế 1.1 Những thuận lợi
Đối với các ngành sản xuất nông- lâm nghiệp nh sản xuất quế chẳng hạn thì điều kiện tự nhiên là một nhân tố rất quan trọng quyết định đến sản phẩm Việt Nam là một trong số ít nớc đợc thiên nhiên ban tặng cho những
điều kiện tự nhiên rất thuận lợi để cho cây quế phát triển Ngành sản xuất quế của Việt Nam có những thuận lợi chủ yếu sau đây:
Trang 201.1.1 Điều kiện khí hậu và đất đai:
Thứ nhất là về khí hậu: Khí hậu nớc ta cơ bản là khí hậu nhiệt đới
ẩm, ở miền Bắc tuy có một mùa đông không lạnh lắm nên cây trồng có thể sinh trởng xanh tốt quanh năm Việt Nam có lợng ma và độ ẩm bình quân hàng năm rất cao, điều này rất phù hợp cho cây quế, một loài cây a ẩm phát triển Tính chất biến động mạnh mẽ cũng là một đặc trng của khí hậu nhiệt
đới ẩm ở nớc ta Thể hiện rõ nhất là sự thay đổi khí hậu theo mùa trong năm
và nhiệt độ trong ngày, trong vùng, sự biến động này nhiều khi trái ngợc nhau Đây quả là một tài nguyên phong phú để phát triển nông lâm nghiệp theo hớng chuyên môn hoá kết hợp với phát triển tổng hợp, sản xuất hỗn giao nhiều loại cây có giá trị kinh tế trong đó có cây quế
Các vùng trồng quế ở nớc ta nh Yên Bái, Quảng Ninh, Thanh Hoá, Nghệ An, Quảng Nam, Quảng Ngãi đều có khí hậu nhiệt đới ẩm thuận lợi cho cây quế phát triển ở các vùng nói trên, nhiệt độ bình quân hàng năm
đều cao hơn cả nớc, ví dụ Móng Cái, Tiên Yên 22,50 C, Thờng Xuân 230 C, Nghệ An 23,90 C Bên cạnh đó tổng bức xạ mặt trời lớn, trung bình đạt từ 110- 120 kcal/cm/năm, điều này đảm bảo cho sự hình thành tinh dầu trong lá và cành của cây quế Một điều kiện thuận lợi khác là, lợng ma bình quân của nớc ta cũng rất cao, trung bình đạt 1500- 2000 mm/năm cùng với nhiệt
độ cao nh thế dẫn đến độ ẩm có thừa để cây quế có thể sinh trởng tốt Nh vậy với khí hậu nhiệt đới ẩm nh Việt Nam là một trong số ít nớc có khả năng trống cây quế Đây có thể nói là điều kiện thuận lợi nhất, một nhân tố quyết định đến chất lợng của cây quế
Thứ hai là đất đai:
Khả năng đất đai có thể cho cây quế sinh trởng và phát triển ở nớc ta rất lớn Theo thống kê của các cán bộ ngành kiểm lâm thì nớc ta có khoảng
10 triệu héc ta đất đồi rừng trong đó đất có khả năng cho khai thác lâm nghiệp chiếm khoảng 90% ở vùng đồi núi phía Đông Bắc và Tây Bắc có
Trang 21khoảng 1 triệu ha đất tốt có thể cho khái thác trồng cây lâm sản dài ngày nh cây quế ở vùng Đông Bắc có khoảng gần 70 ngàn ha đất feralit màu vàng
đỏ, có độ PH thích hợp để trồng cây quế và đợc phân bố chủ yếu ở hai tỉnh Quảng Ninh và Lạng Sơn ở Tây Bắc thì loại đất này có nhiều mùn hơn so với ở Đông Bắc và càng lên cao thì độ ẩm của đất càng tăng, tầng đất càng dày và có độ phì nhiêu càng cao Nhìn chung thì loại đất feralít có độ ẩm cao
và nhiều mùn này thì thích hợp với nhiều loại cây không riêng gì cây quế Chính vì vậy mà những địa phơng có loại đất này thì cây công nghiệp phát triển rất tốt và cho năng suất và chất lợng cao hơn hẳn các địa phơng khác Chẳng hạn quế trồng ở Yên Bái, Nghệ An có năng suất và chất lợng thờng cao hơn ở Quảng Ninh Nói chung ở miền Bắc nớc ta diện tích có khả năng trồng quế khoảng 30.000 đến 40.000 ha
đối với các tỉnh phía Nam, diện tích trồng quế ở các tỉnh từ Quảng Nam
đến Kông Tum ớc tính khoảng 20.000 ha Theo điều tra sơ bộ của ngành lâm nghiệp thì nớc ta có khoảng từ 70.000- 80.000 ha đất có khả năng trồng quế
và phân bổ chủ yếu ở các vùng sau:
- Vùng Đông Bắc 15.000 ha
- Vùng trung tâm ( dọc theo lu vực sông Hồng và sông Đà): 30.000 ha
- Vùng khu IV cũ: 10.00 ha
- Duyên hải Trung Trung bộ: 20.000 ha
Đó là còn cha kể đến các địa phơng khác nh khu vực Tây Nguyên có hàng nghìn ha đất đang trong giai đoạn thử nghiệm trồng quế
Nh vậy nói về điều kiện tự nhiên: khí hậu và đất đai thì nớc ta có điều kiện hết sức thuận lợi để phát triển ngành sản xuất quế Bên cạnh đó chúng
ta cũng phải xem xét tới các yếu tố khác nh giống cây trồng, vốn đầu t, lao
động, kĩ thuật chăm sóc để có thể tận dụng tối đa các điều kiện tự nhiên …
1.1.2 Lợi thế kinh nghiệm sản xuất
Trang 22Quế là một loài cây đặc sản quí hiếm đã đợc trồng từ lâu đời ở Việt Nam việc sản xuất quế từ lâu đã trở thành tập quán của bà con các dân tộc
ít ngời ở các tỉnh miền núi nớc ta Trớc thời kì đổi mới, việc sản xuất quế chủ yếu dựa vào phong tục tập quán và kinh nghiệm vốn có của cha ông để lại Từ năm 1990 trở lại đây, tình hình kinh tế xã hội đã có nhiều thay đổi, ngành sản xuất quế cũng đợc trú trọng và từng bớc đợc áp dụng khoa học kĩ thuật trong các khâu từ giống tới thu hoạch, chế biến Tuy nhiên về cơ bản ngành sản xuất quế ở nớc ta vẫn dựa vào những kinh nghiệm quí báu của cha
ông để lại
Qua hàng ngàn năm đúc kết kinh nghiệm, ngày nay việc trồng quế phải tuân thủ các bớc sau:
Về trồng quế: cây quế phải đợc trồng với mật độ thích hợp để tạo ra một
tán che phủ đất thích hợp để giữ độ ẩm cho đất, nhất là khi cây quế con nhỏ cần nhiều nớc Kinh nghiệm này mang lại kết quả là tỉ lệ cây sống cao, chất lợng cây tốt Trên thực tế hiện nay nhiều nơi áp dụng phơng thức nông lâm kết hợp trong sản xuất quế, tức là ngời ta trồng cây công nghiệp dài ngày hoặc ngắn ngày nh hoa màu lơng thực nh ngô, sắn để tạo một tán che…thích hợp cho cây quế khi còn non, vừa có tác dụng chống sói mòn vừa có tác dụng hạn chế cỏ dại, tăng độ mùn trong đất, cải tạo rừng trong những năm đầu khi rừng cha phát tán Trong quá trình trồng xen nh vậy ngời trồng vừa chăm sóc cây quế, vừa chăm sóc các cây công nghiệp khác, đây là một việc làm mang lại nhiều lợi ích thiết thực Kinh doanh theo phơng thức nông- lâm kết hợp này cho thấy giá thành sản xuất một ha quế không tăng lên bao nhiêu nhng hiệu quả lại tăng lên đáng kể, ngoài sản lợng quế còn thu
đợc một lợng đáng kể các loại cây trồng khác Cũng nhờ phơng thức này mà
ở một số địa phơng đã giải quyết đợc nhiều vấn đề trớc mắt nh lơng thực trong thời kì giáp hạt
Về thu hoạch quế: thông thờng ở nớc ta quế đợc thu hoạch vào hai mùa,
tuỳ theo đặc điểm của từng vùng mà thời điểm khai thác khác nhau ở các
Trang 23tỉnh phía Bắc, quế thờng đợc thu hoạch vào tháng 4- 5 hoặc tháng 9- 10 còn
ở các tỉnh phía Nam vụ xuân thu hoạch vào tháng 1- 2 và vụ mùa thu hoạch vào tháng 7- 10 kinh nghiệm cho thấy thu hoạch vào thời kì này là lúc cây quế phát triển mạnh do lợng ma nhiều nên có nhiều nhựa nên dễ bóc vỏ, ít bị
h hao Mặt khác thời gian này ánh sáng mặt trời chiếu nhiều nên tỷ lệ tinh dầu nhiều và tập trung lại trong vỏ cây
Cây quế có đặc điểm là càng đợc trồng lâu năm thì vỏ càng dày, tỉ lệ dầu càng cao, phẩm chất càng tốt Tuy nhiên sau khoảng 10 năm khi cây quế đã
ở tuổi trởng thành thì quá trình sinh trởng sẽ chậm lại vì vậy không nên trồng cây quế trong thời gian quá lâu vì nh vậy sẽ không mạng lại hiệu quả kinh tế cao Đối với loại quế dùng làm thuốc chữa bệnh thì theo kinh nghiệm của cha ông ta trồng càng lâu càng có giá trị cao Nhng số lợng quế dùng vào mục đích này không lớn lắm mà quế chủ yếu dùng vào mục đích làm gia
vị thực phẩm và dùng trong công nghiệp mỹ phẩm Tuỳ theo nhu cầu kinh
tế mà xác định tuổi khai thác cho thích hợp Nhìn chung, khi cây quế có ờng kính khoảng 20 cm thì có thể thu hoạch đợc Nhng ở độ tuổi này thì vỏ quế chỉ có thể dùng làm gia vị thực phẩm, dùng để sản xuất hàng tiêu dùng Còn muốn dùng để làm dợc liệu thì cần thời gian trồng lâu hơn Ngày nay nhu cầu về sản phẩm quế để sản xuất các mặt hàng tiêu dùng vẫn chiếm đa số
đ-Nh vậy tập quán sản xuất quế mà cha ông ta đã để lại có nhiều u điểm và
đây là một lợi thế cần đợc duy trì và sử dụng cho phù hợp với tình hình sản xuất và xuất khẩu hiện nay
1.1.3 Lợi thế về lao động
Hiện nay nớc ta là một trong những nớc có số dân đông trên thế giới, khoảng gần 80 triệu ngời, trong đó số ngời ở độ tuổi lao động chiếm khoảng hơn 40 triệu và hơn 70% lao động lại thuộc về ngành nông, lâm nghiệp Trình độ lao động phổ thông của nớc ta ngày càng đợc nâng cao tay nghề,
Trang 24chất lợng Lao động nông, lâm nghiệp của nớc ta rất phong phú cả về tốc độ tăng tự nhiên và tỉ suất huy động Đây là một lợi thế rất lớn, một khả năng vật chất tiềm tàng mà không phải bất cứ một quốc gia nào cũng có đợc Tuy nhiên những năm qua lợi thế này của Việt Nam vẫn cha đợc khai thác một cách có hiệu quả Vì vậy trong thời gian tới việc khai thác nguồn nhân lực một cách tối u là việc làm cần thiết.
Sau đây là bảng thống kê số liệu dân số lao động ở nớc ta
Nguồn: Bộ Lao động-Thơng binh và xã hội
Bảng 6: Số liệu thống kê dân số lao động theo trình độ- ngành nghề
(Tính đến 1/7/2002, đơn vị 1000 ngời)Trình độ học vấn
Trang 25yếu trồng lúa chỉ đợc nhiều lắm là ba vụ một năm nên nhiều khi ngời nông dân không có công ăn việc làm trong những tháng nông nhàn
Một thực tế là ở nớc ta hiện nay bình quân một lao động chỉ làm khoảng
200 ngày/năm Nơi nào có tổ chức sản xuất khá cũng chỉ đạt khoảng 250 ngày/năm Đặc điểm về nguồn lao động trên đây chỉ ra khả năng phát triển một số ngành mà quá trình sản xuất cần nhiều lao động và giá trị lao động
đem lại rất cao nh các ngành sản xuất rau quả, ngành sản xuất một số cây công nghiệp đặc sản xuất khẩu mà điển hình là quế, hồi, kiến cánh đỏ …Lao động sống đối với ngành này trong điều kiện hiện nay vẫn còn là những cơ sở vật chất có ý nghĩa quyết định Trong quan hệ với thị trờng thế giới, những sản phẩm này thờng có giá trị ngoại tệ cao Mặt khác, đặc điểm sản xuất nông, lâm nghiệp nói chung và sản xuất quế nói riêng, theo chiều sâu ngoài việc kết hợp sản xuất giữa hai ngành sản xuất nông và lâm nghiệp còn
có điều kiện thâm canh khắc phục sự lạc hậu của cơ sở vật chất kĩ thuật còn nghèo nàn lạc hậu trong phạm vi nhất định, nhất là ở vùng đồi núi Hiện nay nguồn lao động tiềm tàng này còn để lãng phí, kể cả ở vùng đồi núi còn quá
ít lao động Bên cạnh đó, điểm đáng chú ý hiện nay là phân bố lao động của nớc ta còn cha hợp lí, nguồn lao động ở các vùng miền núi còn quá ít so với khả năng sản xuất tiềm tàng rất rộng lớn của đất đai và tiềm năng kinh tế
to lớn ở khu vực này Tốc độ tăng về dân số cũng nh lao động chủ yếu tập trung ở vùng đồng bằng ven biển Trong khi đó việc mở rộng diện tích đất nông nghiệp, lâm nghiệp ở vùng đồi núi có ý nghĩa rất quan trọng cả về kinh
tế lẫn quốc phòng lại không đợc chú ý đầu t
Nh vậy khả năng lao động ở nớc ta rất dồi dào nhng để phân bổ lại và huy động cũng nh sử dụng đợc tiềm năng lao động đó để phát triển sản xuất các ngành cần nhiều lao động nói chung và ngành sản xuất quế nói riêng là một việc làm cần thiết Nhìn chung, nớc ta ngoài những lợi thế về điều kiện
tự nhiên, khí hậu đất đai thì lợi thế về nguồn lao động cũng là một nhân tố
đáng kể để mở rộng phát triển ngành sản xuất quế
Trang 261.2 Một số khó khăn trong ngành sản xuất quế
Cây quế là một loại cây chỉ sống đợc ở một số nơi nhất định, chủ yếu là ở các vùng đồi núi ở các tỉnh phía Bắc và miền Trung Địa hình ở những nơi này chủ yếu là đồi núi dốc, giao thông đi lại không thuận lợi Việc trồng và chăm sóc cây quế của bà con nông dân gặp rất nhiều khó khăn Bên cạnh đó, mặc dù các vùng, miền nói trên những năm qua đã đợc Đảng và nhà nớc quan tâm đầu t xây dựng đờng sá, cầu cống nhng giao thông ở các địa ph-
ơng miền núi nói chung là còn gặp nhiều trắc trở Chính vì lí do này mà sản phẩm quế sau khi thu hoạch sẽ gặp khó khăn rất lớn trong khâu vận chuyển tiêu thụ Trớc đây, việc trồng quế diễn ra nhỏ lẻ, thờng là qui mô gia đình cho nên việc thu hoạch và tập trung quế thành số lợng lớn để đem xuất khẩu
là một việc khó khăn Mặt khác, việc sản xuất của các hộ gia đình lại diễn ra chủ yếu ở các vùng sâu, vùng xa nên trong quá trình từ sản xuất đến thu hoạch gặp rất nhiều bất lợi Thực tế ở các tỉnh miền núi, mật độ dân c rất tha thớt, đất đai rộng lớn, việc canh tác trên các sờn núi dốc của bà con các dân tộc những năm qua gặp rất nhiều khó khăn, trở ngại Sản xuất quế là một công việc đòi hỏi cần nhiều nhân công, nhất là thời kì cây còn non, nhng số lao động trong một hộ ở miền núi lại rất ít, thờng chỉ khoảng từ 3-5 ngời một hộ, trong khi mỗi hộ lại canh tác một diện tích rất lớn có thể lên tới hàng chục ha Đây cũng là một khó khăn lớn cản trở bà con các dân tộc mở rộng diện tích cây quế
Kể từ khi tiến hành công cuộc Đổi mới đất nớc, Đảng và Nhà nớc ta có chủ trơng khuyến khích đầu t đặc biệt là lĩnh vực đầu t nớc ngoài vào các vùng sâu, vùng xa Tuy nhiên qua hơn 10 năm thực hiện luật đầu t nớc ngoài, các vùng này vẫn cha thu hút đợc nhiều vốn đầu t nớc ngoài Việc đầu
t chủ yếu do các doanh nghiệp nhà nớc tiến hành nên số vốn đa vào cũng khiêm tốn và hiệu quả sản xuất cũng cha cao
Trang 27Việc sản xuất của bà con các dân tộc hiện nay chủ yếu dựa vào kinh nghiệm truyền thống của cha ông để lại, điều này vừa là một lợi thế lại vừa
là một trở ngại đối với ngành sản xuất quế ở nớc ta Việc áp dụng khoa học
kĩ thuật vào ngành sản xuất quế hầu nh cha đợc trú trọng nhiều do đó năng suất và chất lợng sản phẩm quế còn cha đợc nâng cao Hao hụt sau khi thu hoạch chiếm một tỉ lệ cao trong khối lợng sản phẩm sau thu hoạch Chúng ta cần phải đào tạo nhiều cán bộ lâm nghiệp có chuyên môn tốt để tăng cờng cho các địa phơng miền núi nhất là những nơi trồng cây đặc sản nh cây quế
2 Thực trạng sản xuất quế ở Việt Nam
2.1 Các vùng trồng quế chính ở nớc ta
ở nớc ta, cây quế tự nhiên thờng mọc hỗn giao trong rừng tự nhiên nhiệt
đới ẩm từ Bắc vào Nam Tuy nhiên ngày nay quế tự nhiên không còn nhiều
do sự khai thác bừa bãi của con ngời mà thay vào đó là cây quế đã đợc thuần hoá trở thành cây trồng Từ lâu, nớc ta đã hình thành bốn vùng trồng quế chính và mỗi vùng có những sắc thái riêng về tự nhiên, về dân tộc Các vùng trồng quế chính đó là:
2.1.1 Vùng quế Yên Bái
ở tỉnh Yên Bái, cây quế đợc trồng tập trung ở các huyện Văn Yên, Văn Chấn, Trấn Yên Trong đó các khu vực tập trung quế là Đại Sơn, Châu Quế, Phong Dụ, Xuân Tầm Các địa phơng trên có diện tích và sản lợng quế chiếm khoảng trên 70% của cả vùng Sinh sống trên vùng quế Yên Bái chủ yếu là đồng bào dân tộc Dao có nghề trồng quế từ lâu đời Đặc điểm của vùng quế Yên Bái là vùng rừng núi bị chia cắt, hiểm trở nằm ở phía Đông và
Đông nam của dãy Hoàng Liên Sơn, có độ cao tuyệt đối khoảng 300- 700 m
so với mực nớc biển, khu vực này có nhiệt độ trung bình năm là 22,70 C, ợng ma bình quân năm trên 1500 mm, độ ẩm bình quân là 84% Đất đai phát
Trang 28l-triển trên đá sa thạch, có tầng đất dày, ẩm, nhiều mùn và thoát nớc Đây là vùng quế có diện tích và sản lợng vỏ quế cao nhất cả nớc.
Vùng quế Yên Bái có diện tích khoảng 20.000 ha và sản xuất chủ yếu là loại quế Đơn có chất lợng cao hơn so với quế đơn sản xuất ở các vùng khác Theo điều tra của các chuyên gia, vùng này có khoảng hơn 2 vạn ha có khả năng trồng đợc quế Diện tích đất này không chỉ nằm ở khu vực có điều kiện thuận lợi về khí hậu thời tiết mà đất đai khá phì nhiêu nên cây quế phát triển rất tốt Tuy nhiên vùng này cũng có những mặt hạn chế, đó là địa hình đồi núi phức tạp, độ dốc lớn và bị chia cắt nên giao thông nội tỉnh đi lại rất khó khăn Việc vận chuyển quế sau khi thu hoạch từ các khu vực trồng quế đến các nơi tập trung không mấy thuận lợi Nhng việc vận chuyển quế từ các nơi tập trung ở tỉnh đi các địa phơng khác cũng có mặt thuận lợi do Yên Bái có quốc lộ 13, có tuyến đờng sắt Lào Cai- Yên Bái- Hà Nội đi qua cùng với các tuyến đờng nội tỉnh Cây quế trồng ở Yên Bái có năng suất và chất lợng cao hơn các vùng khác nên đáp ứng yêu cầu xuất khẩu Cây quế chỉ cần trồng khoảng 7- 8 năm là có thể cho khai thác để làm gia vị thực phẩm, gỗ đạt kích cỡ làm cây chống hầm lò
Nhìn chung, Yên Bái là địa phơng có khả năng nhất trong việc phát triển diện tích trồng quế và là vùng cung cấp sản lợng quế lớn nhất, có chất lợng nhất cho nhu cầu xuất khẩu Các sản phẩm quế cũng phong phú bao gồm vỏ quế thô, bột quế, tinh dầu quế, các phụ phẩm dùng cho ngành sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ, ngoài ra hàng năm còn cung cấp cho hàng trăm mét khối
gỗ cho các cơ sở hầm lò ở Yên Bái, Lào Cai, Thái Nguyên
2.1.2 Vùng quế Quảng Ninh
Các huyện Hải Ninh, Hà Cối, Đầm Hà, Tiên Yên và Bình Liêu tỉnh Quảng Ninh là vùng đồi núi san sát nhau thuộc cánh cung Đông bắc kéo dài
về phía biển Các dãy núi theo hình cánh cung Đông Bắc- Tây Nam là địa hình chắn gió vì vậy lợng ma trong vùng rất cao, khoảng trên 2300 mm một
Trang 29năm, nhiệt độ bình quân năm là 230 C Vậy nên cây quế rất có điều kiện phát triển Quế đợc trồng trên các đồi núi cao khoảng 200- 400 m so với mực nớc biển Quế là nguồn lợi đáng kể của các đồng bào Thanh Y, Thanh Phán sống
ở trong vùng Các đồng bào dân tộc ít ngời trên đã có truyền thống sản xuất quế từ lâu đời Sản phẩm chủ yếu là quế Đơn Nhiều năm qua, vùng quế Quảng Ninh đã cung cấp một lợng lớn quế hàng hoá phục vụ cho xuất khẩu Hình thức sản xuất quế chủ yếu là do quốc doanh, các lâm trờng đợc thành lập từ hàng chục năm qua và các hộ dân đợc nhà nớc giao đất giao rừng
Vùng quế Quảng Ninh là nơi có đất đai và khí hậu rất thuận lợi để phát triển cây quế Nếu nh có sự đầu t thích đáng khả năng có thể mở rộng qui mô sản xuất quế lên tới 6000 ha Vùng này lại có điều kiện thuận lợi khác là giao thông đi lại tơng đối thuận lợi do địa hình đồi núi không cao lắm, quốc lộ 18 vừa mới đợc cải tạo và mở rộng, lại là một tỉnh có nhiều cảng biển nh cảng Cửa Ông, cảng Hòn Gai, cảng nớc sâu Cái Lân ( đang xây dựng) Do đó việc vận chuyển sản phẩm quế đi các tỉnh khác và để xuất…khẩu là không mấy khó khăn Tuy nhiên do hiện nay diện tích không lớn và chất đất ở đây không cho chất lợng quế tốt nh ở Yên Bái nên Quảng Ninh mới chỉ mới sản xuất và xuất khẩu rất ít mặt hàng này Trong tơng lai, cải tạo các giống quế và đa các giống có năng suất, chất lợng cao nh loại quế
Đơn vào vùng quế này để tiến hành sản xuất đại trà là một việc làm đang
đ-ợc tỉnh Quảng Ninh quan tâm
2.1.3 Vùng quế Thanh Hoá, Nghệ An
Các huyện Thờng Xuân, Ngọc Lặc (Thanh Hoá) Quế Phong, Quỳ Châu (Nghệ An) là một vùng liền giải nằm về phía Đông dãy Trờng Sơn, có vĩ độ
từ 190 đến 200 vĩ Bắc, Phía Tây thợng nguồn là các dãy núi cao khoảng 1500- 2000m án ngữ biên giới Việt Lào và thấp dần về phía Đông Vùng quế này bị kẹp giữa bởi hai lu vực sông Chu và sông Hiến; có độ cao bình quân 300- 700 m chia cắt và đón gió Đông Nam nên lợng ma trong vùng cũng rất cao trên 2000 mm/ năm; nhiệt độ bình quân 23,10 C, độ ẩm bình quân là
Trang 3085% Thực vật trong vùng phong phú và đa dạng, có rất nhiều loại lâm sản ngoài gỗ có giá trị nh song, mây, tre trúc và các loại cây thuốc nhng đặc biệt quý giá vẫn là cây quế Tiêu biểu là hai loại quế Thanh và quế Quỳ Đây là hai loại rất tốt vì có hàm lợng và chất lợng cao nổi tiếng trong cả nớc Ngời trồng quế chủ yếu là đồng bào các dân tộc Thái, Mờng, Mán.
Khả năng phát triển cây quế ở vùng này là rất lớn tuy nhiên hiện nay diện tích quế chỉ mới tập trung chủ yếu ở các huyện Quỳ Châu, Quỳ Hợp, Quế Châu của Nghệ An và Thờng Xuân, Ngọc Lặc, Lang Chánh của Thanh Hoá Nhu cầu về cây quế thanh để làm dợc liệu là rất lớn nhng khả năng sản xuất lại có hạn nên việc mở rộng diện tích quế ở vùng này là rất cần thiết
Theo điều tra khảo sát của các chuyên gia lâm nghiệp, vùng này có điều kiện khá thuận lợi: về địa chất, vùng này thuộc miền tự nhiên Tây Bắc, đất
đai có độ dày và ẩm lớn, nhiều mùn, chất lợng đất tốt, khả năng trồng cây quế Đơn ở khu vực này là rất lớn Vì vậy việc đa cây quế Đơn vào trông ở khu vực này để tạo vùng nguyên liệu phục vụ xuất khẩu là một việc làm cần thiết để nâng cao thu nhập của đồng bào các dân tộc ở đây Bên cạnh đó nguồn lao động dồi dào ở các đại phơng trên cũng là một thuận lợi lớn để phát triển sản xuất quế
2.1.4 Vùng quế Quảng Nam, Quảng Ngãi
ở vùng này, sản xuất quế tập trung chủ yếu ở các huyện Trà My của tỉnh Quảng Nam và Trà Bồng của tỉnh Quảng Ngãi, khu vực này nằm ở phía
đông của dãy Trờng Sơn, thợng nguồn phía Tây là đỉnh Ngọc Linh cao khoảng 1500 m và thấp dần về phía Đông Vùng quế Trà My, Trà Bồng có
độ cao trung bình khoảng 400- 500 m; nhiệt độ bình quân hàng năm là 220
C, lợng ma bình quân khá cao khoảng 2300 mm/năm, độ ẩm bình quân 85%
Đất đai phát triển trên các loại đá mẹ, đá sa thạch hoặc sa phiến thạch có tầng đất dày, ẩm và thoát nớc, thành phần cơ giới trung bình Quế là nguồn lợi và gắn bó với các đồng bào dân tộc Cà Tu, Cà Toong, Bo từ lâu đời nay
Trang 31Các xã nh Trà Quân, Trà Hiệp, Trà Thuỷ (Trà Bồng), Trà Long, Trà Giác, Trà Mai (Trà My) là những địa phơng có nhiều quế nhất Hiện nay vùng quế
đã đợc mở rộng ra các địa phơng khác nh Quế Sơn, Phớc Sơn, Sơn Tây và Sơn Hà
ở khu vực này tổng diện tích có thể trồng quế lên tới hơn 10.000 ha Sản phẩm truyền thống vẫn là quế Đơn có chất lợng tốt không kém quế Đơn trồng ở Yên Bái, Quảng Ninh Khu vực này có điều kiện giao thông tơng
đối thuận lợi, có đờng 1 và đờng Hồ Chí Minh đi qua, lại gần biển (khu vực miền Trung có các cảng nh Đà Nẵng, Sa Huỳnh, ) nên việc vận chuyển…sản phẩm quế sau thu hoạch đi tiêu thụ là rất thuận lợi
Những năm qua, việc chế biến các sản phẩm có nguồn gốc từ cây quế cha
đợc chúng ta trú trọng lắm Do lợng quế sản xuất ra không nhiều lại bị phân tán ở 4 khu vực khác nhau và việc xuất khẩu lại chủ yếu là vỏ quế thô nên công đoạn chế biến cũng đơn giản, dựa vào ngời trồng quế là chính Khi đến
vụ thu hoạch, quế đợc lột vỏ theo những quy trình nhất định Trong công
đoạn này, để có đợc những phiến quế phù hợp với tiêu chuẩn xuất khẩu, cán
bộ thu mua phải hớng dẫn cho ngời sản xuất tiêu chuẩn về độ dài, chiều ngang của thanh quế để đạt đợc giá trị cao nhất Vỏ quế sau khi tách ra khỏi cây sẽ đợc phơi khô và bán cho công ty ngoại thơng, để sau đó các công ty này sẽ đa vào chế biến và đa đi xuất khẩu
Hiện nay Yên Bái là một địa phơng sản xuất quế đứng đầu cả nớc nhng theo qui hoạch thì sắp tới vùng quế Quảng Nam, Quảng Ngãi sẽ có diện tích
và sản lợng ngang bằng với Yên Bái
2.2 Diện tích và sản lợng
Theo con số thống kê năm 1999, ở nớc ta, đất lâm nghiệp chiếm khoảng 24% diện tích đất cả nớc (tức là khoảng 10.884,5 nghìn ha), trong đó diện tích trồng cây lâu năm chiếm 18% Hơn nữa theo thống kê của cục quản lý
Trang 32lâm nghiệp – Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn, diện tích có khả năng trồng quế ở nớc ta rất lớn (70.000 – 80.000 ha) trong khi diện tích sản xuất quế hiện nay chỉ khoảng 18 – 20 nghìn ha Điều này chứng tỏ nớc ta
có nhiều thuận lợi cho việc mở rộng diện tích và mở rộng quy mô sản xuất quế phục vụ cho nhu cầu xuất khẩu
Sau đây là bảng thống kê diện tích sản xuất quế đợc phân theo ba vùng sản xuất quế chủ yếu: Yên Bái, Quảng Ninh và Quảng Nam qua các năm
Bảng 7: Diện tích trồng quế ở nớc ta (đơn vị: héc ta)
Tổng diện tích 10.125 10.590 10.800 11260 11.400 11.700 12.000Yên bái 5.000 5.260 5.500 5.700 5.700 5.800 5.850Quảng Nam 3.020 3.130 3.160 3.260 3.300 3.500 3.600Quảng Ninh 2.105 2.200 2.240 2.300 2.400 2.400 2.500
Nguồn: Tài liệu thống kê của Cục quản lý lâm nghiệp – Bộ Nông nghiệp và
phát triển nông thôn 1999 – 2000Yên Bái là vùng sản xuất quế lớn chiếm 47,5% diện tích trồng của cả n-
ớc Đạt đợc điều này, một phần do Yên bái có điều kiện tự nhiên thích hợp,
đồi núi nhiều, hơn nữa lại đợc sự quan tâm của chính quyền sở tại, coi sản xuất quế là ngành mũi nhọn trong tỉnh Từ lâu, tỉnh Yên Bái đã nhận thấy sản xuất quế cho giá trị xuất khẩu cao hơn nhiều loại cây trồng khác, lại đợc thiên nhiên u đãi cho điều kiện khí hậu, đất đai phù hợp với sản xuất quế nên những năm qua, Yên Bái đã không ngừng mở rộng diện tích trồng quế Do thời gian sản xuất dài, nên vùng này rất cần sự quan tâm hỗ trợ của chính quyền địa phơng về vốn, giống để ngành sản xuất quế có thể và đi vào chuyên canh hoá Trong vài năm tới, diện tích quế của Yên Bái sẽ tăng nhanh phù hợp với tiềm năng về đất đai của tỉnh
Bên cạnh đó, quế trồng ở các vùng khác nhau, tuỳ thuộc vào số lợng cây trên một đơn vị diện tích và điều kiện thổ nhỡng ở vùng Quảng Ninh, với
Trang 33mật độ 4.000 cây/ha, sau 8-9 năm sẽ thu đợc khoảng 10 – 12 tấn vỏ quế khô Một số vùng sản xuất quế ở Yên Bái, với mật độ gây trồng 2.500 cây/ha, sau 10 năm cho thu hoạch từ 20 đến 22 tấn Tại Quảng Nam - Đà Nẵng, quế đợc trồng trên đất đỏ Bazan màu mỡ với mật độ 1.500 cây/ha, sau
25 năm cho thu hoạch 28 – 30 tấn Nh vậy xét về kinh doanh sản xuất vỏ là sản phẩm chủ yếu của ngành quế, thì năng suất trên đơn vị diện tích của cây quế trồng ở Quảng Nam đạt cao nhất sau đó là quế trồng ở Yên Bái rồi mới
đến Quảng Ninh Song tính năng suất bình quân/ha/năm, chỉ tiêu năng suất cơ bản cho cây dài ngày thì quế trồng ở Yên Bái đạt năng suất cao nhất từ 2
đến 2,2 tấn/ha sau đó là quế trồng ở Quảng Nam 1,5-2 tấn /ha, Quảng Ninh chỉ đạt 1,2- 1,5 tấn/ha
Hơn 10 năm qua, sản lợng quế của cả nớc đã không ngừng tăng lên Nếu năm 1990 sản lợng quế cả nớc là 2300 tấn thì đến năm 2002, sản lợng đã tăng lên gấp gần 3 lần khoảng 6500 tấn
Bảng 8: Sản lợng quế Việt Nam giai đoạn 1990-2002 (đơn vị: tấn)
Năm 1990 1993 1994 1996 1997 1999 2000 2001 2002 Tổng sản lợng 2300 2520 2700 3300 3670 3900 4500 6000 6500 Yên Bái 1100 1300 1400 1500 1750 1900 2200 2700 3200 Quảng Nam 740 760 780 900 1000 1100 1200 1500 1700 Quảng Ninh 460 500 520 700 910 1000 1200 1400 1600
Nguồn: Cục quản lí lâm nghiệp, Bộ Nông nghiệp và Phát triển
Nông thônQua bảng trên ta thấy, sản lợng quế của cả nớc và của riêng các địa ph-
ơng trồng quế không ngừng tăng Tăng nhanh nhất là tỉnh Yên Bái vì địa phơng này rất quân tâm đầu t phát triển sản xuất quế và lại là tỉnh có diện tích sản xuất quế lớn nhất cả nớc Tuy cả nớc có bốn vùng có khả năng sản xuất quế nhng chỉ tính riêng các vùng quế Yên Bái, Quảng Nam và Quảng Ninh thì sản lợng quế đã chiếm trên 90% Có đợc kết quả nh trên là nhờ vào hàng loạt các nhân tố Đó chính là nhờ chính sách và cơ chế quản lí mới, chủ trơng xây dựng một nền kinh tế nhiều thành phần của Đảng ta, chính sách giao quyền sử dụng đất ổn định và lâu dài cho ngời dân, các chính sách
Trang 34khuyến khích về thuế, chính sách hỗ trợ tín dụng Các chính sách trên của…
Đảng và Nhà nớc đã phát huy đợc tính u việt và tiềm năng to lớn của ngành sản xuất lâm nghiệp Nhờ đó mà nhân dân các dân tộc vùng sâu vùng xa những năm qua đã phần nào đợc cải thiện, cơ sở vật chất hạ tầng của các vùng, miền núi đã từng bớc đợc nâng cao, bộ mặt nông thôn đã từng ngày
đổi mới
Năng suất quế không chỉ phụ thuộc vào điều kiện môi sinh, môi trờng, khí hậu, đất đai, sự chăm sóc của ngời trồng mà còn phụ thuộc vào thời gian trồng
Bảng 9: Năng suất quế tính theo tuổi
4,0 7,0 10,0 11,0
1,0 3,6 5,0 9,0
Nguồn: Hoàng Cầu, Hiện trạng và định hớng phát triển cây quế
Nh vậy, qua bảng trên, chúng ta có thể thấy ở tuổi 15 thì cây quế cho năng suất cao và phù hợp nhất để khai thác Tuy nhiên tuỳ theo mục đích trồng mà xác định tuổi của cây quế cho thích hợp với chu kì kinh doanh
2.3 Kĩ thuật lâm sinh và gây trồng quế
2.3.1 Kĩ thuật về giống
Cây quế trong rừng tự nhiên thờng mọc hỗn giao với nhiều loại cây tán rộng khác nh re, gội, bời lời, sau sau, kháo, gội, mỡ, bồ đề Lúc còn nhỏ…cây quế cần có bóng che thích hợp mới sinh trởng và phát triển tốt, nhng khi lớn lên thì cây quế là cây a sáng hoàn toàn Theo kinh nghiệm của các cụ để lại thì những cây quế mọc ở trong rừng có đủ ánh sáng hoàn toàn đều có vỏ dầy và nhiều dầu năng suất và chất lợng vỏ rất cao Cây quế trồng sau 8- 10 năm thì bắt đầu ra hoa và kết trái Quế thờng ra hoa vào tháng 4, tháng 5 và
Trang 35quả chín vào tháng 1, 2 năm sau Thông thờng ngời ta tiến hành thu hái quả chín trên cây hoặc nhặt những quả chín rụng xung quanh gốc cây mẹ Hạt quế là loại hạt có dầu, nếu khi thu hoạch xong không bảo quản cẩn thận để hạt ở nơi có nhiệt độ cao, độ ẩm thấp, gặp ánh sáng trực tiếp mạnh thì hạt sẽ
bị mất dầu và mất luôn khả năng nảy mầm Trong tự nhiên, hạt quế có thể phát tán nhờ vào các động vật nh chim và các loài vật ăn hạt, hoặc có thể phát tán nhờ gió, hoặc rụng và mọc xung quanh gốc cây mẹ
Đối với cây quế, có 3 cách sản xuất giống sau: sản xuất giống bằng hạt, sản xuất giống bằng chồi non và sản xuất giống bằng cành
• Sản xuất giống bằng hạt:
Việc sản xuất giống bằng hạt thờng mất nhiều thời gian, khoảng 1,5 đến 2 năm tính cả thời gian gieo ơm hạt và chăm sóc cây con Việc sản xuất giống bằng hạt là một việc làm phức tạp, trải qua nhiều công
đoạn, nhiều khâu chọn lọc theo yêu cầu kĩ thuật và kinh tế Tuy nhiên cách này có mặt lợi là cây giống có sức sống mạnh và chất lợng cây tốt Bớc đầu tiên là ngời ta phải chọn hạt giống quế, thông thờng ngời ta chọn hạt ở những cây quế nhiều tuổi và thu hạt vào lúc quả chín Sau khi thu hạt thì phải bảo quản hạt cẩn thận tránh hao hụt và mất khả năng nảy mầm của hạt Bớc thứ hai là chọn đất gieo ơm, gieo ơm cây quế cũng nh gieo ơm nhiều loại cây lâm nghiệp khác, phải chọn đất thích hợp, đất phải là đất tốt, tơi xốp, pha cát, nhiều mùn Sau khi gieo hạt thì phải làm dàn tạo bóng râm cho cây non Trong quá trình cây con sinh trởng phải
có sự điều chỉnh ánh sáng cho thích hợp với cờng độ tăng dần ánh sáng
để cây con thích hợp từ từ với ánh sáng Trong suốt thời gian cây con sinh trởng, ngời trồng phải sử dụng phân bón và thờng xuyên chăm sóc cây con nh tới nớc, làm cỏ, phòng chống sâu bệnh có hại
Hiện nay, việc áp dụng kĩ thuật ơm cây quế giống bằng bầu đã
đem lại hiệu quả cao, rút ngắn thời gian ơm cây, cây giống sau khi gieo 1 năm thờng đạt chiều cao trung bình 30 cm, có 10- 14 lá, đờng kình cổ rễ
Trang 360,5- 0-7 cm và có thể đem trồng đại trà đợc Trồng quế bằng cây con có bầu thờng đạt tỷ lệ sống cao, chủ động thời vụ và cây trồng có khả năng phục hồi nhanh sau khi trồng ở một số địa phơng xa trung tâm gieo trồng hoặc điều kiện đi lại khó khăn, đồng bào các dân tộc đã biết tận dụng những cây quế mọc tự nhiên ở trong rừng làm giống Cách làm này tuy khắc phục đợc một phần khó khăn về giống nhng không đảm bảo chất lợng cây trồng, thờng hay có hiện tợng thoái hoá giống Vì vậy ở những nơi nhân dân gây trồng nhiều quế thì nhất thiết phải lập vờn ơm qui mô từ nhỏ đến lớn để gieo ơm quế với số lợng lớn sau đó cung cấp cho các hộ trồng quế ở một bản, một xã hoặc rộng hơn nữa.
Sản xuất giống bằng hạt có u điểm là cây con nếu đợc chăm sóc tốt
sẽ phát huy những u thế mới Nhng lại phải đầu t nhiều vốn, nhiều công chăm sóc và mất nhiều thời gian, phải dành đất lập vờn ơm, mua sắm dụng cụ lao động Hiện nay ở một số địa ph… ơng sản xuất nhiều quế thì
bà con đã lập các vờn ơm công nghiệp, tức là dùng máy móc từ khâu làm
đất, làm bầu, cấy hạt, nhào trộn chất dinh dỡng trong bầu, tới nớc, phun thuốc trừ sâu cho tới khâu vận chuyển Phơng pháp này đem lại hiệu quả cao, không cần nhiều nhân công, giá thành đầu t ban đầu có thể cao nhng nếu tính về sản xuất lâu dài thì lại rất rẻ Cây giống sản xuất ra đạt yêu cầu, có thể kéo dài thời gian sản xuất trong năm, khắc phục một phần quan trọng tính chất thời vụ của ngành trồng quế Tuy nhiên việc áp dụng máy móc thiết bị hiện nay còn rất hạn chế do đặc điểm địa hình ở các địa phơng trồng quế rất khó khăn Địa hình vờn ơm thờng là sờn đồi dốc nên việc đa máy móc vào sản xuất gặp nhiều bất lợi
• Sản xuất giống bằng chồi non
Sau khi thu hoạch vỏ và chặt cây quế sát gốc một thời gian thí các chồi non sẽ mọc xung quanh gốc Mỗi gốc thờng có khoảng 3- 4 chồi Khi chồi non cao khoảng 50- 60 cm thì tiến hành tỉa bớt chỉ để lại mỗi gốc một đến hai chồi các xa nhau và tiếp tục chăm sóc để trở thành rừng quế Phơng pháp sản xuất giống này có hiệu quả cao và có u thế hơn
Trang 37nhiều so với các phơng pháp sản xuất khác phơng pháp này không phải dành đất lập vờn ơm, mặt khác lại tiết kiệm đợc nhiều tiền vốn và lao
động Có thể coi phơng pháp này không cần mất chi phí để sản xuất giống Thời gian sản xuất giống bằng cách này thờng ngắn hơn so với các cách khác do chồi non đợc thừa hởng bộ rễ từ cây mẹ nên sức sống rất mạnh Trồng quế bằng chồi non thông thờng chỉ mất khoảng 6- 7 năm là
có thể khai thác trong khi sản xuất bằng phơng pháp khác phải mất từ 8-
10 năm hoặc lâu hơn thế Phẩm chất của quế sản xuất bằng chồi non cũng rất tốt, đủ khả năng xuất khẩu Tuy nhiên phơng pháp này chỉ tiến hành đợc một kì, nếu kéo dài hơn thì sức sống của cây sẽ giảm sút dẫn
đến phẩm chất quế sẽ kém
• Sản xuất giống bằng cành
Cây quế cũng có khả năng sinh sản vô tính bằng cách chiết cành, giâm hom giống nh cách làm thông thờng đối với cây cam, chanh Ng… ời
ta chọn lựa những cành lớn, thẳng, có triển vọng phát triển tốt và khi cắt
đi không ảnh hởng tới cây mẹ Thời gian sản xuất thờng ngắn, chỉ khoảng 3- 5 tháng kể từ khi cành quế đợc đem chiết Khi chiết cành nên chon những cây khoẻ mạnh, sinh trởng và phát triển tốt không bị sâu bệnh và không nên tiến hành quá nhiều lần đối với một cây, chỉ nên tiến hành chiết cây đến đời thứ hai Nếu làm đến đời thứ ba sẽ làm cho cây kém phẩm chất ảnh hởng đến chất lợng và hiệu quả kinh doanh
Trên đây là ba phơng pháp sản xuất giống quế đợc áp dụng phổ biến trong ngành trồng quế ở cả 4 vùng sản xuất chính Tuy nhiên phơng pháp sản xuất giống bằng hạt lại phổ biến hơn cả Dù chọn phơng pháp nào để sản xuất giống thì cũng nên chọn cây mẹ khoẻ mạnh, phát triển tốt, không bị sâu bệnh, cây có hàm lợng tinh dầu cao trong vỏ thì cây giống mới tốt Đây chính là điều quan trọng nhất đối với khâu chọn giống nh ông cha ta đã dạy:
“tốt giống tốt má, tốt mạ tốt lúa” Có thể nói khâu chọn giống là một khâu
Trang 38khá quan trọng trong quá trình sản xuất quế, nó sẽ quyết định chất lợng vỏ quế khi thu hoạch.
đo bằng diện tích các vờn quế Theo phong tục của một số dân tộc, khi con cái xây dựng gia đình riêng, ông bà cha mẹ thờng chia đất, chia rẫy cho con cháu để họ trồng quế Có nơi ngời dân thờng tổ chức trồng quế vào đầu năm mới nh một lễ hội và đây là một tập quán tốt Một năm thờng có hai mùa trồng quế, mùa xuân vào các tháng 2 và 3, mùa thu vào các tháng 8,9 Tuỳ vào thời tiết của từng vùng mà bà con trồng quế vào thời gian khác nhau ở Yên Bái, quế thờng đợc trồng vào các tháng đầu xuân, các tỉnh miền trung trồng vào vụ thu khi đã có mua nhiều, đất ẩm, thời tiết dịu mát, tránh đợc gió nóng mùa hè
Quế thờng đợc trồng trong vờn của các hộ gia đình, xung quanh làng bản,
ở các khu công sở, trờng học Quế đợc gây trồng trong vờn hộ gia đình đợc gọi là vờn rừng quế Đặc điểm của loại hình trồng nầy là diện tích không lớn, chỉ khoảng 1 đến 2 ha mỗi hộ nhng đất rừng đợc sử dụng có hiệu quả Hàng năm các hộ có sản phẩm quế để bán, đồng thời tiếp tục trồng bổ sung Quế đợc trồng thuần loại, có nhiều cỡ tuổi khác nhau từ nhỏ đến lớn Lao
động để xây dựng vờn rừng chủ yếu huy động từ các hộ gia đình, vốn đầu t cũng do các hộ này tự bỏ ra sau mỗi lần bán sản phẩm quế Chính nhờ cây quế mà hàng trăm hộ dân có tiền xây đợc nhà kiên cố, sắm đợc ti vi, xe máy và các thiết bị khác trong gia đình Ưu điểm của loại hình trồng quế này là có thể huy động tối đa sức ngời, sức của trong những vùng trồng quế, tuy nhiên nhợc điểm là vốn đầu t không nhiều, lao động thiếu nên việc mở
Trang 39rộng diện tích gặp nhiều khó khăn nếu không có sự giúp đỡ của các ngân hàng và tổ chức tín dụng khác.
Quế cũng thờng đợc trồng ở trên nơng, rẫy, trên các sờn núi tạo thành các vùng quế tập trung có diện tích lớn, đặc biệt quế còn đợc trồng theo ph-
ơng thức nông lâm kết hợp nh đã trình bày ở phần trên Đây là loại hình trồng quế với qui mô lớn và thờng tạo thành các trang trại quế Diện tích của các trang trại này phụ thuộc vào đất đai mà Nhà nớc giao cho cũng nh lao
động, tiền vốn của các hộ gia đình Hiện nay các hộ gia đình đã đầu t bằng mọi nguồn vốn có thể có để thuê nhân công phát băng, đào hố, khai thác vỏ quế đã tạo công ăn việc làm cho hàng trăm lao động tại địa phơng Gây trồng quế trên nơng rẫy mở ra khả năng cung cấp sản phẩm nhiều, đồng thời ngăn chặn đợc hiện tợng phát nơng, phá rừng, chống đợc sói mòn, bảo vệ môi trờng Việc trồng quế trên nơng rẫy cùng với trồng xen cây theo phơng thức nông lâm kết hợp đã làm tăng thu nhập cho bà con nông dân đặc biệt là trong thời kì cây quế còn bé Theo điều tra của các nhà nghiên cứu, những
hộ áp dụng phơng thức trồng quế này hàng năm có thu nhập rất cao khoảng
từ 50 đến 100 triệu đồng một năm
Mật độ trồng quế phụ thuộc vào cờng độ và mục đích kinh doanh ở những nơi có cờng độ kinh doanh cao, có khả năng tận dụng hết các phụ phẩm trung gian, mật độ trồng có thể lên tời 10.000 cây/ha ở những nơi có cờng độ kinh doanh thấp, mật độ quế trồng có thể chỉ ở mức 3000 cây/ha
Trớc khi tiến hành trồng quế, ngời ta phải đào hố, mỗi hố cách nhau từ 2-
3 m tuỳ theo mật độ trồng, mỗi hố rộng 0,25 m2, nên đào hố thẳng hàng để sau này tiện chăm sóc cây con Sau khi đào hố thì đổ mùn hoặc lá cây rụng xuống và bón phân trớc Sau đó mới đem cây con trồng vào trong hố Nên trồng cây con bằng bầu thì cây sẽ có tỷ lệ sống cao
Trang 40Trong thời gian từ 3- 4 năm đầu kể từ khi trồng quế phải tiến hành chăm sóc thờng xuyên Nội dung của chăm sóc là tiến hành trồng bổ sung những cây con đã chết và điều chỉnh ánh sáng cho thích hợp Loại bỏ các cây cỏ hoang dại lấn át cây trồng, nhổ những cây con yếu ớt, bị sâu bệnh và tiến…hành phòng trừ sâu bệnh cho rừng quế Khi rừng quế đã khép tán cần điều chỉnh mật độ thích hợp cho từng giai đoạn Công tác điều chỉnh rừng quế
đảm bảo cho rừng quế đủ ánh sáng, đủ không gian dinh dỡng để sau này cây quế đạt đợc năng suất và chất lợng cao Tuỳ theo mật độ trồng, từ năm thứ 5 trở về sau có thể tiến hành chặt cành tỉa tha, sản phẩm tỉa tha có thể tận thu để chng cất tinh dầu quế Cần tiên hành phòng chống bệnh hại cho quế không để các dịch hại nh dịch sâu róm hại quế nh đã từng xảy ra ở Quảng Nam gây thiệt hại rất lớn cho bà con các dân tộc
2.3.4 Khai thác và chế biến vỏ quế
Việc khai thác vỏ quế đã có từ lâu đời ở nớc ta Từ khi còn thu hái tự nhiên cho đến khi biết trồng quế, nhân dân ta đã nhận biết và tích luỹ dần đ-
ợc những kinh nghiệm cơ bản nh mùa vụ, kĩ thuật bóc vỏ, phân loại, kĩ thuật chế biến và bảo quản vỏ quế
Thông thờng cây quế chỉ đợc khai thác có một lần nhng đối với những giống quế quí hiếm và yêu cầu vỏ không nhiều thì ngời ta tiến hành khai thác một phần vỏ về một phía của cây sau đó tiếp tục nuôi cây để khai thác lần sau Trong sản xuất, do yêu cầu số lợng sản phẩm nhiều nên ngời ta có thể khai thác toàn bộ vỏ cây trong một mùa khai thác gọi là khai thác trắng
Ưu điểm của phơng pháp khai thác này là thu đợc nhiều sản phẩm, dễ áp dụng Ngoài ra ngời ta còn áp dụng phơng pháp khai thác chọn tức là chỉ khai thác những cây có đờng kính đạt yêu cầu trong một mùa khai thác Ph-
ơng pháp này có u điểm là thu đợc những sản phẩm theo ý muốn nhng khó
bố trí khai thác và chu kì kinh doanh thờng kéo dài